Ý nghĩa gắn liền với ngữ cảnh.Muốnđọc hiểu văn bản văn học – khâu quan trọng nhất trong hoạt động đọc thì phảihiểu rằng mọi yếu tố của văn bản đều có nghĩa, các yếu tố đó lại kết thành h
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẢNG XƯƠNG
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
HƯỚNG DẪN HỌC SINH RÈN KIẾN THỨC, LUYỆN
KỸ NĂNG LÀM PHẦN ĐỌC HIỂU MÔN NGỮ VĂN
Trang 2THANH HÓA, NĂM 2019
Trang 3Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm.
Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
45 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 5 2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh
nghiệm
7
2.3 Các giải pháp cụ thể 72.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 16
1 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài
Trang 4Môn Ngữ Văn trong nhà trường đã có truyền thống lâu đời, đã tích lũyđược nhiều kinh nghiệm và có nhiều thành tựu Tuy nhiên trong bối cảnh đổimới nội dung và phương pháp dạy học hiện nay vẫn còn nhiều vấn đề cần đượclàm sáng tỏ và có sự đột phá thật sự Một trong những vấn đề đó là nội dung dạyvăn và phương pháp dạy đọc văn Đọc là tìm ra ý nghĩa trong một thông điệpđược tổ chức bằng một hệ thống ký hiệu Nhưng ý nghĩa là cả một vấn đề rấtkhó của khoa học nhân văn hiện đại Người ta phân biệt nghĩa và ý nghĩa Nghĩa
là quan hệ văn bản với cái mà nó biểu đạt, còn ý nghĩa là quan hệ văn bản vớingười tiếp nhận Người đọc trước hết phải hiểu nghĩa ròi mới phát hiện ra ýnghĩa của văn bản Nghĩa của văn bản văn học khác với văn bản phi văn học.Viện sĩ G V Stêpanov trong bài đặc trưng của văn bản nghệ thuật đã
viết: "Nghĩa trong văn bản văn học là một thực tại đã được cải tạo một cách đặc thù gắn liền với chính văn bản ấy, chứ không gắn với cái gì khác Văn bản nghệ thuật truyền đạt được bằng các lời phát ngôn tương đồng Nghĩa của nghệ thuật không thể được miêu tả bằng "quan niệm ngữ nghĩa" độc lập với cách diễn đạt bằng ngôn từ này Đổi thay cách diễn đạt có nghĩa là kéo theo sự phá vỡ nghĩa của nó hoặc là tạo ra nghĩa mới" (Ngôn ngữ – Văn học – Thi pháp học, NXB
Khoa học, M., 1988, trang 149, tiếng Nga) Ý nghĩa gắn liền với ngữ cảnh.Muốnđọc hiểu văn bản văn học – khâu quan trọng nhất trong hoạt động đọc thì phảihiểu rằng mọi yếu tố của văn bản đều có nghĩa, các yếu tố đó lại kết thành hệthống, và cái nghĩa có sức thuyết phục nhất là phù hợp, không mâu thuẫn với bất
cứ yếu tố biểu hiện nào Chỉ nắm lấy một vài yếu tố, bỏ qua, không đếm xỉa tới các yếu tố khác được người xưa coi là suy diễn hay cắt xén ("đoạn chương thủ nghĩa" , "xuyên tạc phụ hội") một căn bệnh thường gặp nhan nhản trong các bài phê bình, giảng văn xưa nay Phải tôn trọng các quy tắc đọc thì mới tạo thành thói quen đọc có có văn hóa, đáng tin cậy.
Tháng 10/2013, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
XI đã thông qua Nghị quyết 29 – NQ/TW về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” Xác định
được nhiệm vụ quan trọng đó nên những năm qua Bộ giáo dục đã không ngừng đưa ra những giải pháp mang tính cải tiến như: chuẩn bị đổi mới chương trình giáo khoa, đổi mới kiểm tra đánh giá, đổi mới phương pháp dạy học… Những
thay đổi đó nhằm phát triển năng lực người học, góp phần nâng cao chất lượng
giáo dục, đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế của đất nước
Năm học 2018-2019, do có sự đổi mới về phương án tổ chức tuyển sinh
vào lớp 10 THPT và THPT chuyên Lam Sơn, Sở Giáo dục và Đào tạo đã đưa ra
Trang 5thông báo về cấu trúc đề thi tuyển sinh lớp 10 THPT và THPT chuyên Lam Sơn. Môn Ngữ văn chung ( dành cho thi tuyển sinh lớp 10 THPT và THPT
chuyên Lam Sơn) yêu cầu như sau :
1 Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian giao đề
2 Cấu trúc đề thi: tổng 10,0 điểm
PHẦN I: ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
– Ngữ liệu mở ngoài chương trình và sách giáo khoa
– Thực hiện trả lời yêu cầu 4 câu hỏi dựa trên chuẩn kiến thức và kĩ năng hiệnhành, mức độ từ dễ đến khó Phần trả lời ngắn yêu cầu viết từ 7-10 câu
Câu 1 (2,0 điểm): Nghị luận xã hội
Căn cứ ngữ liệu mở của phần Đọc hiểu, yêu cầu viết 1 đoạn văn 200 chữ (khoảng từ 20-25 dòng tờ giấy thi)
Câu 2 (5,0 điểm): Nghị luận văn học
Vận dụng khả năng đọc – hiểu và kiến thức văn học để viết bài nghị luậnvăn học (Văn học Việt Nam, Văn học địa phương) Trọng tâm chương trình lớp9
* Đề thi gồm 4 mức độ yêu cầu theo tỉ lệ sau: Nhận biết và Thông hiểu 50%;
Vận dụng và Vận dụng cao: 50%
Như vậy, đề thi tập trung đánh giá hai kỹ năng quan trọng: kĩ năng đọc hiểu
văn bản và kĩ năng tạo lập văn bản trong đó tỷ lệ điểm của phần viết nhiều hơn
phần Đọc hiểu Đây là xu hướng đổi mới kiểm tra đánh giá sự ghi nhớ những kiến thức của học sinh chuyển sang kiểm tra đánh giá năng lực đọc hiểu của
học sinh Có thể nói đây là sự đổi mới tích cực trong cách ra đề Ngữ văn theođịnh hướng mới Nếu dạng câu hỏi tái hiện kiến thức chỉ có thể kiểm tra học
sinh ở mức nhận biết, thông hiểu để xem học sinh có nắm được những kiến
thức văn học đã được dạy trong chương trình hay không thì dạng câu hỏi Đọc
hiểu đã nâng cao hơn một mức nữa là vận dung thấp, vận dụng cao Đặc biệt,
kiểm tra, phát triển được năng lực tự cảm nhận một văn bản bất kì Như vậy cóthể thấy, bên cạnh việc ôn tập, rèn kỹ năng viết phần tự luận thì việc ôn tập vàrèn kỹ năng làm dạng câu hỏi đọc hiểu là điều cần thiết phải trang bị cho học
sinh
1.2 Mục đích nghiên cứu
Đưa ra đề tài này, thông qua việc hướng dẫn các em học sinh ôn luyệnkiến thức lý thuyết, lưu ý cách làm bài, luyện tập các dạng đề Đọc hiểu, tôimuốn nâng cao chất lượng làm dạng câu hỏi Đọc hiểu của học sinh THCS nóichung, học sinh trường THCS Nguyễn Du nói riêng, nhất là các em học sinh lớp
9 chuẩn bị bước vào kì thi tuyển sinh THPT Vì thế khi nghiên cứu và thực hiện
đề tài này tôi đã hướng tới các mục đích cụ thể sau:
– Nắm vững những kiến thức lý thuyết liên quan đến câu hỏi Đọc hiểu
– Nhận diện, phân loại các loại câu hỏi Đọc hiểu theo phạm vi kiến thức
– Hiểu được phương pháp, cách thức làm dạng câu hỏi này đạt kết quả cao
Trang 6– Luyện tập một số đề Đọc hiểu để rèn kĩ năng làm bài
– Góp phần nâng cao chất lượng bộ môn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn
– Đề tài này cũng có thể coi tài liệu để các giáo viên tham khảo khi dạy các tiết
ôn tập, ôn thi tuyển sinh THPT
1.3.Đối tượng nghiên cứu
Học sinh trung học cơ sở, học sinh lớp 9 chuẩn bị thi tuyển sinh THPT mônNgữ văn Ôn luyện dạng đề này tôi đã chọn lớp 9 A2 năm học 2018-2019 làmđối tượng nghiên cứu
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Sáng kiến đã sử dụng các phương pháp sau:
– Phương pháp thống kê
– Phương pháp phân tích, tổng hợp
– Phương pháp so sánh
– Phương pháp điều tra
1.5 Những điểm mới của sáng kiến:
Trong văn học thực tế dạng câu hỏi Đọc hiểu rất phong phú, đa dạng Lý
thuyết đọc - hiểu nằm ở diện rộng, rải rác trong chương trình học ngữ vănTHCS (lớp 6,7,8,9) Ngữ liệu có thể nằm trong chương trình sách giáo khoa và
cả ngoài sách giáo khoa Phạm vi kiến thức rất rộng làm cho cả người dạy lẫnngười học hoang mang vì từ trước tới nay chưa có một tài liệu chính qui nàohướng dẫn kỹ năng làm phần thi này Chọn đề tài này để nghiên cứu, có thể tôi
sẽ góp phần nhỏ kinh nghiệm của mình giúp tháo gỡ phần nào khó khăn trên.Thời gian bắt đầu tìm hiểu, nghiên cứu đề tài này đã diễn ra từ tháng 9 năm
2018 đến tháng 4 năm 2019 qua quá trình dạy chuyên đề, ôn thi đội tuyển họcsinh giỏi cấp tỉnh, ôn thi tuyển sinh lớp 10 THPT
2 NỘI DUNG 2.1 Cở sở khoa học của đề tài:
Trang 72.1.1 Quan niệm về Đọc hiểu
Đọc hiểu là hoạt động cơ bản của con người để chiếm lĩnh văn hóa Khái
niệm Đọc hiểu có nội hàm khoa học phong phú có nhiều cấp độ gắn liền với lí luận dạy học văn, lí thuyết tiếp nhận tâm lí học nghệ thuật, lí thuyết giao tiếp thi
pháp học, tường giải học văn bản học Đọc là một hoạt động của con người,
dùng mắt để nhận biết các kí hiệu và chữ viết, dùng trí óc để tư duy và lưu giữ những nội dung mà mình đã đọc và sử dụng bộ máy phát âm phát ra âm thanh
nhằm truyền đạt đến người nghe Hiểu là phát hiện và nắm vững mối liên hệ của
sự vật, hiện tượng, đối tượng nào đó và ý nghĩa của mối quan hệ đó Hiểu còn là
sự bao quát hết nội dung và có thể vận dụng vào đời sống Hiểu là phải trả lời
được các câu hỏi là cái gì, như thế nào, tại sao?
Đọc hiểu là đọc kết hợp với sự hình thành năng lực giải thích, phân tích,khái quát, biện luận đúng- sai về logic, nghĩa là kết hợp với năng lực, tư duy vàbiểu đạt Mục đích trong tác phẩm văn chương, Đọc hiểu là phải thấy được:+ Nội dung của văn bản
+ Mối quan hệ ý nghĩa của văn bản do tác giả tổ chức và xây dựng
+ Ý đồ, mục đích
+ Tư tưởng của tác giả gửi gắm trong tác phẩm
+ Giá trị đặc sắc của các yếu tố nghệ thuật
+ Ý nghĩa của từ ngữ được dùng trong cấu trúc văn bản
+ Thể lọai của văn bản, hình tượng nghệ thuật…
Từ trước đến nay, trong dạy học văn, người ta thường dùng thuật ngữ
là giảng văn, phân tích, bình giảng văn…song từ khi thay sách đã thay bằng thuật ngữ Đọc hiểu văn bản Đây không chỉ là sự thay đổi về tên gọi mà thực
chất là sự thay đổi thay đổi quan niệm về bản chất của môn văn, cả về phươngpháp dạy học văn và các hoạt động khi tiếp nhận tác phẩm văn học cũng có
những thay đổi Theo Giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Thanh Hùng “Đọc hiểu là một
khái niệm khoa học chỉ mức độ cao nhất của hoạt động đọc; đọc hiểu đồng thời cũng chỉ năng lực văn của người đọc”.“Đọc hiểu là hoạt động truy tìm và giải
mã ý nghĩa văn bản” Còn với Giáo sư Trần Đình Sử “Đọc hiểu văn bản như một khâu đột phá trong việc đổi mới dạy học và thi môn Ngữ văn, là yêu cầu bức thiết đối với việc đào tạo nguồn nhân lực mới cho đất nước tiến theo các nước tiên tiến” Phó giáo sư, tiến sỹ Nguyễn Thị Hạnh, dựa trên cơ sở ngôn ngữ
học lại khẳng định : “ Đọc hiểu là một hoạt động giao tiếp ở đó người đọc lĩnh
hội lời nói đã được viết thành văn bản nhằm làm thay đổi những hiểu biết, tình cảm hoặc hành vi của chính mình, đọc hiểu là hoạt động đọc cho mình”
Như vậy, Đọc hiểu là hoạt động đọc và giải mã các tầng ý nghĩa của
văn bản thông qua khả năng tiếp nhận của học sinh Đọc hiểu là tiếp xúc với vănbản, hiểu được nghĩa tường minh, nghĩa hàm ẩn, các biện pháp nghệ thuật,thông hiểu các thông điệp tư tưởng, tình cảm của người viết và giá trị tự thâncủa hình tượng nghệ thuật Với quan điểm phát huy vai trò chủ thể của học sinh,xuất phát từ đặc thù của văn chương mà vấn đề Đọc hiểu văn bản ngày càngđược quan tâm
Trang 82.1.2 Văn bản Đọc hiểu
Trong chương trình Ngữ văn của Việt Nam nêu hai loại văn bản để dạy
Đọc hiểu, đó là: Văn bản văn học và văn bản nhật dụng Trong đó các văn bản
được xếp theo tiến trình lịch sử hoặc theo thể loại Các văn bản văn học đa dạng hơn các văn bản nhật dụng Hai loại văn bản này cũng chính là các ngữ liệu để học sinh khai thác Thực tế cho thấy văn bản Đọc hiểu nói chung và văn bản Đọc hiểu trong nhà trường nói riêng rất đa dạng và phong phú Có bao nhiêu loại văn bản trong cuộc sống thì có bấy nhiêu loại được dạy trong nhà trường Điều đó cũng có nghĩa là văn bản Đọc hiểu trong các đề thi rất rộng Đề thi có thể là văn bản các em đã được tiếp cận, đã được học, hoặc cũng có thể là văn bản hoàn toàn xa lạ
2.1.3 Vấn đề Đọc hiểu môn Ngữ văn trong nhà trường THCS
Nhằm phát huy khả năng chủ động tiếp cận văn bản theo hướng pháttriển năng lực của học sinh, từ năm học 2018- 2019, Sở Giáo dục và Đào tạoThanh Hóa chính thức đưa câu hỏi Đọc hiểu vào đề thi tuyển sinh lớp 10 THPT.Khi có quyết định chính thức, nhiều học sinh cũng như các thầy cô tỏ ra lúngtúng vì cho rằng đây là vấn đề hoàn toàn mới mẻ Nhưng thực chất bản chất củavấn đề không hoàn toàn mới Vì hoạt động đọc hiểu vẫn diễn ra thường xuyêntrong các phần dạy học văn bản Các thầy cô vẫn thường cho học sinh tiếp cậnvăn bản bằng cách đọc ngữ liệu, sau đó đặt câu hỏi để học sinh trả lời, nghĩa làđang diễn ra hoạt động đọc hiểu Tuy nhiên giữa hoạt động đọc hiểu và dạng câuhỏi đọc hiểu có nét tương đồng và khác biệt Nét tương đồng là phương thức tiếp
cận văn bản là giống nhau: bắt đầu từ đọc rồi đến hiểu Còn nét khác biệt là Đọc
hiểu trong dạy học văn nói chung là hoạt động trên lớp có sự định hướng củangười thầy, còn câu hỏi Đọc hiểu trong đề thi là hoạt động độc lập, sáng tạo củahọc sinh, nhằm đánh giá năng lực người học Hơn nữa những kiến thức trongdạng câu hỏi Đọc hiểu rất phong phú, học sinh phải biết huy động những hiểubiết đã học ở các lớp dưới để trả lời câu hỏi Như vậy hoạt động đọc hiểu vẫnthường xuyên diễn ra trong môn Ngữ văn ở các nhà trường
Đọc hiểu là quá trình thâm nhập vào văn bản với thái độ tích cực, chủ động.Đây là một năng lực cần thiết mà người học nói chung và học sinh THCS cầnquan tâm Nếu chúng ta không có trình độ năng lực đọc thì không thể hiểu đúng,đánh giá đúng văn bản Không nắm vững, đánh giá được văn bản thì không thểtiếp thu, bồi đắp được tri thức và cũng không có cơ sở để sáng tạo Vì thế vấn đềĐọc hiểu môn ngữ văn trong nhà trường là rất cần thiết
Hiện nay Đọc hiểu văn học trong nhà trường THCS thường hướng tới cácvấn đề cụ thể sau:
– Nhận biết đúng, chính xác về văn bản :
Ở mức độ này, đề thường yêu cầu chỉ ra văn bản thuộc phương thức biểu đạt
gì, thuộc đề tài nào, thể loại văn bản, thao tác lập luận nào …
– Thông hiểu, đánh giá đúng văn bản
+ Cảm nhận được những đặc sắc, nổi bật của văn bản: từ ngữ, hình ảnh,chi tiếtquan trọng, đặc sắc, các biện pháp tu từ…
Trang 9+ Hiểu được ý nghĩa hàm ẩn của văn bản, đánh giá được nội dung, ý nghĩa củavăn bản bằng kiến thức, kinh nghiệm của mình.
-Vận dụng thấp :
+Đề thường có nhiều cách hỏi từ chủ đề cảu văn bản, thí sinh trình bày ý kiếnbản thân liên quan đến chủ đề đó hoặc đưa thêm những ý kiến riêng ngoài quanđiểm ý kiến của tác giả
+ Liên hệ mở rộng một vấn đề nào đó từ văn bản bằng suy nghĩ, ý kiến của mình+ Vận dụng văn bản để trình bày phương hướng, biện pháp giải quyết một vấn
đề cụ thể của cuộc sống, của xã hội
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Ngay từ khi Sở GD&ĐT thông báo và hướng dẫn các trường THCS thựchiện đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá trong kì thi tuyển sinh lớp 10THPT năm học 2018-2019, vấn đề Đọc hiểu thu hút sự chú ý của rất nhiều cácthầy cô và học sinh, nhất là học sinh lớp 9 Tuy nhiên , đến thời điểm hiện naychưa có sách nghiên cứu riêng phần Đọc hiểu một cách bài bản những kiến thức
lý thuyết, bài tập thường gặp trong đề Đọc hiểu và cũng chưa phân loại quy củ,chi tiết, hệ thống kiến thức để học sinh dễ ôn tập Chính vì thế đề tài sáng kiến
kinh nghiệm: Hướng dẫn học sinh rèn kiến thức , luyện kỹ năng làm phần
Đọc hiểu trong đề thi tuyển sinh THPT môn Ngữ văn vẫn là một đề tài mới, có
tính ứng dụng cao
2.3 Các giải pháp cụ thể:
Thực trạng đề thi có dạng câu hỏi Đọc hiểu xuất hiện phong phú như vậynhưng trong chương trình sách giáo khoa môn Ngữ văn của trung học cơ sở lạikhông có một kiểu bài dạy riêng để hướng dẫn cho thầy cô giáo cũng như các
em học sinh nắm được phương pháp làm dạng đề này một cách hiệu quả nhất.Chính vì vậy mà như đã trình bày ở phần lí do chọn đề tài, nhiều giáo viên tỏ rarất lúng túng, băn khoăn về cung cấp kiến thức lý thuyết như nào, rèn luyện kĩnăng ra sao để các em tự làm tốt được phần đọc hiểu trong bài thi Đứng trướcthực trạng đó, bằng kinh nghiệm của bản thân đang trực tiếp ôn thi tuyển sinhlớp 10 THPT, qua những năm dạy đội tuyển học sinh giỏi, dạy chuyên đề cũngnhư trao đổi với đồng nghiệp, tôi đề xuất cách hướng dẫn học sinh thi tuyển sinhlớp 10 THPT dạng câu hỏi Đọc hiểu theo hướng sau:
2.3.1 Ôn luyện lý thuyết Đọc hiểu: Giáo viên nghiên cứu tài liệu và hướng dẫn
cho học sinh nắm bắt được những dạng kiến thức lý thuyết liên quan đến câu hỏiĐọc hiểu trong đề thi Bao gồm các dạng như:
– Các phương thức biểu đạt
– Các thao tác lập luận
– Các biện pháp tu từ
– Các phép liên kết
– Phân biệt các thể thơ
– Xác định nội dung, chi tiết, hình ảnh chính trong văn bản (nhan đề, chủ đề, chitiết, hình ảnh đặc sắc)
Trang 10– Viết một đoạn văn ngắn trình bày quan điểm của cá nhân về một vấn đề củacuộc sống có liên quan đến văn bản.
2.3.2 Một số lưu ý về phương pháp làm Đọc hiểu
Sau khi đưa ra yêu cầu dạng đề, tôi lưu ý cho học sinh về phương pháp làmbài như cách trình bày, kĩ năng nhận diện các loại câu hỏi, cách trả lời…
2.3.3 Bài tập rèn kĩ năng Đọc hiểu
Sau khi giáo viên ôn tập, hướng dẫn học sinh nắm chắc lý thuyết, tôi cung cấpcho các em học sinh các đề Đọc hiểu thuộc văn bản nhật dụng và văn bản vănhọc Phần này tôi đưa 5 đề với các loại câu hỏi thường gặp trong đề thi để học
sinh luyện tập, rèn kĩ năng làm bài Các câu hỏi thể hiện ở các mức: nhận biết,
thông hiểu, vận dụng Sau mỗi đề có đáp án để các em đối chiếu, giáo viên sửa
bài cho học sinh
2.3.4 Ôn luyện kiến thức lý thuyết Đọc hiểu
Đây là một bước không mấy dễ dàng đối với những giáo viên ôn thi lớp 10THPT Vì phần kiến thức lý thuyết liên quan đến dạng câu hỏi Đọc – hiểu này khá rộng, kiến thức không quy tụ thành một bài, hay ở một khối lớp nào mà kiến thức đó nằm rải rác từ lớp 6 cho đến lớp 9 Vì vậy giáo viên mất nhiều thời gian thu thập, thanh lọc, xử lý kiến thức, chia thành các mảng, với các chủ đề cụ thể cùng các ví dụ tương ứng để hướng dẫn học sinh
Tháo gỡ khó khăn trên tôi đã nghiên cứu và phân loại kiên thức lý thuyết
có liên quan đến dạng câu hỏi Đọc hiểu để ôn tập cho học sinh Đặc biệt ở
những phần kiến thức lý thuyết dễ nhầm lẫn tôi kẻ thành bảng kiến thức trọng tâm nhằm giúp các em học sinh nhận diện đúng từng thể loại, dễ dàng khắc sâu kiến thức Sau mỗi phần lý thuyết đều có ví dụ minh họa để học sinh củng cố, kiểm chứng lại lý thuyết Cụ thể như sau:
- Các phương thức biểu đạt
Ở phần lý thuyết về phương thức biểu đạt giáo viên cung cấp cho học sinh kiến thức lý thuyết về 6 phương thức thường xuất hiện trong văn bản Chú ý đếncác đặc điểm để nhận diện các phương thức Lưu ý cho học sinh: trong một văn bản thường xuất hiện nhiều phương thức như tự sự và miêu tả, thuyết minh và biểu cảm… song sẽ có một phương phương thức nổi bật Tôi cung cấp bảng lý thuyết để học sinh dễ so sánh, nhận diện tiếp thu kiến thức
Phương
thức Đặc điểm nhận diện Thể loại
Tự sự
Trình bày các sự việc (sự kiện)
có quan hệ nhân quả dẫn đến kếtquả (diễn biến sự việc)
– Bản tin báo chí– Bản tường thuật, tườngtrình
– Tác phẩm văn học nghệthuật (truyện, tiểu thuyết)
Miêu tả Tái hiện các tính chất, thuộc
tính sự vật, hiện tượng, giúp con
– Văn tả cảnh, tả người,vật…
Trang 11người cảm nhận và hiểu đượcchúng.
– Đoạn văn miêu tả trong tácphẩm tự sự
Biểu
cảm
Bày tỏ trực tiếp hoặc gián tiếptình cảm, cảm xúc của conngười trước những vấn đề tựnhiên, xã hội, sự vật…
– Điện mừng, thăm hỏi, chiabuồn
– Tác phẩm văn học: thơ trữtình, tùy bút
Thuyết
minh
Trình bày thuộc tính, cấu tạo,nguyên nhân, kết quả có íchhoặc có hại của sự vật hiệntượng, để người đọc có tri thức
và có thái độ đúng đắn vớichúng
– Thuyết minh sản phẩm– Giới thiệu di tích, thắngcảnh, nhân vật– Trình bày tri thức vàphương pháp trong khoa học
Nghị
luận
Trình bày ý kiến đánhgiá, bànluận, trình bày tư tưởng, chủtrương quan điểm của con ngườiđối với tự nhiên, xã hội, qua cácluận điểm, luận cứ và lập luậnthuyết phục
– Cáo, hịch, chiếu, biểu.– Xã luận, bình luận, lời kêugọi
– Sách lí luận.– Tranh luận về một vấn đềtrính trị, xã hội, văn hóa
lý thuyết cho học sinh để các em phân biệt được các thao tác trong một văn bản
Để học sinh dễ nắm bắt kiến thức tôi đã kẻ thành bảng kiến thức và sau bảngkiến thức là bài tập minh họa
Phân tích là chia tách đối tượng, sự vật hiện tượng thànhnhiều bộ phận, yếu tố nhỏ để đi sâu xem xét kĩ lưỡng nộidung và mối liên hệ bên trong của đối tượng