SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ PHÒNG GD&ĐT THÀNH PHỐ SẦM SƠN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT VÀI KINH NGHIỆM VỀ PHÁT HIỆN VÀ SỬA LỖI DÙNG TỪ, VIẾT CÂU SAI TRONG BÀI VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SIN
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD&ĐT THÀNH PHỐ SẦM SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT VÀI KINH NGHIỆM
VỀ PHÁT HIỆN VÀ SỬA LỖI DÙNG TỪ, VIẾT CÂU SAI TRONG BÀI VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH KHỐI 4,5
TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẢNG ĐẠI
THÀNH PHỐ SẦM SƠN
Người thực hiện: Lữ Thị Thắm Chức vụ: Giáo viên -Tổ trưởng (Tổ 4) Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Quảng Đại SKKN thuộc lĩnh vực (Môn): Tiếng Việt
THANH HÓA NĂM 2019
Trang 2MỤC LỤC
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 22.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 2
2 2 Thực trạng các lỗi về dùng từ, viết câu sai mà học sinh khối 4, 5
trường Tiểu học Quảng Đại - Thành Phố Sầm Sơn thường mắc phải
3
2.3 Những giải pháp về sửa lỗi dùng từ, viết câu sai mà học sinh
khối 4, 5 trường Tiểu học Quảng Đại - Thành Phố Sầm Sơn
8
Trang 31 Mở đầu:
1.1 Lí do chọn đề tài
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: "Phát triển giáo dục làquốc sách hàng đầu Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theohướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế"
Vì vậy, ở nước ta, công tác giáo dục luôn luôn được toàn Đảng, toàn dânquan tâm Đất nước muốn văn minh, giàu mạnh thì cần phải có một nền giáodục tiên tiến Do đó giáo dục của chúng ta luôn được đổi mới cùng với sự pháttriển của nhân loại
Mục tiêu của giáo dục là đào tạo những con người phát triển toàn diện vàđầy đủ các tố chất Mục tiêu nói trên, được thông qua việc dạy học các môn họcđặc biệt là môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn - thể Loại vănmiêu tả nói riêng
Như chúng ta đã biết, văn miêu tả là một trong những thể loại văn rất quenthuộc và phổ biến trong cuộc sống cũng như trong các tác phẩm văn học Đây làdạng văn có tác dụng rất lớn trong việc tái hiện đời sống, hình thành và pháttriển trí tưởng tượng, óc quan sát và khả năng nhận xét, đánh giá của con người.Với đặc trưng của mình, những bài văn miêu tả làm cho tâm hồn, trí tuệ ngườiđọc thêm phong phú, giúp ta cảm nhận được văn học và cuộc sống một cách tinh
tế hơn, sâu sắc hơn Chính vì thế, văn miêu tả được đưa vào trường Tiểu học từrất sớm (ngay từ lớp 2) Đề tài của văn miêu tả với các em là những gì gần gũi,thân quen với thế giới trẻ thơ, các em có thể quan sát được một cách dễ dàng, cụthể như: chiếc cặp, cái bàn, những vườn cây ăn quả mình yêu thích, những convật nuôi trong nhà, những cảnh vật xung quanh các em, những con người thânquen với các em như bạn bè, thầy cô, người thân Vì vậy, dạy tốt phân môn Tậplàm văn nói chung và kiểu bài văn miêu tả nói riêng là vấn đề được nhiều giáoviên Tiểu học quan tâm
Qua thực tế, nhiều năm giảng dạy lớp 4,5 tôi hiếm khi phát hiện thấy họcsinh giỏi môn Văn Tại sao học sinh giỏi tập làm văn lại hạn chế nhiều như vậy,trong khi Tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ của chúng ta, các em lúc chưa tròn một tuổi
đã biết nói, năm, sáu tuổi đã biết đọc, đã biết viết Tiếng Việt ? Chúng ta tự hàoTiếng Việt ta phong phú, giàu hình ảnh, đa dạng về nghĩa, có sức biểu cảm sâusắc Nhưng một thực tế lại rất buồn vì học sinh giỏi Tiếng Việt nói chung, phânmôn Tập làm văn nói riêng còn quá khiêm tốn Khi chấm bài Tập làm văn, tôithấy đa số học sinh đã biến các bài văn miêu tả thành văn kể, liệt kê một cáchkhô khan, nghèo nàn về từ, diễn đạt ý rườm rà, tối nghĩa Cách dùng từ đặt câuchưa phù hợp, viết câu còn rời rạc, chưa liên kết, thiếu lôgíc, chưa sáng tạo Bốcục bài văn chưa rõ ràng, cách chấm câu, cách sử dụng từ ngữ giàu hình ảnhchưa linh hoạt, chưa sinh động Mặt khác, một số em còn phụ thuộc vào bài vănmẫu, áp dụng một cách máy móc, chưa biết sử dụng bài văn mẫu để hình thànhlối hành văn riêng của mình, biến lời văn người khác thành cách diễn đạt củamình Phần lớn các em dùng lời hướng dẫn của giáo viên để viết bài văn củamình một cách rập khuôn, máy móc, … dẫn đến bài văn chưa đạt hiệu quả cao
1
Trang 4Xuất phát từ nguyên nhân trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Một vài kinh nghiệm về phát hiện và sửa lỗi dùng từ, viết câu sai trong bài văn miêu tả cho học sinh khối 4, 5 trường Tiểu học Quảng Đại – Thành phố Sầm Sơn”.
Với mong muốn tìm hiểu sâu hơn, kĩ hơn về một vấn đề đang được quan tâmhiện nay là “nói, viết Tiếng Việt sao cho đúng, cho hay” Đồng thời tích lũy chomình một vài kinh nghiệm, kĩ năng và tri thức cần thiết trong hành trang nghềnghiệp của mình
1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
- Các lỗi sai về dùng từ, viết câu sai của học sinh khối 4, 5 trường Tiểu họcQuảng Đại - Thành phố Sầm Sơn
- Thống kê, phân loại, chữa lỗi dùng từ và đặt câu trong các bài tập làm văn
của học sinh lớp 4, 5 trường Tiểu học Quảng Đại -Thành phố Sầm Sơn - năm
học 2018 - 2019
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp phân tích ngôn ngữ học
- Phương pháp điều tra
1.5 Điểm mới của đề tài.
Trong thời đại ngày nay, khi xã hội càng phát triển càng đòi hỏi con ngườikhả năng giao tiếp tốt hơn trong mọi hoàn cảnh, mọi môi trường Trong hoạtđộng giao tiếp, câu được coi là đơn vị trung tâm và từ là yếu tố không thể thiếu
để tạo câu Vì vậy, sửa lỗi dùng từ và đặt câu cho học sinh là một việc làmthường xuyên và liên tục trong dạy học Và cũng là để thực hiện nhiệm vụ “giữgìn sự trong sáng của tiếng Việt”, để “nói và viết Tiếng Việt sao cho đúng, cho
hay” Chính vì tầm quan trọng như vậy nên tôi rất trăn trở về đề tài “Một vài kinh nghiệm về phát hiện và sửa lỗi dùng từ, viết câu sai trong bài văn miêu
tả cho học sinh khối 4, 5-Thành phố Sầm Sơn” để tìm ra nguyên nhân và đề ra
những giải pháp có hiệu quả phục vụ cho nghiên cứu và giảng dạy
Ở đề tài này tôi đã tìm hiểu các lỗi về từ, về câu mà học sinh Tiểu học lớp 4,
5 trường Tiểu học Quảng Đại - Thành Phố Sầm Sơn thường mắc phải Trên cácngữ liệu từ, câu sai đã thống kê tôi đã phân loại và tìm hiểu nguyên nhân để tìm
ra những biện pháp khắc phục mang tính khả thi Hơn nữa tôi cũng mạnh dạn đềxuất một số biện pháp để hạn chế lỗi sai ngữ pháp, để rèn kĩ năng dùng từ, viếtcâu cho học sinh lớp 4,5
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Căn cứ mục tiêu giáo dục Tiểu học - căn cứ nhiệm vụ năm học cùng yêucầu của môn học, ta thấy Tập làm văn là một phân môn rất quan trọng trong dạy
Trang 5học Tiếng Việt Dạy Tập làm văn trong trường Tiểu học gắn liền với hoạt độngtạo lập văn bản Để có được một bài văn mẫu mực học sinh phái có năng lực tưduy phản ánh nhận thức đầy đủ của bản thân về đối tượng (nội dung giao tiếp) ởvăn bản; đồng thời các em phải có vốn hiểu biết cần thiết, đầy đủ về các chuẩnmực ngôn ngữ (âm thanh, chữ viết, từ, câu, văn bản) và phải có kĩ năng sử dụnglinh hoạt, sáng tạo các chuẩn mực đó nhằm diễn đạt trong sáng, mạch lạc nộidung giao tiếp cho phù hợp với một hoàn cảnh theo một mục đích giao tiếp nhấtđịnh Ngoài những yêu cầu đã nêu trên để có một bài văn hoàn chỉnh, sinh động
và hấp dẫn học sinh phải có năng lực cảm thụ phản ánh những cảm nhận về vẻđẹp của đối tượng Và một yêu cầu không thể thiếu đối với học sinh Tiểu họcngười tạo lập văn bản, đó là phải có đời sống tình cảm trong sáng, lành mạnh,biết trân trọng cái đẹp, cái tốt; biết căm ghét, phê phán những thói xấu, cái áctrong cuộc sống…
Trong chương trình tiểu học mới, các bài làm văn gắn với chủ điểm củađơn vị học Song song với các tiết làm văn luyện nói, luyện viết thì tiết Tập làmvăn trả bài có một vị trí quan trọng vì: giờ trả bài có mục đích rèn cho học sinh
kĩ năng kiểm tra, đánh giá, tự điều chỉnh bài viết Đây là kĩ năng quan trọngtrong hoạt động giao tiếp Kĩ năng kĩ năng đối chiếu văn bản nói, viết của bảnthân với mục đích giao tiếp và yêu cầu diễn đạt, sửa lỗi về nội dung và hình thứcdiễn đạt Để có kĩ năng này, học sinh phải cần tập nhận xét văn bản nói hay viếtcủa bạn, tự sửa chữa bài viết ở lớp, rút kinh nghiệm và tự chữa (hoặc viết lại) bàivăn đã được giáo viên chấm, luyện tập, hình thành kĩ năng và thói quen tự điềuchỉnh, tự học tập dể luôn luôn tiến bộ Đây chính là khâu cuối cùng để hoànthiên kĩ năng làm văn của học sinh
Hơn nữa trong sách giáo khoa và sách giáo viên phần phân môn tập làm
văn, phương pháp nêu ra mới chỉ là chung chung, chưa cụ thể, chưa là vai tròchủ thể, chủ động nắm vững kiến thức của học sinh
Bên cạnh đó thực tế dạy học nhiều năm với những đối tượng khác nhau(lớp bốn, lớp năm) Tôi thấy chất lượng bài Tập làm văn của các em có nâng caođôi chút, có một số tiến bộ đáng kể nhưng mới chỉ là ở một số ít
Thêm vào đó người dạy còn chung chung, nặng về thuyết trình, áp đặt họcsinh Giáo viên hiểu vấn đề chưa thực sự kĩ càng và thậm chí coi nhẹ giờ Tập
làm văn, đặc biệt “Chữa lỗi dùng từ đặt câu cho học sinh tiểu học Lớp 4, 5 qua
các giờ Tập làm văn”chưa hiệu quả, còn mang tính hình thức.
2 2.Thực trạng các lỗi về dùng từ, viết câu sai mà học sinh khối 4, 5 trường Tiểu học Quảng Đại - Thành Phố Sầm Sơn thường mắc phải.
Qua quá trình giảng dạy cũng như qua việc dự giờ học tập chuyên môn ở cácđồng nghiệp, tôi nhận thấy việc dạy làm văn ở lớp 4, 5 còn gặp một số khó khăn:
* Về giáo viên:
- Một số giáo viên còn ngại khi phải dạy phân môn tập làm văn nên khi dạycòn nhiều lúng túng về phương pháp và nội dung hay hình thức tổ chức một tiếtdạy Tập làm văn dẫn đến hiệu quả các tiết dạy chưa cao Điều này được thể hiện
rõ qua những tiết thao giảng, dự giờ chéo phân môn Tập làm văn ở trường
- Phương pháp dạy của giáo viên còn rập khuôn, thiếu sự dẫn dắt gợi mở cho
Trang 6học sinh, chưa kích thích được sự sáng tạo tìm tòi, chưa chọn từ ngữ, hình ảnh, ýcủa học sinh.
- Giáo viên ít quan tâm đến việc hướng dẫn các em phải tả như thế nào đểbộc lộ được nét riêng biệt của đối tượng mình đang tả, thoát khỏi việc tả mộtcách khuôn sáo
- Giáo viên khi lên lớp còn truyền đạt “chay”, thiếu tranh ảnh, vật thật để hổtrợ cho các em trong quá trình làm văn miêu tả
- Thiếu sự kết hợp, liên hệ giữa tiết dạy phân môn tập làm văn với các mônhọc khác
* Về học sinh:
- Do khả năng tư duy của học sinh Tiểu học còn dừng lại ở mức độ tư duyđơn giản trực quan, chất lượng cảm thụ văn học của học sinh chưa đồng đều dẫnđến chất lượng làm văn chưa cao dẫn đến khi viết văn còn gặp không ít khókhăn
- Khả năng quan sát miêu tả còn sơ sài, học sinh chưa biết sử dụng các giácquan để quan sát, quan sát chưa theo một trình tự, thấy đâu tả đó
- Học sinh dùng từ đặt câu chưa hay, chưa đúng, chưa biết lựa chọn từ ngữthích hợp, vốn từ ngữ còn quá nghèo nàn, dùng từ địa phương nhiều, diễn đạt ývăn mà như nói chuyện bình thường
Kết quả điều tra khảo sát thực tiễn
Vào đầu năm học 2018 - 2019, tôi đã phối hợp với các đồng chí GVtrong khối 4, 5 tổ chức điều tra thực tiễn về các lỗi dùng từ, viết câu của HSbằng hình thức rà soát, thống kê các lỗi qua các bài "Tập làm văn" của 216 học
sinh khối 4, 5 trường Tiểu học Quảng Đại -Thành phố Sầm Sơn, kết quả thu
được như sau:
Bảng 1: Bảng thống kê phân loại lỗi dùng từ
STT Loại lỗi câu Số lượng Tỉ lệ (%)
5 Lỗi dùng từ không đúng phong cách 28 13.0
6 Lỗi dùng từ thiếu hình ảnh, cảm xúc 33 15.3
Bảng 2: Bảng thống kê phân loại lỗi đặt câu
STT Loại lỗi câu Số lượng Tỉ lệ (%)
3 Câu không xác định được thành phần 23 10.6
Trang 7Theo bảng thống kê trên tôi nhận thấy các lỗi mà học sinh thường mắc phải trong bài làm thường do những nguyên nhân sau:
2.2.1 Lỗi về dùng từ:
a.Lỗi dùng từ không đúng nghĩa.
Học sinh hay mắc lỗi dùng từ sai do không hiểu nghĩa của từ hoặc khôngbiết kết hợp sử dụng từ cho hợp lí trong quá trình làm văn miêu tả Chính việckhông hiểu rõ nghĩa của từ khiến các em sử dụng từ ngữ không đúng văn cảnh,không tạo được thiện cảm cho người đọc Bởi vậy, học sinh cần chú ý hơn nữatrong việc trau chuốt ngôn ngữ, suy nghĩ thật kĩ trước khi hành văn để tránh bịmất điểm trong quá trình làm bài
b Lỗi về kết hợp từ.
HS thường mắc lỗi này do không nắm chắc được nghĩa hoặc không chú ý
về mối quan hệ ý nghĩa và ngữ pháp giữa các từ được dùng trong câu nên họcsinh đã kết hợp từ không đảm bảo sự tương hợp với nhau, không “ăn khớp” vớinhau
c Lỗi lặp từ.
Đây là một trong những lỗi cơ bản nhất của học sinh tiểu học khi làm vănmiêu tả Thay vào đó, các em nên sử dụng những từ ngữ mang tính chất thay thế
để tránh nhàm chán cho câu văn, đoạn văn mình sử dụng
d Lỗi về dùng thừa từ.
Dùng thừa từ là lỗi mà học sinh thường mắc phải trong bài văn miêu tả.Nguyên nhân của lỗi này là do học sinh không nắm chắc nghĩa của từ, khôngnắm chắc mô hình câu
đ Lỗi dùng từ không phong cách.
Để làm tăng sức thuyết phục cho bài văn miêu tả, học sinh cần kết hợp sửdụng các hình ảnh liên tưởng, so sánh Bên cạnh những bài làm thiếu hình ảnh,nội dung lan man có rất nhiều bài văn có các hình ảnh liên tưởng được sử dụng.Tuy nhiên, hình ảnh các em sử dụng khập khiễng, không phù hợp với nội dungcủa bài viết
e Lỗi dùng từ thiếu hình ảnh, cảm xúc.
Đa phần học sinh thường chưa tự rèn luyện được các kĩ năng quan sát thực
tế, lối hành văn thông minh, cũng như vốn từ ngữ còn nghèo nàn, không hiểunghĩa của từ, dùng từ sai nghĩa Do đó hiệu quả bài làm của các em thườngkhông cao Bởi vậy, trong quá trình học tập, các em cần tự rèn luyện thêm nhiều
kĩ năng qua sách báo cũng như các tài liệu tham khảo để không ngừng hoànthiện bản thân, hướng đến những thành tích cao hơn nữa trong học tập
2.2 2 Lỗi về đặt câu:
a Lỗi thiếu thành phần câu.
* Câu thiếu chủ ngữ: Qua dự giờ và trực tiếp giảng dạy, tôi nhận thấy những đề
bài đặt câu theo một chủ đề nào đó thì số học sinh đặt câu thiếu chủ ngữ hầu nhưkhông có
Ví dụ: Với yêu cầu: "Đặt 3 câu về lớp em" thì hầu hết học sinh đặt được
câu có chủ ngữ Nhưng với những đề bài đặt câu không cho trước chủ đề thì tỉ lệviết câu thiếu chủ ngữ có cao hơn đặc biệt trong viết đoạn văn ngắn Câu thiếuchủ ngữ xuất hiện nhiều bởi nhiều học sinh nhầm đối tượng
Trang 8Ví dụ: Có hoa và đậu rất nhiều quả.
* Câu thiếu vị ngữ: Đó là những câu chỉ có một cụm danh từ.
Nguyên nhân của loại lỗi này là học sinh không hiểu rằng chủ ngữ khôngthể đứng sau quan hệ từ, các danh từ chỉ thời gian như khi, lúc… cần phải có bộphận bổ sung nghĩa Mặt khác thường là bộ phận đứng sau quan hệ từ đượcphát triển dài khiến học sinh tưởng là nó có nội dung thông báo
Ví dụ: Đến ngày hoa phượng nở
Trong ba loại câu thiếu thành phần thì tỉ lệ học sinh mắc lỗi sai câu thiếuthành phần chủ ngữ, vị ngữ nhiều hơn câu mắc lỗi thiếu cả chủ ngữ, vị ngữ
b Lỗi thừa thành phần câu (lỗi diễn đạt rườm rà, dài dòng):
Là loại lỗi do câu có thành phần câu lặp lại một cách không cần thiết Đây là loại lỗi gặp phổ biến trong thực tế viết câu của học sinh hiện nay Loạilỗi này, khi học sinh kiểm tra lại rất khó nhận biết, nó làm cho đoạn văn các emviết rất lủng củng
Ví dụ: Trong nhà em có một người mà em rất yêu mến, đó là bà em rấtkính yêu
Nguyên nhân của loại lỗi này là do các em viết như nói nên câu văn khôngrành mạch, kỹ năng viết câu vào tình trạng kể lan man
- Lỗi câu khó xác định nội dung biểu đạt, không lôgic về ý:
Là những câu về cấu tạo khó xác định các bộ phận câu kết hợp với nhautheo quan hệ ngữ pháp nào, từ đó khó xác định thành phần câu.Loại câu này cóthể ngắn, có thể dài, càng dài, càng lỗi, càng lủng củng Về ý nghĩa mối quan hệgiữa các bộ phận câu cũng không rõ ràng, chính xác không lôgíc Do đó, các câutối nghĩa hoặc vô nghĩa Đây là loại lỗi thường gặp ở học sinh Hoàn thành, trongcác bài tập làm văn, ít gặp trong các bài tập đặt câu
Nguyên nhân của loại lỗi này khá phức tạp, trước hết là học sinh khôngchuẩn bị cho mình một nội dung cần nói nên không phân cách được trong tư duy
ra từng ý rạch ròi Các em viết gần như trong tình trạng vô thức, nhớ từ nào,cụm từ nào là viết ngay trong bài, không tìm cách tổ chức, sắp xếp các cụm từ
để biểu đạt nội dung Đây là loại lỗi rất khó chữa, nhiều lúc phải trao đổi trựctiếp với học sinh mới biết các em muốn diễn đạt điều gì để chữa lại cho đúng.Loại lỗi câu sai này chiếm tỷ lệ lớn trong các lỗi câu, có thể thống kê các lỗi câunày như sau:
c Câu không xác định được thành phần.
Ví dụ: Quýt có hoa có quả khi quả chín nó lại có màu da cam và quả to có
nhiều nước ăn ngọt lịm
Trang 9d Lỗi về trật tự câu
Rất nhiều học sinh mắc phải lỗi này do làm bài một cách tự phát, dàn trải,không đủ thời gian để đảm bảo bố cục 3 phần (Mở bài, thân bài, kết bài) cho bàiviết của mình Lỗi này xuất phát từ việc không lập dàn ý, xác định các ý chínhtrong bài để phân bổ thời gian hợp lí trong quá trình làm bài Nhiều học sinh cóbài làm rất dài (2 - 3 trang giấy) nhưng các ý chính thì gần như không có
e Lỗi về từ liên kết:
- Câu sai nghĩa là những câu chứa đựng nội dung không phù hợp với hiệnthực khách quan, phản ánh sai hiện thực khách quan
Ví dụ: Con mèo nhà em như cái cặp sách
- Câu không rõ nghĩa: Là câu thiếu thông tin Đó là những câu đúng về mặtcấu tạo ngữ pháp, nghĩa là có đầy đủ thành phần chính, đúng về quan niệm ngữnghĩa chung Nhưng thật sự câu kiểu này còn thiếu thành phần phụ bổ nghĩa chocác từ trong câu, nên nghĩa câu không đầy đủ gây hụt hẫng cho người đọc
Ví dụ: Mùa ổi xanh lá, em trèo cây
- Câu không có sự tương hợp về nghĩa giữa các thành phần câu, giữa các vếcâu Loại lỗi này chiếm số lượng rất lớn và đa dạng Có thể xem loại lỗi này làloại lỗi từ vựng - ngữ pháp
Ví dụ: Cây cối xanh mơn mởn xào xạc trước gió
- Câu có các vế câu không tương hợp
Ví dụ: Trồng ổi sẽ thu được rất nhiều lợi, những đường gân nổi rõ như con rắnvậy
- Câu có tác dụng quan hệ giữa các thành phần không lô gíc không tươnghợp là câu có các thành phần đồng chức không đồng loại
Ví dụ: Hàng ngày em chăm sóc cây và đi rửa ấm chén
Nguyên nhân là do học sinh không hiểu nghĩa từ và khả năng kết hợp củachúng
g Lỗi về dấu câu
Lỗi về dấu câu có thể chia làm 2 loại: Lỗi không dùng dấu câu và lỗi dùng dấu
câu sai
- Lỗi không dùng dấu câu:
Là lỗi câu sai do không dùng dấu câu ở những phần cần thiết, thường họcsinh mắc lỗi này do không sử dụng dấu chấm kết thúc câu và dấu phẩy ngăncách giữa các thành phần câu Có những bài viết các em không sử dụng một dấucâu nào Loại lỗi này là một lỗi phổ biến
Nguyên nhân của loại lỗi này là do học sinh đã vi phạm nguyên tắc sử dụngdấu câu Khi đã kết thúc một ý phải đặt dấu ngắt câu Việc không sử dụng dấucâu gây khó khăn trong giao tiếp khiến người đọc không thể nhanh chóng nắmđược nội dung các em cần truyền đạt thậm chí có những trường hợp không xácđịnh được ý muốn diễn tả
Ví dụ: Lớp em có bạn Trang là học sinh giỏi và cũng là người bạn của em
bạn còn là người con ngoan và hiếu thảo bạn và em đã giúp đỡ nhau trong lúckhó khăn bạn đã rất quý và tôn trọng em còn em cũng đối xử với bạn ấy nhưvậy
- Lỗi sử dụng dấu câu không đúng chức năng
Trang 10Là lỗi của những câu đã sử dụng dấu câu khi không cần thiết hoặc đáng lẽphải dùng dấu câu này, lại dùng dấu câu khác Biểu hiện của lỗi là học sinh dùngdấu chấm ngắt câu khi chưa đúng ý, dùng dấu phẩy ngăn cách các thành phầnchủ ngữ và vị ngữ, ngăn cách động từ với bổ ngữ, dùng dấu phẩy ngăn cách cácthành phần chủ ngữ và vị ngữ, ngăn cách động từ với bổ ngữ, dấu hai chấm ngăncách hai vế câu khi vế nọ không có ý giải thích cho vế kia Phổ biến nhất trongloại lỗi này là câu dùng dấu chấm tuỳ tiện khi chưa hiểu ý, cắt đôi câu ra mộtcách vô lý.
Ví dụ: Em thấy hoa đỏ, mùi thơm, em rất thích loại hoa này, nó có thể làm
đẹp khu vườn nhà em
Việc học sinh không sử dụng dấu câu hoặc sử dụng sai dấu câu là do chưabiết áp dụng dấu câu trong việc diễn đạt nội dung, chưa nắm được cách sử dụngchúng
2.3 Những giải pháp về sửa lỗi dùng từ, viết câu sai cho học sinh lớp 4, 5 trường Tiểu học Quảng Đại - Thành Phố Sầm Sơn
Chương trình học ở trường tiểu học, thời gian dành cho việc luyện tập làmvăn rất ít cách dùng từ học sinh rất ít (chỉ có 2 tiết) Hầu như học sinh chỉ kịptìm hiểu qua loa Các em chưa thực sự có thời gian nhiều cho việc vận dụngtrong thực tế ngôn từ Hơn nữa ý thức tự giác trong việc thực hành sử dụng từngữ ở các em chưa cao
Việc hạn chế đến mức thấp nhất lỗi dùng từ cho học sinh, khắc phục đượcnhững lỗi đã nêu ra là một công việc không dễ dàng Trong điều kiện chươngtrình dạy Tập làm văn ở trường Tiểu học, thời gian dành cho phần này quá ít, tôixin trình bày một vài kinh nghiệm nhỏ sau đây Nó được thực hiện ở trong giờtrả bài, các buổi thực hành tập làm văn của môn Tiếng việt Đồng thời có thểthực hiện ở mọi lúc, mọi nơi nếu có điều kiện
2.3.1.Biện pháp sửa lỗi vế cách dùng từ:
a Biện pháp sửa lỗi về nghĩa của từ.
Nội dung ý nghĩa là một bình diện của từ Nó là cái được biểu đạt của mỗitừ Do đó yêu cầu đầu tiên khi dùng từ trong bài văn miêu tả là phải dùng từ chođúng với ý nghĩa của từ Điều đó có nghĩa là từ được dùng phải biểu hiện đượcchính xác nội dung miêu tả cần thể hiện Đối với học sinh tiểu học, việc nắmnghĩa từ còn nhiều hạn chế, cho nên thường mắc lỗi dùng từ sai nghĩa trong bàivăn miêu tả Trong đó phổ biến nhất là lỗi thường xảy ra giữa các từ gần nghĩahoặc có yếu tố cấu tạo chung Tuy có phần giống nhau về nghĩa của các từ đónhưng các từ đó vẫn có sự khác nhau và cần sử dụng khác nhau
Trong khi nói viết các em không chỉ nhớ chính xác hình thức ngữ âm từmình dùng Thường thì các em chỉ nhớ "mang máng" từ này phát âm như thếnày, như thế kia sau đó các em dùng không cần cân nhắc có trường hợp do vốntừ nghèo nàn các em không tìm được từ nào thay thế từ mình dùng mặc dù cũngthấy là từ đó chưa chính xác, sai âm Để khắc phục tình trạng này tôi nhắc nhởhọc sinh cần cân nhắc kĩ lưỡng khi dùng từ ngữ trong khi nói viết
Để làm được điều này đòi hỏi các em phải tự trau dồi vốn ngôn ngữ củamình
Trang 11- Cần có thói quen tự giải thích ý nghĩa của những từ ngữ mà mình nhớmang máng.
Ví dụ 1: Dáng người của anh bộ đội khá cao ráo.
Ví dụ 2: Trên bàn mẹ em đặt một lọ hoa tươi làm cho căn phòng càng thêm
linh động.
Ví dụ 3: Lá cúc màu xanh sẫm, to bằng cả bàn tay em, mọc lẫn lộn trên
thân cây
Ví dụ 4: Cô giáo em là một người phụ nữ dịu dàng, nết na.
Các câu văn trên đều mắc lỗi dùng từ sai nghĩa Để chữa lỗi này cần phảithay thế những từ ngữ dùng sai đó bằng các từ ngữ có khả năng thể hiện chínhxác nội dung, ý nghĩa mà người viết muốn diễn đạt
Ở ví dụ 1, từ dùng Si về nghĩa là từ cao ráo , bởi cao roá có nghĩa là cao và
khô, không bị ẩm thấp Do đó từ này chỉ dùng cho địa điểm và nơi chốn (hoặcnếu có dùng trong tả người cũng chỉ dùng trong khẩu ngữ - ngôn ngữ giao tiếp
hằng ngày) Để miêu tả hình dáng anh bộ đội thì nên thay bằng từ cao lớn.
Tương tự như vậy ở ví dụ 2, từ linh động có nghĩa là ở trạng thái động, có
sự chuyển biến khéo léo tuuỳ theo tình thế, với ý nghĩa câu văn miêu tả căn
phòng có sức sống với nhiều dạng vẻ khác nhau thì cần thay từ linh động bằng từ sinh động
Ở ví dụ 3, người viết muốn miêu tả lá cúc mọc trên thân cây không thẳng
hàng, không cùng một chỗ thì phải dùng từ so le mới chính xác, không thể dùng từ lẫn lộn vì lẫn lộn có nghĩa là trộn lẫn vào nhau không còn phân biệt được
nữa
Ở ví dụ 4, học sinh dùng từ nết na để miêu tả cô giáo là không tích hợp bởi
từ này chỉ dùng để miêu tả, nhận xét người bằng vai hoặc thấp vai hơn người
viết Vì thế cần cần thay bằng từ khác hợp lí hơn, chẳng hạn từ nhân ái
b Biện pháp sửa lỗi về kết hợp từ:
Các từ khi được dùng trong câu văn, trong bài văn miêu tả, luôn luôn cómối quan hệ về ngữ nghĩa và ngữ pháp Chúng nằm trong các mối quan hệ vớinhững từ đi trước và những từ đi sau Vì thế, do không nắm chắc được nghĩahoặc không chú ý về mối quan hệ ý nghĩa và ngữ pháp giữa ccs từ được dùngtrong câu nên học sinh đã kết hợp từ không đảm bảo sự tương hợp với nhau,không “ăn khớp” với nhau
Ví dụ 1: Mỗi khi ba tiếng trống đổ hồi đều đặn, chúng em lại nhanh chân
xếp hàng vào lớp
Ví dụ 2: Cô có hàm răng trắng thẳng tắp
Ví dụ 3: Linh là lớp trưởng nhưng bạn rất gương mẫu.
Ở ví dụ 1 không thể dùng từ đổ hồi để miêu tả ba tiếng trống vì nghĩa của chúng không tương hợp với nhau Hồi là nhiều âm thanh kế tiếp nhau trong một thời gian nhất định Chỉ có ba tiếng trống thì không thành hồi được Vì thế cần thay từ đổ hồi bằng từ ngữ khác ví dụ từ vang lên,
Ở ví dụ 2, thẳng tắp ( nghĩa là thảng thành một đường dài) dùng để miêu tả hàm răng là không hợp lí, nên thay từ này bằng từ đều đặn.
Ở ví dụ 3, mắc lỗi sử dụng sai quan hệ từ để thể hiện mối quan hệ giữa các
vế câu Có thể chữa lỗi ở ví dụ này bằng cách thay thế quan hệ từ nhưng bằng