1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Khai thác sử dụng hiệu quả kênh hình trong dạy học chủ đề “lực đẩy ác si mét sự nổi vật lí 8

31 205 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 5,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy, việc đưa hình ảnh, đặc biệt là các hình ảnh động và các videoclip cụ thể, chi tiết vào bài giảng là việc hết sức quan trọng, nó không những truyềntải kiến thức đến học sinh

Trang 1

Trong bộ môn khoa học và giáo dục, dạy học là một quá trình sư phạm tổngthể, là quá trình tác động qua lại giữa giáo viên và học sinh, học sinh với học sinh

và học sinh với tài liệu học tập nhằm tiếp thu và lĩnh hội những tri thức khoa học Nhưng những phương pháp dạy học truyền thống hiện nay hầu như không thểđáp ứng được nhu cầu lĩnh hội kiến thức cho học sinh, đồng thời mang tính chấtmột chiều, khô khan tạo ra cảm giác chán nản cho người học Điều này đòi hỏi phải

có sự thay đổi về phương pháp trong công tác giảng dạy của người giáo viên, trong

đó phương pháp trực quan và phương pháp thực hành là các phương pháp dạy họctích cực đang được nhiều giáo viên quan tâm áp dụng Đặc biệt là phương pháp sửdụng kênh hình trong dạy học

Vật lý là một bộ môn khoa học gắn liền với đời sống, là tập hợp tất cả các mốiquan hệ,liên hệ và biểu hiện của sự vật và hiện tượng trong thế giới tự nhiên Chính

vì thế, môn học này có nhiều đặc điểm phù hợp với phương pháp dạy học bằng hìnhảnh

Trong chủ đề “Lực đẩy Ác Si Mét - Sự nổi - Vật lý 8”, có đề cập đến nhiềucác hiện tượng về sự nổi của các vật và các thí nghiệm mô tả các hiện tượng về sựnổi Nhưng hệ thống hình ảnh trong sách giáo khoa và các sách tham khảo hiện naychỉ chứa một số hình ảnh mô tả khái quát về các hiện tượng vật lý đó Một sốtrường hợp ta chỉ ghi nhận được kết quả hiện tượng mà không quan sát được hiệntượng xảy ra như thế nào Đặc biệt trong sách giáo khoa không thể có những videoclip, những hình ảnh động để mô tả cụ thể thí nghiệm và các hiện tượng quay củavật rắn Việc giáo viên chỉ dùng lời nói thì học sinh rất khó hình dung, việc tiếp thubài của các em trở nên hạn chế

Ngoài những học sinh có niềm đam mê, có khả năng tưởng tượng thì vẫn cónhiều học sinh gặp nhiều khó khăn trong việc hình dung về các hiện tượng, quátrình diễn ra của thí nghiệm

Chính vì vậy, việc đưa hình ảnh, đặc biệt là các hình ảnh động và các videoclip cụ thể, chi tiết vào bài giảng là việc hết sức quan trọng, nó không những truyềntải kiến thức đến học sinh một cách nhanh chóng, chính xác mà còn giúp các emnhớ được, hiểu được bài học lâu hơn, vận dụng một cách sáng tạo, khoa học vàogiải quyết các bài tập Các em có thể nắm rõ được bản chất và quá trình diễn ra của

Trang 2

các hiện tượng vật lý, tạo ra sự hứng thú, niềm đam mê về môn học và không khísôi động trong tiết học

Tôi hy vọng rằng, việc giảng dạy có kết hợp với hệ thống các kênh hình có thể

mang lại hiệu quả cao cho quá trình học tập của các em

Xuất phát từ những lí do trên tôi chọn đề tài: Khai thác, sử dụng hiệu quả kênh hình trong dạy học chủ đề “Lực đẩy Ác Si Mét - Sự nổi - Vật lý 8”.

Đối tượng nghiên cứu: Kênh hình trong dạy học chủ đề “Lực đẩy Ác Si Mét

-Sự nổi - Vật lý 8”

Phạm vi nghiên cứu: Toàn khối 8, trường THCS Lê Quý Đôn từ tháng 12 nămhọc 2017-2018 đến tháng 12 năm học 2018-2019

II Mục đích nghiên cứu

Khai thác, sử dụng kênh hình dùng cho dạy học chủ đề “Lực đẩy Ác Si Mét

-Sự nổi- Vật lý 8”, nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh, xây dựng tưliệu kênh hình phù hợp trong dạy học chủ đề “Lực đẩy Ác Si Mét - Sự nổi - Vật lý8”

Trang 3

Phần 2 GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I Cơ sở lí luận của vấn đề

1 Khái niệm về kênh hình

Kiến thức sách giáo khoa (SGK) Vật lý nói chung và trong SGK Vật lý lớp 8nói riêng được trình bày bằng nhiều loại ngôn ngữ: ngôn ngữ văn học, ngôn ngữ đồhoạ, ngôn ngữ toán học Ngôn ngữ văn học được trình bày thông qua kênh chữ,ngôn ngữ toán học được trình bày thông qua công thức, bảng biểu, số liệu còn cácngôn ngữ khác được trình bày thông qua kênh hình

Kênh hình là những kênh thông tin về những đối tượng cần chuyển tải bằnghình ảnh bao gồm toàn bộ hệ thống hình vẽ, ảnh chụp, video clip, bảng biểu, sơ đồ,

đồ thị… với chức năng chủ yếu là nguồn tri thức, phương tiện minh họa cho bàihọc, có giá trị tương đương với kênh chữ

Trong các môn khoa học xã hội có thể nói vật lý là môn học rất cần sự trợgiúp của kênh hình với hai chức năng lớn: vừa là phương tiện trực quan sinh độngvừa là nguồn tri thức cốt lõi đối với người học Những hình ảnh đa màu sắc từ SGKđến tranh ảnh, hình vẽ, màn hình PowerPoint… không chỉ giúp HS nhận thức được

sự vật hiện tượng vật lý một cách thuận lợi mà còn là nguồn tri thức để các em khaithác, phát hiện ra những kiến thức vật lý mới mẻ còn ẩn giấu trong kênh hình Điều

đó đòi hỏi khi học vật lý, HS phải có nhiệm vụ khai thác kiến thức từ kênh hình

GV khi dạy phải tổ chức, hướng dẫn cho HS làm việc với kênh hình để thu nhậnnhững kiến thức từ đó Nếu biết cách làm việc với kênh hình sẽ rất thuận lợi để HSnắm bắt kiến thức, tự học tập vật lý từ tài liệu, giúp tổ chức tốt hoạt động dạy họcvật lý của GV Do đó vấn đề sử dụng kênh hình cần được các nhà giáo và nhànghiên cứu trình bày những sáng kiến kinh nghiệm của mình để mọi người học tập

áp dụng

2 Các loại kênh hình

Chúng ta đều biết rằng, mỗi loại kênh hình có các vai trò khác nhau trongviệc tạo ra những hình ảnh trực quan về đối tượng nhận thức, vì vậy hiệu quả sửdụng của mỗi loại kênh hình có sự khác nhau trong quá trình nhận thức về các đặcđiểm của mỗi sự vật và hiện tượng vật lý

Sau đây là các loại kênh hình và kỹ năng làm việc, cách rèn luyện các kỹnăng đó cho HS:

- Kỹ năng khai thác thông tin từ tranh ảnh, hình vẽ:

Tranh ảnh trong SGK vật lý chứa đựng một lượng thông tin cô đọng và cầnthiết của việc vận dụng kiến thức vào thực tế cuộc sống, hoặc mang tính thông tin,tính tư duy hình ảnh trực giác cao Việc khai thác thông tin từ tranh ảnh nên bắt đầu

Trang 4

từ việc quan sát toàn cảnh của tranh, tiếp đến là các điểm nhấn của tranh, từ đó dùngphản xạ, kinh nghiệm và tư duy trực giác của mình kết hợp với lĩnh vực kiến thứcđang đề cập tới để phát hiện thông tin liên quan tới tranh ảnh đó.

Hình ảnh với tư cách là đặc tả hoặc sự phản ánh khái quát hiện thực khácquan là một nguồn tri thức là công cụ dạy học quan trọng của vật lý

Hình ảnh tạo nên những biểu tượng chân thực tạo điều kiện để hình thànhmột cách vững chắc khái niệm, kiến thức cơ bản

Hình ảnh đẹp nhiều màu sác giáo dục thẩm mỹ có tác dụng kích thích hứngthú học tập của học sinh

Hình ảnh trực quan về đối tượng mà học sinh có thể quan sát trực tiếp sẽ tạo

ra biểu tượng ban đầu về sự vật, hiện tượng từ đó việc hình thành kiến thức của các

em diễn ra dễ dàng hơn Thực tế kinh nghiệm dạy học cho thấy, học sinh rất thíchthú với tranh vẽ và hình ảnh

Học sinh có thể không đọc kênh chữ, tuy nhiên các em tỏ ra thích thú vớikênh hình Những bức ảnh các em quan sát kỹ hơn, dừng lại lâu hơn, và ở nhữngbức ảnh còn có khả năng lưu lại trong trí nhớ của học sinh một cách dễ dàng hơn hệthống kênh chữ Hình ảnh hiện nay rất đa dạng và phong phú từ ảnh vẽ, ảnh đentrắng, ảnh màu của các sự vật hiện tượng được đưa vào sách giáo khao tài liệu thamkhảo

Ảnh giáo khoa là một nghệ thuật mô tả đối tượng khách quan bằng thông tinnhằm tác động vào thị giác của con người Đối tượng ghi bằng máy chụp ảnh Đặcđiểm cơ bản của ảnh là mô tả sự vật hiện tượng ở trạng thái tĩnh, trong thời gian vàkhông gian nhất định

Ảnh giáo khoa cung cấp tư liệu cho thầy trò thực hiện tốt nội dung bài học.Khác với tranh ảnh phản ánh trực tiếp đối tượng mang tính chân thực Ảnh cònchứng minh sự vật đó sự kiện đó, cảnh đó, sự kiện có thật trong cuộc sống Vì thế

có sức thuyết phục và giúp học sinh có niềm tin vào đối tượng mình nghiên cứu

Tranh ảnh chân dung có giá trị như các tư liệu lịch sử giúp học sinh hìnhthành biểu tượng con người, giúp học sinh hiểu thêm về về nững công trình, nhữngcống hiến của các nhà khoa học đối với nhân loại

Một số lưu ý khi sử dụng tranh

Để sử dụng hình ảnh có hiệu quả trước khi lên lớp, giáo viên cần chẩn bị:+ Nghiên cứu kỹ nội dung kết quả của các tranh ảnh sử dụng: Chuẩn bị, tìmnhững tình huống cho học sinh khai thác thông tin từ nội dung các tranh ảnh đó

+Tìm hiểu tập hợp thông tin tư liệu để hướng dẫn học sinh suy nghĩ, thảoluận

+ Xác định thời điểm sử dụng có hiệu quả nhất

Trang 5

Trên lớp: Khi dạy kiến thức có hình vẽ, tranh ảnh, những hình ảnh đó phảibảo đảm hình vẽ đủ kích thước, rõ ràng để học sinh có thể quan sát Nếu hình nhỏgiáo viên có thể tổ chức thảo luận theo nhóm, theo bàn Đảm bảo mọi học sinh đềuquan sát rõ hình ảnh đó.

- Kỹ năng khai thác thông tin từ bảng biểu, đồ thị, sơ đồ:

Bảng biểu, đồ thị, sơ đồ có vai trò quan trọng trong việc tóm lược, so sánh,biện luận các kiến thức, các quy luật vật lý

Từ bảng biểu ta có thể thấy, được sự tóm tắt các thông tin liên quan đến cácđối tượng, các đại lượng vật lý Khi làm việc với loại kênh thông tin này chúng tanên xem xét chúng bao gồm những cột, dòng thông tin nào (bảng được lập theodạng hàng - cột), hoặc các khối thông tin nào, bảng này nói về cái gì, các thông tinnào là thông tin mà ta đang quan tâm

Với đồ thị, chúng ta cần biết nó được vẽ ra để thể hiện mối quan hệ giữa cácđại lượng vật lý nào (căn cứ vào các trục của đồ thị, số trục của đồ thị, đơn vịtính ) Cần xem xét dạng đường của đồ thị để biết tính chất biến thiên của các đạilượng (tuyến tính, phi tuyến tính ) Trong nhiều bài toán chúng ta không cần phảimất thời gian để giải nó hoặc giải bằng phương pháp thông thường sẽ gặp không ítbất lợi, trong khi nếu khai thác tốt đồ thị ta có thể đưa ra kết quả nhanh và chínhxác

Sơ đồ trong SGK Vật lý giúp tóm lược một hệ thống kiến thức, hoặc mô tảngắn gọn và sơ lược một đặc trưng nào đó của bài học theo ý đồ sư phạm của tácgiả, phần học hay kiến thức vật lý Khi làm việc với kênh thông tin này, chúng tacần xác định sơ đồ này được lập ra để làm gì, cho phần kiến thức nào, dạng tóm tắthay so sánh Nếu tóm tắt hay so sánh thì tóm tắt hay so sánh nội dung gì

Đặc trưng của môn Vật lý là thí nghiệm, tuy nhiên không phải làm thínghiệm nào cũng có thể tiến hành thành công Nhờ vào bản số liệu sách giáo khoa

mà giáo viên có thể tiến hành thí nghiệm theo ý đồ của mình,hoặc từ số liệu sáchgiáo khoa và những số liệu thực tế trong quá trình tiến hành thí nghiệm học sinh cóthể so sánh, đối chiếu, rút ra kết luận

Một số lưu ý khi sử dụng bảng số liệu, đồ thị

+ Yêu cầu học sinh phải đọc tiêu đề phía trên hoặc phía dưới của bảng sốliệu, để học sinh xác định được đối tượng của bảng số liệu, đồ thị

- Kỹ thuật khai thác thông tin từ băng đĩa hình, video clip:

Video được xây dựng dựa vào nội dung SGK, hoặc những hiện tượng diễn ra

mà bằng mắt thường HS không tri giác được…Video giúp HS thu nhận thế giới tựnhiên vào lớp học, xóa bỏ những hạn hẹp về mặt không gian của lớp học và về mặtthời gian của giờ học Nhờ các cuốn phim được quay từ trước HS quan sát với tốc

Trang 6

độ mong muốn hoặc có thể làm dừng lại hình ảnh để quan sát được các hiện tượngvật lý một cách tối ưu, làm cho HS có thể hiểu rõ về đối tượng đang nghiên cứu.Việc sử dụng các khả năng của sự đồ họa, kết hợp với các tín hiệu âm thanh và sựthuyết minh phim không ngừng tạo cho HS những biểu tượng tốt hơn về đối tượngnghiên cứu mà còn tăng tính trực quan, rút ngắn thời gian so với với việc sử dụngcác phương tiện dạy học khác, do đó GV có nhiều thời gian dẫn dắt HS tự phát hiện

ra kiến thức Video còn có thể dùng ở tất cả các giai đoạn của quá trình dạy học: ởlớp học hoặc ngoài lớp học

Một số lưu ý khi sử dụng video:

+ Đặt kế hoạch sử dụng video trong kế hoạch tổng thể của một chương; mộtphần cụ thể (sử dụng video nào, lúc nào, nhằm mục đích nào về mặt lí luận dạyhọc )

+ Xác định các công việc chuẩn bị với HS trước khi sử dụng: giao cho HSnhiệm vụ ôn tập ở nhà những kiến thức cần thiết để có thể hiểu được nội dungvideo; nêu mục đích sử dụng video để đặt HS ở tâm thế chờ đợi tích cực, khêu gợitính tò mò nhận thức; trước khi chiếu, để định hướng sự chú ý của HS vào nhữngnội dung cơ bản của video, GV cần giao cho HS các nhiệm vụ cần hoàn thành saukhi xem

+ Trong khi xem phim, GV cần quan sát, có thể đưa ra các gợi ý nhỏ đểhướng sự chú ý của HS vào cái cơ bản, cái đặc biệt

+ Đánh giá hiệu quả việc sử dụng video học tập: có thể đánh giá kết quả sửdụng video ngay sau khi xem hoặc ở các giờ học sau; hiệu quả sử dụng cần đượcđánh giá thông qua câu trả lời của HS cho các câu hỏi đã nêu Tốt nhất là tổ chứccác thảo luận của HS qua đó đánh giá mức độ nắm vững của HS

Tùy vào mỗi đơn vị kiến thức, đặc điểm của đối tượng nhận thức mà GV sửdụng kênh hình để tổ chức các hoạt động nhận thức cho phù hợp với hoạt độngnhận thức của HS, sao cho mỗi loại kênh hình đó là loại phương tiện hữu hiệunhất để HS lĩnh hội tri thức một cách dễ dàng và hiệu quả Việc sử dụng các kênhhình trong và ngoài SGK nhằm làm cho đối tượng vật lý có tính cập nhật, sống động

và phong phú hơn Đặc biệt hiện nay với sự ứng dụng mạnh mẽ của công nghệ thôngtin, GV có thể dễ dàng thiết kế và tạo ra nhiều loại kênh hình khác nhau để phục vụcho giảng dạy

3 Vai trò của việc khai thác, sử dụng kênh hình trong dạy học Vật lý

Nếu học sinh được xem clip, thí nghiệm (được thiết kế theo logic của bàihọc), tranh ảnh với màu sắc sinh động kết hợp với lời nói của giáo viên thì khả năngghi nhớ của cá em sẽ tăng lên Không những thế, nếu làm được việc này chúng ta sẽtạo ra được một bầu không khí học tập sinh động, khơi gợi hứng thú học tập cho các

Trang 7

em đồng thời khắc sâu những kiến thức mà các em đã được học Rõ ràng việc kếthợp hai hay nhiều phương tiện dạy học sẽ giúp cho học sinh tiếp thu thông tinnhanh, chính xác và nhớ lâu hơn.

Kênh hình còn phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy, ngônngữ học của học sinh Đồng thời có ý nghĩa giáo dục tư tưởng tình cảm, cảm xúcthẩm mỹ rất lớn, góp phần hoàn thiện tri thức

Với những ý nghĩa trên, kênh hình góp phần to lớn trong việc góp phần nângcao chất lượng dạy học môn vật lý, tạo hứng thú, cuốn hút học sinh tham gia tíchcực vào bài giảng, làm cho lớp học sôi động, không buồn tẻ, hiệu quả giảng dạy tốthơn, giúp phát huy sức sang tạo, khả năng suy nghĩ độc lập, năng lực nghiên cứu, tưduy tìm tòi khám phá, năng lực quan sát, khả năng vận dụng lý thuyết vào thực tiễncủa học sinh

Việc khai thác, sử dụng kênh hình trong dạy học vật lý có những vai trò quantrọng:

- Kênh hình là phương tiện trực quan của GV, là nguồn tri thức quan trọngcủa HS Nó có khả năng cung cấp thông tin một cách đầy đủ hơn, bổ sung và mởrộng vấn đề khi SGK chưa trình bày đến nó

- Giúp HS dễ dàng tiếp thu trong quá trình nhận thức, phát triển tư duy và hỗtrợ HS trong các khái niệm trừu tượng hoá, định hướng đúng vấn đề

- Cải tiến phương pháp dạy học của GV và thay đổi hình thức học của HStheo hướng tích cực Lấy HS làm trung tâm, GV có tác dụng hướng dẫn HS trongquá trình chủ động tiếp cận kiến thức

- Minh hoạ cho các hiện tượng, khái niệm, công thức, định luật Nó hỗ trợ

và phát huy mọi giác quan của HS Tăng độ tin cậy và khắc sâu kiến thức Giảmthời gian giảng giải, gây hứng thú cho người học, dễ nhận biết, dễ nhớ, làm cho bàigiảng cụ thể, sinh động hơn

- Phát huy, nâng cao được tính chủ động, sáng tạo của người GV trong hoạtđộng dạy học

- Giảm thời gian giảng giải, giảm tải cho người dạy, gây hứng thú cho ngườihọc, HS dễ dàng hiểu được những vấn đề muốn diễn đạt, làm rõ những điều GVmuốn giới thiệu

- Giúp đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả họctập của HS

4 Các yêu cầu khi khai thác, sử dụng kênh hình

- Các nguyên tắc khai thác, sử dụng kênh hình

Để khai thác triệt để công dụng của kênh hình, GV phải nắm được một sốnguyên tắc có tính bắt buộc sau:

Trang 8

+ Nguyên tắc sử dụng đúng lúc:

Sử dụng kênh hình vào lúc cần thiết, lúc HS mong muốn được quan sát,trong trạng thái tâm lý thuận lợi nhất.Kênh hình xuất hiện đúng lúc nội dung vàphương pháp dạy học cần nói đến.Tránh đưa ra một lúc nhiều kênh hình hoặc nhiềuloại phương tiện trực quan

+ Nguyên tắc sử dụng đúng chỗ:

Tìm vị trí để giới thiệu kênh hình hoặc phương tiện trực quan trên lớp hợp lýnhất, giúp HS có thể sử dụng nhiều giác quan nhất, tiếp xúc phương tiện một cáchđồng đều ở mọi vị trí trong lớp, đảm bảo cho toàn lớp có thể quan sát kênh hình mộtcách rõ ràng, đảm bảo không làm phân tán tư tưởng của học sinh khi tiến hành cáchoạt động học tập tiếp theo

+ Nguyên tắc sử dụng đúng cường độ:

Nguyên tắc này chủ yếu đề cập nội dung và phương pháp dạy học sao chothích hợp, vừa với trình độ tiếp thu và lứa tuổi của HS.Mỗi loại kênh hình hoặcphương tiện dạy học có mức độ sử dụng tại lớp khác nhau Nếu kéo dài việc sửdụng một loại phương tiện hoặc lặp đi lặp lại nhiều lần trong một buổi học, hiệu quảcủa chúng sẽ giảm sút Việc sử dụng nhiều hình thức, nhiều phương tiện khác nhautrong một buổi học có ảnh hưởng lớn đến sự tiếp thu của HS, đến hiệu quả sử dụngphương tiện dạy học Theo nghiên cứu của các nhà sinh lý học, nếu một dạng hoạtđộng được tiếp tục trên 15 phút thì khả năng làm việc sẽ giảm sút rất nhanh Việc ápdụng thường xuyên các phương tiện nghe nhìn ở trên lớp dẫn đến sự quá tải thôngtin đối với HS do chưa có đủ thời gian để chuyển hóa lượng thông tin đó Sử dụngphương tiện nghe nhìn không quá 3 – 4 lần trong một tuần và kéo dài không quá 20– 25 phút trong một buổi dạy

- Những điều giáo viên cần lưu ý khi khai thác và sử dụng kênh hình

Khi sử dụng kênh hình trong dạy học, GV cần chú ý đảm bảo các yêu cầusau:

+ Kênh hình phải được sử dụng có hiệu quả cao, đáp ứng được yêu cầu vềnội dung và phương pháp được quy định trong chương trình giáo dục

+ Tập trung vào việc sử dụng các kênh hình như một nguồn kiến thức, hạnchế dùng chúng theo cách minh họa cho kiến thức

+ Để có thể sử dụng tốt các kênh hình, khi lên lớp GV cần:

Có kế hoạch chuẩn bị trước các kênh hình Nghiên cứu kỹ các kênh hình đểhiểu rõ nội dung, tác dụng của từng loại kênh hình, tránh tình trạng khi lên lớp mớicùng HS tiếp xúc với kênh hình.Khi soạn bài cũng như khi lên lớp học GV cần phảixây dựng được hệ thống câu hỏi, bài tập tương đối chính xác, rõ ràng để HS làmviệc với các loại kênh hình nhằm lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kỹ năng vật lý GV

Trang 9

cần giúp HS nắm được trình tự các bước làm việc với từng loại phương tiện, thiết bịdạy học để tìm kiến thức, rèn luyện kỹ năng, phát triển tư duy.

+ Trong quá trình sử dụng kênh hình GV nên dùng phương pháp đàm thoại

để hướng dẫn HS quan sát, tập trung chú ý những chi tiết quan trọng

+ Khi tranh ảnh không nêu rõ được đặc điểm, chi tiết của đối tượng thì GVphải kết hợp với việc bổ sung các hình vẽ trên bảng hoặc các vật mẫu

+ GV nên cho HS sưu tầm những tranh ảnh từ các tạp chí, báo trong cáctrang web theo các chủ đề khác nhau

II Thực trạng về việc sử dụng kênh hình trong dạy học vật lý ở các trường trung học cơ sở

1 Về phía giáo viên

Nhìn chung đa số GV nhận thức được tầm quan trọng của kênh hình trongdạy học vật lý, có sử dụng kênh hình trong dạy học, tuy nhiên mức độ khôngthường xuyên GV khai thác tương đối tốt kênh hình trong SGK, còn với kênh hìnhngoài SGK thì chưa được GV sử dụng nhiều trong giờ học Giáo viên đã sử dụngkênh hình trong giảng dạy, tuy nhiên vẫn ảnh hưởng lối truyền thụ cũ Bởi vậy, họcsinh chưa phát huy hết vai trò chủ thể của nhận thức, để phát huy triệt để tính tíchcực, sự chủ động của HS trong một tiết lên lớp, người GV cần phải huy động cácphương tiện dạy học tối ưu, trong đó việc sử dụng kênh hình phục vụ bài dạy là mộtthao tác hữu ích và rất cần thiết

Các quan niệm của GV về kênh hình có sự nhận thức khác nhau Từ đó dẫnđến hướng sử dụng kênh hình của GV khác nhau:

- Nếu coi kênh hình là phương tiện minh họa, thì GV là người chủ độngtrong hoạt động dạy học GV trình bày kiến thức xong rồi giới thiệu kênh hình đểminh họa cho nội dung vừa trình bày, nhằm củng cố bài học

- Nếu coi kênh hình là nguồn kiến thức, thì GV sẽ tổ chức cho HS khai tháctri thức từ kênh hình, thông qua hướng dạy học tích cực bằng hệ thống câu hỏi vàbài tập mà GV chuẩn bị trước

Tuy nhiên kênh hình được GV sử dụng chủ yếu mang tính chất minh họa,chưa sử dụng kênh hình là nguồn khai thác tri thức hoặc dùng giải các bài tập

Như vậy giáo viên đã nhận thức được sự cần thiết của sử dụng kênh hìnhtrong dạy học Nhưng trong thực tế thì việc sử dụng kênh hình trong dạy học cònnhiều hạn chế Một mặt trong đó là do điều kiện vật chất khó khăn, điều kiện thiết

bị dạy học ở trường phổ thông còn thiếu (máy chiếu…), mặt khác mất nhiều thờigian chuẩn bị, một số GV khả năng sử dụng công nghệ thông tin còn hạn chế, nênviệc khai thác kênh hình vào dạy học có hiệu quả chưa cao

Trang 10

Tuy nhiên việc sử dụng kênh hình có sự chuyển biến tích cực, kết quả bướcđầu khả quan, rất cần phát triển thêm.

2 Về phía học sinh

Thực trạng về mặt trí lực HS lớp 8 có năng lực quan sát tốt hơn và có tư duynhạy bén hơn, có khả năng phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá tốthơn nhiều so với HS lớp 6, 7 Về tính cách, các em đang trong giai đoạn chuyển đổi,các em thích thể hiện bản thân, thể hiện cá tính rõ rệt, các em thích tranh luận, thíchbày tỏ ý kiến của bản thân mình, vì vậy các em thích tìm tòi những cái mới lạ,không thích chấp nhận một cách đơn giản các yêu cầu của GV, nếu chỉ nghe GVgiảng bài và ghi chép các em sẽ cảm thấy nhàm chán, các em sẽ có biểu hiện thờ ơhoặc kém hứng thú trong tiết học Điều này thể hiện qua giờ học trên lớp và qua kếtquả khảo sát độ hứng thú của học sinh trước khi áp dụng đề tài nghiên cứu:

Bảng 1: Khảo sát độ hứng thú của học sinh khi học về chủ đề “Lực đẩy Ác SiMét - Sự nổi - Vật lý 8”.(khi chưa áp dụng đề tài)

Trang 11

thụ theo lối thuyết trình, giảng giải GV nên sử dụng các phương pháp dạy tích cựckết hợp với kênh hình Hầu hết HS đều có mong muốn GV khai thác nhiều hơn nữa

hệ thống kênh hình cho bài học vật lý, đặc biệt là các loại kênh hình mà các em yêuthích

III Các giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề

1 Giải pháp 1: Bám sát mục tiêu, chuẩn kiến thức, kĩ năng của chủ đề “Lực đẩy Ác Si Mét - Sự nổi” Vật lý 8

1.1 Mục tiêu

Bài “Lực đẩy Ác Si Mét - Sự nổi” vật lý 8 nghiên cứu về tác dụng của lựcđấy Ác Si Mét liên quan đến sự nổi của vật, là một trong những nội dung kiến thứcquan trọng trong chương cơ học của vật lý 8

Bài này giúp học sinh có kĩ năng giải quyết các vấn đề liên quan đến lực đẩy

Ác Si Mét và sự nổi Từ đó tạo được khả năng vận dụng các kiến thức trong bài đểgiải quyết các vấn đề của thực tế

Bài này có nhiều kiến thức liên quan đến đời sống và thực tiễn nên hìnhthành cho học sinh một hứng thú học tập, một thái độ học tập tích cực và yêu thíchmôn học hơn

1.2 Nội dung cơ bản

1.2.1 Chuẩn kiến thức, kỹ năng

- Mô tả được hiện tượng về sự tồn tại của lực đẩy Ác-si-mét

- Viết được công thức tính độ lớn lực đẩy, nêu được đúng tên đơn vị đo cácđại lượng trong công thức

- Nêu được điều kiện nổi của vật

- Giải thích được các hiện tượng vật lí liên quan đến lực đẩy Ác-si-mét, sựnổi

- Vận dụng được công thức về lực đẩy Ác-si-mét F = V.d

1.2.2 Kiến thức cơ bản

- Tác dụng của chất lỏng lên vật nhúng chìm trong nó

Một vật nhúng vào chất lỏng, bị chất lỏng đẩy thẳng đứng từ dưới lên với lực

có độ lớn bằng trọng lượng của phần chất lỏng mà vật chiếm chỗ Lực này gọi làlực đẩy Ác – si – mét

- Độ lớn của lực đẩy Ác-si-mét

Công thức tính lực đẩy Ác-si-mét:

FA = d.VTrong đó: d là trọng lượng riêng của chất lỏng (N/m3)

V là thể tích phần chất lỏng bị vật chiếm chỗ (m3)

FA là lực đẩy Ác-si-mét (N)

Trang 12

Lưu ý: V là thể tích phần chất lỏng bị vật chiếm chỗ cũng chính là thể tíchphần chìm của vật chứ không phải là thể tích của vật Muốn tính thể tích phần chìmcủa vật có nhiều trường hợp:

+ Nếu cho biết Vnổi thì Vchìm = Vvật - Vnổi

+ Nếu cho biết chiều cao h phần chìm của vật (có hình dạng đặc biệt) thì

Vchìm=Sđáy.h

+ Nếu cho biết vật chìm hoàn toàn trong chất lỏng thì Vchìm = Vvật

- Điều kiện để vật nổi, vật chìm: Nếu ta thả một vật ở trong lòng chất lỏng thìVật chìm xuống khi lực đẩy Ác si mét FA nhỏ hơn trọng lượng P: FA < PVật nổi lên khi : FA > P

Vật lơ lửng trong chất lỏng khi: FA = P

- Độ lớn của lực đẩy Ác si mét khi vật nổi lên trên mặt chất lỏng: Khi vật nổilên trên mặt chất lỏng thì lực đẩy Ác – si – mét FA = d V, trong đó V là thể tích củaphần vật chìm trong chất lỏng, (không phải thể tích của vật), d là trọng lượng riêngcủa chất lỏng

Lưu ý: Khi nhúng chìm vật rắn vào trong một bình chất lỏng thì có ba trườnghợp xảy ra: Vật chìm xuống; Vật nằm lơ lửng trong lòng chất lỏng; Vật nổi lên trênmặt chất lỏng

+ Trường hợp vật đang chìm xuống, nằm lơ lửng trong chất lỏng và đang nổilên, là những trường hợp tương đối dễ để phân tích và HS thường mắc phải sai lầm.tuy nhiên, trường hợp vật đã nằm yên ở đáy bình và nhất là trường hợp vật nằm yêntrên mặt chất lỏng, là những trường hợp mà HS dễ nhầm lẫn

+ Trường hợp vật đã nằm yên ở đáy bình, HS thường chỉ hiểu trong trườnghợp này P > FA mà không chú ý là khi đã nằm yên ở đáy bình thì các lực tác dụnglên vật phải cân bằng nhau:

P = FA + F'

Trong đó F’ là lực của đáy bình tác dụng lên vật

+ Trường hợp vật nằm yên trên mặt chất lỏng, HS thường cho rằng trongtrường hợp này FA > P mà không thấy là khi vật đã nằm yên thì các lực tác dụng lênvật phải cân bằng nhau:

FA = P

Tới đây, HS lại hay mắc sai lầm về giá trị độ lớn của lực đẩy Ac- si- mét FA

trong khi áp dụng công thức FA = d V, HS thường cho V là thể tích của vật, khôngthấy V chỉ là thể tích của phần vật bị chìm trong chất lỏng

Do vậy HS cần lưu ý rằng:

+ Khi vật nằm yên, các lực tác dụng vào vật phải cân bằng nhau

Trang 13

+ Khi vật nổi lên trên mặt chất lỏng thì FA = d V với V là thể tích của phầnvật chìm trong chất lỏng.

2 Giải pháp 2: Xây dựng kho tư liệu kênh hình chủ đề “Lực đẩy Ác Si Mét

-Sự nổi” Vật lý 8

2.1 Các yêu cầu khi khai thác, sử dụng kênh hình

Để nâng cao hiệu quả của việc khai thác kênh hình trong quá trình dạy họcvật lý thì bản thân kênh hình phải đảm bảo các yêu cầu sau:

- Tính khoa học

Các kênh hình được sử dụng trong dạy học vật lý phải đảm bảo tính khoahọc Một trong những yêu cầu khoa học đầu tiên là kênh hình phải đảm bảo tínhchính xác về đối tượng vật lý, các hiện tượng vật lý cần thể hiện trên các kênh hìnhphải có sự tương ứng với thực nghiệm

Tính khoa học của kênh hình còn được thể hiện ở lượng thông tin mà nótruyền tải Dựa vào nội dung cụ thể cũng như trình độ nhận thức của HS mà ta tiếnhành xây dựng kênh hình theo hướng tích cực hóa hoạt động của HS

- Tính trực quan

Đảm bảo tính trực quan là một trong những nguyên tắc quan trọng của kênhhình Tính trực quan của kênh hình thế hiện ở khả năng nhận biết nhanh các đốitượng và hiện tượng vật lý được biểu hiện trên kênh hình của HS

Hệ thống kênh hình nên sử dụng những màu sắc đẹp, các kí hiệu gần gũi, cáchình ảnh trực quan nhằm kích thích hứng thú học tập của HS

Tuy nhiên do đặc thù của môn học cho nên hệ thống kênh hình không chỉ dễnhìn mà phải gọn nhẹ, dễ di chuyển Ngoài ra để đảm bảo các nguyên tắc trực quanthì kênh hình được trình bày trong SGK phải có một sự nhất quán với kênh chữ, nộidung biểu hiện phải tập trung vào nội dung quan trọng tránh lồng ghép quá nhiềunội dung vào một đơn vị hình làm rối kênh hình

- Tính sư phạm

Để đảm bảo được tính sư phạm thì kênh hình được xây dựng phải có sựnghiên cứu kĩ về nội dung và về phương pháp cũng như đặc điểm tâm lý lứa tuốicủa HS

Bản thân HS cũng giống như trang giấy trắng, chính quá trình học tập rènluyện trong nhà trường phổ thông đã góp phần hình thành nên nhân cách và phẩmchất của các em Do vậy khi lựa chon, thiết kế kênh hình phục vụ dạy học, tính sưphạm còn thể hiện ở sự thống nhất về kí hiệu, phương pháp thể hiện

- Tính thẩm mĩ

Kênh hình được sử dụng trong giảng dạy vật lý phải đảm bảo tính thẩm mĩcao, các đường nét, màu sắc phải hài hoà, cân đối Tính thẩm mĩ vừa có tác dụng

Trang 14

thu hút học tập của HS vừa có tác dụng giáo dục óc thẩm mĩ cho HS.

2.2 Khai thác kênh hình trong sách giáo khoa

Tùy vào đặc điểm của đối tượng nhận thức mà GV sử dụng kênh hình trongSGK để tổ chức hoạt động nhận thức của HS, sao cho mỗi loại kênh hình đó làphương tiện hữu hiệu nhất để HS lĩnh hội tri thức một cách dễ dàng và hiệu quả.Tuy nhiên do khuôn khổ có hạn của SGK nên ngoài kênh hình trong SGK cần khaithác thêm kênh hình ngoài SGK

Sau đây là một số hình ảnh trong SGK lấy từ kho tư liệu mà tôi đã xây dựng

Hình 1 Một số hình ảnh trong SGK

2.3 Khai thác kênh hình ngoài sách giáo khoa

Hiện nay sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, internet sẽ cungcấp cho chúng ta một thư viện kênh hình với nội dung hết sức phong phú, thông qua

đó GV có thể lựa chọn và sử dụng để thiết kế các hoạt động nhận thức cho HS Tuynhiên việc lựa chọn kênh hình phù hợp với mục tiêu bài học, phải có tính chọn lọc

kỹ, điển hình và có tính khái quát cao nhằm giải quyết được mục tiêu đặt ra của bàihọc, đặc biệt phải mang lại hứng thú cho HS

Ngoài ra GV còn có thể tạo thí nghiệm mô phỏng, thí nghiệm ảo nhờ cácphần mềm Hiện nay có rất nhiều phần mềm hỗ trợ dạy học vật lý: Power point,Violet, Matlab, Crocodile Physics, Physics draw…

Các thí nghiệm mô phỏng giúp GV khắc phục tình trạng thiếu thiết bị thínghiệm, thí nghiệm khó tiến hành cũng như các thí nghiệm cần cho HS nhìn ở mọigóc độ Đề tài đã sưu tập được một số kênh hình ngoài SGK phục vụ dạy học chủ

đề “Lực đẩy Ác Si Mét - Sự nổi” Vật lý 8 như các hình ảnh, video, flash để đưa vàokho kênh hình

Trang 15

Sau đây là một số ví dụ kênh hình ngoài SGK trong kho tư liệu:

Ngày đăng: 07/08/2019, 14:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Tập huấn giảng viên trung ương về dạy và học tích cực, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập huấn giảng viên trung ương về dạy và học tích cực
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
6. Nguyễn Đức Thâm (2003), Phương pháp dạy học Vật lý ở trường phổ thông, NXB ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Vật lý ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Đức Thâm
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2003
8. Thái Duy Tuyên (1999), Những vấn đề cơ bản giáo dục học hiện đại, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản giáo dục học hiện đại
Tác giả: Thái Duy Tuyên
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
9. Ngô Thị Hải Yến (2009), Một số kỹ năng sử dụng kênh hình trong giảng dạy môn Địa lý ở trường phổ thông, Tạp chí Thiết bị Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kỹ năng sử dụng kênh hình trong giảng dạy mônĐịa lý ở trường phổ thông
Tác giả: Ngô Thị Hải Yến
Năm: 2009
4. Thiết kế bài giảng Vật lý 8 , NXB Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w