Không chỉ là gánh nặng cho hệ thống chăm sóc sức khỏe quốc gia, nó còn là gánh nặng lớn với kinh tế, ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường, tăng nguy cơ buôn lậu và cháy nổ.Trước những tác
Trang 3BN : Bệnh nhân
CO : carbon mono oxite
DSM – IV : Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders 4th
NHK : (4-methylnitrosamino) – 1 – (3-pyridyl) – 1 – butanoneNNN : N’ – nitrosonornicotine
PHA : polyciclic aromatic hydrocacbon
PCTH : Phòng chống tác hại
PCTHTL : Phòng chống tác hại thuốc lá
TTN : thanh thiếu niên
VAS : Thang nhìn (Visual analogue scale)
YHHĐ : Y học hiện đại
YHCT : Y học cổ truyền
WHO : Tổ chức Y tế thế giới
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Một số khái niệm cơ bản 3
1.1.1 Khái niệm Thuốc lá 3
1.1.2 Lịch sử phát triển thuốc lá 3
1.1.3 Sản xuất thuốc lá 4
1.2 Tình hình nghiện thuốc lá trên thế giới và Việt Nam 4
1.2.1 Trên thế giới 4
1.2.2 Hút thuốc lá ở Việt Nam 5
1.3 Yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ hút thuốc lá 6
1.3.1 Yếu tố chủ quan: 6
1.3.2 Yếu tố khách quan 7
1.4 Tác hại của hút thuốc lá: 9
1.4.1 Khái niệm nghiện thuốc lá 9
1.4.2 Thành phần và tác hại của thuốc lá đối với cơ thể người: 9
1.4.3 Đường vào cơ thể và dược động học của nicotin: 11
1.4.4 Tính chất, công dụng và độc tính của nicotin:[4] 12
1.4.5 Con đường chuyển hóa của nicotin và tác dụng lên cơ quan đích 13
1.5 Tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện thuốc lá và các tiêu chuẩn liên quan: 14
1.5.1 Nghiện thuốc lá được chẩn đoán khi thỏa mãn 3/7 tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện của DSM-IV 14
1.5.2 Đau là sự đánh giá chủ quan của bệnh nhân qua thang điểm VAS 17
1.5.3 Đo nồng độ CO trong hơi thở: 17
1.6 Các nghiên cứu về điều trị cai nghiện thuốc lá bằng YHCT trong và ngoài nước 18
1.7 Tổng quan về nước súc Boni-Smok 20
Trang 51.7.2 Các vị thuốc trong nước súc miệng 20
1.7.3 Cơ sở xây dựng nước súc họng Boni-Smok 25
1.7.4 Phương pháp súc miệng 27
CHƯƠNG 2 CHẤT LIỆU - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Chất liệu nghiên cứu 28
2.2 Đối tượng nghiên cứu 28
2.2.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân 28
2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ 29
2.3 Phương pháp nghiên cứu 29
2.3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 29
2.3.2 Thiết kế nghiên cứu 29
2.3.3 Cỡ mẫu nghiên cứu: chọn mẫu chủ đích 29
2.3.4 Tiến hành nghiên cứu 29
2.3.5 Chỉ tiêu đánh giá kết quả điều trị 31
2.4 Xử lý số liệu 32
2.5 Đạo đức nghiên cứu 32
2.6 Giám sát, hạn chế sai số 32
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33
3.1 Các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân nghiện thuốc lá 33
3.1.1 Giới tính 33
3.1.2 Tuổi 34
3.1.3 Độ tuổi bắt đầu hút 35
3.1.4 Lý do hút thuốc 36
3.1.5 Lần đầu tiên bỏ thuốc sau khi hút 37
3.1.6 Lý do lần đầu tiên bỏ thuốc 38
3.1.7 Lần bỏ thuốc lá lâu nhất 39
Trang 63.1.9 Lý do hút nhiều khi nào 41
3.1.10 Lý do tiếp tục hút thuốc 42
3.1.11 Số lượng điếu thuốc hút trong ngày: 43
3.1.12 Cảm giác thèm thuốc nhất: 44
3.1.13 Yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cai thuốc 45
3.1.14 Nơi tiếp xúc chủ yếu với khói thuốc 46
3.1.15 Quyết tâm bỏ thuốc lá 47
3.1.16 Điếu thuốc đầu tiên hút sau khi ngủ dậy 48
3.1.17 Các bệnh đã và đang mắc 49
3.2 Kết quả điều trị 50
3.2.1 Nồng độ khí CO trong máu 50
3.2.2 Sự thay đổi mạch và huyết áp trước và sau điều trị 50
3.2.3 Các biểu hiện sau khi bỏ thuốc lá 51
3.2.4 Số điếu thuốc lá hút sau 7 ngày 52
3.2.5 Đánh giá kết quả dựa trên 7 tiêu chí của DMS - IV 52
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 53
KẾT LUẬN 58
KIẾN NGHỊ 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
Trang 7Bảng 1.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện thuốc lá theo DSM – IV 14
Bảng 1.2 Thang điểm Q-Mat đánh giá quyết tâm cai thuốc lá 15
Bảng 3.1 Giới tính 33
Bảng 3.2 Tuổi 34
Bảng 3.3 Độ tuổi bắt đầu hút 35
Bảng 3.4 Lý do hút thuốc 36
Bảng 3.5 Lần đầu tiên bỏ thuốc lá sau khi hút 37
Bảng 3.6 Lý do lần đầu tiên bỏ thuốc 38
Bảng 3.7 Lần bỏ thuốc lá lâu nhất 39
Bảng 3.8 Tổng số lần bỏ thuốc lá 40
Bảng 3.9 Hút nhiều thuốc nhất vào lúc nào 41
Bảng 3.10 Lý do tiếp tục hút thuốc 42
Bảng 3.11 Số lượng điếu thuốc hút trong ngày 43
Bảng 3.12 Thời điểm thèm hút thuốc nhất 44
Bảng 3.13 Yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cai thuốc 45
Bảng 3.14 Nơi tiếp xúc chủ yếu với khói thuốc 46
Bảng 3.15 Quyết tâm bỏ thuốc lá 47
Bảng 3.16 Sau khi ngủ dậy bao lâu thì hút điếu đầu tiên 48
Bảng 3.17 Các bệnh đã và đang mắc 49
Bảng 3.18 Nồng độ khí CO trong máu 50
Bảng 3.19 Sự thay đổi mạch và huyết áp trước và sau điều trị 50
Bảng 3.20 Các biểu hiện sau khi bỏ thuốc lá 51
Bảng 3.21 Số điếu thuốc lá hút sau 7 ngày 52
Bảng 3.22 Đánh giá kết quả điều trị 52
Trang 8Biểu đồ 3.1 Giới tính 33
Biểu đồ 3.2 Tuổi 34
Biểu đồ 3.3 Độ tuổi bắt đầu hút 35
Biểu đồ 3.4 Lý do hút thuốc 36
Biểu đồ 3.5 Lần đầu tiên bỏ thuốc lá sau khi hút 37
Biểu đồ 3.6 Lý do lần đầu tiên bỏ thuốc 38
Biểu đồ 3.7 Lần bỏ thuốc lá lâu nhất 39
Biểu đồ 3.8 Tổng số lần bỏ thuốc lá 40
Biểu đồ 3.9 Hút nhiều thuốc nhất vào lúc nào 41
Biểu đồ 3.10 Lý do tiếp tục hút thuốc 42
Biểu đồ 3.11 Số lượng điếu thuốc hút trong ngày 43
Biểu đồ 3.12 Thời điểm thèm hút thuốc nhất 44
Biểu đồ 3.13 Yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cai thuốc 45
Biểu đồ 3.14 Nơi tiếp xúc chủ yếu với khói thuốc 46
Biểu đồ 3.15 Quyết tâm bỏ thuốc lá 47
Biểu đồ 3.16 Sau khi ngủ dậy bao lâu thì hút điếu đầu tiên 48
Biểu đồ 3.17 Các bệnh đã và đang mắc 49
Biểu đồ 3.18 Các biểu hiện sau khi bỏ thuốc lá 51
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, trên thế giới có khoảng 1,3 tỷ người hút thuốc Mỗi năm có khoảng 5 triệu người chết sớm bởi thuốc lá và ước tính số lượng này sẽ tăng gấp đôi vào năm
2020 Ở nước ta có khoảng 15,5 triệu người nghiện thuốc
lá, đứng hàng đầu thế giới với 47,4% nam giới trưởng thành hút thuốc lá Theo ước tính của Tổ chức y tế thế giới, nước ta hàng năm có khoảng 40.000 ca tử vong do các bệnh liên quan đến thuốc lá, con số này sẽ là 70.000 vào năm 2030 nếu không có biện pháp phòng chống tích cực
Đã có rất nhiều nghiên cứu chứng minh tác hại của thuốc lá với sức khỏe Khói thuốc lá có khoảng 7000 hóa chất gây ung thư và các chất gây nguy hại khác, đặc biệt
là nicotin, một chất gây nghiên quyết dịnh sự phụ thuộc
và chống lại các cố gắng bỏ thuốc lá Vì thế thuốc lá chịu trách nhiệm là nguyên nhân của nhiều bệnh lý mãn tính nguy hiểm như đột quỵ, nhồi máu cơ tim, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính hay ung thư…[4] Không chỉ là gánh nặng cho hệ thống chăm sóc sức khỏe quốc gia, nó còn là gánh nặng lớn với kinh tế, ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường, tăng nguy cơ buôn lậu và cháy nổ.Trước những tác hại to lớn về kinh tế xã hội cũng như sức khỏe như vậy, hàng loạt những nỗ lực lớn đầu tư cho các chương trình phòng chống tác hại của thuốc lá tại mỗi quốc gia nói riêng và trên phạm vi toàn thế giới nhằm tiến tới kiểmsoát và giảm tỷ lệ hút thuốc Đã có nhiều biện pháp hỗ trợ
Trang 10cai nghiện thuốc lá như sử dụng viên dán nicotine, laser, tâm lý liệu pháp … nhưng kết quả còn thấp và tỷ lệ tái nghiện thuốc lá vẫn còn cao
Sử dụng nước súc miệng để hỗ trợ cai nghiện thuốc
lá là một phương pháp mới, có với tính chất tiện dụng, đơn giản, dễ thực hiện nhưng mang lại hiệu quả cao Vì vậy, đây là một phương pháp có tính khả thi cao cần đượcnghiên cứu và ứng dụng rộng rãi để hỗ trợ cai nghiện thuốc lá Tuy nhiên cho tới nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện và khoa học về tác dụng hỗ trợ cai nghiện thuốc lá của phương pháp súc miệng này
Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá tác dụng của nước súc miệng Smoktrong việc hỗ trợ bệnh nhân cai nghiện thuốc lá”
Boni-Với mục tiêu:
Đánh giá tác dụng hỗ trợ cai nghiện thuốc lá của nước súc miệng Boni-Smok kết hợp tư vấn cai nghiện thuốc lá
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số khái niệm cơ bản:
1.1.1 Khái niệm Thuốc lá
Thuốc lá là tên gọi của một loại sản phẩm được làm
chủ yếu từ nguyên liệu là lá thuốc lá đã thái sợi, được
cuốn hay nhồi định hình bằng giấy, có dạng hình trụ
(thường có độ dài dưới 120 mm, đường kính khoảng 10
mm) Thuốc lá điếu thường được đốt cháy ở một đầu, để cháy âm ỉ nhằm mục đích tạo khói và khói này theo dòng
khí vào miệng người hút từ đầu đối diện (thường có gắn đầu lọc) Thuật ngữ thuốc lá thường được dùng theo
nghĩa chung liên quan đến thuốc lá, trong khi thuốc lá điếu nhằm chỉ cụ thể loại sản phẩm thuốc lá sợi đã cuốn
thành điếu Tuy nhiên, đôi khi, thuật ngữ này cũng được
sử dụng để chỉ loại thuốc hút khói nhưng được làm từ một
số loại thực vật khác (cây gai dầu…) Ở Việt Nam, đặc biệt là vùng nông thôn, người dân có thể sử dụng thuốc lào như một sản phẩm thay thế thuốc lá
1.1.2 Lịch sử phát triển thuốc lá
Không ai biết chính xác thuốc lá và hút thuốc được xuất phát từ đâu và từ bao giờ Tuy nhiên, dựa vào các bằng chứng khảo cổ người ta tin rằng thuốc lá được trồng
ở châu Mĩ vào khoảng 6000 năm trước Công Nguyên Năm 1542, Christopher Columbus (người khám phá ra Mĩ châu) được vài người Mĩ da đỏ tặng một số thuốc lá khô khi ông ta gặp họ lần đầu, sau đó, được ông mang về Tây Ban Nha Cây thuốc lá được trồng lần đầu tiên tại Santo
Trang 12Domigo (thuộc cộng hòa Dominique) và từ đó được trồng khắp châu Âu
Thời gian đầu, hình thức sử dụng rất đa dạng: hút bằng tẩu, quấn thành điếu, nhai hít… Nửa sau thế kỷ 19, máy sản xuất thuốc lá tự động được chế tạo, khiến sản xuất thuốc lá trở nên dễ dàng, nhanh chóng (từ lúc đầu trung bình 200 điếu/phút sau tăng lên 9000 điếu/phút), khiến việc sử dụng thuốc lá dạng điếu trở nên thông dụng.Với sự xuất hiện của hàng loạt công ty thuốc lá lớn hoạt động rầm rộ, tỷ lệ hút thuốc lá tăng nhanh chóng vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20
Theo chân người phương tây, thuốc lá du nhập vào châu Á, qua các cuộc chiến tranh xâm lược, trong đó có Việt Nam
1.1.3 Sản xuất thuốc lá
Ở Việt Nam, cả nước hiện có 17 doanh nghiệp sản xuất thuốc lá điếu với diện tích trồng thuốc lá gần 16.000 ha; có gần 20.000 lao động làm việc trong ngành công nghiệp thuốc lá và gần 220.000 lao động nông nghiệp trong sản xuất nguyên liệu Tổng sản lượng của toàn ngành thuốc lá có xu hướng tăng nhanh trong khoảng 10 năm gần đây Năm 2000, sản lượng đạt khoảng 2,7 tỷ bao,con số này đã tăng lên khoảng trên 4 tỷ bao năm 2007, khoảng 4,8 tỷ bao năm 2009 và 5,2 tỷ bao năm 2010 [10].Giá thuốc lá ở Việt Nam thuộc loại thấp nhất thế giới,trung bình khoảng 5.500 đồng/bao(tương đương 0,29USD/bao), có loại chỉ khoảng 4.000 đồng/bao (trong khi Trung Quốc là 1,52 USD/bao, Malaysia là 1,32 USD/bao,
Trang 13đặc biệt ở Anh là 6,93 USD/bao) Điều này làm cho thanhthiếu niên và người nghèo Việt Nam dễ dàng tiếp cận với thuốc lá hơn so với các quốc gia khác trên thế giới Bên cạnh đó, tình hình vi phạm các quy định về sản xuất kinh doanh thuốc lá liên quan đến cấm quảng cáo, khuyến mại,tiếp thị vẫn còn tương đối phổ biến, hoạt động kinh doanh
và sử dụng thuốc lá lậu vẫn chưa được kiểm soát hiệu quả[10]
1.2 Tình hình nghiện thuốc lá trên thế giới và Việt Nam:
1.2.1 Trên thế giới
- Theo thông báo của Tổ chức Y tế thế giới năm 2006
tỷ lệ nam giới hút thuốc lá ở các nước phát triển là 30 – 40%, ở các nước đang phát triển từ 40 – 70% Tỷ lệ nữ giới hút thuốc lá ít hơn từ 20 – 40% ở các nước đang phát triển và từ 2 – 10% ở các nước phát triển [13]
- Ở Mỹ nam giới hút thuốc nhiều hơn phụ nữ và hơn 30% những người hút thuốc lá sống dưới mức nghèo khổ.Ngành y tế Mỹ đã rất cố gắng trong việc kiểm soát và hạnchế tác hại của thuốc lá đến cộng đồng bằng nhiều biện pháp tuy nhiên cứ 5 người Mỹ thì có 1 người tiếp tục hút thuốc lá [13]
- Ở Nga có hơn 40% người trưởng thành nghiện thuốc lá, tại Pháp tỷ lệ người nghiện thuốc lá là 30% ở người lớn Nghiên cứu của WHO về tình hình hút thuốc lá
ở Châu Á năm 2005 cho thấy trong 700 triệu người hút thuốc lá phần lớn là nam giới tuổi trưởng thành có tỷ lệ cao hơn nhiều so với phụ nữ; Trung Quốc xấp xỉ 70%, Indonesia 68%, Thái Lan 49.2%, Nhật Bản và Ấn Độ là
Trang 1447.5%, Philipin 40% Tỷ lệ nữ hút thuốc lá ở Nhật Bản và
Ấn Độ (18 – 19.5%) cao hơn ở Trung Quốc và Indonesia (3 – 5%) [13]
1.2.2 Hút thuốc lá ở Việt Nam:[3] [5] [7] [8]
- Theo kết quả điều tra toàn cầu về sử dụng thuốc lá
ở người trưởng thành năm 2010 ở Việt Nam cho thấy khoảng 50% nam giới hút thuốc lá, tỷ lệ nữ là 3.5%, trong
đó 65% có độ tuổi từ 25 – 45; 26% thanh thiếu niên độ tuổi từ 14 – 25 hút thuốc lá, trên 40% là nam cán bộ y tế
và cán bộ y tế nữ là 1.3%, đặc biệt người hút thuốc lá tăngcao từ 85 – 93% ở các quán bar Theo đó là những người hút thuốc lá thụ động cũng có tỷ lệ 49% ở nơi làm việc và68% ở các gia đình Ước tính khoảng 8.5% triệu người Việt Nam (10% dân số) chết sớm do hút thuốc lá
- Nghiên cứu của WHO tại Việt Nam năm 2003 có 71% trẻ em dưới 5 tuổi sống trong các gia đình có người hút thuốc lá, xấp xỉ 60% trẻ em ở tuổi thiếu niên thường xuyên hít phải khói thuốc lá ở nhà
Hút thuốc lá không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe mà còn chi phí tốn kém, gánh nặng kinh tế cho cá nhân, gia đình và xã hội Cũng theo nghiên cứu của WHO năm
2003 số tiền mua thuốc lá lên đến 8000 tỷ đồng/ năm.Cho đến nay Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều giải pháp chỉ đạo, các phương tiện thông tin đại chúng tăng cường công tác tuyên truyền, cảnh báo tác hại vô cùng nghiệm trọng đến sức khỏe con người Nhằm bảo vệ sức khỏe nhân dân, nhất là giới trẻ chính phủ đã ra quyết định cấm hút thuốc lá nơi công cộng ngày 01 – 01 – 2010
Trang 151.3 Yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ hút thuốc lá
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng nàytrên từng nhóm đối tượng cụ thể Trong đó có thể đề cập tới:
1.3.1 Yếu tố chủ quan:
- Nhận thức: Kém hiểu biết về tác hại của thuốc lá
dẫn tới tỷ lệ hút thuốc cao ở nhóm nghèo, học vấn thấp (tỷ
lệ ở nhóm nông dân cao hơn nhóm trí thức, 81% so với 67%) Tỷ lệ bỏ thuốc ở nhóm này cũng ít hơn hẳn [3]
- Niềm tin, thái độ: Đây là yếu tố rất quan trọng,
môi trường xung quanh,bạn bè người thân hút thuốc dễ dẫn tới hiện tượng hút thuốc lá đặc biệt ở đối tượng thanh thiếu niên, rõ hơn cả là nam giới [6] Các yếu tố tâm lý thay đổi tuổi dậy thì phải kể đến Lúc này hút thuốc được coi là hành vi khẳng định bản thân, chứng tỏ mình là người lớn…Với các nhóm đối tượng khác nó cũng giữ vaitrò quan trọng quyết định hành vi hút thuốc.Rất nhiều người biết rõ tác hại của thuốc lá nhưng vẫn sử dụng vì những lý do như: thuốc lá tạo sự minh mẫn, tăng cảm hứng, để thư giãn hay dùng trong giao tiếp để tăng mối quan hệ…đây là yếu tố dùng để giải thích tỷ lệ cao hút thuốc trong nhóm trí thức, văn nghệ sĩ, và nhất là đối tượng bác sĩ, sinh viên y khoa
- Kinh tế: Đây là yếu tố thuận lợi cho việc sử dụng
thuốc Nhà nước hiện nay đang sử dụng biện pháp đánh thuế các sản phẩm từ thuốc lá nhằm tăng giá thành và hạn chế tỷ lệ người sử dụng Tuy nhiên, giá thuốc lá tại Việt Nam còn rẻ, vì vậy, tiếp cận với các sản phẩm này rất dễ
Trang 16dàng Cả ở nhóm thu nhập thấp, số tiền chi ra cho việc muathuốc lá cũng không hề nhỏ [8].
- Tuổi: Tỷ lệ hút thuốc ở người trưởng thành chiếm
tỷ lệ cao nhất trong các nhóm tuổi Xu hướng sử dụng thuốc trong thanh niên ngày càng tăng và độ tuổi ngày càng trẻ Trong SAVY 2 tỷ lệ đang hút thuốc có xu hướng tăng theo nhóm tuổi, từ 14-17 tuổi là 11%, nhóm 18-21 tuổi là 41% và nhóm 22-25 tuổi là 47% Trung bình TTN hút 8 điếu thuốc một ngày và có quá nửa số thanh thiếu niên từ 22-25 tuổi hút trên 10 điếu một ngày Tuổi bắt đầu
sử dụng thuốc lá trung bình là17 tuổi [6] Đây là độ tuổi khả năng nhận thức còn hạn chế, yếu tố tâm lý dễ bị ảnh hưởng của nhiều yếu tố xung quanh như bạn bè, người thân…dẫn đến tình trạng thử hút ở thanh thiếu niên cao, tăng theo tuổi cùng với nó là nghiện thuốc lá và tỷ lệ cao tiếp tục hút tới trưởng thành
- Giới: Hút thuốc lá là hành vi tương đối phổ biến ở
nam giới Việt Nam nhưng rất hiếm gặp ở nữ, SAVY2 cho thấy gần 40% nam TTN đã từng hút thuốc, tỷ lệ này ở nữ
là dưới 1% Tuy nhiên có sự gia tăng tỷ lệ hút thuốc ngày càng cao ở nữ ở 1 số nơi Có thể thấy giới tính không chỉ quy định sự khác biệt mang tính sinh học mà nó còn liên quan đến nhiều yếu tố xã hội, văn hóa [6]
1.3.2 Yếu tố khách quan
- Môi trường xã hội: Mức độ phơi nhiễm xung
quanh: nơi có nhiều người sử dụng thuốc lá thì tỷ lệ gia tăng hút thuốc cao, tỷ lệ trẻ vị thành niên hút thuốc cao Đặc biệt những người có vai trò đại diên như: giáo viên,
Trang 17bác sĩ, công an…dễ là tấm gương vì thế nếu họ hút thuốc thì chắc chắn tỷ lệ hút trong cộng đồng sẽ cao Tỷ lệ số người trả lời lý do hút thuốcdo mọi người xung quanh hút
là 11,3% [6]
- Các chuẩn mực đạo đức, xã hội: nam giới phải
biết hút thuốc, uống rượu hay hút thuốc là phương tiện giao tiếp…những quan điểm nay làm thúc đẩy sự gia tăng
tỷ lệ hút thuốc Vai trò của yếu tố gia đình cũng ảnh
hưởng tới tỷ lệ hút thuốc Trong số những người hút thuốc: 57,8% có cha hút thuốc, 20% có anh trai hút thuốc,3% có mẹ hút thuốc [6]
- Bạn bè là yếu tố ảnh hưởng lớn tới tỷ lệ này 54%
người trả lời lý do hút thuốc là do bạn bè rủ rê Đặc biệt lànhóm thanh thiếu niên, vùng nông thôn cao hơn thành thị,
ở độ tuổi 14-17 tỷ lệ là 15,45%, tăng gấp 2 lần ở độ tuổi 22-25 (34,4%) Yếu tố này cũng cũng có những ảnh hưởng tích cực, vai trò của nhóm không hút thuốc trong việc khuyến khích bỏ thuốc lá Tỷ lệ trong TTN nam bị bạn bè rủ rê hay ép buộc năm hút thuốc 2009 là 54%, tỷ lệ này chỉ còn 46% nếu người này đồng thời có bạn bè động viên tránh xa thuốc lá và chỉ còn 22% nếu người này không bị bạn bè rủ rê hay ép buộc hút thuốc [6]
- Khả năng tiếp cận thuốc lá: Thuốc lá hiện đang
được bày bán rộng rãi, người dân có thể dễ dàng mua sử dụng mà không có bất kỳ hạn chế nào Việc quy định độ tuổi hút thuốc, các quy dịnh cấm sử dụng thuốc hầu như chưa có vàchưa được thực thi hiệu quả Có 98,15% ngườitrả lời dễ dàng tiếp cận thuốc lá [10] Quảng cáo thuốc lá
Trang 18phổ biến, giới thiệu sự hấp dẫn của thuốc lá như tăng sự quyến rũ, thuốc lá đầu lọc giúp người hút an tâm sử dụng
dù thực chất không hề giảm được tác hại Việc bắt buộc inhình tác hại thuốc lá lên bao bì đã được ban hành thành luật nhưng vẫn chưa đảm bảo 100% Tuy nhiên bước đầu cho thấy đây là biện pháp có hiệu quả khi người sử dụng
có ấn tượng mạnh và nhiều người đã có ý định bỏ thuốc lákhi nhìn những hình ảnh đó
- Tuyên truyền giáo dục về tác hại của thuốc lá:
Chỉ 1 nửa số người trưởng thanh trong nghiên cứu Điều tra toàn quốc về sử dụng thuốc lá ở người trưởng thanh Việt Nam (GAST, 2010) biết tác hại của thuốc lá, tin thuốc lá liên quan tới các bệnh đau tim, đột quị [3] Như vậy nhận thức về tác hại của thuốc lá trong cộng đồng không cao Công tác tuyên truyền còn chưa thực sự hiệu quả Điều đó lý giải vì sao tỷ lệ hút thuốc còn cao
Trang 19PCTHTL, đặc biệt giá và thuế thuốc lá còn ở mức thấp [2].
Mặt khác, hệ thống văn bản pháp luật về PCTHTL còn nhiều khoảng trống (chưa có quy định về thông tin, giáo dục, truyền thông; quyền của người không hút thuốc lá; trách nhiệm của người đứng đầu địa điểm cấm hút thuốc lá; in cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh; huy động tài chính cho PCTHTL), một số văn bản đã bộc lộ những mâu thuẫn, chồng chéo (quy định về in cảnh báo sức khỏetrên bao bì thuốc lá không thống nhất, còn chồng chéo giữa các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và
Bộ Y tế) [2]
1.4 Tác hại của hút thuốc lá:
1.4.1 Khái niệm nghiện thuốc lá:
Nghiện thuốc lá thực chất là nghiện chất nicotine có trong thuốc lá, tương tự như nghiện các chất ma túy khác như morphin, heroin, cocain,…
1.4.2 Thành phần và tác hại của thuốc lá đối với cơ thể người:
1.4.2.1 Thành phần của thuốc lá và khói thuốc lá:
Thuốc lá có tên Latin là Nicotinna tabacum Thuốc láđược sử dụng từ lâu bằng cách cuộn các lá thuốc rồi hút hoặc dưới dạng điếu thuốc
Nicotin là một ancaloid có trong thuốc lá với một tỷ
lệ thay đổi từ 0.05 – 8%.Thông thường tỷ lệ này từ 2 – 3% Hàm lượng nicotin thay đổi phụ thuộc nhiều yếu tố như: khí hậu, đất đai,.v.v… nicotin không phải là ancaloidduy nhất có trong thuốc lá; người ta đã phân lập được
Trang 20nhiều ancaloid khác như: nicotellin, nicotein, isonicotein, nicotimin, nicotysin, nicoloin, anabasin [10] [12] [13].Trong thuốc lá còn có nhiều chất như: acid citric, acid malic, acid oxalic, pyridin, cyanur [13].
* Khói thuốc lá và các chất có trong khói thuốc lá: Khi điếu thuốc lá cháy, khói thuốc lá gồm dòng khói chính và dòng khói phụ được phát sinh
Dòng khói chính là khói thuốc người hút hít và miệng trong suốt thời gian hút
Dòng khói phụ là phần khói tỏa ra từ đầu cháy của điếu thuốc bao gồm cả phần khói từ giấy cuốn xung quanh điếu thuốc bị cháy Dòng khói phụ có thành phần chất độc cao hơn dòng khói chính rất nhiều: nồng độ monoxyt cacbon (CO) gấp 15 lần, nicotin gấp 21 lần, formaldehyt gấp 50 lần và dimathylnitrosamin gấp 130 lần Sở dĩ như vậy là do khói thuốc chính chảy ở nhiệu độcao và không qua lọc Chính vì vậy mà những người không hút thuốc lá nhưng thường xuyên phải hít thở trongmôi trường có khói thuốc (hút thuốc lá thụ động) cũng bị những tác hại tương tự như những người hút thuốc lá Tuynhiên do dòng khói phụ được pha loãng với không khí nên mức độ tác hại của dòng khói phụ còn phụ thuộc vào diện tích phòng, thể tích không khí nơi hút thuốc lớn hay nhỏ
Khói thuốc lá chứa trên 7000 chất hóa học tồn tại dưới 2 dạng:
+ Dạng hạt bao gồm các chất gây nghiện, điển hình
là nicotin, chất hắc ín, các hỗn hợp màu nâu trong đó
Trang 21chứa các chất như benzen, benzopyren,… Nhiều thực nghiệm trên súc vật đã kết luận thành phần hạt của khói thuốc lá là chất gây ung thư ở đường hô hấp và các cơ quan khác trong cơ thể [5].
+ Dạng khí của khói thuốc lá gồm có monoxyt cacbon (CO), những khí độc khác như amoniac, diethylnitrosan,formaldehyt,hydrogen,…
Trong số hơn 7000 chất hóa học, có tới trên 69 chất đã được chứng minh là nguyên nhân gây ung thư Nhiều chất gây ung thư trong khói thuốc lá đã được mô tả trong đó polyciclic aromatic hydrocacbon (PAH) và (4-
methylnitrosamino) –1–(3-pyridyl) –1–butanone (NHK) và
N’– nitrosonornicotine (NNN) trong khói thuốc lá là nguyên nhân quan trọng gây ung thư phổi Trong khói thuốc lá còn có những chất gây ung thư khi chúng kết hợpvới nhau Một số chất trong khói thuốc lá là tác nhân kích thích phát triển khổi ung thư làm bệnh tiến triển nhanh hơn
1.4.3 Đường vào cơ thể và dược động học của nicotin:
* Đối với người hút thuốc lá:
- Nicotin trực tiếp ngấm qua lưỡi, mặt khác trong khói thuốc có hơn 7000 chất độc cùng với nicotin được hít vào phổi vào máu và được nuốt vào qua đường tiêu hóa
* Nicotin vào máu một phần bị phân hủy ở gan, nicostin được đào thải ra ngoài qua nước tiểu Lượng nicotin đào thải qua nước tiểu bằng khoảng 15% lượng nicotin đã được hấp thụ vào cơ thể Nicotin còn được thải
Trang 22qua nước bọt, qua phổi, mồ hôi, nhưng không qua mật Ở súc vật nicotin còn được thải qua sữa Bán chu kỳ sinh học của nicotin trong cơ thể rất ngắn chỉ từ 1.5h đến 2h vìvậy cứ sau một khoảng thời gian 2–3h người hút thuốc lá lại có cảm giác thèm và muốn hút tiếp Cotinin là sản phẩm chuyển hóa đầu tiên và chủ yếu của nicotin, được hình thành qua phản ứng oxy hóa nicotin xảy ra ở
microsom của tế bào gan, trong đó trans-3 hydrocotinine chiếm đa phần còn một lượng nhỏ là nicotin – N – oxide Cotinin có bán chu kỳ sinh học dài trên 20 giờ, nó tồn tại lâu trong các dịch sinh học Phần nicotin tự do trong máu được đào thải phần lớn ra ngoài, còn phần nicotin kết hợp với các protein ở các tạng phủ gây độc hại thì đào thải rất chậm Các công trình nghiên cứu trên thế giới cho thấy cónhững người bỏ thuốc lá sau một thời gian dài mà xét nghiệm vẫn còn thấy nicotin trong máu
* Tác hại của khói thuốc lá đối với sức khỏe con người: hút thuốc lá là một nguyên nhân gây nên bệnh tật
và chết sớm nhiều nhất trên thế giới mà ta có thể tránh được
Theo WHO dự báo nếu tình trạng hút thuốc lá trên thế giới vẫn như hiện nay thì đến cuối những năm 2020,
số người bị chết do hút thuốc lá sẽ là 10 triệu người mỗi năm Chỉ tính riêng Trung Quốc tới thời điểm 2020 –
2030 sẽ có từ 1 - 2 triệu người chết do hút thuốc lá mỗi năm
Ở Mỹ, thuốc lá là nguyên nhân của 20% tổng số tử vong hàng năm Còn ở Anh, cứ 1000 thanh niên đang hút
Trang 23thuốc lá thì sẽ có một người trở thành kẻ giết người, 6 người bị giết trên đường phố và 250 người sẽ bị chết bởi hút thuốc lá.
Hút thuốc lá cũng là nguyên nhân chính gây tử vong
ở các nước đang phát triển Nếu xu hướng hút thuốc lá không giảm thì khoảng 30 triệu trẻ em Châu Âu và 50 triệu trẻ em Trung Quốc có thể sẽ bị chết vì những bệnh
có liên quan đến hút thuốc lá
1.4.4 Tính chất, công dụng và độc tính của nicotin:[4]
1.4.4.1 Tính chất của nicotin:
Nicotin được Posselt và Reimann phân lập từ thuốc
lá năm 1828 Nicotin là một mety l-2-(3-pyridil) - pyrolidin (C10H14N2) Nicotin nóng chảy ở dưới 80oC, có thể hỗn hợp với nước ở bất cứ tỷ lệ nào và trong dung môihữu cơ cũng vậy Nicotin là chất lỏng sánh như dầu, không màu và hơi có mùi Khi tiếp xúc với không khí và ánh sáng nicotin chuyển sang màu nâu sẫm và có mùi rất mạnh và đặc biệt nicotin có phản ứng kiềm mạnh, tạo thành những muối bền vững Nicotin kết tủa dung dịch của hầu hết các muối kim loại (Hg, Pb, Zn, v.v…)
1.4.4.2 Tác dụng và độc tính của Nicotin:
*Tác dụng: Trong nông nghiệp nicotin được dùng làm thuốc trừ sâu cho cây trồng trong các nhà kính bằng cách để bay hơi từ một dung dịch lỏng hoặc đun nóng lên hơi nicotin bốc lên được quạt thổi khắp nơi, tác dụng gây độc của nicotin bay hơi trong vài giờ
Nicotin ngoài tác dụng gây nhiễm độc còn có nhiều ảnh hưởng tâm lý như sự sảng khoái, giảm lo lắng, giảm
Trang 24căng thẳng, làm cho ăn ngon, tăng kích thích nhưng cũng gây thư giãn Tác dụng kích thích của thuốc lá nhiều khi cần thiết cho người lao động phải làm các động tác lặp đi lặp lại, phải tập trung chú ý Người nghiện thuốc lá là phải đảm bảo duy trì và điều hòa lượng nicotin trong máu hàng ngày Đây chính là một trong những khó khăn mà người nghiện thuốc lá khó từ bỏ.
* Độc tính: Nicotin rất độc Thực nghiệm thấy rằng nhỏ 1 - 2 giọt nicotin lên giác mạc thỏ, lên lưỡi cho hoặc mèo có thể gây tử vong ngay lập tức
Nước sắc 15 - 30g thuốc lá cho thụt vào hậu môn cũng làm chết người Lewwis nêu trường hợp một cháu
bé 2 tuổi mút tẩu thuốc của người bố đã bị chết sau vài giờ
Như vậy, nicotin là một loại thuốc độc bảng A tác dụng rất nhanh có thể so với acid cyahydric
1.4.5 Con đường chuyển hóa của nicotin và tác dụng lên cơ quan đích:
Nicotin được hấp thụ nhanh qua niêm mạc, qua da, qua đường hô hấp, qua đường tiêu hóa, một phần bị phá hủy ở gan Nicotin được đào thải ra ngoài qua đường nước tiểu Theo Lazorev (1976), lượng nicotin thải qua nước tiểu chỉ chiếm 15% lượng nicotin đã được hấp thụ vào cơ thể; nicotin còn được thải qua cả nước bọt, phổi,
mồ hôi nhưng không qua mật Ở súc vật còn thấy nicotin thải ra qua sữa và có thể vượt qua hàng rào nhau thai.Nicotin có tác dụng như một chất kích thích thần kinh phó giao cảm Dù tác động qua tuần hoàn hay tại chỗlên thần kinh, nicotin khu trúc tác dụng vào các hạch của
Trang 25hệ thần kinh tự động, thần kinh giao cảm và phó giao cảm Sau khi bị kích thích các hạch của thần kinh tạng giải phóng adrenalin gây tác hại làm tăng huyết áp, tăng đường huyết, giãn đồng tử.
Đối với hệ thần kinh tự động, nghiên cứu của Langley (1905) rồi sau đến Chauchard đã cho thấy nicotintác động đến cả hai hệ thống, trước là các sợi phó giao cảm, sau là giao cảm và trước là kích thích sau là làm tê liệt
Đối với tim, nicotin làm tim đập chậm, huyết áp hạ Sau đó, tim đập nhanh, huyết áp tăng trước khi tử vong [4]
Đối với tiêu hóa, nicotin gây co thắt ruột dữ dội, rồi làm tê liệt gây tăng tiết và gây cạn dịch
Đối với hệ thần kinh trung ương, tác động cũng vậy, kích thích, ức chết và rồi tê liệt
Nicotin ảnh hưởng tới quá trình cấu tạo tế bào máu, gây đột biến gene Nicotin tác động lên màng não làm thay đổi hàm lượng adrenalin gây tác hại không lường
1.5 Tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện thuốc lá và các tiêu chuẩn liên quan:
1.5.1 Nghiện thuốc lá được chẩn đoán khi thỏa mãn 3/7 tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện của DSM-IV:
Bảng 1.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện thuốc lá theo DSM – IV
Không cần có tiêu chuẩn 1 và 2 để chẩn đoán nghiện thuốc lá, tuy nhiên để chẩn đoán nghiện thuốc lá thực thể, nghĩa là lệ thuộc vào nồng độ nicotin trong máu, bắt buộc phải có tiêu chuẩn 1 và/hoặc 2 Sự hiện diện của thành phần nghiện thực thể cho thấy chế độ điều trị buộc phải
1 Hội chứng dung nạp thuốc lá
- Tăng số điếu hút thuốc lá mỗi ngày cảm giác dễ chịu như trước
- Hút số điếu thuốc lá như cũ cảm giác dễ chịu giảm đi so với trước
2 Hội chứng cai thuốc lá
- Cai thuốc lá bứt rứt kích thích khó chịu v.v
- Hút trở lại mất các triệu chứng trên
3 Hút lâu hơn và nhiều hơn so với dự kiến
4 Muốn và từng thử cai thuốc lá nhiều lần mà chưa thành công
5 Dành nhiều thời gian cho việc tìm kiếm và hút thuốc lá
Trang 26có thành phần điều trị bằng thuốc, tư vấn đơn thuần trên người nghiện thuốc lá thực thể không cho tỷ lệ thành công cao Mức độ nặng nhẹ nghiện thực thể quyết định liều lượng và thời gian dùng thuốc điều trị Mức độ nghiện thuốc lá thực thể được đánh giá bằng thang điểm Fagerstrom thu gọn và/hoặc nồng độ CO trong hơi thở ra:
Bảng 1.2 Thang điểm Q-Mat đánh giá quyết tâm cai thuốc lá
1/ Anh sẽ hút thuốc lá như thế nào
“Tác hại” khi cai thuốc lá
Củng cố (-)
Hành vi cai thuốc lá Hành vi hút thuốc lá
Củng cố (+)
“ Lợi ích” khi cai thuốc lá
“Lợi ích” khi hút thuốc lá
“Tác hại” khi hút thuốc lá
Trang 27tác động được đồng thời 4 thành tố cấu thành quyết tâm cai thuốc lá kể trên Điều trị bằng thuốc chỉ tác động được
1 – 2 thành tố mà thôi, trong đó varenicline tác động làm giảm “lợi ích” của hút thuốc lá và “tác hại” của cai thuốc lá; nicotin thay thế và bupropion làm giảm “tác hại” của hút thuốc lá Như vậy tư vấn điều trị cai thuốc lá lúc nào cũng là điều trị cơ bản trong cai thuốc lá, điều trị bằng thuốc giúp tăng thêm tỷ lệ thành công tư vấn cai thuốc lá.Nguyên tắc của tư vấn cai thuốc lá là sử dụng kỹ thuật điều trị nhận thức – hành vi tác động vào 4 thành tố hình thành quyết tâm cai thuốc lá để tăng cường quyết tâm cai thuốc lá của người nghiện thuốc lá Tùy mức độ quyết tâm cai thuốc lá khác nhau, can thiệp tư vấn sẽ ưu tiên chọn lựa các thành tố tư vấn
Nguyên tắc của điều trị cai nghiện thuốc lá bằng thuốc là sử dụng hóa chất làm giảm nhẹ “tác hại” của cai thuốc lá (tất cả ba thuốc) và “lợi ích” của hút thuốc lá (riêng varenicline) Liều lượng, thời gian, quyết định đơn trị liệu hay phối hợp điều trị căn cứ vào mức độ nặng của nghiện thực thể
MỨC ĐỘ QUYẾT TÂM CAI
VAS
Q - MAT
CAO TRUNG BÌNH THẤP
1 Lợi ích hút thuốc lá: ngắn hạn + có thể thay thế
2 Tác hại hút thuốc lá: có thật + cách phát hiện
1 “Tác hại” cai thuốc lá: ngắn hạn + cách xử lý
2 “Lợi ích” cai thuốc lá: có thật + cách phát hiện
Trang 281.5.2 Đau là sự đánh giá chủ quan của bệnh nhân qua thang điểm VAS.
Mức độ đau của bệnh nhân: mức độ đau được đánh giá theo thang điểm VAS từ 1 đến 10 bằng thước đo độ của hãng Astra- Zeneca Thang điểm số học đánh giá mức
độ đau VAS là một thước có hai mặt:
Một mặt: chia thành 11 vạch đều nhau từ 0 đến 10 điểm
Một mặt: có 5 hình tượng, có thể quy ước và mô tả ra các mức để bệnh nhân tự lượng giá cho đồng nhất độ đau như sau:
Hình tượng thứ nhất (tương ứng 0 điểm): bệnh nhân không cảm thấy bất kỳ một đau đớn khó chịu nào
Hình tượng thứ hai (tương ứng 1-2,5 điểm): bệnh nhân thấy hơi đau, khó chịu, không mất ngủ, không vật vã và các hoạt động khác bình thường
Hình tượng thứ ba (tương ứng > 2,5-5 điểm): bệnh nhân đau khó chịu,mất ngủ, bồn chồn, khó chịu, không dám cử động hoặc có phản xạ kêu rên
Hình tượng thứ tư (tương ứng > 5-7,5 điểm): đau nhiều, đau liên tục, bất lực vận động, luôn kêu rên
Hình tượng thứ năm (tương ứng > 7,5-10 điểm): đau liên tục, toát mồ hôi Có thể choáng ngất
Đánh giá kết quả điều trị:
Không đau = 0 điểm Đau nhẹ = 1 - 2,5 điểm
Đau vừa = >2, 5 - 5 điểm Đau nặng = > 5 điểm
NẶNG
[CO] hơi thở ra Fagerstrom
NHẸ
Thuốc cai thuốc lá liều
vừa đến thấp
TRUNG BÌNH
Thuốc cai thuốc lá
liều cao đến vừa thuốc lá liều thấpThuốc cai
đến không
Trang 291.5.3 Đo nồng độ CO trong hơi thở:
Người được kiểm tra chỉ cần ngậm ống nối, hút không khí từ miệng vào, giữ chặt hơi thở trong 15giây, sau đó thổi từ từ hơi thở ra ống, kết quả CO ppm và
%COHb tương đương sẽ hiển thị trực tiếp trên máyNgười không hút thuốc lá hoặc đã cai thuốc lá thành
công sẽ có nồng độ CO của người KHÔNG HÚT THUỐC LÁ (0-6ppm)
Carbon monooxide (CO) là một khí độc hại, không mùi, không màu, không vị Nó được hình thành bởi sự đốtcháy của chất hữu cơ ở nhiệt độ cao khi không có đủ oxy Khi hít phải khí CO, CO loại bỏ Oxy trong máu để hình thành chất Carbon Hemoglobin (COHb) CO có thể tồn tại trong máu đến 24 giờ, tùy thuộc vào các yếu tố như hoạt động thể chất, tình dục, cường độ hút Thời gian bán hủy là khoảng 5 giờ CO (ppm) và Carbon Hemoglobin (COHb) có mối tương quan:
CO trong hơi thở ra được đo bằng đơn vị phần triệu (part per million ppm) và Carbon Hemoglobin COHb trong máu được tính bằng % Hai giá trị này tương thích
và có thể chuyển đổi qua lại: Đọc thông số CO (ppm) liênquan đến lượng khí trong phổi và trong hơi thở (i.e nghĩa
là lượng CO độc hại đã bị hít vào), và thông số COHb liên quan đến tỉ lệ phần trăm oxygen đã bị thay thế trong máu
Máy Smokerlyzer cho phép hiển thị cả hai phép
đo Lâm sàng nghiên cứu đã chứng minh mối quan hệ hữu
Trang 30ích của CO và COHb sau khi giữ hơi thở một thời gian ngắn
Ranh giới giữa người hút thuốc lá và người không hút thuốc lá là 6ppm CO.
Máy Smokerlyzer phân loại các cấp độ nghiện thuốc
lá dựa trên kết quả CO ppm như sau:
0-6ppm là nồng độ của người không hút thuốc lá
7-10ppm là của người hút thuốc lá thụ động
11-15ppm là của người hút thuốc lá ít
Và trên 15ppm là dành cho những người nghiện thuốc lá nặng
1.6 Các nghiên cứu về điều trị cai nghiện thuốc lá bằng YHCT trong và ngoài nước
Để hỗ trợ người nghiện thuốc lá có thể cai nghiện thành công, các chuyên gia y học đưa ra một số phương pháp sau:
* Liệu pháp thay thế nicotin:
Trang 31cánh Về cơ chế tác dụng có thể thông qua nâng cao khả năng chống oxy hóa của enzym SOD và ức chế sự sản xuất của MDA của thể vân, điều chỉnh sự cân bằng giữa
hệ thống oxy hóa và hệ thống chống oxy hóa nên có thể cai thuốc
Trần Kiệt, Trịnh Tôn Pháp (2007) nghiên cứu thực nghiệm bài thuốc gồm Trần bì 30g, Mộc hương 40g, Trúc nhự 50g, Trúc lịch 20g, Rau đắng 60g, Bối mẫu 40g, Hạnh nhân 20g, Bách hợp 40g, Bách bộ 30g, Cát
cánh30g, Ngũ vị tử 20g, Lô hội 30g, Đông qua 100g, Lá trà Long tỉnh 20g có tác dụng làm giảm các triệu chứng của hút thuốc lá, khôi phục sức khỏe
Mã Âm Đốc (2003) nghiên cứu bài thuốc gồm Khoản Đông Hoa, Tử Uyển 15g, Phá cố chỉ, Bán hạ, Tỳ
bà diệp, Tiền hồ, Phục Linh, Cát cánh mỗi vị 12g,
Xuyên bối mẫu, Xạ can, Anh túc xác mỗi vị 10g, Gừng 9g, Quất hồng bì 12g, Quế 6g, Tế tân 3g Cách sử dụng:thuốc sắc mỗi ngày 1 thang, 2 tuần một liệu trình điều trị Quan sát kết quả trong 10 năm thấy có tác dụng khá tốt
Hoàng Đổng Minh (2007) cho rằng nghiện thuốc lá liên quan đến các tạng tỳ, phế, tâm và đưa ra phương phápcai nghiện thuốc lá bằng châm cứu kết hợp với một trong các phương thuốc: tuyên phế hóa đàm, hoặc thư cân giải uất, bổ tâm tỳ, hoặc thanh nhiệt thư can, tuyên phế hóa đàm trong 7 ngày cho kết quả cai thuốc rất tốt
Châu Bằng Phi (2003) châm huyệt Liệt khuyết 2 bên,mỗi lần 20 phút, một lần 1 ngày trong 5 ngày, nghỉ 2
Trang 32ngày, tổng liệu trình điều trị trong 4 tuần cho kết quả tỷ lệ cai thuốc lá thành công đạt 96,9%.
Tăng Khánh Đồng (2009) kết hợp thể châm (Bách hội, Tứ thần thông, Thần môn) và nhĩ châm (vùng vỏ thượng thận, nội tiết, giao cảm) trong 7 ngày thấy cai thuốc lá đạt 87%
Ho-Jae Lee và Jea-Hwan Lee (2005) nghiên cứu tác dụng của trà thảo dược gồm Cam thảo, Gừng, Xuyên khung, Cát cánh, Bạch chỉ, Sơn tra, lá cây Trầu nước, La bặc tử, Thăng ma, Lô hội, Ngũ gia bì, Nhân sâm, Trần bì Kết quả sau 2 tuần thấy giảm các triệu chứng của hội chứng cai thuốc, giảm số lượng điếu thuốc hút khi so sánhvới nhóm dùng giả dược (p < 0,1), giảm nồng độ nicotin trong nước tiểu so với nhóm dùng giả dược với p < 0,01
1.7 Tổng quan về nước súc Boni-Smok
1.7.1 Công thức bài thuốc
1.7.2 Các vị thuốc trong n ước súc miệng
Kim ngân hoa
Tên khoa học: Lonicera japonica Thunb Tên khác: Nhẫn đông hoa, Ngân hoa, Kim Ngân
Trang 33+ Chống viêm, làm giảm chất xuất tiết, giải nhiệt
và làm tăng tác dụng thực bào của bạch cầu
+ Tác dụng hưng phấn trung khu Thần kinh
cường độ bằng 1/6 của cà phê
+ Tác dụng chống lao: Nước sắc Kim ngân hoa in Vitro có tác dụng chống Mycobacterium tuberculosis Cho chuột uống nước sắc Kim ngân hoa rồi cho chích vikhuẩn lao cho thấy ít thay đổi ở phổi hơn lô đối chứng.+ Dùng dịch chiết Kim ngân hoa chích vào huyệt hoặc vào bắp có hiệu quả trong điều trị bệnh phổi viêm cấp nặng và lỵ
+ Nước sắc hoa Kim ngân cho uống có tác dụng ngăn chặn choáng phản vệ chuột lang
+ Kim ngân có tác dụng tăng cường chuyển hóa các chất béo
+ Tăng bài tiết dịch vị và mật
+ Tăng tác dụng thu liễm do có chất Tanin
+ Có tác dụng lợi tiểu
Trang 34Tính vị quy kinh: Vị ngọt, tính hàn Quy kinh vào
Phế, Vị, Đại trường
Công năng chủ trị: Thanh nhiệt, giải độc
Chủ trị chứng nhiệt, thử nhiệt, ngoại dương nội ung, nhiệt độc, tả lỵ
+ Nước sắc Bồ công anh có tác dụng lợi mật, bảo
vệ gan, lợi tiểu
+ Nước sắc Bồ công anh có tác dụng nhuận trường
Tính vị quy kinh: Vị đắng, ngọt, tính hàn Qui kinh
vào Can, Vị
Công năng chủ trị: Thanh nhiệt, giải độc, tán sưng
tiêu ung, lợi thấp thông lâm
Trang 35Chủ trị các chứng ung thũng sang dương, nhũ ung, trường ung, hầu tý, mục xích thũng thống, thấp nhiệt hoàng đản, nhiệt lâm.
Cúc hoa
Tên khoa học: Chrysanthemi morifolii Ramat Tên khác: Tiết hoa, Kim nhụy
Bộ phận dùng làm thuốc: Hoa khô Loại hoa đóa
nguyên vẹn, màu tươi sáng, thơm, không có cành, cuống, lá
Thành phần chủ yếu: adenine, choline, stachydrine
chrysanthemi vitamin B1, acacetin, coptiside I, chyrysandiol, chrysanthemi A, Bchrolochrymorin
Tác dụng dược lý:
+ Tác dụng kháng khuẩn: Nước sắc Cúc hoa có tác dụng ức chế tụ cầu vàng, liên cầu khuẩn dung huyết beta, nhiều loại trực khuẩn gây bệnh và nấm ngoài da Thuốc ở nồng độ cao có thể ức chế virut cúm và xoắn khuẩn
+ Thuốc có tác dụng dãn mạch vành, tăng lưu lượng máu ở mạch vành, làm giảm thiếu máu cơ tim, hạhuyết áp, ức chế độ thẩm thấu mao mạch, thuốc còn có tác dụng hạ nhiệt
+ Bạch cúc hoa có tác dụng ức chế phần nào các loại nấm ngoài da
Tính vị quy kinh: Vị cay ngọt đắng, tính hơi hàn Quy
kinh vào Phế, Can
Trang 36Công năng chủ trị: Sơ phong thanh nhiệt, bình can
minh mục, giải độc
Chủ trị các chứng cảm mạo phong nhiệt, ôn bệnh
sơ kỳ, đau mắt do can kinh phong nhiệt hoặc can dương thượng kháng, đầu vựng, liệu sang giải độc
Acid citric
Axit citric
Citric acid
Danh pháp IUPAC Axit 2-hydroxypropan-1,2,3-tricacboxylic
Tên khác Axit 3-hydroxypentanedioic axit 3-cacboxylic
Citrat hiđrô, E330
Công thức phân tử C 6 H 8 O 7
Khối lượng mol 192,123 g/mol (khan)
210,14 g/mol (monohydrat)
Bề ngoài chất rắn kết tinh màu trắng
Khối lượng riêng 1,665 g/cm³
Điểm nóng chảy 153 °C
Điểm sôi phân hủy ở 175 °C
Độ hòa tan trong nước 133 g/100 ml (20 °C)
Độ axit (pK a ) pK a1 =3,15
pK a2 =4,77
pK a3 =6,40
Axit citric hay axit xitric là một axit hữu cơ yếu
Nó là một chất bảo quản tự nhiên và cũng được sử dụng
để bổ sung vị chua cho thực phẩm hay các loại nước ngọt Trong hóa sinh học , nó là tác nhân trung gian quantrọng trong chu trình axit citric và vì thế xuất hiện trong trao đổi chất của gần như mọi sinh vật Nó cũng được coi là tác nhân làm sạch tốt về mặt môi trường và đóng vai trò của chất chống oxy hóa
Trang 37 Natri sunfat
Natri Sunfat
Tên khác Thenardite (khoáng vật)
muối Glauber (decahiđrat) Sal mirabilis (decahiđrat)
Khối lượng riêng 2.664 g/cm 3 (khan)
1.464 g/cm 3 (đecahiđrat)
Điểm nóng chảy 884°C (khan)
32.38°C (decahiđrat)
Điểm sôi 1429°C (khan)
Độ hòa tan trong nước khan:
4.76 g/100 mL (0°C) 42.7 g/100 mL (100°C) heptahiđrat:
19.5 g/100 mL (0°C)
44 g/100 mL (20°C)
Độ hòa tan không tan trong êtanol
tan trong glyxerol và hiđro iođua
Cấu trúc tinh thể trực thoi hay lục phương (khan)
đơn tà (đecahiđrat)
Atri sunfat là muối natri của acid sulfuric Khi ở dạng khan , nó là một tinh thể rắn màu trắng có công thức Na2SO4 được biết đến dưới tên khoáng
vật thenardite ; Na2SO4·10H2O được tìm thấy ngoài tự nhiên dưới dạng khoáng vật mirabilite , và trong sản xuất nó còn được gọi là muối Glauber hay mang tính
Trang 38lich sử hơn là sal mirabilis từ thế kỉ 17 Một dạng khác
là tinh thể heptahiđrat được tách ra từ mirabilite khi làmlạnh Với sản lượng sản xuất hàng năm lên đến 6
triệu tấn , nó là một sản phẩm toàn cầu quan trọng về hóa chất
Tinh dầu quế
Thành phần chủ yếu: cinnamaldenhyde chiếm
75-90%, cynnamyl acetate, phenylpropyl acetate, tanin
Tác dụng dược lý:
+ Trên súc vật thí nghiệm, tinh dầu quế có tác dụng
ức chế trung khu thần kinh, an thần, giảm đau và giải nhiệt
+ Tinh dầu quế là thuốc thơm kiện vị trừ phong, có tác dụng kích thích nhẹ dạ dày và ruột Thuốc có tác dụnglàm tăng tiết nước bọt và dịch vị tăng cường chức năng tiêu hóa, làm giảm co thắt cơ trơn nội tạng, làm dịu cơn đau bụng do co thắt ruột, ngoài ra còn có tác dụng ức chế
sự hình thành loét bao tử ở chuột do kích thích
+ Tinh dầu quế có tính sát trùng mạnh
+ Tác dụng lên hệ tim mạch: nước sắc nhục quế có thể làm tăng lưu lượng máu động mạch vành tim cô lập của chuột lang, cải thiện được thiếu máu cơ tim cấp của thỏ do pituitrin gây nên
+ Trên ống nghiệm, nhục quế có tác dụng ức chế mạnh đối với nhiều loại vi khuẩn gam (+) mạnh hơn đốivới vi khuẩn gam (-) ức chế cả với nấm gây bệnh
1.7.3 Cơ sở xây dựng nước súc họng Boni-Smok
Trang 39Theo quan niệm của YHCT, khói thuốc lá được tạo
ra bởi sự đốt cháy các điếu thuốc nên nó thuộc về phạm vịcủa nhiệt (hỏa); với tính chất nhẹ nhàng, có thể di chuyển
từ chỗ này sang chỗ khác, đi khắp nơi trong cơ thể, nó còn thuộc về phong Tóm lại, khói thuốc lá chính là
phong nhiệt độc gây bệnh cho cơ thể
Ở những người hút thuốc lá hay nói chung là những người tiếp xúc với khói thuốc lá, khi khói thuốc được đưa vào bên trong cơ thể qua đường thở, khói thuốc sẽ đi sâu vào trong các tạng phủ mà chủ yếu là Phế ở thượng tiêu (Phế chủ về hô hấp), Vị ở trung tiêu (khi hít vào một phầnkhói thuốc sẽ đi xuống dạ dày, mà dạ dày thuộc về Vị); khói thuốc (bản chất là phong nhiệt) sẽ tích nhiệt tại đây gây ra Phế nhiệt, Vị nhiệt
Chính vì vậy, nước súc miệng Boni-Smok đã lựa chọn những dược liệu với công năng tác dụng như sau:
- Kim ngân hoa: Thanh nhiệt giải độc, quy kinh vào Phế, Vị, Đại trường với tác dụng chống viêm kháng khuẩn cực mạnh, Kim ngân hoa giữ công năng chủ đạo là thanh Phế nhiệt
- Bồ công anh: Thanh nhiệt giải độc tiêu viêm, quy kinh vào Vị và Can, giữ vai trò thanh Vị nhiệt trong bài thuốc
- Cúc hoa: Sơ phong thanh nhiệt, bình Can, giải độc Vừa bình Can giúp cho sự sơ tiết của Can được điều đạt vừa sơ phong thanh nhiệt hỗ trợ Kim ngân hoa và Bồ công anh tăng cường tác dụng để sơ tán phong nhiệt độc
ra khỏi cơ thể Ngoài ra Cúc hoa còn có tác dụng chống
Trang 40viêm kháng khuẩn đường hô hấp, chữa triệu chứng ho, đau đầu do khói thuốc gây ra.
- Acid citric: Đóng vai trò là một chất phụ gia, vừa tạo hương vị vừa là chất bảo quản chống oxy hóa cho nước súc
- Natri sunfat: Muối Sunfat liều thấp đóng vai trò sát khuẩn, giúp tẩy rửa vệ sinh khoang miệng sạch sẽ
- Tinh dầu quế: Ngoài tính sát trùng mạnh nó còn có mùi thơm, khi kết hợp với khói thuốc lá sẽ làm giảm và thay đổi hẳn mùi vị của thuốc lá, khiến cho người hút ko còn cảm thấy vị ngon và mùi thơm của thuốc, tạo cảm giác chán thuốc, không muốn hút nữa
- Nước cất vđ: Dung môi hòa tan các chất
Các chất trên đa phần đều có tính chống viêm sát khuẩn mạnh, giúp vệ sinh răng miệng sạch sẽ tránh vi khuẩn gây bệnh và hạn chế mùi thuốc lá lưu trữ lại trong khoang miệng sau mỗi lần hút thuốc Mặt khác khi các chất trên kết hợp với nicotine trong khói thuốc sẽ làm thay đổi mùi vị của thuốc lá, tạo thành một vị đắng, mùi khó chịu, làm cho người nghiện không còn muốn hút thuốc lá nữa
1.7.4 Phương pháp súc miệng
Trong nghiên cứu này chúng tôi lựa chọn phương pháp hỗ trợ cai nghiện thuốc lá cụ thể như sau:
- Sử dụng nước súc miệng Boni-Smok loại 250ml
- Cách dùng: Khi có cảm giác thèm hút, muốn hút thì súc miệng, súc họng ngay Mỗi lần 20-30ml Súc xong nhổ