Theo Tác giả Jones 2003, “Esessential of Contemporaty Management” Kiểm soát là một quá trình mà nhà quản lý giám sát, điều tiết tổ chức và các thành viên trong cùng tổ chức hoạt động hi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG
***
ĐỖ THỊ HIỀN
HOÀN THIỆN KIỂM SOÁT NỘI BỘ
TẠI MỘT SỐ CHI NHÁNH QUỸ TRỢ VỐN
KHU VỰC TRỤC KINH TẾ BA TỈNH ĐÔNG NAM BỘ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Đồng Nai, Năm 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG
***
ĐỖ THỊ HIỀN
HOÀN THIỆN KIỂM SOÁT NỘI BỘ
TẠI MỘT SỐ CHI NHÁNH QUỸ TRỢ VỐN
KHU VỰC TRỤC KINH TẾ BA TỈNH ĐÔNG NAM BỘ
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS.TRẦN KHÁNH LÂM
Đồng Nai, Năm 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Đề tài luận văn thạc sỹ “Hoàn thiện kiểm soát nội bộ tại một số chi nhánh quỹ trợ vốn thuộc khu vực trục kinh tế ba tỉnh Đông Nam Bộ” hoàn thành sau thời gian học tập, nghiên cứu và tìm hiểu thực trạng tại đơn vị nghiên cứu Ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tác giả đã nhận được sự hỗ trợ nhiệt tình từ phía quý thầy
cô, gia đình, bạn bè, đơn vị nghiên cứu
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy TS.Trần Khánh Lâm đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và khích lệ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này, cũng như đã giúp đỡ tôi hoàn thiện kiến thức chuyên môn của bản thân
Tác giả xin trân trọng cảm ơn đến Ban Giám hiệu, Khoa sau đại học và toàn thể các Quý Thầy, Cô tham gia giảng dạy tại Trường Đại học Lạc Hồng đã truyền đạt những kiến thức quý báu cho bản thân
Tác giả xin chân thành cảm ơn các anh chị là trưởng các chi nhánh CEP Biên Hòa, chi nhánh CEP Thủ Dầu Một, quỹ trợ vốn chi nhánh Bà Rịa cùng toàn thể đội ngũ nhân viên tại các chi nhánh này đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình khảo sát số liệu và hoàn thiện luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Hiền
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, luận văn với đề tài “Hoàn thiện kiểm soát nội bộ tại một số chi nhánh quỹ trợ vốn khu vực trục kinh tế ba tỉnh Đông Nam Bộ” là
do tôi nghiên cứu thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Thầy TS.Trần Khánh Lâm
Các thông tin trong luận văn là những thông tin thu thập thực tế tại đơn
vị Luận văn này chưa được công bố dưới bất kỳ hình thức nào Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình
Đồng Nai, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Hiền
Trang 5TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
Đề tài: “Hoàn thiện kiểm soát nội bộ tại một số chi nhánh quỹ trợ vốn khu vực trục kinh tế ba tỉnh Đông Nam Bộ”
Tác giả luận văn : Đỗ Thị Hiền Lớp : 15CK911
Người hướng dẫn: TS Trần Khánh Lâm
Nội dung tóm tắt:
Kết cấu đề tài gồm 03 chương
Chương 1 : Một số vấn đề lý luận về kiểm soát nội bộ áp dụng trong khu vực công
Trình bày cơ sở lý thuyết về kiểm soát nội bộ Theo hướng dẫn của INTOSAI thì một hệ thống kiểm soát nội bộ được cấu thành từ 5 yếu tố: Môi trường kiểm soát; Đánh giá rủi ro; Họat động kiểm soát; Thông tin và truyền thông; Giám sát
Chương 2 : Thực trạng về hệ thống kiểm soát nội bộ tại một số chi nhánh quỹ trợ
vốn khu vực trục kinh tế ba tỉnh Đông Nam Bộ
Tổng quan về quỹ trợ vốn; Thực trạng KSNB tại một số chi nhánh quỹ trợ vốn khu vực trục kinh tế ba tỉnh Đông Nam Bộ; Đánh giá thực trạng KSNB một số chi nhánh quỹ trợ vốn khu vực trục kinh tế ba tỉnh Đông Nam Bộ
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện KSNB tại một số chi nhánh quỹ trợ vốn khu vực
trục kinh tế ba tỉnh Đông Nam Bộ
Tác giả đưa ra quan điểm xây dựng giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ tại một số chi nhánh quỹ trợ vốn khu vực trục kinh tế ba tỉnh Đông Nam Bộ
Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại một số chi nhánh quỹ trợ vốn khu vực trục kinh tế ba tỉnh Đông Nam Bộ
Kiểm soát nội bộ được xây dựng bởi con người, vận hành theo ý chí chủ quan của con người nên trong quá trình hoạt động, đơn vị luôn có những rủi ro tiềm tàng và hiện hữu Do đó đơn vị cần có kiểm soát nội bộ chặt chẽ, hiệu quả sẽ giúp cho đơn vị quản lý tốt hơn, đạt được mục tiêu đã đề ra
Qua luận văn này tác giả đưa ra những giả pháp có thể góp phần hoàn thiện kiểm soát nội bộ tại một số chi nhánh quỹ trợ vốn khu vực trục kinh tế ba tỉnh Đông Nam Bộ
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Tóm tắt luận văn
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt
Danh mục bảng biểu
Phần mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài 2
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5
7 Kết cấu của luận văn 6
CHƯƠNG 1: Tổng quan về Kiểm soát nội bộ trong khu vực công 7
1.1 Nhu cầu kiểm soát nội bộ của một tổ chức 7
1.2 Khái niệm kiểm soát nội bộ 8
1.3 Lịch sử hình thành và phát triển của Kiểm soát nội bộ trong khu vực công 11
1.3.1 Theo định nghĩa INTOSAI năm 1992 12
1.3.2 Theo định nghĩa INTOSAI năm 2004 13
1.3.3 Theo INTOSAI năm 2013 14
1.3.4 Theo INTOSAI năm 2016 14
1.4 Các yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ theo INTOSAI 2004: 15
1.4.1 Môi trường kiểm soát 15
1.4.2 Đánh giá rủi ro 18
1.4.3 Hoạt động kiểm soát: 19
1.4.4 Thông tin và truyền thông: 22
Trang 71.4.5 Giám sát 23
1.5 Mối quan hệ giữa các thành phần cơ bản của KSNB 23
1.6 Lợi ích và hạn chế tiềm tàng của kiểm soát nội bộ 24
1.6.1 Lợi ích của kiểm soát nội bộ 24
1.6.2 Hạn chế tiềm tàng của kiểm soát nội bộ: 25
Kết luận Chương 1 27
CHƯƠNG 2 Thực trạng KSNB tại một số chi nhánh quỹ trợ vốn khu vực trục kinh tế ba tỉnh Đông Nam Bộ 28
2.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam28 2.2 Chức năng nhiệm vụ của Công đoàn Việt Nam 28
2.3 Tổng quan về Quỹ trợ vốn CEP 30
2.4 Một số chi nhánh Quỹ trợ vốn khu vực trục kinh tế ba tỉnh Đông Nam Bộ 32
2.4.1 Quỹ trợ vốn CEP Thủ Dầu Một- Bình Dương 32
2.4.2 Quỹ trợ vốn chi nhánh CEP Biên Hòa thuộc tỉnh Đồng Nai 33
2.4.3 Quỹ Trợ vốn công nhân viên chức và người lao động nghèo chi nhánh thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu 33
2.5 Mục đích, nhiệm vụ của Quỹ trợ vốn 34
2.6 Nguyên tắc hoạt động của quỹ trợ vốn 35
2.7 Đặc điểm hoạt động của quỹ trợ vốn 36
2.8 Thực trạng kiểm soát nội bộ tại một số chi nhánh quỹ trợ vốn khu vực trục kinh tế ba tỉnh Đông Nam Bộ 37
2.8.1 Môi trường kiểm soát: 38
2.8.2 Đánh giá rủi ro 43
2.8.3 Hoạt động kiểm soát 49
2.8.4 Thông tin và truyền thông 51
2.8.5 Giám sát 53
2.9 Đánh giá kiểm soát nội bộ tại một số chi nhánh quỹ trợ vốn khu vực trục kinh tế ba tỉnh Đông Nam Bộ 54
2.9.1 Môi trường kiểm soát: 54
2.9.2 Đánh giá rủi ro 57
2.9.3 Hoạt động kiểm soát 58
Trang 82.9.4 Thông tin và truyền thông 59
2.9.5 Giám sát 59
Kết luận Chương 2 61
CHƯƠNG 3 Một số giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ tại một số chi nhánh quỹ trợ vốn khu vực trục kinh tế ba tỉnh Đông Nam Bộ 62
3.1 Quan điểm hoàn thiện kiểm soát nội bộ 62
3.1.1 Phù hợp với quy định của INTOSAI 62
3.1.2 Phù hợp với đặc điểm chức năng 62
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ tại một số chi nhánh quỹ trợ vốn khu vực trục kinh tế ba tỉnh Đông Nam Bộ 63
3.2.1 Giải pháp về môi trường kiểm soát 63
3.2.2 Giải pháp về đánh giá rủi ro 66
3.2.3 Giải pháp Hoạt động kiểm soát 70
3.2.4 Giải pháp Thông tin và truyền thông 71
3.2.5 Giải pháp Giám sát 73
3.3 Kiến nghị 74
3.3.1 Đối với quỹ trợ vốn cấp trên 74
3.3.2 Về phía chính quyền địa phương 75
3.3.3 Từ phía một số chi nhánh quỹ trợ vốn khu vực trục kinh tế ba tỉnh Đông Nam Bộ 75
3.3.4 Đối với hộ vay vốn 78
Kết luận Chương 3 79
Kết luận 80
Tài liệu tham khảo
Phụ lục 01
Phụ lục 02
Trang 9TÀI LIỆU THAM KHẢO
I> Tiếng Việt
1 Trần Ngọc Lý (2017), “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại quỹ trợ vốn CEP theo hướng quản trị rủi ro hoạt động” Luận văn Thạc sỹ, Trường Đại học
Tôn Đức Thắng
2 Phạm Hồng Thái (2011) “Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát
nội bộ của ngành y tế tỉnh Long An” Luận văn Thạc sỹ, Trường Đại học Kinh tế
Thành phố Hồ Chí Minh
3 Trịnh Thanh Trúc (2015), Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại
Trường Cao Đẳng Nghề Đồng Nai” Luận văn Thạc sỹ, trường Đại học Lạc Hồng
4 Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2015),“ Hoàn thiện hệ thống KSNB tại Ban Dân
tộc tỉnh Đồng Nai” Luận văn Thạc sỹ, Trường Đại học Lạc Hồng
5 Trần Khánh Lâm (2016), Bài giảng kiểm soát nội bộ dành cho học viên
cao học, Trường Đại học Lạc Hồng
6 Trần Thị Giang Tân (2010), Kiểm soát nội bộ, NXB Phương Đông
II> Tiếng Anh
1 Committee of Sponsoring Organization (COSO) 2004, Inteprise rish management - Intergrated Framework
2 International Organization of Supreme Audit Institutions (INTOSAI) (1992) Internal Control: Providing a Foundation for Accountability in Government
3 International Organization of Supreme Audit Institutions (INTOSAI) (2004) Guidelines for Internal Control Standards for the Pulic Sector
4 Jones (2003), “Esessential of Contemporaty Management”
5 Alvin A.Arens (2012), “Auditing and Asurance Services: An Integrated
Approach”
Trang 10Trang
Bảng 2.1 Bảng kết quả khảo sát về giá trị đạo đức 38
Bảng 2.2 Bảng kết quả khảo sát về năng lực cán bộ 40
Bảng 2.3 Kết quả khảo sát về triết lý lãnh đạo và phong cách điều hành 42
Bảng 2.4 Bảng khảo sát về Thiết lập mục tiêu của tổ chức 43
Bảng 2.5 Bảng khảo sát về Nhận diện rủi ro 44
Bảng 2.6 Khảo sát về đánh giá rủi ro 46
Bảng 2.7 Kết quả khảo sát về Phản ứng rủi ro 48
Bảng 2.8 Kết quả khảo sát về hoạt động kiểm soát 49
Bảng 2.9 Kết quả khảo sát về thông tin và truyền thông 51
Bảng 2.10 Kết quả khảo sát về hoạt động giám sát 53
Trang 11AICPA: AICPA-American Insitute of Certified Public Accountants
(Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ) AusAID Cơ quan Phát triển Quốc tế Úc
COSO Committee Of Sponsoring Organization
(Ủy ban thuộc hội đồng quốc gia Hoa kỳ nhằm chống gian lận và sai sót khi lập báo cáo tài chính)
CEP Capital Aid Fund for Employment of the Poor
(Quỹ trợ vốn cho người lao động nghèo tự tạo việc làm) CAFPE BR-VT Quỹ Trợ vốn công nhân viên chức và người lao động nghèo tỉnh
Bà Rịa - Vũng Tàu GAO Government accountability Office
(Tổng kế toán nhà nước Hoa Kỳ) HTKSNB Hệ thống kiểm soát nội bộ
INTOSAI International Organization of Supreme Audit Instututions
(Tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao) KSNB Kiểm soát nội bộ
SAIs Supreme Audit Institutions
(Cơ quan kiểm toán tối cao) SAS Statement on Auditing Standar
(Chuẩn mực kiểm toán)
Trang 12Trục kinh tế ba tỉnh Đông Nam Bộ (Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu) là một trong những tỉnh phát triển năng động của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là một trong những địa phương có quá trình công nghiệp hóa nhanh, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được cải thiện rõ rệt, thu nhập bình quân của đầu người luôn ở mức cao Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận người lao động nghèo
không có vốn để rộng sản xuất - kinh doanh, chưa có việc làm ổn định
Là đơn vị trực thuộc một tổ chức tín dụng phi lợi nhuận nên Quỹ trợ vốn các chi nhánh tại Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu hoạt động nhằm mục đích
hỗ trợ vốn vay cho người lao động nghèo với hình thức cho vay tính chấp Vì vậy Quỹ trợ vốn có nhiều nguy cơ tiềm ẩn khi xảy ra tình trạng mất khả năng thanh toán khi người vay thuộc diện hộ khó khăn, thu nhập không ổn định
Mặt khác, hoạt động của các chi nhánh quỹ trợ vốn khu vực trục kinh tế ba tỉnh Đông Nam Bộ chủ yếu dựa vào kinh nghiệm quản lý, lãnh đạo người đứng đầu vì vậy hoạt động của các chi nhánh quỹ trợ vốn đứng trước nhiều rủi ro hoạt động nhất
là khâu quản lý Nhằm thực hiện tốt hoạt động trợ vốn có hiệu quả và hạn chế những rủi ro trong quá trình thực hiện, đơn vị cần có hệ thống kiểm soát nội bộ làm công cụ quản lý hiệu quả Trong thời gian qua, công cụ này hiện chưa được chú trọng
Vì vậy, việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả tại đơn vị là một nhiệm vụ cần thiết hiện nay và trong thời gian tới Đó
Trang 13chính là lý do mà tác giả lựa chọn để thực hiện đề tài: “Hoàn thiện kiểm soát nội bộ
tại một số chi nhánh Quỹ trợ vốn khu vực trục kinh tế ba tỉnh Đông Nam Bộ” làm
luận văn tốt nghiệp thạc sỹ ngành kế toán của trường Đại Học Lạc Hồng
2 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài
* Các nghiên cứu nước ngoài có liên quan đến đề tài
Dưới góc độ nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ ảnh hưởng đến hoạt động tài chính trong khu vực công, tác giả Muraleethanran P đã nghiên cứu đề tài
“Internal Control and Impact of Financial Performance of the Organizations” Tác
giả đã đặt ra giả thuyết là hệ thống kiểm soát nội bộ có làm tăng hiệu quả hoạt động của tổ chức Các tổ chức công hầu hết sử dụng những người kém năng lực trong việc cập nhật tiến độ, thay đổi kỹ thuật quản lý nên ít có khả năng thực hiện nhiều kiểm soát nội bộ như (kiểm tra, giám sát, phân quyền…) Kiểm toán thừa nhận quan trọng trong các tiêu chuẩn kiểm soát sửa đổi để kiểm soát nội bộ đạt hiệu quả
Trong nghiên cứu của tác giả Muraleethanran P, kiểm soát nội bộ được đo lường bằng môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro Hoạt động kiểm soát và hoạt động tài chính được đo lường bằng lợi nhuận, tính thanh khoản và năng suất Kết quả nghiên cứu cho thấy kiểm soát nội bộ và kết quả hoạt động tài chính có mối quan hệ tích cực trong việc xác định hiệu quả hoạt động của tổ chức Tuy nhiên mối quan hệ không có ý nghĩa thống kê với môi trường kiểm soát, thông tin truyền thông và hoạt động tài chính
Hệ thống quản lý là một hoạt động cần xem xét khi muốn hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động hiệu quả Hệ thống quản lý phải được tiếp cận với nhiều khía cạnh khác nhau và sẽ có nhiều điểm về quản lý khác nhau Theo Tác giả Harold Koontz
(1992) đã nhận định rằng quản lý là “Quá trình nhằm đạt được sự khéo léo sử dụng
các nguồn lực có hiệu quả”
Theo Tác giả Jones (2003), “Esessential of Contemporaty Management”
Kiểm soát là một quá trình mà nhà quản lý giám sát, điều tiết tổ chức và các thành viên trong cùng tổ chức hoạt động hiệu lực, hiệu quả mang lại mục tiêu chung của
tổ chức.Tuy nhiên việc kiểm soát không chỉ là phản ứng với sự kiện đã xảy ra hay
mà kiểm soát còn giữ cho đơn vị dự báo được những sự kiện có thể xảy ra
Theo Alvin A.Arens (2012), “Auditing and Asurance Services: An Integrated
Approach” Hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm các chính sách và những thủ tục
Trang 14cung cấp cho nhà quản lý sự đảm bảo hợp lý về khả năng đạt được mục tiêu đề ra Theo đó, hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm các quy định, thủ tục kiểm soát và sẽ ảnh hưởng đến các yếu tố của hệ thống kiểm soát nội bộ Hệ thống KSNB chỉ đạt được hiệu quả khi nó đáp ứng các mục tiêu như: đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính, sự hiệu lực, hiệu quả và đảm bảo sự tuân thủ các quy định của Pháp luật
* Các nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài:
Trong những năm gần đây, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ của các đơn vị sự nghiệp như:
- Một là, nghiên cứu của tác giả Trần Ngọc Lý (2017), “Hoàn thiện hệ thống
kiểm soát nội bộ tại quỹ trợ vốn CEP theo hướng quản trị rủi ro hoạt động”.Luận
văn Thạc sỹ, Trường Đại học Tôn Đức Thắng Tác giả đã nghiên cứu dựa trên các yếu tố cấu thành hệ thống KSNB của INTOSAI 2004, tác giả tập trung nghiên cứu
về hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ theo hướng quản trị rủi ro hoạt động, tác giả đánh giá thực trạng ưu điểm, hạn chế của hệ thống kiểm soát nội bộ tại quỹ trợ vốn CEP từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện Tuy nhiên, tác giả chưa mở rộng nghiên cứu ra các phạm vi khác
- Hai là, nghiên cứu của tác giả Phạm Hồng Thái (2011) “Một số giải pháp
hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ của ngành y tế tỉnh Long An” Luận văn Thạc
sỹ, trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Đề tài nghiên cứu trong lĩnh vực y tế, tác giả nghiên cứu dựa trên 5 yếu tố cấu thành của COSO (1992) Tuy nhiên, tác giả chỉ nghiên cứu hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ dựa trên góc nhìn tổng quan, chung nhất mà chưa tiếp cận chu trình cụ thể nên chưa đưa ra các giải pháp cụ thể
- Ba là, nghiên cứu của tác giả Trịnh Thanh Trúc (2015), Hoàn thiện hệ
thống kiểm soát nội bộ tại Trường Cao Đẳng Nghề Đồng Nai” Luận văn Thạc sỹ,
trường Đại học Lạc Hồng Tác giả dựa trên cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ của
INTOSAI, sử dụng phương pháp định tính, tác giả đánh giá thực trạng ưu điểm, hạn chế của hệ thống kiểm soát nội bộ tại trường Cao Đẳng nghề Đồng Nai từ đó dựa trên các quy định của trường, của ngành tác giả đưa ra các giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu hơn
- Bốn là, nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2015),“ Hoàn thiện
hệ thống KSNB tại Ban Dân tộc tỉnh Đồng Nai” Luận văn Thạc sỹ, Trường Đại học
Trang 15Lạc Hồng Tác giả nghiên cứu và phân tích dựa trên khuôn khổ KSNB của COSO
(năm 1992), chủ yếu hướng dẫn KSNB khu vực công của INTOSAI (1992), cập nhật năm 2013 Phân tích nghiên cứu chủ yếu việc kiểm soát, nhận diện các rủi ro xảy ra trong quá trình triển khai thực hiện chính sách tại Ban Dân tộc Tuy nhiên mẫu khảo sát chưa lớn nên độ tin cậy chưa cao
Như đã nêu ra ở trên, đã có nhiều luận văn nghiên cứu liên quan đến kiểm soát nội bộ Các nghiên cứu chủ yếu phân tích theo nhóm ngành, từng đơn vị riêng Hầu hết các tác giả sử dụng bảng câu hỏi có hoặc không khi thực hiện phiếu khảo sát Thông qua đó, các tác giả đã tìm ra nguyên nhân và đề ra các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện KSNB và những kiến nghị, đề xuất các cơ quan có liên quan góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị
Trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu quốc tế và nghiên cứu trong nước, tác giả tiếp tục nghiên cứu tìm hiểu thực trạng kiểm soát nội bộ tại một số chi nhánh quỹ trợ vốn khu vực trục kinh tế ba tỉnh Đông Nam Bộ Tìm hiểu những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân từ đó đưa ra những giải pháp cần thiết nhằm hoàn thiện kiểm soát nội bộ tại một số chi nhánh quỹ trợ vốn khu vực trục kinh tế ba tỉnh Đông Nam Bộ giúp nâng cao hiệu quả đạt các mục tiêu đã đề ra
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài :
* Mục tiêu chung: “Hoàn thiện kiểm soát nội bộ tại một số chi nhánh Quỹ
trợ vốn khu vực trục kinh tế ba tỉnh Đông Nam Bộ”
* Mục tiêu cụ thể như sau:
Sự cần thiết của việc hoàn thiện kiểm soát nội bộ tại một số chi nhánh Quỹ trợ vốn khu vực trục kinh tế ba tỉnh Đông nam Bộ nhằm hướng đến mục tiêu cụ thể như sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ để làm rõ các vấn đề lý luận trong kiểm soát nội bộ khu vực công, đặc biệt trong các tổ chức cho vay tín dụng khu vực công dưới góc độ quản trị rủi ro nhằm hướng cho các đơn vị quỹ trợ vốn hoàn thiện kiểm soát nội bộ theo cách phù hợp với tình hình cơ cấu tổ chức của đơn
vị
- Qua bảng khảo sát thực tế, tác giả đã tiến hành tổng hợp phân tích, đánh giá thực trạng kiểm soát nội bộ tại đơn vị để làm cơ sở đề ra các giải pháp hoàn thiện
Trang 16- Trên cơ sơ lý luận và kết quả thực tiễn khảo sát, tác giả đề xuất giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ tại một số chi nhánh quỹ trợ vốn khu vực trục kinh tế
ba tỉnh Đông Nam Bộ phù hợp với điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội, hệ thống chính sách pháp luật…
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu : Luận văn tập trung nghiên cứu KSNB tại Quỹ trợ
vốn CEP Biên Hòa - Đồng Nai, quỹ Trợ vốn CEP Thủ Dầu Một - Bình Dương và quỹ trợ vốn Bà Rịa tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
- Phạm vi về nội dung: Trên cơ sở lý thuyết theo báo cáo INTOSAI 2004,
tình hình hoạt động của quỹ trợ vốn chi nhánh CEP Biên Hòa, quỹ trợ vốn Chi nhánh CEP Thủ Dầu Một và quỹ trợ vốn chi nhánh Bà Rịa
- Phạm vi về thời gian:
+ Đề tài được thực hiện tại Quỹ trợ vốn chi nhánh CEP - Biên Hòa, quỹ trợ vốn Chi nhánh CEP-Thủ Dầu Một và quỹ trợ vốn chi nhánh Bà Rịa
+ Thời gian thực hiện từ tháng 6/2017 đến tháng 10/2017
5 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu sử dụng bằng việc kết hợp các phương pháp khác nhau, tùy thuộc vào mục đích từng chương để vận dụng, cụ thể như sau:
Chương 1: Được thực hiện bằng phương pháp tổng hợp lý thuyết, hệ thống các lý luận từ các tài liệu khoa học trong và ngoài nước về kiểm soát nội bộ Phân tích các yếu tố cấu thành kiểm soát nội bộ
Chương 2: Thực hiện phương pháp định tính, phương pháp khảo sát nhằm đánh giá thực trạng KSNB tại đơn vị
Chương 3: Chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích và quy nạp dựa trên cơ
sở lý luận ở chương 1, phân tích thực trạng ở chương 2, để đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả của kiểm soát nội bộ tại đơn vị
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận văn xác định được ý nghĩa quan trọng của công tác KSNB tại các chi nhánh Quỹ trợ vốn khu vực trục kinh tế ba tỉnh Đông Nam Bộ, đặc biệt là hoạt động cho vay của quỹ trợ vốn thông qua việc phân tích những cơ sở lý luận về hoàn thiện kiểm soát nội bộ; những mặt hạn chế, các nhân tố ảnh hưởng, các thủ tục KSNB
Trang 17Luận văn nêu thực tế về công tác KSNB tại đơn vị, những mặt đã đạt được
và những vấn đề còn tồn tại của công tác KSNB đặc biệt trong hoạt động quản trị rủi ro quỹ trợ vốn tại các chi nhánh CEP tại Biên Hòa, CEP Thủ Dầu Một và quỹ trợ vốn chi nhánh Bà Rịa
Luận văn cũng đã đưa ra các giải pháp và đề xuất kiến nghị chủ yếu để giảm thiểu những sai sót, gian lận, hạn chế rủi ro hoạt động góp phần vào sự phát triển của đơn vị Đây là ý nghĩa thực tiễn cần thiết của đề tài
7 Kết cấu luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được trình bày kết cấu 3 chương:
- Chương 1: Tổng quan về kiểm soát nội bộ trong khu vực công
- Chương 2: Thực trạng kiểm soát nội bộ tại một số chi nhánh quỹ trợ vốn khu vực trục kinh tế ba tỉnh Đông Nam Bộ
- Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại một
số chi nhánh quỹ trợ vốn khu vực trục kinh tế ba tỉnh Đông Nam Bộ
Trang 18CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ
TRONG KHU VỰC CÔNG
1.1 Nhu cầu kiểm soát nội bộ của một tổ chức:
Trong quá trình điều hành, quản lý một tổ chức, hoạt động kiểm tra, kiểm soát có vai trò rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển đơn vị Nó giúp cho nhà quản lý hiện thực hóa các mục tiêu phát triển, các ý tưởng Công tác kiểm tra, giám sát sẽ giúp cho các bộ phận trong cùng một tổ chức phối hợp hoạt động một cách hợp lý, đảm bảo bộ máy hoạt động thông suốt
Hoạt động kiểm soát thường được người lãnh đạo tổ chức thực hiện là kiểm soát bên trong và kiểm soát bên ngoài Bằng cách thông qua các thông tin có sẵn bên trong (quy chế, công nghệ, ngân sách ) và những thông tin bên ngoài để thực hiện các mục tiêu dựa vào việc tổ chức và các kỹ năng lãnh đạo, quản lý của người đứng đầu
Công tác quản lý cũng đã bắt đầu khi một tổ chức được thành lập, muốn tồn tại và phát triển đều thực hiện bằng nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào kỹ năng lãnh đạo của người đứng đầu và bằng các phương pháp tác động đến các đối tượng được quản lý như phương pháp giáo dục, thuyết phục; phương pháp kinh tế; phương pháp tổ chức; phương pháp cưỡng chế…
+ Phương pháp giáo dục, thuyết phục: đây là phương pháp các nhà lãnh đạo, quản lý tác động vào nhận thức của con người trong tổ chức nhằm nâng cao tính tự giác và phát huy tính sáng tạo của họ trong xử lý công việc và thực hiện tốt nhiệm
vụ được giao Bằng cách giải thích, động viên, hướng dẫn, chứng minh dựa trên khía cạnh tâm lý con người để tác động đến nhận thức, tâm tư, tình cảm và làm thay đổi hành vi, giúp họ có thể phân biệt đúng, sai để nỗ lực cống hiến tài năng theo hướng có trách nhiệm
+ Phương pháp tổ chức: đây là cách thức để đưa con người vào một khuôn khổ chung của và thực hiện đúng chức trách nhiệm vụ được giao thông qua các quy định của Pháp luật; hoặc xây dựng các quy chế, nội quy của cơ quan, đơn vị phù hợp với chức năng nhiệm vụ của ngành, bộ phận, ngoài ra cũng căn cứ vào quy chế
để tiến hành, khen thưởng cá nhân có thành tích xuất sắc hoặc đưa ra các hình thức
kỷ luật các trường hợp vi phạm một cách công khai dân chủ
Trang 19+ Phương pháp kinh tế: tác động đến các chủ thể thông qua lợi ích kinh tế nhằm tạo động lực cho cấp dưới phát huy tiềm năng sẵn có nhằm thực hiện các nhiệm vụ nhanh nhất và có hiệu quả nhất Đáp ứng lợi ích giữa tổ chức và cá nhân, thúc đẩy nhân viên lựa chọn phương án tiết kiệm và có hiệu quả Phương pháp này chủ yếu khuyến khích bằng cách khen thưởng, bằng hiện vật, phụ cấp hoặc các ưu đãi mang tính vật chất
+ Phương pháp cưỡng chế: Cưỡng chế là biện pháp bắt buộc bằng bạo lực của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền đối với những cá nhân, tổ chức nhất định trong những trường hợp pháp luật quy định buộc cá nhân, tổ chức đó phải thực hiện hay không thực hiện những hành vi nhất định hoặc phải phục tùng những hạn chế về mặt tài sản hoặc tự do thân thể
Trong tất cả các phương pháp kể trên, nhà quản lý cần áp dụng và kết hợp nhiều phương pháp để chúng hỗ trợ lẫn nhau, tuy nhiên tùy từng hoàn cảnh, điều kiện cụ thể mà sử dụng một phương pháp giữ vai trò then chốt nhằm hướng tới mục tiêu nhanh nhất
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, của khoa học kỹ thuật… nhằm kiểm soát tổ chức hoạt động theo hướng chuyên môn hóa, giúp nhân viên lập
kế hoạch và xây dựng được phương pháp hiệu quả nhất trong việc quản lý hiện hữu
Từ đó khái niệm kiểm soát nội bộ đã bắt đầu xuất hiện
Khái niệm kiểm soát nội bộ đã được hình thành và dần phát triển để làm cơ
sở cho các tổ chức, đơn vị mới bắt đầu hoạt động và cả những đơn vị hoạt động thời gian dài có thể làm hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích của tập thể, lợi ích của người lao động với lợi ích của tổ chức, thực hiện đúng các quy định của Pháp luật
mà không ảnh hưởng đến lợi ích của cá nhân hay tổ chức
1.2 Khái niệm kiểm soát nội bộ
Theo các tài liệu về kiểm toán, khái niệm kiểm soát nội bộ (KSNB) bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ 20 với ý nghĩa như là các biện pháp để bảo vệ và kiểm soát tiền Trong những năm tiếp theo, khái niệm KSNB được mở rộng và được các kiểm toán viên đặc biệt quan tâm trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính
Năm 1929, Theo công bố của Cục dự trữ liêng bang Hoa Kỳ (Federal Reserve Bulletin) nêu rõ KSNB ngoài kiểm soát tiền còn nhằm mục đích bảo vệ tài
Trang 20sản, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của người lãnh đạo đơn vị Như vậy, khái niệm về KSNB dần được mở rộng không chỉ kiểm soát tiền, kiểm soát tài sản như đã nói ở trên mà còn kiểm soát được sự chính xác trong việc ghi chép sổ kế toán, ngoài ra khuyến khích nhân viên tuân thủ đúng theo yêu cầu của người quản
lý
Đến năm 1939, hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA-American Insitute of Certified Public Accountants) đã ban hành nhiều chuẩn mực đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau trong KSNB Hiệp hội đã phân biệt khái niệm về KSNB
về kế toán và KSNB về quản lý AICPA đã soạn thảo và ban hành chuẩn mực kiểm toán SAS ( Statement on Auditing Standar) thay thế cho thủ tục kiểm toán Cụ thể
Hiệp hội đã đưa ra công bố: “Kiểm soát nội bộ là các biện pháp và cách thức được
chấp nhận và được thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tiền và các tài sản khác, cũng như kiểm tra sự chính xác trong ghi chép của sổ sách”
Trong những năm thập niên 1970 đến 1980, cùng với sự phát triển khoa học
kỹ thuật, nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới phát triển mạnh mẽ Đặc biệt các
vụ gian lận về kinh tế ngày càng gia tăng rộng rãi với quy mô lớn gây tổn thất không nhỏ đến tình hình kinh tế Hoa Kỳ và cả khu vực Khi đó, vai trò của kiểm soát nội bộ đã được chú trọng vào việc thiết kế kiểm soát nội bộ của đơn vị mình và
áp dụng vào khi thực hiện kiểm toán
Năm 1977, Luật chống hối lộ nước ngoài (Foreign Corupt Practices act)
được thành lập sau vụ tai tiếng chính trị Watergate, Hoa kỳ đã phát hiện nhiều vụ rửa tiền liên quan đến nước ngoài và vận động tranh cử trái phép xảy ra Chính thời gian này, vai trò KSNB đã được nhấn mạnh để ngăn ngừa các khoản thanh toán bất hợp pháp cho nước ngoài được Quốc Hội Hoa Kỳ quy định trong văn bản pháp luật
Năm 1979, Ủy Ban chứng khoán Hoa Kỳ (Sercurities and Exchange
Commission) bắt buộc các công ty báo cáo về kiểm soát nội bộ công tác kế toán đơn
vị mình ra công chúng Điều này gây nhiều tranh cãi khi thực hiện, một trong những nguyên nhân đó là thiếu tiêu chuẩn đánh giá tính hiệu quả của kiểm soát nội bộ
Từ những tranh cãi này, 5 tổ chức nghề nghiệp là:
+ AICPA (Hiệp hội kế toán viên công chúng Mỹ)
+ AAA (Hội kế toán Mỹ - American Accounting Association)
+ FEI ( Hội quản trị viên tài chính - Finalcial Executies Isntitute)
Trang 21+IMA (Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ - Institute of Managemet Accountans) + IIA (Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ - Institute of Internal Audiors)
Đã thống nhất thành lập Ủy ban COSO (Committee Of Sponsoring Organization) thường được gọi là Ủy ban Treadway
Được thành lập vào năm 1985, COSO (Committee Of Sponsoring Organization) là Ủy ban thuộc hội đồng quốc gia Hoa kỳ nhằm chống gian lận và sai sót khi lập báo cáo tài chính (National Commission on Financial Reporting)
Trong quá trình hoạt động và nghiên cứu của mình Năm 1992, COSO đã tổng kết và có bản báo cáo đầu tiên về hệ thống kiểm soát nội bộ như sau:
“Kiểm soát nội bộ là một quá trình bị chi phối bởi người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu sau đây:
(1) Sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động
(2) Sự tin cậy của báo cáo tài chính
(3) Sự tuân thủ pháp luật và các quy định”
Ngoài báo cáo COSO, Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) cũng cho rằng kiểm soát nội bộ là hệ thống các văn bản về chính sách và quy định được các nhà tổ chức đặt ra nhằm đạt được các mục tiêu như: Bảo vệ tài sản của tổ chức; bảo đảm hệ thống thông tin chặt chẽ và có tính chính xác cao; đảm bảo tuân thủ các quy định của Pháp luật và đảm bảo hiệu quả hoạt động quản lý
Từ khái niệm của hai tổ chức trên, Hệ thống kiểm soát nội bộ có đặc điểm như sau:
+ Kiểm soát nội bộ là một quá trình: đó là một hoạt động được diễn ra liên tục từ khi lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và tổng kết Trong quá trình thực hiện, các tổ chức đều phải thường xuyên kiểm tra, giám sát, đây là hoạt động thường xuyên và quan trọng của bất cứ một nhà quản lý, giúp nhà quản lý đánh giá tổng thể hoạt động theo kế hoạch và đúng mục tiêu đã đề ra Các hoạt động này diễn ra liên tục tại các phòng ban, bộ phận và tạo thành một thể thống nhất Hoạt động kiểm tra, kiểm soát chủ yếu phòng ngừa các sai sót nhưng cũng là hoạt động khuyến khích các hoạt động tích cực khác Căn cứ của hoạt động này là các quy định của Pháp luật, nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị quy định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của từng cá nhân, qua bảng mô tả công việc…
Trang 22+ Kiểm soát nội bộ được thiết kế và vận hành bởi con người: để vận hành bộ máy, thực hiện các hoạt động cần có con người làm việc, đội ngũ con người là nguồn lực không thể thiếu để tiến hành các hoạt động, là người trực tiếp thực hiện các chức năng, nhiệm vụ bảo đảm hoạt động và hiệu quả của tổ chức Chỉ có thông qua hoạt động cụ thể con người mới cống hiến hết tài năng và sức lực của mình cho
tổ chức Như vậy, chính con người là nhân tố vận hành kiểm soát nội bộ và giúp tổ chức đạt được mục tiêu đề ra
+ Kiểm soát nội bộ cung cấp một sự đảm bảo hợp lý: Trong một tổ chức luôn
có những rủi ro và hạn chế nhất định Được vận hành bởi con người nên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đều có những hạn chế Trong quá trình đưa ra quyết định, con người có thể mắc sai lầm do trình độ chuyên môn, năng lực, thiếu kinh nghiệm thực tế, sự lạm dụng quyền lực…Chính vì vậy, kiểm soát nội bộ chỉ đảm bảo ở sự hợp lý chứ không thể đảm bảo sự tuyệt đối
+ Kiểm soát nội bộ nhằm đạt được các mục tiêu: Việc thiết lập kế hoạch và
sử dụng tất cả các nguồn lực trong quá trình thực hiện đều nhằm đạt được mục tiêu
đã đề ra Các mục tiêu đó là tính đáng tin cậy của thông tin báo cáo tài chính; việc tuân thủ các hoạt động theo đúng quy định của Pháp luật và tính hữu hiệu, hiệu quả hoạt động của tổ chức
Bên cạnh đó, hệ thống KSNB trong đơn vị được cấu thành bởi 5 bộ phận là: Môi trường kiểm soát; đánh giá rủi ro; hoạt động kiểm soát; thông tin và truyền thông; giám sát
1.3 Lịch sử hình thành và phát triển của kiểm soát nội bộ trong khu vực công
Kiểm soát nội bộ trong khu vực công đã được kiểm toán viên nhà nước từ lâu xem là mối quan tâm hàng đầu trong việc chống thất thoát lãng phí tài chính của nhà nước Một số quốc gia như Canada hoặc Mỹ đã công bố chính thức về KSNB trong khu vực công Chuẩn mực về kiểm toán của Tổng kế toán nhà nước Hoa Kỳ (GAO- Government accountability Office) đã đưa ra 5 yếu tố về kiểm soát nội bộ là môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin truyền thông
và Giám sát
Trang 23Cùng với sự hình thành và phát triển của hệ thống kiểm soát nội bộ trong khu vực công Năm 1953 Tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI- International Organization of Supreme Audit Instututions) ra đời tại Havana, Cuba Trụ sở chính đạt tại thành phố Vienna, Áo Đây là nơi các kiểm toán viên nhà nước cùng trao đổi các thông tin, các vấn đề được quan tâm trên toàn thế giới
Đây là cơ quan độc lập mà các cơ quan kiểm toán tối cao (SAIs-Supreme Audit Institutions) trao đổi ý tưởng, những kinh nghiệm trong việc kiểm toán chính phủ
Các cơ quan này thành lập do luật pháp mỗi quốc gia đó, nhằm thực thi pháp luật, thực hiện chức năng cao nhất của kế toán trong khu vực công INTOSAI cũng
đã thiết lập các ủy ban, nhóm, đội thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu các vấn đề chuyên môn với các thành viên các cơ quan kiểm toán tối cao(SAIs) và qua đó đã phát triển các kết quả thành những văn bản chuyên nghiệp về kế toán cụ thể là những chuẩn mực và các văn bản hướng dẫn
Qua quá trình phát triển, không thể phủ nhận tổ chức này đã thúc đẩy sự trao đổi kiến thức, kinh nghiệm trong lĩnh vực kiểm toán Các nhóm, ủy ban, đội sẽ làm việc và đóng vai trò như một diễn đàn giúp các thành viên có hướng đi cần thiết cho từng trường hợp cụ thể Ngoài ra, INTOSAI còn phối hợp với Liên đoàn kế toán quốc tế trong việc ban hành các chuẩn mực kiểm toán quốc tế
Vì vậy, INTOSAI giữ một vị trí quan trọng trong nền kinh tế vĩ mô trên thế giới nói chung và trong lĩnh vực hoạt động kế toán, kiểm toán nói riêng
Hệ thống các chuẩn mực kiểm toán do INTOSAI ban hành gồm các quy tắc đạo đức nghề nghiệp và chuẩn mực kiểm toán
1.3.1 Theo định nghĩa INTOSAI năm 1992
Năm 1992, bản hướng dẫn về hệ thống kiểm soát nội bộ trong khu vực công
đã được tập hợp ban hành thành tài liệu có tính hệ thống giúp cho các nhà quản lý
làm nền tảng trong việc thực hiện đánh giá kiểm soát nội bộ tại đơn vị
Theo INTOSAI (1992), khái niệm về KSNB được định nghĩa như sau:
“KSNB là cơ cấu của một tổ chức bao gồm nhận thức, phương pháp, quy trình và
các biện pháp của người lãnh đạo nhằm bảo đảm sự hợp lý để đạt được các mục tiêu của tổ chức”
Trang 241.3.2 Theo định nghĩa INTOSAI năm 2004
Vào năm 2001, Tổ chức Quốc tế các cơ quan kiểm toán dựa trên bản hướng dẫn của INTOSAI (1992) đã tổng hợp các lý luận chung về kiểm soát nội bộ của COSO, cập nhật thêm các chuẩn mực về kiểm soát nội bộ để phù hợp với sự phát triển và được công bố vào năm 2004
Theo INTOSAI (2004), khái niệm về KSNB được định nghĩa như sau:
“Kiểm soát nội bộ là một quá trình xử lý toàn bộ được thực hiện bởi nhà quản lý và các cá nhân trong đơn vị, quá trình này được thiết lập để phát hiện các rủi ro và cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu, nhiệm vụ chung của tổ chức”
Từ khái niệm trên, ta thấy có 5 đặc điểm chính, đó là:
- Kiểm soát nội bộ là một quá trình: Kiểm soát nội bộ không phải là từng
hoạt động đơn lẻ mà nó là chuỗi hoạt động được thể hiện trong tất cả các bộ phận trong cùng một tổ chức, nó được kết hợp với nhau thành một thể thống nhất nhằm giúp cho mục tiêu của đơn vị đạt được một cách nhanh chóng
- Kiểm soát nội bộ chịu sự chi phối bởi yếu tố con người: Kiểm soát nội bộ
do con người thiết lập và vận hành trong tất cả các hoạt động Con người ở dây là ban lãnh đạo, nhà quản lý và tất cả những cán bộ, công nhân viên trong tổ chức Khi các thành viên trong cùng tổ chức nhận thức được trách nhiệm, quyền hạn và cùng hướng đến mục tiêu chung thì kiểm soát nội bộ sẽ thật sự hiệu quả, tạo thành sức mạnh tổng hợp giúp nhà lãnh đạo hoàn thành tốt các chỉ tiêu, kế hoạch đã đặt ra
- Kiểm soát nội bộ được thiết lập để phát hiện các rủi ro: Trong quá trình
hoạt động, tổ chức luôn phải đối diện nhiều rủi ro phát sinh Vì vậy, kiểm soát nội
bộ giúp tổ chức có thể chủ động phòng ngừa, đưa ra các biện pháp cần thiết để đối phó các rủi ro nhằm tối đa hóa khả năng đạt được các mục tiêu
- Kiểm soát nội bộ cung cấp một sự đảm bảo hợp lý: Trong một tổ chức luôn
có sự hoạt động năng động, sáng tạo của yếu tố con người, nó luôn xuất hiện những hạn chế và rủi ro tiềm tàng do sự thông đồng của các nhân viên hay sự lạm dụng quyền lực của nhà quản lý…Kiểm soát nội bộ chỉ có thể phòng ngừa, phát hiện những vi phạm nhưng không đảm bảo những vi phạm đó hoàn toàn không xảy ra
Do đó, kiểm soát nội bộ đảm bảo cung cấp một sự hợp lý, không thể đảm bảo tuyệt đối
Trang 25- Các mục tiêu của kiểm soát nội bộ: Mục tiêu của tổ chức luôn được xác
định từ khi có quyết định thành lập và tất cả các hoạt động của tổ chức đều hướng vào mục tiêu chính đã đề ra, tất cả các hoạt động đều có những ý nghĩa, tầm quan trọng đối với sự phát triển của tổ chức Trong khu vực công mục tiêu chủ yếu là hướng đến lợi ích của cộng đồng và thực hiện các dịch vụ công cộng cho nhân dân
Nó bao gồm các mục tiêu sau:
+ Mục tiêu hoạt động: Nhằm hiện thực hóa các mục tiêu phát triển của địa
phương, phục vụ lợi ích của cộng đồng dân cư để đạt được hiệu quả trong thực hiện chức năng của tổ chức Các hoạt động đều được đảm bảo thực hiện một cách kỷ luật, hiệu quả, phù hợp và thực hiện đúng trách nhiệm
+ Mục tiêu báo cáo: liên quan đến việc cung cấp thông tin báo cáo tài chính,
thông tin báo cáo từng hoạt động cụ thể kịp thời và phù hợp cho các đối tượng bên trong và bên ngoài đơn vị
+ Mục tiêu tuân thủ: Tuân thủ các quy định của Pháp luật, các chính sách,
hiến pháp của quốc gia, tuân thủ công ước quốc tế và các quy định có liên quan
+ Mục tiêu bảo vệ nguồn lực: Đó là cách sử dụng, khai thác các nguồn lực về
tự nhiên, nguồn lực con người, nguồn lực tài chính nhằm tránh sự lãng phí nguồn lực quốc gia Đặc thù khu vực công, INTOSAI nhấn mạnh thêm về cách quản lý và
sử dụng ngân sách đảm bảo tránh thất thoát, tránh việc sử dụng sai mục đích và đặc biệt phải bảo vệ các nguồn lực quốc gia hiện có
1.3.3 Theo INTOSAI năm 2013
Theo INTOSAI (2013), khái niệm về kiểm soát nội bộ được nêu như
sau:“Kiểm soát nội bộ cũng giống như hướng dẫn của INTOSAI năm 2004, tuy
nhiên về mục tiêu của báo cáo INTOSAI thay đổi theo hướng dẫn về quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ và biện pháp để giảm thiểu gian lận, từ đó giúp cải thiện hiệu quả hoạt động cũng như tăng cường sự giám sát của tổ chức”
1.3.4 Theo INTOSAI năm 2016
Đại hội quốc tế Các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI) lần thứ 22 được tổ chức từ ngày 06/12/2016 đến ngày 11/12/2016 tạiAbu Dhabi - Các Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất Đến dự có hơn 625 đại biểu từ 210 Cơ quan kiểm toán tối
Trang 26cao (SAI) của các nước là thành viên của INTOSAI Có hai chủ đề chính mà đại hội lần này xoay quanh thảo luận là:
+ Các mục tiêu phát triển bền vững: Chủ yếu quản trị tốt nguồn lực và tăng
cường công tác phòng chống tham nhũng ở mỗi quốc gia
+ Chuyên nghiệp hóa: Thể hiện sự chuyên nghiệp trong quá trình quản lý,
nhằm đẩy mạnh uy tín của INTOSAI so với các tổ chức khác trên thế giới
1.4 Các yếu tố cấu thành kiểm soát nội bộ theo INTOSAI 2004:
Tác giả lựa chọn INTOSAI 2004 để làm rõ cơ sở lý luận 05 yếu tố cấu thành kiểm soát nội bộ để thực hiện đề tài luận văn vì phiên bản INTOSAI 1992 có thể nói không phù hợp trong điều kiện hoàn thiện kiểm soát nội bộ hiện nay Mặt khác INTOSAI 2013 và INTOSAI 2016 phù hợp với những đơn vị có quy mô lớn, trong khi cơ cấu tổ chức của các chi nhánh quỹ trợ vốn khu vực trục kinh tế ba tỉnh Đông Nam Bộ với hệ thống quy mô nhỏ, số lượng nhân viên đơn vị ít và chưa thành lập
hệ thống kiểm soát nội bộ riêng biệt Vì vậy, tác giả lựa chọn INTOSAI 2004 để nghiên cứu vì phù hợp với đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
1.4.1 Môi trường kiểm soát
Trong một tổ chức, môi trường kiểm soát là yếu tố then chốt ảnh hưởng đến
ý thức kiểm soát của cán bộ, công nhân viên Nó phản ánh sắc thái của đơn vị, tác động đến ý thức của con người Các tổ chức có kiểm soát nội bộ hiệu quả thường có
bộ phận nhân viên đủ trình độ, năng lực và có ý thức về việc kiểm soát
Môi trường kiểm soát là nền tảng, bổ trợ cho các yếu tố khác trong 5 yếu tố của hệ thống kiểm soát nội bộ, giúp cho môi trường làm việc có sự kỷ luật, kỷ cương tạo nên môi trường làm việc chuyên nghiệp của một tổ chức
Một đơn vị có kiểm soát nội bộ hữu hiệu thường có những nhân viên đủ năng lực, trình độ, có ý thức về tính trung thực và ý thức về kiểm soát Điều này do lãnh đạo thông qua bởi các nội quy, quy chế, tính kỷ luật thuộc về đạo đức, triết lý lãnh đạo, phong cách điều hành
Môi trường kiểm soát bao gồm các yếu tố:
-Tính chính trực và giá trị đạo đức của người lãnh đạo và đội ngũ nhân viên cấp dưới
Trang 27- Năng lực đội ngũ nhân viên, triết lý lãnh đạo và phong cách điều hành của lãnh đạo;
-Cơ cấu tổ chức và quyền hạn, trách nhiệm của các bộ phận của tổ chức
- Chính sách dành cho nguồn nhân lực tại đơn vị
Trong các yếu tố trong môi trường kiểm soát đều có những tác động tích cực đến mục tiêu của tổ chức, từng bộ phận của tổ chức từ khi thành lập đến quá trình hoạt động trong tương lai Tuy nhiên, mỗi tổ chức đều có những đặc thù riêng, mục tiêu hoạt động riêng nên mức độ quan trọng của mỗi yếu tố phụ thuộc vào từng tổ chức
-Tính chính trực và giá trị đạo đức: Là yếu tố quan trọng trong môi trường
kiểm soát, nó tác động đến việc lập kế hoạch, triển khai tổ chức thực hiện và giám sát các nhân tố khác Tính chính trực và giá trị đạo đức được thông qua thái độ, cách ứng xử, tính chuyên nghiệp trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được phân công Mỗi cá nhân phải luôn tuân thủ điều lệ, nội quy, quy chế thông qua các văn bản quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được quy định theo các văn bản được ban hành chính thức nhằm hạn chế những hành vi gian lận ảnh hưởng xấu đến tổ chức
Khi xây dựng các tiêu chí về tính chính trực và giá trị đạo đức của tổ chức mình cần chú ý đến hai yếu tố đó là:
+ Cần giảm đến mức thấp nhất những áp lực và cơ hội phát sinh gian lận mà nhân viên phải gặp, những cơ hội tiềm ẩn dẫn đến phát sinh những gian lận
+ Không chỉ chú trọng về các giá trị đạo đức mà còn hướng dẫn cho nhân viên về kỹ năng nghiệp vụ khi thực hiện các hoạt động giúp nhân viên tránh được những sai phạm không đáng có
- Triết lý lãnh đạo và phong cách điều hành: được thể hiện qua thái độ, tính
cách, phong thái của nhà quản lý khi điều hành hoạt động một đơn vị đó, điều này
nó ảnh hưởng rất lớn đến môi trường kiểm soát Bởi vì nếu nhà lãnh đạo biết được tầm quan trọng của môi trường kiểm soát phục vụ tốt cho cơ chế hoạt động thì người lãnh đạo luôn quan tâm và thường xuyên theo dõi, tạo cho nhân viên cấp dưới
có ý thức, trách nhiệm khi thực hiện nhiệm vụ Ngược lại, nếu nhân viên cấp dưới cảm thấy môi trường kiểm soát chưa chặt chẽ, chưa quan trọng đồng nghĩa với việc kiểm soát nội bộ của tổ chức không thực sự hiệu quả
Trang 28- Năng lực nhân viên: Năng lực đội ngũ nhân viên thể hiện ở trình độ hiểu
biết về chuyên môn nghiệp vụ, cách xử lý các tình huống trong thực hiện nhiệm vụ, kinh nghiệm công tác…đó là những kỹ năng cần thiết đảm bảo việc thực hiện có kỷ luật, kỷ cương, tiết kiệm, hiệu quả và trách nhiệm của cá nhân trong hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị Mỗi nhân viên luôn trong tổ chức đó phải có một sự hiểu biết nhất định, một trình độ cơ bản để xây dựng và duy trì hệ thống kiểm soát nội
bộ Muốn đạt được mục tiêu đó, nhà quản lý của tổ chức phải đào tạo nhân viên cấp dưới bằng các hình thức khác nhau như tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng, diễn đàn, các buổi hội nghị,nhằm nâng cao sự hiểu biết, là phương thức hữu hiệu hướng dẫn về mục tiêu của kiểm soát nội bộ và xử lý các tình huống có thể xảy ra Đồng thời, mỗi
cá nhân phải luôn có ý thức học tập trao dồi kỹ năng nhằm đáp ứng được yêu cầu công việc, mỗi cá nhân cần tự nhận thức mình là một mắc xích quan trọng giúp cho
hệ thống kiểm soát nội bộ tại đơn vị được hoàn chỉnh
Cả ban lãnh đạo và nhân viên cần có kỹ năng về đánh giá rủi ro Đánh giá rủi
ro với mục đích đảm bảo mọi người có thể hoàn thành trách nhiệm được giao Ngoài ra cần nâng cao nhận thức của mỗi cá nhân trong đơn vị, giúp họ thấy được tầm quan trọng, mức đóng góp của mình trong việc thực hiện mục tiêu chung của tổ chức
- Cơ cấu tổ chức là sự phân quyền giữa các bộ phận trong cùng một tổ chức
Mỗi bộ phận hoàn thành tốt sẽ giúp cho mục tiêu của tổ chức sớm đạt được Cơ cấu
tổ chức nhằm tránh sự chồng chéo trong công tác quản lý, công tác điều hành và hạn chế thấp nhất những hành vi vi phạm đến quy chế của kiểm soát nội bộ Bên cạnh đó giúp nhà quản lý, loại bỏ được những nội dung kiểm soát không còn phù hợp, các thủ tục kiểm soát mất tác dụng có thể dẫn đến những hành vi vi phạm và che dấu những sai phạm trong khi thực hiện nhiệm vụ
- Cơ cấu tổ chức bao gồm:
+ Sự phân chia quyền hạn và trách nhiệm của từng cá nhân
+ Sự ủy quyền, giao quyền
+ Hệ thống các báo cáo phù hợp
- Nhằm tổ chức một cơ cấu phù hợp với hoạt động của tổ chức mình, đơn vị cần thực hiện các nguyên tắc như:
Trang 29+Xây dựng nguyên tắc hoạt động trên toàn bộ các hoạt động đồng thời tránh
sự chồng chéo giữa các bộ phận
+Thực hiện tách biệt giữa xử lý nghiệp vụ, ghi chép và lưu giữ tài sản
+ Bảo đảm sự độc lập tương đối
Có cấu tổ chức thường được thông qua sơ đồ tổ chức của đơn vị, trong đó xác định được vị trí quan trọng gắn với quyền hạn và trách nhiệm Cơ cấu tổ chức phải đảm bảo sự phù hợp về tính chất hoạt động, quy mô của tổ chức Sự phân chia quyền hạn, trách nhiệm của cá nhân sẽ giúp mỗi cá nhân xác định rõ nội dung công việc phải đảm nhận, nhưng quyền hạn, nhiệm vụ và trách nhiệm phối hợp lẫn nhau trong thực hiện các hoạt động
- Chính sách nhân sự: Đây là khâu mà toàn bộ cách quản lý, chế độ của đơn
vị ảnh hưởng đến nhân viên từ khi bắt đầu làm việc bao gồm như tuyển dụng, đào tạo bồi dưỡng, bổ nhiệm, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật…các khâu này nó có sự ảnh hưởng rất lớn đến môi trường kiểm soát Để hạn chế các rủi ro, nhà quản lý cần
đề ra quy chế thi đua, khen thưởng trong cơ quan, đơn vị nhằm khuyến khích nhân viên cấp dưới cố gắng thực hiện tốt các nhiệm vụ được phân công đồng thời có sự
kỷ luật nhằm răn đe các trường hợp sai phạm dựa trên nguyên tắc của nhà lãnh đạo thống nhất thực hiện quy chế đã đề ra Công tác tuyển dụng ban đầu phải đảm bảo rằng nhân viên có đủ trình độ và đạo đức và kinh nghiệm nhằm thực hiện tốt nhiệm
vụ được giao
Chính sách nhân sự nó ảnh hưởng không nhỏ đến các yếu tố của môi trường kiểm soát như tính chính trực và giá trị đạo đức, trình độ, năng lực của cán bộ công nhân viên
1.4.2 Đánh giá rủi ro
Là bộ phận thứ hai của kiểm soát nội bộ Đánh giá rủi ro nhằm ghi nhận và
có biện pháp phòng ngừa những tình huống xấu có thể xảy ra trong tương lai, có ảnh hưởng đến mục tiêu nhiệm vụ của tổ chức Đánh giá rủi ro bao gồm nhận dạng rủi ro, đánh giá rủi ro và phát triển các biện pháp xử lý cho phù hợp
+ Nhận diện rủi ro: Trong mỗi hoạt động của đơn vị đều có những rủi ro
nhất định, nó bao gồm rủi ro bên trong và bên ngoài Khi một đơn vị muốn đánh giá chính xác các rủi ro có thể xảy ra cần đánh giá rủi ro bên trong và rủi ro bên ngoài trong một thời gian liên tục, lâu dài, trong suốt quá trình hoạt động thì mới có thể áp
Trang 30dụng các biện pháp phòng ngừa một cách chính xác Khi nhận dạng các rủi ro có thể xảy ra, nhà quản lý sẽ sắp sếp thứ tự các rủi ro và phân bổ nguồn lực để đối phó với rủi ro Đối với khu vực công, chủ yếu nhận dạng rủi ro khi thực hiện các mục tiêu, kế hoạch đặt ra tùy theo chức năng nhiệm vụ của đơn vị được giao hằng năm
+ Đánh giá rủi ro: là cách ước tính khả năng xảy ra và các thiệt hại có thể đi
kèm nếu khả năng rủi ro có thể xảy ra Để đánh giá được các rủi ro có thể xảy ra, nhà quản lý cần sử dụng nhiều biện pháp đánh giá rủi ro tùy theo từng hoạt động, mục tiêu của sự kiện Khi đánh giá, nếu rủi ro ảnh hưởng ít đến đơn vị thì không cần chú ý nhiều và ngược lại Tuy nhiên trong khi đánh đánh giá rủi ro cần đánh giá một cách toàn diện và có hệ thống, phải thường xuyên cập nhật các văn bản quy định của Pháp luật, điều kiện phát triển nền kinh tế địa phương mà có phương pháp cho phù hợp Đánh giá rủi ro hết sức quan trọng vì nó không chỉ ghi nhận các sự kiện có thể đe dọa đến mục tiêu, đã đề ra mà còn liên quan đến trách nhiệm cá nhân
và nguồn lực thực hiện
+ Phát triển các biện pháp đối phó với rủi ro: Sau khi đánh giá các rủi ro
Nhà quản lý thường lựa chọn một trong 4 biện pháp sau để đối phó với rủi ro là: Chấp nhận rủi ro, tránh né rủi ro, xử lý rủi ro và phân tán rủi ro Tùy vào tính cách, kinh nghiệm, trình độ của nhà quản lý mà có cách xử lý phù hợp Tuy nhiên nếu nhận dạng rủi ro và đánh giá được mức độ ảnh hưởng của chúng thì nhà quản lý sẽ
có sự chuẩn bị các biện pháp đối phó tốt hơn
1.4.3 Hoạt động kiểm soát
Trong khu vực công, để đạt được các mục tiêu theo kế hoạch đề ra, nhà quản
lý bắt buộc phải thực hiện hoạt động kiểm soát, bằng những chính sách, bằng hệ thống văn bản của nhà nước, bằng phân cấp, phân quyền và phân chia trách nhiệm của từng cá nhân trong một tổ chức Muốn mục tiêu đạt hiệu quả cao yêu cầu hoạt động kiểm soát đảm bảo thực hiện liên tục, thường xuyên trong toàn bộ hoạt động của tổ chức đó
- Xét về yếu tố kiểm soát: bao gồm chính sách kiểm soát và thủ tục kiểm
soát
+ Chính sách kiểm soát là những nguyên tắc, những quy định được ban hành
cụ thể bằng văn bản và được thông tin rộng rãi trước khi thực hiện các chính sách
cụ thể Nó là cơ sở để thủ tục kiểm soát được thực hiện
Trang 31+ Thủ tục kiểm soát: là những quy định thực thi các chính sách kiểm soát
- Xét về mục đích kiểm soát bao gồm:
+ Kiểm soát phòng ngừa:Nhằm ngăn ngừa và giảm thiểu đến mức thấp nhất
các hành vi gian lận và sai sót trong quá trình thực hiện
+ Kiểm soát phát hiện: Qua quá trình thực hiện kiểm soát, nhà quản lý kịp
thời phát hiện các sai phạm nhằm đánh giá và xử lý
+ Kiểm soát bù đắp: Trong quá trình kiểm soát, đưa ra các thủ tục khác thay
thế các hoạt động không hiệu quả, hoạt động yếu kém
- Xét về Chức năng của hoạt động này bao gồm:
+ Phân chia công việc: Giúp các thành viên trong cùng một tổ chức có thể
kiểm soát lẫn nhau, không cho bất kỳ một cá nhân nào thực hiện xuyên suốt một hoạt động, mà được phân công nhiệm vụ một cách rõ ràng, đặt biệt là tuân thủ nguyên tắc bất kiêm nhiệm trong cùng tổ chức, cùng ngành Một cá nhân không thực hiện nhiều hơn một trong các nhiệm vụ đó là phê duyệt, soạn thảo, xử lý và lưu trữ
Bên cạnh các tổ chức lớn có nhiều thành viên cùng làm việc có thể phân chia công việc một cách dễ dàng, những bộ phận có ít thành viên thì yêu cầu nhà quản lý phải phòng ngừa các rủi ro bằng cách thường xuyên luân chuyển công việc của cán
bộ công nhân viên trong cơ quan theo định kỳ Không để sự thông đồng trong cùng
tổ chức làm giảm hiệu quả hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ
+ Kiểm soát quá trình xử lý thông tin: Hoạt động thông tin có vai trò rất quan
trọng trong mọi hoạt động cơ quan, tổ chức Để hoạt động này có tính chính xác thì trong quá trình thực hiện hệ thống chứng từ, sổ ghi chép phải đảm bảo sự hợp lý Cùng với sự phát triển các ngành nghề khoa học kỹ thuật trên thế giới Ngày nay, các phần mềm quản lý luôn được các nhà quản lý quan tâm đặc biệt là tính tiện ích trong trích lọc dữ liệu và xử lý các thông tin khác một cách nhanh và chính xác Kiểm soát quá trình thực hiện thông tin có thể bằng các dữ liệu phần mềm, bằng hồ
sơ thực tế Thông thường người ta chia quá trình kiểm soát việc xử lý thông tin theo hai trường hợp: kiểm soát ứng dụng và kiểm soát chung
+) Kiểm soát chung là việc áp dụng các thủ tục, chính sách, quy định cho tất cả hoặc một phần thông tin đảm bảo cho tổ chức hoạt động thường xuyên, liên tục và ổn định
Trang 32+) Kiểm soát ứng dụng: Là cách nhà quản lý kiểm soát dữ liệu đầu vào, trong quá trình quản lý và dữ liệu đầu ra bằng các chính sách và thủ tục áp dụng một cách riêng biệt, đảm bảo cho hệ thống dữ liệu luôn được nhập và xử lý một cách chính xác nhất
+ Kiểm soát tài sản: INTOSAI nhấn mạnh việc kiểm soát được thực hiện
bằng cách đối chiếu giữa tài sản thực tế và sổ sách theo dõi trên hệ thống Việc tiếp cận tài sản để kiểm soát được phân quyền cho cá nhân có thẩm quyền chịu trách nhiệm giữ hoặc sử dụng tài sản của đơn vị Trách nhiệm đó được thể hiện qua biên lai, chứng từ, sổ bàn giao nhằm tránh hư hỏng, thất thoát và sử dụng sai mục đích Tài sản của đơn vị bao gồm tiền, máy móc, thiết bị, vật dụng, hồ sơ…phải được bảo
vệ chặt chẽ nhằm làm giảm việc thất thoát tài sản của Nhà nước hay mức độ bảo mật các thông tin cần thiết Việc kiểm soát tài sản được thực hiện theo định kỳ hoặc đột xuất khi có các dấu hiệu thất thoát xảy ra phải tiến hành kiểm tra, tìm ra nguyên nhân đồng thời có hướng xử lý phù hợp nhằm đảm bảo cho tài sản của tổ chức có thể phục vụ tốt cho hoạt động của đơn vị
+ Kiểm tra độc lập: là cách cá nhân thực hiện việc kiểm tra khác với đối
tượng được kiểm tra Yêu cầu cá nhân thực hiện việc kiểm tra phải độc lập nhằm tạo sự khách quan trong quá trình thực hiện Trước và sau cuộc kiểm tra đều phải có văn bản hoặc các nghiệp vụ chứng thực về việc có thực hiện kiểm tra
+ Phân tích và rà soát: Sau khi thực hiện các nhiệm vụ, nhà quản lý cần tiến
hành so sánh giữa các chỉ tiêu, kế hoạch đề ra và thực tế đã đạt được nhằm phát hiện chênh lệch hay những rào cản phát sinh trong quá trình thực hiện Từ đó có biện pháp chấn chỉnh cách quản lý và đề ra biện pháp phù hợp Có 4 phương pháp
áp dụng để thực hiện việc phân tích rà soát gồm đối chiếu, rà soát quy trình thực hiện hoạt động, rà soát kết quả hoạt động, và giám sát
+) Đối chiếu: Các văn bản, hồ sơ quy định cần thường xuyên được đối chiếu nhằm cập nhật các điểm mới áp dụng phù hợp với tình hình thực tế tại đơn vị; đối chiếu sổ sách kế toán và chứng từ theo dõi của ngân hàng…
+) Rà soát quy trình thực hiện các hoạt động: dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá tính hiệu quả của các hoạt động đem lại cho tổ chức, cho cá nhân và cộng đồng Các hoạt động thực sự có hiệu quả khi nó đáp ứng đúng và đủ các mục tiêu,
Trang 33tiêu chuẩn Trong trường hợp cần thiết cần đáng giá và đưa ra các giải pháp cải tiến hữu hiệu hơn
+) Rà soát kết quả hoạt động: dựa trên các nguyên tắc xử lý, chính sách, thủ tục của ngành, đơn vị và tình hình thực tế đảm bảo các chỉ tiêu trong thời gian ngắn hoặc lâu dài, theo giai đoạn hoặc nhiệm kỳ
+) Giám sát:Việc giám sát thường xuyên giúp cho các mục tiêu chính của hệ thống đạt được theo mong muốn của nhà quản lý, bên cạnh đó nhà quản lý cũng sẽ có cơ hội trực tiếp hướng dẫn cho nhân viên cấp dưới tránh được các sai sót không đáng có, tiết kiệm tài chính và nhân lực cho các hoạt động cụ thể
1.4.4 Thông tin và truyền thông
Đã từ lâu, chế độ thông tin báo cáo trong hệ thống luôn được xem trọng, nó
là chiếc cầu nối giữa người lãnh đạo và nhân viên, là công cụ cần thiết cho việc nâng cao chất lượng kiểm soát trong tổ chức thông qua các báo cáo bên trong và bên ngoài Giúp người lanh đạo đơn vị nắm rõ và chính xác tình hình thực tế và có biện pháp xử lý kịp thời Hệ thống thông tin và truyền thông nếu phát huy tốt sẽ giúp cho tổ chức nhanh chóng đạt được mục tiêu đã đề ra
+ Thông tin: Đây là điều kiện đầu tiên và không thể thiếu trong hệ thống
kiểm soát nội bộ Thông tin phải được cung cấp kịp thời, chính xác giúp nhà quản lý nắm chắc tình hình tài chính, tình hình hoạt động của các tổ chức ở cơ sở mình quản
lý và xử lý thông tin một cách kịp thời Tuy nhiên, không phải thông tin nào cũng chính xác và giúp cho nhà quản lý xử lý các tình huống nếu xảy ra Vì thế nhà quản
lý khi tiếp nhận thông tin cần kiểm tra lại, xác minh thông tin đúng thực tế thì mới triển khai các biện pháp xử lý tình huống, nhằm tiết kiệm thời gian, vật chất và nhân lực của hệ thống Thông tin cần phản ánh đúng thực tế nội dung vụ việc, đúng thời điểm và phản ánh được mọi khía cạnh của vấn đề mới có thể giúp nhà quản lý xử lý nhanh, chính xác
+ Truyền thông là cách thức trao đổi và truyền đạt các thông tin đến từ bên
trong và ngoài đơn vị, giúp mọi người hiểu được thông tin cần thiết để thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cá nhân đảm bảo theo quy định của Pháp luật Hệ thống truyền thông có thể thông qua các trang mạng internet, đài truyền thanh, truyền hình, báo… giúp cho sự truyền đạt thông tin đến nhanh chóng và dễ
Trang 34dàng hơn Truyền thông đến từ bên trong có thể là sự truyền đạt của Ban lãnh đạo với nhân viên, giữa các phòng ban với nhau, giữa các nhân viên với nhau Truyền thông đến từ bên ngoài có thể là cấp cơ sở với cấp trên, người lao động, các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan đến tổ chức như: ngân hàng, Ủy ban nhân dân các cấp, Đảng ủy các cấp, mặt trận tổ quốc và các đoàn thể…
1.4.5 Giám sát
Là yếu tố cuối cùng trong 5 bộ phận cấu thành kiểm soát nội bộ, đây là bộ phận giúp nhà quản lý đánh giá lại toàn bộ kết quả thực hiện trong một thời gian nhất định, nó giúp cho kiểm soát nội bộ duy trì được hiệu quả và hướng đến mục tiêu chung, đồng thời giúp nhà quản lý có thể phát hiện những sai sót và điều chỉnh kịp thời Hoạt động giám sát có thể tiến hành giám sát tổng hợp nhưng cũng có thể tập trung vào một nội dung trọng yếu nào của hoạt động đó Hoạt động giám sát có thể dựa vào những quy định của Pháp luật có liên quan đến đơn vị, thẩm quyền của người thực hiện giám sát, căn cứ vào vị trí việc làm, bảng mô tả công việc của cá nhân…
Hoạt động giám sát bao gồm giám sát định kỳ và giám sát thường xuyên + Giám sát định kỳ: định kỳ 1 khoảng thời gian trong năm, lãnh đạo đơn vị thực hiện giám sát các hoạt động trong tổ chức thông qua đánh giá, nhận xét của các
tổ chức thành viên đối với đơn vị Có thể giám sát định kỳ theo tháng, quý, năm
+ Giám sát thường xuyên: được thông qua bởi việc tiếp nhận các thông tin từ nhân viên cấp dưới, giám sát thường xuyên thông qua thực hiện quy chế, nội quy của đơn vị…hoặc xem xét báo cáo của cấp dưới
1.5 Mối quan hệ giữa các thành phần cơ bản của KSNB
Giống như COSO, mối quan hệ giữa các thành phần của kiểm soát nội bộ theo INTOSAI cũng có mối liên hệ nhất định và chúng được thể hiện như sau:
- Mục tiêu của kiểm soát nội bộ được thể hiện bao gồm: độ tin cậy của thông tin báo cáo; tính tuân thủ các quy định; hiệu lực hiệu quả quá trình hoạt động
- Năm thành phần của kiểm soát nội bộ được thể bao gồm: Môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro; hoạt động kiểm soát; thông tin và truyền thông; giám sát
- Một mặt không thể thiếu trong hệ thống kiểm soát nội bộ đó là cơ cấu của
tổ chức
Trang 35Các yếu tố cấu thành kiểm soát nội bộ có tác động qua lại đa chiều, ảnh hưởng lẫn nhau Từng bộ phận được kiểm soát tốt sẽ giúp cho các nhà quản lý dễ dàng đạt được mục tiêu đã đề ra Tuy nhiên, tùy tình hình thực tế của ngành, của đơn vị mà áp dụng các biện pháp sử dụng hiệu quả nhất để đạt được các mục tiêu quan trọng và nhanh nhất
1.6 Lợi ích và hạn chế tiềm tàng của kiểm soát nội bộ
1.6.1 Lợi ích của kiểm soát nội bộ
Kiểm soát nội bộ giúp cho tổ chức giảm thiểu những sai sót, ngăn chặn những sai sót có thể xảy ra Bên cạnh đó khuyến khích cán bộ công nhân viên trong cùng tổ chức phát huy tốt những mặt đã đạt được, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được phân công Hệ thống tổ chức của kiểm soát nội bộ của đơn vị hoạt động tốt giúp cho đơn vị:
- Ngăn chặn những rủi ro không không cần thiết do quá trình quản lý chưa sâu sát, tận dụng triệt để những tiềm năng, nguồn lực sẵn có để đạt được những mục tiêu đã đề ra, xây dựng lòng tin của nhân dân đối với tổ chức
- Báo cáo tài chính của đơn vị được minh bạch, khách quan, số liệu kế toán đảm bảo tính chính xác
- Giảm bớt những thiệt hại do nhân viên gây ra như hành vi thiếu trung thực dẫn đến tổn hại cho đơn vị khi tình trạng trộm cắp xảy ra, những hành vi gian lận trong việc tuân thủ các thủ tục chính sách làm ảnh hưởng đến uy tín, hoạt động của
tổ chức, hoặc tình trạng vô ý, không cẩn trọng của nhân viên gây hậu quả cho đơn
vị
- Khi kiểm soát nội bộ được thiết lập, các mục tiêu của đơn vị đã được đề ra,
từ đó, người quản lý xem xét, phân bổ nguồn lực hợp lý khi xây dựng kế hoạch, cách thức thực hiện nhằm đảm bảo các hoạt động được xuyên suốt, quá trình quản
lý nhất quán, tránh được sự chồng chéo trong cách thức chỉ đạo và thực hiện
- Giúp người đứng đầu đơn vị căn cứ những rủi ro tiềm tàng đã được xác định có dự báo biện pháp phòng ngừa, nắm bắt những cơ hội nếu có trong tương lai
- Sử dụng các biện pháp kỹ thuật làm tăng hiệu quả nhận dạng rủi ro giúp người quản lý đưa ra các biện pháp phản ứng rủi ro hiệu quả
Trang 361.6.2 Hạn chế tiềm tàng của kiểm soát nội bộ:
Trong yếu tố điều hành về kiểm soát nội bộ của tổ chức, con người là nhân tố quan trọng quyết định mức độ của kiểm soát nội bộ Vì vậy, kiểm soát nội bộ luôn
có những tiềm tàng nhất định, nó xuất phát từ các nguyên nhân chủ yếu sau:
- Sự bất cẩn trong việc nhập liệu, ghi chép sổ sách dẫn đến sai sót trong báo cáo
- Công tác quản lý tài sản của đơn vị chưa được lãnh đạo kiểm tra thường xuyên dẫn đến thất thoát tài sản
- Từ các lỗ hổng của kiểm soát nội bộ, con người có sự thông đồng hoặc lợi lụng quyền lực của cá nhân thì hành động đó diễn ra tinh vi, cố tình lợi dụng sơ hở
để trục lợi cho cá nhân, bằng cách thông đồng giữa cá nhân trong cùng tổ chức với nhau hoặc cá nhân với cá nhân bên ngoài tổ chức đó Sự thông đồng với nhau nhằm mục đích phục vụ lợi ích cho cá nhân, gây tổn thất tài sản của đơn vị, ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của tổ chức, uy tín của đơn vị, của ngành
- Từ trình độ nhận thức yếu kém, trình độ chuyên môn nghiêp vụ, thông tin của người ra quyết định cũng ảnh hưởng đến kiểm soát nội bộ Cấp dưới hiểu không đúng về sự chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên hoặc việc báo cáo không trung thực từ cấp dưới cũng làm cho nhà quản lý đưa ra các quyết định sai lầm Vì vậy nếu nhà quản lý không có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực công tác hay trình độ chuyên môn yếu, cách xử lý vụ việc chưa sâu sát và thấu đáo dễ dẫn đến mục tiêu của đơn
vị không đạt được
- Do yêu cầu lợi nhuận nhận được phải lớn hơn chi phí bỏ ra, khi giải quyết,
xử lý các sai sót trong quá trình thực hiện Hay chi phí bỏ ra phải nhỏ hơn ước tính giá trị thiệt hại
- Kiểm soát nội bộ chủ yếu được hình thành trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ có tính chất thường xuyên, các nhiệm vụ lặp đi lặp lại trong một thời gian
Vì vậy khi có những sai sót bất thường trong quá trình thực hiện thì kiểm soát nội
bộ không đáp ứng được
- Do thay đổi các mục tiêu, nhân sự trong cơ quan, tình hình thực tế của đơn
vị nên một số nội dung kiểm soát không còn phù hợp
- Việc thay đổi các quy định, nghị định chính sách, văn bản của cơ quan có thẩm quyền nhằm phù hợp với mục tiêu yêu cầu phát triển của đất nước trong thời
Trang 37kỳ hội nhập Vì vậy, kiểm soát nội bộ cần phải được điều chỉnh, bổ sung phù hợp với tình hình thực tế, phù hợp với yêu cầu quản lý mới
Trang 38
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương 1, tác giả đã trình bày cơ sở lý thuyết về kiểm soát nội bộ như khái niệm về kiểm soát nội bộ, lịch sử hình thành và phát triển qua các giai đoạn, đặc điểm của các yếu tố cấu thành kiểm soát nội bộ
Tùy tình hình thực tế mỗi đơn vị sẽ kiểm soát nội bộ khác nhau phụ thuộc vào quy mô, đặc điểm của đơn vị Khi kiểm soát nội bộ hữu hiệu sẽ giúp đơn vị kiểm soát tốt tình hình hoạt động của mình và đạt được các mục tiêu đã đề ra Trên
cơ sở nghiên cứu lý luận về kiểm soát nội bộ, tác giả đã rút ra những lợi ích và hạn chế của kiểm soát nội bộ
Kế thừa những nghiên cứu trước và dựa vào đặc điểm, cơ cấu tổ chức, điều kiện hiện có của đơn vị để phân tích, đánh giá kiểm soát nội bộ tại một số chi nhánh quỹ trợ vốn khu vực trục kinh tế ba tỉnh Đông Nam Bộ nhằm đưa ra những ưu điểm
và hạn chế trong việc vận hành kiểm soát nội bộ đơn vị
Trang 39CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI MỘT SỐ CHI NHÁNH QUỸ TRỢ VỐN KHU VỰC TRỤC KINH TẾ BA TỈNH ĐÔNG NAM BỘ 2.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam:
Đầu năm 1925, tại Quảng Châu, Trung Quốc, đồng chí Nguyễn Ái Quốc,
vị lãnh tụ vĩ đại của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam Người đặt cơ sở lý luận cho công đoàn Việt Nam đã đề ra tôn chỉ mục đích hoạt động của Công Hội Năm 1929, nhiều tổ chức Công hội đỏ được thành lập tại các xí nghiệp và ngày càng phát triển, dần dần được thống nhất thành tổng Công Hội đỏ cấp tỉnh, thành phố như ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định…
Ngày 28/7/1929, tổng Công Hội đỏ miền Bắc đã được thành lập sau khi tổ chức đại hội tại số nhà 15, Phố Hàng Nón, Hà Nội Đại hội thông qua các nhiệm vụ quyết định ra tờ báo Lao động và tạp chí Công Hội Đỏ, bầu ban chấp hành
Kể từ năm 1930, các tổ chức Công Hội đỏ ở miền Trung, miền Nam, được thành lập…Trải qua các thời kỳ Công Đoàn Việt Nam có nhiều tên gọi khác nhau
để phù hợp với nhiệm vụ của từng giai đoạn như Công Hội đỏ, Nghiệp đoàn Ái Hữu, Công nhân Phản Đế; Công nhân cứu quốc; Tổng Công Đoàn Việt Nam;Tổng liên đoàn lao động Việt Nam
Đại hội đại biểu Công Đoàn toàn quốc lần V (tháng 11/1983) họp tại thủ đô
Hà Nội đã nhất trí thông qua nghị quyết lấy ngày 28/7/1929 làm ngày thành lập Tổng liên đoàn lao động Việt Nam
2.2 Chức năng nhiệm vụ của Công đoàn Việt Nam
Cùng với sự phát triển về điều kiện kinh tế văn hóa xã hội, chức năng Công đoàn cũng phát triển theo Mỗi một điều kiện lịch sử, Công đoàn thực hiện những chức năng khác nhau và nó luôn luôn được bổ sung hoàn thiện nội dung mới phù hợp với tình hình phát triển của đất nước
Công đoàn Việt Nam có 3 chức năng cơ bản sau:
-Thứ nhất là, đại diện bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của công nhân viên chức lao động
Trang 40Một trong những chức năng của Công đoàn Việt Nam hiện nay là bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân, viên chức và người lao động dựa vào trình độ và kinh nghiệm quản lý của cơ quan hành chính nhà nước ở các cấp
Ngoài thực hiện chức năng bảo vệ quyền, lợi ích người lao động, Công đoàn không đấu tranh chống lại Nhà nước mà ngược lại Công đoàn vận động, tổ chức cho công nhân viên chức lao động tham gia xây dựng Nhà nước trong sạch vững mạnh
Nhằm thực hiện chức năng bảo vệ lợi ích, Công đoàn thường xuyên và chủ động tham gia cùng chính quyền cùng cấp trong tìm việc làm và tạo điều kiện làm việc cho công nhân, lao động Quản lý và sử dụng quỹ phúc lợi tập thể; bảo hiểm
xã hội; phối kết hợp tham gia giải quyết những khiếu nại, tố cáo của công nhân, viên chức và lao động, ngoài ra còn phát huy dân chủ, bình đẳng, công bằng xã hội; phát triển các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao…
Công đoàn bảo vệ lợi ích của người lao động gắn liền với lợi ích của nhà nước, của tập thể và đặc biệt là sự tồn tại của nhà nước vì nó đảm bảo lợi ích cho người lao động Nhà nước là người bảo đảm, Công đoàn là người bảo vệ lợi ích công nhân, viên chức và người lao động Nhà nước và công đoàn có mối quan hệ khăng khít, biện chứng hỗ trợ lẫn nhau, nó là cơ sở nhận thức về lợi ích công nhân, viên chức và lao động trong điều kiện mới
Thứ hai là, tham gia quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội, tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế
Trong điều kiện nền kinh tế hiện nay, khi thực hiện chức năng tham gia quản lý, Công đoàn cần tiếp tục quan tâm đến việc phát triển tiềm năng lao động, phát huy sáng kiến, cùng Ban lãnh đạo, người đứng đầu cơ quan, đơn vị tìm nguồn vốn, thị trường để giúp cho công đoàn viên của mình mở rộng sản xuất - kinh doanh, bên cạnh đó giải quyết việc làm cho người lao động
Thứ ba là, giáo dục động viên công nhân viên chức lao động phát huy quyền làm chủ đất nước
Chức năng giáo dục của Công đoàn Việt Nam ngày càng mở rộng và phát triển thông qua các hoạt động thực tiễn trong lao động sản xuất và tham gia các phong trào thi đua…góp phần cho công nhân, viên chức và lao động nhận thức và hiểu được lợi ích của họ gắn với lợi ích tập thể, lợi ích của xã hội