Tuyến giáp nằm ở tam giác cơ, hay một số tác giả gọi là tam giác cảnhdưới hay tam giác vai – khí quản được giới hạn bởi đường giữa, bờ trước cơ ức đòn chũm ở dưới ngoài và thân trên cơ
Trang 1LÊ TUẤN LINH
GIẢI PHẪU VÙNG CỔ ÁP DỤNG
TRONG CỘNG HƯỞNG TỪ
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Văn Huy
Thuộcđề tài: "Nghiên cứu giá trị của chụp cộng hưởng từ 1,5 Tesla
trong chẩn đoán ung thư tuyến giáp"
CHUYÊN ĐỀ TIẾN SĨ
Chuyên ngành : Chẩn đoán hình ảnh
Mã số : 62720311
HÀ NỘI - 2017
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Phân vùng giải phẫu cổ 3
2 Giải phẫu tuyến giáp 6
2.1 Phôi thai học tuyến giáp 6
2.2 Giải phẫu và tương quan của tuyến giáp 6
2.3 Tuyến cận giáp 10
2.4 Biến thể giải phẫu tuyến giáp 11
2.5 Hệ thống bạch huyết và các chuỗi hạch vùng cổ: 13
3 Giải phẫu tuyến giáp- ứng dụng trong giải phẫu cộng hưởng từ 16
3.1 Phương pháp chụp cộng hưởng từ tuyến giáp – vùng cổ: 16
3.2 Hình ảnh giải phẫu bình thường của tuyến giáp và các tạng vùng cổ trên cộng hưởng từ: 17
3.3 Giải phẫu cộng hưởng từ tuyến giáp – vùng cổ ứng dụng đánh giá vai trò của hưởng từ trong xác định xâm lấn và di căn vùng của ung thư tuyến giáp 24
KẾT LUẬN 31 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3Hình 2: Các lá cân nông và sâu vùng cổ cắt ngang 5
Hình 3 Ảnh tuyến giáp đại thể (nhìn thẳng) 7
Hình 4 Ảnh tuyến giáp đại thể 7
Hình 5: Liên quan giải phẫu động mạch giáp trên và giáp dưới với các thần kinh thanh quản 8
Hình 6 Ảnh động mạch giáp giữa dưới 9
Hình 7 Ảnh các tĩnh mạch giáp và vùng cổ 10
Hình 8: Biến đổi giải phẫu tuyến cận giáp 11
Hình 9: Thuỳ tháp 12
Hình 10 Phân nhóm hạch cổ theo Gray's anatomy - 2008 13
Hình 11 Dẫn lưu bạch huyết của tuyến giáp và thanh – khí quản 15
Hình 18: Ảnh cắt ngang tuyến giáp bình thường trên chuỗi xung T2W 19
Hình 12.Hình ảnh giải phẫu T1W cắt ngang qua tuyến giáp ngang mức eo tuyến 20
Hình 14 Ảnh giải phẫu T1W đứng dọc qua đường giữa 21
Hình 15 Ảnh giải phẫu T1W đứng dọc qua thuỳ trái tuyến giáp 22
Hình 16 Giải phẫu T1W đứng ngang qua hai thuỳ tuyến giáp 23
Hình 19 Ảnh của khí quản bình thường 24
Hình 20.Tương ứng với hình ảnh vi thể 25
Hình 21 Ảnh u tuyến giáp xâm lấn khí quản 26
Hình 22: Ung thư thể nhú tuyến giáp ở bệnh nhân 57 tuổi, xâm lấn thành và phát triển vào đẩy lồi gây hẹp lòng khí quản 27
Hình 23: Ung thư thuỳ phải tuyến giáp (mũi tên) xâm lấn ôm quanh > 2700 chu vi thực quản 28
Trang 4quặt ngược trái 29Hình 25: Trên hình ảnh T1W, hạch di căn có thành phần dịch chứa
thyroglobulin tăng tín hiệu mạnh 30
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư tuyến giáp là ung thư phổ biến nhất trong hệ nội tiết, chiếm tỉ
lệ tới >90% các trường hợp ung thư của hệ nội tiết (1), (2) Theo ước tính tại
Mỹ tỷ lệ mới mắc trung bình khoảng 2-4 ca/100.000 dân/ năm, năm 2011 cókhoảng 1.700 ca tử vong do ung thư tuyến giáp (3) Tại Việt Nam, theo thống
kê của tổ chức chống ung thư năm 2002, tỉ lệ mắc là 2,7/100.000 dân với nữ
và 1,3/100000 dân đối với nam (4) Hiện nay việc chẩn đoán ung thư tuyếngiáp đã có nhiều tiến bộ với các phương pháp chẩn đoán hình ảnh như siêu
âm, cộng hưởng từ có từ lực cao Đây là các phương tiện chẩn đoán hình ảnh
có độ phân giải cao, rất phù hợp trong thăm khám các cấu trúc nông vùng cổnhư tuyến giáp Tuy nhiên vùng cổ là phân khu giải phẫu phức tạp với nhiềucấu trúc quan trọng, kích thước nhỏ, liên quan chặt chẽ với nhau Siêu âm vớiđầu dò tần số cao dễ dàng phát hiện tổn thương trong nhu mô tuyến, tuy nhiênvới các trường hợp bất thường giải phẫu của tuyến giáp như tuyến giáp lạcchỗ hay các hạch di căn nằm ở vùng cổ nhưng vị trí xa tuyến giáp dễ bị bỏ sót
và phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm của bác sĩ chẩn đoán hình ảnh (5) Cáctổn thương nằm ở các vị trí các khoang sâu như vùng trung thất trên hay vùngsát nền sọ thường khó đánh giá trên siêu âm (6) Ngược lại, cộng hưởng từvới thế mạnh trong tổng kê lan tràn ung thư như trường thăm khám rộng, độphân giải các cấu trúc giải phẫu cao, phối hợp các xung giải phẫu với xungkhuếch tán, mức độ ngấm thuốc đối quang từ trên chuỗi xung sau tiêm (7-9)
Các thông tin về vị trí, kích thước, xâm lấn của khối u cũng như về vịtrí các hạch di căn giúp cho bác sĩ điều trị lựa chọn cách phẫu thuật và tiênlượng cuộc mổ ung thư tuyến giáp tốt hơn Vì vậy để không bỏ sót tổnthương, bác sĩ chẩn đoán hình ảnh cần nắm rõ phân vùng giải phẫu của tuyến
Trang 6giáp và liên quan với các cấu trúc vùng cổ, cũng như phân bố các nhóm hạch
để ứng dụng trong chẩn đoán
Nhằm cung cấp thêm thông tin cho đề tài: “Giá trị của cộng hưởng từ
trong chẩn đoán ung thư tuyến giáp”, chúng tôi đã chọn chuyên đề: “Giải phẫu vùng cổ áp dụng trong cộng hưởng từ” với hai mục tiêu:
1 Phân tích giải phẫu vùng cổ, tuyến giáp, tương quan tuyến giáp với các cấu trúc giải phẫu vùng cổ, các chuỗi hạch vùng cổ.
2 Phân tích các cấu trúc giải phẫu này trên cộng hưởng từ để xác định khả năng đánh giá tổng kê lan tràn khu vực của cộng hưởng từ tuyến giáp.
1 Phân vùng giải phẫu cổ
Cổ là phần nối tiếp giữa đầu và thân, có hai phần : gáy và cổ chính
danh tách biệt nhau bởi bờ ngoài cơ thang (10)
Cổ chính danh có ba cơ được dùng làm mốc để phân định các vùng vàcác tam giác cổ (10-12):
- Cơ ức đòn chũm: Đi từ xương ức và đầu trong xương đòn chạy chếchlên trên và ra sau ngoài, tới bám vào xương chũm và xương chẩm Là một cơdày nằm và che phủ các cơ bậc thang, các bó mạch thần kinh cổ, vậy cơ ứcđòn chũm là cơ tuỳ hành của bó mạch thần kinh cổ Tác dụng của cơ làmnghiêng đầu về một bên và quay mặt sang bên đối diện
- Cơ nhị thân hay cơ hai bụng: hai bụng cơ nối với nhau bởi một gântrung gian ở giữa, bụng sau bám bào xương chũm, bụng trước bám vào xươnghàm dưới Cả hai bụng đi xuống dưới móng và được nối với nhau bằng gân
Trang 7trung gian, đi xuyên qua chỗ bám của cơ trâm móng và được cột vào thân vàsừng lớn xương móng bởi một vòng sợi.
- Cơ vai móng: đi từ xương bả vai tới xương móng Cơ vai móng cũng là
cơ có hai thân, có phần gân trung gian lướt qua mặt bên cổ và bó mạch cảnh,sau cơ ức đòn chũm
Cổ chính danh được chia thành ba vùng ở mỗi bên bởi cơ ức đòn chũm(10-13):
- Vùng cổ trước: có giới hạn ở sau là bờ trước cơ ức đòn chũm, ở trên
là bờ dưới thân xương hàm dưới và bờ sau ngành hàm, ở trước là đường dọcgiữa cổ ở trước
- Vùng ức đòn chũm: là phần bị che phủ bởi cơ ức đòn chũm (nằm
giữa bờ trước và bờ sau của cơ)
- Vùng cổ bên: là vùng ở trên xương đòn , giữa bờ sau cơ úc đòn chũm
cơ ức đòn chũm và bờ trước cơ thang Trong vùng này có mạch máu, thầnkinh chi phối chi trên
Các vùng cổ trước và cổ bên được cơ ức đòn chũm, cơ vai móng, cơnhị thân phân ra thành các tam giác cổ như hình minh họa sau:
Trang 8Hình 1: Các tam giác cổ
Vùng cổ trước có tam giác dưới hàm, tam giác dưới cằm, tam giác cảnh
và tam giác cơ Vùng cổ sau có các tam giác chẩm và tam giác trên đòn
Tuyến giáp nằm ở tam giác cơ, (hay một số tác giả gọi là tam giác cảnhdưới hay tam giác vai – khí quản) được giới hạn bởi đường giữa, bờ trước cơ
ức đòn chũm ở dưới ngoài và thân trên cơ vai móng ở trên ngoài Tam giác cơchứa các cơ quan quan trọng như tuyến giáp, thanh - khí quản, hầu, thựcquản, các dây thần kinh thanh quản quặt ngược
Các lớp mạc vùng cổ (14):
- Lá nông mạc cổ: Bọc chung cả cổ, ở trước tách ra làm hai trẽ bọc cơ ức
đòn chũm, tĩnh mạch cảnh trước, tĩnh mạch cảnh ngoài, bao bọc tuyến dưới hàm và tuyến mang tai Ở trên bám vào nền sọ, xương hàm dưới, ở dưới bám vào xương ức, xương đòn, xương bả vai
- Lá trước khí quản hay bao tạng: là một bao mạc cho tuyến giáp, ở trên
bám vào xương móng và đường chéo sụn giáp, ở dưới đi xuống trung thất trênrồi hoà vào lớp xơ của ngoại tâm mạc Ở hai bên hoà lẫn vào mạc miệng hầu,
Trang 9cùng với mạc này tạo thành ống mạc bao quanh hầu, thanh quản, khí quản,thực quản, tuyến giáp - cận giáp trạng nên được gọi là bao tạng.
- Lá trước cột sống hay lá sâu mạc cổ: Phủ các cơ trước sống và cơ bậc
thang đi ra ngoài bám vào lá nông mạc cổ, bám từ nền sọ xuống nền cổ liêntiếp với mạc thành ngực Ở phía trước là khoang sau hầu ngăn cách với thànhsau hầu và mạc miệng hầu
- Bao cảnh: Là một phần của mạc cổ bao quanh động mạch cảnh, tĩnh mạch
cảnh trong và dây thần kinh lang thang Bao cảnh được dính vào các lá mạcxung quanh: trước là mạc các cơ dưới móng, sau là lá trước cột sống, trong làbao tạng và phía ngoài dính vào lá nông mạc cổ ở mặt sau cơ ức đòn chũm
Hình 2: Các lá cân nông và sâu vùng cổ cắt ngang
2 Giải phẫu tuyến giáp
2.1 Phôi thai học tuyến giáp
Tuyến giáp được bắt nguồn từ lá mầm giữa của ống nguyên nội bì Ốngnguyên nội bì trong quá trình biệt hóa tạo thành một dải gọi là dây lưỡi giáp.Phần dưới của dải này sẽ tạo thành mầm giữa và hai mầm bên ở tháng thứ 2
Trang 10của thời kì thai nghén, sau này mầm giữa sẽ biệt hóa thành hai thùy và eotuyến giáp Có nhiều trường hợp bất thường biệt hóa ở thời kì này sẽ tạothành tuyến giáp lạc chỗ có thể ở đáy lưỡi, trên và dưới xương móng hoặctrong trung thất Hai mầm bên sau này sẽ biệt hóa thành hai tuyến cận giáptrên Hai tuyến cận giáp dưới thì xuất phát từ túi mang nội bì thứ 3 (15)
2.2.Giải phẫu và tương quan của tuyến giáp
Tuyến giáp là tuyến nội tiết lớn nhất của cơ thể, nằm ở phân vùng cổtrước trong tam giác cơ, trước khí quản và hai bên thanh quản, ngang mức cácđốt sống cổ 5,6,7 và ngực 1 (11) Hình thể ngoài dạng chữ H hoặc hình conbướm với hai thùy được nối với nhau bởi eo tuyến Trọng lượng tuyến giáp ởngười trưởng thành khoảng 20 đến 25gr (16), tuyến giáp ở phụ nữ có trọnglượng lớn hơn ở nam giới và to hơn ở giai đoạn hành kinh và có thai (17).Giai đoạn từ 8 tháng đến 15 tuổi không có sự khác biệt về trọng lượng củatuyến giáp theo giới
Mỗi thùy tuyến giáp có kích thước (chiều cao x chiều ngang x chiềutrước sau) khoảng 50 x 20 x 30mm (10, 18) Tuyến giáp có mặt trước liênquan với các cơ vùng dưới xương móng, mặt sau liên quan với bao cảnh gồmđộng mạch, tĩnh mạch cảnh và dây thần kinh X, mặt trong liên quan với thanh– khí quản và thực quản, ở sau hai bên liên quan với dây thần kinh thanh quảnquặt ngược
Eo tuyến giáp: có kích thước ngang và cao khoảng 12mm (16) gồm mặttrước và mặt sau, nằm ngang mức các vùng sụn khí quản 2,3,4
Kích thước và trọng lượng của tuyến giáp là một trong những thông số kháquan trọng trong chẩn đoán các bệnh lý có tính chất lan toả của tuyến giáp
Trang 11Hình 3 Ảnh tuyến giáp đại thể (nhìn thẳng) (11)
Hình 4 Ảnh tuyến giáp đại thể (11)
Tuyến giáp được bọc trong một bao xơ rất mỏng (do lá trước khí quảncủa mạc cổ tạo thành), tách biệt với thực quản và khí quản phía sau Từ lớp
xơ này có các dải xơ đi vào nhu mô tuyến mang theo mạch máu và thần kinhphân chia bề mặt tuyến giáp thành các rãnh nhỏ, nông
Tuyến giáp là tạng rất giàu mạch, được cấp máu bởi các động mạchgiáp trên và giáp dưới, một số tài liệu còn nêu động mạch giáp giữa dưới(Thyroid ima artery) như là một biến thể giải phẫu khá thường gặp (12):
- Động mạch giáp trên là các nhánh nhỏ của động mạch cảnh ngoài, cấpmáu chủ yếu cho nửa trên tuyến giáp Động mạch này có đường đi rất gần vớithần kinh thanh quản ngoài
- Động mạch giáp dưới là nhánh của thân giáp cổ tác ra từ động mạchdưới đòn, cấp máu cho nửa dưới và mặt sau tuyến giáp, có đường đi rất gầnvới thần kinh thanh quản quặt ngược Động mạch này cũng chia ra các nhánhcấp máu cho tuyến cận giáp
Trang 12Hình 5: Liên quan giải phẫu động mạch giáp trên và giáp dưới với các thần
kinh thanh quản (11)
- Động mạch giáp giữa dưới (Thyroid ima artery): đa số tách ra từ thâncánh tay đầu, hiếm khi tách ra từ cung động mạch chủ, động mạch cảnhchung phải, đi lên ở chính giữa mặt trước khí quản tới bờ dưới eo tuyến vàcấp máu cho nửa dưới tuyến giáp, khí quản, tuyến cận giáp Đa phần có sựphối hợp với thiểu sản hoặc bất sản của động mạch giáp dưới một hoặc haibên Do nguyên uỷ tách ra từ các động mạch lớn nên có thể hình thành khốimáu tụ lớn vùng cổ và trung thất khi phẫu thuật
Trang 13Hình 6 Ảnh động mạch giáp giữa dưới (12)
Các tĩnh mạch (10-11, 13) dẫn lưu máu của tuyến giáp bao gồm tĩnhmạch giáp giữa, giáp trên và giáp dưới Tĩnh mạch giáp trên dẫn lưu máu từnửa trên tuyến, đi cạnh động mạch giáp trên và đổ vào tĩnh mạch cảnh trong.Tĩnh mạch giáp giữa dẫn lưu máu từ nửa dưới của tuyến, và đổ vào tĩnhmạch cảnh ngoài Tĩnh mạch giáp dưới xuất pháp từ bờ dưới tuyến, hoà vàođám rối trước khí quản trước khi đổ vào tĩnh mạch cánh tay đầu trái Một
số trường hợp tĩnh mạch này đổ sang thân cánh tay đầu phải hoặc trực tiếp
và tĩnh mạch chủ trên Trong một số bệnh lý u nội tiết của tuyến cận giáp,
có thể can thiệp chọn lọc các nhánh tĩnh mạch này để lấy được máu cónồng độ hoocmon cao, giúp chẩn đoán chính xác tuyến cận giáp nào có u,giúp ích cho phẫu thuật viên
Trang 14Hình 7 Ảnh các tĩnh mạch giáp và vùng cổ (11)
2.3.Tuyến cận giáp
Tuyến cận giáp thường có 4 tuyến nằm ở mặt sau của bốn góc tuyếngiáp, kích thước khá nhỏ, khoảng 6mm chiều dài, 3-4mm chiều ngang và 1-2mm chiều trước sau Trọng lượng mỗi tuyến khoảng 50mg Tuyến cận giáp
có thể có ít hoặc nhiều hơn 4 tuyến, nằm trong các vị trí khác của tuyến giáphoặc nằm ngoài tuyến giáp Do kích thước rất nhỏ nên hiện nay chưa cóphương pháp hình ảnh học nào có thể phân biệt được (10-11, 13, 16, 19)
Trang 15Hình 8: Biến đổi giải phẫu tuyến cận giáp (10)
2.4 Biến thể giải phẫu tuyến giáp (19)
Marshall (20) là người đầu tiên mô tả về các biến thể giải phẫu tuyếngiáp với 17 biến thể khác nhau, tuy nhiên tựu trung lại có khoảng 6 loại biếnthể giải phẫu tuyến giáp, trong đó hay gặp nhất là bất sản eo tuyến
Bất sản eo tuyến giáp (21) : Khá thường gặp, chiếm tỷ lệ khoảng
5-10%, hay gặp ở nam giới hơn nữ giới Nguyên nhân do sự tách đôi của haithuỳ trong giai đoạn di chuyển từ gốc lưỡi xuống vùng cổ Bất sản eo tuyến
có thể phối hợp với lạc chỗ tuyến giáp
Bất sản một thùy tuyến giáp (22): rất hiếm gặp, chiếm tỷ lệ chỉ khoảng
0,05%, và thường gặp ở thuỳ trái và giới nữ Ở những bệnh nhân này, tỷ lệTSH thường cao, chứng năng của tuyến giáp không đủ, suy giáp Nguy cơhình thành tổn thương cũng cao hơn so với người bình thường
Thuỳ tháp: được coi như một thùy phụ của tuyến giáp, tồn tại ở người
bình thường với tỷ lệ 15-75% theo các tác giả khác nhau, thậm chí Patrizi kếtluận thuỳ tháp luôn tồn tại sau khi phân tích 1002 trường hợp (23) Đây làphần nhu mô tuyến nằm trên đường đi của ống giáp lưỡi, liên tục với bờ trên
Trang 16của eo tuyến nằm trên đường giữa hoặc lệch nhẹ sang bên phía trước của sụngiáp Tác giả giải thích do trong quá trình di chuyển thời kì phôi thai, mầmtuyến giáp để lại các tế bào trên đường đi và phát triển thành tháp giáp Kíchthước trung bình của thuỳ tháp dài khoảng 2cm (1-8cm)
Hình 9: Thuỳ tháp: a Thuỳ tháp nối với eo tuyến b Hai thuỳ tháp phối hợp bất sản eo tuyến c, d Hình ảnh thuỳ tháp trên phẫu tích và minh hoạ (23)
Tuyến giáp lạc chỗ: Là một phần cấu trúc tuyến giáp nằm ở vị trí bất
thường không liên tục với tuyến chính Được mô tả lần đầu bởi Hickmannnăm 1869 Vị trí lạc chỗ thường gặp nhất là ở dưới niêm mạc vùng gốc lưỡi,
Trang 17chiếm tới 90% theo các báo cáo khác nhau Ngoài ra còn có thể gặp ở trungthất trên trong gốc lưỡi, trước khí quản… (12, 24)
Tồn tại dải xơ cơ nâng tuyến giáp: Trong nhiều trường hợp cực trên
của thuỳ tháp có các dải xơ – cơ bám vào bờ dưới của xương móng
Một số trường hợp có thể có hai thuỳ tháp, đặc biệt là các ở trường hợpbất sản eo tuyến Phần nhu mô này có thể phát triển thành u tuyến giáp, dovậy cần tránh bỏ sót trên thăm khám chẩn đoán hình ảnh (18)
Tồn tại ống giáp lưỡi: là cấu trúc dạng đường ống, nằm trên đường
giữa, giữa tuyến giáp và gốc lưỡi Cấu trúc này được lót bởi lớp biểu mô, bìnhthường tuyến giáp nằm ở gốc lưỡi sau đó di chuyển xuống vùng cổ vào tuầnthứ 8 - 10 thời kỳ bào thai và ống này teo dần đi Nang ống giáp lưỡi có thểhình thành trên một đoạn của ống giáp lưỡi (18)
2.5 Hệ thống bạch huyết và các chuỗi hạch vùng cổ:
Các hạch cổ được chia làm 6 nhóm (17):
Hình 10 Phân nhóm hạch cổ theo Gray's anatomy - 2008 (17)
Trang 18- Nhóm I (dưới hàm, dưới cằm): gồm hai dưới nhóm
Ia: tam giác dưới cằm được giới hạn bởi đường giữa, bụng trước cơ nhịthân và đường thẳng ngang qua xương móng
Ib: tam giác dưới hàm được giới hạn bởi thân xương hàm dưới và haibụng trước và sau cơ nhị thân
- Nhóm II (cảnh cao ): Nhóm này được giới hạn bởi phía trên là nền sọ,
phía dưới là đường thẳng ngang qua xương móng ( vị trí ngang mức chỗ chiađôi động mạch cảnh chung) Phía sau là bờ sau cơ ức đòn chũm và phía trước
là bờ ngoài cơ ức móng
- Nhóm III (cảnh giữa): Tiếp theo nhóm II, dọc theo máng cảnh Giới
hạn trên ngang mức xương móng, giới hạn dưới ngang mức chỗ cơ vai móngbắt chéo tĩnh mạch cảnh trong Phía trước là bờ ngoài cơ ức móng và phía sau
là bờ sau cơ ức đòn chũm
- Nhóm IV (cảnh dưới): Giới hạn trên ngang mức cơ vai móng bắt chéo
tĩnh mạch cảnh, giới hạn dưới là xương đòn Trước là bờ ngoài cơ ức móng vàphía sau là bờ sau cơ ức đòn chũm
- Nhóm V (cổ sau): Giới hạn trước bởi bờ sau cơ ức đòn chũm, phía sau
là bờ trước cơ thang và phía dưới là xương đòn Bụng dưới cơ vai móng chianhóm V thành 2 dưới nhóm:
Va: hạch dọc theo thần kinh XI
Vb: hạch chạy dọc theo động mạch cổ ngang
- Nhóm VI (trước khí quản): Bao gồm các hạch trước sụn nhẫn và trước
khí quản Phía ngoài được giới hạn bởi bao cảnh 2 bên, phía trên là xươngmóng và phía dưới là hõm thượng đòn (25)
Trang 19Hệ thống mạch bạch huyết của tuyến giáp bắt nguồn từ các vi mạchbạch huyết trong tuyến, từ các vi mạch này dịch bạch huyết sẽ đổ về các mạchbạch huyết chạy trên bề mặt tuyến Mạch bạch huyết ở phía trên theo độngmạch giáp trên, mạch bạch huyết phía dưới theo động mạch giáp dưới và tĩnhmạch giáp giữa Các bạch mạch này sẽ đổ vào chuỗi hạch dọc theo mángcảnh Các mạch bạch huyết trên bề mặt eo tuyến đổ về theo chuỗi hạch trướcthanh quản và khí quản Hệ thống bạch huyết nói trên có sự thông thươngrộng với chuỗi hạch gai, chuỗi hạch cổ ngang (25) Do vậy ung thư eo tuyến
và phần thấp thùy bên hay di căn chuỗi hạch trước khí quản (nhóm VI), ungthư thùy bên hay di căn theo chuỗi hạch cảnh (nhóm III, IV) Di căn ở chuỗihạch gai (nhóm V) ít gặp hơn (9, 26)
Hình 11 Dẫn lưu bạch huyết của tuyến giáp và thanh – khí quản (12)
3 Giải phẫu tuyến giáp- ứng dụng trong giải phẫu cộng hưởng từ