1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

PHÁP LUẬT TỐ TỤNG PHONG KIẾN VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ XV ĐẾN THẾ KỶ XIX

151 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 151
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu những quy định về cơ cấu tổ chức, thẩm quyền, trình tự và thủ tục tố tụng, quy trình xét xử các vụ án và giải quyết các vụ việc kiện tụng trong hoạt động tư pháp của nhà nước

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Pháp luật tố tụng là một bộ phận quan trọng trong hệ thống pháp luật ở Việt Nam cũng như trên phạm vi toàn thế giới Trong bất kỳ giai đoạn lịch sử nào thì pháp luật tố tụng luôn có tầm quan trọng đặc biệt để thiết lập một thể chế quyền lực tư pháp nhằm bảo vệ nhà nước, bảo vệ chế độ chính trị xã hội, duy trì công lý, đảm bảo quyền con người, quyền công dân và những giá trị nhân văn của nhân loại

Thực hiện chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050, Nhà nước Việt Nam đã thông qua bản Hiến pháp năm 2013, những chính sách chung từ các kỳ đại hội Đảng, các Nghị quyết của Hội nghị trung ương, hoạch định cho nền tư pháp và Tòa án trách nhiệm cải tổ toàn diện, từng bước hoàn thiện về cơ cấu tổ chức, kiểm soát và quản lý chặt chẽ hoạt động tố tụng Tất cả đều nhằm hướng tới mục tiêu đảm bảo công lý, công bằng, an toàn, an ninh và an sinh xã hội, không chỉ trong nước

mà cả ở trong khu vực và trên trường quốc tế Trong báo cáo chính trị, Đại hội Đảng lần

thứ XII đã khẳng định:“Tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp,

xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân”[1, tr.114] Nhìn lại

hơn ba mươi năm cải cách, đổi mới, phát triển và hội nhập quốc tế, pháp luật tố tụng nói riêng và hệ thống tư pháp nói chung ở Việt Nam đến nay vẫn bộc lộ nhiều điểm bất cập, hạn chế Thực trạng oan sai trong hoạt động truy tố, điều tra, xét xử làm cho người dân khó tin tưởng vào cán cân công lý, điều đó đặt ra cho ngành Tòa án và các cơ quan tiến hành tố tụng trách nhiệm phải có một kế hoạch cải tổ lâu dài, sâu sắc và triệt để Thực hiện các nhiệm vụ trên, bên cạnh việc nghiên cứu các mô hình tố tụng tiến bộ của các nhà nước trong khu vực và trên thế giới cũng cần phải có các công trình nghiên cứu chuyên sâu về pháp luật tố tụng truyền thống ở Việt Nam trong tiến trình lịch sử Trên

cơ sở đó tìm ra những ưu điểm, tiến bộ cần kế thừa cũng như những nhược điểm, hạn chế cần khắc phục; tìm ra những bài học kinh nghiệm và giải pháp mới cho quá trình thiết kế, kiến tạo nền tư pháp tiến bộ hiện đại, hội nhập văn minh, tôn trọng quyền dân tộc, quyền quốc gia và quyền con người, tạo lập sự bình yên cho xã hội

Dưới góc nhìn lịch sử tư pháp, Việt Nam sở hữu những di sản cổ luật tiến bộ đặc sắc so với các nhà nước khác cùng thời, nhưng trên thực tế nguồn tư liệu lưu trữ và các công trình nghiên cứu về cổ luật nói chung, về tố tụng trong cổ luật nói riêng còn nhiều hạn chế Tra cứu hầu hết các tàng thư, thư viện, danh mục các công trình khoa học nghiên cứu về pháp luật tố tụng trong thời kỳ quân chủ phong kiến vẫn còn rất nhiều khoảng trống Phan Huy Chú từng nghiên cứu về hệ thống pháp luật truyền thống Việt Nam, ông rất nuối tiếc cho sự mất mát những di sản văn hóa pháp luật của dân tộc Ông

đã than rằng:“Sách điển chương pháp chế của cả một triều đại làm khuôn phép đời đời

mà mất mát như thế, thực có đáng tiếc không?”[11, tr.65] Trần Trọng Kim thì cho

Trang 3

rằng: đó là ngôi nhà cổ rất đẹp, lâu ngày không ai sang sửa, bụi đã phủ mờ Tác giả Vũ Văn Mẫu đã viết: cổ luật Việt Nam là linh hồn trí não người xưa kết đúc lại cho thế hệ chúng ta qua bao lớp phế hưng của lịch sử [35; 123; 131].

Theo thời gian và theo dòng lịch sử, những giá trị pháp lý truyền thống và phong tục tập quán được phản ánh trong những quy phạm pháp luật cũng như thực tiễn ứng dụng dường như vẫn đang tồn tại trong xã hội của chúng ta Đó là pháp luật truyền thống về hành chính quan chế, quân sự an ninh, đất đai tài sản, gia đình và hôn nhân, dân sự và thừa kế, hương hỏa điền sản, tôn giáo và tín ngưỡng tâm linh Truyền thống pháp luật còn đó nhưng các công trình nghiên cứu chuyên sâu thì hầu như vẫn còn để ngỏ Muốn hoạch định được tương lai thì cần hiểu sâu về quá khứ Đó là nguyên lý tất yếu của tính kế thừa biện chứng và sự phát triển của sự vật hiện tượng khách quan Trong tiến trình hội nhập và phát triển, việc tìm hiểu và phát huy được những giá trị của

di sản pháp lý cha ông, trân trọng giữ gìn bảo lưu truyền thống pháp luật nhân văn của dân tộc luôn là vấn đề thiết yếu của khoa học Việt Nam

Với những lý do trên và mong muốn góp phần xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp và chuẩn mực nhằm mục đích bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, nghiên

cứu sinh đã lựa chọn đề tài:“Pháp luật tố tụng phong kiến Việt Nam từ thế kỷ XV đến

thế kỷ XIX” làm luận án tiến sỹ luật học của mình

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Thông qua nghiên cứu quá trình hình thành phát triển, hình thức và nội dung của pháp luật tố tụng PKVN từ thế kỷ XV – XIX, luận án làm sáng tỏ những thành tựu, giá trị và khả năng tiếp thu, ứng dụng trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật tố tụng và cải

cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Thứ nhất, đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước, khu vực và quốc

tế về pháp luật tố tụng quân chủ phong kiến Việt Nam Từ đó chỉ ra những vấn đề đã được nghiên cứu và những vấn đề còn bỏ ngỏ cần tiếp tục bổ sung

Thứ hai, những vấn đề lý luận và lịch sử về pháp luật tố tụng của nhà nước quân

chủ phong kiến Việt Nam thế kỷ XV - XIX

Thứ ba, nghiên cứu pháp luật tố tụng của các triều đại Lê Trịnh Nguyễn thông

qua các Bộ luật, Hội điển, Điển chế và các ghi chép trong chính sử Nghiên cứu những quy định về cơ cấu tổ chức, thẩm quyền, trình tự và thủ tục tố tụng, quy trình xét xử các

vụ án và giải quyết các vụ việc kiện tụng trong hoạt động tư pháp của nhà nước quân chủ PKVN Tiếp cận những nội dung cơ bản của pháp luật tố tụng như: khởi kiện, thụ

lý, khảo cung, xét xử, thi hành án, về xác định sự thật của vụ án, về oan sai, về bảo vệ nhân mạng, trách nhiệm của quan án; phân loại tố tụng theo“loại vụ việc” nguyên tắc

“Tôn quân quyền” tập quyền song hành với phân quyền và tản quyền trong quản lý nhà nước về lĩnh vực tư pháp

Trang 4

Thứ tư, đánh giá được những giá trị lịch sử và đương đại, những tiến bộ và

những hạn chế trong việc xây dựng và áp dụng pháp luật tố tụng của nhà nước phong kiến Trên cơ sở đó, đề ra các giải pháp trong việc tiếp thu, kế thừa và phát triển những thành tựu của pháp luật tố tụng truyền thống, vận dụng sáng tạo và phù hợp trong cải cách tư pháp xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Luận án tập trung nghiên cứu các quan điểm khoa học về pháp luật tố tụng, nội dung của pháp luật tố tụng phong kiến Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX và quan điểm tiếp nhận pháp luật truyền thống trong xây dựng pháp luật đương đại

3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Về thời gian, đề tài nghiên cứu về pháp luật tố tụng của nhà nước quân chủ Việt

Nam từ thế kỷ XV đến XIX (1428 – 1884) Chủ yếu là thời Lê Sơ (1428 – 1527), thời

Lê Trịnh (1599 – 1786) và triều Nguyễn (1802 – 1884) Về không gian: đề tài nghiên

cứu chuyên sâu về pháp luật tố tụng trong việc quản lý nhà nước về tư pháp căn cứ theo vùng lãnh thổ Việt Nam, từ miền Bắc thời Lê đến cả Bắc Nam trong triều Nguyễn, đồng thời mở rộng so sánh thêm ở một số nước trong khu vực và thế giới

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp luận của luận án

Luận án nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luật học, sử học, kinh tế học, chính trị học, hành chính học và logic học Sử dụng phương pháp luận nghiên cứu kết hợp lịch sử so sánh (comparative History), luật học so sánh (comparative Law) với tính kế thừa và phát triển

4.2 Phương pháp nghiên cứu của luận án

Luận án đã sử dụng những phương pháp phổ biến trong nghiên cứu khoa học xã hội và những phương pháp nghiên cứu đặc thù trong nghiên cứu khoa học pháp lý như:

Phương pháp thống kê: được sử dụng trong luận án nhằm tập hợp, đánh giá tình

hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, hệ thống tổ chức các cơ quan tư pháp tố tụng, các văn bản pháp luật và nguồn sử liệu của các triều đại phong kiến Việt Nam

Phương pháp hệ thống hóa: được sử dụng nhằm nhận diện và đánh giá cơ cấu tổ

chức hoạt động của cơ quan tố tụng trong mối liên hệ với tổ chức nhà nước PKVN Sử dụng phương pháp cấu trúc hệ thống để nghiên cứu kỹ thuật lập pháp, nghiên cứu về trình tự thủ tục tố tụng, mối quan hệ giữa pháp luật tố tụng với các lĩnh vực pháp luật khác, vị trí vai trò của pháp luật tố tụng trong hệ thống pháp luật chung

Phương pháp phân tích, tổng hợp: được sử dụng trong luận án nhằm nghiên cứu,

luận giải về các nội dung liên quan đến chủ đề luận án Kết hợp phương pháp quy nạp, diễn dịch, phân tích, chứng minh, giải thích, nhận xét đánh giá các chế định về tố tụng, các quy định, chế tài áp dụng trong hoạt động xét xử và thi hành án

Phương pháp luật học so sánh: được sử dụng trong luận án để làm sáng tỏ hệ

Trang 5

thống cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng, vấn đề thời hiệu, thời hạn, chứng cứ, chứng minh, sự chuyển đổi thể chế và quy trình tố tụng qua các giai đoạn lịch sử

Phương pháp xã hội học pháp luật: được sử dụng trong luận án nhằm khảo xét

thực tiễn lịch sử pháp luật tố tụng trong xã hội phong kiến Nghiên cứu một số bản án được ghi lại trong chính sử và dấu ấn của nó trong tâm thức dân tộc

Phương pháp trao đổi, tọa đàm: sử dụng để trao đổi trên diễn đàn tạp chí khoa

học chuyên ngành, liên ngành và các hội thảo

Phương pháp logic và lịch sử: được sử dụng chủ yếu trong luận án nhằm nhận

diện đặc điểm, tiến trình phát triển của pháp luật tố tụng qua các triều đại

Ngoài ra, luận án còn sử dụng phương pháp khái quát, mô hình hóa các cơ quan hành chính tư pháp; tiếp cận văn bản học để nghiên cứu các bộ luật cổ; hồi cố, hậu suy phục dựng lại bối cảnh lịch sử quá khứ để phân tích, suy xét, lập luận vấn đề; phương pháp định lượng, định tính, kết hợp với thống kê, phân loại các điều luật để đánh giá về

số lượng, qua đó nhận thấy rõ nội dung, bản chất của vấn đề cần nghiên cứu theo nguyên lý lượng đổi chất đổi Bên cạnh đó là phương pháp đồng đại, lịch đại, nghĩa là đặt các sự vật hiện tượng, vấn đề cùng loại trong tính logic của thời gian để thấy được tính vượt trước hoặc chậm trễ của pháp luật qua các thời kỳ Luận án dựa trên cách tiếp cận liên ngành, đa ngành khoa học xã hội để nghiên cứu và luận giải về pháp luật tố tụng trong bức tranh tổng thể của xã hội Việt Nam thế kỷ XV – XIX

5 Những đóng góp mới về nghiên cứu khoa học của luận án

Những đóng góp về lý luận của Luận án

- Thứ nhất, Luận án đã nhận diện và làm rõ những vấn đề lý luận và lịch sử về

pháp luật tố tụng phong kiến Việt Nam thời Lê Trịnh Nguyễn cả dưới góc độ tổng quát và chuyên ngành

- Thứ hai, Trên cơ sở đó chỉ ra mối quan hệ giữa cơ sở kinh tế, xã hội, chính trị, tư

tưởng và phong tục tập quán đến pháp luật tố tụng; luận giải vị trí vai trò, những nguyên tắc, đặc điểm, bản chất, mục tiêu, tính phổ biến và những điểm đặc thù của pháp luật tố tụng thời quân chủ PKVN Nghiên cứu so sánh cho thấy, Việt Nam là một trong những quốc gia xây dựng bộ luật chuyên ngành về tố tụng đầu tiên ở khu vực châu Á và thế giới

Những đóng góp về thực tiễn của Luận án

- Thứ nhất, Luận án trình bày bức tranh tổng thể, nghiên cứu khá toàn diện, hệ

thống và chuyên sâu về hình thức, thủ tục, nội dung và thành tựu cơ bản của pháp luật

tố tụng phong kiến Việt Nam trong thực tiễn lịch sử từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX

- Thứ hai, Luận án làm sáng tỏ một số nội dung về tính dân tộc đặc sắc, phân tích

tính độc đáo, tiến bộ của một số chế định như: thẩm quyền và trình tự tố tụng, thủ tục tố tụng, quy trình tố tụng, hoạt động và giám sát tố tụng, phân loại vụ việc trong tố tụng,

án lệ và các tiền lệ tư pháp, phạt tiền và chuộc hình phạt bằng tiền, chế độ Công đồng Đình nghị, Thu thẩm và cơ chế liên ngành Tam pháp ty Luận án đã nhận diện và phân

Trang 6

tích tính đặc thù của thể chế quyền lực tư pháp thời Lê Sơ – Lê Thánh Tông, Lê Trịnh

và triều Nguyễn trong nhà nước quân chủ phong kiến Việt Nam ở giai đoạn có nhiều biến động lịch sử thế kỷ XV - XIX

- Thứ ba, Luận án chỉ ra những giá trị lịch sử và đương đại cũng như một số giải

pháp tiếp thu kế thừa các giá trị đó trong quá trình hoàn thiện pháp luật tố tụng, cải cách

tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền, bảo vệ bảo hộ quyền công dân và quyền con

người ở Việt Nam, khu vực và thế giới

Pháp luật tố tụng PKVN thế kỷ XV - XIX có nhiều thành tựu đáng để nghiên cứu và suy ngẫm Kết quả nghiên cứu cho thấy pháp luật tố tụng ứng dụng trong giai đoạn lịch sử thế kỷ XV – XIX và có giá trị tham khảo cho quá trình cải cách tư pháp trong thời đại mới Tiếp thu những giá trị của pháp luật tố tụng truyền thống trên tinh thần chỉnh hợp có chọn lọc những yếu tố tiến bộ của pháp luật tố tụng, đó là yêu cầu và

trách nhiệm của khoa học pháp lý trong thực tiễn xã hội hiện nay

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Luận án làm sáng tỏ thực tiễn lập pháp, giá trị pháp lý của pháp luật tố tụng truyền thống, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm về lập pháp, xây dựng văn bản pháp luật và áp dụng pháp luật tố tụng trong hoạt động tư pháp xét xử, đề ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng Luận án cũng gợi mở hướng nghiên cứu một số văn bản pháp luật thời Lê, Hội điển và Châu bản triều Nguyễn, so sánh với pháp luật tố tụng thời thuộc Pháp và Việt Nam Cộng hòa để tìm ra giá trị và bài học cho đương thời

7 Kết cấu của luận án

Nội dung của luận án ngoài lời cảm ơn, cam đoan, bảng ký hiệu viết tắt, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, gồm có 4 chương như sau:

Chương một: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Chương hai: Nhận diện về lý luận và lịch sử pháp luật tố tụng PKVN

Chương ba: Những quy định pháp luật tố tụng PKVN thế kỷ XV – XIX

Chương bốn: Giá trị lịch sử và đương đại của pháp luật tố tụng PKVN trong quá

trình cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay

Trang 7

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

1.1 Khái lược về tình hình nghiên cứu

1.1.1 Tình hình nghiên cứu đề tài pháp luật tố tụng ở trong nước

Ở Việt Nam, đã có một số công trình nghiên cứu về pháp luật tố tụng PKVN thế

kỷ XV – XIX song chưa mang tính tổng thể và vẫn còn nhiều khoảng trống

Căn cứ vào các nguồn tư liệu, có thể chia thành 2 nhóm chính: (i) nhóm các công trình nghiên cứu chung về lý luận và lịch sử pháp luật Việt Nam thời phong kiến có liên quan đến lĩnh vực tố tụng; (ii) nhóm các công trình nghiên cứu chuyên ngành về pháp luật tố tụng ở Việt Nam thế kỷ XV - XIX Các công trình nghiên cứu chủ yếu hai Bộ luật pháp điển là QTHL triều Lê và HVLL triều Nguyễn Có thể khái lược một số tác giả và công trình tiêu biểu sau đây

Nghiên cứu chung về lý luận & lịch sử pháp luật tố tụng PKVN

Tiếp cận dưới góc độ lý luận và lịch sử về pháp luật tố tụng PKVN có thể nhìn từ

góc độ tổng quát đến chuyên ngành Trong tổng thể của bộ máy nhà nước, từ cơ sở kinh

tế xã hội tư tưởng chính trị pháp lý đến quá trình hình thành phát triển, từ tổ chức bộ máy đến các quy phạm, chế định điều luật, từ khái niệm, quan niệm đến vị trí, vai trò, nguyên tắc, đặc điểm, bản chất pháp luật tố tụng, tất cả đều nằm trong sự vận động chung của chính thể quân chủ qua các giai đoạn lịch sử Nhiều vấn đề còn bỏ ngỏ và hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện vấn đề này Tuy vậy, cũng có thể tiếp thu kế thừa những kết quả nghiên cứu từ các công trình tiêu biểu sau:

Lịch triều Hiến chương loại chí (1819) của học giả Phan Huy Chú được coi là

công trình “Quốc chí” bách khoa thư nghiên cứu những giá trị cơ bản nhất của một thể chế nhà nước trong đó có nội dung về kinh tế, chính trị, quân sự và pháp luật triều Lê Các mục như Dư địa chí, Nhân vật chí, Quan chức chí, Quốc dụng chí, Hình luật chí, Binh chế chí, cho chúng ta cách nhìn tổng diện về cơ sở của chế độ hành chính tư pháp PKVN Nội dung pháp luật tố tụng từ năm 1625 đến năm 1765 và bộ QTKTĐL năm

1777 đã được tác giả Phan Huy Chú khảo lược, đánh giá Theo đó “Các mục luật văn gồm có hơn 700 điều, thật rất rõ ràng đầy đủ, dùng để nêu thể lệ xét xử, thích hợp với dân tình, cân nhắc và thêm bớt, cho nên đủ để đối phó với các trạng thái biến hóa của

đời sống và ngăn ngừa người dân vi phạm Để cho những người cầm nắm pháp luật,

gặp việc thì chước lượng theo đó mà xét nặng nhẹ, định thêm bớt.” [10, tr.389] “Các

Lệ xét kiện chuẩn định năm Đinh Dậu đời Cảnh Hưng năm 1777, tham chước quy thức các triều, hoạch định thống nhất rõ ràng, điều mục tỷ mỷ, không bỏ sót gì, người xét xử

sẵn có Luật thường để quyết định, có Lệ thường để thích ứng, nếu noi theo cẩn thận thì

dứt được tệ gian, bớt được hình ngục, mực thước không thể bỏ qua được”[10, tr 407] [9;11] Với công trình này, có thể tìm hiểu về cơ sở và quá trình hình thành phát triển,

vị trí vai trò, đặc điểm và mối quan hệ của pháp luật tố tụng trong tổng thể pháp luật và

Trang 8

bộ máy nhà nước, về quan chế công vụ tư pháp, về tuyển bổ, giám sát, khảo khóa quan lại hành chính quân sự tư pháp, về thẩm quyền tố tụng tối cao của vua và chúa

Quốc triều Luật Lệ toát yếu (1919) do Tổng tài Cao Xuân Dục biên tập Đây là

cuốn lược giản bộ HVLL triều Nguyễn, là tài liệu để nghiên cứu và đào tạo tại trường Cao đẳng Luật Đông Dương thời thuộc Pháp, trong đó có phần pháp luật tố tụng và một

số văn bản bổ sung qua các triều vua Minh Mệnh, Tự Đức [59, tr.34, 218 - 227] Đây là công trình giúp cho người nghiên cứu hiểu cơ bản về pháp luật triều Nguyễn

“Pháp chế sử”(1967) của Vũ Quốc Thông có thể được coi là công trình nghiên

cứu tiêu biểu nhất về chính thể quân chủ và tổ chức hành chính tư pháp PKVN Học giả

Vũ Quốc Thông đã khảo cứu về hoạt động tố tụng trong mối quan hệ thống nhất với bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương, theo cơ cấu hành chính xã thôn tự trị Công trình cho chúng ta cách nhìn khoa học về tổ chức hệ thống tư pháp xét xử xuất phát từ chế độ chính trị, chế độ hành chính thông qua các định chế pháp lý Trong đó

nội dung gồm 3 phần: phần 1, về chế độ chính trị, chính thể quân chủ qua các thời kỳ từ

968 đến 1945, bao gồm tổ chức chính quyền trung ương và địa phương; phần 2, về chế

độ hành chính, quản lý nền hành chính trung ương và địa phương theo mô hình xã thôn

tự trị với cơ cấu hội đồng hàng tỉnh, hội đồng thành phố; phần 3 về chế độ tư pháp với

cách thức tổ chức các pháp đình Đây là công trình nghiên cứu khá hiếm hoi dưới góc

độ luật học về chính thể quân chủ và bộ máy nhà nước, trong đó có hệ thống hành chính

tư pháp xét xử Chính vì vậy nên cho dù khá giản lược nhưng đây là cách tiếp cận khoa học và toàn diện về thể chế tư pháp trong bộ máy nhà nước thời quân chủ phong kiến, trong đó hành chính, tư pháp là một bộ phận quan trọng của thể chế chính trị, quân sự theo hình thức quân chủ tập quyền [209, tr.5 -13] Qua nghiên cứu, tác giả có thể nhận định với một số luận điểm như sau:

Một là, công trình đã có những nghiên cứu cơ bản về chính thể quân chủ và vị trí

của nhà vua trong hệ thống hành chính tư pháp Nhà nước quân chủ phong kiến có quan niệm về thế quyền và thần quyền Về thế quyền, nhà vua ban hành ra luật pháp, là vị thủ

lĩnh cao cấp nhất của nền hành chính quốc gia Nhà vua cũng đồng thời là vị Thẩm

phán tối cao có quyền xét xử và ra phán quyết cuối cùng Về thần quyền, theo lý thuyết

thân dân, khoan thư sức dân, yên dân, kính thiên ái dân [209, tr.366 - 376] Nhà vua là chủ tế lễ đàn Xã tắc và điện Kính thiên thời Lê cũng như tế lễ ở Đàn Nam Giao thời Nguyễn Nhà vua cũng có quyền cho phép quốc dân lập đình đền chùa tông miếu hoặc ngăn cấm như chính sách kiểm soát Phật giáo, cấm đạo Gia tô

Hai là, công trình đã có những nghiên cứu về cơ cấu tổ chức và thẩm quyền xét xử

trong hoạt động tố tụng Học giả Vũ Quốc Thông tiếp cận chủ yếu từ hai góc độ: (i)

Cách tổ chức các pháp đình; (ii) Thẩm quyền và luật pháp áp dụng trước các pháp đình; Theo tác giả, “cho đến khi nước Pháp đặt nền bảo hộ, nhà nước thực dân phong kiến

vẫn không áp dụng nguyên tắc phân quyền trong nền hành chính tư pháp” [209, tr.376

-396] Vũ Quốc Thông đã nhận định về pháp luật tố tụng từ sau năm 1649 rằng:“Không

Trang 9

những cách tổ chức pháp đình được ấn định rõ ràng mà cả các thể thức tố tụng như là

cách thức đệ đơn kiện, cách thức điều tra và xét xử các vụ tranh tụng, cách thức kháng

tố các bản án cũng đã được quy định một cách rất minh bạch.”[209, tr 375] Tuy

nhiên, triều Nguyễn lại chưa thể xây dựng được một bộ luật chuyên sâu về tố tụng như QTKTĐL triều Lê – Trịnh

Ưu điểm lớn nhất trong công trình Pháp chế sử Việt Nam của Vũ Quốc Thông là

có tầm nhìn tổng quát về các định chế pháp lý dưới góc độ luật học để tiếp cận hệ thống

tư pháp từ tổ chức bộ máy đến chức năng, thẩm quyền và các thủ tục tố tụng Tuy nhiên, các vấn đề trên cần nghiên cứu ở góc độ liên ngành quản lý hành chính quân sự

tư pháp trong hoạt động tố tụng Các nguyên tắc hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền tư pháp điều chỉnh hoạt động tố tụng được Vũ Quốc Thông đề cập tuy còn sơ lược, nhiều nội dung chưa chuyên sâu, chưa đầy đủ và toàn diện nhưng cách đặt vấn đề của ông là rất khoa học

GS.Vũ Văn Mẫu (1972 – 1975) có nhiều công trình nghiên cứu đại cương về chế

độ hành chính và tư pháp trong bộ QTHL và QTKTĐL thời Lê Một số cuốn sách đã

được xuất bản như:“Cổ luật Việt Nam lược khảo”,“Cổ luật Việt Nam thông khảo”,“Cổ

luật Việt Nam và tư pháp sử”,“Cổ luật Việt Nam và tư pháp sử diễn giảng” [145-149]

Các công trình nghiên cứu của GS.Vũ Văn Mẫu có tính chuyên sâu và đầy đủ nhất về pháp luật phong kiến Việt Nam Trong đó tác giả đi sâu chủ yếu ba ngành luật cơ bản là dân sự, hôn nhân gia đình và hình sự; nghiên cứu về chế độ tư pháp, Tòa án và pháp luật tố tụng trong các cuốn sách này có dung lượng hạn chế [146, tr.227- 266]

Công trình nghiên cứu “Cổ luật Việt Nam và Tư pháp sử Diễn giảng”(1974) trong đó có phần“Đại cương về tổ chức tư pháp và tố tụng trong cổ luật” của GS.Vũ

Văn Mẫu [146, tr.227 - 265] Nội dung tiếp cận về pháp luật tố tụng PKVN theo hai vấn

đề: Thứ nhất, là hệ thống Tòa án trong cổ luật gồm “cơ quan thoả xử, hệ thống các cơ quan tài phán và sự kiểm soát các cơ quan tài phán”; Thứ hai, về thủ tục tố tụng, chủ

yếu tiếp cận về thụ lý việc kiện, thẩm vấn và phân xử Tác giả đánh giá rất cao bộ QTKTĐL và cho rằng: nếu như những quy định về chứng thư, chúc thư, vấn đề tài sản

vợ chồng, thừa kế, hương hỏa, của QTHL trong hệ thống luật pháp triều Lê là điều tân

kỳ thứ nhất, thì nội dung tân kỳ thứ hai của cổ luật VN thuộc về bộ QTKTĐL Ông đã

có những nghiên cứu về QTKTĐL và thấy rõ sự tiến bộ về kỹ thuật pháp lý, thể hiện sự phân biệt tương đối rõ ràng giữa luật nội dung và luật thủ tục trong pháp luật tố

tụng.“Trong lịch sử cổ pháp Á Châu, đây là bộ luật duy nhất về thủ tục tố tụng và tổ

chức các nha môn xử án Điều này chứng tỏ rằng trong cựu pháp, nhà làm luật Việt Nam đã ý thức được đầu tiên về sự phân biệt các luật pháp về nội dung và các luật pháp liên quan đến thủ tục”[146, tr 265] Về sự phân biệt này, đến cuối thế kỷ XIX

đầu thế kỷ XX, ở Âu Mỹ, với sự phát triển của ngành Quốc tế tư pháp, các luật gia mới nhận định rõ tầm quan trọng của vấn đề này trong các tranh chấp Bởi nếu như luật nội dung còn nhiều xung đột cần tranh tụng thì luật thủ tục đã phần nào có sự đồng

Trang 10

thuận.“Điều ấy càng làm tôn rõ những nét tân kỳ độc đáo của sự quy định về thủ tục tố

tụng trong pháp chế triều Lê” [146, tr.265] “Đại cương về tổ chức tư pháp và tố tụng

trong cổ luật” của GS.Vũ Văn Mẫu có cách tiếp cận khoa học, với tầm nhìn tổng thể khi đánh giá cổ luật Việt Nam Nghiên cứu của tác giả chủ yếu ở tầm khái quát nên cần tiếp cận chuyên sâu, đầy đủ, toàn diện và cụ thể hơn

Học giả Nguyễn Quang Quýnh với cuốn“Dân luật tổng quát” và “Hình luật tổng

quát” (1972) cũng có một phần về giới thiệu chung về pháp luật phong kiến và phân

tích một số thành tựu cơ bản của cổ luật Việt Nam [195, tr 5- 12] [196]

Năm 1968, nhà luật học Đinh Gia Trinh và các nhà sử học có cuốn sách nghiên

cứu chung về lịch sử nhà nước và pháp luật dưới nhan đề“Sơ thảo lịch sử Nhà nước và

Pháp quyền Việt Nam” Nội dung về pháp luật tố tụng phong kiến trong công trình này

nghiên cứu mang tính khái quát và chưa đi sâu phân tích các Bộ luật, Hội điển và các văn bản pháp luật tố tụng [217]

GS Lê Thị Sơn chủ biên cuốn“Quốc triều hình luật - Lịch sử hình thành, nội

dung và giá trị”(2004) Công trình nghiên cứu toàn diện về bộ QTHL từ cơ sở kinh tế,

chính trị, xã hội, quá trình hình thành, nội dung các lĩnh vực về quan chế, hình sự, dân

sự, đất đai, thừa kế, hôn nhân gia đình và tố tụng phong kiến Việt Nam dưới góc nhìn của cấu trúc pháp luật đương đại Trong chuyên khảo có bài viết về Pháp luật tố tụng của tác giả Hoàng Thị Minh Sơn [197] TS.Trương Quang Vinh chủ biên cuốn chuyên

khảo“Tội phạm và hình phạt trong HVLL” (2008) chủ yếu nghiên cứu dưới góc độ

pháp luật hình sự về tội phạm và hình phạt trong HVLL, đồng thời đưa ra nhận xét chung về đường lối xử lý đối với tội phạm trong pháp luật triều Nguyễn [208] Cuốn

sách“Quốc triều Hình luật, những giá trị lịch sử và đương đại góp phần xây dựng nhà

nước pháp quyền ở Việt Nam“(2008) dựa trên các bài viết tại Hội thảo về QTHL tại

Thanh Hóa do Bộ Tư pháp chủ trì theo chủ đề “QTHL, những giá trị lịch sử và đương

đại”, trong đó có hai nội dung nghiên cứu về pháp luật tố tụng trong bộ QTHL triều Lê

[190, tr 381, 404]

Ngoài ra, nhiều học giả cũng có các công trình nghiên cứu như Bùi Xuân Đính

(1998) với “Lệ làng phép nước”,“Hương ước và quản lý làng xã”[79; 80] Lê Đức Tiết (1998, 2010) nghiên cứu về “Hương ước lệ làng”, về “Luật Hồng Đức” [215; 216]

Đinh Khắc Thuân (2006) chủ biên công trình biên dịch và nghiên cứu về các bản

Hương ước được lưu tại viện Hán Nôm với tiêu đề “Tục lệ cổ truyền làng xã Việt

Nam”[211] Ngô Đức Thịnh (2014) với cuốn biên khảo “Luật tục trong đời sống các tộc người ở Việt Nam” [208] Đây là những công trình nghiên cứu hướng đến việc nhận

thức sâu hơn những giá trị của luật tập quán trong đời sống sinh hoạt của xã hội cộng đồng, đặc biệt là các vùng đồng bào dân tộc miền núi Việc giải quyết các tranh chấp theo luật tục, hương ước và tính hiệu quả của phong tục tập quán cũng được các tác giả

đề cập đến Đây là một hướng nghiên cứu kết hợp giữa luật nước với lệ làng, đặc biệt là

luật tục của các dân tộc miền núi với những giá trị bền vững của pháp luật cộng đồng

Trang 11

Khoa Pháp luật Hành chính Nhà nước Đại học Luật Hà Nội có hai đề tài Thứ

nhất là “Giám sát việc thực hiện quyền lực Nhà nước trong nhà nước phong kiến Việt

Nam – Những suy ngẫm và bài học cho hôm nay" (2012)[117] Thứ hai là“Chế độ trách nhiệm công vụ ở Việt Nam trong tiến trình lịch sử”(2017) [118] Các bài viết tạp chí

tiêu biểu như Trương Hữu Quýnh (1995 [194 GS.TSKH Vũ Minh Giang [92] GS.TS

Hoàng Thị Kim Quế [189] Đào Trí Úc - Lê Minh Thông (1999)“Sự tiếp nhận các giá

trị pháp lý phương Đông và phương Tây đối với sự phát triển các tư tưởng pháp lý Việt Nam”[223] GS.Thái Vĩnh Thắng (2003) [204] PGS.TS Nguyễn Thị Việt Hương và

TS Lê Thị Hương về“Nhu cầu tích hợp các giá trị truyền thống trong mô hình nhà

nước pháp quyền Việt Nam”(2004) [109] Ngô Văn Hưởng (2010) Tư tưởng kết hợp Đức trị và Pháp trị trong đường lối trị nước của triều đại Lê Sơ và ý nghĩa lịch sử [77;

79; 80] [110; 131; 144; 152; 155; 157; 161; 173; 213; 223; 31]

PGS TS.Nguyễn Thị Việt Hương với chủ đề “Thiết chế chính trị pháp lý làng xã

Việt Nam”(2001 [108] Bùi Thị Phương Thúy (2009), Tư tưởng Đức trị và Pháp trị trong Quốc triều Hình luật [212] TS.Trương Vĩnh Khang (2015) về“Thiết chế chính trị pháp lý Việt Nam thời Lê Sơ (1428 – 1527) và các giá trị của nó” trong đó có đề cập

đến vấn đề tố tụng trong bộ QTHL thời Lê [115] Một số nội dung về pháp luật tố tụng

phong kiến Việt Nam cũng được trình bày khái lược trong các giáo trình“Lịch sử Nhà

nước và Pháp luật Việt Nam” của Vũ Thị Phụng (1990); Đào tạo từ xa Đại học Huế

(1998); Viện Đại học mở (2013); Đại học Huế (2016 - 2019); Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (2013 - 2019) Giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội (2002 – 2017) [93] Giáo trình khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội (2017 - 2019) [220]

Qua việc tổng hợp khái quát những kết quả nghiên cứu trên cho thấy, có thể tiếp thu những công trình đi trước về chính thể quân chủ, bộ máy hành chính tư pháp, cơ sở kinh tế xã hội, cơ sở tư tưởng chính trị pháp lý, tư tưởng đức trị pháp trị, về luật tục, hương ước, lệ làng Tuy nhiên, đi sâu vào lý luận và lịch sử chuyên ngành về pháp luật

tố tụng PKVN thì vẫn còn rất sơ lược và dường như là vấn đề còn để ngỏ

Nghiên cứu chuyên về hình thức và nội dung pháp luật tố tụng PKVN

Công trình nghiên cứu thứ nhất:“Nghiên cứu về hệ thống pháp luật Việt Nam thế

kỷ XV – XVIII” (1994) thuộc dự án tài trợ của Toyota Nhật Bản, GS Đào Trí Úc làm

chủ biên, trong đó có bài viết của nhà nghiên cứu Phạm Điềm về “Pháp luật tố Tụng”

[165, tr.245- 262] Đây là công trình nghiên cứu tương đối chuyên sâu về pháp luật tố

tụng triều Lê, về các tư liệu bộ QTHL và QTKTĐL, trong đó đề cập hai nội dung: Thứ

nhất, thẩm quyền và trình tự tiến hành tố tụng theo cơ cấu chính quyền các cấp: cấp xã,

cấp huyện phủ, các trấn ty ở xứ; kiểm soát án từ 3 cấp và hàng năm; Thứ hai: thủ tục tố

tụng: tương đối cụ thể gồm thụ lý việc kiện (đơn kiện và đơn tố cáo, sự thụ lý); thẩm

vấn (sự đòi hỏi nhân chứng và đương sự, sự tra khảo); sự phân xử (nơi xử án, thời hạn

xử án, phương pháp xử án) Tác giả nhận định “Pháp luật tố tụng triều Lê đã đạt được nhiều thành tựu” Mặc dù đã có những nghiên cứu về lĩnh vực tố tụng nhưng rất cần có

Trang 12

sự nhận định đánh giá toàn diện về tính gắn kết lợi ích của chế độ quân chủ với việc ban

hành bộ luật tố tụng chuyên ngành khi lý giải thêm về sự song trùng giữa quản lý hành

chính nhà nước và quản lý hoạt động về tố tụng

Công trình nghiên cứu thứ hai:“Lịch sử luật Tố tụng Hình sự Việt Nam” (2003)

của TS.Trần Quang Tiệp [214, tr.7- 46] Nội dung nghiên cứu sơ lược về cơ quan tiến

hành tố tụng; người tiến hành tố tụng là các Hình quan, người tham gia tố tụng với tư

cách là người làm chứng; nguồn chứng cứ và lời khai thông qua hỏi cung, đối chất, tra

khảo, đánh trượng, phạt tiền; Thủ tục xét xử; thời hạn xử các vụ kiện và các quy định về

trách nhiệm xét xử của quan chức Theo đánh giá của nhà nghiên cứu Trần Quang

Tiệp:“Pháp luật tố tụng hình sự thời kỳ này đã đạt được một số thành tựu nhất định

trong việc quy định về các cơ quan tiến hành tố tụng, thủ tục thi hành án hình sự, thể

hiện tư tưởng nhân đạo, nhân văn trong hoạt động tố tụng hình sự của cha ông chúng ta

lúc bấy giờ”[214, tr.46] Tuy nhiên, công trình này chủ yếu nghiên cứu sơ lược dưới

góc độ tư liệu lịch sử với một số điều trong văn bản QTHL và HVLL, còn nội dung các

bộ Hội điển thời Lê Sơ - Lê Thánh Tông và QTKTĐL văn bản chủ yếu về tố tụng lại

chưa được tiếp cận trong công trình này

Công trình nghiên cứu thứ ba: Bài viết về “Pháp luật tố tụng PKVN trong bộ

QTHL” của TS Hoàng Thị Minh Sơn được in trong cuốn “QTHL – Lịch sử hình thành

nội dung và giá trị” (2004) chủ biên là TS Lê Thị Sơn Nội dung khái lược về trình tự

tố tụng qua các giai đoạn: khởi tố, điều tra, truy tố, xét hỏi, xét xử và thi hành án [197,

tr 267 - 287] Tác giả đã chỉ ra hai nguyên nhân phát triển của pháp luật tố tụng thời Lê

Sơ là do chế độ quân điền và nội chiến Đồng thời khẳng định:“Lòng nhân ái của vị vua

lỗi lạc như Lê Thánh Tông và quần thần của một triều đại đang lên cũng là yếu tố làm

cho những quy định về luật tố tụng hình sự trong QTHL mang tính tiến bộ”[197, tr

285] Tác giả cũng đã chỉ ra một số điểm tiến bộ đặc trưng của pháp luật thời Lê Sơ

Tuy nhiên, công trình nghiên cứu này chưa so sánh với các quy định về tố tụng thời Lê

Thánh Tông, với QTKTĐL và pháp luật tố tụng triều Nguyễn sau này

Công trình nghiên cứu thứ tư: “Định chế pháp luật và tố tụng triều Nguyễn (1802 –

1885)” (2017) của tác giả Huỳnh Công Bá Đây là một trong những công trình nghiên

cứu chuyên về pháp luật triều Nguyễn Tác giả đã trình bày phần tố tụng triều Nguyễn với

khoảng 30/608 trang từ 535 đến 565 Tác giả nhận định: “Triều Nguyễn không chỉ xây

dựng được một thiết chế nhà nước trung ương tập quyền hoàn thiện, có bề thế, vững

mạnh, mà còn tổ chức ra được một hệ thống hoạt động về tư pháp có kỷ cương, chặt

chẽ, dựa trên một nền pháp chế chuyên chế có hiệu lực, làm cho nhà nước phong kiến

Nguyễn một thời tương đối ổn định” [63, tr.569]

Ngoài ra còn có các đề tài khoa học, bài tạp chí, luận án, luận văn có nội dung về

pháp luật tố tụng PKVN Tác giả Vũ Thị Yến với bài viết về“Giám sát quyền lực nhà

nước trong lĩnh vực tố tụng ở Đàng ngoài thời Lê Trung Hưng (1532 – 1789)” [227,

tr.22 - 28] Luận văn của ThS Nguyễn Thị Thu Dung (2016)“Tư tưởng về pháp luật tố

Trang 13

tụng hình sự của Lê Thánh Tông giai đoạn từ năm 1460 đến năm 1497” Luận văn lấy

mô hình luật tố tụng hình sự hiện đại để nghiên cứu pháp luật tố tụng thời kỳ phong kiến nên chưa thể đánh giá đầy đủ những đóng góp của triều đại Lê Thánh Tông trong

tiến trình phát triển của pháp luật tố tụng PKVN Đề tài về“Pháp luật tố tụng ở Việt

Nam trong tiến trình Lịch sử” năm 2017 của Khoa Pháp luật Hành chính Nhà nước,

Trường Đại học Luật Hà Nội [119]

Một số nghiên cứu của tác giả: Để nghiên cứu đề tài này, tác giả cũng đã có một

số công trình tiếp cận về pháp luật tố tụng triều Lê Trịnh Nguyễn như sau:

Thứ nhất, Nhà nước pháp luật quân chủ triều Nguyễn (1802 – 1884), giáo trình

đại học trong đó có phần về tổ chức hành chính tư pháp và pháp luật tố tụng triều Nguyễn (2002) [177, tr 319 – 466]

Thứ hai, Luận văn thạc sỹ sử học với đề tài“Pháp luật và thực tiễn tố tụng Việt Nam thế kỷ XV–XVIII”(2007) là công trình nghiên cứu so sánh pháp luật tố tụng từ thời

hình thành, qua Lý Trần, Lê Sơ đến thời Lê Trịnh thông qua các điều khoản trong Bộ luật và Hội điển, thống kê văn bản pháp luật và các vụ án điển hình thời Lê Tuy nhiên, luận văn này chưa nghiên cứu được những VBPL quan trọng về tố tụng của triều vua

Lê Thánh Tông và chưa có sự so sánh với pháp luật tố tụng triều Nguyễn [178]

Thứ ba,“Khái quát về Tố tụng Hình sự ở Việt Nam thời kỳ phong kiến” nằm

trong số chuyên đề “Mô hình Tố tụng Hình sự Việt Nam” của Viện khoa học kiểm sát (2010) Bài viết khái lược lịch sử lập pháp từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX và đánh giá cao cách phân loại vụ việc trong quy trình tố tụng của QTKTĐL và nghiên cứu giản lược về pháp luật tố tụng triều Nguyễn thời Gia Long (1802 – 1819) và Minh Mệnh

(1820 – 1840), nghiên cứu“Luật Hình về sự phán quyết bản án” trong bộ HVLL Từ

đó, sơ đồ hóa hệ thống tư pháp qua các mô hình [Phụ lục – 4 Mô hình] [179, tr.5 - 102]

Thứ tư, “So sánh pháp luật tố tụng và thực tiễn áp dụng của nhà nước phong kiến và nhà nước Việt Nam hiện nay” (2013) Qua so sánh, tác giả chỉ ra một số điểm

khác biệt về mục đích, phân loại, chủ thể, chức năng, giám sát và chế tài xử lý và hệ quả tố tụng xưa và nay Đồng thời chỉ ra 5 biện pháp đổi mới trong hoạt động tư pháp

và tạo lập cơ chế liên ngành trong hệ thống tư pháp hành chính [181, tr 42 - 46]

Thứ năm, “Điểm tiến bộ và những vấn đề còn tồn tại trong mô hình tố tụng Việt Nam hiện nay so với mô hình tố tụng của nhà nước PKVN trước đây”(2015) Qua

nghiên cứu, có thể nhận thấy mô hình tố tụng thẩm vấn xét hỏi thời quân chủ cũng có nhiều ưu điểm như đảm bảo tính thống nhất, tính chuyên sâu, tính pháp chế, tính cụ thể

và hiệu quả trong áp dụng pháp luật Xử lý vi phạm của quan lại xét xử trong cổ luật là đặc biệt nghiêm khắc Đây là một trong những giá trị của cổ luật VN [182, tr.26 - 31]

Thứ sáu, Đặc điểm pháp luật tố tụng của nhà nước phong kiến Việt Nam”

(2016) [184, tr 26- 33] Bài viết khái quát đặc điểm pháp luật tố tụng PKVN trên năm phương diện: tư tưởng chính trị pháp lý và lập pháp; tiến trình xây dựng pháp luật tố tụng; hình thức và cấu trúc tiến bộ; quy định pháp luật thông lệ về khám tụng, trách

Trang 14

nhiệm quan lại, các thủ tục khởi kiện, thụ lý, điều tra, xét hỏi và thi hành án; áp dụng pháp luật tố tụng đảm bảo tính pháp trị, đảm bảo đủ chứng cứ, tuân thủ điều lệ, tránh sự tùy tiện hoặc dung túng tệ hại Pháp luật tố tụng là một trong những giá trị đặc sắc của văn hóa pháp lý Việt Nam truyền thống

Thứ bảy,“Phòng chống và xử lý tham nhũng trong pháp luật phong kiến Việt Nam và bài học kinh nghiệm” (2017) [185, tr 59 - 64] Từ quan điểm pháp trị đến luật

pháp về phòng chống tham nhũng là một trong những giá trị cơ bản của nền tư pháp PKVN Theo kinh nghiệm lịch sử, quản lý và xử lý quan chức phải theo một quy trình độc lập, đủ sức mạnh và do nhà cầm quyền tối cao điều hành và kiểm soát

Thứ tám,“Vấn đề lý luận về pháp luật tố tụng của nhà nước phong kiến Việt Nam thế kỷ XV – XIX” (2018) [186, tr.58 – 64] Bài viết khẳng định pháp luật tố tụng là một

yêu cầu tất yếu trong quản trị xã hội dựa trên quyền và nghĩa vụ của các chủ thể nhằm đảm bảo những giá trị công bằng, nhân văn; song với chính thể quân chủ, trên hết pháp luật tố tụng là công cụ bạo lực của nhà vua và giai cấp cầm quyền Ưu điểm cơ bản là đảm bảo tính thống nhất và mục tiêu của nhà nước, bảo vệ chủ quyền, thể chế quân chủ, bảo vệ con người và xã hội chung; Nhược điểm cơ bản là tính chuyên chế độc quyền

Thứ chín,“Những thành tựu về pháp luật tố tụng của Triều đại Lê Thánh Tông

trong lịch sử tư pháp Việt Nam” (2018) [187, tr 52- 58] Bài viết nhìn nhận và đánh giá

những đóng góp của triều đại Lê Thánh Tông về lĩnh vực tố tụng dựa trên các văn bản mới được nhận diện từ năm 2009 Đó là quan điểm và thành tựu lập pháp về tố tụng của

Lê Thánh Tông; Luật pháp khẳng định“tư cách của người làm quan” đóng vai trò

quyết định sự thanh liêm và minh chính của nền tư pháp [140, tr.219 - 293]

Thứ mười, “Giá trị đặc sắc của Pháp luật Dân sự và Tố tụng dân sự phong kiến

Việt Nam & Bài học kinh nghiệm, (2018) [188] Bài viết đi sâu hơn vào lĩnh vực tố tụng

về đất đai, hương hỏa, điền sản, thổ canh thổ cư, của chìm của nổi; về chứng cứ chứng minh trong dân sự tố tụng, về dân sự tạp tụng, cưới xin, tiền nợ, cờ bạc gán nợ, về trách nhiệm dân sự và bồi thường thiệt hại, nuôi bảo cô, “thực khế hư tiền” trong giao dịch dân sự; về các mẫu văn bản chứng cứ trong tranh chấp dân sự Trên cơ sở đó, rút ra bài học về sở hữu, về tính thống nhất liên ngành trong quản lý hành chính tư pháp, về hòa giải dân sự và hiệu quả vụ án, về trách nhiệm của cấp chính quyền cơ sở, về án lệ và đạo nghĩa gia đình trong đời sống dân sự tố tụng

Nhìn chung, nghiên cứu về pháp luật tố tụng thời quân chủ phong kiến là một chủ

đề khó do tính phức tạp của vấn đề và tư liệu nên chưa được nghiên cứu đầy đủ, toàn diện Nghiên cứu để tìm ra giải pháp phù hợp trong thể chế tư pháp, kết hợp mô hình xét hỏi thẩm vấn với tranh tụng để đạt hiệu quả công lý nhân quyền là vấn đề đã và đang được giới chính trị và luật pháp quan tâm, thiết kế, thử nghiệm Trong thời đại toàn cầu hóa, tư pháp tụng đã dần phải nhường chỗ cho sức mạnh của công pháp tụng; huy động sức mạnh của cả thể chế và công luận xã hội để hướng đến bảo vệ con người

Trang 15

1.1.2 Tình hình nghiên cứu pháp luật tố tụng của nhà nước

phong kiến Việt Nam ở nước ngoài

Nghiên cứu chung về lý luận & lịch sử pháp luật thời quân chủ

Một thực tế ở Việt Nam, khu vực và trên thế giới là nghiên cứu chuyên sâu về lý luận và lịch sử pháp luật tố tụng PKVN còn khá sơ lược, chưa đầy đủ, chưa toàn diện còn nhiều khoảng trống [57, tr.14] Xét tổng quan trong kho tàng tư liệu phương Tây

viết về lịch sử Việt Nam, có thể phân biệt thành ba giai đoạn: Giai đoạn một: thời quân chủ phong kiến từ (1639 -1651- 1789 -1802 - 1858); Giai đoạn hai: thời thuộc Pháp (1862 -1884 -1945); Giai đoạn ba: từ 1945 đến nay Các học giả chủ yếu nghiên cứu về

lịch sử xã hội, quan lại và pháp luật thời Lê, Nguyễn Có thể kể đến một số công trình

như:“History of Tonquin” của học giả Pinkerton John viết về lịch sử Đàng Ngoài; Công trình“Community and Revolution in Modern Việt Nam” của Alexander B.Woodside

nghiên cứu về làng quê Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại [234, 235, 236] Công

trình của LiTana “Nguyen Cochinchina, Southern Vietnam in the Seventeenth and

Eighteenth Centuries”với nội dung nghiên cứu về lịch sử chúa Nguyễn Đàng Trong

[243, tr.174] Công trình“Quan và lại ở miền Bắc Việt Nam” tác giả Emmanuel Poisson

người Pháp chủ yếu nghiên cứu về quan lại trong bộ máy nhà nước triều Nguyễn, đó là

tầng lớp tài năng và hoạt động hiệu quả [84, tr.47] Công trình “Silk for Silver: Dutch

Vietnamese Relations”của Hoàng Anh Tuấn, tác giả khai thác từ các hợp đồng thương

mại của các công ty Đông Ấn, Hà Lan và Anh quốc [248, tr.179] Anthony Farrington,

“Những tài liệu của công ty Đông Ấn Anh liên quan đến phố Hiến và Đàng Ngoài”

nghiên cứu những ghi chép của các thuyền trưởng về xã hội Việt Nam cùng với một số hoạt động tố tụng xét xử của triều đình Lê Trịnh [61, tr 54]

Tác giả Yoshiharu Tsuboi Nhật Bản với công trình:“Nước Đại Nam đối diện với

Pháp và Trung Hoa 1847 – 1885” phân tích về hoạt động của nhà nước, nhà vua và vị

trí vai trò của tầng lớp văn thân khi đứng trước thử thách thời cuộc, tác giả có đề cập tới hoạt động xét xử, đề cập đến thực tiễn vụ án ông Hoàng Hồng Bảo, minh chứng tòa án

là công cụ thanh trừng quyền lực, kể cả quyền lực tối cao [228, tr 211 - 218]

Công trình“A History of Vietnam”của K.W.Taylor được công bố tại Mỹ năm 2013,

nghiên cứu về Việt Nam từ cổ đại đến đương đại Tác giả K.W.Taylor đã phân tích tư liệu Việt Nam cùng với một số tài liệu lưu trữ ở nước ngoài và có những đánh giá khách quan về hoạt động chính trị, xã hội, quân sự, an ninh và tôn giáo của triều Lê

Nguyễn và thời thuộc Pháp [254, tr 2 – 30, 65 - 75] Có thể nhận thấy rằng: về thể chế

nhà nước & pháp luật thì công trình này chưa tiếp cận một cách hệ thống, phần pháp luật tố tụng chỉ mới nghiên cứu thông qua một vài vụ án tiêu biểu nhưng chưa tiếp cận dưới góc độ về hoạt động tố tụng và pháp luật tố tụng Công trình này cũng cho chúng

ta một cách nhìn tham chiếu, tổng thể về lịch sử Việt Nam trong nhận thức mới của các học giả nước ngoài

Trang 16

Nghiên cứu sơ lược về hình thức và nội dung pháp luật tố tụng

Một số học giả người Pháp tiếp cận và nghiên cứu về tổ chức tư pháp phong kiến

Việt Nam trong một số công trình tiêu biểu như“Nền tư pháp nước Nam cổ xưa” tác

giả Raymond Deloustal, Philastre, Aubaret, dịch và chú giải Bộ luật nhà Lê (La Justice

de I’Ancien An nam Traduction et Commentaire du Code des Lê) [141; 238] Tác giả

Lingat về:“Các chế độ hôn sản tại Đông Nam Á” Paris 1952 (Les resgimes matrionaux

dans le Sud – Est Asiatique) [57, tr.14], nội dung cơ bản nghiên cứu so sánh lĩnh vực hôn nhân và gia đình, bước đầu nói đến hệ thống tư pháp, pháp đình làng xã, hương ước

và luật pháp về tài sản gia đình truyền thống Việt Nam

Luật sư Phan Văn Trường (1875 – 1933) đã bảo vệ thành công luận án tiến sỹ luật đầu tiên của người An Nam tại Đại học đường Paris vào những năm 20 của thế kỷ XX

về pháp luật triều Nguyễn Đề tài bảo vệ của ông là“Những điểm tương đồng và dị biệt

giữa HVLL và Đại Thanh Luật lệ” Luận án được xuất bản thành sách bởi Librairie

moderne de droit et de jurisprudence Ernest sagot et Cie – Paris1 Trong đó tác giả đã phân tích so sánh những điểm tương đồng và khác biệt giữa HVLL và Đại Thanh luật lệ

Trung Quốc.“Đây là một công trình bề thế và tầm cỡ về việc nghiên cứu có tính khoa

học hiện đại tại phương Tây về bộ luật triều Nguyễn Việt Nam” [31, tr.12] Trong đó có

phần nghiên cứu “Luật hình về sự phán quyết bản án” Tác giả cho rằng, bộ luật triều Nguyễn vẫn có nhiều nội dung khác biệt so với luật Đại Thanh M.Aikyo, T.Inaco

(1993) Nghiên cứu hệ thống pháp luật Việt Nam, cũng đã có những đánh giá cơ bản về

quyền tư hữu đất đai trong truyền thống cổ luật Việt Nam [141]

Tại Hoa Kỳ, tác giả Nguyễn Ngọc Huy, Tạ Văn Tài với“Le code des:Quoc Trieu

Hinh Luat ou lois penales de la dynastie nationale” Nguyễn Ngọc Huy, Tạ Văn Tài và

Trần Văn Liêm là tác giả đã dịch bộ QTHL sang tiếng Anh và có bài nghiên cứu chung

về:“Luật truyền thống Việt Nam” [238, tr.173]

Học giả InsunYu người Hàn Quốc trong cuốn“Pháp luật với xã hội Việt Nam thế

kỷ XVII - XVIII” đã nghiên cứu một số nội dung về thủ tục tố tụng của chính quyền cấp

xã, huyện (châu), phủ, xứ thừa tuyên trong “QTKTĐL” và có nhận định: “Trong bộ sách này, sự sắp xếp các vụ án được phân chia thành 31 chương, tùy theo tính chất của các vụ

án đó Giá trị của “QTKTĐL” là nhằm thúc đẩy việc giải quyết công bằng và nhanh chóng các vụ kiện vì lợi ích của nhân dân”[113, tr 65] Học giả InSunYu đã nhận xét

vấn đề tố tụng trong chính quyền Lê Trịnh ở một góc độ khác Ông cho rằng“Sự bất

công trong tố tụng một phần là do sự sa đọa của các quan chức, một phần là do sự can thiệp của các nhóm có quyền thế”[113, tr 64] Tác giả trích lời của Samuel Baron rằng:

“Nếu họ mua đắt các chức vị, thì chắc hẳn là họ sẽ tìm được nhiều lợi thế nhất ở đó và làm tổn hại cho lẽ phải và công lý”[113, tr 233, 234] Đến đầu thế kỷ XVIII, mặc dù đã

có lệnh cấm đạo Cơ đốc, quan trấn thủ của một trấn phía Bắc vẫn cho phép những người

Cơ đốc giáo Việt Nam hội họp tại nhà thờ, sau khi ông đã nhận lễ của họ.“Kết quả là tệ

1 Librairie moderne de droit et de jurisprudence Ernest sagot et Cie –Paris, pp 12

Trang 17

nhũng lạm đã lan từ những quan Thượng thư đứng đầu Pháp viện trung ương đến viên chức thấp nhất của ngành tư pháp ở chính quyền địa phương, họ đã đặt quyền lợi riêng lên trên quyền lợi của nhà nước” [113, tr 232] “Sự sa đọa của các quan chức, đặc biệt

là trong ngành tư pháp Trên danh nghĩa thi hành pháp luật, quyền tư pháp chuyển thành

sự vơ vét, tích lũy của cải riêng Phần lớn các quan tòa đều ăn hối lộ và tiền bạc có thể giải quyết hầu hết các tội ác”[113, tr 234] Những nhận định trên có lẽ cần được nghiên cứu kỹ càng để lý giải sâu hơn về nguyên nhân và hệ quả của hiện trạng này trong đời sống Tòa án ở Việt Nam thời trung đại

Tóm lại, qua các công trình tiêu biểu có thể đánh giá chung việc nghiên cứu pháp luật tố tụng PKVN của các học giả trong và ngoài nước như sau: Một là, các công trình

nghiên cứu còn khá sơ lược, chưa đầy đủ toàn diện, từ tổng quát về thể chế tư pháp đến

nghiên cứu chuyên ngành, chuyên sâu; Hai là, vì tính chất rộng lớn và phức tạp của

khoảng thời gian thế kỷ XV – XIX nên hầu hết các công trình chỉ nghiên cứu dừng ở

thời Lê Trịnh; Ba là, chưa có công trình nào đánh giá và nghiên cứu về thành tựu pháp luật tố tụng thời Lê Thánh Tông để so sánh với thời Lê Trịnh và triều Nguyễn

1.1.3 Hệ thống tư liệu nghiên cứu về pháp luật tố tụng phong kiến Việt Nam

Tư liệu nghiên cứu pháp luật tố tụng phong kiến Việt Nam thời Lê Trịnh Nguyễn

vẫn còn được lưu giữ trong tàng thư cổ luật và sử học Thông qua hệ thống tư liệu, có thể hiểu một cách toàn cục về pháp luật tố tụng thời quân chủ phong kiến Việt Nam và

có thể đánh giá được các công trình trước đây đã nghiên cứu đến đâu

Có thể chia thành hai loại hệ thống tư liệu cơ bản: Thứ nhất: văn bản pháp luật;

Thứ hai: các bộ sử biên niên và thư tịch Trong đó, văn bản pháp luật, các Bộ luật, Hội

điển, Điển chế được coi là tư liệu gốc căn bản nhất 2; Các bộ sử biên niên ghi chép chi tiết về quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật trong đời sống xã hội Trên cơ sở đối chiếu và so sánh sự tác động của pháp luật đến xã hội hiện thực, đến nền kinh tế, chính trị, tập quán, tập tục và ngược lại Sự so sánh hai chiều sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về pháp luật tố tụng từ quan điểm lập pháp, thể chế, quy phạm đến việc áp dụng pháp luật, tất cả được phản ánh và ghi nhận trong thực tiễn của lịch sử xã hội Đồng thời qua đó đánh giá được quá trình xây dựng pháp luật tố tụng, lý giải nguyên nhân phát triển và tìm ra được những thành công và hạn chế của toàn bộ hệ thống pháp luật thời kỳ này3 Học giả Vũ Quốc Thông khuyến nghị rằng: đối với tài liệu viết bằng Pháp văn, Hán văn hay một ngoại ngữ khác mà tác giả là người ngoại quốc, ta cần phải hết sức thận trọng

2 Cách phân loại văn bản pháp luật thời quân chủ PKVN chủ yếu bao gồm: Các Bộ luật, các tập Hội điển, Điển

chế; Các văn bản pháp luật đơn hành vua ban như: Chiếu, Dụ, Chỉ, Sắc, Lệnh, Lệ; Chế, Cáo; Các văn bản có sự

phê duyệt của Hoàng đế như: Chuẩn định, Chuẩn Đình nghị, Châu bản triều Nguyễn; Các văn bản hành chính triều Lê Trịnh Nguyễn như: Biểu, tấu, sớ; Khải văn, Cẩn khải văn; Truyền, Sai, Phó, Công di, Khiển; Các văn bản pháp luật ở đơn vị hành chính địa phương cơ sở làng (thôn) xã như: Hương ước, Khoán lệ, Khoán ước, Lệ làng Ngoài ra còn có Luật tục lưu truyền được tôn trọng và thực thi trong đời sống của các dân tộc Tày, Thái, Mường, Dao (Tây Bắc), Ê đê, Gialai, Bana (Tây Nguyên), đặc biệt là các tập tục về Hôn nhân Gia đình, nghi lễ, tâm linh, tôn giáo và xử phạt vi phạm theo phong tục tập quán Việt Nam là dân tộc thống nhất trong tính đa dạng văn hóa

3 Xin xem phần Phụ lục 1 - do giới hạn của số trang nên luận án chỉ trình bày sơ lược nội dung các VBQPPL tố

tụng PKVN trong các bộ Hội điển, Điển chế và các Bộ luật của các triều Lê Trịnh Nguyễn

Trang 18

vì tác giả các tài liệu này rất có thể không am tường phong tục, tập quán của dân ta, và

do đó, rất có thể không thấu triệt được ý định của các nhà lập pháp Việt Nam Do vậy, luận án này sẽ căn cứ chủ yếu vào các văn bản cổ luật và tư liệu trong các bộ sử biên niên để nghiên cứu về pháp luật tố tụng PKVN

1.2 Nhận xét về tình hình nghiên cứu

1.2.1 Nhận xét tổng quát về tình hình nghiên cứu

Nhìn một cách tổng thể có thể thấy, số lượng các công trình nghiên cứu liên quan tới đề tài luận án không nhiều, hiện tại chưa có công trình nghiên cứu một cách hệ thống

và đầy đủ, toàn diện về pháp luật tố tụng Việt Nam thời phong kiến từ thời Lý Trần Lê Trịnh đến triều Nguyễn Trong khi hệ thống tư liệu văn bản pháp luật thời Lê Thánh Tông, Lê Trịnh và triều Nguyễn thì khá phong phú Đây là một thuận lợi đồng thời cũng là một thách thức đối với việc triển khai nghiên cứu đề tài

1.2.2 Những nội dung nghiên cứu về pháp luật tố tụng đã được làm sáng tỏ

Căn cứ vào mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, có thể nhận thấy nội dung liên quan đến đề tài đã được giải quyết ở một số công trình trước đây như sau:

Thứ nhất, trên phương diện lý luận và lịch sử Những vấn đề chung về tổ chức nhà

nước và pháp luật PKVN như: tư tưởng chính trị pháp lý, chế độ chính trị, hình thức chính thể quân chủ, tổ chức hành chính quân sự tư pháp và Tòa án các cấp thời Lê Thánh Tông, Lê Trịnh, thời Gia Long và Minh Mệnh

Thứ hai, trên phương diện nội dung pháp luật tố tụng PKVN và thực tiễn áp dụng

Một số công trình nghiên cứu về quá trình hình thành và phát triển pháp luật tố tụng PKVN về hình thức, nội dung như: khởi kiện, thụ lý, khảo cung, xét xử, thi hành án, ân

xá trong bộ QTHL, QTKTĐL và HVLL Các tác giả như Phan Huy Chú, Vũ Quốc Thông, Vũ Văn Mẫu, Phạm Điềm, Hoàng Thị Minh Sơn, Nguyễn Ngọc Huy, Tạ Văn Tài, InsunYu, đã tiếp cận ở một vài góc độ Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa đầy đủ, toàn diện, chưa khảo cứu so sánh và đánh giá được toàn bộ tiến trình phát triển

Thứ ba, trên phương diện giá trị khoa học của pháp luật tố tụng PKVN Kết quả

của một số công trình nghiên cứu của các học giả cũng đã cung cấp một lượng kiến thức quan trọng về các giá trị của pháp luật tố tụng Việt Nam thời phong kiến qua cách nhìn tổng hợp, đặc biệt là bộ QTHL thời Lê, HVLL triều Nguyễn

Có thể nhận thấy về cả phương diện lý luận và thực tiễn, pháp luật tố tụng PKVN chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, khách quan, toàn diện Không những thế, còn

có những nhận định chưa thống nhất giữa các nhà nghiên cứu về những đóng góp của triều Lê Thánh Tông, Lê Trịnh và triều Nguyễn về hình thức, nội dung, thủ tục, hiệu quả và tính công lý của tòa án

1.2.3 Những vấn đề cần được nghiên cứu bổ sung hoặc chưa được đặt ra

Có thể nhận thấy, về lý luận lịch sử, hình thức, nội dung, thực tiễn áp dụng và giá trị của pháp luật tố tụng PKVN đều cần phải được nghiên cứu bổ sung mới có thể đưa ra những nhận định khách quan, toàn diện và đúng đắn Sự lo lắng về nền chính trị kiểu

Trang 19

phương Đông cũng có thể làm khó khăn hơn cho những nhận diện trung thực và minh bạch về pháp luật tố tụng nói chung và án từ nói riêng trong quá trình lịch sử

Về lý luận và lịch sử pháp luật tố tụng phong kiến Việt Nam Cần làm sáng tỏ thêm

khái niệm, vị trí vai trò, nguyên tắc, đặc điểm, bản chất của pháp luật tố tụng; về cơ cấu

tổ chức, về các chủ thể tham gia quá trình tố tụng qua các giai đoạn lịch sử PKVN

Về pháp luật tố tụng trong các Bộ luật, Hội điển và các văn bản đơn hành

Về hình thức, cần nghiên cứu mối liên hệ giữa các văn bản pháp luật từ Bộ luật đến

Hội điển, từ luật hình thức đến luật nội dung và luật thủ tục Theo đó, Bộ luật có cấu trúc

từ phần Danh Lệ đến Bản Điều, quy trình định tội lượng hình đều có sự thống nhất, ngắn gọn, dễ hiểu và cụ thể khi áp dụng; Nghiên cứu về tố tụng dân sự, quan chế hành chính

Về so sánh pháp luật tố tụng thời Lê Thánh Tông, Lê Trịnh và Triều Nguyễn

Luận án sẽ làm sáng tỏ thêm về các văn bản chuyên sâu về pháp luật tố tụng

như:“Hồng Đức niên gian chư cung thể thức”,“Nhân mạng tra nghiệm pháp”,“Từ tụng

điều lệ”,“Quốc triều khám tụng điều lệ”, mối quan hệ của các VBPL này với QTHL

Luận án cũng có thể so sánh để thấy được một số thành tựu và giá trị tiến bộ của luật tố tụng triều Nguyễn, từ Hội điển đến HVLL, từ Điều luật đến Điều lệ Vấn đề ứng dụng linh hoạt quy luật giá trị trong hoán đổi hình phạt, chuộc hình phạt bằng tiền

Về xây dựng mô hình pháp luật tố tụng của nhà nước phong kiến Việt Nam thế kỷ

XV - XIX Có thể nhận thấy, mô hình pháp luật tố tụng PKVN có rất nhiều giá trị mà có

thể đến nay chúng ta chưa nhận diện được hết

Về thực tiễn vận hành pháp luật tố tụng phong kiến Việt Nam Hiểu thực tiễn chính

là thực tế tồn tại khách quan, những ưu điểm và hạn chế cần khắc phục khi ban hành và thực thi pháp luật tố tụng

Những điểm tương đồng và khác biệt qua các giai đoạn: Lê Sơ, Lê Trịnh, triều Nguyễn Vị trí tối thượng của vua Lê, chúa Trịnh và vua Nguyễn trong bộ máy quyền lực

nhà nước và những ảnh hưởng của quyền chính trị đến sự phát triển của pháp luật tố tụng

Về án từ (Án lệ - Lệ án) đã từng được quy định và áp dụng trong pháp luật tố tụng

Trên cơ sở một số bản án điển hình được tổng kết và xây dựng thành mẫu văn bản tương đương các quy phạm pháp luật, được nhà vua ra quyết định áp dụng chung trong các vụ

án có tính chất tương tự Ví dụ như về“Hương hỏa điền sản”,“Tiền lệ Giáp Ất”,“Nguyễn

Mỗ” trong QTHL, HĐTCT, HVLL Lĩnh vực tố tụng cũng có thể được coi là một minh

chứng về sự sáng tạo độc đáo của pháp luật Việt Nam trong suốt quá trình lịch sử

Các đề xuất, kiến nghị cần hướng đến cải cách hệ thống tư pháp, độc lập thống

nhất và kết nối giữa cơ quan quyền lực chính trị với cơ quan hành chính tư pháp quân

sự theo xu hướng chính phủ liêm chính, kiến tạo và phát triển Đó là bài học từ giá trị của cổ luật Việt Nam trong đó có thành tựu về pháp luật tố tụng

1.3 Cơ sở lý luận, câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu của đề tài

1.3.1 Cơ sở lý luận nghiên cứu của đề tài

Khi nghiên cứu, trình bày luận án, tác giả dựa trên cơ sở lý luận sau:

Trang 20

Thứ nhất: Dựa trên quan điểm chính trị của của chủ nghĩa Marx - Engels - Lê

Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, lập trường của Đảng và Nhà nước Việt Nam

Thứ hai: Vận dụng quan điểm lý luận trong pháp luật tố tụng truyền thống với ý

thức hệ tư tưởng dân tộc độc lập, chủ quyền quốc gia và an ninh xã hội

Thứ ba: Vấn đề lý luận và lịch sử về tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước

trong nền quân chủ chuyên chế Việt Nam ảnh hưởng đến hoạt động tố tụng

1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu của đề tài

(1) Những vấn đề lý luận và lịch sử về pháp luật tố tụng PKVN là gì ?

(2) Những đặc điểm đặc trưng bản chất của pháp luật tố tụng PKVN ?

(3) Mối quan hệ giữa các cơ quan hành chính - tư pháp quân chủ PKVN?

(4) Hình thức và nội dung cơ bản của pháp luật tố tụng PKVN thế kỷ XV - XIX ? (5) Những thành tựu, hạn chế và những bài học kinh nghiệm của PLTTPKVN?

(6) Những giá trị lịch sử và đương đại của pháp luật tố tụng PKVN ?

1.3.3 Những giả thuyết nghiên cứu của đề tài

Với mục đích và câu hỏi nghiên cứu của đề tài, tác giả đặt ra một số giả thiết nhằm giải quyết vấn đề khoa học và đúng hướng

Giả thuyết 1: Về những vấn đề lý luận & lịch sử pháp luật tố tụng PKVN

Có sự kết hợp hài hòa yếu tố Đại Việt & Trung Hoa trong nhà nước pháp luật PKVN nói chung cũng như trong tổ chức tư pháp và pháp luật tố tụng nói riêng; Không

có hệ thống Tòa án độc lập, không có chức danh Thẩm phán chuyên nghiệp trong chính thể quân chủ PKVN; Tuyển bổ chặt chẽ, khảo khóa nghiêm ngặt và xử lý nghiêm khắc quan chức vi phạm pháp luật là một đặc điểm của pháp luật tố tụng phong kiến Việt Nam; Lê Thánh Tông là vị hoàng đế ban hành Bộ luật tố tụng đầu tiên trong lịch sử lập pháp Việt Nam; Minh Mệnh là vị vua đề cao Pháp trị trong tố tụng hình án

Giả thuyết 2: Về hình thức & nội dung pháp luật tố tụng PKVN

Không có “Bộ luật Hồng Đức” ở Việt Nam; Luật tố tụng chuyên ngành được ban hành từ thời Lê Thánh Tông (1460 – 1497); Việt Nam là một trong những quốc gia ban hành Bộ luật tố tụng sớm nhất trên thế giới; Pháp luật tố tụng PKVN được thiết kế xây dựng khá đầy đủ về hình thức, nội dung, thủ tục văn bản pháp điển; Giám sát tố tụng, phân loại vụ việc và “Lệ án” là những giá trị đặc sắc nhất trong quy định và áp dụng

pháp luật tố tụng của PKVN

Giả thuyết 3: Về những ưu điểm & hạn chế của pháp luật tố tụng PKVN

Pháp luật tố tụng PKVN có nhiều ưu điểm: về lập pháp, về hình thức, nội dung

& thủ tục; Thi hành án cũng có nhiều quy định tiến bộ như:“Phép nhuận đồ”,“Chuộc hình phạt bằng tiền”,“Giảo trảm giam chờ”, chế độ Thu thẩm Giám sát quyền lực tư pháp; chống độc quyền tòa án là bài học kinh nghiệm quan trọng để xây dựng nền cộng hòa dân chủ hướng tới quyền con người trong Nhà nước Pháp quyền

Hạn chế lớn nhất của pháp luật tố tụng là công cụ bạo lực để thanh trừng chính trị Hạn chế thứ hai là chế độ lưu trữ án từ thư tịch thiếu khoa học & chuyên nghiệp

Trang 21

Giả thuyết 4: Về những giá trị lịch sử & đương đại của pháp luật tố tụng PKVN:

Pháp luật tố tụng của nhà nước quân chủ PKVN thể hiện tính giai cấp, đặc quyền quý tộc, tính xã hội, dân tộc và nhân văn; Cơ chế điều tra, thụ lý và xét án theo loại vụ việc, một trong những thành công cơ bản của pháp luật tố tụng PKVN vẫn còn giá trị đến

đương đại và tương lai Thực tiễn án từ là “hàn thử biểu” cho tính công lý của tòa án

PKVN Nhà nước pháp quyền XHCN & chính phủ kiến tạo, cải cách tư pháp có thể học tập và sáng tạo trên nền gốc của pháp luật tố tụng truyền thống Việt Nam

Giả thuyết 5: Có nhiều những giá trị tiềm ẩn của nền văn hóa pháp lý dân tộc

Việt Nam mà chúng ta có thể học tập và phát huy trong quá trình hội nhập & phát triển Những câu hỏi ở trên sẽ từng bước được trả lời ở các chương 2,3,4 của luận án

Những giả thuyết nghiên cứu của đề tài ở trên hầu hết là giả định đúng

Kết luận chương 1

Qua những nội dung đã trình bày ở trên, có thể nhận định như sau:

Pháp luật tố tụng phong kiến Việt Nam đã được các luật gia nghiên cứu tiếp cận

sơ lược trên cơ sở các khảo cứu các Bộ luật, Bộ Hội điển, Điển chế, các văn bản quy phạm pháp luật, tập hợp Thư tịch và trong các Bộ sử biên niên Mặc dù đã có những thành công nhất định, nhưng nếu xét một cách tổng thể thì pháp luật tố tụng trong giai đoạn từ thời Lê sang thời Nguyễn còn nhiều nội dung vẫn còn để ngỏ Một số văn bản pháp luật tố tụng thời Lê Thánh Tông và Lê Trịnh chưa được nghiên cứu hệ thống chuyên sâu, những đánh giá nhận định chưa khái quát, nội dung còn mâu thuẫn, chưa thống nhất, chưa có sự so sánh giữa thời Lê với thời Nguyễn

Thực tiễn cho thấy pháp luật tố tụng và án từ là một thành tố quan trọng đặc biệt trong chính thể quân chủ, cho dù nhìn dưới góc độ chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội, gia đình hay nhân sinh Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, từ những nghiên cứu tổng quan

có thể nhận thấy hoạt động lập pháp về lĩnh vực tố tụng trong chính thể quân chủ của nhà nước phong kiến Việt Nam đạt khá nhiều thành tựu

Để nhận diện được khách quan toàn diện về nền cổ luật truyền thống kết nối với

đương đại theo nguyên lý “ôn cố nhi tri tân” rất cần có công trình nghiên cứu sâu hơn

về chủ đề “Pháp luật tố tụng phong kiến Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX” theo góc nhìn phổ rộng, nhận diện đầy đủ về lịch sử pháp luật tố tụng Tìm hiểu về quan niệm khái niệm, về cơ sở lý luận và thực tiễn của đời sống pháp luật tố tụng trong bức tranh tổng thể xã hội, trong bối cảnh lịch sử trong nước và khu vực, trong trình độ kinh tế,

chính trị của thể chế phong kiến quân chủ chuyên chế

Trang 22

Chương 2 NHẬN DIỆN VỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ PHÁP LUẬT TỐ TỤNG PHONG

KIẾN VIỆT NAM THẾ KỶ XV – XIX

2.1 Những vấn đề lý luận về pháp luật tố tụng PKVN thế kỷ XV - XIX

2.1.1 Những vấn đề lý luận chung về pháp luật tố tụng

2.1.1.1 Sơ lược lịch sử pháp luật tố tụng

Lịch sử loài người từ xa xưa đã manh nha hình thành quan niệm cơ bản về hoạt động tố tụng Khi đó, vai trò quan tòa thường là các vị thủ lĩnh, các tù trưởng, tộc trưởng, các vị vua chúa của các thị tộc, bộ lạc của nhà nước sơ khai Bước sang thời kỳ

cổ trung đại, các nhà nước ở phương Đông như Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Trung Quốc, các nước Trung Đông, Đông Á, Đông Nam Á dần hình thành nhà nước quân chủ

và hệ thống pháp luật thành văn để củng cố quyền lực chuyên chế với nguyên tắc quân quyền tối cao thuộc về các Pharaon, các Calipha, các tăng lữ, giáo chủ, nhà vua, vương hầu, lãnh chúa Họ đồng thời là nhà cầm quyền, quan tòa, thủ lĩnh quân sự tối cao, có đặc quyền đẳng cấp quý tộc theo nguyên tắc tôn quân cha truyền con nối

Khác với loại hình nhà nước quân chủ chuyên chế phương Đông là nền cộng hòa

Hy Lạp và La Mã cổ đại Điển hình là nền cộng hòa dân chủ chủ nô Athens, nơi mà các công dân có tài sản được định giá bằng các medin lương thực, họ có quyền tham gia chính quyền, bầu cử và được nói lên tiếng nói của mình Tổ chức nhà nước thành lập hội đồng công dân, hội đồng tướng lĩnh, hội đồng quan chấp chính và đã có Hội đồng xét xử công khai [132, 171] Những quy định về tố tụng thời cổ trung đại đã xuất hiện trong các văn bản pháp luật như bộ luật Hammourabi, Luật Manou, Luật Salic, Đỉnh hình, Trúc Hình, Cửu chương luật Luật Dracon và Luật La Mã đã đặt nền tảng giá trị công lý của con người về tính mạng và quyền tài sản cũng như đảm bảo giá trị của khế ước trong giao dịch dân sự, hợp đồng thương mại và phân chia di sản thừa kế trong gia đình Tố tụng thời trung cổ ở Tây Âu bị chi phối bởi nhiều thế lực cát cứ phân quyền, trong đó có sự đối trọng quyền lực chính trị, tố tụng xét xử giữa nhà thờ, tăng lữ, nhà vua và lãnh chúa Trong thời kỳ này, các chế tài được áp dụng cũng không kém phần man rợ Nhà nước phong kiến ở các nước phương Đông, trong đó có Việt Nam đã hình thành và phát triển trải qua hàng nghìn năm với sự ra đời của pháp luật tố tụng đã phần nào đảm bảo chức năng và giá trị của nền tư pháp trong bảo vệ nhà nước, xã hội, con người và tài sản, gia tộc và cộng đồng

Nghiên cứu khái niệm nhà nước pháp luật phong kiến ở cả phương Đông và

phương Tây đều cho thấy đặc điểm chung nhất là Feodalite -“Phong hầu kiến địa”:

Nhà nước pháp luật phong kiến bảo vệ chế độ quân chủ chuyên chế tập quyền và lợi ích của các lãnh chúa cát cứ, trong đó xác định mối quan hệ chủ yếu là giữa giai cấp địa chủ, quý tộc, vua chúa, lãnh chúa và nông dân tá điền cày thuê Giai cấp thống trị nắm quyền sở hữu ruộng đất và tư liệu sản xuất, bóc lột tầng lớp nông dân và người làm thuê

Trang 23

thông qua việc quản lý đất đai, phương tiện tạo ra sản phẩm nuôi sống xã hội, để thu thuế và bóc lột sức lao động

Nghiên cứu về pháp luật tố tụng của nhà nước phong kiến cũng xuất phát điểm bắt đầu từ việc nghiên cứu nhà nước và chế độ phong kiến Pháp luật tố tụng của nhà nước phong kiến Việt Nam về cơ bản là đã thực hiện được những mục tiêu bảo vệ chính thể nhà nước, đảm bảo trật tự an ninh xã hội, bảo vệ con người về tính mạng, tài sản và danh dự Pháp luật tố tụng phong kiến Việt Nam cũng đã có những bước phát triển đáng

kể, góp phần xây dựng nhà nước pháp luật trong thế kỷ XV – XIX và có ảnh hưởng lâu dài trong tiến trình lịch sử

2.1.1.2 Quan niệm, khái niệm về pháp luật tố tụng

Pháp luật tố tụng hình thành từ những nhu cầu của xã hội, khi nảy sinh những

tranh chấp, những hành vi có tính chất gây nguy hiểm cho xã hội đòi hỏi cần phải có sự phán xử công bằng thông qua các thủ tục nhất định Trong pháp luật PKVN, không có định nghĩa khái niệm về “pháp luật tố tụng” mà chỉ có khái niệm về luật lệ “Khám tụng” (tra khám kiện tụng), “Bộ vong” (truy bắt), “Từ tụng” (đơn từ kiện tụng), “Chư cung” (khảo cung), “Đoán ngục” (xử đoán, quản ngục) và “Luật hình về sự phán quyết bản án” (luật tố tụng xét xử)

Nghiên cứu về khái niệm “tố tụng”, từ điển Hán Việt giải thích:“Tố là báo, là nói

ra, tố cáo; Tụng là kiện cáo, tranh cãi đúng sai” [221, tr.545] Từ điển Việt Pháp cũng

có nghĩa tương tự: là tố cáo (acccuser, dénoncer), tố tụng, kiện tụng, vụ kiện, tranh cãi, tranh kiện (procès, plaider, cause, contester, litige) [86, tr.771-1003-1113] Theo từ điển Anh Việt thì: tố tụng là kiện tụng, tranh tụng, tranh chấp, cửa kiện (law litigate) theo nghĩa là hầu toà, dự phiên tòa; kiện cáo, tranh chấp trước toà; là quá trình tố tụng bằng thủ tục pháp lý, trát đòi, lệnh toà (process) [172, tr.126] So sánh những nội dung liên quan đến tố tụng được giải thích một cách ngắn gọn nhất qua các từ điển để hiểu được phần nào sự phân biệt của hệ thống tố tụng theo quan điểm của phương Đông và phương Tây Nếu như phương Đông trong hoạt động xét xử chủ yếu dựa trên hồ sơ thủ tục quan án xét hỏi tại tòa thì phương Tây hướng vào tranh tụng của các bên trước toà Thủ tục tố tụng của các nhà nước phương Đông thường được quyết định bởi quyền cao nhất của nhà vua thì ở phương Tây ngoài nhà vua, còn phải chịu sự chi phối của Hội đồng thẩm phán, Tòa án Giáo hội Thiên chúa, Tòa Lãnh chúa, Chính quyền tự quản thành phố, Bồi thẩm đoàn và tổ chức Luật sư Nhìn tổng thể, pháp luật tố tụng ở các nước phương Đông tính độc quyền chuyên chế cao hơn ở các nước phương Tây

Định hình quan niệm pháp luật nói chung và pháp luật tố tụng nói riêng của nhà nước phong kiến Việt Nam từ xưa đến nay, về cách hiểu cũng không hoàn toàn đồng nhất Các triều đại thường coi trọng mục đích của việc ban hành pháp luật là củng cố chính quyền, xử lý vi phạm, hướng tới an dân, bảo đảm công bằng và ổn định xã hội Trong quan niệm của người Trung Hoa thời cổ đại, pháp luật âm thanh căn bản của

cuộc sống, là nhịp điệu của đoàn quân hành tiến, là “Đạo pháp trừ tà khúc”

Trang 24

[137,160,161] Với Đại Việt, từ thời nhà Lý, việc kiện tụng trong nước phiền nhiễu, quan lại câu nệ luật văn có từ trước, xét xử quá đáng Năm 1042, Lý Thái Tôn sai quan Trung Thư biên soạn bộ Hình thư của triều đại, sách làm xong vua xuống chiếu ban

hành.“Từ đó phép xử án được bằng thẳng rõ ràng, dân lấy làm tiện dụng”[23, tr.263]

Vua Lê Thánh Tông năm 1464 từng khẳng định:“Pháp luật là phép công của nhà nước,

ta cùng các ngươi đều phải theo, các ngươi nên nhớ lấy” [24, tr.401] Vua Hiển Tông, năm Cảnh hưng thứ 38 (1777) sửa định điều lệ xét xử kiện tụng, ban chỉ dụ

rằng:“Những điều lệ về kiện tụng, đặt làm định pháp, biên soạn thành sách, chỉ bảo rõ

ràng nhất định, ban xuống cho các nha môn tuân hành, theo đúng điều lệ, cốt làm cho chính sự công bằng, kiện tụng đúng phép, dân được thịnh vượng yên vui, để xứng đáng chức vụ” [10, tr.303] Đến triều Nguyễn, Hoàng đế Gia Long cũng đặc biệt coi trọng

việc ban hành luật pháp, xử lý vi phạm:“Thánh nhân cai trị thiên hạ đều dùng luật pháp

để xử tội, dùng đạo đức để giáo hóa họ, hai điều ấy không thiên bên nào bỏ bên

nào”[31, tr.1-3] Minh Mệnh là người đề cao Pháp trị trong tính ứng dụng thực hành [51; 52; 53] Theo đó, có thể nhận thấy, pháp luật tố tụng là bộ phận của pháp luật chung để xử lý vi phạm, hướng tới công bằng xã hội

Các luật gia Việt Nam Cộng hòa quan niệm về pháp luật chung và pháp luật tố

tụng có tính linh hoạt và khái quát cao hơn Theo Vũ Văn Mẫu:''Pháp luật là những

điều mà loài người đã đặt ra để chi phối các hoạt động của mình trong một quốc gia Luật pháp luôn luôn uyển chuyển để thích nghi vào các điều kiện xã hội, bao gồm tất cả các điều kiện lịch sử, truyền thống văn hóa, tục lệ, kinh tế, xã hội, con người" [148,

tr.24] Nguyễn Quang Quýnh thì cho rằng: “Pháp luật là tất cả những qui tắc có tính

cách cưỡng chế qui định sự tổ chức xã hội và chi phối tương quan giữa những phần tử trong xã hội Những qui tắc này ấn định những điều cá nhân có thể hay có quyền làm những điều pháp luật cho phép và không được làm những điều bị pháp luật cấm đoán”

[195, tr.3] Theo đó“Công pháp tụng là một kỷ luật pháp lý biệt lập khảo sát các tranh

tụng công pháp và các giải pháp tài phán nội dung của các pháp đình công pháp” “Tư pháp tụng là chế tài pháp lý khảo sát các tranh tụng tư pháp và các tài phán nội dung

của các pháp đình tư pháp”[81,tr.15] Pháp luật tố tụng VNCH có tính cách thiên về quy trình và thủ tục tranh tụng, toàn bộ quá trình đều mang màu sắc chính trị

Theo Leopold Wenger, nhà nghiên cứu người Áo, trong cuốn“Pháp luật về thủ

tục tố tụng dân sự”, Ông cho rằng:“Pháp luật tố tụng là một thuật ngữ dùng để mô tả

một tập hợp các quy tắc về hoạt động tố tụng của Tòa án được pháp luật cho phép tiến hành để giải quyết các sự kiện xảy ra trước khi, trong khi và sau xét xử Nó được áp dụng trong việc giải quyết vụ án hình sự và các vụ việc dân sự, hành chính Mục đích của hoạt động tố tụng là để chắc chắn rằng tất cả các trường hợp đưa ra Tòa án được giải quyết một cách công bằng và nhất quán”[242, tr 440]

Trong Bộ luật Tố tụng Hình sự, Tố tụng Dân sự và Tố tụng Hành chính, pháp luật tố tụng được định nghĩa là: Toàn bộ hoạt động của Tòa án, Cơ quan điều tra, Viện

Trang 25

kiểm sát, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và các bên, cá nhân, pháp nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, cũng như trình tự, thủ tục pháp luật quy định đối với việc khởi kiện, thụ lý, xét xử, giải quyết vụ án và thi hành bản án, quyết định của Tòa án để bảo vệ con người, tài sản và công lý [7; 8; 116]

Như vậy pháp luật và pháp luật tố tụng xưa nay đều được coi là phép công bằng

mà mọi chủ thể phải tuân hành, phù hợp hài hòa với điều kiện lịch sử, phong tục tập quán, nhằm đạt tới mục tiêu bình ổn xã hội và vì con người Khi đi sâu nghiên cứu bản chất, nguyên tắc, đặc điểm pháp luật tố tụng từ nhà nước quân chủ đến đương đại, có thể khái quát quan niệm, khái niệm như sau:

Pháp luật tố tụng là tập hợp những quy định mang tính nguyên tắc về toàn bộ quá

trình hoạt động tố tụng, được tiến hành theo một trình tự, thủ tục, quy trình nhất định

để xét xử các vụ án hình sự, vụ việc dân sự, hành chính, quân sự hoặc giải quyết các vụ việc tranh chấp khác giữa các bên nhằm bảo vệ con người và tài sản, bảo vệ nhà nước

và xã hội cộng đồng, hướng đến công lý, công bằng, ổn định và phát triển

Trong lịch sử, pháp luật tố tụng là những quy tắc định khung cho hành vi của các chủ thể trong quá trình xử lý một vụ án mà các bên đều phải tuân thủ Các quy định đối với bên nguyên, bên bị, bên tòa và các bên có liên quan đều phải tuân theo luật nội dung

và các luật về hình thức và thủ tục Công lý và công bằng, khách quan và đồng thuận, hài hòa và phát triển bền vững là mục tiêu chung của toàn bộ quá trình tố tụng

Thực ra việc phân tách khái niệm pháp luật tố tụng chỉ có ý nghĩa về lý luận, còn

trong thực tế, pháp luật nói chung và pháp luật tố tụng nói riêng, đều bắt nguồn từ cuộc sống xã hội Nó chỉ có ý nghĩa khi trở về với cuộc sống thực tiễn, để bảo vệ con người trên mọi phương diện Liên quan đến khái niệm pháp luật tố tụng, cần tìm hiểu những khái niệm khác có liên quan như thẩm quyền tố tụng, thủ tục tố tụng, trình tự tố tụng, quy trình tố tụng, hoạt động tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng

2.1.1.3 Một số khái niệm khác có liên quan đến tố tụng pháp

Thẩm quyền tố tụng: Thẩm quyền tố tụng là quyền hạn được nhà nước, nhà vua

trao cho một số chức sắc đảm nhận các hoạt động tố tụng Cụ thể như, thẩm quyền xét

xử được thực hiện bởi quyền tài phán của Tòa án về một vụ án hay một vụ việc nào đó trong một đơn vị địa lý Mỗi hình thức nhà nước hoặc mỗi quốc gia đều có các quy định

về thẩm quyền tố tụng khác nhau Các quan phải thực hiện đúng chức trách của mình và

phải làm đúng pháp luật Ví dụ, trong Hoàng triều quan chế triều Lê quy định: Ở trung

ương,“Ngự sử án sát để hặc tâu các quan làm việc sai trái, soi xét ẩn khuất cho dân”

“Hình khoa xem xét công việc xử án của Hình bộ phải trái như thế nào”[24, tr

452-454] Ở địa phương, theo điều 672 – QTHL quy định: “Nhân dân trong lộ, trong huyện

có việc tranh kiện nhau, việc rất nhỏ đến kiện ở xã quan; việc nhỏ đến kiện ở huyện quan; việc trung bình đến kiện ở quan phủ lộ; còn việc lớn thì phải đến kinh thành; các quan kể trên phải xét xử cho công bằng đúng pháp luật Có thể nhận thấy, thẩm quyền

Trang 26

tố tụng được quy định cụ thể trong luật và các điều lệ Thẩm quyền tố tụng là quy định

của pháp luật về giới hạn tính quyền lực trong hoạt động tố tụng, trong đó có sự phân công phân cấp về quyền hạn và nghĩa vụ, chức trách thực thi pháp luật tố tụng theo từng lĩnh vực hoặc theo một loại vụ việc cụ thể, theo cấp hành chính hoặc từng khu vực địa lý Thẩm quyền tố tụng được xác định tương ứng với chức vụ và tước phẩm của

quan lại trong bộ máy công quyền Đó là những việc được phép làm và không được phép làm của các chủ thể là quan lại trong nha môn hành chính tư pháp

Thẩm quyền tố tụng thường gắn với người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng Người tiến hành tố tụng là các quan lại có năng lực, trình độ được nhà nước trao quyền thực hiện các nhiệm vụ và phải chịu trách nhiệm cá nhân về hành vi của mình Cơ quan tiến hành tố tụng là hệ thống bộ máy quyền lực công được thiết lập

có thẩm quyền thực thi các nhiệm vụ trong hoạt động tố tụng theo quy định pháp luật

Cơ quan tiến hành tố tụng có quyền ban hành và thi hành bản án, các quyết định có hiệu lực pháp lý buộc các chủ thể có liên quan phải chấp hành Gắn với các hoạt động tố tụng là các thủ tục và quy trình tố tụng

Thủ tục tố tụng: Thủ tục tố tụng là những quy định về điều kiện và các bước

tiến hành thực hiện trước, trong và sau một phiên tòa xét xử bao gồm các quy định về hành trình của một vụ án từ khởi kiện, đơn từ, thụ lý, khảo cung, chứng cứ, chứng minh, án phí và nhiều vấn đề khác Thủ tục tố tụng chuẩn mực sẽ giúp cho các bên tham gia quy trình tố tụng theo đúng luật định, để giúp các bên có thể yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hoặc chứng minh có tội hay vô tội thông qua chứng cứ, chứng minh, thẩm vấn, xét hỏi và cuối cùng ra phán quyết bằng một bản án Nhìn rộng hơn thủ tục tố tụng còn được thể hiện ở các bước trong quá trình xét xử, thủ tục về thời hạn, thời hiệu, thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, chung thẩm, tái thẩm và các “thủ tục tố tụng đặc biệt” của nhà nước và các cơ quan chuyên biệt Trong thời phong kiến, tại triều đình thủ tục tố tụng đặc biệt còn được thể hiện trong hoạt động của các cơ quan, cơ chế như: Tôn nhân phủ, Cẩm y vệ, Đình úy ty, Ngự sử đài, Đô sát viện, Tam pháp ty, Đình nghị, Thu thẩm, Kinh lược Quyền và nghĩa vụ thực hiện các hoạt động tố tụng thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng, các bên tham gia đều có nghĩa vụ tuân thủ toàn bộ quy trình và thủ tục tố tụng theo đúng luật pháp Thủ tục tố tụng trong luật pháp PKVN được quy định rất nghiêm cẩn và chặt chẽ Còn thực tiễn áp dụng thì cũng tùy thời và còn phụ thuộc vào quyền lực tư pháp tối cao, quyết định của vua chúa, tể tướng, các quan đại thần và tứ trụ triều đình [54;55;56;58]

Như vậy, thủ tục tố tụng là những quy định của pháp luật về điều kiện hình thức, nội dung và các bước tiến hành, các đầu việc phải làm trước, trong và sau một phiên tòa Là những quy định chuẩn về khởi kiện, thụ lý, điều tra, xét xử và thi hành án theo một trình tự nghiêm ngặt, chặt chẽ

Đó là những quy định pháp luật về các đầu việc buộc phải tuân thủ trong toàn bộ

quy trình từ khởi tố, đến xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm; về thời

Trang 27

hạn thời hiệu, về cách thức lập văn bản, thu thập bảo quản chứng cứ, tang vật, tài sản, quy định về nghi thức, các bước tại phiên tòa, các chế định điều chỉnh hành vi và trình

tự hoạt động xét xử nhằm thực thi quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia hoạt động tố tụng

Hoạt động tố tụng: Khi nhìn trực diện vào pháp luật tố tụng trong cấu trúc và vận

hành, có thể nhận thấy trọng tâm của toàn bộ quy trình tố tụng là những hoạt động tố tụng Trong hoạt động tố tụng có sự liên quan chủ yếu của các bên: cơ quan tiến hành tố tụng; người tiến hành tố tụng; người tham gia tố tụng Trong lịch sử, luật tố tụng La Mã cho rằng tố tụng chủ yếu là việc phân xử giữa ba bên: bên nguyên đơn, bên bị đơn và

bên thứ ba là tòa án; còn được gọi là “đệ tam nhân” gồm: bên nguyên, bên bị và trọng tài Hoạt động tố tụng theo Luật tố tụng La mã cũng phân chia làm ba loại: Thứ nhất, theo nghi thức tuyên thệ (Legis actio); Thứ hai, theo các bên yêu cầu, quan chấp chính chỉ dẫn và quan tòa xử án (Formula); Thứ ba, theo phán xét của Thẩm phán chuyên

nghiệp dựa trên uy quyền và nhân danh Hoàng đế để thi hành công lý (Cognitio) Do

đó, về lý thuyết, hoạt động tố tụng được thực hiện dựa trên những chế định về thẩm quyền của các chủ thể tiến hành tố tụng Các bên tham gia đều phải tuân thủ những quy định pháp luật và quyết định của quan tòa [140, tr.208-231] [150; 151] Trong pháp luật PKVN, hoạt động tố tụng gắn với các Nha môn xử án, chủ thể tiến hành là Hình quan,

có quyền thụ lý, xét hỏi, “định tội lượng hình” “Ngục quan” có quyền quản lý việc giam giữ, áp ngục giám, công sai giám là các chức danh, chức vụ quan ty, có thẩm quyền dẫn giải tội phạm, thi hành việc công tại các cơ quan nhà nước Các thành phần tham gia hoạt động tố tụng còn có các đương sự như: người làm chứng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, các tội nhân, tù nhân, tội phạm, tù phạm, người bị hại [57, tr.219 -244] [58] Như vậy, hoạt động tố tụng từ xưa đến nay vẫn có nhiều điểm tương đồng Điểm khác biệt cơ bản là mục tiêu, phương pháp, quy mô, phương tiện và kỹ năng thực hiện quy trình tố tụng

Như vậy, hoạt động tố tụng là việc thực hiện nhiệm vụ trong toàn bộ quá trình vận

hành tố tụng của cơ quan tư pháp tòa án và các bên tham gia nhằm giải quyết xung đột

về quyền và lợi ích giữa các bên tham gia tố tụng, thực hiện việc khởi tố, điều tra, thụ lý

và xét xử tại phiên tòa để đưa ra một bản án phù hợp, có tính cưỡng chế, đảm bảo công

lý, công bằng ổn định nền kinh tế, chính trị và xã hội

Thẩm quyền tố tụng, thủ tục tố tụng và hoạt động tố tụng là những khái niệm quan trọng của pháp luật tố tụng, được thực hiện theo một trình tự, quy trình luật định

Trình tự, quy trình và quá trình tố tụng: Trình tự tố tụng được hiểu là thứ tự, trật

tự, các bước tiến hành của cả tiến trình vụ án Quy trình tố tụng là những quy định

chuẩn mực mang tính định khung cho cả quá trình với những nguyên tắc buộc phải tuân thủ và diễn tiến toàn diện tất yếu của vụ án Thủ tục, trình tự, quy trình, quá trình có điểm tương đồng là về toàn bộ diễn trình từ đầu đến cuối của vụ việc tố tụng Điểm khác là trình tự nhấn mạnh các bước tiến hành theo trật tự, theo thủ tục chặt chẽ, không

Trang 28

bỏ qua một khâu nào Quy trình là toàn bộ những quy định bắt buộc, mang tính nguyên

tắc phải chấp hành tuân theo trong toàn bộ chuỗi vận hành của vụ án Quá trình tố tụng

là toàn bộ diễn tiến của vụ án từ đầu đến cuối Khái niệm thủ tục tố tụng có liên quan chặt chẽ với trình tự tố tụng, quy trình tố tụng và quá trình tố tụng Trong đó các bên tham gia chủ yếu là bên nguyên, bên bị, bên tòa; các chủ thể, khách thể và các bên có liên quan, các thủ tục về hình thức và nội dung, song trọng tâm vẫn là những hoạt động

có liên quan đến giải quyết vụ việc, vụ án công minh, khách quan, toàn diện và nhằm hướng đến công bằng, công lý, ổn định và hài hòa xã hội [54;55;56;58]

Qua việc đối chiếu, so sánh, phân biệt các khái niệm nêu trên, có thể khái quát

chung về quan niệm, quan điểm về pháp luật tố tụng của nhà nước quân chủ phong kiến Việt Nam như sau: Pháp luật tố tụng của nhà nước quân chủ phong kiến Việt Nam là

những quy định pháp luật, các điều luật, điều lệ, lệnh, lệ về thẩm quyền, thủ tục và trình

tự tố tụng, được nhà vua ban hành và thống nhất áp dụng theo một quy trình nhất định, nhằm bảo vệ nhà nước, xã hội, con người và tài sản Sự phân biệt khái niệm chủ yếu

mang tính học thuật còn pháp luật tố tụng từ mục đích đến chức năng, từ hình thức, nội dung đến hiệu quả tố tụng là một chỉnh thể thống nhất Pháp luật tố tụng từ quy phạm đến thực hành là một bộ phận hữu cơ của toàn bộ thể chế nhà nước và pháp luật quân chủ thần quyền Trong sự tiếp cận của đề tài, pháp luật tố tụng phong kiến Việt Nam được hiểu ở nghĩa rộng nhất Bao hàm toàn bộ những vấn đề có liên quan đến hệ thống

tư pháp tố tụng từ cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, thể chế tố tụng, đến nguyên tắc, đặc điểm, hiệu lực và giá trị Từ tố tụng quân sự đến dân sự, từ tố tụng quan chức, Hoàng gia đến dân thường Sự phân biệt đẳng cấp trong tố tụng có thể là một đặc tính chung của pháp luật tố tụng thời quân chủ PKVN

Trong luận án này, khái niệm PKVN được dùng tương đương với chính thể quân chủ Việt Nam Trong một số trường hợp được sử dụng đầy đủ là chính thể quân chủ PKVN, bởi lẽ chính thể quân chủ là nói đến chế độ chính trị, thể chế chính trị, đứng đầu

là một vị quân vương, quyền lực được thiết lập theo nguyên tắc huyết thống; còn PKVN

là nói đến bản chất của cả một chế độ lấy sở hữu đất đai và nền kinh tế nông nghiệp trọng nông làm nền tảng, kinh tế công thương thị trường bị kiềm chế, kiểm soát, độc quyền Ở đây cũng cần phân biệt giữa phong kiến phương Đông và phong kiến Phương Tây với những đặc trưng phổ biến và đặc thù riêng biệt Đặc trưng phổ biến là sở hữu tư

về đất đai của địa chủ, lãnh chúa quý tộc; còn đặc thù thì ở phương Đông, quyền sở hữu tối cao của nhà vua bao trùm lên mọi hình thức sở hữu, sở hữu kép theo tầng và điều đó được bảo đảm bởi thế chế nhà nước và pháp luật Còn việc sử dụng khái niệm “quân chủ phong kiến” là để phân biệt với quân chủ chủ nô thời cổ đại, quân chủ chuyên chế, quân chủ hạn chế, quân chủ quý tộc, quân chủ lập hiến, quân chủ nghị viện và nền cộng hòa phong kiến ở Tây Âu với vai trò của thị dân đấu tranh với các thế lực lãnh chúa, nhà vua, nhà thờ và sự thỏa hiệp của các bên trong cách mạng tư sản Trong sự trải nghiệm của thực tiễn, có thể nền quân chủ nghị viện bầu phiếu sẽ cho chúng ta lời giải

Trang 29

về một thể chế tối ưu trong lịch sử pháp quyền nói chung và tư pháp tố tụng nói riêng trong thời đại mới

2.1.2 Vị trí vai trò của pháp luật tố tụng phong kiến Việt Nam

Ngay từ thời xa xưa, pháp luật tố tụng đã có vị trí quan trọng trong xã hội cộng đồng nhằm trừng trị vi phạm, bảo vệ con người về tính mạng tài sản danh dự Pháp luật

tố tụng ở phần đầu bộ luật, thường là định hướng, mục tiêu, nguyên tắc xử lý khi vi phạm; trình bày ở phần cuối bộ luật là cách thức, quy trình và những chế định nhằm bảo đảm việc xử lý vi phạm là khách quan đúng đắn; quan tòa và sự đảm bảo đưa luật đến công lý cuộc sống

Vị trí của pháp luật tố tụng PKVN thể hiện trong cấu trúc của hai bộ luật hiến

chương là QTHL và HVLL Phần đầu Danh lệ có giá trị như phần chung với những nguyên tắc cơ bản Phần cuối là các thủ tục tố tụng, những quy định đối với các bên tham gia tố tụng nhằm đảm bảo việc xử lý vi phạm luật nội dung được đúng đắn, ngay chính Luật tố tụng là công cụ bảo vệ pháp luật, phòng ngừa vi phạm, xử phạt tội lỗi, khắc phục hậu quả và đem lại công lý cho tổng thể xã hội Như vậy luật tố tụng luôn đi song hành với luật nội dung như hình với bóng, đảm trách việc đảm bảo tính tôn nghiêm của luật nội dung, xử lý và khắc phục hậu quả khi có vi phạm Nhà nước phong kiến Việt Nam đã nhận thấy vị trí vai trò rất quan trọng của việc ban hành pháp luật tố tụng trong tính chuyên ngành.Thực tế khách quan xã hội ổn định, kinh tế phát triển, chế

độ chính trị vững mạnh, kỷ luật nghiêm minh đã chứng minh vai trò của pháp luật tố tụng trong thời kỳ này[57][58]

Vai trò của pháp luật tố tụng PKVN là định chế quan trọng đặc biệt đối với xã

hội, nhà nước, cá nhân, gia đình và cộng đồng Là cơ chế bảo vệ sự tôn nghiêm của pháp luật trong xây dựng và thực thi pháp luật và có những ý nghĩa giá trị như sau:

Thứ nhất: Đáp ứng nhu cầu tất yếu trong việc giải quyết các tranh chấp xã hội

Trong quá trình phát triển của lịch sử xã hội, để xây dựng và phân cấp quyền lực, xây dựng chế tài thông qua công cụ pháp luật, luật tố tụng được ban hành nhằm mục tiêu kiểm soát các bên, xử lý vi phạm và khắc phục hậu quả Đối với việc giải quyết các tranh chấp phát sinh trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội, mỗi nền văn hóa; thiết chế chính trị khác nhau thiết lập nên những quy tắc, thủ tục tố tụng khác nhau Pháp luật tố tụng thời kỳ này đề cao trách nhiệm công vụ trong quản lý xã hội, đảm bảo tính khách quan trong việc thiết lập trật tự xã hội, xây dựng cơ chế giám sát hoạt động xét

xử, cơ chế giám sát vi phạm pháp luật không chỉ đối với người dân mà cả đối với các quan lại và có các chế tài áp dụng tương đối cụ thể, khắt khe nhằm hạn chế sự lạm quyền trong hoạt động tố tụng [24-26][31-34][58]

Thứ hai: Pháp luật tố tụng bảo vệ quyền lợi của các chủ thể trong xã hội

Quyền của chủ thể trong xã hội phong kiến được pháp luật đảm bảo về người, nhà ở, giấy tờ, đất đai, tài sản, không ai có quyền xâm phạm

Trang 30

Trong tố tụng hình sự, người bị cáo buộc được hưởng quyền xét xử nhanh chóng

và bình đẳng trước tòa Theo quy định pháp luật tố tụng, các cơ quan tố tụng phải khách quan khi tham gia xét xử Chế tài áp dụng không phải chỉ với người tham gia tố tụng

mà còn áp dụng với cả người tiến hành tố tụng Ở đây, trong quá trình tố tụng, pháp luật quy định người tiến hành tố tụng phải thực hiện đúng thẩm quyền

Thông lệ 23 – QTKTĐL qui định:“Các Nha môn trong ngoài coi việc khám xét,

nhận đơn phúc cáo hoặc phúc khiếu, trước tiên phải tra văn án lần trước, chiểu theo văn án đó, luận theo Lệ nào trong lúc tra xét mới được bắt bên bị, không được căn cứ vào lời cáo mà tự tiện gom xét đầu cuối luận bác đi„[55, tr.718] Điều 670 – QTHL quy

định:“Các quan xét án, phải theo tờ cáo trạng mà xét hỏi, nếu ra ngoài tờ cáo trạng,

tìm việc khác để buộc tội người, thì xử là cố ý bắt tội người„[57, tr 228]

Như vậy, để bảo vệ quyền của các chủ thể, trong quá trình tố tụng, điều quan trọng là tất cả mọi người đều được đối xử bình đẳng, các bên đều được thể hiện quan điểm của chính mình Mọi chứng cứ đều được quan tòa xem xét cân nhắc để lập cáo trạng xét hỏi Dù hoạt động tố tụng thời kỳ này tuy có tính áp đặt nhưng vấn đề quan trọng là các điều luật đều quy định một cách rõ ràng và công bằng trong xét xử, chứng

cứ về nhân chứng, vật chứng đều được đặt lên hàng đầu Pháp luật tố tụng thời kỳ này

đã đạt được những yêu cầu này

Thứ ba: Pháp luật tố tụng là công cụ xây dựng và củng cố quyền lực quân chủ

Pháp luật tố tụng thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị phong kiến tập quyền Pháp luật tố tụng là phương tiện chủ yếu và hữu hiệu nhất để điều chỉnh các quan hệ cơ bản giữa các chủ thể để nhằm đạt được lợi ích của giai cấp cầm quyền trong xã hội phong kiến Đối với nhà nước phong kiến, một mặt pháp luật khẳng định quyền cai trị tối cao của nhà vua Mặt khác, ban hành các điều luật điều chỉnh trật tự xã hội, nhằm mục đích giúp cơ quan hành chính do quan lại cai quản hết sức phụng sự cho triều đình [Điều 411 – QTHL & Điều 223 – HVLL] [Chương vi chế QTHL và Luật về

quan lại trong HVLL]

Thứ tư: Thể hiện giá trị đạo đức nhân văn, tôn trọng phong tục tập quán

Tuy bản chất là nhà nước tập quyền, quyền tối thượng thuộc về nhà vua Nhà nước luôn bảo đảm quyền và lợi ích của hoàng tộc nhưng khi xây dựng Bộ luật tố tụng

để điều chỉnh các hoạt động của xã hội thì các giá trị đạo đức đều được đặt ra rất rõ ràng Pháp luật thời kỳ này đảm bảo pháp trị kết hợp đức trị, trên cơ sở tôn trọng hương ước lệ làng, phong tục, tập quán, thực hiện kết hợp lợi ích của cá nhân với gia đình và cộng đồng làng xã [Hộ hôn, Điền sản, Điều (284 – 400) - QTHL][71 - HĐTCT] Nhìn tổng thể PLPKVN dù được thiết kế dựa trên thành tựu pháp luật Trung Quốc song vẫn mang tính dân tộc sâu sắc, thể hiện lối sống gia đình ân nghĩa về hương hỏa điền sản, cùng với những giá trị đạo đức nhân văn và sáng tạo hài hòa của cư dân nông nghiệp lúa nước, nhất là trong pháp luật thời Lê

Thứ năm: Thể chế hóa tư tưởng chính trị pháp lý của nhà nước PKVN

Trang 31

Để bảo vệ vương quyền và xây dựng một hình thức nhà nước phong kiến trung ương tập quyền chuyên chế, buộc nhà nước phong kiến phải sử dụng bộ máy quyền lực pháp trị Đó là sự kết hợp giữa hệ tư tưởng Nho giáo và Pháp trị Nhà nước phong kiến xây dựng và thực thi pháp luật trên nền tảng của tinh thần dân tộc độc lập hướng Nho

Hệ tư tưởng Nho giáo được điều chỉnh bởi pháp luật tạo sự ổn định trật tự xã hội Hệ tư tưởng Pháp trị đưa xã hội vào vòng kiểm tỏa, buộc các chủ thể phải tuân thủ, không có

sự nhượng bộ hoặc thỏa hiệp Những quy tắc pháp luật được ban hành minh chứng cho phương pháp thống trị của nhà nước phong kiến, trong đó có sự kết hợp giữa pháp trị với đức trị để thực hiện quyền cai trị tuyệt đối của mình [170]

Thứ sáu: Đạt nhiều thành tựu quan trọng trong kỹ thuật và quá trình lập pháp

Khi nghiên cứu pháp luật tố tụng của nhà nước phong kiến thời kỳ từ thế kỷ XV – XIX, chủ yếu thông qua ba bộ luật cơ bản là Quốc triều hình luật (QTHL), Quốc triều khám tụng điều lệ (QTKTĐL) và Hoàng Việt luật lệ (HVLL), cho thấy, trong quá trình xây dựng và ban hành Bộ luật tố tụng, nhà nước phong kiến đã đạt được những thành tựu cơ bản Pháp luật tố tụng thời kỳ trước đó và ngay cả thời kỳ sau đó có nhiều điểm tiến bộ cần học tập, kế thừa và phát triển [23;24;25]

Có thể nhận thấy từ thời đại cổ xưa đến thời phong kiến pháp luật tố tụng luôn giữ một vị trí vai trò quan trọng trong quản lý nhà nước và xã hội Hệ thống tư pháp xét

xử luôn là lưới trời, gạn đục khơi trong, đảm bảo cho môi trường xã hội trong sạch lành mạnh Mọi sai lầm của hệ thống tố tụng, từ lý thuyết, nội dung đến thực hành đều gây hậu quả nghiêm trọng, làm tha hóa toàn bộ hệ thống nhà nước pháp luật, về lâu dài sẽ dẫn đến mất niềm tin, đạo đức suy vi và sự sụp đổ xã hội

Nhìn chung, pháp luật tố tụng có vị trí vai trò quan trọng trong cả luật nội dung, luật hình thức và luật thủ tục, cả trong tổ chức và vận hành hệ thống tư pháp, là cơ chế Pháp trị đảm bảo cho hệ thống lập pháp, hành pháp ngay chính và lành mạnh, cao và xa hơn là cơ chế đảm bảo nguyên tắc pháp luật, nguyên lý Pháp trị Đức trị và sự tôn nghiêm của toàn bộ thể chế nhà nước và pháp luật, bảo vệ con người và xã hội

2.1.3 Những nguyên tắc cơ bản trong pháp luật tố tụng PKVN

Trên thực tế, qua nghiên cứu quá trình lập pháp, hình thức và nội dung pháp luật của thời kỳ này, nguyên tắc trong pháp luật tố tụng của nhà nước PKVN được thể hiện tập trung trong phần Danh lệ, Thông lệ, Lời tựa và được thể chế trong phần Bản điều của hầu hết các Bộ luật và Hội điển Có thể khái lược một số nguyên tắc tố tụng cơ bản

như sau: Một là: Bảo vệ vương quyền và chủ quyền an ninh quốc gia; Hai là: Quy định xét xử theo cấp chính quyền và các cơ quan chuyên môn; Ba là: Coi trọng chứng cứ, đảm bảo tính độc lập, tập quyền trong hoạt động xét xử; Bốn là: Quy định rõ trách nhiệm & kiểm soát chặt chẽ các hoạt động tố tụng Năm là: Một số nguyên tắc tố tụng

mang tính chuyên biệt Các nguyên tắc này chi phối toàn bộ quy trình tố tụng, các quan lại khi vận hành, ứng dụng pháp luật đều phải tôn trọng và tuân thủ

Trang 32

2.1.3.1 Nguyên tắc bảo vệ vương quyền và chủ quyền an ninh quốc gia

Mục đích cơ bản trên hết trong hoạt động xét xử là bảo vệ quyền và lợi ích của các giai cấp, đẳng cấp, bảo vệ ngai vàng của nhà vua, bảo vệ con người, tài sản, danh

dự và sự ổn định xã hội Quyền lực và lợi ích là hai vấn đề mà giai cấp cầm quyền không muốn chia sẻ và nó luôn được ưu tiên bảo vệ cả trong lập pháp, hành pháp và tư pháp, cả trên phương diện hành chính dân sự và quân sự an ninh Hơn 90% nông dân và các tầng lớp khác chịu sự cai trị của giai cấp quý tộc, quan lại và địa chủ cường hào Thế nhưng nguồn thu tô thuế, nhân lực, vật lực, tài sản để mang lại cho nhà vua, quan lại và địa chủ sức mạnh quyền lực lại chính từ người dân Chính vì thế, trong bộ máy quản lý hành chính tư pháp và xét xử, nguyên tắc bảo vệ vương quyền là nguyên tắc số một trong hoạt động xét xử của nhà nước phong kiến song pháp luật đồng thời cũng có những quy định nghiêm ngặt với quan xét xử để phần nào bảo vệ quyền và lợi ích của

dân.“Tôn quân quyền„ chủ quyền quốc gia, sơn hà xã tắc cùng với “Kính thiên ái

dân,,“Minh đức thận phạt,,là con đường chủ đạo mà các nhà lập pháp khi soạn thảo Bộ

luật để được nhà vua thông qua phê chuẩn đều phải nắm vững và tuân thủ những nguyên tắc cơ bản này [51;52;53]

Chiểu theo các Bộ QTHL, QTKTĐL, HVLL và các bộ Hội điển, Điển chế, cho thấy, các tội Thập ác đều được đặt trên hàng đầu và chịu sự trừng phạt cao nhất trong

các khung hình phạt Trong các “Tội Thập ác„ thì tội Mưu phản, Mưu đại nghịch, Mưu

chống đối đều được quy là tội phản quốc, phản lại nhà vua.“Tội Bất nghĩa„“giết quan bản phủ và các quan đương chức tại nhiệm„là hành vi chống lại nhà nước, chính

quyền, được quy định nghiêm ngặt để bảo vệ bộ máy nhà nước phong kiến và cũng chính là bảo vệ vương quyền (Điều 2, 411 – QTHL; Điều 2, 223 – HVLL) (Thông lệ khám tụng – QTKTĐL) [57, 58]

Tôn quân quyền là nguyên tắc chủ đạo trong chính thể quân chủ Tôn quân để thân dân và ngược lại, thân dân là nền gốc và điều kiện của tôn quân Đó còn là cơ chế vừa đảm bảo nguyên tắc quân quyền, tập quyền vừa phần nào đảm bảo nguyên tắc yên dân, an dân, bảo vệ quyền và lợi ích của người dân trong quá trình quản lý và xử lý vi phạm Điều này còn được thể hiện trong nguyên tắc tuân thủ luật pháp, tôn trọng chứng

cứ, giám sát và kiểm soát quan lại và bộ máy công quyền Có thể nhận thấy cho dù ở chính thể quân chủ hay cộng hòa thì bảo vệ nhà cầm quyền, tôn quân quyền và an ninh quốc gia vẫn là những nguyên tắc căn bản nhất của thể chế nhà nước và pháp luật cũng như thể chế tư pháp tố tụng

2.1.3.2 Nguyên tắc tuân thủ pháp luật của các cấp chính quyền trong xét xử

Trong nhà nước phong kiến, pháp luật tố tụng được xây dựng theo một quá trình lâu dài và luôn có sự kế thừa phát triển từ QTHL, QTKTĐL, HVLL và các văn bản Hội điển Các VBQPPL đều chứa đựng những nội dung pháp luật tố tụng cơ bản, quy định

về sự tuân thủ pháp luật của quan lại các cấp từ cơ sở đến triều đình trung ương

Trang 33

Pháp luật tố tụng quy định về cơ cấu thủ tục tố tụng và xét xử nghiêm ngặt chặt chẽ Bộ luật cho phép dân được khiếu kiện khi có căn cứ, các quan phải nhanh chóng

kịp thời điều tra, thụ lý, xét xử công minh.“Các quan xử án, trong các bản án, chỗ luận

tội phải dẫn đủ chính văn và cách thức của luật lệnh, làm trái thì xử phạt,,(Điều 683 –

QTHL) Trong hoạt động tố tụng, nếu quan xét xử có hành vi chậm trễ hoặc xét xử

không công bằng, đòi hối lộ sẽ bị phạt nặng“Khám quan không xét đoán để chậm trễ,

để quá kỳ hạn một tháng lấy tội biếm mà luận, ba tháng trở lên lấy tội bãi chức mà luận„(Điều 719 – QTHL)[54, tr.275] QTKTĐL quy định, quan xét án ở các cấp chính

quyền phải “tuân theo điều lệ mà khám xét, xử án” Nếu các quan tự ý thêm bớt, làm sai

lệch sự thật vụ án, bẻ cong luật pháp đều bị xử lý nghiêm khắc, nhẹ thì xử biếm hay phạt tiền, nặng thì giáng phẩm trật, bãi chức, đồng thời căn cứ vào mức độ gây hại để kết tội quan xử án (Điều 686 –QTHL)(Điều 377, 378, 379, 380 – HVLL)

Thủ tục tố tụng của nhà nước phong kiến Lê Trịnh quy định chủ yếu xét xử qua 3

cấp: Sơ thẩm, phúc thẩm và chung thẩm.Việc xét xử được trao cho nhiều cơ quan theo cấp các cấp từ địa phương, cấp huyện phủ lên đến cấp Lộ Trấn Đạo xứ thừa tuyên xét

xử sơ thẩm phúc thẩm, qua Quan phủ, Thừa ty, Đô ty, Hiến ty, Phủ doãn cho đến Ngự

sử đài, Chính đường và triều đình trung ương là cấp cao nhất của quá trình tố tụng xét

xử chung thẩm Thông lệ quy định:“Tất cả những việc không phải là tạp tụng, cho cáo

tại quan huyện, phúc thẩm tại quan phủ, rồi phúc thẩm tại thừa ty Nếu còn chưa phục tình mới phúc thẩm ở Ngự sử đài Nếu có tình lý thiết hại, chưa được giãi bày rõ ràng, mới cho làm đầy đủ tờ khải cung kết phúc kêu ở Chánh đường„[54, tr.270 -271] Rà

soát trong chính sử Triều Lê (1428-1788) có trên 200 vụ án lớn được ghi chép trong chính sử, chủ yếu xét xử quan chức vi phạm pháp luật, từ xử phạt hành chính (giáng phẩm trật, giáng chức, bãi chức, phạt tiền) đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại, tịch thu

gia sản, xử phạt nặng với những hình phạt như: đồ, lưu, tử hình Theo đó thể hiện sự

nghiêm minh của nhà nước quân chủ đối với quan lại trong quá trình thực thi công vụ Khi xây dựng Bộ luật, các nhà làm luật cũng đã có sự phân chia và sắp xếp hợp lý

Cấp địa phương chủ yếu xét những vụ án mang tính thông thường, chế tài áp dụng cũng vì thế được hạn chế, chủ yếu là phạt tiền, xử xuy trượng, có sự kiểm soát chặt chẽ Còn những vụ trọng án tội nặng hoặc tội mang tính quốc gia, hầu hết thuộc về Tòa án cấp cao ở trung ương xét xử và thường do Hội đồng Ngự sử đài, Đô sát viện, Tam pháp ty hoặc tại triều đình do nhà vua trực tiếp xét xử theo thể thức Triều thẩm, Công đồng, Đình nghị [37, tr.311, 312]

Thời hạn xét xử cũng được cân nhắc và quy định rất cụ thể:“Hạn xử kiện về ruộng đất, trộm cướp là ba tháng, án mạng bốn tháng, Hộ tịch, hôn thú, đánh chửi nhau không phải là tạp tụng đều hai tháng, đều lấy ngày bị cáo bị bắt đến trình bày rõ

sự việc làm ngày bắt đầu,,[Điều 22 - QTKTĐL] [54, tr.275] Quy định cụ thể, rõ ràng

minh bạch, thủ tục chặt chẽ là yếu tố căn bản đảm bảo sự tuân thủ pháp luật của quan

Trang 34

lại các cấp chính quyền trong quá trình thực thi nhiệm vụ, trong tổ chức tư pháp xét xử

và thi hành bản án

Như vậy, có thể nhận thấy giá trị lập pháp trong hoạt động tố tụng thời Lê Trịnh

Nguyễn đã có bước tiến đi trước thời đại Việc phân cấp trong xét xử để đảm bảo rằng không có sự chồng chéo, hoạt động tố tụng cũng được phân cấp từ thấp đến cao và quá trình tố tụng được thực hiện nhanh chóng, không bỏ sót, không kéo dài Khi tra soát, soát xét án từ sẽ không gặp nhiều khó khăn

2.1.3.3 Nguyên tắc coi trọng chứng cứ, tính độc lập và tập quyền trong xét xử

Nghiên cứu các Lệ trong QTKTĐL được quy định cơ bản trong 31 Lệ (Điều) thể hiện việc thực hiện quá trình tố tụng quy kết tội trạng qua bản án của quan tòa mang tính áp đặt thông qua án tích điều tra và việc xét xử tại phiên tòa Người khiếu tố nếu không có chứng cứ rõ ràng thì tòa bác trả lại nguyên đơn Các quy định về chứng cứ, người làm chứng được quy định thông qua văn bản, biên bản làm bằng chứng và cần phải đưa ra trước tòa thì mới được thụ án [54, tr.279]

Pháp luật thời kỳ này coi trọng phạm tội quả tang, bắt ngay tại trận, có dấu vết,

có chứng cứ theo nguyên tắc “trọng chứng hơn trọng cung„ kết hợp với xét hỏi, đối

chất trước tòa và sự phán xử của Quan án Trong cách thức tiến hành tố tụng, pháp luật phong kiến đã đưa ra các quy tắc áp dụng, thể hiện trong các lệ: Lệ người đi kiện, Lệ tróc bắt, Lệ kiện tụng có tính cụ thể rõ ràng theo từng tội trạng Quan án căn cứ vào

biên bản, văn bản, chứng cứ “giấy trắng mực đen” để phán xử và không bị phụ thuộc

vào bất cứ sự can thiệp nào từ bên ngoài Việc xét xử và ra phán quyết của các cấp chủ yếu thuộc vào hành vi và quyết định của quan án, tuy nhiên nếu có bằng chứng vi phạm

tố tụng thì quan án cũng bị xử lý nghiêm khắc căn cứ vào mức độ vi phạm và sự ảnh hưởng đối với xã hội [56, tr.239, 243][54, tr.280, 281]

Để hoạt động tố tụng được thực hiện mà không chịu bất cứ can thiệp nào, khi

ban hành Bộ luật về tố tụng, vua chúa ra chỉ truyền toàn dân đều phải tuân thủ:“Từ nay

về sau tuân theo Điều lệ mà khám đoán Đồng thời chuyển sức cho các liêu thuộc cùng các lại dịch nhất thể tuân hành, nhằm dùng chính sự để công bằng về lý ở trong các việc kiện tụng, khiến dân có chỗ nương nhờ, xứng đáng với trách nhiệm của mình Thảng hoặc ngơ đi, tự ý ngang tắt thi hành, không biết thân sức cho các thuộc viên của mình, cùng nhau dung túng, làm hại nước nhà thì đã có pháp luật nhà nước quyết định Không được coi nhẹ, Nay truyền!,,[54, tr.269] Tinh thần chung là tuân theo pháp luật,

hướng đến công bằng, công lý, thực thi đúng trách nhiệm, không được câu kết, dung

túng, làm hại chính lệnh

Để đảm bảo tính chính xác và độc lập trong xét xử, các nhà lập pháp xây dựng cấu trúc của Bộ luật cũng như các điều luật rất ngắn gọn, cụ thể, chi tiết và một nghĩa Pháp luật phong kiến hầu như không phân tách luật nội dung và luật tố tụng Theo cơ

cấu trong bộ luật, phần nội dung chủ yếu nằm ở phần đầu của điều luật, còn phần chỉ

dẫn về tố tụng chủ yếu nằm ở phần sau của điều luật, như một cách hướng dẫn xét xử

Trang 35

trực tiếp Khi xét xử vụ án, nếu có căn cứ cấu thành tội phạm thì có thể định được

khung hình phạt được ngay.Ví dụ:“Những kẻ làm vàng bạc giả và những đồ dùng bằng

vàng bạc giả để đem bán thì xử tội đồ; những vật ấy phải sung công,,[Điều 523 –

QTHL] Lấy ví dụ đối với tội trộm, điều 429 – QTHL quy định: “Kẻ ăn trộm mới phạm lần đầu thì phải lưu đày châu xa Kẻ trộm đã có tiếng và kẻ trộm tái phạm thì xử chém Giữa ban ngày ăn cắp vặt cũng xử tội đồ, đã lấy được của thì bồi thường một phần tang vật Ăn trộm có cầm khí giới thì phải khép vào tội ăn cướp; Nếu giết người thì khép vào

tội giết người Đàn bà thì được giảm tội„.Với một điều luật ngắn gọn đã hàm chứa cả

quy phạm luật hình sự và tố tụng hình sự, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hành chính

tư pháp trong sự phán quyết định tội danh và lượng hình phạt Đồng thời cũng thể hiện

rõ nguyên tắc xử lý nghiêm khắc đối với tội xâm phạm tài sản và đường lối chung là

giảm nhẹ hình phạt đối với phụ nữ khi phạm tội

Đối với những vụ án quan trọng, có ảnh hưởng chính trị sâu rộng, các quan phải xin ý kiến của nhà vua, đợi ý chỉ rồi mới được phán xử, nếu vi phạm tùy mức độ nặng

nhẹ sẽ bị xử phạt:“Các quan xử án, việc phải tâu lên mà không tâu, việc phải đợi trả lời

mà không đợi, lại tự tiện phân xử ngay, thì xử biếm,,[Điều 684 – QTHL] Từ các nghiên

cứu cụ thể trong Bộ luật, Hội điển, có thể nhận thấy tính độc lập trong xét xử bảo đảm tính khách quan thể hiện trong thẩm quyền của quan án, quyền lực được nhà vua trao cho các quan án đứng đầu cơ quan nhà nước và địa hạt mà mình có quyền cai quản

2.1.3.4 Nguyên tắc về trách nhiệm công vụ tư pháp và kiểm soát hoạt động tố tụng

Đây là giá trị tiến bộ của quá trình lập pháp thời kỳ này Hoạt động tư pháp tố tụng song cùng hoạt động quản lý hành chính nhà nước nên trong quá trình xây dựng pháp luật tố tụng, mọi quy định về hoạt động tố tụng đều có cơ chế kiểm soát rất rõ ràng theo các cấp hành chính và chế độ công vụ Không chỉ có cơ chế và các chế tài về tra soát án từ, pháp luật còn quy định chế độ kiểm soát khi bổ nhiệm các chức vụ công quyền bằng hoạt động khảo khóa đối với các quan lại trung ương và địa phương từ Lục

Bộ, Lục Khoa, Lục Tự, Ngự sử đài, Đô sát viện đến các cấp địa phương do nhà vua trực tiếp chỉ đạo Các cơ quan đó còn đồng thời thực hiện nhiệm vụ kiểm soát lẫn nhau, tránh sự sai lầm của chế độ công vụ hành chính và tư pháp xét xử

Trong hoạt động tố tụng của nhà nước PKVN, để thực hiện việc quy trách nhiệm khi xét xử, pháp luật phân định thủ tục xét xử theo ba cấp, đồng thời thẩm quyền xét xử cũng theo ba cấp: Quan huyện xét xử cấp sơ thẩm; quan phủ, phủ doãn, thừa ty, Đô ty, quan Án sát xét xử cả sơ thẩm và phúc thẩm, Ngự sử đài, Đô sát viện thường xét xử ở cấp phúc thẩm Nhà vua, phủ chúa xét xử cấp chung thẩm Cùng với cơ cấu bộ máy xét

xử là cơ quan soát tụng, việc xét xử thuộc về các Hình quan, việc giám sát kiểm soát

quá trình tố tụng thuộc về các quan tra soát:“Giám quan chịu trách nhiệm kiểm soát

nhất nhất phải thẩm tra" [Điều 64 – QTKTĐL][54, tr.296] Hoạt động kiểm soát theo

luật quy định thì người thực hiện ngoài lương theo chức vụ sẽ được hưởng tiền dưỡng

Trang 36

liêm khi thực hiện các công việc này và vẫn chịu sự giám sát kiểm tra theo quy tắc trên

dưới, trong ngoài và kiểm soát của bên thứ ba

Như vậy, hoạt động soát tụng nhằm muc đích để đảm bảo chắc chắn rằng mọi hoạt động tố tụng đều đúng quy định của pháp luật Không có hiện tượng sai lệch, nhận hối lộ hoặc thiên vị trong xét xử Việc kiểm tra cũng đồng thời nâng cao trình độ xét xử của các quan viên và cấp trung ương quản lý được địa phương để tránh việc cát cứ địa phương cục bộ trong cơ cấu quản lý hành chính tư pháp

2.1.3.5 Một số nguyên tắc tố tụng mang tính chuyên biệt trong thời quân chủ

Thứ nhất, nguyên tắc“Vô luật bất hình„ là nguyên tắc chung căn bản của hệ

thống pháp luật tố tụng thời quân chủ phong kiến cũng như trong tất cả các lĩnh vực pháp luật, còn được gọi là nguyên tắc pháp căn, nguyên tắc luật định Tuy nhiên thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng trong cổ luật cũng có những quy định mang tính chuyên biệt để đảm bảo cho việc thích ứng của luật trong đời sống xã hội, nhất là đối với các vụ

án có tính cá biệt, thể hiện trong một số trường hợp sau: (i) Những vụ án nhà vua trực

tiếp xét xử, do nhiều yếu tố tác động, luật đã định rằng “những chế sắc của vua luận tội

gì chỉ là xét xử nhất thời các quan không được căn cứ vào đó để xét xử những vụ việc

khác (Điều 679, 683, 685 – QTHL) (ii) Xét xử theo luật mới ban hành là nguyên tắc

chung nhưng nếu tội phạm xảy ra trước khi có luật mới mà chế tài luật cũ xử nhẹ hơn thì cho phép xử theo luật cũ; Nếu luật cũ xử nặng hơn thì lại cho phép xét xử theo luật mới; việc cho phép“ Hồi tố„ hay“ Bất hồi tố„ đều tuân theo tinh thần chung là nhân đạo,

nhân văn, giảm nhẹ hình phạt cho tội nhân (iii) So sánh điều luật áp dụng tương tự và

Xét xử những hành vi không nên làm mà cố tình làm (“Tỷ dẫn điều luật„ và “Bất ưng

vi„) Đây cũng là những quy định giúp các Hình quan “định tội danh, lượng hình phạt„ khi điều luật chính không đủ để ứng dụng, nhằm xử phạt những hành vi trái đạo đức, thiếu phẩm giá, không nên làm đối với người khác Đây là những quy định mang tính

mở để có thể ứng dụng trong sự đa dạng biến hóa của đời sống con người

Học giả Phan Huy Chú đã từng bình luận rằng:“Các mục luật văn thật rất rõ ràng đầy đủ, dùng để nêu thể lệ xét xử, thích hợp với dân tình, cân nhắc và thêm bớt, cho nên

đủ để đối phó với các trạng thái biến hóa và ngăn ngừa dân làm bậy„.Thế nhưng luật văn thì có hạn mà việc biến hóa thì không cùng, lấy cái có hạn mà đối phó với cái không cùng thì dù điều luật đặt ra đến mấy vạn cũng không đủ dùng được Nếu cứ câu

nệ vào Hình thư thì làm sao đủ mà xử hết tội phạm của người đời Bởi vậy trong luật có

mấy điều như “Đa hành ác sự„“Bất ưng vi„ nêu đại cương, bù thêm chỗ chưa đủ, để

cho những người cầm nắm pháp luật, gặp việc thì chước lượng, theo đó mà xét nặng

nhẹ, định thêm bớt Phàm những tội trong luật không có, đều có thể lấy đại nghĩa mà quyết đoán Đó là cái ý bàn việc mà xử đoán, không chuyên theo đúng từng điều, đó là

chỗ màu nhiệm ở ngoài luật pháp vậy [10, tr.389] Phần“Tỷ dẫn điều luật„và“Áp dụng

tương tự„cũng là một trong những quy lệ nhằm cho phép các quan khi xét xử án từ

được so sánh hành vi phạm pháp với các điều luật để áp dụng tương tự Ví dụ như:

Trang 37

Người bán thịt mà ngâm vào nước, người bán gạo mà trộn thêm sạn đất, xử theo luật

Bất ưng vi; làm nhiều việc ác, trái với đạo đức thông thường xử theo luật “Đa hành ác

sự„ (Điều 136, 627, 642 – QTHL) Càng đi sâu nghiên cứu cổ luật, càng thấy luật xưa

thật tinh tế, uyển chuyển, cân đối, hài hòa giữa luật pháp với cuộc sống, bảo vệ con người, tài sản, phẩm giá và nhân sinh Điều này cũng tương tự như quan niệm của phương Tây về việc xử án theo lương tâm, theo lẽ phải, công lý và lẽ công bằng ở cuộc đời muôn hình vạn trạng

Thứ hai, nguyên tắc chiếu cố, giảm nhẹ hình phạt khi xét xử diện“Bát nghị„đó

là diện quý tộc công thần được giảm hình khi phạm tội Chủ yếu là quan đại thần, người Hoàng tộc, những người phục vụ lâu năm, tài năng xuất chúng, đức hạnh có tiếng, con cháu các đời vua trước hoặc các vương công, hầu tước Nguyên tắc này đồng nhất với quan niệm về bảo vệ quyền lợi của Hoàng tộc, lấy công chuộc tội, xét tình lý nhân thân

để cho giảm nhẹ hình phạt và chuộc tội bằng tiền Bên cạnh đó pháp luật còn quy

định“Chiếu cố„“Giảm nhẹ hình phạt„ đối với người già, trẻ em, người tàn tật và phụ

nữ Nguyên tắc xét xử diện Bát nghị và chiếu cố, giảm nhẹ với một số đối tượng yếu thế

trong xã hội là giá trị bền vững trong quan niệm của cổ luật mà nay có thể học tập và ứng dụng, bởi nó hợp với giá trị đạo lý và công lý theo tính phổ quát của luật công bình với cách nhìn đa diện, đa chiều, toàn diện và hệ thống (Điều 3,16,17– QTHL& HVLL)

Thứ ba, nguyên tắc“Tính tang luận tội„& “Triết bán khoa tội„trong trường hợp

“Uổng pháp„ & “Bất uổng pháp„.Được áp dụng đối với những loại tội phạm có tang vật như: trộm, cướp, hà lạm, tham ô, hối lộ, tham nhũng Theo đó “Uổng pháp„ là làm cong luật, làm trái pháp luật xử theo tang vật; còn “Bất uổng pháp„là không bẻ cong luật,

không làm trái pháp luật nên tính nửa tang vật để luận tội; còn gọi là “Triết bán khoa

tội„.Ví dụ như: người giữ kho ăn trộm của trong kho, sẽ bị xử theo tội Uổng pháp và

tính theo tang vật lấy trộm để luận tội Bởi người giữ kho phạm 2 tội cùng lúc: tội trộm

và tội làm trái chế độ công vụ theo chức vụ và trách nhiệm đã được trả lương bổng, do vậy pháp luật xử rất nghiêm khắc đối với loại tội sâu mọt nằm trong diện“Ngũ đố„.Cùng là tội trộm nhưng nếu là thường dân vì hoàn cảnh nghèo đói, khó khăn, bị lôi kéo, bị đẩy vảo bước đường cùng, không còn đường sống mà đi ăn trộm thì tính tang vật, rồi xử giảm nhẹ theo nửa số tang vật đó Như vậy, để đi đến sự phán quyết bản án, quan xét xử cần đo lường tình lý, điều kiện hoàn cảnh, nhân thân để “định tội lượng hình„ cho hợp lý, hợp tình và đúng luật Pháp luật và pháp quan chuẩn mực sẽ tạo lập

sự bình yên cho cuộc sống sau từng bản án (Danh lệ - QTHL & HVLL)

Thứ tư, nguyên tắc“Xuất nhập nhân tội„là hành vi thêm hoặc bớt tội cho người

của quan xử án Luật quy định căn cứ vào mức độ thêm bớt mà kết tội đối với Hình quan Luật giải thích rằng: Bớt tội cũng không thể tha bởi làm sái luật, bẻ cong luật

pháp, xử tội không đúng, quan án vẫn phải chịu trách nhiệm và bị xử phạt.“Biện minh

oan uổng„là trách nhiệm minh oan, giải oan, biện luận cho sự vô tội của người bị kết

tội oan Nguyên tắc này ràng buộc trách nhiệm của quan xét án, nhất là các quan xét xử

Trang 38

án phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm và chung thẩm, các quan đại thần Triều thẩm tại triều đình hoặc Chánh đường, hoặc xét xử trong Hội đồng Tam pháp ty, Công đồng Đình Nghị (Điều 683, 686, 722 – QTHL; Điều 312, 345 – HVLL)

Thứ năm, nguyên tắc khác như “Thân thuộc che giấu tội cho nhau„“Con cháu

chịu tội thay ông bà cha mẹ„ là nguyên tắc được cổ luật thừa nhận nhằm bảo vệ mối

quan hệ gia đình Nguyên tắc“Chuộc tội bằng tiền„là một trong những quy định tiến bộ

đặc sắc của cổ luật Là sự hoán đổi chế tài theo quy luật giá trị sức lao động linh hoạt

trong xử lý vi phạm Nguyên tắc“Xử quyết„là thi hành ngay những bản án nghiêm trọng, có đầy đủ chứng cứ, tang vật, quả tang phạm tội.“Giam chờ„là cần xét lại các

bản án còn nghi ngờ, chưa làm rõ, chưa đủ chứng lý hoặc tình trạng đáng thương, loại

án đặc biệt cần xem xét lại Luật quy định giam lại chờ phúc xét vào năm sau Ví dụ, án

giảo, trảm giam chờ, chế độ Thu thẩm xét lại án vào mùa thu sang năm Nguyên tắc “Ân

xá„“Đại xá„cũng được luật quy định rất rõ ràng Ân xá là những trường hợp đặc biệt

được vua ban lệnh gia ân Còn Đại xá là trường hợp nhà vua cho phép các địa phương thả phạm nhân khi có những sự kiện trọng đại, lễ mừng hoặc vua tự vấn mình khi thiên tai địch họa, đất nước khó khăn đói kém Nguyên tắc chung khi định tội danh lượng

hình phạt và xử lý vi phạm là:“Tha người lầm lỡ bất kể tội nặng, bắt người cố ý bất kể

tội nhẹ„.Nguyên tắc này coi trọng việc xem xét về động cơ, mục đích, ý chí, ý thức,

thái độ của người vi phạm pháp luật Vô ý, lầm lỡ, ngộ sát, bất cẩn phạm tội sẽ được giảm nhẹ Cố ý, cố sát, phạm tội có chủ đích, có động cơ mục đích tư thù, chủ mưu đều

xử rất nghiêm khắc Nguyên tắc này rất gần với yếu tố lỗi cố ý, quan hệ hậu quả nhân quả trong pháp luật hình sự đương đại (Điều 39, 47, 504 – QTHL; 31 – HVLL)

Thứ sáu, nguyên tắc“Minh đức Thận phạt„cẩn trọng trong hình phạt là một

nguyên tắc cơ bản trong toàn bộ hoạt động tố tụng thời quân chủ Thể hiện ở các triều vua chúa, từ Lê Thái Tổ, Thánh Tông, Trịnh Cương đến Minh Mệnh, Tự Đức Hầu hết các vụ án kết tội đồ lưu tử đều được soát xét bởi các cấp từ địa phương đến trung ương

Án tử hình đều do vua trực tiếp kiểm duyệt phê án sau khi trình tấu lên ba lần Trong

Lời tựa bộ HVLL, Hoàng đế Gia Long đã viết: để Bộ luật chiếu sáng như mặt trời mặt

trăng, không còn chỗ nào bị che khuất nữa và những điều nghiêm trị sáng như ánh chớp, vang động như sấm sét, không thể sai phạm Các quan chức nha môn phải coi đó

là khuôn mẫu đầy ánh sáng về luật pháp để xử án công minh Có như vậy thì mọi việc mới trở nên an thịnh, dân chúng mới có chỗ nương nhờ Các nguyên tắc tố tụng thời Lê Trịnh Nguyễn thể hiện sự cẩn trọng của nhà vua đối với chế độ tư pháp cũng như khi cung kết trọng hình (Điều 720, 721 – QTHL) Những nguyên tắc cơ bản của pháp luật PKVN nói chung và pháp luật tố tụng nói riêng còn được thể hiện trong những đặc

điểm cơ bản của pháp luật tố tụng phong kiến Việt Nam ở phần sau đây

2.1.4 Đặc điểm và bản chất đặc trưng của pháp luật tố tụng PKVN

Căn cứ vào nội dung điều chỉnh của các Bộ luật và Hội điển, đặc điểm bản chất đặc trưng của pháp luật tố tụng PKVN có thể được tiếp cận chủ yếu trên năm phương

Trang 39

diện cơ bản: Một là: Tư tưởng chính trị pháp lý và tư tưởng lập pháp; Hai là: Tiến trình lập pháp từ Lê Sơ đến Lê Trịnh và triều Nguyễn; Ba là: Hình thức cấu trúc và nguồn của pháp luật tố tụng; Bốn là: Nội dung và bản chất các chế định pháp luật tố tụng;

Năm là: Quá trình áp dụng và giá trị của pháp luật tố tụng trong đời sống thực tiễn xã

hội Trong quá trình hình thành và phát triển, pháp luật tố tụng thời kỳ này đã đạt được những thành tựu có giá trị đặc sắc cả về mặt lý luận và thực tiễn Với việc ban hành các văn bản pháp luật tố tụng chuyên sâu, chuyên biệt từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX, Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia ban hành Bộ luật tố tụng chuyên ngành đầu tiên ở châu Á và thế giới

2.1.4.1 Đặc điểm 1: Dân tộc và Thời đại Đức trị song hành Pháp trị là đặc điểm cơ bản về tư tưởng chính trị pháp lý và tư tưởng lập pháp, trong đó Đức trị vừa là nền gốc vừa là mục tiêu của hệ thống pháp luật tố tụng truyền thống Việt Nam

Có thể khẳng định đặc điểm xuyên suốt hệ tư tưởng chính trị pháp lý Việt Nam trong tiến trình lịch sử pháp luật nói chung và pháp luật tố tụng nói riêng là Dân tộc kết hợp với thời đại, Đức trị kết hợp với Pháp trị Trong đó, Đức trị đã hàm chứa tam giáo

đồng nguyên Nho Phật Đạo Pháp đã hàm chứa phong tục, luật tục, tập quán kết hợp với Thế Pháp Thuật Cả Đức & Pháp đều hướng đến chủ quyền của quốc gia & dân tộc

Lạc Việt Âu Việt, tôn trọng tổ tiên kế truyền dòng dõi Thể hiện từ các đời vua Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân Âu Cơ, các vua Hùng và Thục, Hai Bà Trưng, Lý Nam

Đế, Khúc Thừa Dụ, Ngô Đinh Tiền Lê đến thời Lý Trần Lê Nguyễn Trong suốt quá trình dựng nước, giữ nước và phát triển đất nước, xây dựng hệ thống pháp luật Hiến chương, ý thức về vương quyền và chủ quyền quốc gia Đại Việt về“Sông núi nước Nam vua Nam ở„ luôn là nền gốc của cổ luật nói chung và pháp luật tố tụng nói riêng;

trong đó hàm chứa nguyên tắc Hoàng quyền, Tôn quân quyền, quý tộc quyền, quan

quyền, cũng như đạo đức nhân sinh, lễ nghi phong tục, tập quán truyền đời của người Việt Nam Thời thế xoay vần, vạn vật đổi thay, Hán hóa nghìn năm đã không thể làm thay đổi quá trình Việt hóa trở lại của dòng chảy lịch sử dân tộc Lạc Việt

Nền gốc tư tưởng chính trị pháp luật Đại Việt là dân tộc độc lập bắt nguồn từ chính sách “Thân dân” thời Lý, “Khoan thư sức dân” thời Trần, “Yên dân” thời Lê và

“Kính thiên ái dân” thời Nguyễn Bên cạnh đó là các chính sách kinh tế quân sự có sức sống lâu bền như “Khuyến nông”,“Ngụ binh ư nông”, “Quân điền”,“Lộc điền”,“Phép thuế công tư tô dung điệu”; Các quan điểm về chính trị cơ bản như: “Tôn quân”, “Chính danh”,“Pháp tiên vương”, “Nhân trị”, “Lễ trị” & “Pháp trị” Tất cả quan điểm đó đều mang đặc điểm của đời sống xã hội dân sinh, chi phối pháp luật theo tinh thần Nho giáo Dân là gốc của nước, vua là chủ của nước và là minh chủ của dân Đặc trưng cơ bản của nhà nước và pháp luật hướng Nho cũng đồng thời là bảo vệ ngôi vương trong chính thể quân chủ tập quyền Đặc điểm hình thành và phát triển của pháp luật nói chung và pháp luật tố tụng nói riêng cũng dựa trên đặc điểm hình thành và phát triển của đất nước, của thần dân và minh chủ qua các triều đại PKVN

Trang 40

Đặc trưng cơ bản của pháp luật quân chủ phong kiến là kết hợp giữa Lễ và Hình

Lễ đặt ra các quy tắc xử sự giữa con người với con người thuộc các tầng lớp khác nhau trong xã hội Lễ vừa là nền gốc vừa là mục tiêu điều chỉnh hành vi cá nhân đối với người thân trong gia đình và giao tiếp xã hội theo chuẩn mực Lễ giáo phong kiến xác lập mối quan hệ cơ bản trong xã hội như: quan hệ vua tôi, quan hệ cha mẹ con cái, quan

hệ chồng vợ, quan hệ anh em, bạn bè, từ đó thiết lập nên trật tự xã hội Hình là các chế tài xử phạt khi con người vi phạm các quy tắc đã được đặt ra Nguyên tắc cơ bản là: vi phạm nhẹ xử nhẹ, vi phạm nặng xử nặng Trong đó, Thập ác, Ngũ hình, Bát nghị, Thất xuất, Tam bất khứ là những định vị căn bản của đường lối cai trị kết hợp giữa Lễ và Hình, Đức và Pháp Từ 24 điều Huấn dân đại cáo Lê Thánh Tông đến 47 Điều giáo hóa thời Lê Trung Hưng và 10 Điều Huấn dụ thời Minh Mệnh luôn hướng đến Lễ Nhạc trong hành vi con người bằng giáo hóa và xử phạt [44, 45] [51, tr 231- 281]

Trải qua các thời kỳ lịch sử, pháp luật dần trở thành công cụ quản lý cơ bản trong đời sống nền kinh tế xã hội Trong Lời tựa mở đầu bộ HVLL khẳng định tư tưởng pháp

đức kết hợp:“Thánh nhân cai trị thiên hạ đều dùng luật pháp để xử tội, dùng đạo đức

để giáo hóa họ, hai điều ấy không thiên bên nào bỏ bên nào”(Lời tựa – HVLL)[31,

tr.1] Thời Nguyễn, hệ tư tưởng chính trị pháp lý có một phần ảnh hưởng của quan điểm

tư pháp nhà Thanh tăng nặng hình phạt, pháp trị được được đặt lên hàng đầu trong tố tụng Tư tưởng lập pháp trong hoạt động tố tụng là dùng pháp trị để bảo vệ đức trị, vi phạm pháp luật đều bị xử lý bằng hình phạt Sự phối hợp giữa Đức trị và Pháp trị trong

tố tụng theo nguyên lý “Đức chủ Pháp bổ”“Ngoại Pháp nội Nho”“Dĩ hình khử hình” mặc

dù có phần nào ảnh hưởng của tư tưởng lập pháp Trung Quốc nhưng đặc điểm cơ bản về tư tưởng chính trị pháp lý và tư tưởng dân tộc độc lập tự chủ trong hoạt động lập pháp đều mang đặc trưng riêng của cội nguồn truyền thống pháp luật phong kiến Việt Nam

2.1.4.2 Đặc điểm 2: Tiến trình xây dựng pháp luật tố tụng luôn có tính liên tục

kế thừa và phát triển, bổ sung và sáng tạo qua các triều đại

Nhìn chung tiến trình xây dựng pháp luật tố tụng của nhà nước phong kiến Việt Nam qua từng giai đoạn lịch sử theo chiều hướng hoàn chỉnh dần, đưa pháp luật vào việc quản lý nhà nước và xây dựng nền kinh xã hội Xây dựng luật từ sơ khai ban đầu đến khi có một vị trí cơ bản trong cơ cấu tổng thể điều chỉnh toàn xã hội Pháp luật dần trở thành công cụ thống nhất trong quản lý và xử lý vi phạm, bảo vệ con người, tài sản

và những giá trị quốc gia

Trên cơ sở pháp luật thời Lý, năm 1230 nhà Trần tiến hành khảo xét các luật lệ

của triều trước, sửa đổi các quy định về hình luật và lễ nghi, ban hành“Quốc triều Hình

luật” và“Quốc triều thông chế”gồm 20 quyển trong đó có các quy định về lễ nghi và

luật pháp, luật hành chính quan chế và các chế tài cụ thể Năm 1341 bộ luật nhà

Trần“Hình luật thư” và bộ Hội điển“Hoàng triều đại điển” tiếp tục được ban hành

Như vậy về cơ bản pháp luật thời Trần cũng mang những đặc trưng pháp luật thời Lý, nhưng đã được tập hợp hóa và phát triển theo hệ thống pháp luật với Bộ luật và Hội

Ngày đăng: 07/08/2019, 02:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w