1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐẶC điểm HÌNH THÁI đầu mặt của NGƯỜI VIỆT NAM TRƯỞNG THÀNH

60 114 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 5,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy, trên thế giới đã có rất nhiều các nghiên cứu khác nhau về đặc điểm nhân trắc đầu-mặt để xác định các đặc điểm, số đo đầu mặt củacác chủng tộc khác nhau dựa trên ba phương pháp ch

Trang 1

CHU VĂN TUỆ BÌNH

ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI ĐẦU MẶT

CỦA NGƯỜI VIỆT NAM TRƯỞNG THÀNH

TIỂU LUẬN TỔNG QUAN

HÀ NỘI – 2018

Trang 2

CHU VĂN TUỆ BÌNH

ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI ĐẦU MẶT

CỦA NGƯỜI VIỆT NAM TRƯỞNG THÀNH

Người hướng dẫn: PGS.TS Trần Sinh Vương

Cho đề tài “Nghiên cứu đặc điểm hình thái đầu-mặt bằng phương pháp đo trực tiếp trên người Kinh và

người Mường trong nhóm tuổi 18-25”

Chuyên ngành : Giải phẫu người

TIỂU LUẬN TỔNG QUAN

Trang 3

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1 Nhắc lại giải phẫu học, sự phát triển các xương vùng sọ mặt 3

2 Những ứng dụng của nghiên cứu nhân trắc học 5

3 Các phương pháp đo nhân trắc đầu, mặt 9

4 Những đề xuất của Martin và Saller trong nhân trắc học đầu mặt 12

5 Phân tích các tỷ lệ và hình dạng khuôn mặt 20

6 Ưu, nhược điểm của phim X-quang 27

7 Ưu nhược điểm của phương pháp chụp ảnh chuẩn hoá 32

8 Các công trình nghiên cứu nhân trắc đầu, mặt bằng phương pháp đo trực tiếp trên thế giới 36

9 Các công trình nghiên cứu nhân trắc đầu, mặt bằng phương pháp đo trực tiếp ở Việt Nam 40

10 Định nghĩa thẩm mỹ khuôn mặt 44

11 Tiêu chuẩn tân cổ điển 49 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

Bảng 1: Các chỉ số thường được sử dụng khi đo nhân trắc trực tiếp 16

Bảng 2 Một số kích thước đầu, mặt của một nhóm người ở Latvian 38

Bảng 3 Một số kích thước đầu, mặt của hai tộc người Tiv và Idoma 39

Bảng 4 Kích thước vùng đầu của 100 sinh viên Ấn Độ 39

Bảng 5 Một số kích thước đầu, mặt của sinh viên Đại học Y Hà Nội 42

Bảng 6 Kích thước vùng đầu, mặt của sinh viên Y khoa tuổi 18-22 tuổi 43

Bảng 7 Một số kích thước đầu, mặt của một nhóm người Việt tuổi từ 18-25 43

Bảng 8 Một số kích thước đầu, mặt của sinh viên Y6 Đại học Y Hà Nội 44

Trang 5

Hình 1 Hệ thống xương vùng đầu mặt nhìn thẳng và nhìn nghiêng 3

Hình 2 Phương pháp đo nhân trắc trực tiếp trên lâm sàng 9

Hình 3 Kỹ thuật chụp ảnh chuẩn hóa 10

Hình 4 Phim chụp X- quang nghiêng từ xa 11

Hình 5 Mặt phẳng ngang Frankfurt 13

Hình 6 Các mốc sọ mặt nhìn thẳng 15

Hình 7 Các mốc sọ mặt nhìn nghiêng 15

Hình 8 Bộ thước đo nhân trắc Martin 16

Hình 9 Các chỉ số thường đo trực tiếp 18

Hình 10 Mặt được chia thành năm phần bằng nhau 20

Hình 11: Cách xác định hình dạng khuôn mặt theo phương pháp của Celébie và Jerolimov 22

Hình 12 Các dạng khuôn mặt 23

Hình 13 Bộ ba nelson 24

Hình 14 Tương quan hình dạng răng và khuôn mặt 25

Hình 15 Tương quan hình dạng răng cửa với hình dạng cung răng 25

Hình 16 Đầu được xây dựng theo tỉ lệ vàng của Luca Pacioli 27

Hình 17 Khuôn mặt có tỉ lệ xấp xỉ tỷ lệ vàng 61%-62.1% 27

Hình 18 có tỷ lệ vàng giữa các phép đo 2 và 4, 3 và 5, 5 và 8, 6 và 7… 32

Hình 19 Khuôn mặt nhìn nghiêng có các kích thước theo tỷ lệ vàng theo Ricketts 32

Hình 20 Theo Baud Tỷ lệ III/(I+II) và (I+II)/(I+II+III) là 62% tức khoảng 61,8% 32

Hinh 21 Pho tượng bán thân của nữ hoàng Nefertiti 47

Hình 22 Một số chuẩn tân cổ điển 51

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nghiên cứu nhân trắc đầu mặt đã được tiến hành từ những năm trướccông nguyên với mục đích đưa ra được những tiêu chuẩn để phân biệt vềchủng tộc hay ứng dụng trong điêu khắc, hội họa Ngày nay, nghiên cứu nhântrắc học vẫn là một vấn đề rất quan trọng vì đưa ra các con số có giá trị vớingành thiết kế, ngành sản xuất ra những bộ phận ứng dụng trên cơ thể (maymặc, bảo hộ lao động, an toàn giao thông…), ngành phẫu thuật tạo hình vàthẩm mỹ, đặc biệt là trong điều trị các bất thường, các bệnh lý, dị tật vùngđầu-mặt, cũng như theo dõi sự phát triển của đầu-mặt Các yếu tố ảnh hưởngnhiều đến nhân trắc đầu-mặt là di truyền, chế độ dinh dưỡng, bệnh lý tại chỗ

và toàn thân Do vậy, trên thế giới đã có rất nhiều các nghiên cứu khác nhau

về đặc điểm nhân trắc đầu-mặt để xác định các đặc điểm, số đo đầu mặt củacác chủng tộc khác nhau dựa trên ba phương pháp chính đó là: đo trực tiếptrên cơ thể sống, phân tích gián tiếp qua ảnh chuẩn hóa, phân tích gián tiếpqua phim chụp XQ từ xa Trong 3 phương pháp này, phương pháp đo trựctiếp trên cơ thể ra đời từ rất sớm, có thể phân tích được cả mô cứng và mômềm và đo được tại những vùng khó bị bao phủ bởi mái tóc

Trên thế giới, dựa vào các phương pháp nghiên cứu trên, các tác giả đãthống nhất về việc có sự khác biệt giữa chủng tộc, giới như trong các nghiên cứucủa E Nagle [1], S Gupta [2] Theo Uysal, có sự khác biệt về nhân trắc đầu-mặtgiữa người Thổ Nhĩ Kỳ và người dân Arập [3] Các nghiên cứu đã chỉ ra rằngcác chỉ số cho một chủng tộc này không thể giống một chủng tộc khác

Khi ứng dụng trong lĩnh vực Y học nói chung và răng hàm mặt, ngoạikhoa, phẫu thuật tạo hình hàm mặt nói riêng, các số đo, chỉ số đầu mặt…lànhững thông tin rất quan trọng trong việc chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị

để phục hồi lại các chức năng cơ bản cũng như thẩm mỹ đã mất do bệnh lýthông do tai nạn giao thông, tai nạn lao động Khuôn mặt có thể bị tàn phá,

Trang 7

mất tổ chức không thể nhận dạng được khi bệnh nhân có các bệnh lý như ungthư hoặc khi bị tai nạn, các bác sỹ không thể tái lập lại một khuôn mặt phùhợp cho riêng từng ca lâm sàng nếu như không biết được các số đo bìnhthường của họ ở chính thời điểm đó là như thế nào Hiện nay các bác sỹ đã vàđang sử dụng các tiêu chí của người Cáp-ca (chủng tộc Mongoloide) để áp đặtcho người Việt Nam Việc áp dụng một cách áp đặt này theo nhiều nghiêncứu là không phù hợp, đặt biệt là trong lĩnh vực nắn chỉnh răng-hàm, phẫuthuật thẩm mỹ, một yêu cầu ngày càng tăng cao của người dân để nâng caohơn chất lượng cuộc sống.

Tại Việt Nam, đã có các nghiên cứu về nhân trắc đầu-mặt của NguyễnQuang Quyền [4], Hoàng Tử Hùng [5], Lê Gia Vinh [6] trên các dân tộc khácnhau cũng như các lứa tuổi khác nhau Tuy nhiên, các nghiên cứu được tiếnhành với các cỡ mẫu nhỏ, không thể đại diện cho người Việt Nam Trongnhững năm gần đây, cũng có những nghiên cứu về nhân trắc đầu-mặt để đánhgiá kết cấu về đầu-sọ-mặt cũng như mức độ hài hòa (thẩm mỹ) của khuân mặtcho các lứa tuổi của Ngô Thị Huỳnh Lan, Trần , Thúy Nga, Võ Trương NhưNgọc, Trần Thị Bích Hạnh, tuy nhiên các nghiên cứu chủ yếu tập trung bằngphương pháp gián tiếp qua chụp phim XQ hay phương pháp gián tiếp quachụp ảnh chuẩn hóa

Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu "Đặc điểm hình thái đầu-mặt

bằng phương pháp đo trực tiếp trên người Kinh và người Mường trong nhóm tuổi 18-25" với hai mục tiêu sau:

1 Đưa ra được các chỉ số hình thái đầu-mặt trên người Kinh và người Mường trong nhóm tuổi 18-25.

2 Xây dựng mô hình dự báo kết quả giữa phương pháp đo nhân trắc đầu mặt trực tiếp với phương pháp chụp Xquang từ xa và chụp ảnh kỹ thuật số chuẩn hóa.

Trang 8

1 Nhắc lại giải phẫu học, sự phát triển các xương vùng sọ mặt

Hệ thống xương vùng đầu mặt gồm 23 xương: 1 xương trán, 1 xươngsàng, 2 xương đỉnh, 1 xương chẩm, 1 xương bướm, 2 xương thái dương, 2xương xoăn mũi dưới, 2 xương lệ, 2 xương mũi, 1 xương lá mía, 2 xươnghàm trên, 2 xương gò má, 2 xương khẩu cái, 1 xương hàm dưới, 1 xươngmóng ( Hình 1.1)

CHÚ THÍCH

1: Xương trán 5: Xương gò má 9: Xương chẩm

2: Xương đỉnh 6: Xương mũi 10: Xương lệ

3: Xương thái dương 7: Xương hàm trên 11: Xương sàng

4: Xương bướm 8: Xương hàm dưới 12: Xương xoăn mũi dưới

13: Xương lá mía

Hình 1 Hệ thống xương vùng đầu mặt nhìn thẳng và nhìn nghiêng

Nguồn: Netter F.H (2010) [Error: Reference source not found].

Hệ thống xương vùng mặt chia làm 2 phần: Khối xương sọ não và khốixương mặt Khối xương sọ não được tạo nên từ 8 xương và chứa não bộ Khốixương sọ mặt được tạo nên từ 15 xương Nền sọ ngăn cách giữa hai khốixương Các xương khớp với nhau bằng các khớp bất động (khớp thái dươnghàm dưới là khớp động duy nhất) [Error: Reference source not found]

Trang 9

2 Những ứng dụng của nghiên cứu nhân trắc học

Đối với ngành nhân chủng học: Ngay từ rất sớm, nhân trắc học đã

được ứng dụng để tìm ra sự khác biệt về mặt hình thái giữa các dân tộc, cácchủng tộc Đã có nhiều công trình nghiên cứu mà kết quả của nó cho tới ngàynay vẫn còn giá trị

Năm 1842, nhà giải phẫu người Thuỵ Điển G.Retzius nghiên cứuhình dáng đầu của các dân cư Bắc Âu Từ kết quả nghiên cứu, ông đã chiadân cư trên thế giới thành hai loại đầu ngắn và đầu dài Ông cũng đưa ra tỉ lệgiữa chiều rộng và chiều dài sọ Kết quả nghiên cứu của ông đã đóng gópđáng kể vào sự phát triển của nhân chủng học (dẫn theo [Error: Referencesource not found])

Dựa vào các đặc điểm hình thái, đặc biệt là các đặc điểm hình thái sọmặt ở các chủng tộc khác nhau, các nhà nhân chủng học đã chia nhân loạithành những đại chủng, tiểu chủng và các loại hình chủng tộc

Năm 1968, M Hajnisova nghiên cứu kích thước đầu mặt của 109người Tiệp trưởng thành đã đưa ra nhận xét: Chỉ số đầu của người Tiệp lớn(nam 84,9, nữ 85,3), chỉ số mặt tương đối lớn (nam 84,6, nữ 81,8) [Error:Reference source not found]

Năm 1988, các tác giả L G Farkas, R.C K Ngim và S.T Lee khinghiên cứu 111 kích thước đầu mặt gồm 14 kích thước ở đầu, 31 kích thước ởmặt, 14 kích thước ở mắt, 23 kích thước mũi, 17 kích thước mũi miệng, 12kích thước tai của 180 người Singapor gốc Trung Quốc thuộc 3 nhóm 6 tuổi,

12 tuổi và 18 tuổi, đã đưa ra các so sánh khác biệt vùng đầu mặt của 3 nhómtuổi này [Error: Reference source not found]

Năm 1994, L.G Farkas, T.A Hreczko và M J Katic nghiên cứu đặcđiểm số đo vùng đầu mặt của 979 người Nam Mĩ da trắng trong độ tuổi từ 1đến 25 Các tác giả đã đưa ra số liệu so sánh của 130 kích thước (70 kích

Trang 10

thước đơn và 60 kích thước kép) của các nhóm tuổi Đây là dữ liệu tương đốiđầy đủ về đặc điểm đo đạc của người Nam Mĩ da trắng [Error: Referencesource not found].

K Hajnis nghiên cứu đặc điểm nhân trắc vùng đầu - mặt của 120người Đức (60 nam, 60 nữ) đã nhận xét: Đầu người Đức có chiều dài tươngđối lớn (193,8 mm ở nam, 186,1 mm ở nữ); chỉ số đầu ở mức trung bình(78,8 ở nam, 77,9 ở nữ); chỉ số mặt trung bình và miệng người Đức thuộc loạinhỏ [Error: Reference source not found]

Khi so sánh các đặc điểm nhân trắc vùng đầu mặt của 3 nhóm chủngtộc (người Nam Mĩ da trắng, người Mĩ gốc Phi, người Singapor gốc TrungQuốc) và 3 nhóm người da trắng (Nam Mĩ, Đức, Tiệp), các tác giả K Hajnis,

L G Farkas và cộng sự đã đưa ra sự giống và khác nhau về hình thái đầu vàmặt của 3 nhóm chủng tộc và 3 nhóm dân tộc [Error: Reference source notfound]

Trong ergonomi, các dẫn liệu nhân trắc được dùng trong thiết kế

công nghiệp sản xuất dụng cụ phục hồi chức năng, sản xuất phương tiện bảo

hộ lao động Nhiều công trình nghiên cứu ở các nước khác nhau đã được công

bố và áp dụng rộng rãi

Atlas nhân trắc học của Cộng hoà dân chủ Đức năm 1987, được coi làcẩm nang về sự phát triển người Ngoài các dấu hiệu nhân trắc tĩnh, atlas cònđưa ra những dấu hiệu nhân trắc động, những chỉ số về tầm hoạt động củamột số bộ phận cơ thể Các dẫn liệu rất có giá trị cho việc thiết kế ergonomicủa Cộng hoà dân chủ Đức thời bấy giờ [Error: Reference source not found]

Tại Việt Nam, khi nói đến sự ứng dụng nhân trắc học trong ergonomiphải kể đến cuốn sách “Atlats nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổilao động” của tập thể tác giả do Võ Hưng làm chủ biên Đây là một công trìnhlớn, đồ sộ kéo dài trong bốn năm (1981-1984) do viện nghiên cứu Khoa Học

Trang 11

Kỹ Thuật Bảo Hộ Lao Động chủ trì với sự tham gia của nhiều cơ quan nghiêncứu khoa học ở trung ương và địa phương Công trình này nhằm đáp ứng cholĩnh vực ergonomie, làm cơ sở cho việc thiết kế máy móc và đồ dùng sinhhoạt cho người Việt [Error: Reference source not found].

Ngoài ra, tuỳ mục đích ứng dụng, nhiều công trình nghiên cứu các bộphận riêng lẻ của cơ thể cũng được tiến hành như nghiên cứu đầu để làm mũbảo hiểm, bàn tay để làm găng tay, mặt để làm mặt nạ, mắt để làm kính mắt,chân tay để làm chân tay giả

Trong tạo hình thẩm mĩ, nhiều công trình đã đi sâu nghiên cứu đặc

điểm nhân trắc ở đầu mặt để tìm ra những phương pháp phẫu thuật thẩm mĩ

hợp lí như “Nhân trắc học vùng đầu mặt trong y học” năm 1981 của L.G Farkas [Error: Reference source not found] "Nghiên cứu ứng dụng kích thước

nhân trắc trong phẫu thuật sọ hàm mặt" của J C Posnick và cộng sự năm 1994

[Error: Reference source not found], “Tạo hình mí mắt” của J C Posnick, T.

Hreczko, năm 1992 [Error: Reference source not found]

Trong Khoa học hình sự: các đặc điểm nhân trắc của vùng đầu mặt,

đặc biệt là đặc điểm mô tả đã được ứng dụng để xác định hình dạng kẻ phạmtội cũng như sự tái phạm của chúng Ngay từ cuối thế kỉ XIX, A Bertillon(người Pháp) đã áp dụng phương pháp chụp ảnh can phạm để xác định sự táiphạm Ông cũng là người đầu tiên dùng phương pháp đo và lưu giữ trong hồ

sơ của cảnh sát các số đo cơ thể của bọn tội phạm như chiều cao cơ thể, chiềudài sải tay, chiều dài, chiều rộng đầu , phòng khi nghi ngờ sự tái phạm củachúng thì có thể dễ dàng kiểm tra Phương pháp này của Bertillon đã giúp chocảnh sát truy tìm được nhiều đối tượng gây án bỏ trốn và do đó được áp dụng

ở nhiều nước châu Âu thời bấy giờ Cũng từ đó, việc mô tả nhân dạng đượchình thành và được ứng dụng rộng rãi [Error: Reference source not found]

Trang 12

Ceasare Lobroso (1836 -1909) cho rằng những tên du côn, những kẻgiết người, nghiện rượu, những người động kinh và người lùn khác biệt vớinhững người bình thường ở hình thể sọ, sự mất cân đối của khuôn mặt, hìnhthể lỗ mũi, răng, cơ cắn và kích thước xoang trán Ông thực hiện các phép đotrên sọ và trên người [Error: Reference source not found].

Trang 13

3 Các phương pháp đo nhân trắc đầu, mặt

Đánh giá nhân trắc đầu, mặt là một công việc cần thiết trong thực hànhlâm sàng và nghiên cứu Có nhiều cách đánh giá khác nhau như đo trực tiếp,đánh giá qua ảnh chụp thẳng và nghiêng, đánh giá qua tia X, đánh giá qua cácmẫu thạch cao cung răng Với các mẫu thạch cao cung răng có thể đo trực tiếphoặc scan mẫu và đo bằng phần mềm

Đo trực tiếp trên lâm sàng Trong các phương pháp đo nhân trắc đầu

mặt, phương pháp đo trực tiếp trên cơ thể ra đời từ rất sớm, có thể phân tíchđược cả mô cứng và mô mềm và đo được tại những vùng khó, bị bao phủ bởimái tóc, đồng thời còn cho chúng ta biết chính xác kích thước thật, các chỉ sốtrung thực [Error: Reference source not found] Hơn nữa Phương pháp đo trựctiếp sử dụng các công cụ đã được chuẩn hóa, cho phép ta đo lường được cácyếu tố như độ dốc, độ sâu và các khoảng cách tối thiểu Đối tượng nghiên cứukhông phải tiếp xúc với tia bức xạ [Error: Reference source not found]

Hình 2 Phương pháp đo nhân trắc trực tiếp trên lâm sàng.

Nguồn: Theo Özkoçak (2018)[Error: Reference source not found].

Tại Việt Nam, từ lâu phép đo trực tiếp đã được nhiều tác giả sử dụngtrong nghiên cứu hình thái, điển hình là Nguyễn Quang Quyền (1974) [Error:Reference source not found], Vũ Khoái (1978) Nhiều kích thước đầu, mặt nhưchiều dài đầu, chu vi vòng đầu phải sử dụng phương pháp này để đo đạc Do vậyhiện nay phương pháp này vẫn đang được sử dụng

Trang 14

Đo trên ảnh chụp chuẩn hoá được thực hiện trên ảnh chụp chuẩn hoá tư

thế thẳng và nghiêng Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong nhiềulĩnh vực khác nhau như nhân trắc, hình sự với ưu điểm: rẻ tiền và có thể giúpđánh giá tốt hơn về tương quan của các cấu trúc ngoài sọ gồm cơ và mô mềm.Phân tích thẩm mỹ khuôn mặt chủ yếu là quan sát trực tiếp và phân tích quaảnh chuẩn hóa với đánh giá thẩm mỹ là đánh giá mô mềm Hai phương phápnày có tác dụng bổ trợ cho nhau Phép đo trực tiếp trên người sống cho cácgiá trị của các kích thước trên từng cá thể chính xác hơn Phép đo ảnh chụp

dễ đánh giá về sự cân xứng của vùng mặt, cũng như dễ trao đổi thông tinhơn [Error: Reference source not found]

Hình 3 Kỹ thuật chụp ảnh chuẩn hóa

Nguồn: Theo Fabio M (2005) [Error: Reference source not found].

Đo đạc trên máy ảnh kỹ thuật số với phần mềm đo thích hợp sẽ tiết kiệmđược nhiều thời gian, nhân lực và đỡ phức tạp hơn nhiều so với đo trực tiếptrên người, có nhiều ưu điểm về khả năng thông tin, lưu trữ và bảo quản.Qua ảnh, có thể đánh giá định tính đẹp hay không đẹp, từ đó chúng ta có thểyêu cầu một phương pháp khoa học để đánh giá định lượng Có nhiều tác giả

đã phân tích khuôn mặt qua ảnh và đã đưa ra các tiêu chuẩn để chụp mặt với

Trang 15

các tư thế khác nhau như Ferrario, Bishara, Farkas, mục đích để chuẩn hoá kỹthuật chụp ảnh nhằm đánh giá và so sánh dễ dàng hơn [Error: Reference sourcenot found].

Đo trên phim X-quang

Khi điều trị những vấn đề liên quan đến thẩm mỹ, chúng ta không thể chỉdựa vào cảm nhận qua quan sát lâm sàng mà phải kết hợp giữa quan sát lâmsàng và những đánh giá cận lâm sàng có cơ sở khoa học (như các tiêu chuẩnphân tích trên phim, ảnh)

Hình 4 Phim chụp X- quang nghiêng từ xa

Nguồn: Theo Võ Trương Như Ngọc (210)[Error: Reference source not

4 Những đề xuất của Martin và Saller trong nhân trắc học đầu mặt

Nhà nhân trắc học người Đức Rudolf Martin đã dành nhiều thời giannghiên cứu các vấn đề liên quan đến đo đạc, mô tả nhân trắc Năm 1925 ông

Trang 16

cho xuất bản cuốn “Lí thuyết nhân chủng học” Năm 1929 ông lại cho xuất bản cuốn “Phương pháp mô tả có hệ thống trong nhân chủng học”, trong đó

trình bày tương đối hoàn chỉnh về các đặc điểm của cơ thể, đặc biệt là ở vùngđầu và mặt Cuốn sách đã thực sự giữ vai trò chủ đạo trong nghiên cứu nhântrắc học suốt một thời gian dài (dẫn theo [Error: Reference source not found])

Sau khi hoàn chỉnh hai cuốn sách về nghiên cứu nhân chủng học, năm

1957, Rudolf Martin tiếp tục hoàn thiện phương pháp nghiên cứu nhân trắc

của mình bằng cuốn “Mô tả hệ thống trong nhân trắc học” [Error: Reference

source not found] Năm năm sau, cùng với K Saller và cộng sự, ông lại cho

tái bản lần thứ 3 cuốn “Lí thuyết về nhân trắc học” [Error: Reference source

not found] Trong cuốn sách này ông đã mô tả rất chi tiết về các mốc đo, cáckích thước và chỉ số đầu mặt

Tư thế đầu: Martin và Saller nhấn mạnh tầm quan trọng của tư thế

đầu để xác định được các điểm mốc chính xác nhất, theo đó tư thế đầu khi đo

là mắt nhìn thẳng, đầu ở tư thế sao cho mắt và tai cùng nằm trên một mặtphẳng ngang Về sau tư thế này đã được mô tả chi tiết và rõ ràng hơn bởi tácgiả người Đức – Virschov, ông đã đề xuất tại Hội nghị Nhân trắc Quốc tế ởFrankfurt và được chọn là mặt phẳng chuẩn của tư thế đầu Theo đó, đường

nối điểm thấp nhất của bờ dưới hốc mắt (điểm orbitale) với điểm cao nhất của bình tai (điểm tragion) phải luôn luôn nằm trên mặt phẳng ngang, mặt phẳng này được gọi là mặt phẳng ngang Frankfurt kí hiệu FH.

Trang 17

Hình 5 Mặt phẳng ngang Frankfurt

Nguồn: L.G.Farkas (1994) [Error: Reference source not found].

Các mốc đo: Martin đề xuất các mốc giải phẫu vùng đầu mặt dựa vào các

đặc điểm bên ngoài và một số mốc giải phẫu của xương sọ mặt, cho đến ngày naycác mốc đo ấy vẫn được sử dụng trong các nghiên cứu nhân trắc đầu mặt

Một số mốc đo được Martin đề xuất như sau:

Điểm cao đầu (vertex): Là điểm cao nhất của đầu trên đường giữa.Điểm bên đầu (eurion): Điểm nhô sang bên nhất của vùng thái dương- đỉnh.Điểm sau đầu (opisthocranion): Điểm sau nhất vùng chẩm trên đườnggiữa đầu theo chiều trước-sau

Điểm chân tóc (trichion): Điểm giữa đường chân tóc vùng trán

Điểm trên gốc mũi (glabella): Điểm nhô nhất của đường giữa trán.Điểm lõm mũi (nasion): Nơi lõm nhất của phần gốc mũi

Điểm góc mắt trong (endocanthion): Nơi gặp nhau của mí trên và mídưới ở phía trong

Điểm giữa đồng tử (pupil): Điểm chính giữa đồng tử khi mắt nhìnthẳng và đầu ở tư thế mặt phẳng Frankfurt

Điểm góc mắt ngoài (excanthion): Nơi gặp nhau của mí trên và mí dưới

ở phía ngoài

Điểm gò má (zygion): Điểm ngoài cùng của phần mềm cung gò má.Điểm tai trên (supraurale): Điểm cao nhất của vành tai

Trang 18

Điểm tai dưới (subaurale) Điểm thấp nhất của vành tai.

Điểm ống tai ngoài (porion): Nơi cao nhất của lỗ ống tai ngoài

Điểm trước mũi (pronasal): Điểm nhô ra trước nhất của đỉnh mũi

Điểm cánh mũi (alare): Điểm ngoài nhất của cánh mũi

Điểm dưới mũi (subnasale): Điểm trên đường giữa chân mũi, nơi gặpnhau của mũi và môi trên

Điểm môi trên (labiale su¬perius): Điểm trước nhất của viền môi trêntrên đường giữa

Điểm nhú lợi hàm trên (prosthion): Điểm ở mặt trước dưới của nhú lợigiữa hai răng cửa giữa hàm trên

Điểm góc miệng (cheilion): Nơi gặp nhau của môi trên và môi dưới ởgóc miệng

Điểm gian môi (stomion): Nơi gặp nhau của môi trên và môi dưới trênmặt phẳng dọc giữa

Điểm môi dưới (labiale inferius): Điểm trước nhất của viền môi dướitrên đường giữa

Điểm cằm trước (pogonion): Điểm nhô ra trước nhất của cằm

Điểm trước-dưới cằm (gnathion): Điểm nằm giữa bờ dưới XHD (giữacằm), ngay dưới cằm

Điểm góc hàm (gonion): Điểm sau nhất và dưới nhất của góc hàm

Trang 20

Dụng cụ đo: Kết quả đo phụ thuộc rất nhiều vào dụng cụ đo Đây

cũng là vấn đề chuyên môn nảy sinh nhiều tranh cãi Tại các Hội nghị Nhântrắc học Quốc tế, những vấn đề này là tiêu điểm của các cuộc tranh luận, cuốicùng các nhà nghiên cứu cũng tìm được tiếng nói chung của mình Nhiều nhànhân trắc học đã đồng ý với các thước đo của Martin đề xuất và cải tiến[Error: Reference source not found]

Hình 8 Bộ thước đo nhân trắc Martin

Nguồn: Rudolf Martin (1962) [Error: Reference source not found]

Các thước đo này được gọi là bộ thước đo nhân trắc Martin Ngoài ra,

tuỳ theo mục đích nghiên cứu còn có thêm các thước đo chuyên dụng nhưthước đo góc, thước đo độ cong, thước đo bề dầy lớp mỡ dưới da

Các kích thước và chỉ số đầu mặt [Error: Reference source not found]:

Bảng 1: Các chỉ số thường được sử dụng khi đo nhân trắc trực tiếp

1 Chiều rộng đầu Khoảng cách giữa hai điểm bên đầu eu-eu

2 Chiều dài đầu Khoảng cách giữa điểm sau đầu và

3 Chu vi vòng đầu Chu vi vòng đầu đo qua điểm sau đầu

và điểm trên gốc mũi cvvđ

4 Chiều rộng mắt Khoảng cách giữa điểm góc mắt trong

Trang 21

STT Các kích thước Định nghĩa Ký hiệu

5 Khoảng cách giữa

hai mắt

Khoảng cách giữa hai điểm góc mắt

6 Chiều rộng mặt Khoảng cách giữa hai điểm gò má zy-zy

7 Chiều rộng mũi Khoảng cách giữa điểm ngoài nhất

cánh mũi trái-phải al-al

8 Chiều rộng hàm dưới Khoảng cách giữa hai điểm góc hàm

10 Chiều cao trán II Khoảng cách giữa điểm chân tóc và

điểm lõm mũi trên mặt phẳng dọc giữa

tr-n

11 Chiều cao mặt hình thái Khoảng cách giữa điểm lõm mũi và

điểm trước -dưới cằm

n-gn

12 Chiều dài mũi Khoảng cách giữa điểm lõm mũi và

điểm dưới mũi trên mặt phẳng dọc giữa

n-sn

13 Chiều dài tai Khoảng cách giữa điểm cao nhất và

thấp nhất của vành tai

sa-sba

14 Chiều dài môi trên Khoảng cách giữa điểm dưới mũi và

điểm gian môi

16 Khoảng cách po-pr Khoảng cách giữa điểm ống tai ngoài

và điểm nhú lợi hàm trên

po-pr

17 Khoảng cách n-pr Khoảng cách giữa điểm lõm mũi và

điểm nhú lợi hàm trên

n-pr

18 Chiều cao tầng mặt trên Khoảng cách giữa điểm chân tóc và

điểm trên gốc mũi

tr-gl

19 Chiều cao tầng mặt giữa Khoảng cách giữa điểm trên gốc mũi

và điểm dưới mũi

gl-sn

20 Chiều cao tầng mặt dưới Khoảng cách giữa điểm dưới mũi và

điểm trước-dưới cằm

sn-gn

Trang 22

Hình 9 Câc chỉ số thường đo trực tiếp

Để khảo sât hình thâi đầu, Martin đo 3 kích thước lă chiều dăi đầu,chiều rộng đầu, vă chu vi vòng đầu Trong đó để đânh giâ tương quan giữachiều rộng vă chiều dăi đầu ông đê đưa ra chỉ số đầu Dựa văo chỉ số đầu, ôngphđn loại thănh những loại đầu khâc nhau như: đầu rất ngắn, đầu ngắn, đầutrung bình, đầu dăi vă đầu rất dăi Chỉ số đầu căng lớn thì đầu căng ngắn

- Câc kích thước vă chỉ số vùng mặt

Martin phđn tích câc đặc điểm khuôn mặt dựa văo câc kích thước:chiều rộng mặt, chiều cao mặt, chiều cao mặt hình thâi, chiều cao trân vv vẵng đưa ra chỉ số mặt toăn bộ để phđn loại thănh những loại mặt khâc nhau,theo Martin vă Saller, mặt có thể được chia thănh 5 loại: mặt rất rộng, mặtrộng, mặt trung bình, mặt dăi, mặt rất dăi Chỉ số mặt toăn bộ căng lớn thì mặtcăng dăi

- Câc kích thước vă chỉ số mũi

Đặc điểm mũi được đânh giâ qua câc kích thước chiều rộng mũi, chiềucao mũi Martin cũng đưa ra chỉ số mũi để đânh giâ hình thâi mũi, theo chỉ sốmũi, ông phđn loại thănh 7 loại mũi lă: mũi cực hẹp, rất hẹp, hẹp, trung bình,rộng, rất rộng vă cực rộng Chỉ số mũi căng lớn thì mũi căng rộng

- Độ vẩu

Trang 23

Độ vẩu cũng là một đặc điểm để đánh giá sự khác biệt giữa các chủngtộc trên thế giới Nguyên tắc của việc đánh giá độ vẩu là so sánh tương quangiữa một điểm thuộc xương hàm trên với một điểm thuộc sọ là chuẩn phíasau Bằng phương pháp đo trực tiếp, độ vẩu được đánh giá bằng chỉ số vẩu.Theo Martin, độ vẩu được chia thành các mức độ là: không vẩu, vẩu, rất vẩu.Chỉ số vẩu càng lớn thì độ vẩu càng cao.

- Kích thước và chỉ số hàm dưới

Chỉ số hàm dưới đánh giá sự tương quan giữa chiều rộng hàm dưới vàchiều rộng mặt, Martin chia hàm thành 3 loại là: hẹp, trung bình và rộng.Theo đó, chỉ số hàm dưới càng rộng thì hàm càng rộng

Trang 24

5 Phân tích các tỷ lệ và hình dạng khuôn mặt

Chiều cao mặt thường được đánh giá bằng một hoặc hai phương pháp.Phương pháp thứ nhất là chia mặt thành 3 tầng mặt bằng nhau (hình 5) nhưminh họa của da Vinci Các phép đo được thực hiện trên đường giữa từtrichion tới glabella, từ glabella đến subnasale và từ subnasale đến menton.Phương pháp thứ hai không xét tầng mặt trên bởi vì vị trí của đường chân tócthường rất thay đổi Các phép đo được thực hiện từ nasion tới subnasale và từsubnasale đến menton Với phương pháp thứ hai, tầng mặt giữa chiếm 43%chiều cao và tầng mặt dưới chiếm 57%

Theo nghiên cứu của Werli và cộng sự năm 2003 ở sinh viên trường

mỹ thuật tạo hình Strasbourg, khuôn mặt nam lý tưởng thường thẳng hơn,cằm lồi hơn trong khi đó những khuôn mặt nữ được thu hút nhất có môi lồihơn, các khuôn mặt quá lồi được đánh giá xấu nhất

Hình 10 Mặt được chia thành năm phần bằng nhau

Trang 25

Celébie và Jerolimov dựa vào mối tương quan giữa ba kích thướcngang của mặt: chiều rộng giữa 2 xương thái dương (ft-ft), chiều rộng giữa 2xương gò má (zy-zy) và chiều rộng hàm dưới (go-go) để xác định hình dạngkhuôn mặt Theo ông mặt hình vuông nếu go = zy = ft hoặc ft = zy hoặc zy =

go, mặt hình ovale nếu zy > ft và zy > go, mặt hình tam giác nếu ft > zy > gohoặc ft < zy < go (nếu 2 kích thước chênh nhau khoảng 2mm thì coi như làbằng nhau

William theo tư thế mặt nghiêng chia khuôn mặt ra làm ba loại baogồm: mặt thẳng, mặt nhô, mặt lõm căn cứ vào tương quan giữa mặt phẳngGl’-Sn và Sn-Pg’.Theo mặt thẳng được chia ra thành ba loại: Mặt được coi làhình vuông khi zy-zy = go-go; hình ô van (hình trái xoan) khi zy-zy > go-gomức độ chênh lệch ít; hình tam giác khi zy-zy > go - go sự chênh lệch lớn,đỉnh tam giác ở dưới

Trang 26

Hình 11: Cách xác định hình dạng khuôn mặt theo phương pháp của

Celébie và Jerolimov 1-5: mặt hình vuông, 6-8: mặt ovale, 9-10: mặt tam

giác.

Trang 27

nhô

mặt lõm

Trang 28

Hình 13 Bộ ba nelson

Leon Williams quan sát thấy đường viền của khuôn mặt khi xoay ngược

có thể tương đối trùng khớp với hình dạng răng cửa giữa hàm trên tạo nêntính thẩm mỹ cao cho tổng thể khuôn mặt đặc biệt là nụ cười Thuyết hình họccủa ông nói về sự phù hợp của hình dáng khuôn mặt với hình dạng của răngcửa giữa hàm trên Mặc dù thuyết này được đưa ra từ đầu thế kỷ 20 nhưng nóvẫn là thuyết phổ biến nhất được áp dụng khi lựa chọn hình dạng răng củaphục hình thay thế

Trang 29

Hình 14 Tương quan hình dạng răng và khuôn mặt [29].

Bên cạnh tương quan răng – mặt thì tương quan giữa răng và cung răngcũng được cân nhắc trong chọn lựa điều trị Nhiều nghiên cứu chỉ ra sự tươngứng giữa một cung răng hẹp với răng cửa giữa hàm trên có dạng hình nón,hay một cung răng dạng vuông với một răng cửa giữa hàm trên có dạngvuông Tuy nhiên, nhiều tác giả khác lại cho rằng mối tương quan này khálỏng lẻo, thậm chí nhiều tác giả còn cho rằng hầu như không có sự tươngquan giữa hình thái cung răng và hình dạng của răng cửa giữa hàm trên

Hình 15 Tương quan hình dạng răng cửa với hình dạng cung răng [35].

Trang 30

Trong nhiều nghiên cứu được tiến hành, kết quả cho thấy cung răng vàkhuôn mặt có một sự tương quan về hình dạng khá rõ Nhiều bác sĩ chỉnh nhacoi hình dạng khuôn mặt là một gợi ý để đưa ra lựa chọn hình dạng dây cungtrong điều trị chỉnh nha

Chỉ số vàng và các tỷ lệ khuôn mặt

Năm 1509, Fra Paccioli di Borgio xuất bản một cuốn sách viết về các

tỷ lệ thẩm mỹ, trong quyển sách này ông ta đã nhấn mạnh đến “chỉ số vàng”

“Chỉ số vàng” là một tỷ lệ vô tỷ: tỷ lệ giữa phần lớn nhất và phần nhỏ nhấtcủa hai phần cũng bằng tỷ lệ của cả hai phần đó với phần lớn nhất,b/a+b=a/b,a<b Qui luật này chỉ có thể đạt được khi đoạn nhỏ nhất bằng0.618 và đoạn lớn là 1, cả đoạn là 1.618 Núi theo cách khác, nếu chúng tachia một đoạn thẳng AC thành hai phần không bằng nhau sao cho tỉ lệ giữađoạn nhỏ AB/BC cũng bằng BC/AC: điều này chỉ có thể nếu AB = 0.618 và

BC = 1 (AB/BC=BC/AC= 61.8%) Khi chia như thế chúng ta sẽ được mộtdãy số sau: 0,618; 1; 1,618; 2,618 Số tiếp theo có thể tính được bằng cách:nhân hoặc chia cho 1,618 hoặc là cộng hoặc cho tổng của hai số đứng trước

nó (hoặc trừ cho số đứng sau nó)

Qui luật này được nhà toán học Luca Pacioli và hoạ sĩ Leonard DeVinci mô tả thành một công thức chính xác trong tác phẩm Da DivineProportione thời Phục hưng Và từ đó, tỷ lệ vàng được sử dụng rất nhiều tronghội hoạ, kiến trúc cũng như là phân tích thẩm mỹ khuôn mặt

Ngày đăng: 07/08/2019, 20:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Dimitrije E. P., (2007), ‘‘Facial architecture and fine arts’’, Aesthetic surgery of the facial Mosaic, chapter 9,Springer, pp 33 -37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aestheticsurgery of the facial Mosaic
Tác giả: Dimitrije E. P
Năm: 2007
15. Mars S .Z., (2005), ‘‘Aesthetic facial analysic’’, Otolaryngology: head and neck surgery, chapter 21, 4th edition, Elsevier Mosby, pp 142 - 154 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Otolaryngology: head andneck surgery
Tác giả: Mars S .Z
Năm: 2005
16. Bass N. M., (2003), “Measurements of the profile angle and the aesthetic analysis of the facial profile”, Journal of Orthodontics, Vol. 30, pp. 3- 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Measurements of the profile angle and the aestheticanalysis of the facial profile”, "Journal of Orthodontics
Tác giả: Bass N. M
Năm: 2003
17. Steven M.H., (2007), ‘‘The definition of facial beauty’’, Aesthetic surgery of facial analysic, Chapter 11, Springer, pp 43 - 52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aestheticsurgery of facial analysic
Tác giả: Steven M.H
Năm: 2007
18. Ekman P., Friesen W. V., (1982), Emotion in the Human Face, Cambridge University Press, Cambridge, pp2-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Emotion in the Human Face
Tác giả: Ekman P., Friesen W. V
Năm: 1982
19. Elder R. J., (2001), “Background considerations to facial aesthetic”, Journal of Orthodontic, Vol. 28, No. (2), pp. 159 - 169 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Background considerations to facialaesthetic”, "Journal of Orthodontic
Tác giả: Elder R. J
Năm: 2001
20. Monique R., (1992), ‘‘Critères et évaluation esthétique du visage’’Orthodontie francaise, pp. 21-70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Orthodontie francaise
Tác giả: Monique R
Năm: 1992
21. Elisabeth B., (1991), ‘‘Influence de la croissance sur l’esthétique’’, Orthodontie francaise, Chapitre 2, Volume 62, pp 71-101 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Orthodontie francaise
Tác giả: Elisabeth B
Năm: 1991
22. Vig P. S., Hewitt A. B., (1975), “Asymmetry of the human facial skeleton’’, Amer.J.Orthodont, Vol 45, No2, pp 122-129 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Asymmetry of the human facialskeleton’’", Amer.J.Orthodont
Tác giả: Vig P. S., Hewitt A. B
Năm: 1975
23. Florine V., (2000), ‘‘Clinical anthropometry and canons of the face in historical perspective’’, Plast Reconstr Surg, n0 106, pp 1-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Plast Reconstr Surg
Tác giả: Florine V
Năm: 2000
24. Jain S. K., Anand C., Ghosh S. K., (2004), “Photometric facial analysis - a baseline study” (2004), J. Anat. Soc. India, Vol. 53, No(2), pp. 11-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Photometric facial analysis -a baseline study” (2004), "J. Anat. Soc. India
Tác giả: Jain S. K., Anand C., Ghosh S. K., (2004), “Photometric facial analysis - a baseline study”
Năm: 2004
25. Naini, F.B (2011). Facial Aesthetics: Concepts and Clinical Diagnosis, John Wiley Sons, OX4 2DQ, UK Sách, tạp chí
Tiêu đề: Facial Aesthetics: Concepts and Clinical Diagnosis
Tác giả: Naini, F.B
Năm: 2011
28. Bozkir M. G., P. Karakas., O. Oguz (2003), “Measurements of soft tissue orbits in Turkish young adults”, Surg. Radiol Anat., Vol. 25, pp.54-57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Measurements of soft tissueorbits in Turkish young adults”, "Surg. Radiol Anat
Tác giả: Bozkir M. G., P. Karakas., O. Oguz
Năm: 2003
29. Jain S. K., Anand C., Ghosh S. K., (2004), “Photometric facial analysis - a baseline study” (2004), J. Anat. Soc. India, Vol. 53, No(2), pp.11-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Photometric facial analysis -a baseline study” (2004), "J. Anat. Soc. India
Tác giả: Jain S. K., Anand C., Ghosh S. K., (2004), “Photometric facial analysis - a baseline study”
Năm: 2004
30. Pavlic, Andrej, et al. Neoclassical canons of facial beauty: Do we see the deviations?. Journal of Cranio-Maxillofacial Surgery, 2017, 45.5: 741-747 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Cranio-Maxillofacial Surgery
31. Lê Hoàng Anh (2017). Hình thái khuôn mặt ở người Việttrưởng thành18- 25 tuổi tại Hà Nội trên ảnh chuẩn hóa. Luận văn thạc sỹ y học, trường Đại học Y Hà Nội, tr. 1-90 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình thái khuôn mặt ở người Việttrưởng thành18-25 tuổi tại Hà Nội trên ảnh chuẩn hóa
Tác giả: Lê Hoàng Anh
Năm: 2017
32. Võ Trương Như Ngọc (2014). Phân tích kết cấu đầu – Mặt và thẩm mỹ khuôn mặt, Nhà xuất bản y học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích kết cấu đầu – Mặt và thẩm mỹkhuôn mặt
Tác giả: Võ Trương Như Ngọc
Nhà XB: Nhà xuất bản y học Hà Nội
Năm: 2014
34. Verma, S. K., Maheshwari, S., Kumar, S. et al (2012). Natural head position: key position for radiographic and photographic analysis and research of craniofacial complex. Journal of Oral Biology and Craniofacial Research, 2(1), 46–49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Oral Biology andCraniofacial Research
Tác giả: Verma, S. K., Maheshwari, S., Kumar, S. et al
Năm: 2012
27. Lê Việt Vùng (2005), Nghiên cứu đặc điểm hình thái nhân trắc đầu mặt người Việt trưởng thành, ứng dụng trong giám định pháp y, Luận án tiến sỹ y học, Học viện Quân Y, tr. 1-100 Khác
33. Trần Thiết Sơn, Nguyễn Doãn Tuất (1993). Một số đặc điểm tầng mặt giữa ở thanh niên Việt Nam. Hình thái học, tập 2,3-5 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w