66 3.2 Một số giải pháp và kiến nghị nâng cao tính tuân thủ thuế của đối tượng nộp thuế xuất nhập khẩu tại Chi cục Hải quan Nhơn Trạch..... Tình trạng buôn lậu và gian lận thương mại để
Trang 1_
ĐẶNG ĐỨC THỊNH
GIẢI PHÁP NÂNG CAO TÍNH TUÂN THỦ CỦA
ĐỐI TƢỢNG NỘP THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CHI CỤC
HẢI QUAN NHƠN TRẠCH
LUÂN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
ĐỒNG NAI - NĂM 2017
Trang 3_
ĐẶNG ĐỨC THỊNH
GIẢI PHÁP NÂNG CAO TÍNH TUÂN THỦ CỦA
ĐỐI TƯỢNG NỘP THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CHI CỤC
HẢI QUAN NHƠN TRẠCH
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
MÃ NGÀNH: 06.34.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS HUỲNH ĐỨC LỘNG
ĐỒNG NAI - NĂM 2017
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tác giả xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến thầy PGS.TS Huỳnh Đức Lộng đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn và góp ý trong suốt quá trình thực hiện để tác giả hoàn thành đề tài nghiên cứu
Tác giả cũng xin gửi lời cám ơn đến các Thầy, Cô khoa Sau đại học và các Thầy, Cô giảng dạy tại Trường Đại học Lạc Hồng đã có công truyền đạt cho tác giả nhiều kiến thức quý báu trong những năm học tại trường
Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến Ban Lãnh đạo Cục Hải quan Đồng Nai, các đồng nghiệp trong Chi cục Hải quan Nhơn Trạch đã có nhiều ý kiến đóng góp cũng như hỗ trợ cung cấp số liệu cho tác giả trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu
Xin chân thành tri ân!
Học viên
Đặng Đức Thịnh
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập của tác giả, được xuất phát từ tình hình thực tiễn, cùng với sự hướng dẫn hỗ trợ tận tình từ Thầy PGS.TS.Huỳnh Đức Lộng Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Tác giả luận văn
Đặng Đức Thịnh
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AFTA Khu vực tự do ASEAN (ASEAN Free Trade Area)
ASEAN Hiệp hội các nước Đông Nam Á
CBCC Cán bộ công chức
CNTT Công nghệ thông tin
ĐTNT Đối tượng nộp thuế
GTGT Giá trị gia tăng
KCN Khu công nghiệp
KSNB Kiểm soát nội bộ
KTSTQ Kiểm tra sau thông quan
VNACCS Hệ thống thông quan điện tử (Vietnam Automated Cargo And
Port Consolidated System) VCIS Hệ thống thông tin tình báo (Vietnam Customs Intelligence
Information System) SXXK Sản xuất xuất khẩu
XNK Xuất nhập khẩu
WCO Tổ chức Hải quan thế giới
WTO Tổ chức Thương mại thế giới (World Trade Organization)
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Các cách tiếp cận tuân thủ thuế 20
Bảng 2.2:Bảng thống kê số tờ khai phát sinh tại Chi cục Hải quan Nhơn Trạch 41
Bảng 2.3: Bảng thống kê kim ngạch XNK thuộc địa bàn quản lý của Chi cục Hải quan Nhơn Trạch 42
Bảng 2.4:Bảng thống kê số thu nộp NSNN của Chi cục Hải quan Nhơn Trạch 43
Bảng 2.6: Bảng đánh giá về hệ thống chính sách thuế 52
Bảng 2.7: Bảng đánh giá yếu tố về năng lực cơ quan quản lý thu thuế 53
Bảng 2.8: Bảng đánh giá yếu tố về quy mô hoạt động của doanh nghiệp 55
Bảng 2.9: Bảng đánh giá yếu tố về đặc điểm ngành nghề kinh doanh 57
Bảng 2.10: Bảng đánh giá yếu tố về điều kiện môi trường kinh doanh 58
Bảng 2.11: Bảng đánh giá về yếu tố tâm lý, xã hội 61
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Biểu đồ tổng số tờ khai phát sinh tại Chi cục Hải quan Nhơn Trạch (2010-2016) 41 Biểu đồ 2.2: Kim ngạch XNK từ 2010-2016 tại Chi cục Hải quan Nhơn Trạch 42
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1: Các yếu tố ảnh hưởng đến không tuân thủ và làm thất thoát nguồn thu 22 Hình 1.2: Các yếu tố ảnh hưởng đến ứng xử của NNT 30 Hình 2.1: Toà nhà làm việc của Chi cục Hải quan Nhơn Trạch 38
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ thu nộp thuế vào kho bạc Nhà nước 12
Sơ đồ 2.1: Bộ máy tổ chức Chi cục hải quan Nhơn Trạch 38
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ tổng hợp cơ sở đề xuất 67
Trang 10MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC HÌNH ẢNH
DANH MỤC SƠ ĐỒ
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do thực hiện đề tài: 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 2
4 Phương pháp nghiên cứu: 2
5 Đóng góp mới của đề tài: 3
6 Kết cấu của luận văn : 3
CHƯƠNG 1: VỀ TUÂN THỦ THUẾ 4
1.1 Lý luận chung về thuế xuất nhập khẩu 4
1.1.1 Thuế xuất nhập khẩu 4
1.1.1.1 Khái niệm thuế xuất nhập khẩu 4
1.1.1.2 Đặc điểm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 4
1.1.1.3 Vai trò của thuế xuất nhập khẩu 5
7
7
u 7
1.1.2.3 Nội dung cơ bản của công tác quản lý thu thuế 9
1.1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu thuế xuất nhập khẩu 13
1.2 Lý thuyết về tuân thủ thuế 17
Trang 111.2.1 Khái niệm về tuân thủ thuế 17
1.2.2 Hành vi không tuân thủ thuế 20
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tính tuân thủ thuế xuất nhập khẩu 22
1.2.3.1 Yếu tố từ chính sách quản lý thuế: 22
1.2.3.2 Yếu tố xuất phát từ năng lực quản lý của cơ quan thuế: 23
1.2.3.3 Yếu tố là quy mô hoạt động của doanh nghiệp: 24
1.2.3.4 Yếu tố về đặc điểm ngành nghề kinh doanh: 26
1.2.3.5 Yếu tố về môi trường kinh doanh: 26
1.2.3.6 Yếu tố thuộc về tâm ý, xã hội: 27
1.3 Các nghiên cứu nâng cao tính tuân thủ thuế xuất nhập khẩu trên thế giới và Việt Nam 28
1.3.1 Một số nghiên cứu nâng cao tính tuân thủ thuế xuất nhập khẩu trên thế giới 28
1.3.2 Một số nghiên cứu nâng cao tính tuân thủ thuế xuất nhập khẩu tại Việt Nam 30
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 32
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÍNH TUÂN THỦ CỦA ĐỐI TƯỢNG NỘP THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CHI CỤC HẢI QUAN NHƠN TRẠCH 33
2.1 Giới thiệu Chi cục Hải quan Nhơn Trạch 33
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của địa bàn 33
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển 35
2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn 37
2.1.4Tổ chức bộ máy quản lý tại Chi cục hải quan Nhơn Trạch 38
2.1.5 Kết quả về các mặt hoạt động của Chi cục 40
2.1.6 Thuận lợi, khó khăn và phương hướng phát triển 46
2.1.6.1 Thuận lợi: 46
2.1.6.2 Khó khăn: 47
2.1.6.3 Phương hướng phát triển: 49
2.2 Thực trạng tính tuân thủ của đối tượng nộp thuế xuất nhập khẩu tại Chi cục Hải quan Nhơn Trạch 50
2.2.1 Giới thiệu quá trình khảo sát 50
Trang 122.2.2 Thực trạng về tính tuân thủ thuế của đối tượng nộp thuế XNK tại Chi cục
Hải quan Nhơn Trạch 51
2.2.3 Đánh giá các yếu tố tác động tính tuân thủ thuế của đối tượng nộp thuế xuất nhập tại Chi cục Hải quan Nhơn Trạch 52
2.2.3.1 Đánh giá yếu tố về hệ thống chính sách thuế 52
2.2.3.2 Đánh giá yếu tố về năng lực cơ quan quản lý thu thuế 53
2.2.3.3 Đánh giá yếu tố về quy mô hoạt động của doanh nghiệp 55
2.2.3.4 Đánh giá yếu tố về đặc điểm ngành nghề kinh doanh 57
2.2.3.5 Đánh giá yếu tố về điều kiện môi trường kinh doanh 58
2.3.2.6 Đánh giá về yếu tố tâm lý, xã hội 61
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 63
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO TÍNH TUÂN THỦ CỦA ĐỐI TƯỢNG NỘP THUẾ XUẤT NHẬP TẠI CHI CỤC HẢI QUAN NHƠN TRẠCH 64
3.1 Những cơ sở đề xuất giải pháp nâng cao tính tuân thủ của đối tượng nộp thuế xuất nhập khẩu 64
3.1.1 Những giải pháp phù hợp định hướng của ngành Hải quan 64
3.1.2 Giải pháp phải dựa trên cơ sở phân tích thực trạng tuân thủ thuế tại Chi cục Hải quan Nhơn Trạch 66
3.2 Một số giải pháp và kiến nghị nâng cao tính tuân thủ thuế của đối tượng nộp thuế xuất nhập khẩu tại Chi cục Hải quan Nhơn Trạch 66
3.2.1 Giải pháp và kiến nghị đối với yếu tố hệ thống chính sách, pháp luật về thuế xuất nhập khẩu 67
3.2.1.1 Chính sách về mặt hàng 67
3.2.1.2 Chính sách về áp mã số thuế, thuế suất 68
3.2.1.3 Chính sách về trị giá 69
3.2.1.4 Chính sách về xử lý vi phạm hành chính 70
3.2.2 Đối với yếu tố điều kiện môi trường kinh tế 71
3.2.3 Đối với yếu tố công tác quản lý thuế của cơ quan Hải quan 74
3.2.4 Đối với yếu tố quy mô hoạt động của Doanh nghiệp 75
3.2.5 Đối với yếu tố đặc điểm ngành nghề kinh doanh: 76
3.3 Một số giải pháp và kiến nghị khác: 78
Trang 133.3.1 Xây dựng văn hóa tự giác tuân thủ thuế một cách hiệu quả 78
3.3.2 Một số kiến nghị khác 79
3.3.2.1 Kiến nghị Chính phủ 79
3.3.2.2 Kiến nghị Bộ Tài chính 79
3.3.2.3 Kiến nghị Tổng cục Hải quan 80
3.3.2.4 Kiến nghị Cục Hải quan Đồng Nai 81
3.4 Hạn chế của đề tại và hướng nghiên cứu tiếp theo: 81
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 82
KẾT LUẬN 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84 PHỤ LỤC
Trang 15PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do thực hiện đề tài:
Thuế xuất nhập khẩu là một trong những nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước, đồng thời là công cụ điều tiết nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới Tại Việt Nam, nguồn thu từ thuế luôn giữ một tỷ lệ khá lớn Thuế trở thành công cụ hiệu quả để điều tiết hoạt động kinh tế nội thương và ngoại thương tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển Đối với hoạt động kinh tế ngoại thương, một trong những sắc thuế quan trọng thường được nhắc đến là thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Từ tháng 4/2014, Chi cục Hải quan Nhơn Trạch đã triển khai thí điểm hệ thống VNACCS/VCIS Việc triển khai, áp dụng hệ thống thông quan hàng hóa tự động VNACCS/VCIS trong thủ tục hải quan điện tử về cơ bản đã tạo được thuận lợi hơn cho người khai HQ trong quá trình khai báo XK, NK hàng hóa Tuy nhiên, với phương thức khai báo mới sẽ không thể tránh được những thiếu sót xảy ra trong công tác quản lý hàng hóa XNK và nếu không có những quy định rõ ràng, chế tài
xử phạt không nghiêm có thể sẽ bị doanh nghiệp lợi dụng để thực hiện các hành vi buôn lậu, gian lận thuế, gây thất thu thuế cho NN
Tình trạng buôn lậu và gian lận thương mại để trốn thuế liên quan đến hàng hóa xuất nhập khẩu còn tồn tại dưới nhiều nhiều hình thức và thủ đoạn tinh vi như: gian lận trong việc áp mã số thuế để xác định thuế suất hàng hóa nhập khẩu thấp hơn so với quy định, gian lận trong việc khai báo trị giá tính thuế nhập khẩu thấp hơn giá thực mua bán, làm giả giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) của hàng nhập khẩu
để hưởng chính sách thuế ưu đãi đặc biệt, khai giảm số lượng hàng hóa thực tế nhập khẩu, làm giả hóa đơn, chứng từ, giả chữ kí của công chức và con dấu của cơ quan Hải quan để đưa hàng hóa gian lận ra khỏi khu vực giám sát của cơ quan hải quan, giả chứng từ bảo lãnh của ngân hàng, lợi dụng chính sách miễn thuế đối với một số loại hình hàng hóa nhập khẩu để gia công hàng xuất khẩu nhưng sau đó không xuất khẩu hoặc xuất khẩu khống để không phải nộp thuế và bán hàng hóa nhập khẩu vào thị trường nội địa,…
Trang 16Việc đánh giá sự tuân thủ thuế và đưa ra giải pháp làm thế nào để hạn chế thất thoát nguồn thu thuế, nâng cao mức độ tuân thủ thuế vừa đảm bảo số thu NSNN, tạo nguồn lực tài chính để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vừa tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, minh bạch, tạo thuận lợi cho thu hút đầu tư nước ngoài, thúc đẩy thương mại quốc tế là là yêu cầu cần thiết của cơ quan Hải quan các cấp
Nhơn Trạch” để nghiên
cứu trong bài luận văn thạc sĩ của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
- Hệ thống hóa các cơ sở lý luận về thuế xuất nhập khẩu và tính tuân thủ thuế xuất nhập khẩu
-
Chi cục Hải quan Nhơn Trạch
- Đ
u tại Chi cục Hải quan Nhơn Trạch
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung vào nghiên cứu tính tuân thủ của đối
tượng nộp thuế xuất nhập khẩu tại Chi cục Hải quan Nhơn Trạch
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian nghiên cứu: tại Chi cục Hải quan Nhơn Trạch
+ Thời gian nghiên cứu: giai đoạn năm 2015-2016
4 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu của luận văn là phương pháp định tính, cụ thể là:
- Sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp những tài liệu để hệ thống hóa
lý luận về thuế xuất nhập khẩu và tính tuân thủ thuế xuất nhập khẩu
- Sử dụng phương pháp thu thập số liệu tại đơn vị, phỏng vấn và khảo sát để đánh giá thực trạng và xem xét các hành vi ảnh hưởng đến tính tuân thủ của đối tượng nộp thuế XNK tại Chi cục Hải quan Nhơn Trạch
Trang 17- Sử dụng phương pháp so sánh, suy luận để đưa ra những giải pháp nâng cao tính tuân thủ của các đối tượng nộp thuế xuất nhập khẩu tại Chi cục Hải quan Nhơn Trạch
5 Đóng góp mới của đề tài:
- Cập nhật, phân tích những văn bản pháp luật mới nhất có liên quan đến thuế xuất nhập khẩu và công tác quản lý thuế xuất nhập khẩu
- Phân tích thực trạng tính tuân thủ của đối tượng nộp thuế xuất nhập khẩu tại Chi cục Hải quan Nhơn Trạch
- Đưa ra các giải pháp, kiến nghị nâng cao tính tuân thủ của đối tượng nộp thuế xuất nhập khẩu tại Chi cục Hải quan Nhơn Trạch nhằm vừa bảo đảm sự giám sát và quản lý nhà nước đối với hoạt động XNK, vừa đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu tại Nhơn Trạch
6 Kết cấu của luận văn :
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn được kết cấu thành 03 chương như sau:
Chương 1: lý thuyết về tuân thủ thuế
Chương 2: Thực trạng tính tuân thủ của đối tượng nộp thuế xuất nhập khẩu
tại Chi cục Hải quan Nhơn Trạch
Chương 3: iải pháp nâng cao tính tuân thủ của đối tượng nộp thuế
xuất nhập khẩu tại Chi cục Hải quan Nhơn Trạch
Trang 18CHƯƠNG 1:
TUÂN THỦ THUẾ
1.1 Lý luận chung về thuế xuất nhập khẩu
1.1.1 Thuế xuất nhập khẩu
1.1.1.1 Khái niệm thuế xuất nhập khẩu
Theo từ điển Luật học: “Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một loại thuế gián thu đánh vào các loại hàng hóa hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu biên giới”
Theo từ điển Kinh tế học (Anh - Việt): “Thuế nhập khẩu (Impoprt duty) là
khoản thuế mà Chính phủ đánh vào sản phẩm nhập khẩu Thuế nhập khẩu (TNK) được sử dụng để tăng nguồn thu cho Chính phủ và bảo vệ các ngành sản xuất trong nước khỏi sự cạnh tranh của nước ngoài”
Thuế xuất khẩu (Expoprt duty) là loại thế đánh vào những mặt hàng mà Nhà
nước muốn hạn chế xuất khẩu Nhằm bình ổn giá một số mặt hàng trong nước, hoặc
có thể nhằm bảo vệ nguồn cung trong nước của một số mặt hàng, hoặc có thể nhằm hạn chế xuất khẩu để giảm xung đột thương mại với nước khác, hoặc có thể nhằm nâng giá mặt hàng nào đó trên thị trường quốc tế (đối với nước chiếm tỷ trọng chi phối trong sản xuất mặt hàng đó) việc hạn chế xuất khẩu có thể được Nhà nước cân nhắc
Theo Giáo trình thuế 1 [1]1 : Thuế xuất khẩu (TXK), thuế nhập khẩu (TNK) là loại thuế thu vào hàng hóa được phép giao thương qua biên giới các quốc gia, nhóm các quốc gia, hình thành và gắn liền với hoạt động thương mại quốc tế
Từ các khái niệm trên ta có thể hiểu khái niệm chung về thuế XK, thuế NK như sau: Thuế XK, thuế NK là một phần thu nhập được tạo ra từ các hoạt động XK, NK hàng hoá mà các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ phải đóng góp cho Nhà nước theo quy định của Pháp luật thuế XK, thuế NK nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước
1.1.1.2 Đặc điểm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (Giáo trình thuế 1 [1]2)
1
Trang 19Từ khái niệm về thuế XK, thuế NK cho thấy, thuế XK, thuế NK có những đặc điểm sau:
- Thuế XK, thuế NK là một loại thuế gián thu Do đó, tác động đến giá cả hàng hóa XK, NK Thật vậy, tác động trực tiếp đến giá cả hàng hóa NK của thuế
NK ngoài việc thực hiện mục tiêu bảo hộ của Nhà nước, hay tạo khoản thu cho NSNN, còn tạo nên tác động dây chuyền đến giá cả hàng hóa sản xuất hay dịch vụ trong nước có sử dụng đến hàng NK (như linh kiện lắp ráp, nguyên vật liệu, nhiên liệu…) Tác động này có khả năng gây ảnh hưởng tiêu cực đến giá cả hàng hóa hay dịch vụ trong nước, làm nền kinh tế mất bình ổn Do đó, việc sử dụng thuế XK, thuế
NK của Nhà nước cần linh hoạt về thuế suất và kết hợp với các loại thuế nội địa, các công cụ kinh tế khác, để thực hiện mục tiêu bình ổn và tăng trưởng kinh tế
- Chính sách thương mại của một quốc gia, nhóm quốc gia sẽ ảnh hưởng nhất định đến khoản thu thuế XK, thuế NK qua việc thực hiện các cam kết cắt giảm thuế
NK hay đối xử ưu đãi về thuế NK Ngược lại, thuế XK, thuế NK cũng gây những tác động đáng kể đến hoạt động thương mại quốc tế và tình hình tăng trưởng kinh tế của một quốc gia
- Nhằm quản lý tập trung thuế XK, thuế NK được tổ chức thu một lần ở khâu
XK hay NK, áp dụng cho hàng hóa XNK mậu dịch và phi mậu dịch Việc áp dụng thuế cho hàng hóa phi mậu dịch chủ yếu nhằm mục tiêu ngăn chặn các hành vi lợi dụng luật thuế
1.1.1.3 Vai trò của thuế xuất nhập khẩu (Giáo trình thuế 1 [1])
Thứ nhất, thiết lập hàng rào thuế quan nhằm bảo hộ hàng hóa nội địa:
Thuế NK là “hàng rào thuế quan” nhằm bảo hộ sản xuất trong nước trước sự cạnh tranh của các hàng hoá NK Bảo hộ lợi thế cạnh tranh của hàng hóa nội địa chính là đặc điểm nổi bật của thuế NK Khi đánh thuế NK vào hàng hóa NK sẽ làm tăng giá bán của hàng hóa này tại thị trường trong nước của nước NK, lúc này thuế
NK sẽ bảo vệ các nhà sản xuất trong nước trước sự cạnh tranh về giá của hàng hóa nhập khẩu
2
Trang 20Chính phủ đánh thuế NK cao hay thấp vào từng sản phẩm tùy thuộc mức độ bảo hộ sản phẩm đó (và còn tùy thuộc vào cam kết quốc tế) Sự bảo hộ của NN đối với sản phẩm trong nước bằng thuế NK chỉ là sự bảo hộ giúp nhà sản xuất trong nước cạnh tranh về giá chứ không tăng sức cạnh tranh chất lượng hàng hóa Để tăng sức mạnh về chất lượng, cơ sở kinh doanh phải có các giải pháp để cải thiện chất lượng hàng hóa và chất lượng dịch vị hậu mãi để có được sức cạnh tranh lâu dài, bền vững, tránh lệ thuộc quá nhiều vào bảo hộ mậu dịch
Quá trình hội nhập là quá trình cắt giảm thuế NK Mặc dù, Nhà nước chủ động trong việc xây dựng lộ trình giảm thuế Tuy nhiên, rõ ràng việc giảm thuế sẽ ảnh hưởng đến số thu thuế cho NSNN và thu hẹp vai trò bảo hộ của thuế NK, từ đó tạo sức ép về cạnh tranh đối với kinh tế trong nước Giải pháp thay thế được thực hiện:
áp dụng thuế GTGT, thuế TTĐB đối với hàng NK (trong đó thuế GTGT và thuế TTĐB còn tính trùng lên thuế NK); ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp để khuyến khích đầu tư; áp dụng các công cụ phi thuế quan khác
Như vậy có thể nhận thấy mục tiêu bảo hộ bằng thuế NK không thể là giải pháp chiến lược hiệu quả lâu dài, đặc biệt trong quá trình hội nhập nền kinh tế khu
vực và toàn cầu hiện nay
thương mại, điều tiết cung cầu hàng hóa:
Bên cạnh việc bảo hộ hàng hóa nội địa trước sự cạnh tranh của hàng hóa ngoại nhập, thuế NK với mức thuế suất được điều chỉnh linh hoạt góp phần điều tiết hàng
NK theo hướng ngăn cản hoàn toàn, ngăn cản vừa phải hoặc không ngăn cản tùy theo từng mặt hàng, xuất xứ hàng hóa và mối quan hệ thương mại song phương hay
đa phương
Điều tiết được lượng hàng xuất nhập khẩu hay nói cách khác là kiểm soát được cán cân xuất nhập khẩu của quốc gia Điều này, giúp cho quốc gia cân bằng cán cân thương mại và tiết kiệm lượng ngoại tệ chi ra trong nhập khẩu, tăng lượng ngoại tệ thu được từ xuất khẩu từ đó gia tăng ngoại tệ dự trữ của quốc gia nhất là các quốc gia kém phát triển
Trang 21Ngoài ra việc điều tiết lượng hàng hóa xuất nhập khẩu còn góp phần điều tiết quan hệ cung, cầu hàng hóa trên thị trường trong nước Từ đó thiết lập quan hệ cân
đối giữa cung, cầu hàng hóa, góp phần bình ổn giá cả thị trường
Thứ ba, tạo khoản thu cho NSNN:
Như các loại thuế khác, thuế XK, thuế NK góp phần tạo khoản thu đáng kể cho NSNN thông qua việc thu thuế vào hàng hóa XK, NK của quốc gia
Số thu thuế từ thuế XK, thuế NK chịu tác động trực tiếp bởi kim ngạch XNK Trong trường hợp này, số thu thuế chịu sự tác động của sự tăng trưởng nền kinh tế nói chung Điều này cho thấy, cần chủ trương xây dựng chính sách thuế XK, thuế
NK hướng vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế, hơn thiên về mục tiêu tìm kiếm thu nhập cho NSNN
1.1.2
1.1.2.1
Quản lý thuế là một dạng của quản lý xã hội kể từ khi có nhà nước và gắn với quyền lực nhà nước Quản lý thuế trước hết và quan trọng nhất thuộc trách nhiệm của nhà nước cho nên người ta thường quan niệm quản lý thuế là quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế
Xét theo nghĩa rộng, quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có thể được hiểu là quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là việc nhà nước tác động có tổ chức và bằng pháp quyền đối với các quá trình kinh tế xã hội và hành vi của con người nhằm thực hiện các mục tiêu chung thông qua công cụ thuế quan Còn xét trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, khái niệm quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được hiểu theo nghĩa hẹp là việc cơ quan Hải quan sử dụng quyền lực nhà nước để tổ chức thực hiện các quy định về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với hàng hoá xuất nhập khẩu
1.1.2.2
Đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước:
Quản lý nhà nước đối với thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nhằm đảm bảo nguồn thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được đầy đủ, chính xác, kịp thời,
Trang 22thường xuyên, ổn định cho Ngân sách nhà nước Nguồn thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn thu ngân sách quốc gia Đảm bảo nguồn thu từ thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là vai trò quan trọng hàng đầu của công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này
Kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu:
Thông qua việc quản lý thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cơ quan nhà nước sẽ quản lý được số lượng, loại hình hàng hóa thực xuất khẩu, nhập khẩu, từ
đó kiểm soát được tất cả hàng hóa xuất khẩu ra khỏi Việt Nam và hàng hóa nhập khẩu vào thị trường Việt Nam Đây là cơ sở quan trọng để Nhà nước đưa ra chính sách pháp luật phù hợp đối với hoạt động xuất nhập khẩu, cho phép xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa nào, cấm xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa nào
Bảo hộ sản xuất trong nước:
Thông qua các chính sách đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, Nhà nước tác động vào giá cả hàng hóa nhập khẩu trên thị trường nội địa, làm giảm khả năng cạnh tranh đối với hàng hóa được sản xuất trong nước Và để thay thế, người tiêu dùng sẽ chuyển sang sử dụng hàng hoá trong nước sản xuất Bảo hộ sản xuất trong nước nhằm hỗ trợ nền sản xuất phát triển, tạo công ăn việc làm và nguồn thu nội địa Bảo hộ cũng làm giảm tính cạnh tranh, lãng phí nguồn lực gây thiệt hại cho người tiêu dùng Chính vì vậy việc lựa chọn ngành nghề bảo hộ, thời gian bảo hộ phù hợp là điều vô cùng quan trọng
Hạn chế tối đa hành vi vi phạm pháp luật về thuế:
Quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có vai trò trong việc hạn chế tối đa các hành vi trốn thuế, gian lận thuế, các hành vi vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, hành vi buôn lậu Đồng thời quản lý nhà nước cũng làm tăng cường sự tuân thủ pháp luật thuế, bởi tính tuân thủ cao cũng là một trong những biểu hiện của hệ thống thuế phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế, xã hội
Khẳng định chủ quyền và bảo vệ an ninh quốc gia, chống phân biệt đối
xử trong thương mại quốc tế:
Trang 23Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập mối quan hệ thương mại với rất nhiều nước và vùng lãnh thổ, tham gia nhiều hiệp định thương mại, là thành viên của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO), Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Để xác định mức độ chịu thuế của các hàng hóa khác nhau, mỗi nước đều xây dựng một biểu thuế quan Biểu thuế quan là một bảng tổng hợp quy định một cách có hệ thống các mức thuế quan đánh vào các loại hàng hóa chịu thuế khi xuất khẩu hoặc nhập khẩu Biểu thuế quan có thể được xây dựng dựa trên phương pháp tự định hoặc phương pháp thương lượng giữa các quốc gia Vì vậy, quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có vai trò quan trọng trong việc thực hiện chính sách đối ngoại với từng quốc gia
1.1.2.3 Nội dung cơ bản của công tác quản lý thu thuế
Quản lý thuế là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản lý Nhà nước, có vai trò hết sức to lớn đối với mỗi quốc gia, quản lý thuế XNK không thể tách rời quản lý thuế nói riêng và quản lý Nhà nước nói chung Vì vậy việc không ngừng hoàn thiện công tác quản lý thuế xuất nhập khẩu là tất yếu khách quan đối với mỗi quốc gia Để làm được điều đó công tác quản lý thuế nhằm đạt được các mục tiêu cơ bản sau:
Một là, tập trung huy động đầy đủ, kịp thời số thuế xuất nhập khẩu cho Ngân
sách Nhà nước
Ở Việt Nam hiện nay, số thu bằng thuế XNK hàng năm chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số thu thuế cũng như tổng số thu của ngân sách nhà nước Vì vậy làm tốt công tác quản lý thuế XNK sẽ có tác dụng lớn trong việc tập trung, huy động đầy
đủ, kịp thời số thu cho ngân sách Nhà nước
Mặt khác, chính sách về thuế XNK có tác động lớn đến thu nhập của các tồ chức kinh tế và cá nhân, qua đó tác động đến quá trình phát triển kinh tế - cơ sớ tạo
ra nguồn thu thuế XNK trong tương lai Để tăng cường và ổn định số thu của ngân sách nhà nước, trong công tác quản lý thuế XNK cũng cần phải chú ý duy trì và phát triển các cơ sở tạo nguồn thu
Hai là, phát huy tốt nhất vai trò của thuế trong nền kinh tế, đặc biệt là trong
hoạt động ngoại thương
Trang 24Vai trò của thuế XNK là rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Nhưng vai trò đó không mang tính khách quan, mà nó là kết quả của những tác động từ phía con người Những tác động đó thực hiện thông qua những nội dung, những công việc cụ thể của công tác quản lý thuế XNK Các công việc cụ thể là:
- Hướng dẫn doanh nghiệp để thực hiện đúng các văn bản chính sách mới (Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu, Luật Hải quan, Luật quản lý thuế), nâng cao ý thức chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của các doanh nghiệp, triển khai thực hiện chế độ
kế toán mới trong đó đã chủ động xây dựng và áp dụng có kết quả các phần mềm tin học, vì vậy chất lượng công tác kế toán thuế XNK được nâng cao một bước, hạn chế được nhiều sai sót, nhầm lẫn trong việc theo dõi nợ đọng và cưỡng chế thuế
Ba là, tăng cường ý thức chấp hành pháp luật cho các tổ chức kinh tế và cá
nhân trong kinh doanh xuất nhập khẩu
Trong cơ chế kinh tế thị trường, Nhà nước thông qua công cụ luật pháp để thực hiện sự tác động vào nền kinh tế ở tầm vĩ mô Ý thức chấp hành luật pháp của các tổ chức kinh tế và dân cư sẽ có ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện những tác động của Nhà nước đến nền kinh tế Qua công tác tổ chức thực hiện và kiểm tra, thanh tra việc chấp hành luật thuế XNK cùng với việc tăng cường tính pháp chế của Luật thuế XNK, ý thức chấp hành của các luật thuế được nâng cao, từ đó tạo thói quen chấp hành pháp luật trong mọi tầng lớp dân cư
Để đạt được những mục tiêu trên thì công tác quản lý thuế xuất nhập khẩu xoay quan những nội dung chính như sau:
Quản lý đối tượng nộp thuế
Các doanh nghiệp khi đăng kí kinh doanh thì cơ quan thuế phải tiến hành đăng
kí đối tượng nộp thuế, trên cơ sở đó sẽ quản lý và thu thuế đối với đối tượng này Đối tượng nộp thuế ở đây là các tổ chức cá nhân có hàng hóa nhập khẩu thuộc diện chịu thuế nhập khẩu, các cá nhân có hàng hóa khi nhập cảnh, các tổ chức nhận
uỷ thác, các DN cung cấp dịch vụ bưu chính viễn thông, dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế, các tổ chức nhận bảo lãnh cho đối tượng nộp thuế
Hiện nay cơ quan thuế, cơ quan Hải quan quản lý đối tượng nộp thuế thông qua hệ thống mã số thuế gắn kèm với từng doanh nghiệp được thống nhất trong cả
Trang 25nước Thường các doanh nghiệp khi mới thành lập, hay mở tờ khai hải quan trước
sự cho phép của pháp luật phải đăng kí một mã số thuế cho cơ quan thuế hay cơ quan Hải quan Trên cơ sở đó các cơ quan này tiến hành hoạt động quả lý thuế của mình (kiểm tra, giám sát, hướng dẫn, thu thuế, )
Quy trình quản lý thu thuế
Quy trình quản lý thu thuế là chuỗi các hoạt động được quy định trong luật quản lý thuế nhằm tập hợp đầy đủ kịp thời số thuế phải nộp vào ngân sách nhà nước Quy trình nộp thuế có thể chia làm 2 cơ chế cơ bản như sau:
+ Cơ quan thuế, cơ quan Hải quan tính thuế và ra thông báo số thuế phải nộp Đây là 1 quy trình nộp thuế truyền thống Định kì theo thời gian hoặc theo chuyến hàng, trên cơ sở những quy định trong luật thuế và các hoạt động sản xuất kinh doanh, các đối tượng nộp thuế phải kê khai thuế và nộp tờ khai thuế cho cơ quan thuế, cơ quan Hải quan
+ Đối tượng nộp thuế phải tự kê khai, tự tính thuế và nộp thuế: Cơ chế này hoạt động khá hiệu quả nếu có sự giám sát và hướng dẫn một cách hiệu quả Số thuế phải nộp căn cứ vào thông báo nộp thuế của cơ quan Hải quan Cơ quan Hải quan
có trách nhiệm kiểm tra sự chính xác trong kê khai và tính thuế của đối tượng nộp thuế, trên cơ sở đó phát hành thông báo thuế
Tính thuế
Phương pháp tính thuế tuỳ thuộc vào từng loại thuế (thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế TTĐB, thuế GTGT), tính chất hoạt động sản xuất kinh doanh (ví dụ như ngành sản xuất ô tô, có 2 loại nhập khẩu: nhập linh kiện phụ tùng lắp ráp, nhập nguyên chiếc) có các phương pháp tính thuế sau:
+ Phương pháp đánh giá hành chính: Số thuế được tính theo những căn cứ khách quan, rõ ràng, không cần phải điều tra hoặc tranh cãi nhiều
+ Phương pháp tính theo thuế khoán: trong một thời gian cụ thể, dựa trên những cơ sở khách quan do người sản xuất kinh doanh cung cấp và trên các biện pháp thanh tra của cán bộ thuế, cơ quan thuế sẽ ra quyết định thuế về một mức doanh thu cố định
Trang 26+ Phương pháp tính thuế theo kê khai thực tế: dựa trên tờ khai với các số liệu thực tế về tình hình sản xuất kinh doanh mà có phương pháp tính thuế phù hợp Đối với thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu việc tính thuế dựa trên phương pháp khai thực tế, và số thu thuế phải nộp căn cứ vào mức thuế suất quy định trong biểu thuế suất
Tổ chức thu nộp thuế
Thuế xuất nhập khẩu được nộp trực tiếp vào kho bạc nhà nước dưới hình thức chuyển khoản thông qua ngân hàng thương mại, séc hoặc tiền mặt
Sơ đồ 1.1- Sơ đồ thu nộp thuế vào Kho bạc Nhà nước
(1) Người nộp thuế tự khai, tự tính, tự nộp thuế sau đó gửi hồ sơ khai thuế cho cơ quan hải quan
(2) Kho bạc Nhà nước thông báo số thuế đã nộp của từng người nộp thuế cho cơ quan Hải quan
(3) Cơ quan Hải quan kiểm tra và thông báo cho người nộp thuế trong các trường hợp kê khai, tính toán không chính xác hoặc không thực hiện đầy đủ kịp thời nghĩa
vụ nộp thuế theo quy định
Thanh tra, xử phạt vi phạm pháp luật về thuế
Đây là một nội dung không thể thiếu trong công tác quản lý thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Bởi vì chỉ có qua thanh tra, kiểm tra mới giúp phát hiện và ngăn chặn kịp thời những hành vi vi phạm chính sách thuế XNK; cũng chỉ qua thanh tra, kiểm tra mới phát hiện ra những sơ hở, bất cập trong chính sách dễ tạo điều kiện thuận lợi cho đối tượng nộp thuế lợi dụng để lách thuế, trốn thuế Bên
Cơ quan
Hải quan
Người nộp thuế
(3) (1)
Trang 27cạnh đó, thanh tra thuế đảm bảo nâng cao ý thức chấp hành pháp luật thuế cho các đối tượng nộp thuế
Trên cơ sở xác minh và thu thập chứng cứ để xác định hành vi vi phạm pháp luật về thuế Căn cứ vào kết quả kiểm tra, thanh tra thuế, thủ trưởng cơ quan Hải quan ra quyết định xử lý về thuế, xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền hoặc
đề nghị người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế
1.1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu thuế xuất nhập khẩu
Từ những nội dung trên cho thấy công tác quản lý thuế xuất nhập khẩu chịu tác động của nhiều yếu tố, cả tự nhiên, kinh tế xã hội và con người Tuy nhiên, có thể phân thành hai nhóm nhân tố ảnh hưởng như sau: nhóm nhân tố chủ quan và nhóm nhân tố khách quan
Nhân tố chủ quan
Các nhân tố nội tại này góp phần tạo nên hiệu quả trong thu thuế XNK; tác động trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của mỗi cơ quan Hải quan Về cơ bản thu thuế XNK đều chịu tác động của những nhân tố chủ quan sau:
- Thứ nhất: Năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ hải quan
Việc thực hiện chính sách thuế XNK có hiệu lực, hiệu quả hay không phụ thuộc vào năng lực, trình độ, phẩm chất đội ngũ cán bộ thực thi nhiệm vụ Đội ngũ cán bộ này hoặc sẽ làm tăng hiệu lực quản lý thu thuế xuất nhập khẩu, sẽ hoàn thiện
hệ thống chính sách quản lý thu thuế xuất nhập khẩu nếu họ có trình độ, năng lực và phẩm chất đạo đức trong sáng hoặc sẽ làm trầm trọng thêm những khiếm khuyết, sơ
hở của chính sách thuế xuất nhập khẩu nếu họ thiếu năng lực, phẩm chất đạo đức thái hoá
Trong lĩnh vực nào thì yếu tố con người đóng vai trò cực kì quan trọng Con người quyết định đến sự thành công hay thất bại của các hoạt động Để công tác quản lý thu thuế XNK được diễn ra nhanh gọn, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh hàng hoá XNK thì phải kể đến đóng góp to lớn của đội ngũ cán bộ công chức ngày đêm tận tuỵ với nghề, đồng thời đảm bảo cho hoạt động thu thuế XNK được hoàn thành chỉ tiêu đề ra
Trang 28- Thứ hai: Tổ chức và giám sát thực hiện quy trình, thủ tục hải quan
Cơ quan Hải quan là nơi triển khai các quy trình, thủ tục hải quan cho hàng hoá XNK Để tạo điều kiện thuận lợi cho DN làm thủ tục hải quan thì việc đổi mới
và hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện quy trình thủ tục hải quan ngày càng trở nên quan trọng Theo đó, cơ quan Hải quan cần phải đơn giản hóa thủ tục hành chính và rút ngắn thời gian làm thủ tục và thông quan hàng hoá với chi phí làm thủ tục hải quan thấp nhất, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp trong hoạt động thương mại Hiện nay, ngành Hải quan đã áp dụng hình thức người khai hải quan phải tự khai báo, tính thuế và tự chịu trách nhiệm pháp lý đã góp phần rút ngắn thời gian thông quan hàng hoá quy trình, thủ tục hải quan Tuy nhiên, điều này cũng chứa đựng nhiều rủi ro thất thu thuế XNK nếu đối tượng nộp thuế gian lận thuế XNK Do đó, việc giám sát chặt chẽ và thường xuyên quá trình thu thuế XNK
là nhiệm vụ cần thiết đối với cơ quan Hải quan nói chung và cán bộ thu thuế XNK nói riêng
- Thứ ba: Trang bị phương tiện kỹ thuật, cơ sở vật chất của cơ quan hải quan
Các yếu tố cơ sở vật chất là điều kiện thuận lợi hoặc khó khăn cho công tác thu thuế XNK Cơ sở vật chất gồm: Nhà kho, hệ thống thông tin (bưu điện, điện thoại, viễn thông, máy bộ đàm, hệ thống máy tính), sân ga, bến bãi, phương tiện vận tải hệ thống cơ sở vật chất ảnh hưởng đến mọi hoạt động trong nền kinh tế Trong công tác quản lý thu thuế XNK, các yếu tố cơ sở vật chất đóng vai trò quan trọng, đặc biệt trong công tác kiểm tra các loại hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam Hệ thống máy kiểm tra hàng hoá cung cấp các thông tin về hàng hoá thuận lợi trong việc kiểm tra hàng hoá XNK Bên cạnh đó, hệ thống kho bãi giúp bảo quản hàng hoá thuận lợi trong việc thông quan hàng hoá XNK
Trong điều kiện khoa học công nghệ của Việt Nam chưa phát triển thì công tác quản lý thu thuế XNK còn gặp nhiều khó khăn, các đối tượng buôn bán hàng hoá nhập khẩu vẫn luôn tìm cách vận chuyển những hàng hoá cấm như thuốc phiện, văn hoá phẩm đồi truỵ ảnh hưởng đến nền văn hoá truyền thống của Việt Nam Hệ thống máy tính, máy soi, bộ đàm, camera, là những công cụ giúp phát hiện kịp thời những gian lận trong kinh doanh hàng hoá nhập khẩu
Trang 29Như vậy, cơ sở vật chất là một trong những yếu tố nội tại quan trọng quyết định đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp, đơn vị Các yếu tố thuộc cơ
sở vật chất hạ tầng quyết định đến công việc hàng ngày của đơn vị Nếu điều kiện
cơ sở hạ tầng tốt sẽ giúp công tác thu thuế XNK diễn ra thuận lợi, thúc đẩy hoạt động kinh doanh hàng hoá nhập khẩu cho các doanh nghiệp, góp phần vào phát triển nền kinh tế Ngược lại, điều kiện cơ sở vật chất không tốt thì không những ảnh hưởng đến công tác thu thuế XNK của đơn vị mà còn làm trì trệ hoạt động kinh doanh hàng hoá XNK của các doanh nghiệp, ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế
- Thứ tư: Sự phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan
Thu thuế XNK liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau; cho nên, ngoài việc phối hợp trong nội bộ ngành, việc thu thuế đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng như: Thuế, Kho bạc, Ngân hàng, Tài chính, Công an, các Hiệp hội ngành nghề, v.v Mối liên hệ khăng khít giữa cơ quan hải quan với các cơ quan, tổ chức này tạo nên sự ràng buộc không thể thiếu trong thu thuế XNK Như vậy, nếu các nhân tố chủ quan nêu trên được quan tâm khắc phục thì môi trường thuế XNK sẽ trở nên minh bạch, lành mạnh
Nhân tố khách quan
Đây là những nhân tố được coi là mang tính khách quan ở tầm vĩ mô thuộc về
cơ chế, chính sách của Nhà nước có liên quan tới hoạt động thu thuế XNK của cơ quan Hải quan
- Thứ nhất: Hệ thống chính sách pháp luật của quốc gia
Trong bối cảnh nền kinh tế đang biến đổi không ngừng, tình hình kinh doanh nói chung và kinh doanh hàng hoá XNK nói riêng có nhiều biến động Riêng các điều khoản, điều luật cũng có sự thay đổi theo từng quốc gia Mặc dù có những quy định chung của nó nhưng phải không ngừng cập nhập những thay đổi để phù hợp với tình hình thực tế đang diễn ra hàng ngày Những thay đổi lớn về chính sách, quy định trong lĩnh vực nhập khẩu, đòi hỏi cán bộ làm công tác quản lý thu thuế XNK phải nắm chắc những thay đổi đó, đồng thời thực hiện tốt công tác tuyên truyền cho
Trang 30các doanh nghiệp, kết hợp với các doanh nghiệp để thực hiện đúng và đầy đủ những quy định mới trong việc thu thuế XNK
- Thứ hai: Chính sách bảo hộ sản xuất trong nước
Chính sách bảo hộ là những biện pháp của Chính phủ nhằm bảo vệ các nhà sản xuất trong nước trước sự cạnh tranh với nước ngoài Mục tiêu bảo hộ giữa các quốc gia là rất đa dạng Đối với các nước phát triển thì mục tiêu chính của việc bảo
hộ là nhằm duy trì việc làm cho những nhóm lớn người lao động có kỹ năng tương đối thấp Trong khi đó, đối với các nước có trình độ phát triển trung bình và thấp, gặp khó khăn trong cạnh tranh trên thị trường quốc tế cũng như nội địa mà nguyên nhân sâu xa là thiếu vốn, nhân lực, quản lý không hiệu quả, v.v Chính sách bảo hộ nhằm mục tiêu duy trì và phát triển một số ngành sản xuất quan trọng và có nhiều tiềm năng trở thành ngành cạnh tranh trong tương lai Việc bảo hộ có thể được thực hiện thông qua hàng rào thuế quan (Tariff Barriers) và hàng rào phi thuế quan (Non-Tariff Barriers)
Theo đó, biện pháp hàng rào thuế quan mà Tổ chức thương mại thế giới (WTO) cho phép sử dụng để bảo hộ thị trường trong nước cần phải được cam kết ràng buộc với một mức thuế trần nhất định và có lịch trình cắt giảm Các biện pháp thuế quan thường được áp dụng để bảo hộ sản xuất trong nước là: Thuế nhập khẩu, thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, thuế tự vệ thương mại
Còn hàng rào phi thuế quan là những biện pháp phi thuế quan được áp dụng để hạn chế NK trong những trường hợp cần thiết để đảm bảo an ninh quốc gia, văn hoá truyền thống, môi trường, sức khoẻ con người, v.v Các biện pháp phi thuế quan thường được sử dụng như:
Trang 31- Các biện pháp liên quan đến đầu tư như: tỷ lệ nội địa hoá; hạn chế tiếp cận ngoại tệ; yêu cầu XK, ưu đãi gắn với thành tích XK, v.v
- Các biện pháp khác như: yêu cầu đảm bảo thanh toán; yêu cầu kết hối; thủ tục hành chính; thủ tục Hải quan; mua sắm Chính phủ; quy tắc xuất xứ, v.v…
Hàng rào thuế quan và phi thuế quan là hai công cụ bảo hộ sản xuất quan trọng đối với mọi quốc gia Do mỗi công cụ đều có điểm mạnh, điểm yếu đặc thù nên chúng thường được sử dụng để bổ sung lẫn nhau nhằm bảo hộ sản xuất trong nước Mức độ hiệu quả của bảo hộ có tăng lên nhiều hay không phụ thuộc vào tính linh hoạt, có chọn lọc, có định hướng của Chính phủ các nước trong việc áp dụng các biện pháp phi thuế quan để bổ trợ cho biện pháp thuế quan
- Thứ ba: Các hiệp định, cam kết quốc tế
Trong thời đại nền kinh tế Việt Nam đang hội nhập sau rộng vào nền kinh tế thế giới, gia nhập các tổ chức kinh tế thế giới và khu vực, ký kết nhiều Hiệp định thương mại song phương, đa phương Việc thực hiện các cam kết quốc tế trong lĩnh vực XNK cũng có những thay đổi lớn Bên cạnh mặt tích cực của nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế thì cũng còn có nhiều vấn đề cần xem xét Các đối tượng dựa vào kẻ hở của Luật thuế XNK để trục lợi cho mình Đó là một yêu cầu đặt ra rất lớn cho công tác thu thuế XNK Phải đưa ra được những biện pháp phòng chống gian lận thương mại, buôn lậu qua biên giới, đường hàng không là yêu cầu đặt ra trước mắt và lâu dài để đưa nền kinh tế Việt Nam phát triển, góp phần bình
ổn xã hội
1.2 Lý thuyết về tuân thủ thuế
1.2.1 Khái niệm về tuân thủ thuế
Tuân thủ thuế là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu cũng như chính các cơ quan quản lý nhà nước về thuế quan tâm Quan điểm trước đây cho rằng hầu hết người nộp thuế không tự nguyện tuân thủ thuế, họ chỉ chấp hành khi có sự cưỡng chế, bắt buộc của cơ quan thuế
Liên quan đến tuân thủ thuế, các nhà nghiên cứu còn quan tâm cụ thể đến việc người nộp thuế là tuân thủ tự nguyện hay tuân thủ không tự nguyện Mục tiêu của
Trang 32cơ quan thuế là gia tăng sự tự nguyện tuân thủ thuế của người nộp thuế, thay vì phải cưỡng chế, ép buộc, đưa ra các hình thức xử phạt để bắt buộc người nộp thuế
Tuân thủ thuế được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau:
Andreoni Erard và Feinstein, (1998) nhấn mạnh: Tuân thủ thuế nên được định
nghĩa là sự sẵn lòng của người nộp thuế tuân theo pháp luật về thuế để đạt được trạng thái cân bằng kinh tế của một đất nước
Trong khi đó Jackson & Milliron (1986), Alm (1991) lại cho rằng: tuân thủ
thuế là báo cáo tất cả thu nhập, thanh toán toàn bộ nghĩa vụ thuế bằng cách thực hiện các điều khoản quy định của luật, pháp lệnh, hoặc phán quyết của toà án
Tiếp cận đơn giản hơn, theo James và Alley, (1999) : Tuân thủ thuế theo cách
hiểu đơn giản nhất là mức độ người nộp thuế chấp hành nghĩa vụ thuế được quy định trong luật thuế
Kirchler, (2007) đưa ra một định nghĩa đơn giản hơn: Tuân thủ thuế là một
thuật ngữ trung lập nhất miêu tả việc người nộp thuế sẵn sàng nộp tiền thuế
Hoặc có thể hiểu quan điểm về tuân thủ thuế theo các khía cạnh sau:
Một là, theo góc độ rộng về tuân thủ thuế, Song và Yarbrough, (1978) cho
rằng do khía cạnh hoạt động đáng chú ý của hệ thống thuế Hoa Kỳ là người nộp thuế tự xác định nghĩa vụ thuế và tự nguyện tuân thủ thuế nên: tuân thủ thuế được định nghĩa là khả năng của người nộp thuế và sự sẵn lòng tuân thủ Luật thuế
Hai là, ở góc độ chi tiết hơn, Singh, (2003) cho rằng: Tuân thủ thuế là hành
động của một người nộp tờ khai thuế, công khai chính xác tất cả các khoản thu nhập chịu thuế và thanh toán tất cả các khoản thuế phải nộp trong thời hạn quy định mà không phải chờ đợi hành động của cơ quan thuế
Trên cơ sở đó, tuân thủ thuế được tách biệt thành 2 quan điểm: tuân thủ quan điểm về quản lý hành chính và tuân thủ theo quan điềm hoàn thành chính xác tờ khai thuế
Theo Chow (2004) và Harris (1989): Tuân thủ theo quan điểm quản lý hành chính bao gồm đăng ký và thông báo với cơ quan thuế tình trạng của người nộp thuế và tuân thủ về thời gian thanh toán theo yêu cầu
Trang 33Theo Sing và Bhupalan, (2001): Tuân thủ theo quan điểm hoàn thành chính xác tờ khai thuế đòi hỏi người nộp thuế phải đạt được một mức độ trung thực nhất định, có kiến thức thuế đầy đủ và khả năng sử dụng kiến thức này để hoàn thành tờ khai thuế và các hồ sơ có liên quan kịp thời, chính xác và đầy đủ
Ba là, một số tác giả khác đã xem xét tuân thủ thuế từ một góc độ khác
Allingham & Sandmo (1972) mô tả tuân thủ thuế là một vấn đề “báo cáo thu nhập thực tế” và cũng tuyên bố rằng hành vi tuân thủ thuế của người nộp thuế bị ảnh hưởng bởi một số tình huống mà trong đó có thể người nộp thuế đưa ra quyết định trong tình trạng không chắc chắn
Mc Barnet (2001) đề nghị tuân thủ thuế nên được nhìn nhận trong 3 cách, cụ thể là:
- Cam kết tuân thủ_sẵn sàng nộp thuế mà không khiếu nại
- Tuân thủ có điều kiện_miễn cưỡng nộp tờ khai và nộp thuế
- Tuân thủ có sáng tạo để giảm thiểu nghĩa vụ thuế bằng cách tận dụng khả năng để xác định lại thu nhập và khấu trừ các khoản phí theo quy định của luật thuế
Spice & Lundstedt (1976) nhận thức mức độ tuân thủ thuế là một hình thức đặc biệt của sự may rủi (trong đó có liên quan đến khả năng phát hiện và xử phạt), đòi hỏi cơ quan thuế phải hiểu được các yếu tố tác động đến quyết định tuân thủ thuế của người nộp thuế
Tóm lại tuân thủ thuế là một khái niệm rộng và có thể được xem xét từ nhiều khía cạnh khác nhau, bao gồm tài chính công, kinh tế học, pháp lý và cũng có thể là tâm lý học và được tóm tắt trong bảng sau:
Theo đề nghị của James và Alley (2004), các cách tiếp cận khác nhau về tuân thủ thuế như sau:
Trang 34Bảng 1.1: Các cách tiếp cận tuân thủ thuế
Tuân thủ thuế Cách tiếp cận kinh tế Cách tiếp cận hành vi
3.Tối đa hóa thu nhập
Mỗi cá nhân không chỉ đơn thuần là một cá thế độc lập
Họ tương tác theo thái độ, tiêu chuẩn và vai trò khác nhau
Thành công dựa trên sự hợp tác
(Nguồn: James và Alley, 2004 )
1.2.2 Hành vi không tuân thủ thuế
Một khảo sát của Richupan (1984a) xem xét về vấn đề trốn thuế ở một số quốc gia đang phát triển cho thấy tình trạng chỉ thu được một nửa hay ít hơn số thuế thu nhập tiềm năng không phải là trường hợp cá biệt Bất kỳ nơi nào có thuế thì nơi ấy
có tình trạng trốn thuế
Trang 35Khó phân biệt rạch ròi giữa hành vi tránh thuế (tax avoidance) hay việc tận dụng những khe hở của pháp luật để hạn chế đến mức tối thiểu việc nộp thuế và hành vi trốn thuế (tax evasion) tức sự vi phạm pháp luật
Theo Boidman, (1983): Định nghĩa 3 hình thức không tuân thủ thuế khác
nhau: (1) không nộp tờ khai thuế thuộc bất kỳ loại nào; (2) không kê khai thu nhập nhận được trên tờ khai thuế và (3) giảm thu nhập chịu thuế bằng cách kê khai không đúng các khoản miễn giảm hay khấu trừ
Theo Kirchker E, và cộng sự, (2001) nghiên cứu theo góc độ tâm lý hành vi:
Tác động của hành vi trốn thuế và tránh thuế đến tâm lý người nộp thuế là hoàn toàn khác nhau Trốn thuế được đánh giá tiêu cực hơn tránh thuế Kiến thức thuế của người nộp thuế càng tốt thì tránh thuế được nhận thức là công bằng hơn và được lựa chọn nhiều hơn để hạn chế nghĩa vụ thuế phải nộp Ngược lại, kiến thức
về thuế càng hẹp thì người nộp thuế có xu hướng lựa chọn hình thức trốn thuế nhiều hơn
Tuy nhiên, bất kì hành vi không tuân thủ nào (trốn thuế hay tránh thuế) đều ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả của công tác quản lý thuế Hầu hết chính phủ và
cơ quan thuế các quốc gia đều mong muốn tăng cường tuân thủ thuế, hạn chế đến mức tối đa các hành vi không tuân thủ Việc không tuân thủ các quy định về thuế sẽ làm thu hẹp diện cơ sở chịu thuế và dẫn đến thất thoát nguồn thu Các nước có mức
độ tuân thủ thấp phải đối mặt với việc thường xuyên thay đổi chế độ thuế để duy trì
số thu từ thuế chiếm một tỷ lệ nhất định so với GDP Các thay đổi thường xuyên và thiếu hệ thống trong các chính sách thuế lại có nguy cơ làm cho hệ thống thuế kém
ổn định và kém bình đẳng hơn Vì vậy, việc nâng cao mức độ tự nguyện tuân thủ đã trở thành một mục tiêu thể chế và vận hành của các cuộc cải cách thuế trên thế giới
Trang 36(Nguồn: OECD3 2004)
Hình 1.1: Các yếu tố ảnh hưởng đến việc không tuân thủ và làm thất
thoát nguồn thu
Tóm lại:
Không tuân thủ thuế được xác định là việc không sẵn lòng tuân theo luật thuế hoặc khai báo thu nhập không chính xác, thực hiện kê khai sai các khoản giảm trừ; miễn giảm thuế hoặc không thanh toán chính xác nghĩa vụ thuế, ngoài thời gian nộp thuế đã được quy định
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tính tuân thủ thuế xuất nhập khẩu
1.2.3.1 Yếu tố từ chính sách quản lý thuế:
Chính sách quản lý thuế là một trong những yếu tố quan trọng trong phân tích
sự tuân thủ thuế nhìn từ giác độ kinh tế và cả giác độ tâm lý xã hội Chính sách quản lý thuế ổn định, có thể dự đoán, rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu và công bằng là những tiền đề đầu tiên để đạt được sự tuân thủ cao Doanh nghiệp chỉ sẵn sàng và chấp nhận tuân thủ khi các sắc thuế rõ ràng, minh bạch và công bằng Doanh nghiệp chỉ có thể tuân thủ khi các sắc thuế đơn giản, dễ hiểu, không chồng chéo, mâu thuẫn
và có thể dự đoán Sự ổn định và dự đoán được được coi là cốt lõi của một hệ thống thuế tốt Các chính sách bao gồm:
- Chính sách mặt hàng, hạn ngạch Đối với những mặt hàng mà Chính phủ muốn khuyến khích tiêu dùng thì Nhà nước luôn có chính sách hỗ trợ để kích thích
3
Trang 37người tiêu dùng bằng cách tạo thuận lợi doanh nghiệp trong quá trình XNK mặt hàng đó và ngược lại nếu Chính phủ muốn hạn chế việc tiêu dùng thì Chính phủ đưa ra các biện pháp thắt chặt
- Xử lý vi phạm nhằm thay đổi hành vi tuân thủ thuế của các doanh nghiệp và phải được xử lý một cách công minh, nhanh chóng để khuyến khích người nộp thuế tuân thủ Nếu hình thức và mức phạt càng cao thì việc gian lận, trốn thuế càng giảm
nó làm cho người nộp thuế nhận biết được giá trị số tiền phạt cao hơn rất nhiều lần
so với số tiền thuế trốn, vì nếu số tiền phạt quá thấp sẽ không đủ sức răn đe nó làm cho người nộp thuế có khuynh hướng tiếp tục hành vi trốn thuế
- Giá tính thuế các mặt hàng XNK càng cao thì số thuế thu được càng nhiều do giá tính thuế tỷ lệ thuận với mức thuế suất Thực tế cho thấy các doanh nghiệp lợi dụng trị giá tính thuế để khai báo làm giảm số thuế phải nộp là rất phổ biến Tình trạng khai giá thấp hơn trị giá thực tế để trốn thuế vì mục đích tối đa hóa lợi nhuận dẫn đến doanh nghiệp sẵn sàng không tuân thủ pháp luật về thuế
- Việc áp mã số thuế và thuế suất cho từng mặt hàng cũng hết sức quan trọng đòi hỏi cơ quan quản lý cũng như người nộp thuế phải có kiến thức chuyên sâu trong lĩnh vực phân loại hàng hóa dựa trên thông lệ quốc tế Thuế suất, qua nhiều nghiên cứu đã đưa ra rằng có một mối quan hệ nghịch giữa mức thuế suất biên và việc tuân thủ thuế Khi thuế suất tăng (gánh nặng thuế cao) dẫn đến việc kê khai giá tính ít hơn đặc biệt là với doanh nghiệp có hoạt động xuất, nhập khẩu lớn, số lượng nhiều doanh thu và lợi nhuận cao Nghiên cứu của Collins & Plumlee (1991) ông đã kết luận rằng ở mức thuế suất cao thì người nộp thuế ít tuân thủ hơn
1.2.3.2 Yếu tố xuất phát từ năng lực quản lý của cơ quan thuế:
Quản lý thu thuế của Nhà nước có tính quyết định đến mức độ tuân thủ thuế của doanh nghiệp Việc tổ chức thực thi Pháp luật thuế của Nhà nước nhằm mục tiêu thu thuế đúng, đủ và công bằng trên cơ sở các quy định của pháp luật, bao gồm:
- Cơ quan thuế phải có trách nhiệm đào tạo một đội ngũ cán bộ thuế có đầy đủ kiến thức, kỹ năng và đạo đức hỗ trợ tạo điều kiện giúp đỡ, hướng dẫn NNT hoàn thành tốt nghĩa vụ của mình đối với NSNN và bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật thuế Khi cơ quan thuế được xã hội thừa nhận hoạt động vì lợi ích của Nhà
Trang 38Nước và cộng đồng, coi NNT là bạn đồng hành thì sự tuân thủ thuế tự nguyện sẽ đạt
ở mức cao
- Công tác tuyên truyền hỗ trợ phải gắn cụ thể với lợi ích thiết thực của NNT, tạo mọi điều kiện để NNT dễ dàng tiếp cận và tuân thủ Pháp luật thuế Tính dễ dàng, phù hợp, dễ tiếp cận làm giảm chí phí tuân thủ thuế của NNT qua đó nâng cao mức độ tuân thủ thuế tự nguyện của NNT
- Áp dụng công nghệ thông tin để hiện đại hóa hệ thống thu thuế nhằm tác động đến sự hài lòng của doanh nghiệp điều đó không những góp phần làm giảm chi phí mà còn giảm bớt các hành vi trốn thuế, tránh thuế của doanh nghiệp
Hiện nay 2 công cụ hữu hiệu mà ngành Hải quan đang áp dụng nhằm tăng cường việc tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp là công tác quản lý rủi ro và kiểm tra sau thông quan Phương pháp quản lý rủi ro dựa trên cơ sở phân tích thông tin để
ra quyết định hình thức, mức độ kiểm tra đối với từng lô hàng cụ thể Theo đó những doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật hải quan nói chung, thuế XNK nói riêng tại thời điểm làm thủ tục Hải quan thì sẽ được miễn kiểm tra thực tế hàng hóa Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp có hành vi vi phạm bị phát hiện trong quá trình làm thủ tục hay từ việc kiểm tra sau thông quan thì doanh nghiệp sẽ được chuyển kiểm tra thực tế hàng hóa để xác định mức độ tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp nhằm phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi trốn thuế và gian lận thuế Tỷ lệ kiểm tra sau thông quan cao dẫn đến việc tuân thủ thuế được cải thiện và có ảnh hưởng trực tiếp đến số thu thuế
1.2.3.3 Yếu tố là quy mô hoạt động của doanh nghiệp:
Đây là yếu tố khá quan trọng tác động đến cấp độ tuân thủ thuế của các doanh nghiệp Doanh nghiệp có thể được phân loại thành 3 nhóm theo tiêu chí về quy mô (quy mô có thể được phân loại theo doanh thu, theo số lao động, theo tài sản, theo tổng giá trị sản xuất) Mỗi nhóm doanh nghiệp theo quy mô có những đặc điểm riêng về hành vi tuân thủ thuế
- Nhóm doanh nghiệp lớn: là nhóm đóng góp chủ yếu vào ngân sách nhà nước, thường sử dụng các phương pháp tinh vi để tối thiểu hoá thuế, thường là tránh thuế hơn trốn thuế
Trang 39- Nhóm doanh nghiệp quy mô trung bình: là nhóm hạn chế trong lưu trữ các sổ sách kế toán và cuối cùng thường thoả hiệp với cán bộ thuế về nghĩa vụ thuế
- Nhóm doanh nghiệp nhỏ đặc biệt là ở khu vực bán lẻ thường không lưu trữ
số liệu, thường không đăng kí thuế một cách tự nguyện, làm rộng thêm khoảng cách giữa đối tượng nộp thuế thực tế và đối tượng nộp thuế tiềm năng, chi phí tuân thủ thuế quá cao trong mối quan hệ với lợi nhuận từ các hoạt động SXKD, phương pháp trốn thuế thường không tinh vi, thường là đối tượng lạm dụng của cơ quan thuế và nhạy cảm với sự vi phạm
Bên cạnh đó thời gian hoạt động của doanh nghiệp cũng tác động đến sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp, các doanh nghiệp mới thành lập hoặc còn non trẻ trong hoạt động kinh doanh thường thiếu kiến thức về luật thuế, nghĩa vụ thuế và quy trình tuân thủ thuế, vì vậy họ là đối tượng chủ yếu của hình thức không tuân thủ không dự tính và cũng không loại trừ các doanh nghiệp kinh doanh theo kiểu chụp giật “Tưng bừng khai trương rồi âm thầm đóng cửa” Còn các doanh nghiệp “có tuổi” thường hiểu rõ về nghĩa vụ thuế và quy trình tuân thủ Vì vậy nếu tinh thần thuế tốt, họ là những người sẵn sàng tuân thủ đầy đủ nghĩa vụ thuế Nhưng khi tinh thần thuế yếu, các doanh nghiệp này thường sử dụng những hình thức tinh vi phức tạp và thường tránh thuế hơn là trốn thuế
Sự không tuân thủ thuế của các doanh nghiệp nhỏ còn phát sinh từ sự thiếu hụt các kiến thức do sự phức tạp của các báo cáo tài chính cũng như quy định của từng
hệ thống thuế riêng biệt Luật thuế có xu hướng thay đổi thường xuyên, phức tạp hơn và khó áp dụng hơn Để tuân thủ thuế đòi hỏi doanh nghiệp phải có kiến thức
về thuế và những biện pháp tuân thủ thuế Tuy nhiên, việc tiếp thu các kiến thức về thuế lại rất tốn kém về thời gian (Ví dụ như tìm hiểu thông tin, lưu giữ các hồ sơ, điền các biểu mẫu, ) và tiền bạc (Ví dụ như tài liệu về thuế, chi phí thuê những chuyên gia, những người hành nghề thuế) và đối với các chủ doanh nghiệp nhỏ chi phí tuân thủ lại rất cao trong bối cảnh thu nhập của họ vẫn còn thấp Kinh nghiệm qua công tác quản lý thuế cho thấy các doanh nghiệp sở hữu tư nhân thì rủi ro tuân thủ cao hơn các doanh nghiệp cổ phần, doanh nhiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp nhà nước
Trang 40Hiện nay, ở Việt Nam một số công ty đa quốc gia đang thực hiện hành vi chuyển giá trốn thuế khiến các doanh nghiệp trong nước dần dần phải bỏ thị trường Chuyển giá là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dịch vụ và tài sản được chuyển dịch giữa các thành viên trong tập đoàn hay nhóm liên kết không theo giá thị trường nhằm tối thiểu hóa số thuế của các tập đoàn hay của nhóm liên kết
Có thể hiểu, chuyển giá là hành vi của chủ thể kinh doanh tác động đến giá cả nhằm thay đổi giá trị trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong quan hệ với các bên trong tập đoàn hay nhóm liên kết Ở góc độ vĩ mô chuyển giá có thể gây thất thu nguồn ngân sách cho nhà nước và nền sản xuất trong nước cũng như vị thế quốc gia trên thị trường thế giới
1.2.3.4 Yếu tố về đặc điểm ngành nghề kinh doanh:
Quy mô các chủ thể tham gia trong ngành là yếu tố tác động khá lớn đến doanh thu và chi phí của các doanh nghiệp Một ngành có sự cạnh tranh ít hơn sẽ làm tăng lợi nhuận tiềm năng của DN và ảnh hưởng tích cực đến sự tuân thủ thuế
Tỷ suất lợi nhuận của ngành tác động trực tiếp đến thu nhập chịu thuế Các doanh nghiệp hoạt động trong ngành “màu mỡ” sẽ có xu hướng tuân thủ cao hơn so với những DN hoạt động trong ngành “xương xẩu”
Chi phí lao động, chi phí vốn và các khoản chi phí khác rẻ tương đối là yếu tố thuận lợi trong việc thúc đẩy tuân thủ thuế của DN trong ngành
Các vấn đề thuộc ngành khác như cạnh tranh, nhân tố mùa vụ, cơ sở hạ tầng
1.2.3.5 Yếu tố về môi trường kinh doanh:
Lãi suất thị trường và lãi suất ngân hàng là yếu tố tác động đến quyết định tuân thủ, trì hoãn hay không tuân thủ thuế Trong trường hợp lãi suất tăng, một đối tượng nộp thuế có tinh thần và đạo đức thuế tồi sẽ có khả năng trì hoãn việc nộp thuế, hoặc tuân thủ nhưng không tự nguyện, hoặc có khả năng trốn thuế hay tránh thuế
Lạm phát ảnh hưởng đến sự tuân thủ thuế của DN khi nó tác động vào mức sinh lời từ hoạt động SXKD Lạm phát quá cao sẽ cản trở hành vi tuân thủ thuế Lạm phát ổn định ở mức hợp lý kích thích SXKD và tác động đến sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp thông qua hiệu ứng thu nhập