1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm hình thái đầu mặt bằng phương pháp đo trực tiếp trên người kinh và người mường trong nhóm tuổi 18 25

54 131 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 4,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy, trên thế giới đã có rất nhiều các nghiên cứu khác nhau về đặc điểm nhân trắc đầu-mặt để xác định các đặc điểm, số đo đầu mặt củacác chủng tộc khác nhau dựa trên ba phương pháp ch

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nghiên cứu nhân trắc đầu mặt đã được tiến hành từ những năm trướccông nguyên với mục đích đưa ra được những tiêu chuẩn để phân biệt vềchủng tộc hay ứng dụng trong điêu khắc, hội họa Ngày nay, nghiên cứu nhântrắc học vẫn là một vấn đề rất quan trọng vì đưa ra các con số có giá trị vớingành thiết kế, ngành sản xuất ra những bộ phận ứng dụng trên cơ thể (maymặc, bảo hộ lao động, an toàn giao thông…), ngành phẫu thuật tạo hình vàthẩm mỹ, đặc biệt là trong điều trị các bất thường, các bệnh lý, dị tật vùngđầu-mặt, cũng như theo dõi sự phát triển của đầu-mặt Các yếu tố ảnh hưởngnhiều đến nhân trắc đầu-mặt là di truyền, chế độ dinh dưỡng, bệnh lý tại chỗ

và toàn thân Do vậy, trên thế giới đã có rất nhiều các nghiên cứu khác nhau

về đặc điểm nhân trắc đầu-mặt để xác định các đặc điểm, số đo đầu mặt củacác chủng tộc khác nhau dựa trên ba phương pháp chính đó là: đo trực tiếptrên cơ thể sống, phân tích gián tiếp qua ảnh chuẩn hóa, phân tích gián tiếpqua phim chụp XQ từ xa Trong 3 phương pháp này, phương pháp đo trựctiếp trên cơ thể ra đời từ rất sớm, có thể phân tích được cả mô cứng và mômềm và đo được tại những vùng khó bị bao phủ bởi mái tóc

Trên thế giới, dựa vào các phương pháp nghiên cứu trên, các tác giả đãthống nhất về việc có sự khác biệt giữa chủng tộc, giới như trong các nghiên cứucủa E Nagle [1], S Gupta [2] Theo Uysal, có sự khác biệt về nhân trắc đầu-mặtgiữa người Thổ Nhĩ Kỳ và người dân Arập [3] Các nghiên cứu đã chỉ ra rằngcác chỉ số cho một chủng tộc này không thể giống một chủng tộc khác

Khi ứng dụng trong lĩnh vực Y học nói chung và răng hàm mặt, ngoạikhoa, phẫu thuật tạo hình hàm mặt nói riêng, các số đo, chỉ số đầu mặt…lànhững thông tin rất quan trọng trong việc chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị

để phục hồi lại các chức năng cơ bản cũng như thẩm mỹ đã mất do bệnh lýthông do tai nạn giao thông, tai nạn lao động Khuôn mặt có thể bị tàn phá,

Trang 2

mất tổ chức không thể nhận dạng được khi bệnh nhân có các bệnh lý như ungthư hoặc khi bị tai nạn, các bác sỹ không thể tái lập lại một khuôn mặt phùhợp cho riêng từng ca lâm sàng nếu như không biết được các số đo bìnhthường của họ ở chính thời điểm đó là như thế nào Hiện nay các bác sỹ đã vàđang sử dụng các tiêu chí của người Cáp-ca (chủng tộc Mongoloide) để áp đặtcho người Việt Nam Việc áp dụng một cách áp đặt này theo nhiều nghiêncứu là không phù hợp, đặt biệt là trong lĩnh vực nắn chỉnh răng-hàm, phẫuthuật thẩm mỹ, một yêu cầu ngày càng tăng cao của người dân để nâng caohơn chất lượng cuộc sống.

Tại Việt Nam, đã có các nghiên cứu về nhân trắc đầu-mặt của NguyễnQuang Quyền [4], Hoàng Tử Hùng [5], Lê Gia Vinh [6] trên các dân tộc khácnhau cũng như các lứa tuổi khác nhau Tuy nhiên, các nghiên cứu được tiếnhành với các cỡ mẫu nhỏ, không thể đại diện cho người Việt Nam Trongnhững năm gần đây, cũng có những nghiên cứu về nhân trắc đầu-mặt để đánhgiá kết cấu về đầu-sọ-mặt cũng như mức độ hài hòa (thẩm mỹ) của khuân mặtcho các lứa tuổi của Ngô Thị Huỳnh Lan, Trần , Thúy Nga, Võ Trương NhưNgọc, Trần Thị Bích Hạnh, tuy nhiên các nghiên cứu chủ yếu tập trung bằngphương pháp gián tiếp qua chụp phim XQ hay phương pháp gián tiếp quachụp ảnh chuẩn hóa

Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu "Đặc điểm hình thái đầu-mặt bằng phương pháp đo trực tiếp trên người Kinh và người Mường trong nhóm tuổi 18-25" với hai mục tiêu sau:

1 Đưa ra được các chỉ số hình thái đầu-mặt trên người Kinh và người Mường trong nhóm tuổi 18-25.

2 Xây dựng mô hình dự báo kết quả giữa phương pháp đo nhân trắc đầu mặt trực tiếp với phương pháp chụp Xquang từ xa và chụp ảnh kỹ thuật số chuẩn hóa.

Trang 3

1 Nhắc lại giải phẫu học, sự phát triển các xương vùng sọ mặt

Hệ thống xương vùng đầu mặt gồm 23 xương: 1 xương trán, 1 xươngsàng, 2 xương đỉnh, 1 xương chẩm, 1 xương bướm, 2 xương thái dương, 2xương xoăn mũi dưới, 2 xương lệ, 2 xương mũi, 1 xương lá mía, 2 xươnghàm trên, 2 xương gò má, 2 xương khẩu cái, 1 xương hàm dưới, 1 xươngmóng ( Hình 1.1)

CHÚ THÍCH

1: Xương trán 5: Xương gò má 9: Xương chẩm

2: Xương đỉnh 6: Xương mũi 10: Xương lệ

3: Xương thái dương 7: Xương hàm trên 11: Xương sàng

4: Xương bướm 8: Xương hàm dưới 12: Xương xoăn mũi dưới

2 Những ứng dụng của nghiên cứu nhân trắc học

Trang 4

Đối với ngành nhân chủng học: Ngay từ rất sớm, nhân trắc học đã

được ứng dụng để tìm ra sự khác biệt về mặt hình thái giữa các dân tộc, cácchủng tộc Đã có nhiều công trình nghiên cứu mà kết quả của nó cho tới ngàynay vẫn còn giá trị

Năm 1842, nhà giải phẫu người Thuỵ Điển G.Retzius nghiên cứuhình dáng đầu của các dân cư Bắc Âu Từ kết quả nghiên cứu, ông đã chiadân cư trên thế giới thành hai loại đầu ngắn và đầu dài Ông cũng đưa ra tỉ lệgiữa chiều rộng và chiều dài sọ Kết quả nghiên cứu của ông đã đóng gópđáng kể vào sự phát triển của nhân chủng học (dẫn theo [9])

Dựa vào các đặc điểm hình thái, đặc biệt là các đặc điểm hình thái sọmặt ở các chủng tộc khác nhau, các nhà nhân chủng học đã chia nhân loạithành những đại chủng, tiểu chủng và các loại hình chủng tộc

Năm 1968, M Hajnisova nghiên cứu kích thước đầu mặt của 109người Tiệp trưởng thành đã đưa ra nhận xét: Chỉ số đầu của người Tiệp lớn(nam 84,9, nữ 85,3), chỉ số mặt tương đối lớn (nam 84,6, nữ 81,8) [15]

Năm 1988, các tác giả L G Farkas, R.C K Ngim và S.T Lee khinghiên cứu 111 kích thước đầu mặt gồm 14 kích thước ở đầu, 31 kích thước ởmặt, 14 kích thước ở mắt, 23 kích thước mũi, 17 kích thước mũi miệng, 12kích thước tai của 180 người Singapor gốc Trung Quốc thuộc 3 nhóm 6 tuổi,

12 tuổi và 18 tuổi, đã đưa ra các so sánh khác biệt vùng đầu mặt của 3 nhómtuổi này [16]

Năm 1994, L.G Farkas, T.A Hreczko và M J Katic nghiên cứu đặcđiểm số đo vùng đầu mặt của 979 người Nam Mĩ da trắng trong độ tuổi từ 1đến 25 Các tác giả đã đưa ra số liệu so sánh của 130 kích thước (70 kíchthước đơn và 60 kích thước kép) của các nhóm tuổi Đây là dữ liệu tương đốiđầy đủ về đặc điểm đo đạc của người Nam Mĩ da trắng [6]

Trang 5

K Hajnis nghiên cứu đặc điểm nhân trắc vùng đầu - mặt của 120người Đức (60 nam, 60 nữ) đã nhận xét: Đầu người Đức có chiều dài tươngđối lớn (193,8 mm ở nam, 186,1 mm ở nữ); chỉ số đầu ở mức trung bình(78,8 ở nam, 77,9 ở nữ); chỉ số mặt trung bình và miệng người Đức thuộc loạinhỏ [17].

Khi so sánh các đặc điểm nhân trắc vùng đầu mặt của 3 nhóm chủngtộc (người Nam Mĩ da trắng, người Mĩ gốc Phi, người Singapor gốc TrungQuốc) và 3 nhóm người da trắng (Nam Mĩ, Đức, Tiệp), các tác giả K Hajnis,

L G Farkas và cộng sự đã đưa ra sự giống và khác nhau về hình thái đầu vàmặt của 3 nhóm chủng tộc và 3 nhóm dân tộc [18]

Trong ergonomi, các dẫn liệu nhân trắc được dùng trong thiết kế

công nghiệp sản xuất dụng cụ phục hồi chức năng, sản xuất phương tiện bảo

hộ lao động Nhiều công trình nghiên cứu ở các nước khác nhau đã được công

bố và áp dụng rộng rãi

Atlas nhân trắc học của Cộng hoà dân chủ Đức năm 1987, được coi làcẩm nang về sự phát triển người Ngoài các dấu hiệu nhân trắc tĩnh, atlas cònđưa ra những dấu hiệu nhân trắc động, những chỉ số về tầm hoạt động củamột số bộ phận cơ thể Các dẫn liệu rất có giá trị cho việc thiết kế ergonomicủa Cộng hoà dân chủ Đức thời bấy giờ [19]

Tại Việt Nam, khi nói đến sự ứng dụng nhân trắc học trong ergonomiphải kể đến cuốn sách “Atlats nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổilao động” của tập thể tác giả do Võ Hưng làm chủ biên Đây là một công trìnhlớn, đồ sộ kéo dài trong bốn năm (1981-1984) do viện nghiên cứu Khoa Học

Kỹ Thuật Bảo Hộ Lao Động chủ trì với sự tham gia của nhiều cơ quan nghiêncứu khoa học ở trung ương và địa phương Công trình này nhằm đáp ứng cholĩnh vực ergonomie, làm cơ sở cho việc thiết kế máy móc và đồ dùng sinhhoạt cho người Việt [2]

Trang 6

Ngoài ra, tuỳ mục đích ứng dụng, nhiều công trình nghiên cứu các bộphận riêng lẻ của cơ thể cũng được tiến hành như nghiên cứu đầu để làm mũbảo hiểm, bàn tay để làm găng tay, mặt để làm mặt nạ, mắt để làm kính mắt,chân tay để làm chân tay giả

Trong tạo hình thẩm mĩ, nhiều công trình đã đi sâu nghiên cứu đặc

điểm nhân trắc ở đầu mặt để tìm ra những phương pháp phẫu thuật thẩm mĩ

hợp lí như “Nhân trắc học vùng đầu mặt trong y học” năm 1981 của L.G Farkas [6] "Nghiên cứu ứng dụng kích thước nhân trắc trong phẫu thuật sọ hàm mặt" của J C Posnick và cộng sự năm 1994 [20], “Tạo hình mí mắt” của

J C Posnick, T Hreczko, năm 1992 [21]

Trong Khoa học hình sự: các đặc điểm nhân trắc của vùng đầu mặt,

đặc biệt là đặc điểm mô tả đã được ứng dụng để xác định hình dạng kẻ phạmtội cũng như sự tái phạm của chúng Ngay từ cuối thế kỉ XIX, A Bertillon(người Pháp) đã áp dụng phương pháp chụp ảnh can phạm để xác định sự táiphạm Ông cũng là người đầu tiên dùng phương pháp đo và lưu giữ trong hồ

sơ của cảnh sát các số đo cơ thể của bọn tội phạm như chiều cao cơ thể, chiềudài sải tay, chiều dài, chiều rộng đầu , phòng khi nghi ngờ sự tái phạm củachúng thì có thể dễ dàng kiểm tra Phương pháp này của Bertillon đã giúp chocảnh sát truy tìm được nhiều đối tượng gây án bỏ trốn và do đó được áp dụng

ở nhiều nước châu Âu thời bấy giờ Cũng từ đó, việc mô tả nhân dạng đượchình thành và được ứng dụng rộng rãi [22]

Ceasare Lobroso (1836 -1909) cho rằng những tên du côn, những kẻgiết người, nghiện rượu, những người động kinh và người lùn khác biệt vớinhững người bình thường ở hình thể sọ, sự mất cân đối của khuôn mặt, hìnhthể lỗ mũi, răng, cơ cắn và kích thước xoang trán Ông thực hiện các phép đotrên sọ và trên người [23]

Trang 7

3 Các phương pháp đo nhân trắc đầu, mặt

Đánh giá nhân trắc đầu, mặt là một công việc cần thiết trong thực hànhlâm sàng và nghiên cứu Có nhiều cách đánh giá khác nhau như đo trực tiếp,đánh giá qua ảnh chụp thẳng và nghiêng, đánh giá qua tia X, đánh giá qua cácmẫu thạch cao cung răng Với các mẫu thạch cao cung răng có thể đo trực tiếphoặc scan mẫu và đo bằng phần mềm

Đo trực tiếp trên lâm sàng Trong các phương pháp đo nhân trắc đầu

mặt, phương pháp đo trực tiếp trên cơ thể ra đời từ rất sớm, có thể phân tíchđược cả mô cứng và mô mềm và đo được tại những vùng khó, bị bao phủ bởimái tóc, đồng thời còn cho chúng ta biết chính xác kích thước thật, các chỉ sốtrung thực [24] Hơn nữa Phương pháp đo trực tiếp sử dụng các công cụ đãđược chuẩn hóa, cho phép ta đo lường được các yếu tố như độ dốc, độ sâu vàcác khoảng cách tối thiểu Đối tượng nghiên cứu không phải tiếp xúc với tiabức xạ [25]

Hình 2 Phương pháp đo nhân trắc trực tiếp trên lâm sàng.

Nguồn: Theo Özkoçak (2018)[25].

Tại Việt Nam, từ lâu phép đo trực tiếp đã được nhiều tác giả sử dụngtrong nghiên cứu hình thái, điển hình là Nguyễn Quang Quyền (1974) [1], VũKhoái (1978) Nhiều kích thước đầu, mặt như chiều dài đầu, chu vi vòng đầuphải sử dụng phương pháp này để đo đạc Do vậy hiện nay phương pháp này vẫnđang được sử dụng

Trang 8

Đo trên ảnh chụp chuẩn hoá được thực hiện trên ảnh chụp chuẩn hoá tư

thế thẳng và nghiêng Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong nhiềulĩnh vực khác nhau như nhân trắc, hình sự với ưu điểm: rẻ tiền và có thể giúpđánh giá tốt hơn về tương quan của các cấu trúc ngoài sọ gồm cơ và mô mềm.Phân tích thẩm mỹ khuôn mặt chủ yếu là quan sát trực tiếp và phân tích quaảnh chuẩn hóa với đánh giá thẩm mỹ là đánh giá mô mềm Hai phương phápnày có tác dụng bổ trợ cho nhau Phép đo trực tiếp trên người sống cho cácgiá trị của các kích thước trên từng cá thể chính xác hơn Phép đo ảnh chụp

dễ đánh giá về sự cân xứng của vùng mặt, cũng như dễ trao đổi thông tinhơn [26]

Hình 3 Kỹ thuật chụp ảnh chuẩn hóa Nguồn: Theo Fabio M (2005) [27].

Đo đạc trên máy ảnh kỹ thuật số với phần mềm đo thích hợp sẽ tiết kiệmđược nhiều thời gian, nhân lực và đỡ phức tạp hơn nhiều so với đo trực tiếptrên người, có nhiều ưu điểm về khả năng thông tin, lưu trữ và bảo quản.Qua ảnh, có thể đánh giá định tính đẹp hay không đẹp, từ đó chúng ta có thểyêu cầu một phương pháp khoa học để đánh giá định lượng Có nhiều tác giả

đã phân tích khuôn mặt qua ảnh và đã đưa ra các tiêu chuẩn để chụp mặt với

Trang 9

các tư thế khác nhau như Ferrario, Bishara, Farkas, mục đích để chuẩn hoá kỹthuật chụp ảnh nhằm đánh giá và so sánh dễ dàng hơn [28].

Đo trên phim X-quang

Khi điều trị những vấn đề liên quan đến thẩm mỹ, chúng ta không thể chỉdựa vào cảm nhận qua quan sát lâm sàng mà phải kết hợp giữa quan sát lâmsàng và những đánh giá cận lâm sàng có cơ sở khoa học (như các tiêu chuẩnphân tích trên phim, ảnh)

Hình 4 Phim chụp X- quang nghiêng từ xa Nguồn: Theo Võ Trương Như Ngọc (210)[12]

Phim X - quang sọ nghiêng chụp theo kỹ thuật từ xa giúp chúng tanghiên cứu những thay đổi do phát triển, giúp đánh giá cấu trúc mô xương và

mô mềm khi chẩn đoán, lên kế hoạch điều trị, định hướng các thủ thuật điềutrị chỉnh hình và phẫu thuật, và cuối cùng giúp theo dõi, đánh giá các kết quảđiều trị Phương pháp đo X - quang sọ nghiêng cũng được sử dụng để nghiêncứu nhân trắc học từ rất sớm bởi nhiều tác giả

Trang 10

4 Những đề xuất của Martin và Saller trong nhân trắc học đầu mặt

Nhà nhân trắc học người Đức Rudolf Martin đã dành nhiều thời giannghiên cứu các vấn đề liên quan đến đo đạc, mô tả nhân trắc Năm 1925 ông

cho xuất bản cuốn “Lí thuyết nhân chủng học” Năm 1929 ông lại cho xuất bản cuốn “Phương pháp mô tả có hệ thống trong nhân chủng học”, trong đó

trình bày tương đối hoàn chỉnh về các đặc điểm của cơ thể, đặc biệt là ở vùngđầu và mặt Cuốn sách đã thực sự giữ vai trò chủ đạo trong nghiên cứu nhântrắc học suốt một thời gian dài (dẫn theo [11])

Sau khi hoàn chỉnh hai cuốn sách về nghiên cứu nhân chủng học, năm

1957, Rudolf Martin tiếp tục hoàn thiện phương pháp nghiên cứu nhân trắc

của mình bằng cuốn “Mô tả hệ thống trong nhân trắc học” [29] Năm năm sau, cùng với K Saller và cộng sự, ông lại cho tái bản lần thứ 3 cuốn “Lí thuyết về nhân trắc học” [3] Trong cuốn sách này ông đã mô tả rất chi tiết về

các mốc đo, các kích thước và chỉ số đầu mặt

Tư thế đầu: Martin và Saller nhấn mạnh tầm quan trọng của tư thế

đầu để xác định được các điểm mốc chính xác nhất, theo đó tư thế đầu khi đo

là mắt nhìn thẳng, đầu ở tư thế sao cho mắt và tai cùng nằm trên một mặtphẳng ngang Về sau tư thế này đã được mô tả chi tiết và rõ ràng hơn bởi tácgiả người Đức – Virschov, ông đã đề xuất tại Hội nghị Nhân trắc Quốc tế ởFrankfurt và được chọn là mặt phẳng chuẩn của tư thế đầu Theo đó, đường

nối điểm thấp nhất của bờ dưới hốc mắt (điểm orbitale) với điểm cao nhất của bình tai (điểm tragion) phải luôn luôn nằm trên mặt phẳng ngang, mặt phẳng này được gọi là mặt phẳng ngang Frankfurt kí hiệu FH.

Trang 11

Hình 5 Mặt phẳng ngang Frankfurt Nguồn: L.G.Farkas (1994) [6].

Các mốc đo: Martin đề xuất các mốc giải phẫu vùng đầu mặt dựa vào

các đặc điểm bên ngoài và một số mốc giải phẫu của xương sọ mặt, cho đếnngày nay các mốc đo ấy vẫn được sử dụng trong các nghiên cứu nhân trắc đầumặt

Một số mốc đo được Martin đề xuất như sau:

Điểm cao đầu (vertex): Là điểm cao nhất của đầu trên đường giữa.Điểm bên đầu (eurion): Điểm nhô sang bên nhất của vùng thái dương-đỉnh

Điểm sau đầu (opisthocranion): Điểm sau nhất vùng chẩm trên đườnggiữa đầu theo chiều trước-sau

Điểm chân tóc (trichion): Điểm giữa đường chân tóc vùng trán

Điểm trên gốc mũi (glabella): Điểm nhô nhất của đường giữa trán.Điểm lõm mũi (nasion): Nơi lõm nhất của phần gốc mũi

Điểm góc mắt trong (endocanthion): Nơi gặp nhau của mí trên và mídưới ở phía trong

Trang 12

Điểm giữa đồng tử (pupil): Điểm chính giữa đồng tử khi mắt nhìnthẳng và đầu ở tư thế mặt phẳng Frankfurt.

Điểm góc mắt ngoài (excanthion): Nơi gặp nhau của mí trên và mí dưới

ở phía ngoài

Điểm gò má (zygion): Điểm ngoài cùng của phần mềm cung gò má.Điểm tai trên (supraurale): Điểm cao nhất của vành tai

Điểm tai dưới (subaurale) Điểm thấp nhất của vành tai

Điểm ống tai ngoài (porion): Nơi cao nhất của lỗ ống tai ngoài

Điểm trước mũi (pronasal): Điểm nhô ra trước nhất của đỉnh mũi

Điểm cánh mũi (alare): Điểm ngoài nhất của cánh mũi

Điểm dưới mũi (subnasale): Điểm trên đường giữa chân mũi, nơi gặpnhau của mũi và môi trên

Điểm môi trên (labiale su¬perius): Điểm trước nhất của viền môi trêntrên đường giữa

Điểm nhú lợi hàm trên (prosthion): Điểm ở mặt trước dưới của nhú lợigiữa hai răng cửa giữa hàm trên

Điểm góc miệng (cheilion): Nơi gặp nhau của môi trên và môi dưới ởgóc miệng

Điểm gian môi (stomion): Nơi gặp nhau của môi trên và môi dưới trênmặt phẳng dọc giữa

Điểm môi dưới (labiale inferius): Điểm trước nhất của viền môi dướitrên đường giữa

Điểm cằm trước (pogonion): Điểm nhô ra trước nhất của cằm

Điểm trước-dưới cằm (gnathion): Điểm nằm giữa bờ dưới XHD (giữacằm), ngay dưới cằm

Điểm góc hàm (gonion): Điểm sau nhất và dưới nhất của góc hàm

Trang 13

Hình 6 Các mốc sọ mặt nhìn thẳng Nguồn: Rudolf Martin (1957)[29].

Hình 7 Các mốc sọ mặt nhìn nghiêng Nguồn: Rudolf Martin (1957)[29]

Trang 14

Dụng cụ đo: Kết quả đo phụ thuộc rất nhiều vào dụng cụ đo Đây

cũng là vấn đề chuyên môn nảy sinh nhiều tranh cãi Tại các Hội nghị Nhântrắc học Quốc tế, những vấn đề này là tiêu điểm của các cuộc tranh luận, cuốicùng các nhà nghiên cứu cũng tìm được tiếng nói chung của mình Nhiều nhànhân trắc học đã đồng ý với các thước đo của Martin đề xuất và cải tiến [3]

Hình 8 Bộ thước đo nhân trắc Martin Nguồn: Rudolf Martin (1962) [3]

Các thước đo này được gọi là bộ thước đo nhân trắc Martin Ngoài ra,

tuỳ theo mục đích nghiên cứu còn có thêm các thước đo chuyên dụng nhưthước đo góc, thước đo độ cong, thước đo bề dầy lớp mỡ dưới da

Các kích thước và chỉ số đầu mặt [3]:

Bảng 1: Các chỉ số thường được sử dụng khi đo nhân trắc trực tiếp

1 Chiều rộng đầu Khoảng cách giữa hai điểm bên đầu eu-eu

2 Chiều dài đầu Khoảng cách giữa điểm sau đầu vàđiểm trên gốc mũi gl-op

3 Chu vi vòng đầu Chu vi vòng đầu đo qua điểm sau đầuvà điểm trên gốc mũi cvvđ

4 Chiều rộng mắt Khoảng cách giữa điểm góc mắt trong

5 Khoảng cách giữa

hai mắt

Khoảng cách giữa hai điểm góc mắt

6 Chiều rộng mặt Khoảng cách giữa hai điểm gò má zy-zy

Trang 15

STT Các kích thước Định nghĩa Ký hiệu

7 Chiều rộng mũi Khoảng cách giữa điểm ngoài nhất

8 Chiều rộng hàm dưới Khoảng cách giữa hai điểm góc hàm

9 Chiều rộng miệng Khoảng cách giữa hai điểm góc

10 Chiều cao trán II Khoảng cách giữa điểm chân tóc và

điểm lõm mũi trên mặt phẳng dọc giữa

tr-n

11 Chiều cao mặt hình thái Khoảng cách giữa điểm lõm mũi và

12 Chiều dài mũi Khoảng cách giữa điểm lõm mũi và

điểm dưới mũi trên mặt phẳng dọc giữa n-sn

13 Chiều dài tai Khoảng cách giữa điểm cao nhất và

thấp nhất của vành tai

sa-sba

14 Chiều dài môi trên Khoảng cách giữa điểm dưới mũi và

điểm gian môi

16 Khoảng cách po-pr Khoảng cách giữa điểm ống tai ngoài

và điểm nhú lợi hàm trên

po-pr

17 Khoảng cách n-pr Khoảng cách giữa điểm lõm mũi và

điểm nhú lợi hàm trên

n-pr

18 Chiều cao tầng mặt trên Khoảng cách giữa điểm chân tóc và

điểm trên gốc mũi

tr-gl

19 Chiều cao tầng mặt giữa Khoảng cách giữa điểm trên gốc mũi

và điểm dưới mũi

gl-sn

20 Chiều cao tầng mặt dưới Khoảng cách giữa điểm dưới mũi và

điểm trước-dưới cằm

sn-gn

Trang 16

Hình 9 Câc chỉ số thường đo trực tiếp

Để khảo sât hình thâi đầu, Martin đo 3 kích thước lă chiều dăi đầu,chiều rộng đầu, vă chu vi vòng đầu Trong đó để đânh giâ tương quan giữachiều rộng vă chiều dăi đầu ông đê đưa ra chỉ số đầu Dựa văo chỉ số đầu, ôngphđn loại thănh những loại đầu khâc nhau như: đầu rất ngắn, đầu ngắn, đầutrung bình, đầu dăi vă đầu rất dăi Chỉ số đầu căng lớn thì đầu căng ngắn

- Câc kích thước vă chỉ số vùng mặt

Martin phđn tích câc đặc điểm khuôn mặt dựa văo câc kích thước:chiều rộng mặt, chiều cao mặt, chiều cao mặt hình thâi, chiều cao trân vv vẵng đưa ra chỉ số mặt toăn bộ để phđn loại thănh những loại mặt khâc nhau,theo Martin vă Saller, mặt có thể được chia thănh 5 loại: mặt rất rộng, mặtrộng, mặt trung bình, mặt dăi, mặt rất dăi Chỉ số mặt toăn bộ căng lớn thì mặtcăng dăi

- Câc kích thước vă chỉ số mũi

Đặc điểm mũi được đânh giâ qua câc kích thước chiều rộng mũi, chiềucao mũi Martin cũng đưa ra chỉ số mũi để đânh giâ hình thâi mũi, theo chỉ sốmũi, ông phđn loại thănh 7 loại mũi lă: mũi cực hẹp, rất hẹp, hẹp, trung bình,rộng, rất rộng vă cực rộng Chỉ số mũi căng lớn thì mũi căng rộng

- Độ vẩu

Trang 17

Độ vẩu cũng là một đặc điểm để đánh giá sự khác biệt giữa các chủngtộc trên thế giới Nguyên tắc của việc đánh giá độ vẩu là so sánh tương quangiữa một điểm thuộc xương hàm trên với một điểm thuộc sọ là chuẩn phíasau Bằng phương pháp đo trực tiếp, độ vẩu được đánh giá bằng chỉ số vẩu.Theo Martin, độ vẩu được chia thành các mức độ là: không vẩu, vẩu, rất vẩu.Chỉ số vẩu càng lớn thì độ vẩu càng cao.

- Kích thước và chỉ số hàm dưới

Chỉ số hàm dưới đánh giá sự tương quan giữa chiều rộng hàm dưới vàchiều rộng mặt, Martin chia hàm thành 3 loại là: hẹp, trung bình và rộng.Theo đó, chỉ số hàm dưới càng rộng thì hàm càng rộng

5 Phân tích các tỷ lệ và hình dạng khuôn mặt

Chiều cao mặt thường được đánh giá bằng một hoặc hai phương pháp.Phương pháp thứ nhất là chia mặt thành 3 tầng mặt bằng nhau (hình 5) nhưminh họa của da Vinci Các phép đo được thực hiện trên đường giữa từtrichion tới glabella, từ glabella đến subnasale và từ subnasale đến menton.Phương pháp thứ hai không xét tầng mặt trên bởi vì vị trí của đường chân tócthường rất thay đổi Các phép đo được thực hiện từ nasion tới subnasale và từsubnasale đến menton Với phương pháp thứ hai, tầng mặt giữa chiếm 43%chiều cao và tầng mặt dưới chiếm 57%

Theo nghiên cứu của Werli và cộng sự năm 2003 ở sinh viên trường

mỹ thuật tạo hình Strasbourg, khuôn mặt nam lý tưởng thường thẳng hơn,cằm lồi hơn trong khi đó những khuôn mặt nữ được thu hút nhất có môi lồihơn, các khuôn mặt quá lồi được đánh giá xấu nhất

Trang 18

Hình 10 Mặt được chia thành năm phần bằng nhau

Celébie và Jerolimov dựa vào mối tương quan giữa ba kích thướcngang của mặt: chiều rộng giữa 2 xương thái dương (ft-ft), chiều rộng giữa 2xương gò má (zy-zy) và chiều rộng hàm dưới (go-go) để xác định hình dạngkhuôn mặt Theo ông mặt hình vuông nếu go = zy = ft hoặc ft = zy hoặc zy =

go, mặt hình ovale nếu zy > ft và zy > go, mặt hình tam giác nếu ft > zy > gohoặc ft < zy < go (nếu 2 kích thước chênh nhau khoảng 2mm thì coi như làbằng nhau

William theo tư thế mặt nghiêng chia khuôn mặt ra làm ba loại baogồm: mặt thẳng, mặt nhô, mặt lõm căn cứ vào tương quan giữa mặt phẳngGl’-Sn và Sn-Pg’.Theo mặt thẳng được chia ra thành ba loại: Mặt được coi làhình vuông khi zy-zy = go-go; hình ô van (hình trái xoan) khi zy-zy > go-gomức độ chênh lệch ít; hình tam giác khi zy-zy > go - go sự chênh lệch lớn,đỉnh tam giác ở dưới

Trang 19

Hình 11: Cách xác định hình dạng khuôn mặt theo phương pháp của Celébie và Jerolimov 1-5: mặt hình vuông, 6-8: mặt ovale, 9-10: mặt tam

giác.

Trang 20

nhô

mặt lõm

1.

2.

Khuôn mặt vuông Khuôn mặt tam giác Khuôn mặt oval

Hình 12 Các dạng khuôn mặt

Trang 21

Nelson đã tập hợp những dấu hiệu nêu rõ mối liên quan hình thái củacung răng, khuôn mặt và thân răng cửa và gọi đó là bộ ba Nelson

Hình 13 Bộ ba nelson

Leon Williams quan sát thấy đường viền của khuôn mặt khi xoay ngược

có thể tương đối trùng khớp với hình dạng răng cửa giữa hàm trên tạo nêntính thẩm mỹ cao cho tổng thể khuôn mặt đặc biệt là nụ cười Thuyết hình họccủa ông nói về sự phù hợp của hình dáng khuôn mặt với hình dạng của răngcửa giữa hàm trên Mặc dù thuyết này được đưa ra từ đầu thế kỷ 20 nhưng nóvẫn là thuyết phổ biến nhất được áp dụng khi lựa chọn hình dạng răng củaphục hình thay thế

Trang 22

Hình 14 Tương quan hình dạng răng và khuôn mặt [29].

Bên cạnh tương quan răng – mặt thì tương quan giữa răng và cung răngcũng được cân nhắc trong chọn lựa điều trị Nhiều nghiên cứu chỉ ra sự tươngứng giữa một cung răng hẹp với răng cửa giữa hàm trên có dạng hình nón,hay một cung răng dạng vuông với một răng cửa giữa hàm trên có dạngvuông Tuy nhiên, nhiều tác giả khác lại cho rằng mối tương quan này khálỏng lẻo, thậm chí nhiều tác giả còn cho rằng hầu như không có sự tươngquan giữa hình thái cung răng và hình dạng của răng cửa giữa hàm trên

Hình 15 Tương quan hình dạng răng cửa với hình dạng cung răng [35].

Trang 23

Trong nhiều nghiên cứu được tiến hành, kết quả cho thấy cung răng vàkhuôn mặt có một sự tương quan về hình dạng khá rõ Nhiều bác sĩ chỉnh nhacoi hình dạng khuôn mặt là một gợi ý để đưa ra lựa chọn hình dạng dây cungtrong điều trị chỉnh nha

Chỉ số vàng và các tỷ lệ khuôn mặt

Năm 1509, Fra Paccioli di Borgio xuất bản một cuốn sách viết về các

tỷ lệ thẩm mỹ, trong quyển sách này ông ta đã nhấn mạnh đến “chỉ số vàng”

“Chỉ số vàng” là một tỷ lệ vô tỷ: tỷ lệ giữa phần lớn nhất và phần nhỏ nhấtcủa hai phần cũng bằng tỷ lệ của cả hai phần đó với phần lớn nhất,b/a+b=a/b,a<b Qui luật này chỉ có thể đạt được khi đoạn nhỏ nhất bằng0.618 và đoạn lớn là 1, cả đoạn là 1.618 Núi theo cách khác, nếu chúng tachia một đoạn thẳng AC thành hai phần không bằng nhau sao cho tỉ lệ giữađoạn nhỏ AB/BC cũng bằng BC/AC: điều này chỉ có thể nếu AB = 0.618 và

BC = 1 (AB/BC=BC/AC= 61.8%) Khi chia như thế chúng ta sẽ được mộtdãy số sau: 0,618; 1; 1,618; 2,618 Số tiếp theo có thể tính được bằng cách:nhân hoặc chia cho 1,618 hoặc là cộng hoặc cho tổng của hai số đứng trước

nó (hoặc trừ cho số đứng sau nó)

Qui luật này được nhà toán học Luca Pacioli và hoạ sĩ Leonard DeVinci mô tả thành một công thức chính xác trong tác phẩm Da DivineProportione thời Phục hưng Và từ đó, tỷ lệ vàng được sử dụng rất nhiều tronghội hoạ, kiến trúc cũng như là phân tích thẩm mỹ khuôn mặt

Trang 24

Hình 16 Đầu được xây dựng theo

tỉ lệ vàng của Luca Pacioli

Hình 17 Khuôn mặt có tỉ lệ xấp xỉ

tỷ lệ vàng 61%-62.1%

Ricketts năm 1982 đã tiến hành một nghiên cứu trên 10 khuôn mặtngười mẫu có các chủng tộc khác nhau trên ảnh thẳng kết quả nhận thấy cócác tỷ lệ vàng giữa chiều rộng mũi và miệng, miệng và mắt, giữa 2 mắt vàchiều rộng mặt [29]

6 Ưu, nhược điểm của phim X-quang

Khi điều trị những vấn đề liên quan đến thẩm mỹ, chúng ta không thể chỉdựa vào cảm nhận qua quan sát lâm sàng mà phải kết hợp giữa quan sát lâmsàng và những đánh giá cận lâm sàng có cơ sở khoa học (như các tiêu chuẩnphân tích trên phim, ảnh) vì “tạo hình thẩm mỹ khuôn mặt là sự kết hợp giữakhoa học và nghệ thuật”

Phim XQ sọ nghiêng chụp theo kỹ thuật từ xa giúp chúng ta nghiên cứunhững thay đổi do phát triển, giúp đánh giá cấu trúc mô xương và mô mềmkhi chẩn đoán, lên kế hoạch điều trị, định hướng các thủ thuật điều trị chỉnhhình và phẫu thuật, và cuối cùng giúp theo dõi, đánh giá các kết quả điều trị

Trang 25

Năm 1931, Holly Broadbent (Mỹ) và Hofrath (Đức) giới thiệu về phim

sọ nghiêng với mục đích nghiên cứu các hướng phát triển của phức hợp sọmặt Nhưng rất nhanh chóng, nó được sử dụng với mục đích đánh giá sự cânđối của hàm mặt và làm sáng tỏ cơ sở giải phẫu của khớp cắn Hàng loạtnhững nghiên cứu về mặt đã được đánh giá qua phân tích trên phim Một sốphân tích được thực hiện với mục đích đưa ra các tiêu chuẩn đồng thời được

sử dụng để xác định phương án điều trị trong chỉnh nha như các phân tích củaTweed (1954), Steiner (1960) và Ricketts (1961) Một số phân tích khác vớimục đích tìm hiểu về khớp cắn, ổ răng hoặc cấu trúc xương Các phân tíchnày cũng cố gắng làm sáng tỏ sự ảnh hưởng qua lại giữa các cấu trúc sọ mặttrong quá trình phát triển tự nhiên, các phân tích này đã được thực hiện bởiBjork (1947), Downs (1948), Enlow (1971) và McNamara (1984)

Phân tích phim sọ mặt cho phép chúng ta xác định được dạng mặt Tuynhiên, dạng mặt và các bất thường không phải khi nào cũng gắn liền nhau, vìnhiều trường hợp có lệch lạc xương nhưng khớp cắn hoàn toàn bình thường.Nghiên cứu về tương quan xương cũng cho phép chúng ta định hướng được điềutrị nhờ vào phân tích mối liên quan xương trong mặt phẳng đứng ngang và đứngdọc giữa giúp chúng ta có thể phân biệt được lệch lạc do xương hàm hay xương

Trang 26

RM Ricketts đã khái quát hoá chức năng của phim sọ nghiêng trong phântích sọ-mặt thành sơ đồ 4C: Caracterisation (mụ tả đặc điểm): mô tả tình trạngsinh lý, bệnh lý; Comparison (so sỏnh): so sánh giữa cơ thể này với cơ thể kháccùng tuổi, hoặc trong các nghiên cứu dọc; Classification (phõn loại): giúp phânloại các mối tương quan ; Communication (giao tiếp): có thể dùng phim để traođổi với bố mẹ, đồng nghiệp hoặc bệnh nhân.

So với đo trực tiếp và đo trên ảnh chuẩn hóa, ưu điểm vượt trội của đo trênphim sọ mặt là đánh giá được mô xương bên dưới và mối tương quan giữa môcứng và mô mềm, vấn đề đánh giá mô mềm hạn chế hơn Khi đánh giá thẩm mỹ,các tác giả thường sử dụng các góc mô mềm và các đường thẩm mỹ như đường

S và E, góc H và góc Z

Phim sọ mặt thẳng từ xa cho chúng ta cơ sở để đánh giá sự cân xứngtheo chiều ngang và chiều dọc của các cấu trúc xương sọ mặt Mặt thẳng đượcxác định bởi chiều dài (đo từ chân tóc đến bờ dưới của cằm), độ rộng (đo giữahai gò má) Khái niệm này rất quan trọng dùng để phân loại khuôn mặt Mộtkhuôn mặt cân xứng, mặt có thể dài và hẹp, ngắn và rộng, hoặc trung gian giữacác xu hướng trên

Bên cạnh các ứng dụng kinh điển để xác định các bất cân xứng về chiềungang, phim sọ mặt thẳng từ xa còn có giá trị cung cấp những thông tin liênquan về hình thái học như hình dạng, kích thước sọ mặt, mật độ của xương,hình thái học của các đường khớp xương trong quá trình tăng trưởng, pháttriển Ngoài ra có thể góp phần vào việc phát hiện bệnh lý của mô cứng và mômềm, so sánh, đối chiếu, lập kế hoạch điều trị

Trải qua một thời gian dài, phim sọ thẳng ít được sử dụng vì khó lậpđược tư thế đầu, khó xác định các mốc giải phẫu và trùng lặp các cấu trúc giảiphẫu Ngày nay với các yêu cầu cao hơn trong chẩn đoán và điều trị phim sọmặt thẳng lại được chú ý đến nhiều hơn Phim sọ thẳng có các giá trị đặc biệt

Trang 27

trong các trường hợp có bất đối xứng các mốc giải phẫu giữa bên trái và bênphải Các biểu hiện phát triển quá mức và kém phát triển của một thành phầnvùng sọ mặt, các biểu hiện không cân xứng giữa hai bên chỉ có thể phát hiệnđược trên phim sọ thẳng.

Phim sọ mặt thẳng đem lại nhiều thông tin hữu ích cho việc chẩn đoán

và điều trị mà không thể thu thập được từ những nguồn tư liệu khác Ngoàicác ứng dụng kinh điển là xác định kích thước ngang và sự cân xứng nó cònđược chỉ định trong các trường hợp so sánh, đánh giá, xác định các tươngquan răng, xương trong chỉnh hình và phẫu thuật, như:

+ Khảo sát toàn diện: phim sọ mặt thẳng cung cấp những thông tin liênquan về hình thái học như hình dạng, kích thước của sọ mặt; mật độ xương,hình thái học các đường khớp trong quá trình tăng trưởng và phát triển.Ngoài ra nó có thể góp phần vào việc phát hiện bệnh lý của mô cứng

+ Mô tả và so sánh: Phim sọ mặt thẳng được dùng để so sánh giữanhững đối tượng khác nhau hoặc với những chỉ số bình thường đã đượcnghiên cứu

+ Chẩn đoán: Phim sọ mặt thẳng với các phép phân tích đo sọ trênphim đã cung cấp thông tin chẩn đoán, giúp xác định bản chất và nguyênnhân của sai lệch

+ Lập kế hoạch điều trị: Phim sọ mặt thẳng góp phần đưa ra một kếhoạch điều trị hoàn chỉnh và toàn diện về chỉnh hình hoặc phẫu thuật chotừng bệnh nhân cụ thể

+ Đánh giá sự tăng trưởng và kết quả điều trị: Để đánh giá sự tăngtrưởng cũng như so sánh kết quả điều trị có thể chồng phim theo đường viềnngoài cùng của xương sọ hoặc theo các mặt phẳng tham chiếu dựa trên cáccấu trúc tương đối ổn định trong quá trình tăng trưởng Những phim sọ mặtthẳng sử dụng để so sánh được chụp ở những thời điểm khác nhau nhưng

Ngày đăng: 07/08/2019, 20:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Dimitrije E. P., (2007), ‘‘Facial architecture and fine arts’’, Aesthetic surgery of the facial Mosaic, chapter 9,Springer, pp 33 -37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aestheticsurgery of the facial Mosaic
Tác giả: Dimitrije E. P
Năm: 2007
15. Mars S .Z., (2005), ‘‘Aesthetic facial analysic’’, Otolaryngology: head and neck surgery, chapter 21, 4th edition, Elsevier Mosby, pp 142 - 154 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Otolaryngology: head andneck surgery
Tác giả: Mars S .Z
Năm: 2005
16. Bass N. M., (2003), “Measurements of the profile angle and the aesthetic analysis of the facial profile”, Journal of Orthodontics, Vol. 30, pp. 3- 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Measurements of the profile angle and the aestheticanalysis of the facial profile”, "Journal of Orthodontics
Tác giả: Bass N. M
Năm: 2003
17. Steven M.H., (2007), ‘‘The definition of facial beauty’’, Aesthetic surgery of facial analysic, Chapter 11, Springer, pp 43 - 52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aestheticsurgery of facial analysic
Tác giả: Steven M.H
Năm: 2007
18. Ekman P., Friesen W. V., (1982), Emotion in the Human Face, Cambridge University Press, Cambridge, pp2-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Emotion in the Human Face
Tác giả: Ekman P., Friesen W. V
Năm: 1982
19. Elder R. J., (2001), “Background considerations to facial aesthetic”, Journal of Orthodontic, Vol. 28, No. (2), pp. 159 - 169 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Background considerations to facialaesthetic”, "Journal of Orthodontic
Tác giả: Elder R. J
Năm: 2001
20. Monique R., (1992), ‘‘Critères et évaluation esthétique du visage’’Orthodontie francaise, pp. 21-70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Orthodontie francaise
Tác giả: Monique R
Năm: 1992
21. Elisabeth B., (1991), ‘‘Influence de la croissance sur l’esthétique’’, Orthodontie francaise, Chapitre 2, Volume 62, pp 71-101 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Orthodontie francaise
Tác giả: Elisabeth B
Năm: 1991
22. Vig P. S., Hewitt A. B., (1975), “Asymmetry of the human facial skeleton’’, Amer.J.Orthodont, Vol 45, No2, pp 122-129 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Asymmetry of the human facialskeleton’’", Amer.J.Orthodont
Tác giả: Vig P. S., Hewitt A. B
Năm: 1975
23. Florine V., (2000), ‘‘Clinical anthropometry and canons of the face in historical perspective’’, Plast Reconstr Surg, n0 106, pp 1-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Plast Reconstr Surg
Tác giả: Florine V
Năm: 2000
24. Jain S. K., Anand C., Ghosh S. K., (2004), “Photometric facial analysis - a baseline study” (2004), J. Anat. Soc. India, Vol. 53, No(2), pp. 11-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Photometric facial analysis -a baseline study” (2004), "J. Anat. Soc. India
Tác giả: Jain S. K., Anand C., Ghosh S. K., (2004), “Photometric facial analysis - a baseline study”
Năm: 2004
25. Naini, F.B (2011). Facial Aesthetics: Concepts and Clinical Diagnosis, John Wiley Sons, OX4 2DQ, UK Sách, tạp chí
Tiêu đề: Facial Aesthetics: Concepts and Clinical Diagnosis
Tác giả: Naini, F.B
Năm: 2011
28. Bozkir M. G., P. Karakas., O. Oguz (2003), “Measurements of soft tissue orbits in Turkish young adults”, Surg. Radiol Anat., Vol. 25, pp.54-57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Measurements of soft tissueorbits in Turkish young adults”, "Surg. Radiol Anat
Tác giả: Bozkir M. G., P. Karakas., O. Oguz
Năm: 2003
29. Jain S. K., Anand C., Ghosh S. K., (2004), “Photometric facial analysis - a baseline study” (2004), J. Anat. Soc. India, Vol. 53, No(2), pp.11-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Photometric facial analysis -a baseline study” (2004), "J. Anat. Soc. India
Tác giả: Jain S. K., Anand C., Ghosh S. K., (2004), “Photometric facial analysis - a baseline study”
Năm: 2004
30. Pavlic, Andrej, et al. Neoclassical canons of facial beauty: Do we see the deviations?. Journal of Cranio-Maxillofacial Surgery, 2017, 45.5: 741-747 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Cranio-Maxillofacial Surgery
31. Lê Hoàng Anh (2017). Hình thái khuôn mặt ở người Việttrưởng thành18- 25 tuổi tại Hà Nội trên ảnh chuẩn hóa. Luận văn thạc sỹ y học, trường Đại học Y Hà Nội, tr. 1-90 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình thái khuôn mặt ở người Việttrưởng thành18-25 tuổi tại Hà Nội trên ảnh chuẩn hóa
Tác giả: Lê Hoàng Anh
Năm: 2017
32. Võ Trương Như Ngọc (2014). Phân tích kết cấu đầu – Mặt và thẩm mỹ khuôn mặt, Nhà xuất bản y học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích kết cấu đầu – Mặt và thẩm mỹkhuôn mặt
Tác giả: Võ Trương Như Ngọc
Nhà XB: Nhà xuất bản y học Hà Nội
Năm: 2014
34. Verma, S. K., Maheshwari, S., Kumar, S. et al (2012). Natural head position: key position for radiographic and photographic analysis and research of craniofacial complex. Journal of Oral Biology and Craniofacial Research, 2(1), 46–49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Oral Biology andCraniofacial Research
Tác giả: Verma, S. K., Maheshwari, S., Kumar, S. et al
Năm: 2012
27. Lê Việt Vùng (2005), Nghiên cứu đặc điểm hình thái nhân trắc đầu mặt người Việt trưởng thành, ứng dụng trong giám định pháp y, Luận án tiến sỹ y học, Học viện Quân Y, tr. 1-100 Khác
33. Trần Thiết Sơn, Nguyễn Doãn Tuất (1993). Một số đặc điểm tầng mặt giữa ở thanh niên Việt Nam. Hình thái học, tập 2,3-5 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w