Vớikhả năng của các em, trong chương trình, đề văn mới dừng ở viết đoạn kể, tả hoặcđiền vào văn bản theo mẫu in sẵn nhưng học sinh vẫn chưa có kĩ năng điền thôngtin; đoạn văn hình thức c
Trang 12 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
3
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để rèn kỹ năng viết đoạn văn 7
1 Mở đầu
Trang 21.1 Lí do chọn đề tài.
Ở bậc Tiểu học, trong nhiều môn các em được học, Tiếng Việt là môn khoahọc có vai trò quan trọng Đây là môn học chiếm nhiều tiết học nhất trong một tuần(8 tiết/tuần) Môn Tiếng Việt ở Tiểu học được chia thành nhiều phân môn, mỗiphân môn có mục đích và nhiệm vụ riêng, song đều tập trung phát triển bốn kĩnăng: nghe, đọc, nói, viết cho học sinh thông qua hoạt động giao tiếp Trong mônTiếng Việt, phân môn Tập làm văn là phân môn thực hành tổng hợp, vận dụng cáctri thức, kĩ năng của nhiều phân môn khác Đây là môn học có vị trí quan trọngtrong việc xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa Thông qua phân môn này,học sinh không những được rèn luyện bốn kỹ năng Tiếng Việt nói chung mà cònđược bồi đắp tư tưởng, tình cảm, biết yêu cái đẹp, ghét cái xấu xa, giả dối, sống cólòng nhân ái, đoàn kết, yêu thương, có tinh thần trách nhiệm…Hơn nữa, với khảnăng nhận thức và hiểu biết còn non nớt của học sinh Tiểu học, phân môn này còngóp phần quan trọng trong việc hoàn thiện và nâng cao các kĩ năng sử dụng TiếngViệt cho các em
Khi làm Tập làm văn, học sinh phải huy động tổng hợp kiến thức Tiếng Việt
để viết đúng chính tả, dùng từ chính xác, đặt câu đúng ngữ pháp, và diễn đạt mạchlạc nhằm đạt yêu cầu của từng kiểu bài Không những thế, các em còn phải huyđộng năng lực quan sát, trí nhớ, vốn sống và khả năng tư duy của mình để làmđược một bài văn đạt hiệu quả Dạy Tập làm văn là dạy cho học sinh thực hànhnói, viết, tức là tạo cho các em khả năng tạo lập văn bản, giúp các em có khả năngthực hành giao tiếp Vì vậy, việc rèn kĩ năng làm văn cho học sinh là rất quantrọng
Năm học 2018 – 2019, tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm lớp 3D Vốn
là một giáo viên Toán bậc THCS được cấp trên điều động, thuyên chuyển về dạyTiểu học, trong thời gian đầu, tuy còn nhiều bỡ ngỡ, nhưng bằng lòng yêu nghề,yêu trẻ, bản thân tôi đã kịp thời nắm bắt chương trình, học hỏi phương pháp dạyhọc từ đồng nghiệp để giảng dạy học sinh hiệu quả Tuy thời gian làm quen vớichương trình Tiểu học chưa nhiều, nhưng qua thời gian công tác gần hai năm, tôinhận thấy học sinh lớp 3 tôi chủ nhiệm nhiều em còn lúng túng khi làm văn Vớikhả năng của các em, trong chương trình, đề văn mới dừng ở viết đoạn kể, tả hoặcđiền vào văn bản theo mẫu in sẵn nhưng học sinh vẫn chưa có kĩ năng điền thôngtin; đoạn văn hình thức chưa đạt, lỗi chính tả, lỗi câu nhiều; nội dung chưa đảmbảo, thiếu logic… Với các em, viết Văn đúng đã khó chứ chưa nói đến viết hay.Xuất phát từ thực tế giảng dạy môn Tiếng Việt nói chung mà đặc biệt là phânmôn Tập làm văn lớp 3 nói riêng, bản thân tôi không khỏi băn khoăn, trăn trở, tìmcách tháo gỡ những vướng mắc trong làm văn cho các em Qua giảng dạy các kiểu
bài, nghiên cứu, đúc rút kinh nghiệm, tôi mạnh dạn chia sẻ cùng đồng nghiệp “Một
số biện pháp trong rèn kĩ năng viết đoạn văn kể, tả ngắn cho học sinh lớp 3 “
1.2 Mục đích nghiên cứu.
Trang 3Khi thực hiện đề tài này, bản thân tôi mong muốn chia sẻ một kinh nghiệmnhỏ trong dạy kiểu viết đoạn văn kể, tả …cùng đồng nghiệp.
Giúp học sinh nắm được các kĩ năng làm văn, đặc biệt là văn miêu tả, kểchuyện Giúp các em biết vận dụng kiến thức tổng hợp từ phân môn Tiếng Việt
và kiến thức xã hội, vốn sống, tư duy… để thực hành làm văn hiệu quả
Rèn cho học sinh kĩ năng giao tiếp, thể hiện nhận thức, suy nghĩ của mìnhtrước thực tế
Xác định chính xác hơn trình độ, năng lực học tập môn Tiếng Việt của họcsinh nói chung, năng lực viết đoạn văn nói riêng
Tìm nguyên nhân và cách khắc phục những khó khăn, cản trở chất lượng họctập môn Tiếng Việt của học sinh, từ đó đưa ra những quyết định cho các giai đoạn
và hoạt động dạy - học tiếp theo: Điều chỉnh, hỗ trợ trên các phương tiện, nội dung,phương pháp, phương tiện dạy học…
1.3 Đối tượng nghiên cứu.
Tôi tập trung nghiên cứu biện pháp rèn kỹ năng viết đoạn văn kể,tả ngắn chohọc sinh lớp 3
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
Để thực hiện sáng kiến này, tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết: nghiên cứu các tài liệu líluận dạy học, tâm lí học và tài liệu khoa học có liên quan đến đề tài, đặc biệt lànghiên cứu kĩ nội dung chương trình Tập làm văn lớp 3, nhất là phần văn viết đoạn
kể, tả
Phương pháp điều tra khảo sát tình hình thực tế dạy và học Tập làm văn củagiáo viên và học sinh trường TH Quảng Phú;
Phương pháp so sánh, phân tích, thống kê, xử lí số liệu,…
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Ngay từ cuốn Giáo trình phương pháp giảng dạy của Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội viết năm 1963, các tác giả đã nhấn mạnh tính chất thực hành của phân mônTập làm văn Nhưng nói như cố giáo sư Tôn Thất Tùng: “Lời tuyên bố về lí thuyếtthì dễ nhưng thực thi nó thì khác đi” Một phần do chưa tinh thông lí thuyết trên cơ
sở những hiểu biết khoa học xác đáng, một phần là do tính chất phức tạp, mới mẻcủa công việc thực hành Dạy lí thuyết, nói lí thuyết thì hầu như không khó khăn,nhưng vận dụng lí thuyết vào thực tiễn thì bao giờ cũng là quá trình thử thách nỗlực và trình độ ứng dụng của người thực hành
Xét cả quá trình dạy môn Tiếng Việt trong nhà trường TH thì Tập đọc cónhiệm vụ cung cấp kiến thức văn học, đặc biệt là hình thành những kiến thức kháiquát về văn học; luyện từ và câu nhằm giúp học sinh có kĩ năng viết đúng chính tả,dùng từ chính xác, đặt câu đúng ngữ pháp…Việc rèn kĩ năng thông qua các phân
Trang 4môn đó dù sao cũng mang tính chất bộ phận Chỉ đến công đoạn làm văn, học sinhmới được thực hành tổng hợp, tổng hợp về kiến thức và tổng hợp về kĩ năng Vớilàm văn, kiến thức chung và kiến thức văn học của học sinh mới thực sự được củng
cố và phát triển lên một bước cơ bản về chất, kiến thức lẻ tẻ được hệ thống hóa,phạm trù hóa, kiến thức “chết” trở thành kiến thức “sống”, kiến thức tản mạn trởthành kiến thức định hướng, thao tác và kĩ năng văn học lẻ tẻ, bộ phận được huyđộng tổng lực qua quá trình làm văn Do đó, rèn kĩ năng làm văn cho học sinh nóichung và văn kể, tả ở lớp 3 nói riêng là quá trình thực hành thu nhận kiến thức, kĩnăng, kĩ xảo
Chương trình Tiếng Việt 3 nêu rõ chuẩn kiến thức, kĩ năng viết đoạn văn, vănbản bao gồm những nội dung sau:
- Viết đoạn văn kể và tả ngắn theo gợi ý
- Điền vào giấy tờ in sẵn; viết đơn, viết báo cáo ngắn theo mẫu; viết bức thưngắn, rình bày phong bì thư
- Chuẩn của kĩ năng viết đoạn văn, văn bản được quy định trong Chương trìnhlà:
- Biết viết đơn, viết tờ khai theo mẫu; biết viết thư ngắn để báo tin tức hoặchỏi thăm người thân
Viết được đoạn văn kể, tả đơn giản (6-8 câu) theo gợi ý
- Trong sách Tiếng Việt 3, nội dung rèn kĩ năng viết đoạn văn, văn bản với nộidung dạy học chủ yếu là:
- Viết văn bản đơn giản, thông thường để phục vụ học tập và đời sống hàngngày Nội dung này bao gồm các kiểu bài tập sau:
+ Điền vào giấy tờ in sẵn
+ Viết một số giấy tờ theo mẫu
+ Viết thư
+ Ghi chép sổ tay
- Viết đoạn văn kể, tả ngắn về người thân, gia đình, trường lớp, quê hương, lễhội, hoạt động thể thao – văn nghệ,…( Ví dụ: tiết 8 Tập làm văn –trang 68/sáchTiếng Việt 3 tập 1: Viết 5-7 câu kể về một người hàng xóm mà em qúy mến; tiết 22Tập làm văn –trang 38/ sách Tiếng Việt 3 tập 2: Viết một đoạn văn 5 đến 7 câu kể
về người lao động trí óc mà em biết, )
Trong những nội dung trên thì nội dung viết đoạn văn kể, tả ngắn là nội dung
mà tôi quan tâm, nghiên cứu Trong chương trình tập làm văn lớp 3 nội dung này
có các tiểu loại sau:
1 Kể, tả ngắn về người -Nói, viết về người lao động trí óc
-Nói, viết về gia đình
Trang 5-Nói, viết về bạn bè.
2 Kể, tả sơ lược về cảnh
vật
- Nói, viết về thành thị, nông thôn
- Nói, viết về cảnh đẹp đất nước
- Nói, viết về bảo vệ môi trường
Kiểu bài này yêu cầu học sinh phải vận dụng cả phương pháp kể và phươngpháp tả khi làm bài Muốn viết được đoạn văn hay, các em phải có kĩ năng quansát, liên tưởng, tưởng tượng, lựa chọn từ ngữ, vận dụng các phép so sánh, nhân hóa
đã học…Đây rõ ràng là điểm mới, điểm khó hơn hẳn so với kiến thức làm văn ở
lớp 2 Bởi vậy, khi làm kiểu bài này, nhiều học sinh còn lúng túng Trước yêu cầu
của bộ môn, là giáo viên chủ nhiệm lớp 3, trực tiếp giảng dạy môn Tiếng Việt, bảnthân tôi luôn trăn trở làm thế nào để rèn luyện được kĩ năng làm tốt bài văn kể, tảngắn cho học sinh lớp 3 cũng như làm thế nào để các em hứng thú, thích học TiếngViệt, say mê đọc, hiểu và nhất là thích viết lên những gì mình thấy, mình nghe,
mình cảm nhận…Chính bởi lí do đó, tôi thấy việc “rèn kĩ năng viết đoạn văn kể, tả ngắn cho học sinh lớp 3” là rất cần thiết Đó cũng chính là động lực để tôi nghiên
cứu và viết đề tài này
- Khó khăn:
Là giáo viên THCS, lại là giáo viên dạy Toán được điều chuyển xuống dạyTiểu học, trong thời gian đầu, bản thân tôi không khỏi lúng túng trước sự nhận thức
Trang 6còn non nớt của học sinh Đồng thời lại vừa phải tiếp cận đối tượng dạy học mới,vừa làm quen với phương pháp dạy học mới, quả là những khó khăn không nhỏ đốivới tôi nói riêng và nhiều đồng nghiệp như tôi nói chung.
2.2.2 Đối với học sinh:
- Thuận lợi:
Học sinh ngoan, ham học Các em đã được làm quen với kiểu bài viết đoạnvăn kể, tả ở lớp 2 và bước đầu đã tập viết được đoạn văn ngắn với dung lượngkhoảng 3 đến 4 câu Đa số các em có ý thức học tập tốt, tích cực trả lời câu hỏi,sáng tạo trong viết đoạn, có ý thức tự bổ sung kiến thức, chủ động làm các đề văn.Học sinh được học tập theo mô hình 2 buổi/ngày nên giáo viên có thời gianquan tâm đến các đối tượng học sinh nhiều hơn
- Khó khăn:
Tuy nhiên, qua thực tế dạy học, tôi thấy kĩ năng viết đoạn văn của nhiều họcsinh còn hạn chế Đứng trước một đề văn các em không xác định được yêu cầu của
đề bài, không biết đó là dạng văn gì, từ đó khó có thể xác định và tìm được hướng
đi của bài, thậm chí các em chỉ làm qua loa, đại khái cho xong, có em còn làm lạc
đề hoặc bài làm thiếu ý, câu văn lủng củng, đoạn văn thiếu mạch lạc Cá biệt một
số em không cần suy nghĩ cách làm, khi giáo viên giao đề văn thì ngay lập tức đitìm sách tham khảo để xem, để chép hoặc cứ viết theo ý thích của mình không cầnbiết đúng hay sai Nhiều em khi viết đoạn còn chưa biết chấm câu khi kết thúc câu,chưa biết dùng dấu phấy để ngăn cách những bộ phận cùng chức vụ ngữ pháp, lỗichính tả cũng còn nhiều Bên cạnh đó, một bộ phận học sinh còn lười học, ý thứchọc tập chưa cao nên trước đề văn có khi còn bỏ giấy trắng hoặc viết được một haicâu tối nghĩa Điều đó làm ảnh hưởng đến chất lượng học tập nói chung, môn TiếngViệt nói riêng
Từ thực tế công tác, qua dự giờ các đồng nghiệp và qua các buổi sinh hoạtchuyên môn, tôi nhận thấy việc rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn kể, tả cho học sinhlớp 3 là một kiểu bài khó Về kiến thức chưa hẳn là khó nhưng trình độ nhận thứccủa các em còn non nớt, vốn sống ít và đang trong thời kì tập làm văn Ngay một số
em nghe cô đọc chép chính tả còn chưa chép kịp và viết chưa đúng chính tả, chưanói đến việc thực hành sáng tạo là viết đoạn Do vậy, việc dạy cho các em biết làmvăn đã khó, dạy làm sao cho các em sáng tạo được một đoạn văn hay lại càng khóhơn Nhiều giáo viên cũng không thích dạy các tiết tập làm văn bằng các tiết Tậpđọc và các tiết Luyện từ và câu nên ít thầy cô chọn các tiết hội giảng, tiết chuyên đềngoại khóa về Tập làm văn Thậm chí ngay trong kì thi giáo viên giỏi các cấp cácthầy cô cũng ngại dạy tiết Tập làm văn
Xuất phát từ những thuận lợi và khó khăn trên, nhận thấy nhiệm vụ của ngườigiáo viên dạy Tiếng Việt không chỉ cung cấp cho các em những kiến thức cơ bảntrong sách giáo khoa, theo phân phối chương trình mà còn phải rèn cho các em kĩnăng thuần thục làm các kiểu bài kể, tả dưới hình thức một đoạn văn ngắn, giúp các
Trang 7em biết sử dụng tiếng mẹ đẻ thuần thục, linh hoạt; biết nói, viết ra những gì mà tâmhồn ngây thơ của mình cảm nhận được, bước đầu có kĩ năng làm văn, nên ngay saukhi nhận lớp, từ đầu tháng 9 tôi đã tiến hành ra đề văn mà các em đã được làm quen
ở lớp 2 với đề văn: Hãy kể về gia đình em bằng một đoạn văn ngắn (khoảng 5 đến
7 câu) để khảo sát năng lực của các em
Thông qua bài kiểm tra khảo sát, tôi nhận thấy đa số các em còn lúng túng khilàm bài, chưa biết sắp xếp câu, đoạn văn thiếu mạch lạc, câu chữ chưa được gọtrũa, lỗi chính tả nhiều, sử dụng dấu câu tự do.Bài văn chưa đủ ý, bài đủ ý thì khôkhan, không có hình ảnh, đoạn văn thiếu cảm xúc … Bởi thế, kết quả bài làm chưacao
Trước thực tế bộ môn như vậy, bản thân tôi đã trăn trở, nghiên cứu tìm ra
hướng giải quyết, đó là đúc rút kinh nghiệm để Rèn kĩ năng viết đoạn văn kể, tả cho học sinh lớp 3.
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để rèn kĩ năng viết đoạn văn
Tập làm văn, đúng như cái tên của nó, là một môn học có mục đích luyện tập,thực hành Dĩ nhiên, để thực hành tốt, học sinh không thể không nắm vững về líthuyết Nhưng việc học lí thuyết làm văn ở lớp 3 còn chưa được thể hiện rõ nét,chưa có một tiết dạy lí thuyết nào mà chỉ qua thực tế phần Tập đọc giúp học sinhhình dung lại các nội dung mình cần kể, tả để “bắt chước” và qua một vài câu hỏigợi ý để trả lời, trả lời các câu hỏi đó tức là đã tạo đoạn Bởi thế, học sinh sẽ khôngnắm vững được lí thuyết làm văn Mà không hiểu cách làm thì bài văn chưa hiệuquả là điều dễ hiểu
Để có kĩ năng viết đoạn văn kể, tả ngắn đòi hỏi học sinh phải bỏ ra nhiều thìgiờ và công sức Trong giới hạn của đề tài, tôi tập trung giúp học sinh bước đầuhiểu thế nào là văn kể, tả; bồi đắp lòng yêu thích văn thơ cho các em; tập cho các
em biết trau dồi vốn từ; rèn kĩ năng nghe – nói; hướng dẫn cho các em cách thựchành viết đoạn văn
2.3.1 Giải pháp 1: Giúp học sinh bước đầu hiểu thế nào là văn kể, tả ngắn.
Do trong chương trình Tiếng Việt 3 chưa có một bài dạy lí thuyết Tập làm văn
cụ thể nào nên khi dạy kiểu bài viết đoạn văn kể, tả ngắn, bước đầu tôi giúp học
Trang 8sinh hiểu: văn kể là dùng ngôn ngữ kể lại những gì đã diễn ra, sự việc này dẫn đến
sự việc kia và cuối cùng dẫn đến một kết thúc có ý nghĩa Đó là kiểu kể lại một câuchuyện đã học trong sách hay kể lại chuyện đời thường Song, khi viết đoạn văn kể,tôi hướng cho các em đoạn văn không đơn thuần chỉ là liệt kê sự việc, kể lể khôkhan mà khi viết, các em cần biết miêu tả để bài văn gợi cảm, hấp dẫn
Vậy miêu tả là gì? Theo từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biênđịnh nghĩa: Miêu tả là dùng ngôn ngữ hoặc một phương tiện nghệthuật nào đó làm cho người khác có thể hình dung được cụ thể sựvật, sự việc hoặc thế giới nội tâm của con người Nhà văn Phạm
Hổ th× cho r»ng:“ Miêu tả là khi đọc những gì chúng ta viết, ngườiđọc như thấy cái đó hiện ra trước mắt mình: một con người, convật, một dòng sông, người đọc còn có thể nghe được cả tiếng nói,tiếng kêu, tiếng nước chảy, thậm chí còn ngửi thấy mùi hôi, mùisữa, mùi hương hoa hay mùi rêu, mùi ẩm mốc,…nhưng đó mới chỉ
là miêu tả bên ngoài, còn sự miêu tả bên trong nữa là miêu tả tâmtrạng vui, buồn, yêu, ghét của con người, con vật và cả cây cỏ”.Chẳng hạn với đề văn: Kể về gia đình em Ban đầu học sinh
chỉ đơn thuần kể: Gia đình em gồm có 4 người: bố, mẹ, em và em trai của em Mẹ em làm công nhân Bố em làm thợ hồ Em trai em học lớp 1 Còn em học lớp 3 Trường Tiểu học Quảng Phú.
Trước một đoạn văn như vậy, tôi chỉ cho các em thấy các emmới chỉ liệt kê, kể lể lại những sự việc, những công việc của ngườithân trong gia đình mình Do đó đoạn văn khô khan, thiếu hìnhảnh, chưa gợi cảm Đây là lỗi chung mà học sinh thường mắc phải
Để đoạn văn hay hơn, tôi hướng cho các em biết thêm từ ngữ
miêu tả chẳng hạn: Gia đình nhỏ của em gồm bốn người thân yêu: bố, mẹ, em và em trai của em Mẹ em quanh năm vất vả với công việc làm công nhân và tần tảo chăm sóc gia đình Bố em luôn vất vả với công việc thợ hồ của mình Em trai em mới học lớp
1 Còn em học lớp 3 Trường Tiểu học Quảng Phú Gia đình em mỗi người một việc nhưng đến tối cả nhà lại sum họp đần ấm, hạnh phúc Em rất yêu gia đình của mình
Từ bài tập nhỏ đó, bước đầu tôi dạy các em biết đưa ngôn ngữ
kể, tả vào đoạn văn của mình
2.3.2.Giải pháp 2: Bồi đắp cho học sinh lòng yêu thích văn, thơ.
Sau khi giúp học sinh hiểu thế nào là văn kể, tả, tôi bồi đắp cho các em lòngyêu thích văn thơ Bởi chỉ có sự say mê văn học mới thôi thúc khả năng sáng tạo.Yêu văn, học sinh sẽ chủ động tiếp thu kiến thức, tìm tòi, khám phá những cái mới
lạ mà các em chưa biết, tâm hồn các em được mở rộng hướng tới những tình cảmđẹp của con người, cái chân - thiện - mĩ Con đường đưa văn thơ tới tâm hồn ngây
Trang 9thơ, non nớt, trong sáng của các em chính là những bài Tập đọc trong chương trình.Nắm vững điều đó, khi dạy Tập đọc, tôi luôn có ý thổi hồn vào những câu văn, câuthơ qua giọng đọc truyền cảm để học sinh bước đầu lắng được cái “hồn” của bài.Tôi chỉ cho các em thấy cần đọc từ, đọc câu như thế nào, giọng của các nhân vậttrong bài ra sao, với bài thơ cần đọc nhịp như thế nào Sau khi các nhóm học sinh
đã đọc nhiều lần câu chuyện, bài thơ, tôi hướng cho các em nắm chắc nội dung củatừng đoạn văn, đoạn thơ và nội dung chính của cả bài Bước đầu, tôi cũng chú ýgiúp học sinh cảm nhận được cái hay, cái đẹp của cách dùng từ, đặt câu, các hìnhảnh nghệ thuật trong bài đọc.Và để kể được bài ở tiết học sau thì học sinh phải ghinhớ nội dung từng đoạn văn, nội dung của cả bài, thậm chí học thuộc một đoạn nào
đó mà em thích Từ đó các em sẽ biết nhập tâm vào nhân vật, kể lại chuyện tốt,hiểu sâu và nhớ lâu
Chẳng hạn khi dạy tuần 26, với phần Tập đọc câu chuyện “Rước đèn ông sao”trang 71 sách Tiếng Việt tập 2, tôi đã đọc mẫu cho học sinh nắm được cách đọc Sau khi các em đã đọc bài và nắm được nội dung chính, tôi hỏi các em: BàiTập đọc được chia làm mấy đoạn? Nội dung chính của từng đoạn là gì? Nhìn vàogiới hạn đoạn văn, học sinh sẽ trả lời được: cả bài gồm hai đoạn, đoạn 1 kể về mâmngũ quả của bạn Tâm và đoạn 2 kể về chiếc đèn ông sao của bạn Hà hàng xóm vàniềm vui được rước đèn ông sao vào dịp Tết Trung thu của các bạn nhỏ Tôi cũnggiúp học sinh thấy được trong bài tập đọc, tác giả đã sử dụng các từ chỉ hoạt động,các từ miêu tả màu sắc, âm thanh, giúp người đọc cảm nhận được không khí rộnràng, không gian đẹp của đêm hội rước đèn ông sao Hiểu được nội dung bài Tậpđọc, học sinh sẽ yêu thích hơn những ngày hội của dân tộc và sẽ biết giữ gìn vàphát huy truyền thống của người Việt
Từ bài Tập đọc tôi sẽ nhắc các em hiểu rằng: những gì của cuộc sống thực tế
đã đi vào văn thơ qua cái nhìn chủ quan của tác giả, nhưng vẫn phản ánh chính xácnhững gì đã và đang diễn ra xung quanh chúng ta Bởi vậy, yêu văn trước hết phảiyêu cái chân thực và biết rung cảm trước cái đẹp Đó cũng là tiêu chí quan trọngkhi đánh giá đoạn văn của các em Thông qua việc đọc – hiểu các câu chuyện, bàithơ, học sinh bước đầu đã được bồi đắp tình yêu văn thơ, vốn từ ngữ quan trọng,vốn sống cần thiết để các em có thể viết đoạn
2.3.3.Giải pháp 3: Trau dồi vốn từ, lựa chọn câu chữ và vốn hiểu biết về thực tế cuộc sống.
Trau dồi vốn từ nghĩa là dạy cho học sinh hiểu nghĩa của từ, mở rộng vốn từ,lựa chọn từ ngữ khi nói và viết Do nhận thức còn non nớt nên phần đông các emchưa hiểu được nghĩa của từ, còn phát âm mang tính địa phương, vốn từ ít ỏi lạichưa biết trau chuốt từ ngữ, câu văn nên đoạn văn thường rời rạc, thiếu ý Để tăngvốn từ cho các em, tôi tập trung chuyển tải những đơn vị kiến thức Luyện từ và câuthành luyện nói, luyện viết
Khi dạy về từ ngữ, tôi khai thác tối đa vốn từ sẵn có theo chủ điểm học tập vàthực tế Chẳng hạn khi dạy học sinh mở rộng vốn từ về trường học, tôi hướng dẫn
Trang 10các em tìm một số từ quen thuộc: thầy giáo, học sinh, trường, lớp, bàn ghế, bạn bè,
…Nếu các em không tìm thêm được, tôi sẽ gợi ý cho học sinh tìm những từ ngữ chỉtình cảm thầy trò, bè bạn như: yêu thương, quan tâm, chỉ bảo, đoàn kết, giúp đỡ…
Có vốn từ rồi thì khi viết đoạn văn kể về ngôi trường của em chắc chắn học sinh sẽkhông còn lúng túng nữa Các em sẽ biết đưa vốn từ chủ đề nhà trường vào đoạnvăn để viết có nội dung
Khi dạy về câu, tôi tập cho các em viết câu ngắn, từ những câu đơn giản theokiểu Ai, Là gì, Làm gì, Như thế nào,… đến những câu có sử dụng hình ảnh nhânhóa, so sánh
Ví dụ: Với đề văn: Viết một đoạn văn từ 5 đến 7 câu kể về một người lao động trí óc mà em biết, tôi cho học sinh tập đặt câu như: Ai là gì?: Người lao động trí óc
mà em yêu quý nhất là bác em Bác là bác sĩ
Ai làm gì?: Bác thường đi làm từ rất sớm để chăm sóc, điều trị chobệnh nhân
Ai như thế nào?: Bác rất yêu nghề và tài giỏi
Qua một số câu hỏi như vậy, học sinh bước đầu đã tập viết được những câuvăn đơn giản, tạo đoạn văn ngắn Nhưng viết đúng chưa đủ mà học làm văn phảihướng tới viết hay Nghĩa là cần mở rộng các câu văn đó cho có hình ảnh và gợicảm Cũng những câu các em đã tìm đặt được ở đề bài trên, tôi hướng dẫn các em
mở rộng bằng nhiều cách
Chẳng hạn, với câu giới thiệu người lao động trí óc, tôi cho các em mở rộng
câu bằng cách thêm các thành phần phụ giúp câu rõ nghĩa hơn: Trong tất cả những người lao động trí óc mà em biết, em đặc biệt yêu quý nhất là bác em Hoặc tôi hướng dẫn các em mở rộng kiểu câu: Em biết rất nhiều người lao động trí óc, nhưng người gần gũi và để lại cho em nhiều tình cảm nhất là bác của em.
Với câu hai, tôi cho các em mở rộng thêm: Bác là bác sĩ ở Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa
Câu ba, tôi hướng cho học sinh mở rộng: Mỗi buổi sáng, em thường thấy bác
đi làm rất sớm để chăm sóc, điều trị cho bệnh nhân.
Câu 4 có thể hướng dẫn cho các em dùng hình ảnh so sánh để nhận xét về bác:
Bác là một bác sĩ tận tụy với nghề, hết lòng vì bệnh nhân, đúng như lời dạy của Bác Hồ với ngành y: “Lương y như từ mẫu”
Học sinh viết được đoạn văn đúng là tốt, song để làm tiền đề cho các lớp trên,các em cần biết viết văn có hình ảnh Với học sinh lớp 3, tôi tập cho các em biết sửdụng hai biện pháp tu từ đã học và đặt câu Đó là phép so sánh và phép nhân hóa
Ví dụ khi cho học sinh kể, tả về cảnh đẹp quê em Nói đến vùng quê nông thôn thìkhông thể không đề cập đến một hình ảnh quen thuộc, gần gũi với các em: cánhđồng lúa Tôi gợi ý cho các em: Nếu liên tưởng về cánh đồng lúa quê em, em thấy
nó giống với gì? Học sinh sẽ trả lời: Nếu là cánh đồng lúa chín thì có thể viết: Lúc lúa chín, cánh đồng quê em như một tấm thảm khổng lồ vàng rực, lung linh trong