1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tổn thương giải phẫu bệnh và phương pháp nhận dạng nạn nhân trong giám định pháp y ngạt nước

140 59 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 4,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua thực tiễn giám định pháp y chúng tôi nhận thấy: nếu thi thể ngườichết ở dưới nước được phát hiện và khám nghiệm pháp y sớm thì việc chẩnđoán xác định nguyên nhân tử vong và nhận dạng

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Giám định pháp y ngạt nước không phải là vấn đề mới nhưng là một loạihình tử vong thường gặp Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, tỷ lệ chếtngạt nước trên thế giới ước tính xấp xỉ 5,6 người trên 100.000 dân, trong đó 2/3

do tai nạn, gần 1/3 do tự tử, một phần nhỏ hiếm gặp là do án mạng; nạn nhânchủ yếu là những người trẻ tuổi hoặc trẻ em [1]

Nước ta cũng như các nước trong vùng nhiệt đới nên mưa lũ nhiều, cónhiều ao hồ sông suối, biển cả thì tai nạn dẫn đến chết người do ngạt nướcdiễn ra trong năm không phải ít gặp, nhất là vào mùa hè, mùa mưa Cũnggiống như các nước, chết do ngạt nước ở nước ta chủ yếu vẫn là các tai nạnrủi ro trong lao động, trong sinh hoạt, trong vui chơi giải trí, ngoài ra cũngcòn gặp những trường hợp ngạt nước do tự tử hoặc án mạng [2]

Trên thế giới ngạt nước đã được nghiên cứu từ rất sớm và ngày nayviệc nghiên cứu ngạt nước vẫn còn là vấn đề được nhiều nhà khoa học nóichung và y học nói riêng quan tâm Những nghiên cứu về ngạt nước ngoài ýnghĩa mang tính khoa học về y học còn mang ý nghĩa xã hội rất cao [3] ỞViệt Nam, theo thống kê sơ bộ tại Viện Pháp y Quân đội, tỷ lệ tử vong dongạt nước tương đối cao nhưng chưa có một nghiên cứu đầy đủ nào về dịch tễhọc cũng như trong giám định pháp y

Qua thực tiễn giám định pháp y chúng tôi nhận thấy: nếu thi thể ngườichết ở dưới nước được phát hiện và khám nghiệm pháp y sớm thì việc chẩnđoán xác định nguyên nhân tử vong và nhận dạng nạn nhân thường không khókhăn; nhưng nếu phát hiện và khám nghiệm pháp y muộn, thi thể không đượcbảo quản, các dấu hiệu tổn thương do ngạt nước thường bị lu mờ hay khôngcòn phát hiện được do quá trình hư thối của tử thi nên vấn đề xác định nguyênnhân tử vong và nhận dạng nạn nhân trở nên hết sức phức tạp [2]

Trang 2

Rất nhiều vụ tai nạn do thiên tai gây chết và mất tích nhiều người nhưđắm đò, tàu thuyền; điển hình là cơn bão Chanchu vào tháng 5 năm 2006 làmchết và mất tích hơn 300 ngư dân, việc nhận dạng danh tính những thi thểđược tìm thấy bằng các phương pháp thông thường gặp rất nhiều khó khăn dothi thể bị phân hủy.

Trong giám định pháp y, trước những trường hợp phát hiện người chếtdưới nước thì một loạt vấn đề được đặt ra:

- Nạn nhân là ai? Nguyên nhân chết là gì? Chết do ngạt nước hay némxác xuống nước, những tổn thương và xét nghiệm nào có giá trị để chẩn đoán

và kết luận nạn nhân ngạt nước?

- Có nhận dạng được nạn nhân hay không, sử dụng qui trình xét nghiệmnào để nhận dạng?

Giải quyết những vấn đề này được chính xác, khách quan, người giámđịnh viên pháp y cần phải nắm rõ những thông tin thu thập được từ kết quảđiều tra ban đầu, kết quả khám nghiệm hiện trường và giám định tử thi theođúng trình tự để xác định các tổn thương và nguyên nhân tử vong, có phươngpháp nhận dạng nạn nhân phù hợp [1]

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu tổn thương giải phẫu bệnh và phương pháp nhận dạng nạn nhân trong giám định pháp y ngạt nước” với các mục tiêu:

1 Mô tả các dấu hiệu và tổn thương giải phẫu bệnh của ngạt nước trong giám định pháp y.

2 Ứng dụng xét nghiệm ADN trong nhận dạng nạn nhân ngạt nước.

Trang 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Định nghĩa và phân loại ngạt nước

1.1.1 Định nghĩa

Ngạt nước đã được các nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu từ rấtsớm và ngày nay việc nghiên cứu ngạt nước vẫn còn là vấn đề được nhiềunhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu Từ “ngạt nước” được Galennêu ra lần đầu tiên từ thế kỷ thứ 2 SCN ở Hy lạp - La Mã; nghiên cứu củaSieben Haar năm 1838 cho rằng: chết ngạt nước là do nước tràn vào dạ dày,ruột Cuối thế kỷ 18, nghiên cứu của Sylvinus đã khẳng định: chết ngạt nước

là do nước tràn vào đường thở, tràn vào phổi đưa tới tử vong chứ không phảinước tràn vào đường tiêu hoá Nghiên cứu của Morgani chứng minh ngạtnước là do nước vào phổi gây phù phổi dẫn tới ngạt Theo tác giả Vương BảoTiệp (Trung Quốc) thì chết ngạt nước là chết do quá nhiều dịch thể bị hít vàođường thở gây nên

Một số danh pháp liên quan đến ngạt nước thường dùng như: suýt chếtđuối để chỉ những trường hợp ngạt nước nhưng không tử vong (near-drowning), chết đuối ướt, chết đuối dưới nước (wet-drowning), chết đuối khô

để chỉ những trường hợp bị rơi xuống nước nhưng ngừng thở, ngừng tim dophản xạ mà không có nước vào đường hô hấp, đường tiêu hóa…(dry-drowning), chết đuối chủ động hay thụ động (active drowning or passive),chết đuối thứ phát để chỉ những trường hợp ngạt nước được cấp cứu kịp thờinhưng tử vong sau đó do những tổn thương nặng nề (secondary drowning)

Ở nước ta, các thuật ngữ thường dùng để chỉ ngạt nước trong dân gianbao gồm đuối nước, chết đuối, chết trôi, chết chìm đã tồn tại từ lâu Một số

Trang 4

định nghĩa về ngạt nước cũng đã được đề cập như: Chết đuối là một thể chếtngạt do dịch từ bên ngoài vào tràn ngập đường thở (BS Hoàng Thức,1992);Ngạt nước là tình trạng ngạt cơ giới do lấp đường khí đạo bằng nước (GS VũNgọc Thụ, 1992); Chết ngạt nước là dạng chết ngạt cơ học bởi sự ngừng thởcấp không hồi phục do nước đột nhập vào toàn bộ cơ quan hô hấp gây ngừngthở (PGS TS Trần Văn Liễu, 2002)

Do có nhiều quan điểm khác nhau về định nghĩa ngạt nước, dẫn đếnnhững khó khăn hay những sai lệch trong việc nhận định đối tượng ngạt nướccũng như thống kê số lượng nạn nhân ngạt nước báo cáo hàng năm ở các cấp

Để giải quyết vấn đề này, một định nghĩa đơn giản nhưng toàn diện là cầnthiết để cung cấp một nền tảng chung cho các nghiên cứu dịch tễ học trongtương lai tất cả các bộ phận của thế giới và sẽ dẫn đến một cách đánh giá tốthơn và toàn diện hơn trên toàn cầu Ngoài ra, định nghĩa có thể có giá trị chonhững người tham gia phòng ngừa, ứng cứu và điều trị [1]

Năm 2002, Hội nghị thế giới về ngạt nước đã đưa ra một định nghĩamới, loại bỏ các định nghĩa không phù hợp trước đó và thống nhất một định

nghĩa chung trên toàn thế giới: Ngạt nước là quá trình suy hô hấp khi ngập/chìm trong chất lỏng [4].

Định nghĩa này đã chỉ ra rằng quá trình ngạt nước là một quá trình liêntục bắt đầu khi đường thở của bệnh nhân ở dưới chất lỏng, thường là nước.Điều đó gây ra một chuỗi các phản xạ và những thay đổi về sinh lý, chủ yếu

là do tình trạng thiếu oxy ở tổ chức Co thắt thanh quản hoặc hít nước vàophổi là yếu tố gây nên suy hô hấp và cũng là hậu quả của quá trình trên.Trong mọi trường hợp, định nghĩa ngạt nước được áp dụng khi các lối vàocủa đường thở ở dưới nước bị lấp tắc, loại trừ trường hợp sử dụng bình thởkhông khí [4]

Trang 5

Ngạt nước là quá trình suy hô hấp khi ngập hoặc chìm trong nước dẫnđến hai khả năng có thể tử vong hoặc không tử vong Vì vậy, các khái niệmtrước đây như suýt chết đuối (near-drowning), chết đuối khô (dry-drowning),chết đuối ướt (wet-drowning)… nay không phù hợp và cần loại bỏ.

1.1.2 Phân loại ngạt nước

Ngạt nước được phân loại theo mục đích, bao gồm chủ ý và không chủ ý [2].Chủ ý gồm cả án mạng và tự tử, không chủ ý thường là do tai nạn Tuynhiên, việc xác định được là chủ ý hay không chủ ý thường gặp nhiều khókhăn Vì vậy, có loại hình thứ ba là ngạt nước chưa xác định, khi phát hiệnxác trôi nổi trên nước không rõ tung tích, trên thi thể không có hoặc cóthương tích chưa rõ là vô ý hay cố ý [2]

Ngoài ra, ngạt nước có thể được phân nhiều loại như nước lạnh hoặcnước ấm Ngạt nước nước ấm xảy ra ở nhiệt độ nước trên 20°C hoặc cao hơn,

và ngạt nước nước lạnh xảy ra ở nhiệt độ nước dưới 20°C Mặc dù nước đálạnh đã được báo cáo là bảo vệ cơ thể, đặc biệt là ở trẻ nhỏ, nhưng ngâm kéodài có thể làm vô hiệu hóa tác dụng của nhiệt độ lên khả năng sống sót [3]

Phân loại khác có thể bao gồm các loại nước, chẳng hạn như nước ngọt

và nước mặn, hoặc nước tự nhiên so với nước nhân tạo [5]

ICD-9 sử dụng từ năm 1975 đến năm 1998 bổ sung phân loại ngạt nướctheo các nguyên nhân bên ngoài liên quan (E-Codes), trong đó 30 mã E-Codesdùng cho việc xác định ngạt nước liên quan đến tai nạn nghề nghiệp; 10 mã đểxác định ngạt nước trong các vụ tai nạn do tàu thuyền; 10 mã để xác định ngạtnước liên quan đến giao thông đường thủy Ngoài ra việc mã hóa của ICD-9còn giúp phân loại ngạt nước đối với một số loại hình giải trí như chèothuyền, lướt ván, bơi lội, lặn và các hoạt động thể thao khác với mã (910,2);ngạt nước trong bể bơi với mã (910,8) [6]

Trang 6

Năm 1992, Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã sửa đổi các mã, tạo ICD-10[7], nhưng việc áp dụng mác mã ICD-10 chưa được thực hiện cho đến cuốithập niên này ICD-10 là một mã cho phép xác định vị trí, vùng nước có liênquan; các loại tàu thuyền có liên quan (như kayak, bơm hơi) và hoạt độngtrước khi xảy ra ngạt nước như công việc, thể thao, giải trí ICD-10 không xácđịnh ngạt nước liên quan đến xe cơ giới, trượt nước, lặn và bơi lội [8].

1.2 Thống kê tình hình ngạt nước

1.2.1 Thống kê chung tình hình ngạt nước

Theo thống kê của Tổ chức y tế thế giới [9], hàng năm trên toàn thếgiới có khoảng 372.000 người tử vong do ngạt nước Mỗi giờ xấp xỉ 42 người

tử vong do ngạt nước Số người tử vong do ngạt nước tương đương với 2/3 sốngười suy dinh dưỡng và hơn một nửa số người mắc sốt rét 50% số nạn nhânngạt nước có độ tuổi dưới 25 Tỷ lệ nam giới cao gấp hai lần nữ giới Hơn90% các ca tử vong xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình Việc sửdụng rượu bia khi hoạt động xung quanh khu vực có nước là yếu tố nguy cơlàm tăng khả năng ngạt nước, nhất là lứa tuổi thanh thiếu niên và người lớn.Ngạt nước là một trong mười nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho lứa tuổi

1 - 24 ở mỗi khu khực trên thế giới

Hình 1.1 Thống kê ngạt nước theo khu vực

Trang 7

Hình 1 cho thấy tỷ lệ tử vong do ngạt nước rất cao ở các khu vực châuPhi, Đông Nam Á, Tây Thái Bình Dương và khu vực Địa Trung Hải Khu vựcchâu Âu, châu Mỹ và đặc biệt các nước thu nhập cao tỷ lệ này thấp hơn.

Khu vực Đông Nam Á, các cuộc điều tra của các quốc gia đã cho thấyrằng ngạt nước là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở trẻ em dưới 18 tuổi, tỷ lệkhoảng 30/100.000 [10]

Tại Việt Nam, tỷ suất tử vong trung bình do tai nạn trong 5 năm (2006 2010) là 45,4/100.000 người Đứng đầu là tử vong do tai nạn giao thôngchiếm 44,8%, trung bình trên 15.000 người tử vong/năm Đứng thứ hai làngạt nước với trung bình 6.000 người tử vong/năm, trong đó trẻ em và vịthành niên dưới 19 tuổi chiếm trên 50% [11]

-Hình 1.2 Các nguyên nhân tử vong ở Việt Nam 2005-2009

Trong lĩnh vực pháp y, đứng trước mỗi trường hợp tử vong do ngạtnước, nhất là những trường hợp tử vong không có sự chứng kiến của ngườikhác luôn đặt ra những nghi vấn buộc các nhà điều tra và giám định viên pháp

y phải giải quyết Việc áp dụng định nghĩa ngạt nước và phân loại chính xác

là rất quan trọng bảo đảm cho các kết luận được chính xác, trả lời nguyên

Trang 8

nhân rõ ràng, khách quan và khoa học Việc thống kê các ca tử vong do ngạtnước qua giám định pháp y chưa được nghiên cứu và thực hiện một cách đầy

đủ Một phần do chưa được sự quan tâm đúng mực về nguy cơ tử vong dongạt nước, một phần là chưa có sự thống nhất của các cơ sở pháp y thành một

hệ thống báo cáo tổng hợp hoặc chưa có sự thống nhất về các chỉ số thống kê

Vì vậy, các dữ liệu để nghiên cứu rất hạn chế và gây không ít những trở ngạicho việc nghiên cứu dịch tễ học ngạt nước

1.2.2 Các yếu tố liên quan đến ngạt nước

1.2.2.1 Tuổi

Tuổi tác là một trong những yếu tố nguy cơ chính đối với ngạtnước Trên toàn cầu, tỷ lệ chết đuối cao nhất ở trẻ em 1 - 4 tuổi, tiếp theo làtrẻ 5 - 9 tuổi Trong khu vực Tây Thái Bình Dương, độ tuổi từ 5 - 14 tử vong

do ngạt nước cao hơn bất kỳ nguyên nhân nào khác Ngạt nước là một trong 5nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho người ở độ tuổi 1 - 14 với 48 trong số

85 quốc gia báo cáo chuẩn dữ liệu [9]

Hình 1.3 Xếp loại nguyên nhân tử vong do ngạt nước ở các lứa tuổi

Trang 9

Theo Tổ chức y tế thế giới, thống kê từ một số quốc gia về ngạt nước ởtrẻ em như sau:

Úc: ngạt nước là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu do ở trẻ em từ 1

Ở Việt Nam, ngạt nước là nguyên nhân tử vong đứng thứ hai đối vớimọi lứa tuổi (chỉ sau tai nạn giao thông) với trung bình 6.230 trường hợp mỗinăm (từ 2005 đến 2012) Đối với trẻ em và vị thành niên dưới 19 tuổi, ngạtnước là nguyên nhân hàng đầu với trung bình 3.503 trường hợp tử vong/năm,chiếm trên 50% tổng số ca tử vong ngạt nước trên toàn quốc Ước tính mỗingày có 10 trường hợp trẻ em tử vong do ngạt nước Đặc biệt cứ 100.000 trẻdưới 19 tuổi thì có khoảng 12 trẻ tử vong do ngạt nước Nhóm trẻ từ 0-4 tuổi

có tỉ lệ tử vong do ngạt nước cao nhất là 20.8/100.000 Trẻ nam tử vong dongạt nước nhiều gấp 2 lần trẻ nữ [12]

Các nghiên cứu khác cho rằng, tỷ lệ tử vong do ngạt nước là cao nhấttrong số trẻ em từ 0 - 4 tuổi đạt 16/100.000 [13] Khảo sát ở Việt Nam của cáctrung tâm y tế năm 2011 cho thấy ngạt nước là nguyên nhân hàng đầu gây tửvong ở nhóm tuổi 1 - 14 Phát hiện này cũng đã được báo cáo trong báo cáohàng năm của Bộ Y tế

Trang 10

Hình 1.4 Các nguyên nhân tử vong trẻ em ở Việt Nam từ 2005-2009

Theo chúng tôi, các nghiên cứu trên người lớn tử vong do ngạt nước ởnước ta chưa được tiến hành một cách đầy đủ, chỉ dựa vào các báo cáo tổngkết hàng năm thì các số liệu chưa thống nhất và chính xác Các nhà nghiêncứu chủ yếu tập trung vào đối tượng thường gặp là trẻ em

1.2.2.2 Giới tính

Hầu hết các nghiên cứu trong và ngoài nước đều chỉ ra rằng, tỷ lệ ngạtnước ở nam giới cao gấp hai lần so với nữ giới [9],[12] Các nghiên cứu chothấy rằng tỷ lệ ngạt nước cao hơn ở nam giới là do tăng tiếp xúc với nước bởinghề nghiệp, do trẻ em nam thường hay bơi một mình hơn hoặc tình trạnguống rượu trước khi bơi

Các trẻ em nam được nhắc đến nhiều ở tất cả các khu vực trên thế giới

về tỷ lệ tử vong do ngạt nước Theo WHO, năm 2004, tỷ lệ tử vong chung chocác trẻ em nam dưới 20 tuổi là 9/100.000 dân, cao gần gấp đôi so với các trẻ

em nữ (5,2 trên 100.000 dân) Một tỷ lệ tương tự đối với các trẻ em nam đãđược phát hiện trong các điều tra ở khu vực Đông Nam Á trong đó có ViệtNam [14]

Trang 11

Dựa trên cơ sở các số liệu toàn cầu báo cáo năm 2008, tỷ lệ ngạt nướcgây tử vong ở nam giới cao hơn so với ở nữ giới Điều này đúng cho mọi nhómtuổi ngoại trừ trẻ nhỏ dưới 1 tuổi tỷ lệ ở nữ cao hơn so với ở nam Tệ nạn giếttrẻ sơ sinh nữ - thường được xếp nhầm vào những thương tích không chủ ý - cóthể là một vấn đề ở đây Nhóm nam giới, tỷ lệ ngạt nước đạt đến đỉnh cao ởnhóm tuổi 1 - 4 Ở nữ giới, tỷ lệ này cao nhất ở trẻ nhỏ và sau đó giảm dần Sựkhác biệt lớn nhất về tỷ lệ tử vong do ngạt nước theo giới tính xảy ra ở trẻ vịthành niên tuổi 15 - 19, trong đó tỷ lệ ở nam giới gấp 2,7 lần so với ở nữ giới.

Mô hình giới tính này được thấy trên toàn thế giới, không phân biệt quốc giagiàu nghèo [15],[16] Nam giới ở các khu vực châu Phi và Tây Thái BìnhDương của WHO có tỷ lệ tử vong do ngạt nước cao nhất trên toàn thế giới[17] Ở tất cả các khu vực, ngoại trừ khu vực Đông Nam Á, tỷ lệ tử vong dongạt nước ở nam gần gấp đôi so với ở nữ

Ở Việt Nam, trong báo cáo của WHO năm 2008, tỷ lệ ngạt nước (đốitượng dưới 18 tuổi) ở nam giới cao hơn ở nữ giới (57,3/25,6) Ở nữ giới chỉ gặpngạt nước ở độ tuổi 5 - 9, các độ tuổi khác chưa báo cáo ở nữ, còn nam giới thìcao nhất là độ tuổi 5 - 9 tuổi và tương đương với tỷ lệ của nữ ở độ tuổi này Mộtnghiên cứu khác ở Việt Nam trên các cơ sở dữ liệu cũng chỉ ra rằng tỷ lệ tử vongngạt nước ở nam cao hơn ở nữ hai lần Tỷ lệ tử vong do ngạt nước cao nhấttrong số trẻ em là lứa tuổi từ 0 - 4 tuổi đạt 16,6/100.000 người [13],[18]

Nghiên cứu của các tác giả Phan Thanh Hòa và Phạm Việt Cường năm

2012 về tình hình ngạt nước của các đối tượng dưới 18 tuổi ở Đồng bằng sôngCửu Long cho thấy tỷ lệ chết ngạt nước ở nam giới trẻ tuổi là 35/00.000, vàcao hơn so với nữ giới là 22/100.000 [19]

Trang 12

Hình 1.5 Phân loại ngạt nước theo giới tính và tuổi

Nghiên cứu sơ bộ của chúng tôi thấy rằng, trong số 30 trường hợp tử vong

do ngạt nước được Viện Pháp y Quân đội khám nghiệm tử thi thấy phân bố tuổi

và giới tính như sau: Độ tuổi 19 đến 30 chiếm tỷ lệ cao nhất (21/30) trong đónam là chủ yếu (17/30) Tỷ lệ nam luôn cao hơn nữ ở tất cả các độ tuổi

1.2.2.3 Địa điểm

Có lẽ yếu tố nguy cơ lớn nhất đối với tỷ lệ tử vong do ngạt nước ở trẻ

em là sự tiếp xúc với vùng nước “đầy nguy cơ” Các mô hình ngạt nước ở trẻ

em tại các quốc gia thường phản ánh loại hình vùng nước mà trẻ tiếp xúc Ởcác quốc gia có thu nhập thấp và trung bình, phần lớn các ca tử vong do đuốinước xảy ra tại các hoạt động ban ngày bao gồm vui chơi, làm việc, tắm rửa,lấy nước, vượt qua các vùng nước, ví dụ để đi đến trường Các vùng nước liênquan đến ao, hồ, sông ngòi và các hệ thống chứa nước, cả trên và dưới mặtđất, như các xô chậu, thùng chứa nước, giếng nước và bể chứa nước Trái lại,

ở các quốc gia thu nhập cao, phần lớn đuối nước ở trẻ em xảy ra trong cáchoạt động vui chơi giải trí Đối với trẻ nhỏ hơn thì thường là bể bơi hoặc đốivới trẻ lớn tuổi hơn thì bơi lội ở hồ hoặc sông [20]

Trang 13

Hình 1.6 Tỷ lệ tử vong do ngạt nước và phân vùng sinh thái cả nước

Nước ta có bãi biển dài, có nhiều sông suối, ao hồ và kênh rạch, một sốvùng người dân sống và hoạt động trên sông nước thường ngày, tình trạngxảy ra các vụ tai nạn lao động sông nước, tai nạn giao thông đường thủy rấtphổ biến, điều đó ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ ngạt nước và chủ yếu tử vongxảy ra trong môi trường nước tự nhiên Bên cạnh đó thiên tai lũ lụt hàng năm

Trang 14

cũng cướp đi sinh mạng của rất nhiều người Tỷ lệ ngạt nước trong các ao hồ,sông suối, kênh rạch hoặc trên biển theo các nghiên cứu cũng lớn hơn so vớingạt nước trong các hoạt động giải trí, thể thao hay bồn tắm như các nước đặcbiệt các nước châu Âu.

Nghiên cứu của các tác giả tại đồng bằng sông Cửu Long [19] cho thấytại các khu vực nông thôn, tỷ lệ tử vong là 119,7/100.000 trẻ em và trong cáckhu vực đô thị là 32,2/100.000 trẻ em Ở nhóm tuổi 15 - 17, ngạt nước xảy ra

ở khu vực đô thị có tỷ lệ 36,5/100.000 trẻ em Tỷ lệ tử vong do ngạt nước ởkhu vực nông thôn cao hơn ở các khu vực đô thị gần 4 lần đối với nhóm 0 - 4tuổi Ngạt nước cũng ảnh hưởng nhiều hơn ở trẻ em sống trong vùng nôngthôn Ngạt nước ở các bé trai ở khu vực nông thôn (38/100.000) cao hơn sovới trẻ em trai ở khu vực đô thị (22.5/100.000) Điều này cũng tương tự nhưcác bé gái ở các khu vực nông thôn (25,4/100.000) so với khu vực đô thị(7,9/100.000) Khoảng 66,4% các trường hợp ngạt xảy ra trong khu vực 20mét xung quanh nhà ở; 28% các trường hợp xảy ra trong vòng 50 mét.Khoảng 97% các trường hợp ngạt nước xảy ra trong khu vực không có biểnhiệu cảnh báo, cũng không có hàng rào bảo vệ

Trong lĩnh vực pháp y, những trường hợp nghi vấn mới cần đến giámđịnh tử thi nên các ca tử vong thường ở nơi nguồn nước tự nhiên là chủ yếu nhưsông, suối, ao hồ Tuy nhiên trong hồ bơi chúng tôi vẫn gặp những trường hợp tửvong mà không có người nhìn thấy Địa điểm xảy ra tử vong rất quan trọng đốivới các có quan điều tra và các nhà pháp y để xem xét sự phù hợp giữa hoàn cảnhgây ra vụ việc và những tổn thương thực thể để làm bằng chứng cho kết luận loạihình tai nạn, tự tự, án mạng hay nguyên nhân nào khác

1.2.2.4 Thời gian

Một số nghiên cứu cho thấy nguy cơ đuối nước gây tử vong tăng ở cảngười lớn và trẻ em đang đi nghỉ trong nước mình hoặc ở nước ngoài Ở Úc,

Trang 15

từ năm 1992 đến 1997, 4,7% các ca đuối nước khi đi thuyền, 18% do lướt ván

ở đại dương và 25% do lặn là khách nước ngoài Một nghiên cứu khác của Úcđược thực hiện ở giai đoạn giữa năm 2001 đến giữa năm 2005, cho thấy gần

25% tử vong do ngạt nước là khách du lịch nước ngoài, trong đó có trẻ em.

Theo báo cáo thì số trẻ em Liên hiệp Vương quốc Anh bị đuối nước tại các bểbơi ở nước ngoài nhiều hơn so với ở các bể bơi trong nước họ Phát hiện nàycoi như có liên quan đến sự gia tăng phơi nhiễm với nước trong kỳ nghỉ cũng

như tiếp xúc với một hoàn cảnh mới [20].

Nghiên cứu trên các khu vực nước Mỹ cho thấy, ngạt nước có xuhướng xảy ra thường xuyên nhất vào cuối tuần (40%) trong những tháng mùa

hè, thường thấy hơn ở các vùng nông thôn và miền nam Hoa Kỳ và phươngTây (62%) [21]

Nghiên cứu của Phan Thanh Hòa và Phạm Việt Cường ở đồng bằngsông Cửu Long [19] cho rằng hầu hết (87%) các trường hợp ngạt nước xảy ra

ở buổi sáng, trong đó thời gian thường gặp nhất là 9 giờ (59,8%), tiếp theo làsáng sớm khoảng 6 giờ (28,4%), các trường hợp khác xảy ra vào buổi chiều

và hơn 5% các trường hợp không thể xác định thời gian Tháng Chín và thángMười là thường gặp nhất với tỷ lệ 33,7% và 28,4% tương ứng Đây cũng làthời gian để bắt đầu mùa lũ lụt ở khu vực này Nhiều trường hợp tử vong ngạtnước cũng xảy ra vào tháng Giêng (26%) và tỷ lệ này là thấp hơn so với cáctháng khác

Trên thực tế, thời gian xảy ra ngạt nước cũng tùy thuộc các nhóm đốitượng, vì mùa hè nắng nóng nhu cầu thể thao dưới nước tăng cao, và là mùađối tượng trẻ em được tham gia các hoạt động nhiều nên số người đến bể bơi,

hồ ao, sông suối và bãi tắm nhiều hơn, khả năng gặp tai nạn nhiều hơn; trongkhi đó thiên tai thảm họa lại nhiều vào mùa mưa do chìm tàu thuyền vàphương tiện giao thông đường thủy

Trang 16

1.2.2.5 Các loại hình ngạt nước

Báo cáo tại hội nghị thế giới về đuối nước năm 2011 cho rằng, các hìnhthái ngạt nước gồm: Tai nạn (56,2%), tự tử (23,8%), án mạng (0,82%), khôngxác định (16,5%)

- Tai nạn: Chiếm tỷ lệ cao, hay gặp trong mùa bơi lội, mùa lũ lụt, cáctrường hợp ngã bất ngờ xuống nước, đang bơi dưới nước bị đuối sức, bị chuộtrút, bị lên cơn động kinh ngã úp mặt vào vũng nước, trẻ em cúi xuống múcnước ở vại nước bị lộn cổ xuống và chết ngạt Có trường hợp người lao độnglàm việc ở dưới nước bị cảm ứng điện do dòng điện truyền qua nước gây bấttỉnh rồi chết vì ngạt nước Có trường hợp phát hiện chết ở dưới nước do ngãxuống nước gây đột tử ở dưới nước, ngừng tim bất ngờ Có trường hợp chuivào téc xăng bị ngộ độc xăng gây ngất xỉu và chết trong vũng xăng [22]

Các loại tai nạn thường gặp: tai nạn với trẻ em là đối tượng chiếm tỷ lệlớn tử vong do ngạt nước; tai nạn giao thông đường thủy; tai nạn nghề nghiệp;tai nạn thể thao, giải trí

- Tự tử: Chiếm tỷ lệ cao thứ hai Cần chú ý có người tự tử khi xuốngnước không có sự chuẩn bị, có người quyết tâm chết chắc chắn ở dưới nướcthì có sự chuẩn bị như buộc thêm đá vào ống quần, đeo ba lô chất đầy đá cóngười tự trói tay chân trước khi nhảy xuống nước Có trường hợp tự tử bằngnhững cách khác nhưng không thành công như tự gây thương tích, tự uốngthuốc độc rồi mới chọn cách nhảy xuống nước, trường hợp này thường gặp ởngười có rối loạn cảm xúc nặng [22]

- Án mạng: Một số trường hợp ngạt nước do giết người với tỷ lệ ít hơnnhiều so với hai trường hợp trên Giết người bằng thủ đoạn bất ngờ đẩy đốitượng xuống nước hoặc đánh đắm thuyền, với những trường hợp này khikhám thi thể, chỉ thấy dấu hiệu ngạt nước mà không tìm được dấu hiệu bạolực Có trường hợp gây án mạng bằng cách đánh đập gây thương tích, cho

Trang 17

uống thuốc độc nhưng chưa chết rồi đẩy nạn nhân xuống nước, trường hợpnày khi khám nghiệm vừa thấy dấu hiệu ngạt nước, vừa thấy các dấu tích bạolực Trong giám định pháp y còn gặp hung thủ sát hại nạn nhân rồi vứt xácxuống nước, có khi buộc thêm đá kéo chìm không cho xác nổi để tránh pháthiện hoặc vứt xác ở mép nước gây chết đuối giả Với trường hợp này cầnkhám nghiệm rất tỷ mỷ, thận trọng, nhất là khi phát hiện và khám muộn (xáctrong quá trình phân hủy) để phân biệt chết do nguyên nhân ngạt nước haychết do nguyên nhân khác rồi vứt xác xuống nước [22].

- Rượu và thuốc: Báo cáo tại Hội nghị thế giới về ngạt nước năm 2011

đã khẳng định rượu được coi là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất đối với ngạtnước Cá nhân dưới ảnh hưởng của rượu có nhiều khả năng rơi xuống nước;bơi thuyền trong các tình huống nguy hiểm, vận hành một chiếc thuyền khôngđúng cách; và khi ở trong nước, năng lực để bơi hoặc sống sót có thể bị hạnchế đáng kể; hơn nữa, rượu có thể cản trở đến quyết tâm giành sự sống của

Trang 18

nạn nhân Mối quan hệ giữa tử vong do ngạt nước và rượu đã được ghi nhận ởcác nước khác nhau, với hầu hết các nghiên cứu báo cáo 25% đến 50% ngạtnước liên quan đến rượu.

Trong khi vai trò của rượu trong ngạt nước đã được nghiên cứu rộngrãi, sự hiện diện của các loại thuốc khác ít được biết ở các nạn nhân ngạtnước, mặc dù thuốc có thể tác động đến hệ thống thần kinh trung ương gâycản trở tâm lý và nhận thức chức năng có liên quan đến hoạt động dưới nước

- Nghèo đói: Như nhận thấy ở phần trên, ngay cả trong phạm vi mộtkhu vực nhất định trên thế giới cũng có những sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ tửvong do ngạt nước giữa các quốc gia thu nhập cao và các quốc gia có thunhập thấp Điều này cũng đúng trong phạm vi một số quốc gia nhất định.Thiếu cơ hội học hành kết hợp với tình trạng nghèo đói có thể là một nhân tốliên quan Có bằng chứng rằng, ngạt nước ở trẻ em bị ảnh hưởng từ trình độvăn hóa của người chủ gia đình hoặc người chăm sóc

Hình 1.8 Ngạt nước trẻ em theo mức thu nhập ở các khu vực

Trang 19

- Thiếu thiết bị an toàn: Không có sẵn hoặc không tiếp cận được thiết bị

an toàn trong các tàu vận tải đường thủy là các yếu tố nguy cơ bổ sung Cácthiết bị nổi như áo phao không thể thiếu trên tất cả các con tàu, cho dù được sửdụng cho giao thông hay để giải trí Thiết bị an toàn được trẻ em sử dụng khibơi lội phải đạt tiêu chuẩn an toàn tối thiểu Các khoản mục như phao bơi trònhoặc “phao tay” có thể làm cho cha mẹ có cảm giác an toàn giả tạo, dẫn đến saisót trong việc giám sát và để xảy ra những hậu quả tai hại Việc sử dụng các đồ

chơi bơm khí, bè và các đệm khí cũng được coi là không an toàn [20].

- Khí hậu: Trên toàn thế giới, có rất nhiều ca tử vong do ngạt nước cóliên quan đến lũ lụt, đại hồng thủy và sóng thần đại dương; chỉ một sự kiệnđơn lẻ có thể khiến hàng nghìn người bị thiệt mạng

- Tiếp cận điều trị và phục hồi chức năng: Một vài nghiên cứu đã khẳngđịnh rằng phần lớn các sinh mạng được cứu nhờ hành động tức thì của ngườingoài cuộc tại hiện trường, người không có chuyên môn hoặc người cứu hộchuyên nghiệp Nếu không có sơ cứu ban đầu kịp thời, kể cả cấp cứu tim phổi

cơ bản thì trong hầu hết các trường hợp các thủ thuật tiên tiến và can thiệp hỗtrợ sự sống dường như ít có tác dụng [23] Tiếp theo những nỗ lực cấp cứuban đầu, việc nhanh chóng đưa nạn nhân đến phòng cấp cứu của một bệnhviện là rất cần thiết để tránh tổn thương thêm về thần kinh hoặc tử vong

- Bệnh tật: Bệnh động kinh được biết đến là làm tăng nguy cơ tử vong

do ngạt nước trong tất cả các nguồn nước, bao gồm bồn tắm, bể bơi, ao hồ vàcác vùng nước tự nhiên khác [20]

1.3 Cơ chế sinh lý bệnh ngạt nước

1.3.1 Lịch sử nghiên cứu về ngạt nước

Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, từ “ngạt nước" được Galen nêu ra lầnđầu tiên từ thế kỷ thứ 2 SCN ở Hy lạp - La Mã Theo quan niệm thời bấy giờ

Trang 20

chết ngạt nước là do nước tràn vào dạ dày, ruột [24] Sau này những thầythuốc nghiên cứu về vấn đề này thấy rằng: Chết ngạt nước là do nước tràn vàođường thở, tràn vào phổi đưa tới tử vong chứ không phải do nước tràn vàođường tiêu hoá Trong tập 3 của cuốn sách có nhan đề là HSI-JUAN-LU(1248) có bàn về cái chết ngạt thở do hít nước, tác giả cũng quan tâm đếntrường hợp người bị chết ngạt nước và phân biệt giữa trường hợp người bịchìm trong nước và người bị giết rồi bị dìm xuống nước [24] Năm 1601,Fortunaus Fidelis một bác sĩ ở Palermo, trong tác phẩm của mình đã có ýtưởng thiết lập sự khác nhau giữa các thương tổn gây ra trong cơ thể do chếtngạt nước ngẫu nhiên và những thương tổn do bị dìm chết Brouardel đãnghiên cứu tình trạng hồng cầu ở tim, mạch máu trong các trường hợp ngạtnước thì thấy nước còn tràn vào cả hệ tuần hoàn làm máu loãng ra, tác giả giảithích là do nước từ các vi quản của phổi đi về tâm thất từ đó nước theo đườngtuần hoàn đi tới các cơ quan nội tạng [25] Nhưng phải đến năm 1915,Spilsburry nhà y pháp học người Anh mới phát hiện ra hiện tượng chết ngạtnước do tổn thương ức chế qua vụ án của Gerge Joseph Smith Vụ án này cóảnh hưởng lớn đến sự phát triển của ngành Y pháp học sau này [26].

Như vậy chết ngạt do nước đã được nghiên cứu từ rất sớm và ngày nayviệc nghiên cứu ngạt nước vẫn còn là vấn đề được nhiều nhà khoa học nóichung và y học nói riêng nghiên cứu, vì hàng năm trên thế giới số người bịngạt nước dẫn tới tử vong vẫn chiếm một tỷ lệ cao so với các trường hợp tửvong khác Ngoài ý nghĩa mang tính khoa học y học thì nghiên cứu về ngạtnước còn mang ý nghĩa xã hội rất cao Trước những trường hợp phát hiệnngười chết ở dưới nước thì việc xác định nguyên nhân gây tử vong luôn cầnphải được làm sáng tỏ, nhiệm vụ nặng nề đó dành cho thầy thuốc pháp y vànhững người làm công tác điều tra hình sự

Trang 21

1.3.2 Cơ chế sinh lý bệnh ngạt nước

Nghiên cứu về sinh lý bệnh ngạt nước có 4 cơ chế [22]: Hít nước vàophổi, thẩm thấu nước vào máu, rách phế nang và phản xạ thần kinh

Hình 1.9 Tóm tắt cơ chế sinh lý bệnh ngạt nước 1.3.2.1 Hít nước vào phổi

Nghiên cứu trên động vật thực nghiệm người ta thấy quá trình ngạtnước có thể diễn ra từ 3,5 đến 5 phút với 3 giai đoạn mà ranh giới không rõrệt [22],[27]:

a) Giai đoạn 1 (khoảng 1,5 phút): Nạn nhân chìm xuống nước, nín thở,dãy dụa, uống nước vào dạ dày, huyết áp giảm, tim đập chậm lại

Trang 22

b) Giai đoạn 2 (khoảng 1 phút): Nạn nhân hít mạnh nước thành luồng

do phản xạ, nước qua khí phế quản vào đến tận phế nang, tim đập nhanh, lúcnày có thể thấy luồng bọt sủi tăm từ mũi nạn nhân lên mặt nước

c) Giai đoạn 3 (khoảng 1-1,5 phút): Nạn nhân co giật, hôn mê, tụt huyết

áp, tim đập lộn xộn rồi ngừng tim do rung thất, sau đó thở hắt ra

Trong thực nghiệm trên động vật, khi chìm xuống nước áp lực tĩnhmạch tăng 4 - 5 lần Ở người diễn biến cũng tương tự, thời gian có thể kéo dàihơn đối với người có đủ sức ngoi lên mặt nước nhiều lần để hít không khí

Thời gian của mỗi giai đoạn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau,khác nhau giữa các nạn nhân như tuổi tác, bệnh tật trước đó, khả năng chịuđựng nín thở của nạn nhân và nhiệt độ của nước

Khi chìm xuống nước, ý thức của nạn nhân cố gắng duy trì sự thở củamình và cố gắng ngoi lên mặt nước để tiếp xúc với không khí thường vì hậuquả lo sợ, hoảng hốt, cơ thể giãy dụa một cách vô hướng và rất nhanh Việcgiành lấy oxy cho máu không có kết quả và theo thời gian, nạn nhân sẽ bị sặcnước Phản xạ thở của nạn nhân yếu dần do lượng oxy trong tế bào giảm vàthải ra CO2 Như vậy, lượng oxy máu ngày càng giảm và CO2 máu ngày càngtăng Nước vào trong đường thở kích thích gây phản xạ họng - hầu - thanhquản gây đóng đường thở ngăn không cho nước vào phổi Sự bít tắc này làmcho nước sẽ vào đường tiêu hóa trước khi nạn nhân chìm hẳn và trong phổi rất

ít nước Sự tiếp tục thiếu oxy trong não, giảm oxy máu sẽ nhanh chóng làm chonạn nhân bị mất ý thức, thường áp lực oxy trong máu sẽ là 25 - 30 mmHg Khinạn nhân mất ý thức, nếu được cấp cứu khi nắp thanh quản còn đóng thì đó là

cơ hội để nạn nhân hồi phục [22] Việc hô hấp nhân tạo có kết quả tốt, vì không

có nước trong phổi Tại thời điểm này, nạn nhân có nhiều cơ hội để hồi phục,nếu nạn nhân được chăm sóc sau khi bị ngạt vài phút Tuy nhiên, đa số nạnnhân có phản xạ mở nắp thanh quản sau khi mất ý thức và hậu quả là nước vào

Trang 23

trong phổi và “bị chết đuối ướt” Có một số ít nạn nhân vẫn đóng nắp thanhquản cho đến khi tim ngừng hẳn, dạng này gọi là “chết đuối khô” [27].

Não thường không thể sống lâu mà không có oxy và nếu tiếp tục thiếuoxy kết hợp với ngừng tim sẽ dẫn đến tình trạng tế bào não bị tổn thương, gâynguy hiểm và cuối cùng là “não bị chết”, sự hồi phục thường không xảy ra.Nếu cấp cứu trước khi xuất hiện thở gắng sức, nạn nhân có thể tự hồi phục,được gọi là “suýt chết đuối”(near-drowning) Phần lớn thời gian tử vong kéodài không quá 10 phút, trong khoảng thời gian này khả năng cứu sống bệnhnhân trong môi trường nước mặn là 80%, nước ngọt là 50% [22]

Trong chết ngạt nước, tuần hoàn có biến đổi sâu sắc, tiếp theo sau giãncấp phế nang là sự chèn ép mạch máu, dẫn đến hậu quả vô tâm thu cấp tính

do quá tải tim phải Động mạch phổi, nửa tim phải, hệ thống mạch cửa giãn.Bằng chứng của hệ quả trên là gan to thực sự Đồng thời có sự loãng máu donước xâm nhập qua hệ thống mao mạch phổi vào tuần hoàn (chết ngạt trongnước ngọt) làm giảm số lượng hồng cầu và hematocrit Ngoài ra loãng máucòn làm mất cân bằng áp lực thẩm thấu giữa máu và mô [3]

Có những trường hợp được cấp cứu kịp thời, chưa tử vong, tuy nhiênnhững tổn thương xảy ra với phổi làm suy yếu các phế nang là nguyên nhânphù phổi, giảm sự tiếp nhận oxy và có thể gây tử vong chậm tới 72 giờ sau.Trường hợp này gọi là chết đuối thứ phát [3]

1.3.2.2 Hiện tượng thẩm thấu của nước vào máu:

Trang 24

bình thường, mặc dù thành phần Hemogobin trong máu đầy đủ [3] Người ta

đã chứng minh trên chó thực nghiệm được gây mê, thấy rằng trong 3 phút bítkín đường hô hấp thì áp lực oxy trong máu động mạch (PaO2) giảm từ 96mmHg xuống còn 10 mmHg Ngoài ra khi nghiên cứu trên bào thai cừu đãđược mang thai 126,3 ngày các tác giả Newzeland đã đưa ra kết luận: khi bịngạt cấp tính thì nhịp tim của bào thai cừu tăng trong một thời gian ngắn, tiếptheo đó là sự toan hóa máu và hạ huyết áp, sau cùng là tử vong Người ta đãtính toán nếu nạn nhân hít trên 11 ml/kg thì mới có sự tăng khối lượng tuầnhoàn, còn nếu trên 44 ml/kg (tương đương với 3 lít cho một người cân nặng70kg) thì có rung tâm thất ở trên chó thực nghiệm Như vậy các hậu quả trênlàm cho rung tâm thất xuất hiện Khi co thắt thanh quản thì chỉ có một lượngnhỏ nước thâm nhập vào phổi nhưng nạn nhân vẫn tử vong là do ảnh hưởngcủa sự thiếu oxy hơn là sự hòa loãng máu

b) Ngạt nước xảy ra ở nước mặn: Do áp lực thẩm thấu của nước mặn caohơn máu, khi xâm nhập vào phổi nó sẽ hút dịch từ trong máu vào trong tronglòng phế nang, đồng thời các chất điện giải có nhiều trong nước xâm nhập vàomáu làm cho máu bị cô đặc và không có sự tan vỡ các tế bào máu, cân bằngnatri và kali trong máu không thay đổi Hiện tượng rung thất không xảy ra trênchó thực nghiệm Huyết áp động mạch không giảm nhanh như chết ngạt trongnước ngọt Chức năng co bóp của tim cũng giảm dần và nhịp co bóp của timgiữa hai phần nhĩ - thất không đồng bộ với nhau Người ta thấy trên chó thựcnghiệm thời gian chết ngạt nước mặn kéo dài tới 9 phút [3]

Cả hai hình thái chết ngạt nước ngọt và nước mặn ở giai đoạn cuối đều

có hiện tượng phù phổi cấp, trong đó đều có di chuyển protein và dịch vào phếnang, cùng với các động tác hít thở hoặc quá trình cấp cứu tạo ra các nấm bọt.Các nấm bọt này có thể trộn lẫn cả máu do sự sung huyết và xuất huyết vàotrong lòng phế nang, làm cho chúng từ màu trắng chuyển thành màu hồng [3]

Trang 25

1.3.2.3 Rách phế nang

Khi nước vào các phế nang, đa số các phế nang bị giãn và rách gâychảy máu loang lổ khắp cả mặt phổi và trong nhu mô phổi, những phế nangkhác không có nước vào sẽ căng gây nên khí phế thũng [22],[27]

1.3.2.4 Phản xạ thần kinh

Ngoài việc gây tổn thương phế nang, nước tràn vào đường hô hấp cóthể kích thích thanh hầu gây phản xạ ức chế trung tâm tuần hoàn và hô hấp ởhành tủy dẫn đến ngừng tim, ngừng thở [3], [22]

1.4 Tổn thương giải phẫu bệnh ngạt nước

Hình ảnh tổn thương của các trường hợp chết ngạt nước là không đặchiệu Những bằng chứng bệnh nhân còn sống khi xuống nước, loại trừ khả năngchết tự nhiên, chấn thương hoặc độc chất là rất quan trọng Một vài dấu hiệu giảiphẫu bệnh có thể được dùng để chẩn đoán ngạt nước, nhưng loại trừ vẫn làphương án hay sử dụng hơn cả [3] Có thể thấy 5 loại dấu hiệu sau đây [3],[22]

1.4.1 Dấu hiệu bên ngoài

1.4.1.1 Nấm bọt

Nấm bọt là dấu hiệu cơ bản của ngạt nước Sau khi chết, bụng của xáctrương dần do sinh hơi chèn ép vào cơ hoành, phổi, đẩy bọt và nước trongphổi và nước trong dạ dày ra mũi và miệng Khám sau chết một thời gianngắn, ta thấy đám bọt hình nấm ở mũi và mồm, với tính chất bọt trắng, nhỏ,dai và mịn Bọt này do 4 thành phần tạo nên, gồm nước, niêm dịch trongđường hô hấp, huyết tương (của máu) và hơi Đầu tiên bọt trắng như bọt xàphòng (khám sớm) dần dần về sau bọt sẽ có màu hồng, nếu khám muộn hơnthì bọt càng ít dần và xen lẫn nước và máu đùn ra, nếu khám muộn hơn nữathì chỉ có nước và máu Cần phân biệt bọt do ngạt nước khác với bọt do phùphổi cấp trong các bệnh lý gây ra là bọt to, loãng và dễ tan [22]

Trang 26

Nấm bọt xuất hiện ngay sau khi vớt xác ra khỏi nước, có khi xuất hiệnchậm hơn hoặc không xuất hiện (như trong trường hợp chết do ức chế, ngạttrắng) Khi thấy nấm bọt xuất hiện ở một nạn nhân được vớt từ dưới nước lên

sẽ gợi ý đến một cái chết ngạt nước [3],[27]

1.4.1.2 Dấu hiệu chết nhanh trong ngạt nước

Toàn thân xanh tái do hậu quả của thiếu oxy máu và lạnh, thậm chí tím

cả mặt và đầu chi khi trong 100ml máu mao mạch có trên 5g Hb không bãohòa Niêm mạc mắt cương tụ hoặc có chấm chảy máu Vết bầm tử thi xuấthiện rất sớm, rất đậm và lan rộng (do nước vào máu làm khối lượng máutăng) [3],[22]

1.4.1.3 Dấu hiệu do xác ngâm nước

Da nổi gai ốc (do nước lạnh làm co cơ ở chân lông) Xác lạnh, vú vàbìu dái săn lại Nhiệt độ của cơ thể giảm bằng nhiệt độ môi trường phát hiện

tử thi trong 8-24h [34] Da bàn tay bàn chân nhợt nhạt, nhăn nheo, nếu xác ởdưới nước lâu da có thể bợt ra Niêm mạc mắt phồng lên do ngấm nước

Cần chú ý các dấu hiệu này không chỉ thấy ở xác chết do ngạt nước mà

có thể thấy ở xác chết ngâm dưới nước [22],[27]

1.4.1.4 Thương tích và dấu vết trước, sau chết

a) Thương tích trước khi chết:

Có thể xảy ra lúc nhảy xuống nước hay lúc lên cơn co giật, do va đậpvào các vật xung quanh Các thương tích này có thể là vết tụ máu, vết sượt da,đụng dập, gãy xương Trong đa số các trường hợp, thương tích này không có.Nếu nghi ngờ nạn nhân chết dưới nước do án mạng thì phải xem xét thươngtích một cách tỷ mỷ thận trọng và xác định cơ chế tạo ra các thương tích đểphân biệt với các thương tích hình thành trong quá trình xảy ra ngạt nước

Tụ máu quanh khớp vai: Phản ứng giãy giụa trước khi chết có thể gây

ra tụ máu xung quanh nơi bám của các cân cơ, dây chằng quanh vai, cổ, ngực,

Trang 27

rõ nhất ở nơi bám của cơ thang, cơ ngực lớn Tụ máu thường xuất hiện haibên và chạy dọc theo các bó cơ, dấu hiệu này xuất hiện ở 100% các trườnghợp, là dấu hiệu chứng minh nạn nhân còn sống khi ở dưới nước [22],[27].Chảy máu kết mạc: Chấm chảy máu ở kết mạc có thể thấy ở chết do ngạtnước hoặc ở các loại hình ngạt khác [27].

Cũng có thể gặp các tổn thương do va chạm với cây cối, đá ngầm, chânvịt tàu thủy Các tổn thương do chân vịt tàu thủy thường hình cong hoặcsong song, bờ mép sắc gọn Các tổn thương này có thể xuất hiện trước hoặcsau chết biểu hiện bằng có tụ máu hay không trên tiêu bản vi thể Tuy nhiênbiểu hiện tụ máu này rất nhanh bị phân hủy khi ở trong nước lâu Ngoài racòn có thể có các tổn thương do va chạm vào mặt nước từ một độ cao nhấtđịnh như gãy xương, sai khớp [22]

b) Thương tích và dấu vết sau chết:

Thương tích do xác trôi dạt sau chết do tác động của dòng nước ở nơidòng sông có nước chảy xiết, xác có thể bị dòng nước cuốn trôi đi xa chỗ nạnnhân ngã xuống nước Nếu chết ở ao tù thì xác chìm ngay tại chỗ Trong thờigian đầu xác chìm ở đáy sông, do sự lay động của dòng nước, có thể gây racác vết xây sát ở trán, mặt, đầu gối, đầu các chi Đất, cát, rêu ở đáy sông cóthể bám vào móng tay, móng chân Sau vài ngày xác trương to do thối rữa sẽnổi dần lên mặt nước, xác đàn ông thường trôi sấp, xác đàn bà trôi ngửa và cóthể va chạm vào những vật xung quanh gây nên những thương tích và dấu vếtkhác nhau Cần phân biệt các dấu vết, thương tích này với các thương tích vàdấu vết do bạo lực trước khi chết do ngạt nước Ngoài ra, các loài tôm, cua, cá

có thể cắn, rỉa những phần hở của cơ thể gây ra những dấu vết phức tạp, cầnloại trừ [22],[27]

Trang 28

1.4.1.5 Dấu hiệu thối rữa

Khi còn chìm ở dưới nước, da của xác có màu trắng bợt, khi bắt đầu nổilên tiếp xúc với không khí, da sẽ chuyển màu lục rồi màu đen xạm như màuđồng đen Khi xác được vớt lên sẽ thối rữa rất nhanh, nhất là trong mùa hènắng nóng [3],[22] Nếu xác ngâm lâu dưới nước vài tháng, vài năm thì xác

có thể hóa sáp, nếu ngâm lâu ở vùng nước cứng thì sẽ có những mảng vôi domuối canxi lắng đọng [22],[27]

1.4.2 Dấu hiệu bên trong

Phổi to, căng, bờ phổi tù, không sắc, có thể thấy các dấu ấn lõm củaxương sườn trên bề mặt phổi ở mặt trước và mặt bên Trong thực nghiệmngười ta thấy trọng lượng của phổi tăng lên có ý nghĩa từ 1100g - 2200g (bìnhthường 944g) Bề mặt phổi có nhiều màu sắc loang lổ như đá hoa, mặt cắtphổi có vết chảy máu loang lổ, đậm nhạt khác nhau (Vết Paltauf) Những chỗchảy máu loang lổ màu đỏ, đậm nhạt khác nhau Có chỗ màu hồng của phổibình thường, có chỗ màu hơi trắng do giãn phế nang, có thể gặp những túibóng khí do giãn phế nang và cả những vùng phổi còn lành Để hình thànhdấu hiệu này thì phải có khoảng thời gian nạn nhân cố ngoi lên mặt nước đểthở (giai đoạn giã gạo), trường hợp nạn nhân bị chìm hoàn toàn trong nước thìkhông có dấu hiệu này

Trang 29

Chấm chảy máu màng phổi hiếm gặp nhưng chảy máu ở tổ chức liênkết màng phổi do tổn thương rách phế nang thường xuất hiện ở vách liênthùy, bề mặt những thùy phổi ở phần thấp Trong đường dẫn khí khi mở thấycác bọt khí ở mũi miệng Niêm mạc khí phế quản màu hồng nhạt và xunghuyết nhẹ [3].

Dị vật đường thở: Trong một số trường hợp, kể cả khi khám muộn,lòng khí đạo có thể thấy một số dị vật như bùn, cát, rong rêu, có khi thấy cảhạt cơm, thức ăn trào ngược từ dạ dày lên khi hấp hối Trong các trường hợpchết ngạt nước phát hiện sớm, bùn cát, rong rêu, vỏ sò có thể có mặt ở đường

hô hấp thấp, phế quản và thường xuất hiện sau khi chết, ít khi có mặt trongphế nang Các dị vật có mặt ở phế nang phải hình thành trước khi chết Vì vậy

nó có ý nghĩa nhất định trong chẩn đoán chết ngạt nước [22]

Mảnh vụn chất thải và tạp chất hóa học trong dịch phế quản, phổi sosánh với mẫu nước thu tại hiện trường nơi phát hiện ra nạn nhân có thể làbằng chứng về nơi chết của bệnh nhân qua xét nghiệm phân tích hóa chất.Theo tác giả Smith.S, tác giả tìm thấy tới 70% tổng số nạn nhân chết ngạtnước có thành phần các chất trong dạ dày và phế quản giống với hiện trườngvớt tử thi

- Bộ máy tuần hoàn: Các tạng xung huyết mạnh (ứ máu), máu loãng,kém dính và có hiện tượng vỡ hồng cầu

Tim của những nạn nhân chết đuối thường giãn toàn bộ cả tâm nhĩ vàtâm thất, ứ máu xẫm màu Tim trái rỗng do ứ máu tuần hoàn phổi Tim phải

và hệ tĩnh mạch ứ máu Khám nghiệm tử thi thường gặp dấu hiệu tim phảigiãn căng, máu loãng và kém dính Hiếm gặp cục máu đông trong tim do sựxâm nhập của nước từ tuần hoàn phổi vào đại tuần hoàn trước khi chết, cũng

có thể do tăng phân hủy sợi huyết (fibrinogen) [3]

Trang 30

Lách thường co nhỏ, do phản ứng bảo vệ của cơ thể khi có thiếu máuhoặc tan máu ở bệnh nhân.

- Bộ máy tiêu hóa: Trong dạ dày, ruột có nước Quá trình uống nướcvào dạ dày xảy ra khi nạn nhân cố thở lúc ở dưới nước Dưới tác động của ho,sặc và các động tác co giật cơ bụng, một hỗn hợp gồm nước, không khí, bọtđược tạo thành trong dạ dày [3] Khi trong dạ dày, tá tràng có nước là dấuhiệu rất có giá trị trong chẩn đoán ngạt nước Khi không có nước, dị vật trong

dạ dày ruột có thể do chết nhanh ngay khi xuống nước hoặc đã chết trước khixuống nước

Chú ý trên thực tế, nước có thể vào đường hô hấp, vào dạ dày đối vớixác chết bị vứt xuống nước, nhưng không có khả năng làm căng phổi, căng dạdày và đẩy nước xuống ruột

Gan to do ứ máu, thận nhạt màu

Ruột nhạt màu, trong lòng ruột có thể có một lớp chất nhầy màu đỏsẫm, các chấm xuất huyết dưới niêm mạc

- Não: Tổn thương não khám nghiệm sớm thường thấy tình trạng phù

nề xung huyết mạnh Nhưng nếu khám muộn hơn thì tình trạng hư thối nhu

mô não là hình ảnh được lưu ý để ước đoán thời gian chết Reh đã có thựcnghiệm theo dõi quá trình nhũn não sau chết được thể hiện như sau [1]:

Nhiệt độ nước Thời gian não bị nhũn

Trang 31

b) Các dấu hiệu khác:

Nước trong các xoang ở vùng đầu mặt, nhất là xoang bướm: Thườngtìm thấy nước trong xương đá và xoang hàm trên Theo Hottman trong mộtnghiên cứu 387 trường hợp tử vong do ngạt nước có 75% tìm thấy nước trongcác xoang này [1]

Nước trong hố bụng, hố ngực do nước thoát tiết từ tổ chức phổi, ruột Phù niêm mạc túi mật do ngấm nước

Rách niêm mạc bờ cong nhỏ dạ dày do dạ dày co bóp lúc nôn

Chảy máu cơ vùng cổ (có thể do co giật mạnh)

Chảy máu tai giữa hoặc xương chũm: Có thể gặp đám màu đỏ tím hoặcxanh tím ở vùng xương chũm, cơ chế bệnh sinh của hiện tượng này khôngđược rõ ràng, có thể hậu quả của tổn thương do chênh lệch áp suất, do kíchthích vòi Eustachian hoặc do tình trạng xung huyết rất mạnh gây ra Dấu hiệunày cũng có thể gặp ở người chấn thương sọ não, điện giật gây ra [1][3]

Khí phế thũng: Sau khi hít phải nước, phổi có thể được quá hơi, làmcác phế nang giãn ra, gọi là “khí phế thũng”

Cỏ, lá cây, bùn đất… trong lòng bàn tay xuất hiện trước khi chết do nạnnhân cố gắng bám nắm cho đến khi mất ý thức và chết

Hình ảnh động vật ký sinh: Các động vật ký sinh như chấy rận và cácđộng vật ký sinh trong hệ thống tiêu hoá có ý nghĩa trong ước đoán thời gianchết Chấy rận không sống được quá 14 tiếng đồng hồ Giun đũa không sốngđược quá 2 giờ (có người cho rằng sống được 10 giờ) sau khi người (vật chủ)

bị chết do ngạt nước

1.4.2.2 Trường hợp xác đã thối rữa

Các dấu hiệu quan trọng đã mất đi nhiều Khám nghiệm thấy:

Phổi xẹp, khí quản không còn bọt và nước, chỉ còn một ít máu

Trang 32

Trong hố ngực có nước, trường hợp muộn hơn, nước trong hố ngực đãhết để lại vết ngấn nước ở mặt trong thành ngực

Có thể thấy dị vật trong khí đạo, nhất là ở các phế quản nhỏ [22]

1.4.3 Những dấu hiệu chết ngạt nước không điển hình

Phản xạ ức chế (ngừng tim, phản ứng kích thích thanh quản): khônggặp thường xuyên nhưng có thể nhận biết được nếu xuất hiện mất ý thức và tửvong rất nhanh, không có dấu hiệu chết ngạt nước điển hình [1]

Cơ chế ngừng tim đột ngột có thể do nước tác động vào thanh sau vùnghầu họng và thanh quản kích thích dây X gây ngừng tim, có 3 yếu tố thuận lợi

có thể là nguyên nhân thuận lợi cho việc hình thành phản xạ trên:

- Lần đầu tiên xuống nước hoặc bị ngã bất ngờ, rơi xuống nước từ độcao lớn

- Cơ địa tăng nhạy cảm như trong các trường hợp say hoặc ngộ độc rượu

- Trạng thái tinh thần hoảng hốt, khốn quẫn

Co thắt thanh quản: không có bằng chứng hít nước vào phổi nhưng cóthể tìm được dấu hiệu của ngạt cơ học bao gồm mặt mũi nạn nhân tím tái, cócác chấm chảy máu nhỏ,

Cơ chế: do nạn nhân nhiễm lạnh đột ngột vùng cổ, ngực kèm theo hítnước lạnh gây co thắt thanh quản làm nạn nhân mất tri giác và rơi vào tìnhtrạng ngạt rất nhanh, cần loại trừ khả năng bị ngạt cơ học (bóp cổ, chẹn cổbằng dây…)

Ngạt nước thể khô: thuật ngữ này xuất phát từ việc đánh giá phân loạiphổi khô hay ướt Trước đây khái niệm này được sử dụng rộng rãi trong cáctrường hợp chết dưới nước do phản xạ ức chế hay co thắt thanh quản khikhông thấy nước trong phổi Tuy nhiên không loại trừ khả năng một số lượngnước nhỏ vào phổi nhưng được hấp thu vào hệ tuần hoàn và nạn nhân tử vongtrước khi có dấu hiệu phù phổi hình thành

Trang 33

Tử vong do biến chứng của ngạt nước: xảy ra sau khi nạn nhân đượccứu vớt và trải qua một thời gian hồi sức, những nhà lâm sàng gọi đó là hộichứng “ suýt chết đuối (near-drowning)” nếu cứu chữa không kết quả, nạnnhân tử vong, khám nghiệm cho thấy tình trạng phù phổi, viêm phế quản phổi

và suy thận cấp, hậu quả của quá trình tan máu hoặc nhiễm trùng huyết

Chết trong bồn tắm: thường là những vụ rất phức tạp, có thể do tai nạn,

tự tử, hay án mạng

1.4.4 Tiến triển của các dấu hiệu trên tử thi

Đây được coi là các dấu hiệu áp dụng cho việc xác định thời gian tươngđối từ khi tử vong đến khi giám định

Người chết ngạt nước khi bị giữ trong môi trường nước sẽ có sự thayđổi lớn về các dấu hiệu bên trong cũng như bên ngoài của tử thi Sự thay đổinày phụ thuộc vào nhiều yếu tố: nhiệt độ, độ ẩm, độ nhiễm khuẩn, mức độ diđộng của môi trường đó Khi còn ở dưới nước tốc độ hư thối của tử thi chậmhơn so với trên mặt đất

Theo J.Casper, tốc độ hư thối của một nạn nhân ở trên cạn trong mộttuần thì bằng 2 tuần ở dưới nước và tương đương với 8 tuần dưới lòng đất Sựtác động của môi trường lên tử thi tạo nên sự thay đổi các dấu hiệu của chếtngạt nước Chính điều này đã gây không ít khó khăn cho các giám định viênkhi phải tiến hành giám định trên những nạn nhân này Có sự khác nhau giữamôi trường nước ngọt và nước mặn Sự hư thối trong nước biển chậm hơn sovới trong nước ngọt Trong môi trường nước tù đọng, ô nhiễm thì sự hư thốihình thành rất sớm Nhưng dấu hiệu chung bao gồm: hiện tượng ngấm nước,hiện tượng thối rữa và hiện tượng di chuyển [1]

Thời gian để xác chết nổi lên phụ thuộc rất nhiều vào nhiệt độ của hệmôi trường nước, thường từ 2 - 3 ngày cho dù được buộc những vật rất nặnghoặc có thể sớm hơn nếu trong mùa hè, trong mùa đông thời gian có thể hàng

Trang 34

tuần hay hàng tháng Ở những nơi nước sâu, lạnh sẽ kìm hãm sự phát triểncủa vi khuẩn sinh hơi, có thể làm cho xác chết không bao giờ nổi lên mặtnước Khi nổi lên phụ nữ thường nằm ngửa do lớp mỡ ở ngực bụng dày, cònđàn ông thường nằm sấp do cơ quan sinh dục là tạng đặc, thường nặng hơn và

ít mỡ bụng hơn Khi nổi lên tử thi thường có hình dạng “con ếch” do co cứngcủa cơ và hơi được sinh ra trong quá trình hư thối Khi còn ở dưới nước hưthối hình thành chậm, khi vớt xác lên hư thối hình thành với tốc độ nhanh dễnhận biết, sự biến đổi có thể quan sát được theo từng giờ

Cần phải chú ý các dấu hiệu cần thiết cho chẩn đoán ngạt nước đều mất

đi trong quá trình hư thối: nấm bọt không còn hoặc bị đẩy ra khỏi đường hôhấp do hơi của vi khuẩn kị khí sinh ra Phổi xẹp do dịch thoát ra màng phổi,

và sự hư thối của bản thân tổ chức phổi, sự xâm nhập cửa nước vào đườngdẫn khí làm sai lệch kết quả xét nghiệm cận lâm sàng [1]

Khi chìm dưới nước, tử thi có màu nhợt nhạt, khi nổi lên mặt nước thìphần da tiếp xúc với không khí, ánh sáng sẽ chuyển rất nhanh sang màu xanhlục và màu nâu đen, mặt và toàn thân trương to, mắt lồi, môi trễ TheoSimonin, sự biến đổi của các trường hợp chết dưới nước có thể theo nhữngmốc thời gian sau:

- Sau chết từ 10 - 24h da lòng bàn tay, bàn chân nhăn nheo

- Sau 2 - 4 ngày: biểu bì gan bàn tay, bàn chân bong ra từng mảng

- Sau 5 - 10 ngày, da lòng bàn tay tuột ra như lột găng, da lòng bànchân bong ra như đế giày

- Sau 10 - 15 ngày: lông, tóc móng, da đầu bong ra, lộ xương sọ Ở cácvết thương và bầm máu có tảo bám vào, tạo nên một lớp nhầy, màu xám nhạt

có dạng giống bùn và lan rộng ra tất cả các vùng da hở [1],[27]

Ngoài ra trong quá trình tử thi trôi nổi ở những vùng nước chảy có thểthấy những thương tổn thứ phát do tương tác với môi trường xung quanh Khi

Trang 35

cơ thể rơi xuống nước sẽ chìm từ từ đồng thời bị nước cuốn đi rồi mới chìmxuống đáy nước, thi thể bất động hoặc ít di chuyển khi ở đáy nước Khi sự hưthối phát triển mạnh khiến tử thi dần nổi lên và lại bị dòng nước cuốn trôi.Trong quá trình di chuyển thi thể va chạm với cành cây, đá ngầm, chân vịtcủa tàu thủy…có thể tạo ra vết thương thứ phát thậm chí làm mất một bộphận nào đó của cơ thể [3].

Tử thi ngâm nước dài sẽ xuất hiện xà phòng hóa sau khi quá trình hưthối tử thi chấm dứt Hiện tượng xà phòng hóa có thể gặp từng phần hoặc toàn

bộ cơ thể, là dấu hiệu đặc thù đối với những trường hợp tử vong ở dưới nước

mà không xuất hiện ở những trường hợp khác, loại trừ các trường hợp maitáng ở vùng trũng thì cũng có thể xảy ra hiện tượng này

Các giai đoạn của quá trình xà phòng hóa diễn ra như sau: trước hết damặt, cổ ngực thường xuất hiện một lớp mỡ dày màu vàng do protein của cơthể phân hủy thành mỡ và ammoniac, ammoniac lại tác dụng làm cho mỡ gắnvới glycerin trong cơ thể tạo nên chất xà phòng hóa màu vàng Nếu trongnước có nhiều canxi thì có thể xuất hiện những mảng vôi bám trên da [3]

Thời gian nổi của thi thể: phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường nước vàđặc điểm của thi thể Thường thì sau 14 giờ nhiệt độ thi thể ngang bằng vớinhiệt độ nước Cơ thể béo phì thời gian nổi sẽ nhanh hơn những người gầy.Thi thể thường nổi sau 12 - 18 giờ đối với mùa hè và 18 - 36 giờ đối với mùađông Những vùng nước lạnh thi thể có thể nổi muộn hơn sau 2 ngày [1][22]

1.4.5 Những biến đổi tổ chức học

Việc làm xét nghiệm bổ sung là cần thiết đối với các trường hợp khámnghiệm bên ngoài và bên trong không rõ ràng [22]

Trang 36

1.4.5.1 Phổi

Thấy nước và dị vật trong các phế nang, kèm theo nhiều ổ chảy máu phếnang, giãn phế nang Ở các ổ chảy máu và ứ nước trong các phế nang có thểthấy các dị vật, các mao quản nhỏ ở thành phế nang dày lên và thấm nước [22].Tổn thương vi thể của phổi chỉ ra những tổn thương có tính chất gợi ý Trênthực tế thấy có hiện tượng giả khí thũng do chấn thương nước, khí Nhữngvách phế nang dãn mỏng, thậm chí rách dẫn đến sự hợp lại của nhiều hốc phếnang Những hốc này thường có dịch phù đồng nhất màu hồng nhạt (nhuộmHE) Các tổn thương lan rộng không đồng nhất và phân phối không đều trongphổi, thường gặp ở vùng ngoại vi của phổi Một số hốc chứa các chất do sựphân hủy hồng cầu hoặc thanh dịch và các tế bào Các điểm xuất huyết quanhphế quản, vùng xuất huyết và hình ảnh tan máu cũng hay gặp

Dấu hiệu có giá trị chẩn đoán là những dị vật từ nước vào trong phếquản nhỏ và phế nang Trên những tử thi được phát hiện sớm người ta đã thấymột lượng thấp có ý nghĩa các đại thực bào phế nang trong các phế nang.Điều này được giải thích là do quá trình rửa đường dẫn khí bởi dịch mà nạnnhân hít vào Giả thiết này được xác nhận bằng việc tìm ra các đại thực bàophế nang trong nấm bọt của người chết bằng các phân tích hóa mô miễn dịch.Cần lưu ý rằng ở trên các nhu mô phổi đã thối rữa, các đại thực bào phế nangrất khó nhận diện bằng phương pháp nhuộm HE thông thường, mà chỉ có thểnhận biết bằng phương pháp nhuộm hóa mô miễn dịch Việc đánh giá sốlượng tế bào không cung cấp nhiều thông tin cho chết ngạt nước trên nhữngthi thể đã thối rữa [22]

Kiểm tra bằng kính hiển vi phải được thực hiện trên tất cả các mô họckhông bị thối rữa nhằm phân biệt giữa chết do ngạt nước thực sự và chết docác nguyên nhân khác Mô học phổi có thể thấy các phế nang giãn căng quámức, các phế nang bị xẹp và mạng lưới mao mạch bị thu hẹp [1]

Trang 37

Các thay đổi ở phổi không đồng nhất vì vậy phải xét nghiệm mô học ởnhiều vị trí Trong thực tế có nhiều phần của phổi mô học hoàn toàn bìnhthường Một số kỹ thuật nhuộm phải được thực hiện như nhuộm cho các sợichun (bằng Orcein) và sợi Reticulin [22]

1.4.5.2 Gan

Các tĩnh mạch nan hoa giãn, ứ máu và nước Các vi quản ở khoảng cửagiãn rộng, thành mạch phù nề, các tổ chức đệm xung quanh múi gan cũng cóthể ứ nước và máu Thành túi mật phù nề, các tổ chức đệm quanh thành túimật giãn rộng [22]

Các phủ tạng khác đều xung huyết Việc kiểm tra của các cơ quan khác(não, tim, gan) cho thấy không có sự thay đổi mô học cụ thể biểu hiện củatình trạng thiếu oxy như tắc nghẽn cấp tính và sưng nề nội mạc mao mạch

1.4.6 Các biến đổi sinh hóa

Các thay đổi sinh hóa trong huyết tương sau khi chết ngạt nước đượcdựa trên những thay đổi nước và điện giải sau khi có sự xâm nhập của nước(nước biển hay nước ngọt) trong các phế nang và trong mạch máu Các thayđổi sinh hóa đã được đề xuất tiến hành đo trọng lượng riêng của máu, nồng độnatri, clorua và kali Đối với các chất điện giải, việc chẩn đoán ngạt nước dựavào sự thay đổi của các chất điện giải giữa các mẫu máu lấy từ tâm thất phải

so với tâm thất trái Thay đổi điện giải như vậy đã được mô tả trong nhiềunguyên nhân khác gây tử vong và không cung cấp bằng chứng đáng tin cậy vềchết do ngạt nước

Xét nghiệm máu trong tâm thất trái để so sánh với trong tâm thất phải.Carara đề nghị áp dụng định luật sinh lý là điểm đông lạnh của máu giảm tỷ lệvới độ đậm đặc của phân tử, do máu bị pha loãng bằng nước ngọt nên giảmđậm đặc, còn đối với nước biển thì ngược lại Thực nghiệm cho thấy máuđông đặc ở nhiệt độ -0,56°C Khi chết ngạt trong nước ngọt điểm đông lạnh

Trang 38

của máu trong tim phải là -0,64°C, còn ở trong tim trái là -0,47°C Các con số

ở máu người chết trong nước mặn là -1,04°C (ở tim phải) và -0,18°C (ở timtrái), điểm đông lạnh của nước biển là -2,18°C [27] Nhưng đáng tiếc làphương pháp này không được áp dụng trong thực tế

Năm 1921, Gettler đã thành công trong xét nghiệm đo hàm lượng clotrong máu ở buồng tim trái và áp dụng để chẩn đoán ngạt nước Nếu sự chênhlệch trên 25mmg/ 100ml thì cho phép kết luận nạn nhân tử vong là do ngạt nước.Trên cơ sở của thí nghiệm tác giả cũng đưa ra nhận định tử vong trong môitrường nước ngọt thì hàm lượng clo trong máu ở buồng tim trái thấp hơn buồngtim phải và kết quả sẽ ngược lại nếu nạn nhân tử vong ở trong nước mặn

Năm 1944, Moritz [1] cho rằng cần xác định hàm lượng Mg trong máu vì thínghiệm sẽ được tiến hành thuận lợi hơn so với xét nghiệm clo trong máu, đặcbiệt thuận lợi cho những trường hợp tử vong trong môi trường nước mặn

Tìm sự pha loãng máu: thực hiện đếm số lượng hồng cầu trong tâm thấttrái và tâm thất phải thì thấy hồng cầu trong tâm thất trái ít hơn ở tâm thấtphải, mặt khác tỷ trọng máu giảm ở tim trái so với tim phải từ 2 - 3 đơn vị đốivới ngạt tím trên những nạn nhân được phát hiện sớm [1]

Theo các nhà khoa học Nhật Bản, máu thỏ thực nghiệm có sự thay đổi

rõ rệt về lượng Protein toàn phần và lượng Haptoglobin như sau: sau 1 phútngạt cấp tính (do hít phải nước biển) lượng Haptoglobin giảm khoảng 46%còn lượng Protein toàn phần giảm khoảng 61%, sau đó lượng Haptoglobin giữnguyên không đổi ở phần còn lại còn lượng Protein toàn phần trở về mức bìnhthường sau 3 phút

Một đề cập đặc biệt là phải thực hiện phân tích stronti máu Việc xácđịnh lượng stronti huyết thanh là một tham số tốt để đánh giá cái chết do ngạtnước biển

Trang 39

Cần xét nghiệm rượu ở những bệnh nhân chết đuối Điều này có thể giúpxác định tính chất của vụ án Theo Agocs M.M và cộng sự có tới 79% củanhững người chết ngạt nước (n=23) có nồng độ rượu trong máu >100 mmg/L.

Số lượng này vượt quá ngưỡng cho phép ở một người bình thường

Trọng lượng riêng huyết tương: Trọng lượng riêng huyết tương ở timtrái thấp hơn tim phải trong trường hợp chết do ngạt nước, những trường hợpkhác thì ngược lại

1.4.7 Yếu tố sinh học

Trong một môi trường nước luôn có các sinh vật nổi lơ lửng có nguồngốc khác nhau Ví dụ:

Nguồn gốc khoáng: đất sét, bùn, cát…

Nguồn gốc sinh vật bậc thấp: rong, tảo…

Nguồn gốc hữu cơ: lông động vật, lông vũ, côn trùng, có khi còn có cả

vi khuẩn [3]

Khi người sống bị chìm xuống nước, do sự hít nước vào trong đường

hô hấp và uống nước vào trong hệ thống tiêu hóa, nên các sinh vật nổi lơ lửngtrong nước cũng vào theo Xác định hình dạng của các sinh vật này trong cácphủ tạng rồi so sánh chúng với các mẫu có trong môi trường nơi nghi ngờ nạnnhân chết dưới nước Kết luận này có thể cho ta xác định được vị trí nơi xảy

ra vụ việc, nhưng không có giá trị tuyệt đối vì nước và các sinh vật nổi có thểchui vào xác sau khi chết

Các tác giả như Kane et al năm 1996, 2000 và Nübel et al năm 1997[1] đề xuất việc phát hiện bằng kỹ thuật sinh học phân tử của các tiểu đơn vị16S rRNA của RNA ribosome để phát hiện sinh vật phù du trong các mô mẫucho thấy sự hít phải nước khi nạn nhân đang còn sống và có thể đánh giá chẩnđoán chết đuối Theo tác giả này, sự so sánh trình tự của các vùng biến đổicủa 16S rRNA có thể cung cấp đầy đủ thông tin để cho phép nhận biết cácmối quan hệ loài gần và xa

Trang 40

Abe, Suto và cộng sự năm 2003 [1] đề xuất việc phát hiện các gen liênquan đến chất diệp lục của Euglena gracilis và Skeletonema costatum để xácđịnh sinh vật phù du trong các mô của nạn nhân Điều quan trọng cần nhấnmạnh là những phương pháp này chỉ cho kết quả định tính [1].

Xét nghiệm tìm khuê tảo: Năm 1941, Incze đề xuất phương pháp tìm

khuê tảo Diatoms ở nhu mô phổi và hệ tuần hoàn những nạn nhân chết dướinước để chẩn đoán ngạt nước với ưu điểm xét nghiệm này có thể được thựchiện ngay cả khi hư thối đã hình thành Tảo Sillic hay còn gọi là Diatomes,Diatomaceous là một ngành tảo có tên khoa học là Bacillariophyta, kích thướcrất nhỏ thường có độ dài từ 22 - 100 µm, rộng từ 16 - 20µm

Tảo Sillic thuộc lớp Bacillariophycae, bao gồm hơn 15000 loài sốngtrong nước ngọt, nước lợ, nước biển Tảo Sillic có hai lớp: tảo Silic lông chim

và tảo Silic trung tâm, mỗi lớp lại gồm nhiều bộ họ và chi với những tên khoahọc khác nhau dựa trên đặc điểm về hình thể màu sắc và sự phân bố

Tảo Sillic gồm những tảo đơn bào, sống đơn độc hoặc thành tập đoàn,

vỏ có hai lớp, lớp trong là lớp peptit và lớp ngoài là chất oxydsilic ngậmnước Vỏ tảo có bề dày không đều, có chỗ dày lên hình tròn, trái xoan hayhình chóp gọi là ụ, cục trên vỏ có thể có vách ngăn hoặc có một, hai đườngrãnh Có loài vỏ có vẩy hoặc hình mắt lưới, hình lục giác…Do có bộ xươngoxydsillic cứng này, tảo cát có thể được phục hồi từ các mô thối rữa hoặc bịđốt cháy bởi enzym hoặc axit [1]

Sau một thời gian dài tranh cãi về các sai số liên quan đến sự xuất hiệncủa tảo Sillic trong các tạng kín ở những nạn nhân chết không do ngạt nước(Foged, 1983; Gylseth & Mowe, 1979; Schellmann & Sperl, 1979 ;Schneider, 1980, 1990; Schneider & Kolb, 1969), một số tác giả đã tuyên bốxác định được điều kiện thực hiện thử nghiệm để phân biệt được trường hợpchất do ngạt nước và do nguyên nhân khác (Auer & Möttönen, 1988;

Ngày đăng: 07/08/2019, 10:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Budowle B., Safantila A., Manfred N. Hochmeister et al (1994). The application of PCR to forensic science, The PCR, 244-256 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The PCR
Tác giả: Budowle B., Safantila A., Manfred N. Hochmeister et al
Năm: 1994
13. C.V. Wetli, R.E. Mittleman, U.J. Rao (1988). Practical Forensic Pathology, Igaku-shoin, New York, Tokyo, 71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Igaku-shoin, New York, Tokyo
Tác giả: C.V. Wetli, R.E. Mittleman, U.J. Rao
Năm: 1988
14. J. Chr. Giertsen, J.K. Mason, B.N. Purdue (2000). Drowning. The Pathology of Trauma, Arnold, London, 253-264 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ThePathology of Trauma
Tác giả: J. Chr. Giertsen, J.K. Mason, B.N. Purdue
Năm: 2000
15. J. Timperman (1972). The diagnosis of drowning. A review, Forensic Sci. 1,397-409 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A review, ForensicSci. 1
Tác giả: J. Timperman
Năm: 1972
16. J.V. Pachar, J.M. Cameron (1993). The diagnosis of drowning by quantitative and qualitative diatom analysis, Med. Sci. Law 33, 291-299 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Med. Sci
Tác giả: J.V. Pachar, J.M. Cameron
Năm: 1993
17. K. Puschel, F. Schulz, I. Darrmann, et al (1999). Macromorphology and histology of intramuscular haemorrhages in cases of drowning, Int.J. Legal Med. 112,101-106 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J. Legal Med
Tác giả: K. Puschel, F. Schulz, I. Darrmann, et al
Năm: 1999
18. L. Sidari, N. Di Nunno, F. Costantinides et al (1999). Diatom test with Soluene-350 to diagnose drowning in sea water, Forensic Sci. Int. 103, 61-65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Forensic Sci
Tác giả: L. Sidari, N. Di Nunno, F. Costantinides et al
Năm: 1999
19. M. Funayama, S. Mimasaka, M. Nata et al (2001). Diatom numbers around the continental shelf break, Am. J. Forensic Med. Pathol. 22, 236-238 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Am. J. Forensic Med. Pathol
Tác giả: M. Funayama, S. Mimasaka, M. Nata et al
Năm: 2001
20. M.S. Pollanen (1997). The diagnostic value of the diatom test for drowning. II. Validity: analysis of diatoms in bone marrow and drowning medium, J. Forensic Sci. 42, 286-290 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J. Forensic Sci
Tác giả: M.S. Pollanen
Năm: 1997
21. M.S. Pollanen (1998). Diatoms and homicide, Forensic Sci. Int. 91,29-34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Forensic Sci
Tác giả: M.S. Pollanen
Năm: 1998
24. N.E. Antonenko (1987). Diatom analysis lives on, Can. Soc. Forensic Sci. J. 20,101-102 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ForensicSci. J
Tác giả: N.E. Antonenko
Năm: 1987
25. P. Saukko, B. Knight (2004). Knight’s Forensic Pathology, Arnold, London, 395-411 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Arnold
Tác giả: P. Saukko, B. Knight
Năm: 2004
26. S. Krstic, A. Duma, B. Janevska et al (2002). Diatoms in forensic expertise of drowning - a Macedonian experience, Forensic Sci. Int.127,198-203 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Forensic Sci
Tác giả: S. Krstic, A. Duma, B. Janevska et al
Năm: 2002
27. T. Bajanowski, B. Brinkmann, A.M. Stefanec et al (1998). Detection and analysis of tracers in experimental drowning, Int. J. Legal Med, 111, 57-61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J. Legal Med
Tác giả: T. Bajanowski, B. Brinkmann, A.M. Stefanec et al
Năm: 1998
28. Watson J. D. and Crick F. H. (1953). “A structure for deoxyribonucleic acid”, Nature, 171, 737 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A structure for deoxyribonucleicacid”, "Nature
Tác giả: Watson J. D. and Crick F. H
Năm: 1953
29. Hồ Huỳnh Thuỳ Dương (1998). Sinh học phân tử. Nhà xuất bản y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh học phân tử
Tác giả: Hồ Huỳnh Thuỳ Dương
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 1998
30. Võ Thị Thương Lan (1999). “Kỹ thuật PCR”, Trung tâm công nghệ sinh học, Đại học quốc gia Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật PCR
Tác giả: Võ Thị Thương Lan
Năm: 1999
31. Ginther, C., L. Issel-Tarver, M. C. King (1992). Identifying individuals by sequencing mitochondrial ADN from teeth. Nature genetics, (2)135-138 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nature genetics, (
Tác giả: Ginther, C., L. Issel-Tarver, M. C. King
Năm: 1992
35. Phan Thanh Hòa , Phạm Việt Cường (2012). Child drowning situation in Mekong River, Delta: an exploratory analysis from Vietnam National Injury Survey. Vietnam Journal of Public Health, 10.2012, No 1 (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vietnam Journal of Public Health
Tác giả: Phan Thanh Hòa , Phạm Việt Cường
Năm: 2012
38. São Paulo (2008). Drownings. Crianca Segura Brazil, ( http://www.criancasegura.org.br/dados_acidentes_afogamentos.asp) Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w