1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng quy trình kiểm toán để hoàn thiện quy trình thanh tra tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai: luận văn thạc sĩ kế toán

85 153 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính sách, pháp luật BHXH, BHYT, BHTN có nội dung rộng, bao quát hầu khắp các lĩnh vực của đời sống, sức khoẻ con người, được điều chỉnh bởi các luật BHXH, Luật BHYT, Luật BHTN

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG

***

ĐÀO THỊ THANH THẢO

VẬN DỤNG QUY TRÌNH KIỂM TOÁN ĐỂ HOÀN THIỆN QUY TRÌNH THANH TRA TẠI

BẢO HIỂM XÃ HỘI TỈNH ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG

***

ĐÀO THỊ THANH THẢO

VẬN DỤNG QUY TRÌNH KIỂM TOÁN ĐỂ HOÀN THIỆN QUY TRÌNH THANH TRA TẠI

BẢO HIỂM XÃ HỘI TỈNH ĐỒNG NAI

Trang 3

đỡ tác giả với những chỉ dẫn quý giá trong suốt quá trình triển khai, nghiên cứu và

hoàn thành đề tài “Vận dụng quy trình kiểm toán để hoàn thiện quy trình thanh tra

tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai”

Xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo cùng các anh, chị em đồng nghiệp

Cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tác giả thu thập tài liệu nghiên cứu cần thiết liên quan tới đề tài

Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã quan tâm, động viên, khuyến khích và ủng hộ để tác giả có thể hoàn thành tốt luận văn này

Xin chân thành cảm ơn

Đồng Nai, ngày tháng năm 2018

Tác giả

Đào Thị Thanh Thảo

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan luận văn: “Vận dụng quy trình kiểm toán để hoàn thiện

quy trình thanh tra tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai” là kết quả nghiên cứu của tác

giả thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Phước

Tác giả xin cam đoan luận văn này do bản thân tự nghiên cứu và thực hiện, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và là kết quả nghiên cứu của bản thân

Đồng Nai, ngày tháng năm 2018

Tác giả

Đào Thị Thanh Thảo

Trang 5

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Nội dung nghiên cứu của luận văn tốt nghiệp trình độ thạc sĩ với đề tài “Vận

dụng quy trình kiểm toán để hoàn thiện quy trình thanh tra tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai” được thực hiện theo đúng yêu cầu đào tạo sau đại học tại Trường Đại

học Lạc Hồng, chuyên ngành Kế toán

Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận về quy trình kiểm toán và quy trình thanh tra, so sánh việc giống và khác nhau giữa hai quy trình, việc phân tích, đánh giá thực trạng quy trình thanh tra tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai, từ đó tìm ra những nguyên nhân tồn tại hạn chế, để đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình thanh tra và nâng cao hiệu quả, giảm thiểu rủi ro trong quá trình thanh tra tại Bảo hiểm

xã hội tỉnh Đồng Nai

Qua luận văn này, Tác giả hy vọng sẽ giúp cho cơ quan, cán bộ công chức làm công tác thanh tra một số định hướng, phương pháp thực hiện trong quá trình thanh tra, giúp công tác thanh tra đi vào trọng tâm, rút ngắn được thời gian, giảm thiểu rủi ro

và nâng cao hiệu quả cuộc thanh tra

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

TÓM TẮT LUẬN VĂN

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC SƠ ĐỒ

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Sự cần thiết của đề tài 1

2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây 2

3 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Đóng góp của đề tài: 6

7 Kết cấu luận văn: 6

Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 7

1.1 Tổng quan về quy trình kiểm toán 7

1.1.1 Khái niệm về kiểm toán 7

1.1.2 Mục đích của hoạt động kiểm toán 9

1.1.3 Chức năng của Kiểm toán 9

1.1.4 Phương pháp kiểm toán 9

1.1.5 Nội dung cơ bản quy trình kiểm toán 10

1.1.5.1 Khái niệm quy trình kiểm toán 10

1.1.5.2 Nội dung quy trình kiểm toán 12

1.2 Tổng quan về quy trình thanh tra 15

1.2.1 Khái niệm về thanh tra 15

1.2.2 Mục đích của hoạt động thanh tra 17

1.2.3 Chức năng của cơ quan thanh tra nhà nước 18

Trang 7

1.2.4 Phương pháp tiến hành thanh tra 18

1.2.5 Nội dung cơ bản của Quy trình hoạt động thanh tra 18

1.2.5.1 Quan niệm về hoạt động thanh tra 18

1.2.5.2 Các giai đoạn quy trình thanh tra: 22

1.2.5.3 Nội dung quy trình thanh tra 23

1.3 So sánh, phân tích quy trình kiểm toán với quy trình thanh tra 29

1.3.1 Những điểm khác nhau 29

1.3.2 Những điểm giống nhau 30

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 32

Chương 2: THỰC TRẠNG QUY TRÌNH THANH TRA TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI TỈNH ĐỒNG NAI 33

2.1 Giới thiệu tổng quát về Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai 33

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai 33

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai 34

2.1.2.1 Chức năng 34

2.1.2.2 Nhiệm vụ 34

2.1.3 Một số kết quả công tác nổi bật trong những năm qua 36

2.1.4 Cơ cấu tổ chức bộ máy của Bảo hiểm xã hội Đồng Nai 38

2.1.5 Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ Phòng Thanh tra - Kiểm tra Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai 38

2.1.5.1 Cơ cấu tổ chức 38

2.1.5.2 Chức năng 38

2.1.5.3 Nhiệm vụ 40

2.1.5.4 Hoạt động thanh tra chuyên ngành về đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế 41

2.2 THỰC TIỄN QUY TRÌNH THANH TRA TẠI BHXH TỈNH ĐỒNG NAI 43

2.2.1 Thực trạng xây dựng định hướng chương trình thanh tra, kế hoạch thanh tra 43

2.2.2 Thực tiễn tiến hành hoạt động thanh tra trực tiếp 44

2.2.2.1 Thực tiễn giai đoạn chuẩn bị tiến hành thanh tra 45

2.2.2.2 Giai đoạn tiến hành thanh tra trực tiếp 45

2.2.2.3 Thực tiễn Giai đoạn kết thúc thanh tra 46

Trang 8

2.3 Những hạn chế và nguyên nhân tồn tại của quy trình thanh tra tại Bảo

hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai 47

2.3.1 Những tồn tại và nguyên nhân trong giai đoạn chuẩn bị thanh tra 47

2.3.2 Những tồn tại và nguyên nhân trong giai đoạn trực tiếp thanh tra 48

2.3.3 Những tồn tại và nguyên nhân trong giai đoạn kết thúc thanh tra 49

2.3.4 Một số tồn tại khác trong quy trình thủ tục thanh tra 49

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 51

CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP VẬN DỤNG QUY TRÌNH KIỂM TOÁN ĐỂ XÂY DỰNG QUY TRÌNH THANH TRA TẠI CƠ QUAN BẢO HIỂM XÃ HỘI TỈNH ĐỒNG NAI 52

3.1 Quan điểm vận dụng 52

3.1.1 Quan điểm kế thừa có chọn lọc 52

3.1.2 Quan điểm tuân thủ 53

3.1.3 Quan điểm ứng dụng công nghệ thông tin 53

3.2 Các giải pháp vận dụng quy trình kiểm toán để hoàn thiện quy trình thanh tra tại Cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai 53

3.2.1 Hoàn thiện giai đoạn chuẩn bị thanh tra 54

3.2.1.1 Tìm hiểu đối tượng thanh tra 54

3.2.1.2 Thủ tục phân tích 57

3.2.2 Hoàn thiện giai đoạn tiến hành thanh tra 60

3.2.3 Hoàn thiện giai đoạn kết thúc thanh tra 63

3.3 Các kiến nghị hỗ trợ nhằm hoàn thiện quy trình thanh tra tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai 65

3.3.1 Đối với Thanh tra Chính phủ 65

3.3.2 Đối với UBND tỉnh 67

3.3.3 Đối với Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai 67

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 68

KẾT LUẬN CHUNG 69

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Tổng quan về quy trình kiểm toán 12

Bảng 1.2: Tổng quát về quy trình thanh tra 23

Bảng 3.1: Bảng tìm hiểu đối tượng thanh tra 56

Bảng 3.2: Bảng tổng hợp phân tích hệ số 60

Bảng 3.3: Nội dung tổng hợp thanh tra 65

Trang 11

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1: Quy trình kiểm toán 11

Sơ đồ 1.2: Các bước cơ bản quy trình thanh tra 22

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý tại Bảo hiểm xã hội Đồng Nai 39

Sơ đồ 2.2.: Quy trình xây dựng kế hoạch thanh tra 43

Sơ đồ 3.1: Quy trình giai đoạn chuẩn bị thanh tra 55

Sơ đồ 3.2: Quy trình giai đoạn tiến hành thanh tra 61

Sơ đồ 3.3: Quy trình giai đoạn kết thúc thanh tra 64

Trang 12

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 13

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Hơn 20 năm hình thành và phát triển, Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai đã có những đóng góp quan trọng vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn Trong mỗi giai đoạn lịch sử, ngành Bảo hiểm xã hội luôn chủ động bám sát mọi chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước để phấn đấu thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị được giao Chính sách, pháp luật BHXH, BHYT, BHTN có nội dung rộng, bao quát hầu khắp các lĩnh vực của đời sống, sức khoẻ con người, được điều chỉnh bởi các luật BHXH, Luật BHYT, Luật BHTN… Để thực hiện tốt chính sách pháp luật BHXH, BHYT, BHTN ngành thanh tra BHXH luôn là công

cụ hiệu quả kiểm soát việc chấp hành pháp luật về BHXH, BHYT cũng như phát hiện kịp thời những bất cập, hạn chế nảy sinh trong cơ chế quản lý kinh tế - xã hội, đặc biệt

là trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước

ta hiện nay

Trên cơ sở đó, ngành Thanh tra BHXH tỉnh Đồng Nai đã kịp thời tham mưu cho lãnh đạo Đảng, Nhà nước và kiến nghị với các ngành, các cấp nhằm chấn chỉnh hoặc sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật, qua đó hoàn thiện cơ chế quản lý trên mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội Qua công tác thanh tra, kiểm tra cũng đã phát hiện và

xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH như trốn đóng, nợ đọng BHXH, BHYT, các hành vi tiêu cực, gian lận để hưởng chế độ, trục lợi BHXH, BHYT qua đó giúp thu hồi tiền, tài sản về cho Nhà nước, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của tổ chức, cá nhân và góp phần duy trì trật tự, kỷ cương xã hội

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, tổ chức và hoạt động của thanh tra ngành Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai nhìn chung vẫn chưa theo kịp những yêu cầu ngày càng cao của quản lý nhà nước, chưa đáp ứng hết những đòi hỏi của Đảng, Nhà nước và kỳ vọng của nhân dân Hiệu lực, hiệu quả công tác của ngành trên các lĩnh vực thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng còn hạn chế Thực trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân

là do thanh tra chuyên ngành BHXH còn khá mới mẽ, đội ngũ cán bộ, công chức thanh

Trang 14

tra còn thiếu tính chuyên nghiệp, trách nhiệm và bản lĩnh nghề nghiệp; nguồn lực vật

chất, kỹ thuật cho hoạt động thanh tra chưa được bảo đảm;…

Vì vậy, tác giả đã chọn đề tài “Vận dụng quy trình kiểm toán để hoàn thiện

quy trình thanh tra tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai” để tiến hành nghiên cứu với

mong muốn góp một phần nhỏ trong việc nâng cao tính chuyên nghiệp cho hoạt động

thanh tra của Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai

2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây

Trong quá trình thực hiện luận văn tác giả đã tham khảo, nghiên cứu các luận

văn, giáo trình liên quan đến QTKT nhằm hoàn thiện luận văn Tuy nhiên, mỗi QTKT

tại mỗi tại đơn vị có tính đặc thù riêng, những nguyên tắc riêng, do đó tác giả vận dụng

những quy tắc cơ bản nhất phù hợp với QTTT tại đơn vị, để việc nghiên cứu của tác

giả không bị trùng lắp với những nghiên cứu trước đó đã được công bố như:

- Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Vân Anh (2011) với đề tài “Vận dụng

kỹ thuật kiểm toán vào hoạt động thanh tra sai lệch thuế tại Cục thuế tỉnh Bình

Dương”: Luận văn thạc sĩ tại Trường Đại học Kinh tế TP.HCM Trong đề tài

nghiên cứu, Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính Kết quả tác giả

đã khái quát và trình bày QTTT thuế gồm 3 giai đoạn: Chuẩn bị thanh tra, thanh

tra tại đơn vị và hoàn thành thanh tra

- Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Phạm Hồng Nhung (2012) với đề tài “Quy

trình kiểm toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ tại Công ty TNHH

Kiểm toán và Kế toán Biên Hòa (BHAAC)”: Luận văn thạc sĩ tại Trường Đại

học Lạc Hồng Trong đề tài nghiên cứu, Tác giả sử dụng phương pháp nghiên

cứu định tính Kết quả tác giả đã xây dựng quy trình khá chi tiết về kiểm toán

doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ

- Luận văn Thạc sĩ của tác giả Huỳnh Ái Quốc (2015) với đề tài “Vận dụng

phương pháp kiểm toán vào công tác kiểm tra, thanh tra thuế tại Cục Thuế tỉnh

Đồng Nai”: Luận văn thạc sĩ tại Trường Đại học Lạc Hồng Trong đề tài nghiên

cứu, Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và đã đề xuất một số

Trang 15

phương pháp và kỹ thuật kiểm toán cần vận dụng vào trong công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại Cục thuế Đồng Nai

 Khoảng trống nghiên cứu:

Một là, tuy có nhiều nghiên cứu trong nước vận dụng QTKT vào các công việc thanh tra, kiểm tra khác nhau ở trong nước, nhưng tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai

từ trước đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về vận dụng quy trình kiểm toán để hoàn thiện quy trình thanh tra tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai Do vậy, đây

là khoảng trống chưa có ai nghiên cứu, là một chuyên viên đang làm việc tại đơn vị này, xét thấy tính ưu việc và phương pháp kiểm toán có nhiều vấn đề đáng được quan tâm nghiên cứu và vận dụng, tác giả nghiên cứu để vận dụng vào công việc thực tế đang thực hiện tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai

Hai là, về thực trạng tổ chức, hoạt động thanh tra Các nghiên cứu đã được thực hiện chủ yếu tập trung vào phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của thanh tra theo pháp luật thực định Vì vậy, nhiệm vụ đặt ra cho luận án là: cần quan tâm nghiên cứu sâu hơn về thực trạng tổ chức, hoạt động thanh tra, chỉ rõ được những hạn chế, bất cập từ mô hình tổ chức, phương thức hoạt động hiện hành để từ đó có căn

cứ đề xuất những giải pháp mới khắc phục những tồn tại, hạn chế đang hiện hữu

3 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Mục tiêu tổng quan:

Trên cơ sở hệ thống hóa các văn bản pháp luật hiện hành về công tác thanh tra, QTTT, QTKT và nghiên cứu thực trạng QTTT tại Cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai, đề xuất việc vận dụng QTKT để hoàn thiện QTTT tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai, nhằm nâng cao nghiệp vụ và tính chuyên nghiệp cho hoạt động thanh tra của Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai

Mục tiêu cụ thể:

- Tổng quan các nghiên cứu trước đây về kiểm toán và vận dụng phương pháp kiểm toán vào các nghiệp vụ về thanh tra, kiểm tra

Trang 16

- Thu thập các giai đoạn thực hiện quy trình và đánh giá những thành công, hạn chế của QTTT hiện hữu đang vận dụng tại Bảo hiểm xã hội Đồng Nai

- Vận dụng QTKT để đề xuất một số giải pháp hoàn thiện QTTT tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai

Câu hỏi nghiên cứu:

- Tình hình các nghiên cứu trước đây của các tác giả trong nước về kiểm toán; Vận dụng phương pháp kiểm toán vào các nghiệp vụ về thanh tra BHXH đạt được kết quả như thế nào?

- Thực trạng, những thành công và hạn chế của QTTT hiện hữu đang vận dụng tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai?

- Giải pháp nào cho việc hoàn thiện QTTT tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai mang lại hiệu quả ?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là QTKT và QTTT tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai

Phạm vi nghiên cứu:

- Không gian nghiên cứu: Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai

- Thời gian nghiên cứu: Phân tích thực trạng QTTT tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai từ năm 2016-2018

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài thực hiện chủ yếu dựa trên phương pháp nghiên cứu định tính, cụ thể là các phương pháp sau:

- Phương pháp quan sát: Để thu thập và hệ thống hóa dữ liệu thứ cấp và sơ cấp cả lý thuyết và thực tiễn về QTTT, QTKT nhằm phục vụ cho chương 1 và chương 2

Trang 17

- Phương pháp tổng hợp, phân tích và so sánh: Nhằm đánh giá chất lượng của các văn bản có liên quan đến QTTT, QTKT, so sánh ưu khuyết điểm của hai quy trình để hoàn thiện QTTT

Quy trình nghiên cứu như sau:

1 Thu thập hệ thống hóa dữ liệu lý thuyết về QTTT, QTKT

2 Đánh giá chất lượng của các văn bản có liên quan đến QTTT, QTKT, so sánh ưu khuyết điểm của hai quy trình để hoàn thiện QTTT

3 Mô tả thực trạng và đánh giá thực trạng công tác thanh tra chuyên ngành BHXH tại BHXH tỉnh Đồng Nai để đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện mục tiêu

CÁC GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ

Đề xuất quan điểm vận dụng, các giải pháp hoàn thiện QTTT và kiến nghị tổ chức

thực hiện

Trang 18

6 Đóng góp của đề tài:

- Phân tích, đánh giá được thực trạng QTTT tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai,

đồng thời, nhận xét những ưu điểm và những mặt còn hạn chế của QTTT tại

Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai

- Thông qua đề tài này, tác giả hy vọng sẽ đóng góp một phần nhỏ vào việc hoàn

thiện QTTT để nâng cao tính chuyên nghiệp cho hoạt động thanh tra tại Bảo

hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai

7 Kết cấu luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài gồm 3

chương chính như sau:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về đề tài nghiên cứu

Chương 2: Thực trạng quy trình thanh tra tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai

Chương 3: Vận dụng quy trình kiểm toán để hoàn thiện quy trình thanh tra tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai

Trang 19

Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan về quy trình kiểm toán

1.1.1 Khái niệm về kiểm toán

Kiểm toán có gốc từ Latinh là: "Audit" gắn liền với nền văn minh Ai Cập và La

Mã cổ đại, xuất hiện vào thế kỷ thứ III trước công nguyên Auditing có nghĩa là

"nghe", do các nhà cầm quyền La Mã tổ chức để kiểm tra độc lập về tình hình tài chính Hình ảnh của kiểm toán cổ điển là việc kiểm tra về tài sản, phần lớn được thể hiện bằng cách người ghi chép đọc to lên cho một bên độc lập "nghe" rồi chấp nhận Cho đến những năm 30 của thế kỷ XX, kiểm toán với nghĩa là kiểm tra độc lập và bày

tỏ ý kiến, mới được phát triển ở các nước Bắc Mỹ và Tây Âu

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và bản thân kiểm toán, theo quan điểm hiện đại, phạm vi của kiểm toán rất rộng, bao gồm các lĩnh vực khác nhau như:Kiểm

toán về thông tin; Kiểm toán hiệu quả; Kiểm toán tính quy tắc; Kiểm toán hiệu năng…

Chẳng hạn, khi kiểm toán về thông tin, nhân viên kiểm toán sẽ hướng vào việc đánh giá tính trung thực và hợp pháp của các tài liệu để tạo cơ sở pháp lý và niềm tin cho những người quan tâm đến tài liệu kế toán Còn kiểm toán hiệu quả là kiểm tra, đánh giá các yếu tố, các nguồn lực trong từng loại nghiệp vụ kinh doanh như mua bán, sản xuất hay dịch vụ để giúp các công ty hoạch định lại chính sách cho việc hoàn thiện hoạt động kinh doanh của công ty mình

Trải qua một quá trình phát triển lâu dài của nghề kiểm toán, cho đến nay chúng

ta có thể hiểu đơn giản rằng: Kiểm toán là xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động tài chính của các doanh nghiệp, bằng hệ thống phương pháp kĩ thuật riêng của kiểm toán, do các kiểm toán viên có trình độ nghiệp vụ tương xứng thực hiện trên

cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu lực

từng quốc gia và phát triển theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá từ đó hình thành

Trang 20

các tổ chức nghề nghiệp kiểm toán quốc tế, các tập đoàn kiểm toán mang tầm quốc tế hoạt động xuyên quốc gia Một số tập đoàn kiểm toán xuyên quốc gia đứng đầu thế giới như: Coopers Lybrand, Ersnt and Young, Price Water House và Deloitte Touch Tomatsu

Mặc dù khái niệm kiểm toán đã xuất hiện khá lâu đời nhưng cho đến nay vẫn còn có những cách hiểu khác nhau, đôi khi chưa có sự đồng nhất, cụ thể như:

- Tại Hoa Kỳ (1998) các nhà khoa học về kiểm toán đưa ra quan niệm: "Kiểm toán là một quá trình mà qua đó một người độc lập, có nghiệp vụ tập hợp và đánh giá

rõ ràng về một thông tin có thể lượng hoá có liên quan đến một thực thể kinh tế riêng biệt nhằm mục đích xác định và báo cáo mức độ phù hợp giữa thông tin có thể lượng hoá với những tiêu chuẩn đã được thiết lập"

- Tại nước Anh (1998) các nhà khoa học đưa ra khái niệm: "Kiểm toán là sự kiểm tra độc lập và là sự bày tỏ ý kiến về những bản khai tài chính của một xí nghiệp do một kiểm toán viên được bổ nhiệm để thực hiện những công việc đó theo đúng với bất

kỳ nghĩa vụ pháp định có liên quan"

- Tại Cộng hoà Pháp (1998) các nhà kinh tế quan niệm rằng: "Kiểm toán là việc nghiên cứu và kiểm tra các tài khoản niên độ của một tổ chức do một người độc lập,

đủ danh nghĩa gọi là một kiểm toán viên tiến hành để khẳng định rằng những tài khoản đó phản ánh đúng tình hình tài chính thực tế không che dấu sự gian lận và chúng được trình bày theo mẫu chính thức của luật định"

- Định nghĩa của Liên đoàn kế toán (International Federation of Accounting –

IFAC) thì “Kiểm toán là việc các kiểm toán viên độc lập kiểm tra và trình bày ý kiến của mình về các bản báo cáo tài chính”

- Giáo trình kiểm toán của các tác giả Alvin A Rens và James K Loebbecker đã

định nghĩa: “Kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập và có thẩm quyền thu thập

và đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thể định lượng được của một đơn vị

cụ thể nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã được thiết lập”

Trang 21

Như vậy, qua việc phân tích các khái niệm kiểm toán, có thể thống nhất rằng: Kiểm toán là một quá trình chứ không phải là một hoạt động đơn lẻ, phản ánh hoạt động của các chuyên gia độc lập, có thẩm quyền, có kỹ năng nghiệp vụ Thông qua hoạt động kiểm toán, các chuyên gia có thể thu thập, định lượng, đánh giá các thông tin về chủ thể kinh tế (so với chuẩn mực đã xác định) và có thể kiểm tra, kiểm soát được các hoạt động kinh tế cả ở tầm vi mô và vĩ mô

1.1.2 Mục đích của hoạt động kiểm toán

Hoạt động kiểm toán của KTNN là việc đánh giá và xác nhận tính đúng đắn, trung thực của các thông tin tài chính công, tài sản công hoặc BCTC liên quan đến quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công; việc chấp hành pháp luật và hiệu quả trong việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công; nhằm nâng cao chất lượng quản lý tài chính, tài sản công thông qua việc:

- Cung cấp cho đối tượng sử dụng báo cáo kiểm toán các thông tin, kết luận, ý kiến kiểm toán độc lập, khách quan, đáng tin cậy và có đầy đủ bằng chứng thích hợp liên quan;

- Nâng cao trách nhiệm giải trình và sự minh bạch, khuyến khích cải tiến liên tục

và củng cố niềm tin vào việc sử dụng hợp lý tài chính công, tài sản công và việc quản trị công;

- Nâng cao hiệu lực của các cơ quan có chức năng giám sát và các tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động có sử dụng công quỹ;

- Tạo ra các động lực cải tiến thông qua các kết quả và kiến nghị kiểm toán

1.1.3 Chức năng của Kiểm toán

KTNN có chức năng đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị đối với việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công theo quy định tại Điều 9 Luật Kiểm toán nhà nước số 81/2015/QH13 ngày 24/6/2015 của Quốc hội

1.1.4 Phương pháp kiểm toán

Có hai phương pháp kiểm toán cơ bản nhằm thu thập bằng chứng kiểm toán là phương pháp thử nghiệm cơ bản và phương pháp thử nghiệm kiểm soát

Trang 22

- Phương pháp thử nghiệm cơ bản: Là việc kiểm tra để thu thập bằng chứng

kiểm toán liên quan đến thông tin cần kiểm tra nhằm phát hiện ra những sai lệch trọng yếu làm ảnh hưởng đến thông tin cần kiểm tra Phương pháp này gồm hai thủ tục: Thủ tục phân tích đánh giá tổng quát và thủ tục kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ và số dư

 Thủ tục phân tích đánh giá tổng quát: Là việc phân tích các số liệu, thông tin,

các tỷ suất quan trọng, qua đó tìm ra những xu hướng, biến động và tìm ra những mối quan hệ có mâu thuẫn với các thông tin liên quan khác hoặc có sự chênh lệch lớn hơn so với giá trị đã dự kiến Các phương pháp phân tích chủ yếu gồm: Phân tích xu hướng, phân tích tỷ số và phân tích dự báo Từ đó, giúp chúng ta phân tích được tính trọng yếu của các tài khoản; đánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát; độ chính xác có thể dự kiến của quy trình

 Thủ tục kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ và số dư: gồm kiểm toán số dư đầu

năm, kiểm tra chi tiết và kiểm toán số dư cuối năm Tuy nhiên, phương pháp kiểm tra chi tiết từng loại hoạt động, từng nghiệp vụ và số dư trở nên không thực tế khi quy mô hoạt động và khối lượng giao dịch ngày càng tăng lên Vì vậy, kiểm toán hiện đại thường ít kiểm tra chi tiết toàn bộ các nghiệp vụ và các

số dư tài khoản, mà khi kiểm tra chi tiết kiểm toán viên có thể lấy mẫu kiểm tra

- Phương pháp thử nghiệm kiểm soát: Là việc kiểm tra để thu thập bằng chứng

kiểm toán về sự thiết kế phù hợp và sự vận hành hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội

bộ Mục đích để thu thập các bằng chứng về tính thích hợp và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ

1.1.5 Nội dung cơ bản quy trình kiểm toán

1.1.5.1 Khái niệm quy trình kiểm toán

QTKT là trình tự các bước tiến hành một cuộc kiểm toán, nhằm giúp KTV tập hợp đầy đủ bằng chứng kiểm toán cần thiết

QTKT theo quy định Luật Kiểm toán nhà nước số 81/2015/QH13 ngày 24/6/2015 của Quốc hội gồm 04 bước: Chuẩn bị kiểm toán; thực hiện kiểm toán; lập

và gửi báo cáo kiểm toán; theo dõi, kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán

Trang 23

(Nguồn: Tác giả tổng hợp theo Luật KTNN số 81/2015/QH13 và CMKTNN số 100 và 1300)

Sơ đồ 1.1: Quy trình kiểm toán

Thực hiện kiểm

toán

Chuẩn bị kiểm toán

Lập và gửi báo cáo

kiểm toán

- Lập đề cương khảo sát, thu thập thông tin;

- Thực hiện khảo sát, thu thập thông tin;

- Phân tích các thông tin thu thập được;

- Lập báo cáo kết quả khảo sát thu thập thông tin

Thực hiện các thử nghiệm kiểm soát và thử nghiệm cơ bản để thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán

Đánh giá bằng chứng kiểm toán và đưa ra các kết luận kiểm toán

Lập dự thảo báo cáo kiểm toán

Tiền kế hoạch

Lập kế hoạch

Ban hành và công khai báo cáo kiểm toán

- Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ và thông tin

đã thu thập về đơn vị được kiểm toán

- Xác định nội dung, trọng yếu, tiêu chí, phạm vi kiểm toán;

- Phương pháp và thủ tục kiểm toán

- Xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán;

- Xác định nguồn lực kiểm toán;

- Lập, thẩm định, phê duyệt KHKT

Theo dõi, kiểm tra việc

thực hiện kết luận, kiến

Trang 24

1.1.5.2 Nội dung quy trình kiểm toán

Bảng 1.1: Tổng quan về quy trình kiểm toán

Stt Nội dung công việc Trách nhiệm Thời gian

1 Chuẩn bị kiểm toán

2 Phân tích các thông tin thu thập

được

KTV được giao nhiệm vụ khảo sát

3 Lập báo cáo kết quả khảo sát thu

5 Lập, thẩm định, phê duyệt

KHKT

Tổng Kiểm toán nhà nước; ĐKT

2 Thực hiện kiểm toán

1 Công bố QĐKT Tổng Kiểm toán nhà

nước, ĐKT, ĐVKT

Chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày ký QĐKT

2 Thực hiện các phương pháp,

nghiệp vụ kiểm toán Thành viên ĐKT

3 Lập biên bản kiểm toán Thành viên ĐKT

4 Kết thúc kiểm toán tại ĐVKT ĐKT

3 Lập và gửi báo cáo kiểm toán

1 Lập dự thảo báo cáo kiểm toán

và gửi lấy ý kiến của ĐVKT ĐKT

Chậm nhất 30 ngày kể từ ngày kết thúc kiểm toán tại ĐVKT

2 Ý kiến của ĐVKT (nếu có) về dự

thảo báo cáo kiểm toán ĐVKT

Thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được dự thảo báo cáo kiểm toán

3

Ký và ban hành Báo cáo kiểm Tổng Kiểm toán nhà Trong thời hạn 45 ngày

Trang 25

3 toán nước kể từ ngày kết thúc kiểm toán

tại ĐVKT; trường hợp đặc biệt

có thể kéo dài nhưng không quá 60 ngày

4 Công khai Báo cáo kiểm toán Tổng Kiểm toán nhà

kiểm tra việc thực hiện kết luận,

kiến nghị kiểm toán

KTNN Sau khi ban hành Báo cáo kiểm

toán

2

Lập và công khai báo cáo kết

quả kiểm tra việc thực hiện kết

luận, kiến nghị kiểm toán

KTNN

(Nguồn:Tác giả tổng hợp theo Luật KTNN số 81/2015/QH13)

a) Chuẩn bị kiểm toán

Chuẩn bị kiểm toán là giai đoạn đầu tiên và có vị trí quan trọng trong cuộc kiểm toán Mục đích của bước này là lập được kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán một cách phù hợp, khoa học và hiệu quả Trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán này thường thực hiện các công việc chủ yếu sau:

- Lập đề cương khảo sát, thu thập thông tin

- Khảo sát, thu thập thông tin

- Phân tích các thông tin thu thập được;

- Lập báo cáo kết quả khảo sát thu thập thông tin

- Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ và thông tin đã thu thập về ĐVKT

- Xác định nội dung, trọng yếu, tiêu chí, phạm vi kiểm toán;

- Phương pháp và thủ tục kiểm toán

- Xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán;

- Xác định nguồn lực kiểm toán;

- Lập, thẩm định, phê duyệt KHKT

b) Thực hiện kiểm toán

Trang 26

Giai đoạn này là quá trình sử dụng các phương pháp, kỹ thuật kiểm toán thích hợp với ĐVKT cụ thể để thu thập bằng chứng kiểm toán, nhằm làm cơ sở cho ý kiến đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị kiểm toán về nội dung đã kiểm toán Trong giai đoạn này thường thực hiện các công việc chủ yếu sau:

- Thực hiện kiểm toán đúng QĐKT

- Áp dụng phương pháp chuyên môn, nghiệp vụ kiểm toán để thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán; kiểm tra, đối chiếu, xác nhận; điều tra đối với tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động kiểm toán

- Lập biên bản kiểm toán

- Kết thúc kiểm toán tại ĐVKT

c) Lập và gửi báo cáo kiểm toán

Giai đoạn cuối cùng của cuộc kiểm toán, sau khi hoàn thành các công việc kiểm toán trong từng phần hành, KTV phải tổng hợp, đánh giá các thông tin đã thu thập được nhằm rà soát toàn bộ quá trình kiểm toán Trong giai đoạn này thường thực hiện các công việc chủ yếu sau:

- Hoàn thiện dự thảo báo cáo kiểm toán và gửi lấy ý kiến của ĐVKT, chậm nhất

là 30 ngày, kể từ ngày kết thúc kiểm toán tại ĐVKT

- Ý kiến bằng văn bản của ĐVKT (nếu có); trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được dự thảo báo cáo kiểm toán

- Ban hành Báo cáo kiểm toán, gửi cho ĐVKT và cơ quan có liên quan, chậm nhất là 45 ngày kể từ ngày kết thúc kiểm toán tại ĐVKT; trường hợp đặc biệt thì có thể kéo dài không quá 60 ngày kể từ ngày kết thúc kiểm toán tại ĐVKT

- Công khai Báo cáo kiểm toán

d) Theo dõi, kiểm tra việc thực hiện kết luận và kiến nghị kiểm toán

Giai đoạn này nhằm đánh giá việc thực hiện các kết luận và kiến nghị của ĐVKT, việc giải quyết các vấn đề đã nêu trong báo cáo kiểm toán của ĐVKT và các bên có liên quan, đồng thời phục vụ cho việc lập KHKT lần sau Trong giai đoạn này thường thực hiện các công việc chủ yếu sau:

Trang 27

- Lập kế hoạch và tổ chức kiểm tra ĐVKT trong việc thực hiện đầy đủ, kịp thời kết luận, kiến nghị kiểm toán của KTNN

- Yêu cầu ĐVKT báo cáo bằng văn bản kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán;

- Tổ chức kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán tại ĐVKT và cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan

- Lập và công khai báo cáo kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán

1.2 Tổng quan về quy trình thanh tra

1.2.1 Khái niệm về thanh tra

Thanh tra là một khái niệm có thể được hiểu theo cả hai nghĩa là danh từ và động

từ Nếu hiểu theo nghĩa danh từ thì thanh tra có thể hiểu đó là sự thanh tra, hoặc chỉ tổ chức thanh tra Hiểu theo nghĩa động từ thì thanh tra được hiểu là hoạt động thanh tra Khi bàn về thanh tra nói chung, người ta thường hiểu trên phương diện động từ để phân tích, làm rõ bản chất của hoạt động thanh tra

Hoạt động thanh tra (inspect) xuất phát từ gốc La tinh (inspectorate) có nghĩa là

“nhìn vào bên trong”, chỉ một sự kiểm tra, xem xét từ bên ngoài đối với hoạt động của một số đối tượng nhất định

Hiến pháp 1946, Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta chưa sử dụng thuật ngữ

“thanh tra”, hoạt động thanh tra, kiểm tra chưa được giao cho một cơ quan chuyên trách nào, mà quyền “kiểm soát” đối với Chính phủ được giao cho Ban thường vụ của Nghị viện Ngày 23/11/1945, chỉ sau gần ba tháng từ khi Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, Hồ Chủ tịch đã ký Sắc lệnh số 64-SL thành lập Ban Thanh tra đặc biệt

Từ đây thuật ngữ “thanh tra” xuất hiện, quyền thanh tra được xác định và chính thức giao cho Chính phủ

Hiến pháp năm 1959 cũng đề cập đến một số nội dung về kiểm tra việc thi hành các quyết định quản lý nhà nước Hiến pháp năm 1980 đã sử dụng thuật ngữ “thanh tra” với nội dung là một chức năng của cơ quan quản lý nhà nước Khoản 15, Điều 107 của Hiến pháp quy định Hội đồng Bộ trưởng có nhiệm vụ: “tổ chức và lãnh đạo công tác

Trang 28

các cấp chiểu theo quyền hạn do luật định, ra những quyết định, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành những văn bản đó” Đến Hiến pháp năm 1992, khái niệm thanh tra, kiểm tra được thể hiện rõ hơn qua các Điều 112, 115, 116 và 124 Khoản 7 Điều 112 quy định Chính phủ có nhiệm vụ “tổ chức và lãnh đạo công tác kiểm kê, thống kê của Nhà nước, công tác thanh tra, kiểm tra nhà nước, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước; công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân”

Hiến pháp được sửa đổi năm 2013 tiếp tục quy định về nhiệm vụ thanh tra của các

cơ quan quản lý nhà nước Cụ thể, Khoản 5, Điều 96, Hiến pháp quy định, Chính phủ có

nhiệm vụ, quyền hạn “tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước” Điều 99, Hiến pháp

quy định Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ có trách nhiệm “tổ chức thi hành và theo dõi việc thi hành pháp luật liên quan đến ngành, lĩnh vực trong phạm vi toàn quốc”

Trong cuốn “Kỷ yếu Bác Hồ với thanh tra”, thanh tra được hiểu là “sự xem xét, kiểm tra thường xuyên, định kỳ nhằm rút ra những nhận xét, kết luận cần thiết để kiến nghị với các cơ quan nhà nước khắc phục những nhược điểm, phát huy ưu điểm, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước”

Pháp lệnh thanh tra năm 1990, hoạt động thanh tra của các tổ chức Thanh tra được xác định là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước Điều 8, Pháp lệnh

thanh tra quy định nhiệm vụ của các tổ chức Thanh tra nhà nước là: “thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch nhà nước của các cơ quan, tổ chức và cá nhân, trừ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan Điều tra, Kiểm sát, Toà án

và việc giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế, xử lý vi phạm hợp đồng kinh tế của cơ quan Trọng tài kinh tế”

Đến Luật thanh tra năm 2004 tiếp tục quy định sự cần thiết của hoạt động thanh tra

và phạm vi thanh tra Theo đó, cơ quan thanh tra nhà nước tiến hành thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp (Điều 2) Đặc biệt, Luật Thanh tra năm 2010 đã quy định cụ thể và toàn diện về chức năng của cơ quan thanh tra nhà nước

Điều 5 của Luật này quy định: “Cơ quan thanh tra nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện và giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện quản lý

Trang 29

nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng; tiến hành thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng theo quy định của pháp luật” Luật thanh tra 2010 cũng khẳng định hoạt động thanh tra nhằm phát

hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật, phòng ngừa, xử lý hành vi vi phạm; giúp cơ quan, tổ chức thực hiện đúng quy định pháp luật; góp phần nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước

Từ những phân tích nêu trên, có thể đưa ra khái niệm hoạt động thanh tra như sau:

“Thanh tra là việc xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý hành chính nhà nước có thẩm quyền theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định đối với việc làm của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc phạm vi quản lý nhằm kết luận đúng, sai, chỉ ra ưu điểm, khuyết điểm, trên cơ sở đó phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý các vi phạm, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân”

1.2.2 Mục đích của hoạt động thanh tra

Chỉ thị số 38/CT-TƯ ngày 20/02/1984 của Ban Bí thư Trung ương Đảng nêu rõ: "Mục đích của thanh tra là đánh giá chính xác những mặt làm đúng, làm sai trong việc chấp hành các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật, kế hoạch nhà nước…Trước mắt cũng như lâu dài công tác thanh tra có tác dụng quan trọng, trực tiếp giữ gìn pháp luật nhà nước, tăng cường trách nhiệm quản lý kinh tế, quản lý xã hội của bộ máy nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động"

Pháp lệnh thanh tra ngày 01/4/1990 nêu rõ mục đích hoạt động thanh tra là

"nhằm phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý vi phạm, góp phần thúc đẩy hoàn thành nhiệm vụ, hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo

vệ lợi ích nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân"

Mục đích hoạt động thanh tra nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà

Trang 30

nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân (Điều 2 - Luật số 56/2010/QH)

1.2.3 Chức năng của cơ quan thanh tra nhà nước

Cơ quan thanh tra nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện và giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện QLNN về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; tiến hành thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật

1.2.4 Phương pháp tiến hành thanh tra

- Yêu cầu ĐTTT cung cấp các hồ sơ, tài liệu có liên quan đến nội dung thanh tra, tập trung nghiên cứu các vấn đề trọng tâm thanh tra, đối chiếu với báo cáo của đơn vị gửi cho ĐTT

- Phân tích số liệu, đối chiếu với các quy định của Nhà nước về chủ trương, chính sách, chế độ quy định, xử lý các mâu thuẫn, sai lệch, tìm nguyên nhân, xử lý các sai phạm (nếu có)

- Phân loại nội dung, đối tượng cần xác minh, kiểm tra thực tế; lập kế hoạch đi xác minh và kiểm tra thực tế kịp thời

- Lập biên bản các vụ việc có dấu hiệu sai phạm, báo cáo đề xuất xử lý kịp thời, nếu thấy có dấu hiệu vi phạm pháp luật thì chuyển sang cơ quan điều tra theo quy định của pháp luật

- Lập biên bản tổng hợp kết quả thanh tra thông qua ĐTTT, kết thúc thanh tra

1.2.5 Nội dung cơ bản của Quy trình hoạt động thanh tra

1.2.5.1 Quan niệm về hoạt động thanh tra

Quan niệm về hoạt động thanh tra xuất phát từ quan niệm coi thanh tra là chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước Mục đích của quản lý nhà nước xét cho cùng là bảo đảm cho mọi hoạt động trong xã hội tuân thủ theo các quy định của pháp luật, bảo đảm cho công dân thực hiện được các quyền cơ bản của mình, tạo điều kiện phát huy mọi năng lực sản xuất của xã hội Để đạt được mục đích đó, Nhà nước phải thực hiện hai nhiệm vụ chính là thường xuyên phải hoàn thiện, loại trừ các khuyết tật

Trang 31

trong quá trình vận hành bộ máy nhà nước và tăng cường các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội Tương ứng với hai nhiệm vụ này là hai loại hình của hoạt động thanh tra bao gồm hoạt động thanh tra hành chính (hướng vào bản thân bộ máy quản lý) và hoạt động thanh tra chuyên ngành (hướng vào xã hội, các đối tượng quản lý) Vì vậy, về mặt pháp luật đã được đưa ra các định nghĩa và phân biệt hai loại hoạt động thanh tra của Việt Nam là hoạt động thanh tra hành chính và hoạt động thanh tra chuyên ngành

Theo quy định của pháp luật thì Thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra

của cơ quan quản lý nhà nước theo cấp hành chính đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan tổ chúc, cá nhân thuộc quyền quản lý trực tiếp "

Theo khái niệm này, thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra kiểm soát trong nội

bộ bộ máy nhà nước; là thanh tra của cơ quan cấp trên đối với cơ quan, đơn vị, cá nhân cấp dưới (thuộc quyền quản lý trực tiếp); là thanh tra của chủ thể quản lý này đối với một chủ thể quản lý khác và cũng là đối tượng quản lý của cơ quan cấp trên trong cùng

bộ máy nhà nước

Bên cạnh đó, việc chuyển đổi cơ chế quản lý từ cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường, định hướng XHCN đã kéo theo một loạt những thay đổi Đối tượng chịu sự thanh tra, kiểm tra đa dạng hơn, phức tạp hơn với sự gia tăng về số lượng các tổ chức kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế cũng như quá trình xã hội hoá nhiều lĩnh vực, trong đó Nhà nước không còn can thiệp trực tiếp bằng biện pháp hành chính, mà quản lý xã hội thông qua các công cụ quản lý vĩ mô, bằng luật pháp cho mọi thành phần kinh tế hoạt động và phát triển cũng như thực hiện chức năng thanh tra, kiểm tra, kiểm soát là chủ yếu Theo quan niệm, nhận thức mới, Nhà nước thực hiện vai trò phục vụ xã hội với tính chất là một tổ chức dịch vụ công; Nhà nước có trách nhiệm tạo ra một hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp và cá nhân tự do phát triển, đảm bảo

kỷ cương, kỷ luật, công bằng Trong cơ chế quản lý mới, phương thức, cách thức, mục đích, nội dung thanh tra đối với các doanh nghiệp không thể mang tính hành chính giống như trong bộ máy nhà nước mà cần phải được quản lý, thanh tra chuyên sâu bởi các cơ quan quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực đối với các tổ chức, cá nhân trong

Trang 32

việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, đó là lý do của việc xuất hiện hoạt động thanh tra chuyên ngành

Mục đích của hoạt động thanh tra chuyên ngành là bảo đảm sự chấp hành pháp luật của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân Đối tượng thanh tra của thanh tra chuyên ngành có phạm vi rộng hơn rất nhiều so với thanh tra hành chính và chủ yếu là khu vực tư, chẳng hạn các cuộc thanh tra về vệ sinh an toàn thực phẩm, thanh tra môi trường, thanh tra việc khám chữa bệnh, thanh tra xây dựng v.v Thanh tra chuyên ngành có quyền xử phạt hành chính trong khi thanh tra hành chính, với đối tượng là cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức nhà nước chủ yếu áp dụng các biện pháp kỷ luật hành chính Một đặc điểm nữa của thanh tra chuyên ngành là tổ chức và hoạt động nó thường do Chính phủ quy định trên cơ sở đề nghị của các bộ, ngành và phụ thuộc vài tính chất, phạm vi, đặc điểm của từng bộ, ngành đó (lĩnh vực giáo dục; lĩnh vực y tế, ngoại giao, tài chính v.v…) Như vậy, trong các quy định của hệ thống pháp luật hiện hành và thực tiễn hiện nay về mô hình tổ chức và hoạt động thanh tra trong các bộ, ngành rất phức tạp; còn tồn tại mô hình tổ chức và hoạt động thanh tra khác nhau giữa các bộ, ngành Những yếu tố này không thể không ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước Vì vậy, cần rà soát lại toàn bộ các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan đến mô hình tổ chức, hoạt động thanh tra trong các lĩnh vực chuyên ngành để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật

Nội hàm của khái niệm hoạt động thanh tra, nhìn từ góc độ chu trình có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau:

Thứ nhất, nếu tiếp cận theo nghĩa rộng, hoạt động thanh tra là hoạt động của các cơ

quan nhà nước trên các phương diện công tác như quản lý nhà nước về công tác thanh tra, khiếu nại, tố cáo, tiếp công dân và phòng, chống tham nhũng; công tác thanh tra trực tiếp, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tiếp công dân và phòng ngừa, phát hiện và xử lý tham nhũng; công tác nghiên cứu khoa học, nghiệp vụ, tổng hợp, xây dựng, hoàn thiện bộ máy cũng như đảm bảo hoạt động của các cơ quan thanh tra nhà nước (hoạt động thanh tra được tiếp cận như là một bộ phận của hoạt động quản lý nhà nước) Theo cách tiếp cận này, hoạt động thanh tra được mở rộng tối đa về phạm vi chủ thể thực hiện và nội dung hoạt

Trang 33

động Mọi cơ quan nhà nước đều có thể là chủ thể thực hiện hoạt động thanh tra Nội dung của hoạt động thanh tra cũng không bị bó hẹp mà bao gồm mọi hoạt động liên quan trực tiếp và các hoạt động bổ trợ cho hoạt động thanh tra Tuy nhiên, nếu theo quan niệm này, việc xác định hoạt động thanh tra sẽ trở nên vô cùng khó khăn vì phạm vi quá rộng

Thứ hai, nếu tiếp cận theo nghĩa hẹp, nhìn từ góc độ các bộ phận cấu thành ở trạng

thái tĩnh, hoạt động thanh tra là hoạt động thanh tra trực tiếp của các cơ quan thanh tra nhà nước thông qua Đoàn thanh tra, phát sinh từ khi có quyết định thanh tra đến khi có kết luận thanh tra, với các thành tố cấu thành bao gồm chủ thể thanh tra, đối tượng thanh tra, nội dung thanh tra, hình thức thanh tra, phương thức thanh tra của hoạt động thanh tra

Thứ ba, cũng có thể tiếp cận khái niệm hoạt động thanh tra dưới góc độ hẹp hơn là

hoạt động chủ yếu của các cơ quan thanh tra nhà nước Theo cách này, hoạt động thanh tra được thực hiện bởi các cơ quan thanh tra nhà nước thông qua chức năng chủ yếu của các cơ quan thanh tra là hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, được xác định từ việc xây dựng chương trình, kế hoạch thanh tra cho đến việc ra quyết định thanh tra, tiến hành thanh tra, kết luận thanh tra và xử lý sau thanh tra

Về phương diện pháp luật, thì hoạt động thanh tra hiện đang được hiểu theo nghĩa này, đồng thời pháp luật cũng quy định hoạt động thanh tra thành những mục riêng là hoạt động thanh tra hành chính và hoạt động thanh tra chuyên ngành, trong đó nhìn từ chu trình, hoạt động thanh tra bắt đầu từ việc xây dựng chương trình, kế hoạch thanh tra, ra quyết định thanh tra, trực tiếp tiến hành thanh tra đến khi ban hành kết luận thanh tra, xử

lý kết luận thanh tra Nếu tiếp cận theo cách này, hoạt động thanh tra chính là những kết quả cụ thể phải đạt được của một cuộc thanh tra đã được đề ra trong quyết định thanh tra hay kế hoạch thanh tra

Phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của Luận văn, chỉ ra những mặt được, mặt chưa được trong hoạt động thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành, trên cơ sở đó đưa

ra những kiến nghị đổi mới hoạt động thanh tra nên luận án xem xét hoạt động thanh tra

theo cách hiểu thứ ba như sau: “hoạt động thanh tra là các công việc do các cơ quan có chức năng thanh tra thực hiện trong quá trình xây dựng chương trình, kế hoạch thanh tra, tiến hành thanh tra đến việc ra kết luận, kiến nghị và tổ chức thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra”

Trang 34

1.2.5.2 Các giai đoạn quy trình thanh tra:

(Nguồn: Tác giả tổng hợp theo Thông tư số 05/2014/TT-TTCP)

Sơ đồ 1.2: Các bước cơ bản quy trình thanh tra

Tiến hành thanh tra

Chuẩn bị thanh tra

Kết thúc thanh tra

- Tìm hiểu chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, các quy định của pháp luật liên quan đến tổ chức

và hoạt động của ĐTTT;

- Tình hình, kết quả hoạt động của ĐTTT;

- Kết quả thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra của các cơ quan có thẩm quyền liên quan đến nội dung dự kiến thanh tra (nếu có)

- Ban hành QĐTT;

Công bố QĐTT và thực hiện các nghiệp vụ thanh tra Báo cáo kết quả thanh tra

- Xây dựng KHTT và đề cương yêu cầu ĐTTT báo cáo

Trang 35

1.2.5.3 Nội dung quy trình thanh tra

Bảng 1.2: Tổng quát về quy trình thanh tra

Tài liệu, biểu mẫu, căn

Công chức/Tổ công tác được giao nhiệm vụ khảo sát

Không quá 15 ngày làm việc tính

từ thời điểm được giao nhiệm vụ khảo sát

- Văn bản giao nhiệm vụ khảo sát;

- Điều 16, Thông tư 05/2014/TT-TTCP

1.2 Báo cáo kết quả

thu thập thông

tin, tài liệu, nắm

tình hình

Công chức/Tổ công tác được giao nhiệm vụ khảo sát

Chậm nhất 05 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc việc nắm tình hình

- Văn bản giao nhiệm vụ khảo sát;

- Báo cáo kết quả khảo sát;

1.3 Ban hành QĐTT Người ban

hành QĐTT;

TĐTT

Gửi QĐTT cho ĐTTT chậm nhất

05 ngày, kể từ ngày ký QĐTT

- Mẫu số 04-TTr ban hành kèm theo Thông tư 05/2014/TT-TTCP

1.4 Xây dựng và phê

duyệt KHTT

Người ban hành QĐTT;

ĐTT

- Không quá 05 ngày kể từ ngày ký QĐTT

- Không quá 03 ngày kể từ ngày ký QĐTT đối với trường hợp thanh tra đột xuất

- Điều 22 Nghị định 86/2011/NĐ-CP ngày 22/9/2011 của Chính phủ;

- Mẫu số 05-TTr ban hành kèm theo Thông tư 05/2014/TT-TTCP

1.6 Xây dựng đề

cương yêu cầu

TĐTT, các thành viên

Gửi đề cương cho ĐTTT trước khi

- QĐTT; KHTT

Trang 36

ĐTTT báo cáo ĐTT công bố QĐTT ít

hành QĐTT, ĐTT, ĐTTT trực tiếp và các

tổ chức, cá

nhân có liên quan

Chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày ký QĐTT

- Điều 44 Luật thanh tra năm 2010;

- Điều 26 Nghị định 86/2011/NĐ-CP ngày 22/9/2011;

- Điều 22 của Thông tư 05/2014/TT-TTCP

- Biên bản công bố QĐTT theo Mẫu số 06-TTr ban hành kèm theo Thông tư 05/2014/TT-TTCP

số 05/2014/TT-TTCP 2.3 Lập biên bản

tra tại đơn vị

được thanh tra

Mẫu 32-TTr ban hành kèm theo Thông tư 05/2014/TT-TTCP

2.5 Báo cáo tiến độ

và kết quả thực

hiện nhiệm vụ

thanh tra

Người ban hành QĐTT;

ĐTT

Trang 37

3.1 Báo cáo kết quả

thực hiện nhiệm

vụ của thành

viên ĐTT

Thành viên ĐTT

Chậm nhất 05 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc thanh tra tại đơn vị

3.2 Báo cáo kết quả

thanh tra của

ĐTT

TĐTT chủ trì xây dựng báo cáo

Chậm nhất 15 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc thanh tra tại đơn vị

- Khoản 2 Điều 49 Luật Thanh tra năm 2010

- Điều 29 Nghị định 86/2011/NĐ-CP ngày 22/9/2011;

- Mẫu số 33-TTr ban hành kèm theo Thông tư 05/2014/TT-TTCP 3.3 Ký và ban hành

KLTT

Người ban hành QĐTT

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày TĐTT ký ban hành báo cáo kết quả

thanh tra

- Mẫu số 34-TTr ban hành kèm theo Thông tư 05/2014/TT-TTCP

3.4 Công khai

KLTT

Người ban hành QĐTT, ĐTT

Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ký KLTT

- Điều 39 Luật Thanh tra năm 2010

- Điều 46 Nghị định 86/2011/NĐ-CP

- Biên bản công bố KLTT

3.6 Lập, bàn giao,

quản lý, sử dụng

hồ sơ thanh tra

theo Mẫu số 35-TTr ban hành kèm theo Thông tư 05/2014/TT-TTCP

(Nguồn: Tác giả tổng hợp theo Thông tư số 05/2014/TT-TTCP)

Trang 38

(1) Xây dựng định hướng chương trình thanh tra, kế hoạch thanh tra

Việc tiến hành thanh tra phải trên cơ sở định hướng chương tŕnh thanh tra, kế hoạch thanh tra được cấp có thẩm quyền phê duyệt Do đó, định hướng chương trình thanh tra, kế hoạch thanh tra phải được xây dựng hàng năm và cho từng cuộc thanh tra là quy định bắt buộc nhằm thực hiện cải cách hành chính, tạo chủ động trong công việc của các cơ quan thanh tra và đối tượng thanh tra

Để hoạt động thanh tra đạt kết quả tốt thì việc xây dựng định hướng chương trình thanh tra, kế hoạch thanh tra trước hết phải chủ động bám sát nội dung quản lý nhà nước trong các lĩnh vực Đồng thời, việc xây dựng Định hướng chương trình thanh tra, kế hoạch thanh tra phải hạn chế tối đa sự chồng chéo, trùng lắp trong hoạt động thanh tra, kiểm tra

(2) Tiến hành hoạt động thanh tra trực tiếp

Hoạt động thanh tra trực tiếp chính là việc tiến hành một cuộc thanh tra thông qua các giai đoạn như giai đoạn chuẩn bị tiến hành thanh tra, giai đoạn tiến hành thanh tra trực tiếp và giai đoạn kết thúc thanh tra

+ Giai đoạn chuẩn bị tiến hành thanh tra

Giai đoạn chuẩn bị tiến hành thanh tra gồm các bước: Khảo sát, nắm tình hình; Xây dựng đề cương, kế hoạch thanh tra; Chuẩn bị lực lượng cho cuộc thanh tra

Khảo sát nắm tình hình là bước quan trọng bởi lẽ thông qua việc khảo sát nắm tình hình, thu thập thông tin trước khi thanh tra, cơ quan tiến hành thanh tra sẽ rút ngắn được thời gian trong việc xác định trọng tâm cuộc thanh tra, xây dựng đề cương thanh tra, đảm bảo kế hoạch thanh tra sát với thực tế

Từ những nội dung cần thanh tra đã được xác định bước đầu, cơ quan được giao nhiệm vụ chủ trì cuộc thanh tra phải đề xuất cụ thể về nội dung, đối tượng và phạm vi cuộc thanh tra, khái quát những đề xuất này trong quyết định thanh tra và cụ thể hóa trong

đề cương, kế hoạch tiến hành cuộc thanh tra, trình người có thẩm quyền phê duyệt Thực hiện tốt nhiệm vụ trong khâu này là yêu cầu quan trọng trong đảm bảo triển khai cuộc thanh tra có trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trải về nội dung và không bị kéo dài về thời gian mà vẫn đảm bảo thực hiện đầy đủ yêu cầu đặt ra với cuộc thanh tra

Trang 39

Trong giai đoạn chuẩn bị tiến hành thanh tra, công tác chuẩn bị lực lượng cho Đoàn thanh tra là yếu tố có ý nghĩa quyết định đến sự thành công của cuộc thanh tra Từ những yêu cầu về nhiệm vụ được giao, cơ quan chủ trì cuộc thanh tra phải lựa chọn nhân lực phù hợp để xây dựng Đoàn thanh tra

+ Giai đoạn tiến hành thanh tra trực tiếp

Giai đoạn thanh tra trực tiếp luôn là giai đoạn trọng tâm, có ý nghĩa quyết định đến kết quả của cuộc thanh tra Trong giai đoạn này, có rất nhiều các tình huống phát sinh đòi hỏi phải xử lý kịp thời theo quy định của pháp luật, đòi hỏi phát huy tối đa vai trò chủ động của Trưởng Đoàn thanh tra và các thành viên Đoàn thanh tra Việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của Trưởng đoàn và các thành viên Đoàn thanh tra cần được đảm bảo đúng theo các quy định của Luật Thanh tra và các văn bản hướng dẫn thi hành, tuân thủ

đề cương, kế hoạch của cuộc thanh tra đã được phê duyệt Việc thu thập tài liệu, xác minh, đối chiếu các thông tin cần được thành viên đoàn thực hiện đầy đủ theo quy định tiến hành thanh tra trực tiếp

Trong giai đoạn tiến hành thanh tra trực tiếp, chế độ thông tin, báo cáo trong nội bộ Đoàn Thanh tra và giữa Đoàn thanh tra với người ra quyết định thanh tra, người được giao nhiệm vụ kiểm tra, giám sát đoàn thanh tra cần được tuân thủ nghiêm ngặt Trong nội bộ Đoàn thanh tra, việc thực hiện chế độ thông tin báo cáo cần thực hiện thường xuyên, đó là việc báo cáo của thành viên đoàn thanh tra với tổ trưởng, nhóm trưởng, Trưởng đoàn về những nội dung công việc đã và đang tiến hành, các tình huống phát sinh, những vấn đề cần có ý kiến chỉ đạo Ngược lại, trưởng đoàn thanh tra phải kịp thời thông tin đến các thành viên trong đoàn thanh tra về những nội dung chỉ đạo của người ra quyết định thanh tra, người được giao thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát hoạt động của đoàn thanh tra

Một yếu tố nữa không thể không nhắc đến trong giai đoạn này là việc kiểm tra, giám sát hoạt động của Đoàn thanh tra Việc kiểm tra, giám sát hoạt động của Đoàn Thanh tra được thực hiện tốt sẽ giúp người ra quyết định thanh tra nắm bắt kịp thời kết quả thanh tra tại từng thời điểm cụ thể, từ đó có quyết định đúng đắn, kịp thời về việc chấp thuận hay không chấp thuận, hoặc chỉ đạo những biện pháp khác để giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động của Đoàn thanh tra

Trang 40

Ở giai đoạn này, Đoàn thanh tra sẽ tập hợp kết quả công việc của các thành viên Đoàn thanh tra, xây dựng Báo cáo kết quả thanh tra và Kết luận thanh tra

Việc xây dựng Báo cáo kết quả thanh tra có thể được Đoàn thanh tra thực hiện ngay khi đang tiến hành thanh tra trực tiếp, sau khi từng phần việc cụ thể đã được hoàn thành Tuy nhiên, về mặt logic thời gian và trình tự tiến hành một cuộc thanh tra thì việc xây dựng Báo cáo kết quả thanh tra được Đoàn thanh tra thực hiện sau khi kết thúc thanh tra Đây là giai đoạn mà vấn đề thông tin, tài liệu cần xử lý không nhiều nhưng đòi hỏi việc tập trung trí tuệ rất lớn của các thành viên Đoàn thanh tra, đặc biệt là vai trò chủ đạo của Trưởng Đoàn thanh tra trong việc phân tích, đánh giá chứng cứ, so sánh, đối chiếu với các quy định của pháp luật

Công việc quan trọng nhất trong giai đoạn này là xây dựng Kết luận thanh tra, đây

là văn bản pháp lý quan trọng nhất của cuộc thanh tra Kết luận thanh tra do người ra quyết định thanh tra ban hành, thể hiện tính quyền lực nhà nước, được ban hành theo quy trình và được thể hiện theo hình thức do pháp luật quy định Kết luận thanh tra là căn cứ,

cơ sở để thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước xem xét, từ đó ra quyết định xử lý đối với

cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật; chấn chỉnh công tác quản lý, sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách, pháp luật để nâng cao hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước

+ Xem xét, xử lý kết luận, kiến nghị về thanh tra

Xem xét, xử lý kết luận, kiến nghị về thanh tra là khâu cuối cùng trong cả một quá trình thực hiện hoạt động thanh tra song lại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng quyết định hiệu lực của hoạt động thanh tra đồng thời cũng là dấu mốc xác định hoạt động thanh tra có đạt được kết quả đề ra hay không

Việc xem xét, xử lý kết luận, kiến nghị về thanh tra có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với kết quả hoạt động thanh tra nhưng lại không phụ thuộc nhiều vào vai trò của cơ quan thanh tra mà phụ thuộc phần lớn vào vai trò của thủ trưởng cơ quan hành chính Thực tế cho thấy, nếu thủ trưởng cơ quan hành chính quan tâm và coi trọng công tác thanh tra thì ở đó những kết luận, kiến nghị của cơ quan thanh tra hầu hết được thực hiện trên thực tế Và ngược lại, nếu thủ trưởng cơ quan hành chính không quan tâm đúng mức

Ngày đăng: 07/08/2019, 12:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Nguyễn Thị Vân Anh (2011), “Vận dụng kỹ thuật kiểm toán vào hoạt động thanh tra sai lệch thuế tại Cục thuế tỉnh Bình Dương”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vận dụng kỹ thuật kiểm toán vào hoạt động thanh tra sai lệch thuế tại Cục thuế tỉnh Bình Dương”
Tác giả: Nguyễn Thị Vân Anh
Năm: 2011
[6] Vương Thị Thanh Nhàn (2012), “Tìm hiểu quy trình kiểm toán hệ thống thông tin tại Công ty kiểm toán KPMG để vận dụng vào các doanh nghiệp kiểm toán của Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học kinh tế TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu quy trình kiểm toán hệ thống thông tin tại Công ty kiểm toán KPMG để vận dụng vào các doanh nghiệp kiểm toán của Việt Nam
Tác giả: Vương Thị Thanh Nhàn
Năm: 2012
[8] Nguyễn Phạm Hồng Nhung (2012), “Quy trình kiểm toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ tại Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán Biên Hòa (BHAAC)”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Lạc Hồng Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình kiểm toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ tại Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán Biên Hòa (BHAAC)
Tác giả: Nguyễn Phạm Hồng Nhung
Năm: 2012
[9] Huỳnh Ái Quốc (2015), “Vận dụng phương pháp kiểm toán vào công tác kiểm tra, thanh tra thuế tại Cục Thuế tỉnh Đồng Nai”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Lạc Hồng Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng phương pháp kiểm toán vào công tác kiểm tra, thanh tra thuế tại Cục Thuế tỉnh Đồng Nai
Tác giả: Huỳnh Ái Quốc
Năm: 2015
[2] Đặc san tuyên truyền pháp luật số 02/2012, chủ đề thanh tra và pháp luật về thanh tra, Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ ban hành năm 2012 Khác
[3] Phan Thanh Hải - Nghiên cứu về khái niệm kiểm toán qua các giáo trình phổ biến hiện nay Khác
[7] Nghị định 21/2016/NĐ-CP, Quy định việc thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, Chính phủ ban hành ngày 31/03/2016 Khác
[11] Quyết định số 1518/QĐ-BHXH, Quy định hoạt động thanh tra chuyên ngành đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế và hoạt động kiểm tra của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam ban hành ngày 18/10/2016 Khác
[12] Quyết định số 1414/QĐ-BHXH, Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bảo hiểm xã hội địa phương, Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam ban hành ngày 04/10/2016 Khác
[13] Quyết định số 868/QĐ-BHXH, Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm và chế độ quản lý của phòng nghiệp vụ thuộc Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam ban hành ngày 23/05/2017 Khác
[14] Thông tư số 05/2014/TT-TTCP, Quy định về tổ chức, hoạt động, quan hệ công tác của Đoàn thanh tra và trình tự, thủ tục tiến hành một cuộc thanh tra, Thanh tra Chính phủ ban hành ngày 16/10/2014 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w