Năm 1936, công bố của hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ AICPA đã định nghĩa về KSNB là: “...các biện pháp và thách thức được chấp nhận và thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tiền
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG
LÊ MẠNH HÙNG
HOÀN THIỆN KIỂM SOÁT NỘI BỘ VỀ THU THUẾ TIỀN SỬ DỤNG ĐẤT TẠI CHI CỤC THUẾ
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
ĐỒNG NAI NĂM 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS TS: HÀ XUÂN THẠCH
ĐỒNG NAI NĂM 2018
Trang 3- - - - - -
Lời đầu tiên xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả quý thầy cô trường Đại Học Lạc Hồng đặc biệt là quý thầy cô khoa Sau Đại học Thầy cô đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và rèn luyện chuyên môn cũng như những kinh nghiệm thực tế trong cuộc sống hằng ngày
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến PSG.TS Hà Xuân Thạch, người thầy đã tận tình, chu đáo hướng dẫn tác giả thực hiện hoàn thành luận văn này
Xin chân thành gửi lời cảm ơn đến các anh chị Ban lãnh đạo Chi cục thuế thành phố Biên Hòa về những động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tác giả thu thập số liệu cũng như những tài liệu nghiên cứu cần thiết liên quan đến luận văn
Cuối cùng xin cảm ơn gia đình, tất cả những anh chị, những người bạn đã luôn bên cạnh tác giả trong những lúc khó khăn, luôn chia sẻ những niềm vui nỗi buồn trong khoảng thời gian học tập
Xin chân thành cảm ơn!
Đồng Nai, Tháng 06 năm 2018
Tác giả luận văn
Lê Mạnh Hùng
Trang 4Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu ”Hoàn thiện kiểm soát nội bộ
về thu thuế tiền sử dụng đất tại Chi cục thuế thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai” với
sự hướng dẫn của PGS.TS Hà Xuân Thạch Tất cả các nguồn tài liệu tham khảo được công bố đầy đủ trong luận văn
Đồng Nai, tháng 06 năm 2018 Tác giả luận văn
Lê Mạnh Hùng
Trang 5Thuế là một công cụ quan trọng của Nhà nước ta cũng như ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới và được xem là công cụ tập trung chủ yếu nguồn thu cho ngân sách nhà nước, điều tiết vĩ mô nền kinh tế và điều hoà thu nhập trong xã hội góp phần thực hiện bình đẳng và công bằng xã hội Có thể nói, Bộ máy Nhà nước của một quốc gia không thể tồn tại nếu không có ngành thuế và thuế là nguồn thu lớn nhất cho Ngân sách Nhà nước (NSNN) Thuế luôn là vấn đề được Nhà nước, các nhà kinh doanh, nhà đầu tư và người dân quan tâm Vì vậy, các luật thuế cũng luôn được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế xã hội của đất nước Một trong những yêu cầu quan trọng trong tổ chức thực thi chính sách thuế là phải thu đúng thu đủ và đúng thời hạn theo quy định của pháp luật về thuế Chấp hành tốt nghĩa vụ nộp thuế nhằm đảm bảo cân đối ngân sách quốc gia, cũng như đảm bảo tính công bằng giữa các đối tượng nộp thuế Việc sử dụng công cụ quản lý thuế là chức năng và nhiệm vụ của các cơ quan quản lý, trong đó các quy định cải cách hành chính về thuế và xây dựng quy trình quản lý hữu hiệu được xem là những công cụ vần thiết Theo đó, việc thu thuế tiền sử dụng đất được chọn là giải pháp giúp bù đắp các khoản chi của chính quyền địa phương nhằm không chỉ cung cấp các dịch vụ công địa phương tôt hơn mà còn giúp giảm gánh nặng Ngân sách Trung ương
Do đó hoạt động kiểm soát nội bộ đang đóng một vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động quản lý kinh tế của các Cơ quan quản lý Nhà nước Các đơn vị nào
mà xây dựng được quy trình kiểm soát nội bộ tốt thì sẽ khắc phục được các hạn chế nói trên nhằm giúp ngăn ngừa, hạn chế và giảm thiểu các rủi ro, giảm thiểu các chi phí không cần thiết, sử dụng hợp lý các nguồn lực như: con người, tài sản, vốn ngân sách, Quy trình kiểm soát nội bộ chính là công cụ quản lý hữu hiệu và hiệu quả cao nhất trong việc điều hành các nhiệm vụ Nhà nước giao Chính vì vậy với kiến thức
đã được học và làm việc thực tế tác giả chọn đề tài:”Hoàn thiện kiểm soát nội bộ về thu thuế tiền sử dụng đất tại Chi cục thuế thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai” để thực hiện luận văn tốt nghiệp Nhằm nâng cao chất lượng thu thuế tiền sử dụng đất tại Chi cục thuế thành phố Biên Hòa
Trang 6Ký hiệu Tên tiếng Anh Tên tiếng Việt
AICPA American Institute Of Certified
CAP Committee on Auditing Procedure Ủy ban thủ tục kiểm toán
COSO The committee of sponsoring
Organizations of the Treadway Commisson
Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về chống gian lận báo cáo tài chính
FEI Financial Executives Institute Hiệp hội quản trị viên tài chính
IIA Institute of Internal Auditors Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ IMA Institute of Management
Accountants
Hiệp hội kế toán viên quản trị
INTOSAI International Organizations of
Supreme Audit Instiutions
Tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao
Trang 7LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
TÓM TẮT LUẬN VĂN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC BẢNG
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan các đề tài đã nghiên cứu có liên quan 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 4
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp mới của đề tài 6
7 Nội dung thực hiện 6
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ QUY TRÌNH THU THUẾ 7
1.1 Tổng quan về kiểm soát nội bộ trong lĩnh vực công 7
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống KSNB 7
1.1.2 Định nghĩa và mục tiêu KSNB 12
1.1.2.1 Định nghĩa về KSNB 12
1.1.2.2 Các mục tiêu của kiểm soát nội bộ 13
1.1.3 Kiểm soát nội bộ khu vực công 14
1.1.4 Ý nghĩa KSNB trong một tổ chức hành chính công 14
1.2 Nội dung cơ bản về kiểm soát nội bộ trong khu vực công 15
1.2.1 Môi trường kiểm soát 16
1.2.2 Đánh giá rủi ro 18
1.2.3 Hoạt động kiểm soát 19
1.2.4 Thông tin và truyền thông 21
1.2.5 Giám sát 21
1.3 Đặc điểm hoạt động thu thuế tiền SDĐ có ảnh hưởng đến công tác KSNB 22
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 24
Trang 8DỤNG ĐẤT TẠI CHI CỤC THUẾ TP BIÊN HÒA 25
2.1 Giới thiệu về Chi cục thuế TP Biên Hòa 25
2.2 Thu thập dữ liệu và phương pháp nghiên cứu 28
2.2.1 Thu thập dữ liệu 28
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 30
2.3 Thực trạng KSNB về thu thuế TSDĐ tại CCTTPBH 32
2.3.1 Đánh giá KSNB về thu thuế tiền sử dụng đất tại CCTTPBH 32
2.3.1.1 Tình hình thu thuế cả nước 32
2.3.1.2 Tình hình thực hiện thu thuế tại CCTTPBH 33
2.3.1.3 Kết quả xử lý nộp thuế tiền SDĐ qua thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật thuế của CCTBH 34
2.3.1.4 Đánh giá KSNB về thu thuế tiền sử dụng đất tại CCTBH theo dữ liệu thứ cấp 35
2.3.2 Đánh giá KSNB về thu thuế tiền sử dụng đất tại CCTBH theo dữ liệu sơ cấp 37
2.3.2.1 Đánh giá các thông tin chung 37
2.3.2.2 Đánh giá bộ phận môi trường kiểm soát 40
2.3.2.3 Đánh giá bộ phận đánh giá rủi ro 42
2.3.2.4 Đánh giá bộ phận hoạt động kiểm soát 45
2.3.2.5 Đánh giá bộ phận thông tin và truyền thông 46
Bảng thống kê mô tả: (phụ lục số 9) 46
2.3.2.6 Đánh giá bộ phận giám sát 49
2.4 Những mặt chưa làm được và nguyên nhân tồn tại của HTKSNB về thu thuế tiền sử dụng đất tại CCTBH 50
2.4.1 Về Môi trường kiểm soát 50
2.4.2 Về Đánh giá rủi ro 51
2.4.3 Về Hoạt động kiểm soát 52
2.4.4 Về Thông tin và truyền thông 53
2.4.5 Về Giám sát 53
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 55
Trang 9TIỀN SỬ DỤNG ĐẤT TẠI CHI CỤC THUẾ TP.BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI56
3.1 Quan điểm hoàn thiện 56
3.2 Các giải pháp hoàn thiện KSNB tại Chi cục thuế Biên Hoà 59
3.2.1 Giải pháp tổng thể 59
3.2.2 Một số giải pháp cụ thể hòan thiện các yếu tố cấu thành KSNB tại Chi cục thuế Biên Hoà 61
3.2.2.1 Về môi trường kiểm soát 61
3.2.2.2 Về Thiết lập mục tiêu 62
3.2.2.3 Về Nhận diện sự kiện tiềm tàng 64
3.2.2.4 Về Đánh giá rủi ro 64
3.2.2.5 Về phản ứng rủi ro 66
3.2.2.6 Về Hoạt động kiểm soát 67
3.2.2.7 Về Thông tin và truyền thông 67
3.2.2.8 Về Giám sát 68
3.3 Các kiến nghị hỗ trợ nhằm giúp CCT hoàn thiện hệ thống KSNB 69
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 71
KẾT LUẬN CHUNG 72 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 10Hình 2.1: Cơ cấu bộ máy quản lý Chi cục thuế TP.Biên Hòa 26 Hình 2.2 : Khung nghiên cứu luận văn do tác giả xây dựng 29 Hình 2.3: Quy trình quản lý thu thuế do tác giả tự xây dựng 36
Trang 11Bảng 2.1: Bảng danh mục đối tượng khảo sát 32
Bảng 2.2: Thống kê Tình hình thu thuế trên địa bàn TP.Biên Hòa 33
Bảng 2.3: Tình hình thanh tra, kiểm tra thuế 35
Bảng 2.4: Bảng câu hỏi khảo sát về thực trạng hiện nay của HT KSNB 38
Bảng 2.5: Bảng thống kê kết quả khảo sát của bộ phận Môi trường Kiểm soát 40
Bảng 2.6: Thống kê kết quả khảo sát của bộ phận Đánh giá rủi ro 43
Bảng 2.7: Thống kê kết quả khảo sát của bộ phận Hoạt động kiểm soát 45
Bảng 2.8: Thống kê kết quả khảo sát của bộ phận Thông tin và truyền thông 47
Bảng 2.9: Thống kê kết quả khảo sát của bộ phận Giám sát 49
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu từ nội
bộ nền kinh tế quốc dân Tất cả các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước đều được đáp ứng qua các nguồn thu từ thuế, phí và các hình thức thu khác như: vay mượn, viện trợ nước ngoài, bán tài nguyên quốc gia, thu khác… Song, thực tế các hình thức thu ngoài thuế đó có nhiều hạn chế, bị ràng buộc bởi nhiều điều kiện Do đó thuế được coi là khoản thu quan trọng nhất vì khoản thu này mang tính chất ổn định
Thuế là một công cụ quan trọng của Nhà nước ta cũng như ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới và được xem là công cụ tập trung chủ yếu nguồn thu cho ngân sách nhà nước, điều tiết vĩ mô nền kinh tế và điều hoà thu nhập trong xã hội góp phần thực hiện bình đẳng và công bằng xã hội Có thể nói, Bộ máy Nhà nước của một quốc gia không thể tồn tại nếu không có ngành thuế và thuế là nguồn thu lớn nhất cho Ngân sách Nhà nước (NSNN) Thuế luôn là vấn đề được Nhà nước, các nhà kinh doanh, nhà đầu tư và người dân quan tâm Vì vậy, các luật thuế cũng luôn được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế xã hội của đất nước Một trong những yêu cầu quan trọng trong tổ chức thực thi chính sách thuế là phải thu đúng thu đủ và đúng thời hạn theo quy định của pháp luật về thuế Chấp hành tốt nghĩa vụ nộp thuế nhằm đảm bảo cân đối ngân sách quốc gia, cũng như đảm bảo tính công bằng giữa các đối tượng nộp thuế Việc sử dụng công cụ quản lý thuế là chức năng và nhiệm vụ của các cơ quan quản lý, trong đó các quy định cải cách hành chính về thuế và xây dựng quy trình quản lý hữu hiệu được xem là những công cụ vần thiết
Tại kỳ họp lần thứ 10 Quốc Hội khóa XI của nước ta đã ban hành Luật số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 về việc ban hành Luật Quản lý thuế Đây là một bước ngoặt quan trọng trong việc cải cách hành chính về thuế Theo đó, người nộp thuế phải thực hiện tự khai, tự tính, tự nộp thuế vào ngân sách Nhà nước (NSNN) và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật Vì vậy, đòi hỏi người nộp thuế phải có sự hiểu biết, nhận thức đúng, đủ các quy định về thuế, tự giác tuân thủ các nghĩa vụ về thuế
Trang 13Vì vậy, tại các Cơ quan quản lý hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập ngày càng nhiều, không những thực hiện các nhiệm vụ mang tính chuyên môn mà còn phải quản lý có hiệu quả về công tác quản lý tài chính và quản lý con người Thực tế, hoàn thiện kiểm soát nội bộ về thu thuế tiền sử dụng đất tại Chi cục thuế thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai mới được đề cập và áp dụng những năm gần đây nên phần lớn còn thiếu kinh nghiệm cả về lý luận và thực tiễn Trong những năm vừa qua, mặc dù đã có rất nhiều những nỗ lực, cống hiến tận tâm của toàn thể Lãnh đạo, Công chức, Viên chức trong công tác quản lý song bên cạnh đó vẫn còn một số những tồn tại, hạn chế cần phải thay đổi, khắc phục kịp thời như chưa quản
lý được tổng số hộ gia đình sử dụng đất còn nợ thuế, hoặc chưa thực hiện nghĩa vụ thuế… qua đó gây thất thu thuế cho ngân sách Nhà nước
Tuy nhiên, trong thời gian qua vẫn còn gặp phải nhiều bất cập t r o n g công tác quản lý thu thuế, kiểm tra thuế cũng như còn có trường hợp cán bộ thuế gây phiền hà, sách nhiễu, vô cảm đối với các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cán bộ thuế thông đồng với các tổ chức, cá nhân để gian lận thuế, trốn thuế, … làm giảm rất lớn uy tín của ngành thuế dẫn đến ảnh hưởng rất nhiều đến việc quản lý thu thuế nhằm huy động nguồn thu cho NSNN
Do đó hoạt động kiểm soát nội bộ đang đóng một vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động quản lý kinh tế của các Cơ quan quản lý Nhà nước Các đơn vị nào mà xây dựng được quy trình kiểm soát nội bộ tốt thì sẽ khắc phục được các hạn chế nói trên nhằm giúp ngăn ngừa, hạn chế và giảm thiểu các rủi ro, giảm thiểu các chi phí không cần thiết, sử dụng hợp lý các nguồn lực như: con người, tài sản, vốn ngân sách, Quy trình kiểm soát nội bộ chính là công cụ quản lý hữu hiệu và hiệu quả cao nhất trong việc điều hành các nhiệm vụ Nhà nước giao Chính vì vậy với kiến thức đã được học và làm việc thực tế tôi chọn đề tài:”Hoàn thiện kiểm soát nội bộ về thu thuế tiền sử dụng đất tại Chi cục thuế thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai” để thực hiện luận văn tốt nghiệp Nhằm nâng cao chất lượng thu thuế tiền sử dụng đất tại CCTTPBH
2 Tổng quan các đề tài đã nghiên cứu có liên quan
Đến nay thì các công trình nghiên cứu về KSNB khu vực công trong nước
đã nhiều, tuy nhiên mỗi đơn vị cụ thể thì có những đặc điểm khác nhau như: trình
Trang 14độ quản lý, phương tiện quản lý, quy mô quản lý, sẽ tác động đến vận dụng KSNB khác nhau Tác giả nghiên cứu các công trình có liên quan công bố gần đây để kế thừa và tìm ra khe trống cho nghiên cứu của mình Sau đây là một số công trình tiêu biểu gần đây liên quan đến KSNB ngành thuế:
Nghiên cứu ngoài nước:
- Trong cuốn sách “Tax Risk Management: From risk to opportunity” tác giả
đã bàn về vai trò của thuế; TCF - một hệ thống để nhận dạng rủi ro, giảm thiểu rủi
ro về thuế, kiểm soát và báo cáo rủi ro về thuế với mục tiêu quan trọng của hệ thống này là xây dựng hệ thống quản lý thuế hiệu quả và minh bạch, và một số kinh nghiệm quản trị rủi ro trong công tác thu thuế của nhiều nước trên thế giới như Úc, Canada, Pháp, Ireland,
Nghiên cứu trong nước:
1/ Nguyễn Việt Tường (2013), Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong
công tác chống thất thu thuế tại Chi cục Thuế quận Tân Bình Luận văn Thạc sĩ
Kinh tế Trường Đại học Kỹ thuật Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh Tác giả đang làm tại chi cục thuế Quận Tân Bình có 330 nhân viên chính thức, trong đó có
4 lãnh đạo cấp cao chi cục và 22 lãnh đạo cấp trung là đội trưởng, đội phó Với số lượng mẫu chọn là 110 và thu về phiếu hợp lệ là 66, tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả kết hợp phương pháp quan sát thực tế tại chi cục thuế quận Tân Bình, tác giả đánh giá được những mặt còn yếu kém và nguyên nhân tồn tại, từ đó
có căn cứ khoa học để đưa ra các giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong công tác chống thất thu thuế tại Chi cục Thuế quận Tân Bình
2/ Hoàng Thị Tuyết Thanh (2015), Hoàn thiện công tác quản lý thuế sử dụng
đất phi nông nghiệp tại Cục thuế tỉnh Phú Thọ, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế của
Trường Đại học Thái Nguyên Tác giả dựa trên nghiên cứu thực trạng quản lý tại địa phương, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, nhưng đều nghiên cứu trên địa bàn tỉnh, tầm bao quát, chưa mang tính sâu xát, trực tiếp như ở cấp huyện, do chi cục thuế quản lý
3/ Võ Đăng Khoa (2015), Hoàn thiện kiểm soát nội bộ quy trình thu thuế tại
Chi cục Thuế thị xã Dĩ An, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế của Trường Đại học Lạc
Hồng Tác giả khảo sát bằng cách phát phiếu câu hỏi bằng giấy, chọn mẫu số lượng
Trang 15phiếu gửi đi là 66 phiếu, nhận về 61 phiếu trong đó 56 phiếu trả lời ghi đầy đủ thông tin người trả lời Sử dụng phương pháp thống kê mô tả kết hợp phương pháp quan sát thực tế tại chi cục thuế thị xã Dĩ An, tác giả đánh giá được những mặt còn yếu kém và nguyên nhân tồn tại, từ đó có căn cứ khoa học để đưa ra các giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ quy trình thu thuế tại Chi cục Thuế thị xã Dĩ An
4/ Nguyễn Hoàng Minh (2015), Hoàn thiện kiểm soát nội bộ quy trình kiểm
tra thuế tại Chi cục Thuế thành phố Biên Hòa, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế của
Trường Đại học Lạc Hồng Tác giả khảo sát bằng cách phát phiếu câu hỏi bằng giấy, chọn mẫu số lượng phiếu gửi đi và nhận về, sau khi chọn lọc phiếu hợp lệ còn
100 phiếu trả lời hợp lệ Sử dụng phương pháp thống kê mô tả kết hợp phương pháp quan sát thực tế tại chi cục thuế TP Biên Hòa, tác giả đánh giá được những mặt còn yếu kém và nguyên nhân tồn tại, từ đó có căn cứ khoa học để đưa ra các giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ quy trình kiểm tra thuế tại Chi cục Thuế thành phố Biên Hòa
5/ Huỳnh Thị Cẩm Linh (2017), Hoàn thiện Kiểm soát nội bộ quản lý thu
thuế thu nhập doanh nghiệp đối với Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại tỉnh Bình Dương, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế của Trường Đại học Lạc Hồng Tác giả
khảo sát bằng cách phát phiếu câu hỏi bằng giấy, chọn mẫu số lượng phiếu gửi đi
và nhận về, sau khi chọn lọc phiếu hợp lệ còn 134 phiếu trả lời hợp lệ Sử dụng phương pháp thống kê mô tả kết hợp phương pháp quan sát thực tế tại tỉnh Bình Dương, tác giả đánh giá được những mặt còn yếu kém và nguyên nhân tồn tại, từ
đó có căn cứ khoa học để đưa ra các giải pháp đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp của các tổ chức kinh tế trên địa bàn tỉnh Bình Dương
Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu trước đây về KSNB trong lĩnh vực công Tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu cụ thể nào về KSNB thu thuế tiền sử dụng đất tại Chi cục thuế thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tại Chi cục thuế TP.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, vì vậy luận văn nghiên cứu của tác giả thực hiện là không bị trùng lặp với các đề tài đã nghiên cứu công bố trước đây
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm:
Trang 16- Tìm hiểu, khảo sát, đánh giá thực trạng quy trình KSNB về thu thuế tiền sử dụng đất tại TP.Biên Hòa
- Phân tích đánh giá được các nguyên nhân dẫn đến việc thất thu trong công tác thu tiền sử dụng đất
- Trên cơ sở phân tích những mặt đã làm được, chưa làm được tác giả đưa ra các đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống KSNB tại TP.Biên Hòa
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
* Phạm vi nghiên cứu
+ Chi cục thuế TP.Biên Hòa
+ Thời gian nghiên cứu năm 2017
* Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu này tập trung vào phân tích thực trạng về thực hiện kiểm soát nội bộ về thu thuế tiền sử dụng đất tại Chi cục thuế thành phố Biên Hòa trong giai đoạn 2014 - 2017 Cụ thể hơn trong nghiên cứu này, tác giả chỉ tập trung làm
rõ KSNB ảnh hưởng việc thu thuế tiền sử dụng đất KSNB thông qua các yếu tố bên trong của đơn vị
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, cụ thể sau:
* Đánh giá về thực trạng:
+ Trước hết tác giả sử dụng phương pháp quan sát thực tế và tình hình thực thu thuế tiền SDĐ, các ảnh hưởng từ các văn bản Nhà nước tại Chi cục thuế, cách thức tiến hành thu thuế tiền SDĐ để có cái nhìn cụ thể hiện trạng theo quan sát thứ cấp
+ Sau đó tác giả sử dụng phương pháp khảo sát bảng hỏi để lấy ý kiến về đánh giá theo 5 yếu tố KSNB đến việc thu thuế SDĐ
Dùng phương pháp tổng hợp, so sánh và tác giả đưa ra các nhận xét những mặt làm được và chưa làm được, nguyên nhân tồn tại KSNB ảnh hưởng đến việc thu thuế tiền SDĐ tại CCTBH
* Dữ liệu nghiên cứu:
Trang 17- Dữ liệu thứ cấp: Tình hình thu tiền sử dụng đất tại chi cục thuế TP Biên Hòa từ năm 2016 – 2017; Các văn bản có liên quan đến việc xây dựng KSNB về thu thuế tiền sử dụng đất của Cục thuế tỉnh và tại Chi cục thuế TP Biên Hòa
- Dữ liệu sơ cấp: Điều tra, khảo sát bảng câu hỏi có liên quan đến dữ liệu đánh giá KSNB thu thuế tiền sử dụng đất tại Chi cục thuế TP Biên Hòa
6 Đóng góp mới của đề tài
Đánh giá thực trạng kiểm soát nội bộ về thu thuế tiền sử dụng đất tại Chi cục thuế TP.Biên Hòa Luận văn làm rõ nét về tầm quan trọng của việc thu thuế tiền
sử dụng đất trên địa bàn TP.Biên Hòa thông qua việc đánh giá thực trạng của quy trình kiểm soát nội bộ về thu thuế tiền sử dụng đất để từ đó đưa ra những đề xuất, các giải pháp và kiến nghị về KSNB về thu thuế tiền sử dụng đất ngày càng hoàn thiện hơn nhằm tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước (NSNN)
7 Nội dung thực hiện
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục các tài liệu tham khảo của luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về KSNB quy trình thu thuế
Chương 2: Thực trạng kiểm soát nội bộ về thu thuế tiền sử dụng đất tại Chi cục thuế thành phố Biên Hòa
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ về thu thuế tiền sử dụng đất tại Chi cục thuế thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
Trang 18và phát triển kiểm soát nội bộ có thể tóm tắt qua giai đoạn sau:
* Giai đoạn sơ khai:
Mọi hoạt động kinh tế đều cần các nguồn vốn trong đó ngân hàng là kênh cung cấp vốn chủ yếu Để có thể cung cấp vốn, ngân hàng cần nắm được tình hình tài chính của doanh nghiệp thông qua các báo cáo tài chính có độ tin cậy cao Chính vì vậy các công ty kiểm toán ra đời Khi thực hiện chức năng nhận xét báo cáo tài chính, các kiểm toán viên đã sớm nhận thức được rằng không cần kiểm tra tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh mà chỉ cần chọn mẫu để kiểm tra và dựa vào
sự tin tưởng vào hệ thống kiểm soát nội bộ tại đơn vị được kiểm toán Chính vì vậy kiểm toán viên bắt đầu quan tâm đến kiểm soát nội bộ
Kiểm soát nội bộ đã tồn tại từ thời cổ đại Khi Hy Lạp có chính quyền kép, với việc phân chia trách nhiệm thu thuế và giám sát việc thu thuế
Hình thức ban đầu của kiểm soát nội bộ là kiểm soát tiền và bắt đầu từ cuộc cách mạng công nghiệp Thuật ngữ kiểm soát nội bộ bắt đầu xuất hiện từ giai đoạn này
Năm 1929, kiểm soát nội bộ chính thức được đề cập trong Federal Seserve Bulletin Thông qua đó, khái niệm kiểm soát nội bộ và vai trò của hệ thống KSNB trong công ty chính thức được công nhận như là một cơ sở để phục vụ cho việc lấy mẫu thử nghiệm của kiểm toán viên Khi thực hiện chức năng nhận xét báo cáo tài chính, kiểm toán viên nhận thức rằng không cần thiết kiểm tra tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh mà chỉ cần chọn mẫu để kiểm tra dựa vào sự hiểu biết về hệ thống KSNB mà doanh nghiệp được kiểm toán đã thiết lập, vận hành và tập hợp thông tin
Trang 19để lập báo cáo tài chính Vì vậy, KSNB lúc bấy giờ được hiểu rất đơn giản như là một công cụ để bảo vệ tiền và các tài sản khác đồng thời thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động
Năm 1936, công bố của hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA)
đã định nghĩa về KSNB là: “ các biện pháp và thách thức được chấp nhận và thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tiền và tài sản, cũng như kiểm tra việc ghi chép chính xác số liệu” Khi này, việc nghiên cứu và đánh giá hệ thống KSNB ngày càng được chú trọng
* Giai đoạn hình thành:
Năm 1949, một báo cáo đặc biệt của AICPA, định nghĩa KSNB là: “ cơ cấu
tổ chức và các biện pháp, cách thức liên quan được chấp nhận và thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tài sản, kiểm tra sự chính xác và đáng tin cậy của số liệu kế toán, thúc đẩy hoạt động có hiệu quả, khuyến khích sự tuân thủ các chính sách của người quản lý”
Sau đó, AICPA đã soạn thảo và ban hành nhiều chuẩn mực kiểm toán đề cập đến những khái niệm và khía cạnh khác nhau của kiểm soát nội bộ như:
Năm 1958, Ủy ban thủ tục kiểm toán (CAP – Committee on Auditing Procedure) trực thuộc AICPA ban hành báo cáo về thủ tục kiểm toán 29 (SAP – Statement on Auditing Procedure) về: “Phạm vi xem xét kiểm soát nội bộ của kiểm toán viên độc lập”
Năm 1962, CAP tiếp tục ban hành SAP 33 làm rõ hơn về kiểm soát nội bộ Năm 1972, CAP tiếp tục ban hành SAP 54 “Tìm hiểu và đánh giá kiểm soát nội bộ”
Như vậy trong suốt thời kỳ trên, khái niệm kiểm soát nội bộ đã không ngừng
mở rộng ra khỏi những thủ tục bảo vệ tài sản và ghi chép sổ sách kế toán Tuy nhiên, trước khi báo cáo COSO 1992 ra đời, kiểm soát nội bộ vẫn mới dừng lại như
là một phương tiện phục vụ cho kiểm toán viên trong kiểm toán báo cáo tài chính
* Giai đoạn phát triển:
AICPA đã soạn thảo và ban hành nhiều chuẩn mực đề cập đến những khái niệm
và khía cạnh khác nhau của KSNB trong hơn 40 năm sau đó như:
Trang 20SAP 29 (1958) “Phạm vi kiểm toán viên độc lập xem xét KSNB”, trong đó lần đầu tiên đề cập phân biệt KSNB về quản lý và KSNB về kế toán
SAP 54 (1972) “Tìm hiểu về đánh giá KSNB”, đã đưa ra 4 mục tiêu của kiểm soát kế toán SAS 55 (1988) “Xem xét KSNB trong kiểm toán báo cáo tài chính”, đã đưa ba yếu tố của KSNB là môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán và các thủ tục kiểm toán
Vào thập niên 1970 – 1980, nền kinh tế Hoa Kỳ phát triển mạnh mẽ kéo theo các vụ gian lận ngày càng tăng về số lượng lẫn quy mô, gây ra những tổn thất đáng kể cho nền kinh tế Năm 1977, sau vụ bê bối Watergate, quốc hội Hoa Kỳ đã ban hành Luật chống hối lộ ở nước ngoài Điều luật này nhằm nhấn mạnh đến vai trò của KSNB trong việc ngăn ngừa những khoản thanh toán bất hợp pháp và dẫn đến nhu cầu ghi chép đầy đủ trong mọi hoạt động
Năm 1985, với sự sụp đổ của các công ty cổ phần có niêm yết làm cho các nhà ban hành luật càng quan tâm đến hoạt động KSNB của công ty Nhiều quy định hướng dẫn về KSNB của các cơ quan chức năng Hoa Kỳ được ban hành trong giai đoạn này như: Ủy ban chuẩn mực kiểm toán Hoa Kỳ năm 1988, Ủy ban chứng khoán Hoa Kỳ năm 1998, Tổ chức nghiên cứu kiểm toán nội bộ năm 1991
Trước tình hình này, năm 1985, Ủy Ban COSO đã được thành lập Đây là một
Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về chống gian lận khi lập báo cáo tài chính (thường gọi tắt là Ủy ban Treedway) Ủy ban này được sự bảo trợ của 5 tổ chức: Hiệp hội kế toán viên công chứng Mỹ (AICPA), Hội kế toán Mỹ (American Accounting Association), Hiệp hội quản trị viên tài chính (The Financial Executives Institute – FEI), Hiệp hội kế toán viên quản trị (Institute of Management Accountants – IMA), Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ (The Institute of Internal Auditors – IIA)
Trước tiên, COSO đã sử dụng chính thức từ KSNB thay vì từ kiểm soát nội bộ
về kế toán Đến năm 1992, Ủy ban COSO đã chính thức ban hành Báo cáo 1992
Báo cáo COSO 1992 là tài liệu đầu tiên trên thế giới đưa ra khuôn mẫu lý thuyết về KSNB một cách đầy đủ và có hệ thống Trong báo cáo này nêu rõ KSNB không chỉ dừng lại ở vấn đề liên quan đến báo cáo tài chính mà được mở rộng ra phương diện hoạt động của doanh nghiệp và tuân thủ các chính sách
* Giai đoạn hiện đại (thời kỳ hậu COSO – từ 1992 đến nay)
Trang 21Báo cáo COSO ra đời nhằm đưa ra một định nghĩa, một cách hiểu được chấp nhận rộng rãi về KSNB và cũng hỗ trợ cho các nhà quản trị kiểm soát công ty một cách tốt hơn
Báo cáo COSO 1992 chưa thực sự hoàn chỉnh nhưng đã tạo lập được một cơ sở
lý thuyết rất cơ bản và được xem là nền tảng về KSNB Sau đó, hàng loạt các nghiên cứu phát triển về KSNB trong nhiều lĩnh vực khác nhau đã ra đời như phát triển về Quản trị rủi ro (ERM 2004), về công ty nhỏ, phát triển theo hướng công nghệ thông tin (COBIT), theo hướng kiểm toán độc lập, chuyên sâu về những ngành nghề cụ thể và giám sát (2008), cụ thể như sau:
* Phát triển về phía quản trị
Năm 2001, COSO tiếp tục triển khai nghiên cứu hệ thống đánh giá rủi ro doanh nghiệp (ERM) trên cơ sở báo cáo COSO 1992 Tháng 7/2003, bản dự thảo đã được công bố Trong bản dự thảo, ERM được định nghĩa gồm 8 bộ phận: Môi trường nội
bộ, thiết lập mục tiêu, nhận diện sự kiện, đánh giá rủi ro, đối phỏ rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin truyền thông và giám sát
Đến 2004, ERM đã được chính thức ban hành, theo đó ERM không nhằm thay thế cho báo cáo COSO 1992 mà chỉ được xem là cánh tay nối dài của báo cáo này
* Phát triển cho doanh nghiệp nhỏ
Năm 2006, COSO nghiên cứu và ban hành hướng dẫn “Kiểm soát nội bộ đối với báo cáo tài chính – hướng dẫn cho các công ty đại chúng quy mô nhỏ” (Gọi tắt là COSO Guidance 2006) Hướng dẫn này vẫn dựa trên nền tảng của báo cáo COSO
1992 và giải thích về cách thức áp dụng kiểm soát nội bộ trong các công ty đại chúng quy mô nhỏ (smaller publicly traded companies)
* Phát triển theo hướng công nghệ thông tin
Năm 1996, Ban tiêu chuẩn có tên “Các mục tiêu kiểm soát trong công nghệ thông tin và các lĩnh vực có liên quan” (CoBIT – Control Objectives for Information and Related Technology) do hiệp hội kiểm soát và kiểm toán hệ thống thông tin (ISACA – Information System Audit and Control Association) ban hành CoBIT nhấn mạnh đến kiểm soát trong môi trường tin học (CIS – Computer Infomation System), bao gồm những lĩnh vực hoạch định và tổ chức, mua và triển khai, phân phối và hỗ trợ, giám sát
* Phát triển theo hướng kiểm toán độc lập
Trang 22Các chuẩn mực kiểm toán của Hoa Kỳ cũng chuyển sang sử dụng Báo cáo COSO làm nền tảng đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ, bao gồm:
- SAS 78 (1995): Xem xét kiểm soát nội bộ trong kiểm toán báo cáo tài chính (điều chỉnh SAS 55) Các định nghĩa, nhân tố của kiểm soát nội bộ trong báo cáo COSO (1992) đã được đưa vào chuẩn mực này
- SAS 94 (2001): Ảnh hưởng của công nghệ thông tin đến việc xem xét kiểm soát nội bộ trong việc kiểm toán báo cáo tài chính
Hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc tế (ISA – International Standard on Auditing) cũng sử dụng báo cáo của COSO khi yêu cầu xem xét hệ thống kiểm soát nội bộ trong kiểm toán báo cáo tài chính, cụ thể là:
- ISA 315 dựa trên báo cáo COSO 1992 đã định nghĩa: “Hệ thống kiểm soát nội
bộ là một quá trình do bộ máy quản lý, Ban giám đốc và các nhân viên của đơn vị chi phối, được thiết lập nhằm cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện ba mục tiêu của báo cáo tài chính đáng tin cậy, pháp luật và các quy định được tuân thủ, hoạt động hữu hiệu và hiệu quả Hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết kế và thực hiện nhằm giảm thiểu những rủi ro kinh doanh có khả năng đe dọa đến việc đạt được những mục tiêu trên”
- ISA 265 yêu cầu kiểm toán viên độc lập thông báo về các khiếm khuyết của kiểm soát nội bộ do kiểm toán viên phát hiện được cho những người có trách nhiệm trong đơn vị
* Phát triển theo hướng kiểm toán nội bộ
Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ (IIA) định nghĩa các mục tiêu của kiểm soát nội
bộ bao gồm:
- Độ tin cậy và tính trung thực của thông tin
- Tuân thủ các chính sách, kế hoạch, thủ tục, luật pháp và quy định
- Bảo vệ tài sản
- Sử dụng hiệu quả và kinh tế các nguồn lực
Hoàn thành các mục đích và mục tiêu cho các hoạt động hoặc chương trình Các chuẩn mực của IIA không đi sâu vào nghiên cứu các thành phần của kiểm soát nội bộ, vì IIA là một thành viên của COSO nên về các nguyên tắc không có sự khác biệt giữa định nghĩa của IIA và COSO
* Phát triển theo hướng chuyên sâu vào những ngành nghề cụ thể
Trang 23Lĩnh vực ngân hàng là lĩnh vực đã có những nghiên cứu khá đầy đủ và chi tiết về kiểm soát nội bộ trong ngành nghề của nh Báo cáo Basel (1998) của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS – Basel Committee on Banking Supervision) đã đưa ra công bố về khuôn khổ kiểm soát nội bộ trong ngân hàng (Framework for Internal Control System in Banking Organisations)
Báo cáo trên đã định nghĩa: “Kiểm soát nội bộ là một quá trình bị chi phối bởi hội đồng quản trị, các nhà quản lý cao cấp và nhân viên Nó không chỉ là thủ tục hay chính sách được thực hiện tại một thời điểm cụ thể mà là một hoạt động liên tục ở mọi cấp trong ngân hàng Hội đồng quản trị và các nhà quản lý cao cấp có trách nhiệm thiết lập một nền văn hóa thích hợp để trợ giúp cho quá trình kiểm soát nội bộ cũng như liên tục giám sát sự hữu hiệu của nó, tuy nhiên mỗi cá nhân trong tổ chức phải tham gia quá trình này Các mục tiêu chính của kiểm soát nội bộ được phân loại như sau:
- Sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động,
- Sự tin cậy, đầy đủ và kịp thời của thông tin tài chính và quản trị,
- Sự tuân thủ pháp luật và các quy định liên quan,
Theo công bố này kiểm soát nội bộ bao gồm các bộ phận sau:
- Sự giám sát của nhà quản lý và văn hóa kiểm soát,
- Ghi nhận và đánh giá rủi ro,
- Các hoạt động kiểm soát và phân chia trách nhiệm,
- Thông tin và truyền thông,
- Giám sát và điều chỉnh sai sót
* Hướng dẫn về giám sát hệ thống kiểm soát nội bộ
COSO cũng đưa ra Dự thảo Hướng dẫn về giám sát hệ thống kiểm soát nội bộ (Exposure Draft, COSO 2008) dựa trên khuôn mẫu COSO 1992 nhằm giúp các tổ chức tự giám sát chất lượng của hệ thống kiểm soát nội bộ Hướng dẫn này (COSO Guidance 2008) bao gồm 3 phần: Hướng dẫn, Ứng dụng và Thí dụ
1.1.2 Định nghĩa và mục tiêu KSNB
1.1.2.1 Định nghĩa về KSNB
Theo Báo cáo COSO (1992) định nghĩa: “K S N B là một quá trình do người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập để
Trang 24cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện ba mục tiêu: Hoạt động hữu hiệu và
có hiệu quả; Báo cáo tài chính đáng tin cậy; Các luật lệ và quy định được tuân thủ” Với định nghĩa nà y, có bốn nội dung cơ bản được hiểu đó là:
- KSNB là một quá trình: Kiểm soát nội bộ gồm một chuỗi hoạt động kiểm soát hiện diện ở mọi bộ phận trong đơn vị, được kết hợp với nhau thành một thể thống nhất Kiểm soát nội bộ sẽ không bao giờ chấm dứt, nó luôn tồn tại và phát triển cùng với tổ chức Khi một tổ chức lớn mạnh thì kiểm soát nội bộ phải thay đổi, bổ sung để đáp ứng cho nhu cầu quản lý tại đơn vị
- KSNB được thiết kế và vận hành bởi con người: Kiểm soát nội bộ không chỉ đơn thuần là chính sách, thủ tục, biểu mẫu,… mà bao gồm cả con người trong tổ chức như: Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc, các Phòng ban và các nhân viên khác,… Con người định ra mục tiêu, thiết lập cơ chế kiểm soát ở mọi nơi và vận hành chúng trong quản lý Do đó, nó chịu ảnh hưởng bởi trình độ, nhận thức, môi trường hoạt động,…
- KSNB cung cấp một sự đảm bảo hợp lý: Việc vận hành hệ thống kiểm soát có thể xảy ra những mặt yếu kém là do các sai lầm của con người ảnh hưởng đến việc thực hiện được các mục tiêu
- KSNB nhằm ngăn chặn, phát hiện kịp thời những yếu kém và hạn chế sai xót xảy ra Mặt khác, để đưa ra quyết định, một nguyên tắc cơ bản trong quản lý và chi phí cho chu trình kiểm soát không thể vượt quá lợi ích mong đợi từ chu trình kiểm soát
đó Vì vậy, các nhà quản lý có thể nhận thức đầy đủ về các rủi ro nhưng với chi phí cho chu trình kiểm soát quá cao thì không thể áp dụng các thủ tục để kiểm soát rủi ro
1.1.2.2 Các mục tiêu của kiểm soát nội bộ
- Về tính tuân thủ: Kiểm soát nội bộ phải bảo đảm hợp lý việc chấp hành luật pháp cũng như các quy định Vấn đề này xuất phát từ trách nhiệm của nhà quản lý đối với những hành vi không tuân thủ trong đơn vị Mặt khác, KSNB còn phải hướng mọi thành viên trong đơn vị tuân thủ các chính sách, quy định nội bộ của đơn vị để từ đó bảo đảm đạt được những mục tiêu của đơn vị đề ra
- Về báo cáo tài chính: Kiểm soát nội bộ phải đảm bảo đáng tin cậy, trung thực vì nhà quản lý phải có trách nhiệm lập báo cáo tài chính phù hợp với chuẩn mực quy định
Trang 25- Về mục tiêu hữu hiệu và hiệu quả của các hoạt động: Kiểm soát nội bộ giúp đơn vị sử dụng hiệu quả các nguồn lực, bảo mật và bảo vệ thông tin, mở rộng thị phần, nâng cao uy tín, thực hiện tốt các chiến lược kinh doanh của đơn vị
1.1.3 Kiểm soát nội bộ khu vực công
Trong khu vực công, KSNB rất được quan tâm Hướng dẫn về KSNB của Tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao đã được ban hành năm 1992 và được cập nhật ở năm 2001, qua đó đưa ra các quan điểm và hướng dẫn về KSNB trong các đơn
vị thuộc khu vực công Chẳng hạn, năm 1999 tại Hoa Kỳ trong chính quyền liên bang được Cơ quan Kiểm toán Nhà nước ban hành chuẩn mực về KSNB Hầu hết, các chuẩn mực về KSNB trong khu vực công hiện nay đều đặt trên nền tảng của Báo cáo COSO 1992 với những điểm chính đó là:
Xác định KSNB là một bộ phận/quy trình không thể thiếu trong tổ chức nhằm đạt được các mục tiêu về:
Hiệu lực và hiệu quả của các hoạt động, bao gồm cả việc bảo vệ các nguồn lực không bị thất thoát, hư hỏng hoặc sử dụng sai mục đích; Báo cáo tài chính đáng tin cậy; Tuân thủ luật pháp và các quy định
1.1.4 Ý nghĩa KSNB trong một tổ chức hành chính công
Đưa vào chương trình đào tạo cho các nhà quản lý ở các đơn vị khu vực công vì đối với một tổ chức hành chính công sẽ thấy rất rõ tầm quan trọng của tổ chức KSNB trong việc như:
- Tạo lập một hệ thống thông tin và truyền đạt thông tin hữu hiệu trong toàn tổ chức, phục vụ cho việc thực hiện tất cả các mục tiêu KSNB Tạo lập một cơ cấu kỷ cương trong toàn bộ chu trình hoạt động của đơn vị Giúp nhận biết, phân tích và lựa chọn các phương pháp tối ưu, hạn chế các sự kiện bất lợi trong việc thực hiện mục tiêu
- Kiểm tra, đánh giá thường xuyên cũng như định kỳ giữa các bộ phận với nhau hoặc giữa cấp trên với cấp dưới giúp phát hiện, ngăn chặn kịp thời những sai sót hoặc
cố tình gây ra, và cũng giúp đánh giá và hoàn thiện hơn những bất cập cần bổ sung của
hệ thống KSNB
- Đối với Việt Nam chúng ta hiện nay, khái niệm KSNB còn rất mới lạ trong khu vực công Các nhà quản lý thường dựa vào các quy định của pháp luật, kinh nghiệm về quản lý của cá nhân để đánh giá hơn là một cái nhìn tổng quát và có hệ thống về công
Trang 26tác kiểm soát Bên cạnh đó, kỹ năng phân tích từ mục tiêu, rủi ro đến các hoạt động kiểm soát không tốt sẽ đi đến tổn hao nguồn lực vào những thủ tục kiểm soát không cần thiết nhưng lại bỏ đi những rủi ro quan trọng như rủi ro tài sản bị lãng phí hay thất thoát
1.2 Nội dung cơ bản về kiểm soát nội bộ trong khu vực công
* Khuôn mẫu hệ thống kiểm soát nội bộ
- Ủy ban tổ chức đồng bảo trợ của Hội đồng quốc gia chống gian lận về báo cáo tài chính (COSO) đã đưa định nghĩa: “KSNB là một quá trình chịu ảnh hưởng bởi các nhà quản lý và các nhân viên của một tổ chức, được thiết kế để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện các mục tiêu sau: (i) Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả; (ii) Thông tin đáng tin cậy; (iii) Sự tuân thủ các luật lệ và quy định”
Theo báo cáo COSO thì một hệ thống KSNB bao gồm 5 bộ phận có mối liên hệ chặt chẽ với nhau: Môi trường kiểm soát; đánh giá rủi ro; hoạt động kiểm soát; thông tin và truyền thông; giám sát Như vậy, báo cáo COSO đã tạo lập một nền tảng lý luận cơ bản về KSNB Trong khu vực công, INTOSAI cũng tích hợp những yếu tố cấu thành
hệ thống KSNB theo COSO khi ban hành những quy định về KSNB
* Khuôn mẫu hệ thống kiểm soát nội bộ trong đơn vị hành chính
- Mục tiêu của tài liệu INTOSAI GOV 9100 nhằm thiết lập và duy trì KSNB hữu hiệu trong khu vực công Vì vậy, các nhà lãnh đạo các tổ chức của Nhà nước xem tài liệu này là một nền tảng để thực hiện và giám sát KSNB trong tổ chức
INTOSAI GOV 9100 định nghĩa: “KSNB là một quá trình xử lý toàn bộ được thực hiện bởi nhà quản lý và các cá nhân trong tổ chức, quá trình này được thiết kế để phát hiện các rủi ro và cung cấp một sự đảm bảo hợp lý để đạt được nhiệm vụ của tổ chức
- Sau đây là những mục tiêu cần đạt được: Thực hiện các hoạt động một cách có
kỷ cương, có đạo đức, có tính kinh tế và hiệu quả; Thực hiện đúng trách nhiệm; Tuân thủ theo luật pháp và quy định hiện hành; Bảo vệ các nguồn lực chống thất thoát, sử dụng sai mục đích và tổn thất”
- So với định nghĩa của báo cáo COSO, khía cạnh giá trị đạo đức trong hoạt động được thêm vào và nhấn mạnh Bởi vì kỳ vọng rằng, công chức phải phục vụ lợi ích công với sự công bằng và quản lý nguồn lực công một cách đúng đắn Công dân phải nhận được sự đối đãi vô tư trên cơ sở pháp luật và công lý Các yếu tố cụ thể của
Trang 27hệ thống KSNB: Môi trường kiểm soát; đánh giá rủi ro; hoạt động kiểm soát; thông tin
và truyền thông; giám sát
thong-kiem-soat-noi-bo-tai-cac-co-quan-hanh-chinh-92390.html)
(http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/nghien-cuu-dieu-tra/khao-sat-he-Nội dung cơ bản về kiểm soát nội bộ trong khu vực công, theo INTOSAI 2013 thì có hai nhóm chuẩn mực về KSNB đó là: Hướng dẫn chung và hướng dẫn cụ thể
- Hướng dẫn chung: Bao gồm các quy định về tinh thần tuân thủ; năng lực và
phẩm chất; bảo đảm hợp lý; mục tiêu kiểm soát và giám sát
- Hướng dẫn cụ thể: Đi vào các quy định về tổ chức hồ sơ, tài liệu; phân chia
trách nhiệm; ghi chép kịp thời và đúng đắn các nghiệp vụ; tiếp cận và báo cáo về nhân lực và sổ sách
Theo INTOSAI 2013 đã được vận dụng từ việc bổ sung 17 nguyên tắc hướng dẫn COSO 2013 để phục vụ cho việc hoàn chỉnh KSNB khu vực công
Theo INTOSAI 2013, một hệ thống KSNB có 5 các yếu tố cấu thành, đó là:
1.2.1 Môi trường kiểm soát
Môi trường kiểm soát là nền tảng cho tất cả các yếu tố khác trong KSNB, tạo lập một nề nếp kỷ cương, đạo đức và cơ cấu tổ chức cũng như hình thành nên một sắc thái chung cho tổ chức, ảnh hưởng đến ý thức kiểm soát của các nhân viên Trong một môi trường kiểm soát và được thể hiện 5 nhân tố sau:
* Triết lý quản lý và phong cách lãnh đạo:
- Triết lý quản lý và phong cách lãnh đạo được thể hiện qua cá tính, tư cách và thái độ khi điều hành công việc của người lãnh đạo Nhận thức về KSNB của các thành viên trong tổ chức tùy thuộc rất nhiều vào sự quan tâm nhà lãnh đạo để xây dựng hệ thống KSNB tốt Ngược lại, nếu các thành viên trong tổ chức nhận thức rằng KSNB không quan trọng thì cũng có nghĩa là lãnh đạo chưa quan tâm đúng mức đến KSNB Điều này cho thấy KSNB chỉ là hình thức chứ không có ý nghĩa thực sự, dẫn đến nhiệm vụ và mục tiêu của đơn vị không còn đạt kết quả như mong đợi
Trang 28được tổ chức độc lập đối với các đối tượng kiểm toán và báo cáo trực tiếp đến lãnh đạo cao nhất trong cơ quan
* Chính sách nhân sự:
- Chính sách nhân sự thể hiện về sự tuyển dụng, đánh giá, bổ nhiệm, khen thưởng hay kỷ luật,…Mỗi một cá nhân trong một tổ chức đều có vai trò quan trọng trong KSNB Do đó, việc thực hiện về chính sách nhân sự là một phần quan trọng trong môi trường kiểm soát Theo đó, khi ra quyết định tuyển dụng đòi hỏi phải đảm bảo về tư cách đạo đức, kinh nghiệm để thực hiện công việc được giao Như vậy, nhà lãnh đạo cần thực hiện chính sách khen thưởng kịp thời hay kỷ luật nghiêm minh để việc KSNB mang lại hiệu quả tốt
* Sự liêm chính và giá trị đạo đức cá nhân, chuyên môn của nhà lãnh đạo và của đội ngũ nhân viên:
- Cung cách điều hành và thái độ của người quản lý sẽ quyết định toàn bộ tổ chức trong việc thiết lập các chính sách về tài chính và kế toán đối với một đơn vị Đồng thời, phải cho nhân viên thấy được tinh thần này trong sứ mệnh, trong tiêu chuẩn đạo đức của tổ chức thông qua hình thức bằng các văn bản chính thức
- Sự liêm chính, tôn trọng giá trị đạo đức của nhà lãnh đạo và của đội ngũ nhân viên trong công việc được thể hiện qua thái độ cư xử chuẩn mực của họ Việc chấp hành các điều lệ, quy định và đạo đức về cách ứng xử của họ thể hiện qua tinh thần đạo đức trong công việc
* Năng lực nhân viên:
- Năng lực nhân viên thể hiện ở trình độ hiểu biết, kỷ năng làm việc để đảm bảo cho công việc được thực hiện trôi chảy, có kỷ cương, trung thực, tiết kiệm và hữu hiệu, thể hiện sự am hiểu đúng đắn về trách nhiệm của mình trong việc xây dựng hệ thống KSNB Đào tạo là để nâng cao trình độ cho các nhân viên trong tổ chức, đó là hướng dẫn về mục tiêu KSNB và là phương pháp giải quyết những tình huống khó xử trong công việc Lãnh đạo và nhân viên cần có những kỹ năng cần thiết để đánh giá, phân tích những rủi ro nảy sinh trong thực hiện công việc Đồng thời, mỗi cá nhân trong tổ chức đều giữ một vai trò trong hệ thống KSNB, vì đó là trách nhiệm của họ và
họ phải luôn duy trì trình độ để đảm bảo việc xây dựng thực hiện, duy trì của KSNB
Trang 291.2.2 Đánh giá rủi ro
Đánh giá rủi ro là quá trình nhận dạng, phân tích rủi ro cho phù hợp để đạt được mục tiêu của tổ chức và xác định biện pháp xử lý thích hợp KSNB nhằm mục đích thực hiện mục tiêu của tổ chức cho nên việc đánh giá rủi ro là rất quan trọng vì nó ghi nhận các sự kiện quan trọng ảnh hưởng đến mục tiêu, nhiệm vụ của tổ chức Việc phân tích đánh giá rủi ro nhằm hạn chế những rủi ro chủ yếu vì thế việc nhận dạng rủi ro chủ yếu hết sức quan trọng, vì nó không chỉ làm ảnh hưởng của rủi ro mà còn ảnh hưởng đến sự phân chia trách nhiệm và nguồn lực đối phó rủi ro.Việc đánh giá rủi ro bao gồm:
* Nhận dạng rủi ro:
- Nhận dạng rủi ro bao gồm rủi ro từ bên ngoài và bên trong, rủi ro ở cấp toàn đơn vị và từng hoạt động, rủi ro được xem xét liên tục trong suốt quá trình hoạt động của tổ chức Liên quan đến khu vực công, các cơ quan nhà nước cần phải quản trị rủi
ro làm ảnh hưởng đến các mục tiêu được giao, bao gồm cả các chỉ tiêu được giao trong bất kỳ kế hoạch nào của một tổ chức
* Đánh giá rủi ro:
- Để kiểm soát được rủi ro, vấn đề quan trọng không chỉ là nhận ra các rủi ro tồn tại, mà còn là đánh giá tầm quan trọng, tác hại mà rủi ro gây ra và khả năng xảy ra rủi
ro Có nhiều phương pháp đánh giá rủi ro tùy theo mỗi loại rủi ro, tuy nhiên phải đánh giá rủi ro một cách có hệ thống Chẳng hạn như phải xây dựng các tiêu chí đánh giá rủi ro, sau đó sắp xếp thứ tự các rủi ro, dựa vào đó nhà lãnh đạo sẽ phân bổ nguồn lực đối phó rủi ro
* Phát triển các biện pháp đối phó:
- Để phát triển các biện pháp đối phó với rủi ro thì cần có bốn biện pháp đối phó
đó là: Phân tán rủi ro, chấp nhận rủi ro, tránh né rủi ro và xử lý hạn chế rủi ro
- Đối với một tổ chức, việc duy trì KSNB nhằm xử lý hạn chế phần lớn các rủi ro
có thể xảy ra Các biện pháp xử lý hạn chế rủi ro ở mức độ hợp lý bởi vì cần xem xét trên mối liên hệ giữa chi phí và lợi ích nhưng nếu như chúng ta nhận dạng được cũng như đánh giá được rủi ro thì chắc chắn rằng chúng ta sẽ có sự chuẩn bị tốt hơn Một khi môi trường thay đổi chẳng hạn như thay đổi về các điều kiện về kinh tế, thay đổi
về chế độ chính sách của nhà nước,…sẽ làm rủi ro cũng thay đổi theo thì việc đánh giá
Trang 30rủi ro cũng được xem xét lại thường xuyên và phải điều chỉnh theo từng thời kỳ cho phù hợp
1.2.3 Hoạt động kiểm soát
Hoạt động kiểm soát là những chính sách, những thủ tục nhằm hạn chế rủi ro và đảm bảo đạt được mục tiêu, nhiệm vụ của đơn vị Để đạt được hiệu quả cao đòi hỏi hoạt động kiểm soát phải phù hợp, dể hiểu, nhất quán giữa các thời kỳ, có hiệu quả, đáng tin cậy và có liên hệ trực tiếp đến mục tiêu kiểm soát
Trong một tổ chức, hoạt động kiểm soát có ở từ bộ phận, từng khâu và ở các mức độ
và các chức năng Hoạt động kiểm soát bao gồm: Hoạt động kiểm soát phòng ngừa và phát hiện rủi ro Việc cân bằng giữa thủ tục kiểm soát phát hiện và phòng ngừa thường là sự phối hợp các hoạt động kiểm soát để hạn chế, bổ sung lẫn nhau giữa các thủ tục kiểm soát và được thực hiện như:
* Về thủ tục phân quyền và xét duyệt:
- Khi thực hiện các nghiệp vụ chỉ được thực hiện từ người được ủy quyền theo trách nhiệm và phạm vi của họ Việc ủy quyền là cách thường gặp để đảm bảo là chỉ
có những nghiệp vụ là có thực mới được phê duyệt đúng như mong muốn của người lãnh đạo Tuân thủ chi tiết các quy định của sự ủy quyền nói trên, nhân viên thực hiện theo đúng hướng dẫn và trong giới hạn được quy định của nhà lãnh đạo và luật pháp Các thủ tục ủy quyền phải được công bố rõ ràng, tài liệu hóa và phải được thể hiện bằng những điều kiện cụ thể
* Về phân chia trách nhiệm:
- Trách nhiệm phải được giao cho từng cá nhân một cách có hệ thống để đảm bảo việc kiểm tra mang lại hiệu quả Để giảm thiểu rủi ro về sai sót, cố ý làm sai và rủi ro không ngăn ngừa được thì một công việc từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc không được giao cho một bộ phận hay một cá nhân nào
- Có 05 trách nhiệm chủ yếu đó là: Ủy quyền, phê chuẩn, ghi chép, xử lý và đánh giá các nghiệp vụ nhưng cần lưu ý sự thông đồng làm phá hủy hoặc làm giảm sự hữu hiệu của KSNB
- Với một tổ chức có quy mô nhỏ, trong một số trường hợp có quá ít nhân viên để thực hiện việc phân chia, phân nhiệm thì lúc này, người lãnh đạo phải nhận biết được rủi ro và bù đắp bằng những biện pháp kiểm soát khác chẳng hạn như luân phiên, luân chuyển nhân viên Việc làm này đảm bảo rằng trong một thời gian dài một người
Trang 31không xử lý mọi mặt nghiệp vụ Hay như yêu cầu, khuyến khích nhân viên thực hiện nghỉ theo chế độ quy định hàng năm cũng có nghĩa là giúp giảm rủi ro bằng cách tạm thời đem lại sự luân chuyển nhân viên
* Kiểm soát việc tiếp cận tài sản và sổ sách:
Việc tiếp cận tài sản và sổ sách của tổ chức phải được giới hạn cho những cá nhân mà họ được người lãnh đạo giao trách nhiệm bảo quản hoặc sử dụng tài sản Trách nhiệm này được thể hiện qua chứng từ, hàng tồn kho, ghi chép sổ sách Hạn chế việc tiếp cận tài sản làm giảm rủi ro làm thất thoát tài sản hoặc lạm dụng tài sản của Nhà nước Việc giới hạn tùy thuộc vào rủi ro thất thoát tài sản và phải được xem xét nghiêm túc
* Kiểm tra, đối chiếu:
- Chứng từ, sổ sách phải được đối chiếu thường xuyên và định kỳ theo quy định của đơn vị Các nghiệp vụ, sự kiện phải được kiểm tra trước, trong và sau khi xử lý
* Giám sát nhân viên:
- Đối với nhân viên, khi giao việc phải thông báo rõ ràng về nghĩa vụ, trách nhiệm và sự chịu trách nhiệm giao cho mỗi nhân viên Đánh giá việc thực hiện nhiệm
vụ của nhân viên phải đảm bảo nguyên tắc là có cách hệ thống công việc trong phạm
vi và thời gian cần thiết Khi giao việc cần dựa theo những tiêu chuẩn cần thiết để đảm bảo công việc được thực hiện theo đúng định hướng, đúng mục tiêu đã được xác định Nhân viên được hướng dẫn cần thiết để giảm thiểu sai sót đồng thời làm cho lãnh đạo trực tiếp hiểu được, đạt được kết quả như mong muốn
* Rà soát việc thực hiện, xử lý và điều hành các hoạt động:
Việc thực hiện, xử lý và điều hành các hoạt động được rà soát dựa trên nhiều chuẩn mực nguyên tắc cơ bản, đánh giá hiệu quả và tính thực thi Nếu thấy không phù hợp với mục tiêu của tổ chức hoặc các chuẩn mực đã quy định thì cần phải rà soát lại
để điều chỉnh cho phù hợp quy trình thực hiện để đạt được mục tiêu Bên cạnh đó, đối với việc xử lý cũng như điều hành hoạt động cần được rà soát thường xuyên và định
kỳ để đảm bảo tuân thủ nguyên tắc, chính sách, thủ tục và những quy định hiện hành khác của đơn vị
Trang 321.2.4 Thông tin và truyền thông
Hệ thống thông tin của một đơn vị có thể được xử lý trên máy tính, qua hệ thống thủ công hoặc kết hợp cả hai, miễn là bảo đảm các yêu cầu chất lượng của thông tin là thích hợp, cập nhật, chính xác và truy cập thuận tiện Bao gồm các nhân tố
* Thông tin:
- Một hệ thống thông tin phù hợp phải tạo ra được các báo cáo về hoạt động kế toán tài chính theo đúng chuẩn mực quy định Nó không những gồm các dữ liệu bên trong mà còn xem xét các thông tin bên ngoài cũng như những điều kiện và hoạt động cần thiết để phục vụ cho việc báo cáo và ra quyết định Khi được xác định là một thông tin thích hợp và đáng tin cậy tức là thông tin đó phải được phân loại đúng đắn các nghiệp vụ, sự kiện, ghi chép kịp thời, được chuyển tải thể hiện qua các biểu mẫu
và lộ trình thông suốt bảo đảm cho nhân viên thực hiện chức năng trong KSNB
- Vì vậy, hệ thống KSNB đòi hỏi tất cả các nghiệp vụ phát sinh phải thiết lập đầy đủ, đúng thủ tục các chứng từ Việc ra quyết định của người lãnh đạo thường bị
ảnh hưởng do chất lượng của những thông tin như tính cập nhật kịp thời
* Truyền thông:
- Một hệ thống truyền thông tốt, có hiệu quả tức là việc cung cấp thông tin từ cấp trên xuống cấp dưới và ngược lại hoặc cùng cấp giữa các bộ phận được xuyên suốt trong toàn hệ thống của một tổ chức Khi nhận được công việc bằng tài liệu hóa từ nhà lãnh đạo về trách nhiệm của bản thân người nhân viên trong KSNB thì nhân viên phải hiểu được vai trò của bản thân đối với hệ thống KSNB cũng như đối với các nhân viên khác trong tổ chức Mặt khác, các truyền thông nhận được từ bên ngoài cũng rất cần trong KSNB của tổ chức
1.2.5 Giám sát
Là quá trình mà người quản lý đánh giá chất lượng của hệ thống kiểm soát nội bộ Xác định KSNB có vận hành đúng như thiết kế hay không và có cần sửa đổi cho phù hợp với từng thời kỳ hay không Giám sát thường xuyên (tiếp cận các ý kiến góp ý từ khách hàng, nhà cung cấp, các biến động bất thường…) hay định kỳ (các cuộc kiểm toán định kỳ do kiểm toán viên nội bộ, hoặc do KTV độc lập thực hiện).Việc giám sát cần thực hiện như sau:
* Giám sát thường xuyên:
Trang 33- Những hoạt động thông thường và lặp lại của tổ chức được thường xuyên giám sát trong KSNB Việc giám sát thường xuyên kể cả những hoạt động giám sát và quản
lý mang tính định kỳ ngay trong quá trình thực hiện công việc hàng ngày của các nhân viên Giám sát thường xuyên phải được thực hiện trên tất cả các yếu tố của KSNB và liên quan đến việc phát hiện và ngăn chặn kịp thời các sai sót, sai phạm xảy ra khi vận hành hệ thống KSNB
* Giám sát định kỳ:
- Ngày nay, việc xây dựng một hệ thống KSNB phù hợp và hiệu quả là cần thiết
và thường chưa được chú trọng đúng mức trong các đơn vị trong khu vực tài chính công Trong quá trình hoạt động của mình, mặc dù các quy định, thủ tục quản lý và kiểm soát còn mang tính phân tán, chưa được tập trung, chưa phân loại và đánh giá có
hệ thống theo các chuẩn mực nên các đơn vị khi thực thi nhiệm vụ khá vất vả trong việc tuân theo các quy định của pháp luật, các chính sách, chế độ chi tiêu nội bộ của đơn vị , để quản lý và kiểm soát quá trình sử dụng kinh phí, tài sản Mức độ rủi ro và hiệu quả của thủ tục giám sát thường xuyên tùy thuộc vào phạm vi và tầng suất giám sát định kỳ Giám sát định kỳ bao trùm toàn bộ việc đánh giá cũng như tính khả thi của
hệ thống KSNB và dựa trên các phương pháp và thủ tục kiểm soát để đảm bảo KSNB đạt kết quả như mong đợi.Các nhà lãnh đạo thường xuyên phải nắm bắt được những sai sót của hệ thống KSNB Việc giám sát này bao gồm cả việc xem xét, đánh giá các rủi ro phát hiện qua kiểm toán cũng như các kiến nghị của kiểm toán viên để đảm bảo tính khả thi trong thực tế tại đơn vị mình Vì vậy, việc tổ chức và duy trì ổn định hệ thống KSNB hiệu lực, hiệu quả là trách nhiệm của nhà lãnh đạo nhằm phục vụ cho việc quản lý, và đây là nội dung cơ bản nhất mà người lãnh đạo phải có trách nhiệm tạo ra môi trường kiểm soát phù hợp ở đơn vị mình
1.3 Đặc điểm hoạt động thu thuế tiền SDĐ có ảnh hưởng đến công tác KSNB
Chức năng của tổ chức KSNB trong công tác quản lý thu thuế TNDN ở một cơ quan thuế có thể tóm tắt đó là:
Tạo lập một hệ thống thông tin truyền thông và chuyển tải thông tin mang tính khả thi trong toàn đơn vị Thiết lập cơ cấu kỷ cương trong toàn bộ quy trình hoạt động của đơn vị Giúp nhận biết được, phân tích được và lựa chọn được phương pháp tối ưu
để ngăn ngừa, hạn chế đối với các rủi ro trong việc thực hiện quản lý thu thuế
Tăng cường công tác đánh giá và hoàn thiện dần những bất cập cần bổ sung của
hệ thống KSNB nhằm ngăn ngừa kịp thời những rủi ro phát sinh và hoàn thành tốt nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước
Trang 34Tổ chức thanh tra, kiểm tra đánh giá thường xuyên, định kỳ giữa cấp trên với cấp dưới và ngược lại, giữa các phòng với nhau để chấn chỉnh, khắc phục kịp thời những sai phạm do yếu kém, thiếu sót hoặc cố tình gây ra
KSNB giúp cho lãnh đạo nắm được toàn diện vấn đề kiểm soát trong đơn vị theo hướng đánh giá rủi ro, thiết lập các hoạt động kiểm soát và xác định đúng mục tiêu Đồng thời, hoàn thiện tốt môi trường kiểm soát song song với một hệ thống thông tin
có tính khả thi cao Vì vậy, khái niệm cũng như các chuẩn mực về KSNB cần sớm được đưa vào chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho công chức thuế trong toàn ngành để
họ nhận thức đúng, đầy đủ về tầm quan trọng của nó
Tình hình kinh tế trong những năm qua gặp nhiều khó khăn, do đó cũng sẽ tạo ra những thách thức không nhỏ đối với hoạt động thu NSNN Để hoàn thành nhiệm vụ tài chính ngân sách năm 2016, trong những tháng cuối năm, các bộ, ngành và địa phương cần tiếp tục nỗ lực phấn đấu phát triển sản xuất-kinh doanh, tháo gỡ kịp thời khó khăn cho doanh nghiệp, quản lý chặt chẽ nguồn thu, tăng cường chống thất thu và xử lý nợ đọng; thực hiện triệt để tiết kiệm chi Đồng thời, không ban hành thêm các chính sách làm giảm thu NSNN, dừng ban hành các chế độ, chính sách làm tăng chi NSNN Công tác quản lý thu thuế có hai đối tượng cơ bản đó là: Về phía cơ quan thuế thì ban hành các chính sách pháp luật về thuế và tổ chức bộ máy quản lý thu thuế Còn đối với người nộp thuế là các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh, Có rất nhiều rủi ro thường xảy ra trong công tác quản lý thu thuế, một trong những phân loại rủi ro cơ bản
đó là rủi ro bên trong và rủi ro bên ngoài
- Rủi ro bên trong: Rủi ro bên trong thường gắn liền với cơ quan thuế, có thể các
quy định về công tác thu thuế chưa được rõ ràng, chưa phù hợp làm cho người nộp thuế dể hiểu nhầm, hiểu không đúng Bên cạnh đó, còn một vài bộ phận, cán bộ làm công tác quản lý thu thuế thông đồng với người nộp thuế để gây thất thu ngân sách nhà nước, vi phạm nghiêm trọng về đạo đức của cán bộ thuế
- Rủi ro bên ngoài: Rủi ro bên ngoài thường gắn liền với người nộp thuế thể hiện
qua việc doanh nghiệp đang hoạt động nhưng trốn thuế, chiếm dụng tiền thuế hay như các doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật thuế nhưng lâm vào tình trạng giải thể, phá sản, thiên tai, lũ lụt làm mất khả năng thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, … Bên cạnh đó, còn có rủi ro bên ngoài do thay đổi các chính sách thuế ở tầm vĩ mô, biến động về tình hình kinh tế, chính trị của quốc gia, …
Trang 35KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Việc xây dựng, hoàn thiện KSNB để quản lý thu thuế tiền sử dụng đất bên cạnh các thuận lợi về trình độ nghiệp vụ nhân viên và độ ổn định trong hoạt động tuân thủ theo quy định của pháp luật thì còn tồn tại nhiều vấn đề đó là: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về KSNB chưa hoàn chỉnh, chưa đủ mạnh để đáp ứng yêu cầu quản lý hiện nay Hệ thống này vẫn còn thiếu nhiều yếu tố cơ bản, chế độ thong tin báo cáo giữa các đơn vị và ngành chủ quản chưa đáp ứng được yêu cầu; trình độ về quản lý tài chính của thủ trưởng nhiều đơn vị còn yếu do chỉ tập trung vào công tác chuyên môn; nhận thức về công tác kiểm tra, kiểm soát của cán bộ trong đơn vị còn chưa đầy đủ Mặt khác, ở Việt Nam văn bản Luật chính thức quy định về vấn đề quản lý công tác thuế mới được hình thành những năm gần đây, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật khác về lĩnh vực này còn chưa đầy đủ và còn nhiều bất cập trong thực thi nhiệm vụ của công chức, viên chức thuế Vì vậy, tăng cường công tác kiểm soát nguồn thu và đặc biệt là thuế tiền sử dụng đất của ngành thuế và tổ chức xây dựng các chuẩn mực kiểm soát một cách chặt chẽ nguồn thu để quản lý và sử dụng có hiệu quả nhằm đảm bảo tính ổn định của nguồn thu phục vụ cho vấn đề phúc lợi xã hội, tạo môi trường bình đẳng, phát triển theo cơ chế thị trường hiện nay
Như vậy, với mỗi một hoạt động công đều có những đặc điểm riêng của nó cho nên, muốn xây dựng tốt KSNB thì phải cần phù hợp với công tác quản lý thu thuế Khi KSNB mang lại hiệu quả cao cần phải thực hiện tốt 05 yếu tố cấu thành
đó là: Môi trường kiểm soát, Đánh giá rủi ro, Hoạt động kiểm soát, Thông tin truyền thông và Giám sát
Trang 36CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ VỀ THU THUẾ TIỀN SỬ DỤNG ĐẤT
TẠI CHI CỤC THUẾ TP BIÊN HÒA 2.1 Giới thiệu về Chi cục thuế TP Biên Hòa
Chi cục thuế TP.Biên Hòa là đơn vị trực thuộc Cục thuế Tỉnh Đồng Nai, được thành lập theo Quyết định số 315/QĐ-BTC ngày 21 tháng 8 năm 1990 của Bộ Tài Chính “V/v thành lập các chi cục thuế” Từ khi thành lập cho đến trước khi Luật quản
lý thuế được áp dụng thì Chi cục thuế chủ yếu quản lý thuế đối với các hộ, cá nhân kinh doanh và một số ít tổ chức kinh tế tập thể, do đó số thu NSNN hằng năm không lớn chủ yếu tại các đội thuế liên phường, xã do đó bộ máy tổ chức của Chi cục tương đối gọn nhẹ Từ khi luật quản lý thuế được áp dụng vào 1/7/2007 và cùng với sự phân cấp các DN ngoài quốc doanh về cho các Chi cục thuế quản lý, đồng thời thực hiện quản lý thuế theo chức năng của từng bộ phận theo mô hình do Tổng cục thuế ban hành tại Quyết định số 503/QĐ-TCT ngày 29/3/2010 Hiện nay Chi cục thuế TP.Biên Hòa có 16 đội, bao gồm Đội Nghiệp vụ dự toán; Đội Tuyên truyền Hỗ trợ; Đội Quản
lý nợ và Cưỡng chế nợ thuế; Đội kiểm tra nội bộ; Đội kê khai - kế toán thuế và tin học; Đội hành chánh – nhân sự - tài vụ - ấn chỉ; Đội trước bạ thu khác; 03 đội kiểm tra thuế; Đội thuế thu nhập cá nhân và 5 Đội thuế liên phường Tổng số cán bộ viên chức tính đến 31/12/2017 là 184 người, trong đó biên chế: 161 người, nhân viên hợp đồng Cục thuế: 23 người Số cán bộ công chức có trình độ Sau Đại học là 17 người, Đại học
110 người, Cao đẳng 02 người, Trung cấp 47 người, khác 08 người
Cơ cấu bộ máy quản lý Chi cục thuế TP.Biên Hòa được tổ chức như sơ đồ sau:
Trang 37(Nguồn: Chi cục thuế TP.Biên Hòa)
Hình 2.1: Cơ cấu bộ máy quản lý Chi cục thuế TP.Biên Hòa
CHI CỤC TRƯỞNG
Đội Trước
bạ và Thu khác
Đội Thuế liên phường
xã
Đội NVDT
PHÓ CHI CỤC TRƯỞNG 2
Đội TNCN
Đội HC-NS TV-AC
Đội TTHT
Đội Kiểm tra thuế số
2
PHÓ CHI CỤC TRƯỞNG 3
Đội KTNB
Đội Kiểm tra thuế số
1
PHÓ CHI CỤC TRƯỞNG 1
Đội Thuế liên phường
xã số 1
Đội Thuế liên phường
xã số 2
Đội Thuế liên phường
xã số 3
Đội Thuế liên phường
xã số 4
Đội Thuế liên phường
xã số 5
Trang 38Các đội thuế tại Chi cục thuế TP.Biên Hòa thực hiện các chức năng, nhiệm vụ được quy định tại Quyết định số 504/QĐ-TCT ngày 29 tháng 3 năm 2010 của Tổng cục thuế cụ thể như sau:
- Đội Tuyên truyền - Hỗ trợ người nộp thuế (TTHT): Thực hiện công tác tuyên truyền về chính sách pháp luật thuế; hỗ trợ người nộp thuế trong phạm vi Chi cục thuế quản lý
- Đội Kê khai - Kế toán thuế và Tin Học (KKKTT & TH): Thực hiện công tác đăng ký thuế, xử lý hồ sơ khai thuế, kế toán thuế, thống kê thuế theo phân cấp quản lý; quản lý và vận hành hệ thống trang thiết bị tin học; triển khai cài đặt, hướng dẫn sử dụng các phần mềm ứng dụng tin học phục vụ công tác quản lý thuế
- Đội Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế (QLN): Thực hiện công tác quản lý nợ thuế, cưỡng chế thu tiền thuế nợ, tiền phạt đối với người nộp thuế thuộc phạm vi quản
lý của Chi cục thuế
- Các Đội Kiểm tra thuế (KT): Thực hiện công tác kiểm tra, giám sát kê khai thuế; giải quyết tố cáo liên quan đến người nộp thuế; chịu trách nhiệm thực hiện dự toán thu thuộc phạm vi quản lý của Chi cục thuế
- Đội Quản lý thuế thu nhập cá nhân (TNCN): Thực hiện công tác kiểm tra giám sát kê khai thuế thu nhập cá nhân; chịu trách nhiệm thực hiện dự toán thu thuế thu nhập cá nhân thuộc phạm vi quản lý của Chi cục
- Đội Tổng hợp - Nghiệp vụ - Dự toán (NVDT): Hướng dẫn về nghiệp vụ quản
lý thuế, chính sách pháp luật thuế cho cán bộ, công chức trong Chi cục thuế; xây dựng
và tổ chức thực hiện dự toán thu ngân sách nhà nước được giao của Chi cục thuế
- Đội kiểm tra nội bộ (KTNB): Thực hiện công tác kiểm tra việc tuân thủ pháp luật, tính liêm chính của cơ quan thuế, công chức thuế; giải quyết khiếu nại (bao gồm khiếu nại các quyết định xử lý về thuế của cơ quan thuế và khiếu nại liên quan trong nội bộ cơ quan thuế, công chức thuế), tố cáo liên quan đến việc chấp hành công vụ và bảo vệ sự liêm chính của cơ quan thuế, công chức thuế thuộc Chi cục thuế
- Đội Trước bạ và thu khác: Quản lý thu lệ phí trước bạ, thuế chuyển quyền sử dụng đất, tiền cấp quyền sử dụng đất, các khoản đấu giá về đất, tài sản, tiền thuê đất, thuế tài sản (sau này), phí, lệ phí và các khoản thu khác (sau đây gọi chung là các khoản thu về đất bao gồm cả thuế TNCN đối với chuyển nhượng bất động sản, nhận
Trang 39thừa kế, quà tặng, lệ phí trước bạ và thu khác) phát sinh trên địa bàn thuộc phạm vi Chi cục Thuế quản lý
- Đội Hành chính – Nhân sự - Tài vụ - Ấn chỉ (HC-NS-TV-AC): Thực hiện công tác hành chính, văn thư, lưu trữ; công tác quản lý nhân sự; quản lý tài chính, quản trị; Quản lý ấn chỉ trong nội bộ Chi cục
- Các đội thuế liên Phường xã: Quản lý thu thuế các tổ chức, cá nhân nộp thuế trên địa bàn xã, phường được phân công (bao gồm các hộ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp và dịch vụ, kể cả hộ nộp thuế thu nhập cá nhân; thuế nhà đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế tài nguyên )
Quản lý thu thuế các cá nhân nộp thuế trên địa bàn Xã, Phường được phân công (xem phụ lục số 1)
2.2 Thu thập dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
Trang 40(Nguồn: Tác giả tự thiết kế)
Hình 2.2 : Khung nghiên cứu luận văn do tác giả xây dựng
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý luận Khảo sát thực trạng
Đặc điểm hoạt động
về thuế
IN
TO SAI
Định tính
Bảng câu hỏi khảo sát
Nguồn dữ liệu tại CCTBH
Những mặt làm được, chưa làm được
và một số nguyên nhân tồn tại
Những giải pháp hoàn thiện HTKSNB