Theo Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, huyện Đức Phổ nằm trên nhiều tuyến hành lang phát triển kinh tế quan trọng của tỉnh; đến năm 2020, Đức
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NGÃI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
ĐỀ ÁN THÀNH LẬP THỊ XÃ ĐỨC PHỔ VÀ CÁC PHƯỜNG THUỘC THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI
Quảng Ngãi 2019
Trang 2ỦY BAN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH QUẢNG NGÃI Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
I CÁC CĂN CỨ PHÁP LÝ
- Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013;
- Luật tổ chức Chính quyền địa phương số 77/2015/QH13;
- Luật Quy hoạch đô thị ngày 17/6/2009;
- Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13 ngày 25/5/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về phân loại đô thị;
- Nghị quyết số 1211/2016/UBTVQH13 ngày 25/5/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tiêu chuẩn của đơn vị hành chính và phân loại đơn vị hành chính;
- Quyết định số 445/QĐ- TTg ngày 07/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt điều chỉnh định hướng quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050;
- Quyết định số 2052/QĐ-TTg ngày 10/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020;
- Quyết định số 1659/QĐ-TTg ngày 07/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình phát triển đô thị quốc gia giai đoạn 2012 - 2020;
- Thông báo số 3756/TB-BNV ngày 14/8/2015 kết quả buổi làm việc giữa Bộ Nội vụ với UBND tỉnh Quảng Ngãi về chủ trương thành lập thị xã Đức Phổ, điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập huyện mới Sông Hrê, tỉnh Quảng Ngãi;
- Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2015-2020;
- Nghị quyết số 02-NQ/TU ngày 01/7/2016 của Tỉnh ủy về đầu tư phát tiển kết cấu
hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông, hạ tầng đô thị;
- Quyết định số 23/QĐ-UBND ngày 09/01/2017 của UBND tỉnh Quảng Ngãi về việc thông qua Đề án phát triển đô thị trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2025;
Trang 3- Nghị quyết số 19/2015/NQ-HĐND ngày 14/12/2015 của HĐND tỉnh về Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2016-2020 của tỉnh Quảng Ngãi;
- Quyết định số 14/QĐ-UBND ngày 26/10/2011 của UBND tỉnh Quảng Ngãi về việc thông qua Đề án phát triển đô thị trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020;
- Quyết định số 831/QĐ-UBND ngày 17/11/2017 của UBND tỉnh về việc phê duyệt
Đề án Quy hoạch chung (điều chỉnh) đô thị Đức Phổ tỉnh Quảng Ngãi đến 2035;
- Quyết định số 40/QĐ-BXD ngày 17/01/2019 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về việc công nhận khu vực dự kiến thành lập thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi đạt tiêu chuẩn đô thị loại IV;
- Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Đức Phổ lần thứ XX, nhiệm kỳ 2020;
2015 Và một số văn bản khác có liên quan
II LÝ DO VÀ SỰ CẦN THIẾT THÀNH LẬP THỊ XÃ ĐỨC PHỔ VÀ CÁC PHƯỜNG THUỘC THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI
Quảng Ngãi là một tỉnh ven biển nằm ở vùng Duyên Hải Trung Trung Bộ, có bờ biển dài khoảng 129 km với vùng lãnh hải rộng lớn 11.000 km2, 6 cửa biển giàu nguồn lực hải sản và nhiều bãi biển đẹp, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía Nam giáp tỉnh Bình Định, phía Tây giáp tỉnh Kon Tum, phía Đông giáp Biển Đông Nằm ở vị trí miền trung tổ quốc, Quảng Ngãi cách thủ đô Hà Nội 890 km về phía Bắc và cách Thành phố Hồ Chí Minh 824 km về phía Nam theo đường Quốc lộ 1A Quảng Ngãi nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung được Chính phủ chọn khu vực Dung Quất để xây dựng nhà máy lọc dầu đầu tiên của Việt Nam, góp phần đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế tỉnh theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Quyết định số 2052/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 10 tháng 11 năm 2010 về phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020 xác định: Phấn đấu đưa Quảng Ngãi trở thành tỉnh công nghiệp - dịch vụ và lên vị trí cao về phát triển trong số các tỉnh thuộc Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung vào năm 2020 với tốc độ tăng trưởng cao và bền vững, có hệ thống cơ sở hạ tầng cơ bản đồng bộ theo hướng hiện đại Tỉnh Quảng Ngãi gồm 1 thành phố trực thuộc và 13 huyện, trong đó có 1 huyện đảo,
1 thành phố, 6 huyện đồng bằng, 6 huyện miền núi, trong đó có với 184 đơn vị hành chính cấp xã, gồm có 9 thị trấn, 9 phường và 166 xã
1 Sự cần thiết thành lập thị xã Đức Phổ
Là một trong 13 huyện của tỉnh Quảng Ngãi, huyện Đức Phổ nằm ở phía Đông Nam của tỉnh , có 15 đơn vị hành chính cấp xã gồm 14 xã và 1 thị trấn; với diện tích tự nhiên khoảng 372,76 km2, dân số trung bình hiện nay khoảng 150.927 người Huyện Đức Phổ
có vị trí đặc biệt quan trọng, thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội: cách cảng Dung Quất khoảng 80km, cách sân bay Chu Lai 90km về phía Bắc và sân bay Phù Cát khoảng 100km
về phía Nam; có tuyến đường sắt Bắc - Nam, Quốc lộ 1, Quốc lộ 24, cao tốc Đà Nẵng - Quy Nhơn và tuyến đường ven biển (Dung Quất - Sa Huỳnh), có cửa biển Mỹ Á, Sa Huỳnh…là những điều kiện đặc biệt quan trọng, làm động lực cho việc hội nhập phát triển kinh tế - xã hội Bên cạnh đó, huyện còn có vị trí quan trọng về an ninh, quốc phòng, bảo
vệ chủ quyền Quốc gia đối với biển, đảo của Tổ quốc Theo quy hoạch tổng thể phát triển
Trang 4kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020, Đức Phổ được định hướng phát triển thành thị xã thuộc tỉnh vào năm 2015, là trung tâm kinh tế, văn hóa, du lịch của vùng phía Nam tỉnh Quảng Ngãi Theo Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, huyện Đức Phổ nằm trên nhiều tuyến hành lang phát triển kinh
tế quan trọng của tỉnh; đến năm 2020, Đức Phổ cùng với các đô thị Quảng Ngãi, Dung Quất, Di Lăng là những đô thị trọng điểm trong hệ thống đô thị của tỉnh Ngày 17/11/2017, UBND tỉnh Quảng Ngãi đã phê duyệt đồ án Quy hoạch chung (điều chỉnh) đô thị Đức Phổ định hướng đến năm 2035, với khu vực dự kiến thành lập thị xã Đức Phổ gồm
15 xã, thị trấn, có diện tích tự nhiên 372, 76 km2, dân số 150 927 người (khu vực nội thị gồm thị trấn Đức Phổ và 7 xã, với diện tích tự nhiên khoảng 12.074 ha, dân số khoảng 78.192 người)
Huyện Đức Phổ có dân cư tập trung, cơ sở hạ tầng tương đối phát triển đồng bộ, các tuyến giao thông kết nối thuận lợi, có các công trình hạ tầng đầu mối quan trọng Vùng đất này có nhiều di tích lịch sử, truyền thống cách mạng đấu tranh dựng nước và giữ nước, nhiều tài nguyên văn hóa, di chỉ khảo cổ của nền văn hóa Sa Huỳnh nổi tiếng đã được xếp hạng cấp tỉnh, cấp Quốc gia Sa Huỳnh cũng là một trung tâm du lịch nhiều tiềm năng của khu vực miền trung Trong những năm qua, công tác quy hoạch và quản lý xây dựng, đầu
tư phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đã được chú trọng Các khu dân cư được chỉnh trang nâng cấp hoặc đầu tư xây dựng mới; các khu du lịch, cụm công nghiêp,
Trang 5khu công nghiệp; cơ sở thương mại, dịch vụ đang được thực hiện là các động lực chính để phát triển kinh tế - xã hội và phát triển đô thị Hiện nay, huyện có tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khá cao; trong những năm qua cơ cấu dân số, lao động có sự chuyển dịch mạnh theo hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế là tăng dần tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch
vụ thương mại, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp Tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, tốc độ
đô thị hóa diễn ra nhanh trên địa bàn thị trấn và các xã giáp ranh đòi hỏi cấp thiết phải có không gian phù hợp để phát triển; mô hình tổ chức bộ máy chính quyền địa phương phải được thay đổi từ quản lý nông thôn sang quản lý đô thị, để phù hợp và đáp ứng yêu cầu phát triển của Đức Phổ, một địa phương đã và đang có tốc độ đô thị hóa và sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ngày càng nhanh, mạnh, theo hướng hiện đại
Đối chiếu với các quy định hiện hành của Nhà nước, huyện Đức Phổ về cơ bản đã hội tụ đủ các tiêu chuẩn và điều kiện để chuyển thành thị xã thuộc tỉnh Thành lập thị xã Đức Phổ thuộc tỉnh Quảng Ngãi là một sự cần thiết khách quan, phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trong giai đoạn hiện nay, cũng như phù hợp với nguyện vọng của Đảng bộ, Chính quyền, các tầng lớp nhân dân tỉnh Quảng Ngãi nói chung và huyện Đức Phổ nói riêng; góp phần thực hiện ngày càng có kết quả, hiệu quả các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống của người dân địa phương trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa theo hướng hiện đại của nước ta hiện nay
2 Sự cần thiết thành lập các phường thuộc thị xã Đức Phổ
Huyện Đức Phổ hiện có 15 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm thị trấn Đức Phổ và
14 xã Khu vực dự kiến thành lập thị xã được lập cho phạm vi 15 xã, thị trấn; Trong đó Khu vực nội thị gồm 07 xã và 01 thị trấn, khu vực ngoại thị gồm 07 xã
Đô thị Đức Phổ có vị trí kinh tế khá thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội Qua địa bàn đô thị có tuyến đường sắt Bắc - Nam, Quốc lộ 1, Quốc lộ 24, đường tỉnh 627B và tuyến đường ven biển (Dung Quất- Sa Huỳnh); cửa biển Mỹ Á và cua73 biển Sa Huỳnh là nơi cung cấp các dịch vụ cho hơn1 400 tàu thuyền,… Đến nay, khu vực thị trấn Đức Phổ
đã có nhiều công trình dự án được triển khai đầu tư, ngoài nguồn vốn ngân sách, huyện đã thu hút nguồn vốn khác như: Nhà máy may xuất khẩu Vinatex Đức Phổ, Trung tâm thương mại chợ Đức Phổ, cụm Công nghiệp Đồng Làng, Cụm công nghiệp Sa Huỳnh, Khu dịch vụ hậu cần nghề cá Mỹ Á, Siêu thị Co.opmart Đức Phổ, Khu dân cư chỉnh trang
đô thị An Phát Đạt, Khu dân cư Nam Trần Hưng Đạo, Khu dân cư An Phú, Khu dân cư Bàu Sen…
Với những tiền đề phát triển như vậy, khu vực nêu trên đã và đang diễn ra quá trình
đô thị hóa nhanh; kinh tế phát triển ổn định với cơ cấu đa dạng: công nghiệp, TTCN, xây dựng, thương mại - dịch vụ, du lịch và nông nghiệp; có tốc độ tăng trưởng kinh tế, giá trị sản xuất năm sau cao hơn năm trước; mật độ dân số, thu nhập bình quân đầu người và tỷ lệ lao động phi nông nghiệp ngày càng cao hơn các vùng lân cận; bộ mặt đô thị của các xã, thị trấn ngày một khang trang hơn
Qua phân tích đánh giá thì thị trấn Đức Phổ và các xã Phổ Hòa, Phổ Ninh, Phổ Minh, Phổ Văn, Phổ Vinh, Phổ Quang, Phổ Thạnh, về cơ bản đã đáp ứng đủ các điều kiện, tiêu chuẩn thành lập phường theo quy định của Nghị quyết số 1211/2016/UBTVQH13 ngày 25/5/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
Việc thành lập các phường Nguyễn Nghiêm, Phổ Hòa, Phổ Ninh, Phổ Minh, Phổ Văn, Phổ Vinh , Phổ Quang và Phổ Thạnh sẽ tạo tiền đề pháp lý cho việc thiết lập mô hình
Trang 6tổ chức bộ máy chính quyền đô thị, nhằm đáp ứng yêu cầu về công tác quản lý hành chính nhà nước trên địa bàn; góp phần vào việc nâng cao tỷ lệ đô thị hóa, đưa huyện Đức Phổ đạt các tiêu chuẩn của thị xã thuộc tỉnh theo định hướng quy hoạch tổng thể phát triển kinh
tế - xã hội tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 2052/QĐ-TTg ngày 10/11/2010 và Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2015-2020, Nghị quyết số 02-NQ/TU ngày 01/7/2016 của Tỉnh ủy về đầu tư phát tiển kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông, hạ tầng đô thị; Quyết định số 23/QĐ-UBND ngày 09/01/2017 của UBND tỉnh Quảng Ngãi về việc thông qua Đề án phát triển đô thị trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2025; Nghị quyết số 19/2015/NQ-HĐND ngày 14/12/2015 của HĐND tỉnh về Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2016-2020 của tỉnh Quảng Ngãi; Quyết định số 14/QĐ-UBND ngày 26/10/2011 của UBND tỉnh Quảng Ngãi về việc thông qua Đề án phát triển
đô thị trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020; Quyết định số 831/QĐ-UBND ngày 17/11/2017 của UBND tỉnh về việc phê duyệt Đề án Quy hoạch chung (điều chỉnh) đô thị Đức Phổ tỉnh Quảng Ngãi đến 2035; Quyết định số 40/QĐ-BXD ngày 17/01/2019 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về việc công nhận khu vực dự kiến thành lập thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi đạt tiêu chuẩn đô thị loại IV
Trang 7PHẦN II LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA HUYỆN ĐỨC
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, huyện Đức Phổ đổi tên là huyện Nguyễn Nghiêm nhưng chỉ một thời gian ngắn rồi đổi lại là Đức Phổ Các tổng cũng có sự đổi tên: tổng Phổ Cảm đổi là tổng Trần Kha, tổng Phổ Tri đổi là tổng Huỳnh Lầu, tổng Phổ Vân đổi là tổng Phan Bằng nhưng cũng chỉ trong một thời gian ngắn thì quay lại tên cũ và xóa
bỏ luôn cấp tổng Huyện Đức Phổ được hoạch định lại đơn vị hành chính với 13 xã đều lấy chữ Phổ làm đầu: Phổ Phong, Phổ Thuận, Phổ Văn, Phổ Quang, Phổ An, Phổ Nhơn, Phổ Ninh, Phổ Hòa, Phổ Minh, Phổ Vinh, Phổ Khánh, Phổ Cường, Phổ Thạnh; dưới xã là thôn; các thôn thường lấy tên làng xã cũ
Sau khi tiếp quản, đến năm 1958 chính quyền Sài Gòn thành lập quận Đức Phổ, đổi tên gọi các xã, đặt hai xã mới, tổng cộng có 15 xã, vẫn lấy chữ Phổ ở đầu, nhưng đổi tên chữ sau: xã Phổ Hòa đổi là xã Phổ Đại; xã Phổ Thuận đổi là xã Phổ Long; xã Phổ Văn đổi
là xã Phổ Hưng; xã Phổ Phong đổi là xã Phổ Nghĩa; xã Phổ An đổi là xã Phổ Lợi; xã Phổ Quang đổi là xã Phổ Xuân; xã Phổ Ninh đổi là xã Phổ Bình; xã Phổ Minh đổi là xã Phổ Tân; xã Phổ Nhơn đổi là xã Phổ Phước; xã Phổ Cường đổi là xã Phổ Trang; xã Phổ Khánh đổi là xã Phổ Trung, một phần tách lập thành xã Phổ Hiệp; xã Phổ Thạnh đổi là xã Phổ Thạch, tách một phần lập xã Phổ Châu; xã Phổ Vinh đổi là xã Phổ Thành
Sau năm 1975, Đức Phổ vẫn giữ nguyên địa giới hành chính đã có và có 13 xã như thời kháng chiến chống Pháp (xã Phổ Hiệp nhập lại vào xã Phổ Khánh, xã Phổ Châu nhập lại vào xã Phổ Thạnh) Năm 1987, thị trấn Đức Phổ được thành lập từ thôn Vĩnh Lạc và một phần thôn Vĩnh Bình xã Phổ Ninh, thôn Trường Sanh xã Phổ Minh, thôn An Thọ, An Lạc xã Phổ Hòa Đến năm 1999, xã Phổ Châu lại được tách lập thành 1 xã, là xã cực nam của tỉnh Quảng Ngãi
Từ năm 2005, lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi có kế hoạch xây dựng huyện Đức Phổ trở thành thị xã trực thuộc tỉnh Đến nay, huyện Đức Phổ có 01 thị trấn Đức Phổ và 14 xã: Phổ Hòa, Phổ Thuận, Phổ Văn, Phổ Phong, Phổ An, Phổ Quang, Phổ Ninh, Phổ Minh, Phổ Nhơn, Phổ Cường, Phổ Khánh, Phổ Thạnh, Phổ Châu và Phổ Vinh
Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, địa danh Đức Phổ có ý nghĩa quan trọng với sự phát triển của tỉnh Quãng Ngãi Huyện Đức Phổ còn được biết đến với đường bờ biển khá dài, thuận lợi cho phát triển ngư nghiệp, được xem là một thế mạnh của huyện Đức Phổ còn là quê hương của nền Văn hóa Sa Huỳnh nổi tiếng, được nhà khảo cổ học người Pháp phát hiện năm 1909 và được xác định niên đại cách nay khoảng 2.500 năm và nền Văn hóa
Trang 8Chămpa với bi ký khắc trên đá bằng chữ Sanskrit (chữ Chăm cổ), văn bia này được tìm thấy tại thôn Thạnh Đức, xã Phổ Thạnh Qua nhiều năm, Đức Phổ vẫn còn lưu lại rất nhiều
di sản văn hóa phong phú của người Việt như lễ hội ra quân đánh bắt thủy sản đầu năm được tổ chức tại biển Sa Huỳnh ngày mùng 3 Tết âm lịch hàng năm và Hát sắc bùa, một hình thức diễn xướng dân gian, mang tính chất nghi lễ phong tục diễn ra vào các dịp tết Nguyên đán
Nói đến Đức Phổ là nói đến vùng đất giàu truyền thống yêu nước và cách mạng, nơi diễn ra phong trào nông dân Tây Sơn từ cuối thế kỷ XVIII, phong trào Cần Vương năm
1886, và phòng trào Duy Tân Đức Phổ còn là cái nôi cách mạng của tỉnh Quảng Ngãi, nơi ra đời của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi, sự kiện ngày 8/10/1930 với hơn 5.000 người dân xuống đường để chia lửa với phong trào xô viết Nghệ Tĩnh, toàn huyện có 13/14 xã là lực lượng vũ trang với hơn 200 bà mẹ Việt Nam anh hùng
- Phía Đông giáp biển Đông;
- Phía Tây giáp huyện Ba Tơ;
- Phía Nam giáp huyện Hoài Nhơn, Tỉnh Bình Định;
- Phía Bắc giáp huyện Mộ Đức
- Phía Tây Nam giáp huyện An Lão, tỉnh Bình Định
- Phía Tây bắc giáp với huyện Nghĩa Hành
Trung tâm Huyện Đức Phổ cách thành phố Quảng Ngãi khoảng 40km, cách khu kinh tế và cảng nước sâu Dung Quất khoảng 60 km và cách khu kinh tế Nhơn Hội (Bình Định) khoảng 120 km, cách sân bay Chu Lai 90km về phía Bắc và sân bay Phù Cát khoảng 100km về phía Nam; có tuyến đường sắt Bắc - Nam, Quốc lộ 1, Quốc lộ 24, cao tốc Đà Nẵng - Quy Nhơn và tuyến đường ven biển (Dung Quất - Sa Huỳnh), có cửa biển
Mỹ Á, Sa Huỳnh…là những điều kiện đặc biệt quan trọng, làm động lực cho việc hội nhập phát triển kinh tế - xã hội Bên cạnh đó, huyện Đức Phổ có vị trí quan trọng về an ninh, quốc phòng, bảo vệ chủ quyền Quốc gia đối với biển, đảo của Tổ quốc
2 Điều kiện tự nhiên:
a) Địa hình, địa mạo
Khu vực nghiên cứu có địa hình phức tạp, đa dạng, bị chia cắt mạnh, núi và đồng bằng xen kẽ, một số nhánh núi của dãy Trường Sơn chạy ra tận bờ biển
- Tại các khu vực trung tâm thị trấn, có cao độ nền từ: 5,22m - 10,7m, không bị ngập lụt
- Khu vực sản xuất nông nghiệp: dọc sông Trà Câu, trên địa phận các xã Phổ Ninh, Phổ Văn, Phổ Quang, Phổ Minh, Phổ Vinh có đồng bằng tương đối rộng, địa hình bằng phẳng, cao độ nền từ 1,00 - 4,80m
Trang 9- Khu vực đồi núi: Khu vực đồi núi có độ dốc lớn (≥25%), nằm phía tây khu vực nghiên cứu (xã Phổ Ninh, Phổ Hòa), và có một số dãy núi chạy suốt ra bờ biển, có một ít đồng bằng nhỏ hẹp nằm cạnh các suối và xen kẽ với núi
b) Khí hậu:
Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, Đức Phổ có nền nhiệt cao, mưa tương đối nhiều, bức xạ lớn cho phép sản xuất nhiều vụ trong năm và cây trồng, vật nuôi sinh trưởng phát triển tốt
- Khí hậu được chia thành 2 mùa: Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 lượng mưa nhiều, nhiệt độ thấp, lượng bốc hơi và giờ nắng ít Mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8, lượng mưa ít, nắng nóng, lượng nước bốc hơi cao
- Nhiệt độ trung bình năm là 25,80C, tháng giêng và tháng hai nhiệt độ trung bình chỉ đạt 21,5-22,50C, đặc biệt có lúc nhiệt độ xuống thấp, dưới 200
C nên lúa trổ bông vào thời gian này thường bị lép, mất mùa
- Lượng mưa trung bình cả năm đạt 1.915mm, hạn hán thường xảy ra từ tháng 3 - tháng 8 và úng lụt thường xảy ra trong mùa mưa (tháng 9 - tháng 12)
- Đức Phổ nằm trong vùng gió mùa, có 2 mùa gió chính: gió mùa đông với hướng thịnh hành là Đông Bắc đến Bắc và gió mùa hạ với hướng chính là Đông đến Đông Nam, tốc độ gió trung bình 2-4 m/s Song những lúc chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc thì tốc độ gió có thể cao hơn nhiều Mặt khác mùa hè có gió Tây Nam khô nóng thổi từng đợt 5-7 ngày ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp nhất là lúa hè thu giai đoạn làm đòng, trổ bông
- Trên biển trung bình có 135 ngày gió mạnh cấp 6 gây ảnh hưởng đến thời gian đi biển của ngư dân, nhất là vào thời gian từ tháng 11 đến tháng 01 năm sau Mỗi năm trung bình có một cơn bão vào Quảng Ngãi, thường có bão vào tháng 10, ảnh hưởng đến vụ lúa mùa và đời sống nhân dân
c) Thủy văn:
- Sông Trà Câu: bắt nguồn từ vùng Đông Nam huyện Ba Tơ, đoạn trên gọi là sông
Ba Liên hay sông Vực Liêm, chảy theo hướng Tây - Tây Bắc đến Đông - Đông Nam rồi
đổ ra cửa biển Mỹ Á Sông Trà Câu được coi là một trong những con sông lớn của tỉnh Quảng Ngãi
- Sông Lò Bó bắt nguồn từ vùng núi phía nam huyện, có độ cao 300m, chảy theo hướng Tây Nam - Đông Bắc, diện tích lưu vực khoảng 36km2
, chiều dài 27,8 km
- Sông Thoa là con sông đào xuất phát từ Phú An đi qua các xã Đức Hòa, Đức Tân, Đức Phong (huyện Mộ Đức), Phổ An, Phổ Quang và cuối cùng đổ ra cửa Mỹ Á Sông Thoa lấy nước sông Vệ ở Phú An (xã Đức Hiệp) để tưới cho đồng ruộng trong mùa nắng hạn lại vừa tiêu úng, thoát lũ trong mùa mưa cho các vùng dọc ven sông
- Ngoài ra còn có các hồ đập như: Hồ Liệt Sơn, hồ An Thọ, tham gia điều tiết lũ và cung cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp
3 Diện tích tự nhiên và cơ cấu các loại đất
Theo số liệu thống kê năm 2018 Huyện Đức Phổ có diện tích tự nhiên là 372,76 km2 Trong đó chia ra:
Trang 10Diện tích đất nông nghiệp 302,92 km2 chiếm 81,18%
Diện tích đất phi nông nghiệp 59,53 km2 chiếm 15,95%
Diện tích đất chưa sử dụng 10,72 km2 chiếm 2,87%
4 Dân số và cơ cấu thành phần dân cư
Với vai trò là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế - xã hội của khu vực phía nam của tỉnh Quảng Ngãi, huyện Đức Phổ luôn có sự phát triển kinh tế - xã hội ở mức cao, hệ thống hạ tầng đô thị đang từng bước được đầu tư xây dựng đồng bộ, môi trường đô thị, nếp sống văn minh đô thị ngày càng được cải thiện, đời sống nhân dân được nâng cao Đây đang và sẽ là tiền đề thu hút được lượng lớn lực lượng lao động trên địa bàn tỉnh cũng như các vùng lân cận về làm việc và sinh sống
Năm 2018, toàn huyện Đức Phổ có dân số đã quy đổi là 150.927 người, bao gồm: học sinh, sinh viên từ các trường THCN dạy nghề, doanh nhân kinh doanh và buôn bán tại
đô thị, lao động tạm trú làm việc tại các cụm công nghiệp và doanh nghiệp sản xuất, bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện, một số lực lượng quân đội và lực lượng vũ trang đóng quân trên địa bàn
+ Dân số trung bình của toàn huyện: 150.927 người, trong đó nữ giới chiếm 50,85% + Dân số trong độ tuổi lao động của huyện: 105.649 người, trong đó nữ giới chiếm 50,87%
+ Dân số trung bình của khu vực nội thị: 78.192 người, trong đó nữ giới chiếm 50,52
Thống kê lao động khu vực thị trấn Đức Phổ mở rộng (năm 2018)
TT Tên đơn vị hành
chính
Tổng số lao động (người)
Số lao động phi nông nghiệp (người)
Số lao động nông nghiệp (người)
Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp (%)
Trang 115 Hiện trạng phát triển kinh tế
a) Về tăng trưởng kinh tế và cơ cấu kinh tế:
Trong những năm qua huyện Đức Phổ vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao Tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình giai đoạn 2016 - 2018 khoảng 17,16 % Tổng giá trị sản xuất theo giá trị hiện hành của toàn huyện năm 2018 đạt 19.212 tỷ đồng (giá so sánh năm 2010), trong đó Cụ thể:
- Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển khá, giá trị sản xuất đạt 8.570 tỷ đồng, chiếm 44.6%
- Thương mại - dịch vụ phát triển mạnh, giá trị sản xuất đạt 7.780 tỷ đồng: chiếm 40,5%
- Nông - lâm - ngư nghiệp phát triển theo chiều sâu, giá trị sản xuất đạt 2.862 tỷ đồng, chiếm 14,9%
Như vậy, năm 2018 tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch
vụ chiếm 85.1% tong cơ cấu kinh tế của huyện
b)Thu, chi ngân sách, thu nhập bình quân đầu người:
- Thu ngân sách: Hàng năm công tác thu ngân sách đều đạt chỉ tiêu được giao Trong
năm 2018 tình hình phát triển kinh tế của huyện đạt được nhiều kết quả tích cực, các chỉ tiêu cơ bản hoàn thành và vượt kế hoạch đề ra, thu ngân sách tăng cao, đặc biệt là thu nội địa và thu xuất nhập khẩu, Tổng thu NSNN trên địa bàn huyện năm 2018 đạt 174,597 tỷ đồng, tổng thu ngân sách huyện năm 2018 đạt 732,702 tỷ đồng
Trang 12- Về chi ngân sách: Trong nhưng năm qua, tổng chi ngân sách trên địa bàn luôn được
cân đối với nguồn thu ngân sách huyện được hưởng, trong đó tỷ lệ cho đầu tư phát triển ngày một tăng; chi thường xuyên và cho công tác sự nghiệp ổn định ở mức trung bình Cân đối thu chi ngân sách luôn luôn đạt dư, đảm bảo nguồn tài chính cho đô thị phát triển
ổn định, chủ động thực hiện các chương trình kế hoạch của địa phương, đặc biệt là chương trình phát triển đô thị Đức Phổ đến năm 2020 Chi ngân sách của toàn huyện năm 2018là 668,125 tỷ đồng
- Cân đối thu chi ngân sách hàng năm tổng kết dư năm 2018: 64,577 tỷ
Theo nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội của toàn huyện, mức sống của người dân đã được cải thiện đáng kể; bình quân thu nhập đầu người tăng dần qua các năm; cụ thể, năm
2016 đạt 31,01 triệu đồng/năm, năm 2017 đạt 32,05 triệu đồng/năm, năm 2018 đạt 33,06 triệu đồng/năm Với kết quả trên, huyện Đức Phổ có bình quân thu nhập đầu người bằng 0.57 lần trung bình với cả nước (Thu nhập bình quân đầu người năm 2018 của Việt Nam ước tính đạt 58,5 triệu đồng)
Tình hình thu chi ngân sách và thu nhập bình quân đầu người của huyện Đức Phổ trong
giai đoạn 2016-2018 và ước tính năm 2019
TT Chỉ tiêu ĐVT Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 Ước 2019
2 Tổng chi ngân sách trên
địa bàn
Tỷ đồng 670,24 758,6 668,125 701,53
3 Thu nhập bình quân đầu
07 xã đạt từ 3,34% đến 7,54% (thị trấn Đức Phổ 3,34%; xã Phổ Văn 4,10%, xã Phổ Hòa 6,53%, xã Phổ Vinh 5,75%, xã Phổ Ninh 5,25%, xã Phổ Minh 6,07%, xã Phổ Quang 7,54%, xã Phổ Thạnh 7,37%%); thấp hơn mức bình quân chung của huyện(7,7%)
c) Công nghiệp, TTCN và xây dựng
Với tiềm năng và sự liên kết giữa các cụm công nghiệp trên địa bàn và hệ thống khu dân cư, mạng lưới giao thông và cơ sở hạ tầng đang được quan tâm đầu tư xây dựng đã tạo nên động lực phát triển công nghiệp Đến nay trên địa bàn huyện các cụm công nghiệp đã phê duyệt cơ bản được lấp đầy diện tích, cụ thể: Cụm công nghiệp Sa Huỳnh có diện tích 0,053 km2, đã lấp đầy 100% với 11 dự án đầu tư; Cụm công nghiệp Phổ Phong có diện
Trang 13tích 0,1021 km2, đã lấp đầy 100% với 03 dự án đầu tư; Cụm công nghiệp Phổ Hòa có diện tích 0,041 km2, đã lấp đầy 100% với 01 dự án đầu tư; Cụm công nghiệp Đồng Làng có diện tích 0,20 km2, đã lấp đầy 42% với 02 dự án đầu tư; riêng khu Công nghiệp Phổ Phong
có diện tích 1,43 km2 đang được các nhà đầu tư quan tâm, khảo sát lựa chọn điểm đầu tư Bên cạnh đó huyện cũng đã tập trung phát triển các làng nghề, như: Làng nghề chổi đót ở Phổ Phong, Phổ Thuận; Làng nghề chế biến thủy, hải sản ở Phổ Thạnh, Phổ Quang Hầu hết các Cụm công nghiệp trên địa bàn huyện hoạt động có hiệu quả, tạo việc làm mới cho gần 900 lao động tại địa phương với mức lương bình quân 3 triệu đồng/người/tháng
Cụm Công nghiệp Phổ Hòa (Nhà máy may Vinatex Đức Phổ)
Bản đồ quy hoạch KCN Phổ Phong
Trang 14Mạng lưới chợ được đầu tư mở rộng phù hợp với sự phát triển của đô thị Toàn khu vực thị trấn mở rộng hiện có 7 chợ và 1 siêu thị đang hoạt động đáp ứng cơ bản nhu cầu trao đổi mua bán hàng hóa của doanh nghiệp và nhân dân Các cơ sở nhà hàng, khách sạn
số lượng ngày càng tăng phục vụ tốt cho hoạt động phát triển sản xuất và đời sống của nhân dân
Tuyến vận tải hàng hóa và hành khách Bắc - Nam qua địa bàn khu vực thị trấn Đức Phổ mở rộng đáp ứng nhu cầu đi lại thuận tiện cho người dân đến các vùng lân cận và các trung tâm kinh tế - xã hội quan trọng của đất nước Hiện nay, trên địa bàn đã có một bến
xe diện tích 0,002 km2; Trạm dừng chân và bến xe Nam Quảng Ngãi tại xã Phổ Châu và đang định hướng quy hoạch bến xe Đức Phổ với diện tích 0,03 km2 tại xã Phổ Ninh huyện Đức Phổ
Cùng với sự phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ ngành du lịch cũng phát triển với tốc độ nhanh nhằm khai thác các tiềm năng về du lịch của huyện Trên địa bàn huyện đã có quy hoạch 6 khu du lịch với quy mô lên đến 1,685 km2
Siêu thị CO.OPmart Đức Phổ Chợ Đức Phổ
e) Nông, lâm thủy sản
Nhìn chung, sản xuất nông, lâm, thủy sản trên địa bàn được quan tâm đầu tư phát triển theo chiều sâu, sản phẩm sạch, đạt mức tăng trưởng khá, đã chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa
Hệ thống mạng lưới khuyến nông, dịch vụ sản xuất nông nghiệp, thủy sản được củng
cố, đáp ứng cho nhu cầu phát triển sản xuất Tiến bộ kỹ thuật đã được ứng dụng tốt trong sản xuất, nuôi trồng
Trang 15Sản xuất nông nghiệp, thủy sản chủ yếu tập trung ở các xã phía Đông Đức Phổ; riêng tại khu vực nội thị đô thị Đức Phổ hiện nay giá trị sản xuất nông nghiệp có xu hướng giảm Sản xuất lâm nghiệp chỉ đơn thuần là trồng rừng và bảo vệ rừng, các hoạt động khai thác chế biến lâm sản quy mô nhỏ, ít có giá trị về mặt kinh tế, mà chủ yếu có giá trị lớn về môi trường sinh thái, trồng rừng phủ xanh đồi trọc và lũ lụt
Lĩnh vực nuôi, trồng và đánh bắt thủy hải sản phát triển; hiện nay, diện tích đất nuôi trồng thủy sản không ngừng tăng mang lại hiệu Trong khu vực thị trấn mở rộng có cảng
Mỹ Á nơi cung cấp, trao đổi các mặt hàng hải sản khai thác cho huyện Đức Phổ và các vùng lân cận
Cảng Mỹ Á Bè nuôi thủy sản
6 Hiện trạng phát triển cơ sở hạ tầng đô thị
a) Hiện trạng về nhà ở và công trình công cộng
Điểm nổi bật của đô thị trong thời gian gần đây là xây dựng nếp sống văn minh đô thị, vệ sinh môi trường, cảnh quan theo hướng "xanh, sạch, đẹp" Nhiều công trình trọng điểm đã và đang được thi công và đưa vào sử dụng góp phần tạo nên bộ mặt mới cho đô thị trong giai đoạn phát triển và hội nhập, cụ thể: Quảng trường 8/10, nhà văn hóa huyện
và nhà thi đấu…
Quảng trường 8/10 Công viên cây xanh
Trang 16Với hệ thống hạ tầng xã hội và mạng lưới đường đang từng bước đuợc nâng cấp, cải tạo ngày một khang trang hơn: lát vỉa hè, trồng cây xanh đường phố, cây xanh cảnh quan, nhà ở xây dựng kiên cố đảm bảo công năng và cảnh quan đô thị, các khu thương mại dịch
vụ buôn bán sầm uất, xứng tầm với một đô thị loại IV
* Nhà ở
Trong thời gian gần đây, chất lượng sống đô thị ngày một cải thiện và nâng cao, một
số dự án khu nhà ở và công trình nhà dân được xây dựng mới với hình thức kiến trúc hiện đại, phù hợp, đảm bảo công năng và tiện nghi sống góp phần làm tăng tính thẩm mỹ công trình, bộ mặt đô thị và chất lượng cuộc sống người dân từng bước được nâng cao
Nhìn chung, nhà ở tại đô thị và tại các khu vực lân cận xây dựng theo dạng nhà liên
kế bám sát theo các trục đường giao thông chính, dạng nhà ở có sân, vườn , một số khu ở mới đang xây dựng hạ tầng và cũng đã hình thành một số khu đô thị mới, khu nhà ở cho công nhân, khu tái định cư nhằm phát triển quỹ nhà của đô thị trong tương lai Tỷ lệ nhà ở kiên cố, bán kiên cố, khá kiên cố ngày càng tăng cao, năm 2018 trên địa bàn khu vực nội thị có trên 2.581,18 m2 sàn nhà ở, bình quân đạt 29,86 m2/người, nhà ở kiên cố, bán kiên
cố chiếm tỷ lệ lớn Bên cạnh hệ thống công trình công cộng trên địa bàn như trụ sở cơ quan, bệnh viện, trường học, khu vui chơi giải trí đã và đang được đầu tư, nâng cấp, cải tạo, xây dựng mới tạo sự khang trang và mỹ quan cho đô thị
Trong năm 2018, trên địa bàn khu vực nội thị đã có 04 dự án xây dựng các khu dân
cư đã hoàn thành:
- Khu dân cư thôn Vĩnh Bình, xã Phổ Ninh;
- Khu dân cư thôn Thanh Trung, xã Phổ Thuận;
- Khu dân cư Đồng Bàu, thị trấn Đức Phổ
- Khu dân cư Phía Tây Nhà máy nước
Ngoài ra, hiện nay trên địa bàn khu vực nội thị còn có 04 dự án về nhà ở đang triển khai xây dựng
- Khu dân cư Nam Trần Hưng Đạo xã Phổ Ninh và Thị trấn Đức Phổ
- Khu dân cư An Phú xã Phổ Thạnh
- Khu dân cư An Phát Đạt xã Phổ Hòa và Thị trấn Đức Phổ
Khu dân cư Bàu Sen Khu dân cư Nam Trần Hưng Đạo
Trang 17Công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân đã được các cấp ủy Đảng, chính quyền tập trung lãnh đạo, chỉ đạo Công tác bảo hiểm y tế được mở rộng, tích cực vận động nhân dân tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện Mạng lưới y tế trên địa bàn đã đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân
Trên địa bàn có Bệnh viện Đa khoa Khu vực Đặng Thùy Trâm diện tích 18.329 m2
,
có quy mô 260 giường, 61 bác sĩ và 133 nhân viên Cơ sở vật chất, trang thiết bị khám chữa bệnh tiếp tục tăng cường, riêng Bệnh viện Đa khoa Đặng Thùy Trâm mở rộng được
Trang 18đầu tư nâng cấp trang thiết bị hiện đại, có hệ thống xử lý rác thải y tế không đốt và hệ thống xử lý nước sạch (nguồn vốn nguồn vốn trái phiếu Chính phủ và Ngân hàng Thế giới)
Tỷ lệ lượt khám bệnh hàng năm tăng đáng kể, 100% số trẻ em và các bà mẹ mang thai được tổ chức tiêm phòng 6 loại vắc xin, chăm sóc sức khỏe sinh sản, diệt lăng quăng, uống vitamin A, phòng chống dịch tiêu chảy cấp do phẩy khuẩn tả, sốt rét, dịch sốt xuất huyết
Bệnh viện Đa Khoa khu vực Đặng Thùy Trâm
Phòng y tế huyện với chức năng quản lý nhà nước về y tế ở cấp huyện đã quản lý và triển khai tốt các chương trình ngăn ngừa phòng chống dịch bệnh
Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn đã được chú trọng triển khai kiểm soát đồng thời phối hợp cùng trung tâm y tế tổ chức đào tạo kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm cho các nhà hàng trên địa bàn; tổ chức thanh kiểm tra nhà thuốc và phòng khám về niêm yết giá
- Giáo dục và đào tạo
Năm 2018, toàn đô thị có 47 cở sở giáo dục đào tạo với 15 trường mầm non với 154 lớp, khoảng trên 4.473 cháu, 373 giáo viên; 14 trường tiểu học với 351 lớp khoảng trên 9.373 học sinh, 524 giáo viên; 12 trường trung học cơ sở với 231 lớp khoảng trên 7.638 học sinh, 499 giáo viên; 03 trường Tiểu học và Trung học cơ sở;Ngoài ra trên địa bàn huyện có: 03 trường Trung học phổ thông, 01 Trung tâm giáo dục nghề nghiệp-giáo dục thường xuyên, 01 Trường trung cấp kỹ thuật Quảng Ngãi và 01 Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện
Hầu hết các trường trên địa bàn huyện được xây dựng với quy mô lớn đúng quy chuẩn, có đầy đủ các phòng chức năng; hiện đã có trên 83,3% số trường đã được công nhận đạt chuẩn Quốc gia Quy mô giáo dục và đào tạo tiếp tục tăng ở tất cả các bậc học, ngành học, đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng lớn của nhân dân; thực hiện tốt chương
Trang 19trình đổi mới giáo dục và tiếp tục thực hiện các chương trình đào tạo, bồi dưỡng để từng bước chuẩn hóa đội ngũ giáo viên; tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho việc dạy học và học theo chương trình đổi mới giáo dục phổthông, tổ chức dạy và học
2 buổi/ngày tại tất cả các trường.Chất lượng dạy và học ở các cấp tiếp tục được giữ ổn định và phát triển bền vững Tỷ lệ học sinh giỏi, giáo viên giỏi, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp tiểu học, THCS hàng năm bằng hoặc cao hơn so với mặt bằng chung của tỉnh Tình trạng thiếu giáo viên ở các cấp học cơ bản được khắc phục, chất lượng giáo viên được chuẩn hóa.Tỷ lệ huy động trẻ ra lớp hàng năm ở bậc tiểu học, THCS đều đạt từ 99% đến 100% Thành
quả công tác phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cậpTHCS tiếp tục được giữ vững Công tác phổ cập giáo dục bậc trung học cơ sở được tiến hành có chất lượng, đến nay đã có 15 đơn vị xã, thị trấn hoàn thành công tác phổ cấp giáo dục bậc trung học
Việc thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục đã đạt được những kết quả đáng kể Trong thời gian qua, chất lượng giáo dục đào tạo ngày càng được nâng cao, đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất trang thiết bị giáo dục của các trường ngày càng được chú trọng đầu
tư, nâng cấp đã đáp ứng nhu cầu dạy và học Toàn huyện có 15/15 trường mầm non thực hiện chương trình giáo dục mầm non mới Tỷ lệ học sinh giỏi cấp tiểu học và trung học cơ
sở đạt giải trong các kỳ thi học sinh giỏi cấp huyện và tỉnh, quốc gia tăng khá so với năm học trước Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện đã phân bổ trên 8 tỷ đồng cho các trường để xây dựng phòng học, sửa chữa, mua sắm trang thiết bị dạy học Toàn huyện hiện có 45/47 trường đạt chuẩn quốc gia…tỷ lệ trẻ em 5 tuổi ra lớp hàng năm đạt 100%; tiểu học và THCS đạt 100% Tỷ lệ hoàn thành chương trình cấp tiểu học đạt 99,7%; 99,3% học sinh THCS đạt tốt nghiệp Trong năm học 2017 - 2018, toàn huyện có 60 học sinh đạt học sinh giỏi cấp tỉnh Huyện luôn giữ vững danh hiệu đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học và phổ cập giáo dục THCS Công tác phổ cập mầm non cho trẻ 5 tuổi cơ bản hoàn thành theo quy định Đây là những tiền đề đảm bảo yêu cầu phát triển giáo dục trong tương lai
Công tác văn hóa, thông tin trên địa bàn đã có nhiều đóng góp tích cực trong việc động viên toàn dân tham gia vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội Các cơ quan và phương tiện thông tin đại chúng đã tích cực tuyên truyền đường lối đổi mới của Đảng, động viên và cổ vũ các nhân tố tích cực, đấu tranh chống các mặt tiêu cực và các tệ nạn xã hội, khơi dậy và phát huy truyền thống nhân ái, giúp đỡ lẫn nhau; tổ chức nhiều chương
Trang 20trình hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn trong năm, nâng cao mức hưởng thụ văn hóa nghệ thuật cho mọi tầng lớp nhân dân Nhiều cơ chế quản lý văn hóa, thông tin đã được đổi mới theo hướng xã hội hóa, huy động được thêm nhiều nguồn lực cho các hoạt động này
Hoạt động văn hóa - văn nghệ, thể dục thể thao được củng cố và phát triển Trên địa bàn có các câu lạc bộ, đội nhóm được thành lập và tổ chức hoạt động thường xuyên, quy
tụ nhiều quần chúng có ngành nghề và độ tuổi khác nhau tham gia sinh hoạt Bên cạnh sự lớn mạnh về số lượng, hoạt động văn hóa văn nghệ trên địa bàn còn cho thấy sự phong phú hơn về thể loại, đa dạng hơn, hấp dẫn hơn về hình thức, sâu sắc và chất lượng hơn về nội dung.Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” tiếp tục phát triển, chủ trương xã hội hóa các hoạt động thể dục thể thao được thực hiện rộng rãi và mang lại hiệu quả, tổ chức các hoạt động thể dục thể thao
Đời sống văn hoá của người dân hiện nay đang dần được nâng cao Phong trào văn nghệ quần chúng phát triển mạnh Về công tác thông tin, Đài phát thanh với kỹ thuật tiên tiến và hệ thống phát thanh được lắp đặt tại các khối phố, kịp thời tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến cán bộ và quần chúng nhân dân, phục
vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương
- Khoa học - kỹ thuật
Tại các trường đào tạo, hướng nghiệp, bệnh viện, trung tâm y tế và các cơ quan, cơ
sở công nghiệp trên địa bàn huyện đã thường xuyên áp dụng tiến bộ về khoa học kỹ thuật, coi đây là trách nhiệm, nghĩa vụ trong việc nâng cao trình độ chuyên môn của đơn vị Những năm gần đây, huyện đã có nhiều đề tài, sáng kiến thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế được ứng dụng ngay tại cơ sở và đạt được những thành quả nhất định Chương trình ứng dụng công nghệ thông tin phát triển nhanh; phần lớn các cơ quan, doanh nghiệp đã ứng dụng công nghệ tin học trong quản lý và sản xuất
Công nghệ thông tin trong hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước được thực hiện như là công tác nghiệp vụ thường ngày với kết quả tốt, đặc biệt là việc ứng dụng công nghệ hỗ trợ họp giao ban trực tuyến giữa cơ quan cấp Tỉnh và huyện
b) Hiện trạng về công trình hạ tầng kỹ thuật
+ Đường sắt
Trên địa bàn huyện Đức Phổ, ngoài 02 ga đường sắt ở ngoài khu vực mở rộng, trên địa bàn thị trấn có Ga Đức Phổ ở Tây Bắc thị trấn, chiều dài ga 520m và Ga Sa Huỳnh, Phổ Thạnh vận tải hàng hóa và hàng khách
Trang 21Các tuyến đường trục chính trên địa bàn đã được quan tâm đầu tư xây dựng như: đường Quốc lộ 1 - Mỹ Á (Đường Trần Hưng Đạo), đường Trung tâm nội thị nối dài (đường Phạm Văn Đồng), đường Quốc lộ 1 - Phổ Vinh (đường Hừng Vương) nhằm cải tạo mạng lưới đường đô thị, đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân Các tuyến giao thông chính có mặt cắt từ 11,5- 41m
Tuyến đường sắt Bắc Nam Đường Quốc lộ 1A
Tổng chiều dài mạng lưới đường giao thông chính đạt 81km, kết cấu mặt đường nhựa và cấp phối đảm bảo chất lượng, an toàn giao thông Diện tích đất giao thông chính
đô thị 148,76 ha; mật độ đường chính là 8,27 km/km2
- Giao thông đô thị
Các tuyến đường trục chính trên địa bàn đã được quan tâm đầu tư xây dựng như: đường Quốc lộ 1 - Mỹ Á (giai đoạn 2), đường Trung tâm nội thị nối dài, đường Quốc lộ 1
- Phổ Vinh (giai đoạn 1) nhằm cải tạo mạng lưới đường đô thị, đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân Các tuyến giao thông chính có mặt cắt từ 11,5- 41m
Tổng chiều dài mạng lưới đường giao thông chính đạt 81km, kết cấu mặt đường nhựa và cấp phối đảm bảo chất lượng, an toàn giao thông Diện tích đất giao thông chính
- Nguồn nước ngầm có trữ lượng không lớn, chất lượng nguồn nước chưa được đánh giá Tuy nhiên, qua khảo sát thực tế nước trong không mùi hầu hết dân cư trong huyện
Trang 22Đức Phổ đều dùng nước giếng đào và giếng khoan với đường kính nhỏ và một số trạm xử
lý do Nhà nước đầu tư để phục vụ cho sinh hoạt hằng ngày Hiện tại, có một số khu vực phía Đông một số nơi nguồn nước bị nhiễm mặn
- Trạm xử lý và mạng lưới: nhà máy nước Đức Phổ lấy từ nguồn nước mặt hồ chứa gần kênh Liệt Sơn và 3 trạm bơm nước ngầm Công suất 2.000 m3/ngày đêm, cung cấp nước cho thị trấn Đức Phổ hiện trạng và 02 xã lân cận: Phổ Hòa, Phổ Ninh
Ngoài ra, trong khu vực dự kiến thành lập thị xã Đức Phổ còn có 09 trạm cung cấp nước sạch phục vụ cho 7 xã, trong đó: Phổ An: 1 trạm, Phổ Thuận: 1 trạm, Phổ Quang: 2 trạm, Phổ Vinh: 1 trạm, Phổ Khánh: 1 trạm, Phổ Thạnh: 2 trạm, Phổ Châu: 1 trạm với tổng công suất khoảng 9.408 m3/ngày đêm
- Mạng lưới đường ống: Tuyến đường ống truyền dẫn nước có đường kính D200 từ nhà máy ra cấp cho thị trấn Đức Phổ và các khu dân cư ở các xã Phổ Hòa, Phổ Ninh Các tuyến đường ống nhánh có đường kính từ D60 – D160 được thiết kế mạng lưới vòng và mạng tia Hiện có 9 trụ cứu hỏa đặt dọc Quốc lộ 1, trục đường nội bộ số 9 và số 6 phục vụ công tác chữa cháy cho khu vực trung tâm thị trấn Các trạm xử lý mạng lưới đường ống D160 – D50 truyền dẫn và phân phối đến các hộ gia đình
* Thoát nước và vệ sinh môi trường
-Thoát nước thải
Hiện trạng thoát nước thải: Đặc điểm vệ sinh môi trường của huyện Đức Phổ là các loại xí tự hoại, kiểu tự thấm và xí hai ngăn Nước thải của bệnh viện Đặng Thùy Trâm và trạm xá Đặng Thùy Trâm được xử lý cục bộ bằng bể tự hoại rồi xả trực tiếp ra môi trường Các loại nước thải khác, trong đó có nước thải từ các cơ sở tiểu thủ công nghiệp, chế biến thức ăn gia súc đã xử lý cục bộ trước khi xả ra môi trường xung quanh
- Thu gom chất thải rắn
Lượng rác thải trên địa bàn 28,54tấn/ngày Tuy nhiên chỉ có một bãi xử lý rác thải ở
xã Phổ Thạnh hoạt động với qui mô khoảng 2,13ha, công suất thu gom chỉ khoảng 20tấn/ngày Do đó lượng rác thải còn tồn lưu trong môi trường là tương đối lớn
Việc thu gom chất thải rắn trên địa bàn do công ty Thương mại và công nghệ môi trường MD đảm nhiệm, đội vệ sinh môi trường của huyện tiến hành thu gom rác thải từ những hộ dân và các thùng rác theo chu kỳ nhất định (2 ngày 1 lần) bằng 11 xe cơ giới, sau đó tập trung tại bãi chôn lấp chất thải rắn ở: Bãi xử lý chất thải rắn xã Phổ Thạnh, bãi
xử lý chất thải rắn ở xã Phổ Nhơn diện tích 0,1008 km2 Hầu hết lượng rác thải phát sinh được thu gom đều đem 2 bãi rác tập trung này Trong các hẻm, các hộ dân tự chôn lấp hoặc tự thiêu hủy Riêng khu vực xã Phổ An đã có đội thu gom rác thải rộng 300 m2 Tháng 1/2018, nhà xử lý chất thải sinh hoạt Đức Phổ tại xã Phổ Thạnh, huyện Đức Phổ được đầu tư xây dựng từ nguồn vốn của tư nhân, công suất 50-70 tấn/ngày, công nghệ lò đốt, sinh học đã đi vào hoạt động Hiện tai, cơ sở vật chất, phương tiện thu gom đạt trên 80,05%, nhưng đang tăng lên Bệnh viện đa khoa Khu vực Đặng Thùy Trâm, rác thải đã được xử lý bằng công nghệ đốt rất hiện đại, hợp vệ sinh được đầu tư từ nguốn vốn tài trợ của WB năm 2015
- Hiện trạng nghĩa trang
Các nghĩa trang (chủ yếu là nghĩa trang nhân dân) được hình thành trên cơ sở tổ chức các điểm dân cư nông thôn (làng, xóm) với quy mô nhỏ nằm rải rác, diện tích mỗi nghĩa
Trang 23trang khoảng 0,005-0,01 km2 Huyện đang lập kế hoạch xây dựng nhà tang lễ và sẽ hoàn thành trong thời gian tới
* Về cấp điện
Nguồn điện sử dụng cho sinh hoạt, sản xuất của nhân dân trong toàn huyện được lấy
từ lưới điện Quốc gia 110kV qua 2 trạm biến áp trung gian Mộ Đức T2-110/35/22KV- E16.2, tổng công suất 25MVA, đặt tại Thạch Trụ và trạm 110/35/22KV- E16.4 Đức Phổ đặt tại thôn Diên Trường xã Phổ Khánh
Nguồn điện cung cấp cho đô thị đảm bảo, đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt của người dân 100% dân số được sử dụng lưới điện Quốc gia Hệ thống điện chiếu sáng đã được quan tâm và đầu tư trong những năm qua Tỷ lệ đường phố chính được chiếu sáng 95%, tỷ lệ ngõ hẻm được chiếu sáng đạt trên 70% Hệ thống đèn trang trí tại các giao lộ chính và các khu công viên trong đô thị đã và đang được triển khai, góp phần tạo cảnh quan chung cho đô thị
* Về công viên, cây xanh và không gian công cộng
Trên địa bàn khu vực nội thị có các khu cây xanh lớn như: Quảng trường 8 tháng 10, công viên 23/3, cây xanh ven biển, khu làng xóm Mảng cây xanh trục đường giao thông
đô thị, vườn hoa đang được quan tâm tập trung đầu tư cùng với việc nâng cấp và chỉnh trang đô thị Diện tích đất cây xanh mặt nước quy đổi (15% diện tích mặt nước) Tổng diện tích cây xanh toàn đô thị là 0,85 km2
* Về thông tin liên lạc
Hệ thống bưu chính viễn thông trên địa bàn được trang bị hiện đại, công nghệ cao và chất lượng tương đối đồng bộ, nối mạng hoàn chỉnh đến tất cả các đơn vị Mạng bưu chính hiện nay đã được phát triển rộng khắp trong toàn tỉnh đáp ứng các dịch vụ bưu chính cơ bản Các dịch vụ viễn thông và mạng thông tin di động áp dụng phương thức truyền dẫn bằng cáp quang và vi ba nhằm cung cấp dịch vụ tốt nhất cho khách hàng Tổng dung lượng tăng rất nhanh, tổng số thuê bao điện thoại di động, điện thoại cố định, internet, ADSL hiện nay đạt trên 32 thuê bao/100 dân
* Các công trình di tích lịch sử, văn hóa, di chỉ khảo cổ, các công trình được công nhận và xếp hạng
Đức Phổ là huyện có nhiều di tích lịch sử văn hóa được xếp hạng, Đặc biệt trên địa bàn còn có di chỉ khảo cổ của nền Văn hóa Sa Huỳnh rất nổi tiếng.Trên địa bàn huyện có
27 di tích lịch sử, văn hóa được Nhà nước công nhận và xếp hạng từ năm 1993 đến nay.Di tích cấp Quốc gia xếp hạng có 4 di tích; di tích cấp tỉnh xếp hạng có 23 di tích
+ Di tích huyện đường Đức Phổ
Di tích huyện đường Đức Phổ tại thị trấn Đức Phổ là nơi diễn ra cuộc biểu tình ngày 8/10/1930 của hơn 50.000 quần chúng nhân dân chiếm phá huyện đường, ủng hộ phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930-1931 dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Nghiêm - Bí thư Tỉnh ủy và các đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy Quảng Ngãi, huyện ủy, các chi
bộ Đảng, ban chỉ huy đấu tranh và Nông hội đỏ
Huyện đường Đức Phổ năm xưa nay được sử dụng làm nơi làm việc của UBND huyện Đức Phổ, nằm trung tâm huyện lỵ, thuộc thị trấn Đức Phổ Huyện đường Đức Phổ xưa có diện tích 5.576m2, dài 90m, rộng 62m, mặt quay về hướng Tây (đường quốc lộ 1),
Trang 24bao bọc xung quanh Huyện đường là một bờ tường gạch thấp, chính giữa là cổng ra vào, phía tay trái cổng có bốt gác nhỏ để kiểm tra, kiểm soát người ra vào, hai bên cổng là hai cây nhãn, giữa sân có một trụ cờ
Phù điêu cuộc biểu tình chiếm Nhà lưu niệm đồng chí Nguyễn Nghiêm huyện đường Đức Phổ năm 1930
Trụ sở huyện đường nhà xây bằng gạch theo kiểu nhà xưa có 3 gian 2 chái với diện tích 60m2, dài 10m, rộng 6m, có bốn cửa ra vào, phía trước hai cửa hai hồi, hai bên hai cửa; 4 mái lợp ngói âm dương Phía bên sân phải huyện đường có một miếu nhỏ gọi là miếu âm hồn để các quan thắp hương cúng lễ Bên trái sân có một căn nhà 3 gian làm trại giam tù nhân và trại lính để bảo vệ huyện đường, quản lý tù nhân Nhà của vợ chồng tri huyện cũng được xây dựng làm 3 gian, lợp ngói âm dương nằm phía bên trái sân, phía sau là nhà bếp và giếng nước Đến khoảng năm 1960, huyện đường Đức Phổ được sử dụng làm trung tâm trụ sở chính của huyện và được xây dựng lại hoàn toàn trên nền nhà cũ với ngôi nhà lớn 7 gian, dài 30m, rộng 16m, nhà gỗ lợp ngói, kiến trúc 1 tầng Xung quanh trụ sở được xây dựng 9 ngôi nhà cấp 4 làm nhà làm việc cho các phòng ban Năm 1985 ngôi nhà trụ sở chính của huyện được nâng lên thành nhà 2 tầng Cùng đó, một bức phù điêu cờ đỏ búa liềm phía trước mặt tiền ngôi nhà được xây dựng Bức phù điêu cao 10m, chân đế vuông, tái hiện lại hình ảnh cuộc biểu tình đánh chiếm huyện lỵ năm 1930 của nhân dân Đức Phổ, dưới chân là tấm bia đá tóm tắt nội dung lịch sử cuộc đấu tranh ngày 8/10/1930 tại di tích huyện đường Đức Phổ Di tích huyện đường Đức Phổ đã được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa Quốc gia
+Di tích mộ và nhà thờ Huỳnh Công Thiệu
Di tích mộ và nhà thờ Huỳnh Công Thiệu là di tích lịch sử lưu niệm danh nhân, nhân dân địa phương thường gọi là Lăng và đền thờ Đề lãnh Huỳnh Quới Công tiền hiền Đây là nơi thờ Đề lãnh Võ Công Hầu - vị võ quan có công lớn trong việc mở mang vùng đất phía Nam Quảng Ngãi
Di tích Mộ và nhà thờ Huỳnh Công Thiệu bao gồm 3 địa điểm Mộ Huỳnh Công Thiệu tọa lạc tại thôn An Thường, xã Phổ Hòa huyện Đức Phổ Nhà thờ Huỳnh Công
Trang 25Thiệu gồm có 2 nhà thờ: nhà thờ Phổ Ninh tại thôn An Trường, xã Phổ Ninh và nhà thờ Phổ Minh thuộc thôn Tân Tự, xã Phổ Minh, huyện Đức Phổ
Nằm dưới tán cây trâm cổ thụ, mộ Huỳnh Công Thiệu tọa lạc tại xứ Gò Cày, thôn
An Thường, xã Phổ Hòa, huyện Đức Phổ Mộ được xây dựng vào cuối thế kỷ XVIII
Nhà thờ Huỳnh Công Thiệu tại thôn An Trường, xã Phổ Ninh được xây dựng vào cuối thế kỷ XVIII Niên hiệu dựng bia năm là 1876 Hoàng Triều Tự Đức thứ 28 và công đức mở đất lập các làng xã xứ Lộ Bôi xưa của Huỳnh Công Thiệu Năm 1995, trên nền đất
củ, con cháu họ Huỳnh xây dựng lại nhà thờ mô phỏng theo lối kiến trúc nhà thờ trước đây
Năm 1907, khi ấp Tân Tự tách ra khỏi xã Phổ Ninh, con cháu họ Huỳnh cùng đóng góp xây dựng nhà thờ Huỳnh Công Thiệu ở thôn Tân Tự, xã Phổ Minh, huyện Đức Phổ,
do chiến tranh, nhà thờ và các đồ thờ tự bị cháy được xây dựng lại trên nền đất cũ nhưng quy mô nhỏ hơn Đến năm 1994, con cháu họ Huỳnh cùng nhân dân địa phương xây dựng lại nhà thờ khang trang hơn, cũng mô phỏng theo kiến trúc nhà thờ trước đây Hiện nay, nhà thờ còn lưu giữ các hiện vật đồ thờ trước đây gồm: 2 thẻ bài, sắc phong, 2 cây đao, 1 cây hèo chiêng, trống, ba bộ lư bằng đồng
Hàng năm, đến này 16 tháng 6 âm lịch, tại hai nhà thờ, con cháu họ Huỳnh và nhân dân địa phương đều tổ chức ngày giỗ Đức ông Huỳnh Công Thiệu
Mộ và Đền thờ Huỳnh Công Thiệu được Bộ Văn hóa Thể thao và du lịch xếp hạng
di tích Quốc gia năm 2012
Đền thờ Tiền Hiền Huỳnh Công Thiệu
+ Di tích Trường Lũy
Theo các bộ chính sử của Triều Nguyễn do Quốc sử quán biên soạn và những trang
sử liệu khác, vào khoảng giữa thế kỷ XVI, một vài đồn (bảo) ở miền Tây Quảng Ngãi được Trấn quận công Bùi Tá Hán, vị quan trấn thủ vùng đất Quảng Nam xưa (bao gồm phần đất Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên hiện nay) cho xây dựng
để nhằm kiểm soát giao thương và bình định vùng miền núi phía Tây của tỉnh Quảng Ngãi Đến năm 1750, khi được cử làm Tuần vũ Quảng Ngãi, Đại Am Nguyễn Cư Trinh - người đã để lại cho vùng đất núi Ấn - sông Trà 10 bài thơ vịnh cảnh đẹp Quảng Ngãi, mà
Trang 26người đời sau thêm vào 2 bài nữa đề thành “Cẩm thành thập nhị cảnh” - cũng tiếp tục cho xây dựng một số đồn (bảo) khác trên vùng đất này
Tuy nhiên, để có một Trường Lũy dài hàng trăm km, nối kết hàng trăm đồn (bảo) lại với nhau, hình thành một hệ thống đồn - luỹ liên hoàn, chạy từ huyện Hà Đông tỉnh Quảng Nam đến phía Bắc phủ Bồng Sơn tỉnh Bình Định, phải nhờ đến công sức của hàng ngàn binh lính và nhân dân các dân tộc trong tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, đặc biệt
là nhân dân các dân tộc Kinh, Hrê ở Quảng Ngãi cùng nhau xây dựng vào năm 1819 dưới
sự chỉ huy của Tả quân Lê Văn Duyệt, người gốc làng Bồ Đề, nay thuộc xã Đức Nhuận, huyện Mộ Đức Theo các bộ chính sử của triều Nguyễn, như Đại Nam thực lục, Quốc triều chính biên toát yếu, Đại Nam nhất thống chí, Đồng Khánh địa dư chí…,và cả những trang ghi chép của Nguyễn Tấn trong Phủ Man tạp lục, của Nguyễn Bá Trác (cùng Nguyễn Đình Chi, Khiếu Hữu Kiếu) trong Quảng Ngãi tỉnh chí, thì Trường Lũy thuở ấy dài 117 dặm, 115 bảo, mỗi bảo có khoảng 10 lính canh gác, nhằm kiểm soát việc qua lại và giao thương giữa hai vùng
Di tích được Bộ Văn hóa, Thể thao và du lịch xếp hạng cấp Quốc gia năm 2011
+ Di tích di chỉ khảo cổ Văn hóa Sa Huỳnh
Trang 27các cuộc khai quật tại Phú Khương, Thạnh Đức nhằm tìm kiếm hiện vật trong các kho chum
Tài liệu công bố của bà Labarre (hiện còn lưu giữ ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam), về sau được Parmentier giới thiệu trong một bài báo ngắn vào năm 1924 Kiến trúc sư kiêm nhà khảo cổ học này cũng là người đưa ra khái niệm “D pôts de jarres à Sahuynh” (Kho chum Sa Huỳnh) để chỉ các mộ chum bằng gốm được chôn với số lượng và mật độ khá cao trong cồn cát Phú Khương
Năm 1934, nhà khảo cổ học nữ M Colani được Trường Viễn Đông Bác Cổ phái tới
Sa Huỳnh, khai quật ở Phú Khương và Thạnh Đức Tại địa điểm Phú Khương, bà tìm thấy
187 mộ chum M Colani cũng chính là người đầu tiên trong giới khảo cổ học sử dụng thuật ngữ “La Culture Sa Huynh” (văn hoá Sa Huỳnh) Năm 1939, cũng theo sự uỷ quyền của Trường Viễn đông bác cổ, O.Jans , một nhà khảo cổ học người Thụy Điển, lại khai quật ở Sa Huỳnh và phát hiện 84 mộ chum ở Phú Khương Vào thời điểm kết thúc cuộc khai quật, vì những lý do nào đó báo cáo khoa học đã không được công bố Mãi về sau, hoạt động của O.Jansé ở Sa Huỳnh, mới được tiết lộ qua một bài thông báo ngắn
Có thể nói Phú Khương là một khu nghĩa địa của người Sa Huỳnh với những quan tài chum gốm chôn cạnh nhau với mật độ khá dày trên cồn cát.Các quan tài gốm có hai dạng hình trứng và hình trụ, chiều cao gần 1 m t
Di vật Phú Khương có các loại bằng đồng thanh (chuông, lục lạc, tượng, chậu…), bằng sắt (chủ yếu là công cụ sản xuất và vũ khí) và đồ trang sức Sưu tập đồ trang sức tìm thấy tại Phú Khương vô cùng độc đáo với các hạt chuỗi mã não và thủy tinh nhiều hình dạng (hình tròn, hình trụ, hình thoi, hình đa diện), nhiều màu sắc (xanh, đỏ, tím, hồng); khuyên tai hình vành khăn dẹt, hình vuông dẹt, khuyên tai bốn mấu nhọn và ba mấu nhọn
Di tích Thạnh Đức
Thạnh Đức là di tích nằm trên một cồn cát cổ thuộc địa bàn thôn Thạnh Đức, xã Phổ Thạnh, huyện Đức Phổ, phía Đông giáp biển, phía Tây giáp đầm nước mặn Tân Diêm.Đây
Trang 28cũng là khu nghĩa địa, mộ chum khá lớn của cư dân văn hoá Sa Huỳnh Trong chuyến khai quật năm 1923 bà La Barre đã tìm thấy khoảng 120 mộ chum Đến năm 1934, nhà nữ khảo cổ học M.Colani khai quật được 55 chum trong cuộc khai quật Phú Khương - Thạnh Đức.Các hiện vật tìm thấy ở Thạnh Đức là quan tài chum gốm hình trụ kích thước lớn, cao gần 1m, trên có nắp đậy hình nón cụt Các chum chôn đứng theo từng cụm, bên trong chum chứa nhiều đồ tuỳ táng, bao gồm lục lạc, vòng tay, dao, rựa, cuốc, thuổng,…(đồng hoặc sắt) Hạt chuỗi ma não, đá ngọc nephrit, đồ gốm (nồi, bát hồng…) hoa văn đẹp, hình dáng thanh thoát, trang trí tô chì.Niên đại tương đối của di tích khu mộ chum Thạnh Đức tương đương với Phú Khương, vào khoảng trước công nguyên một vài thế kỷ
Nhân đề cập đến các di chỉ khảo cổ học ở Phú Khương và Thạnh Đức cũng cần nhắc đến tên tuổi và ghi nhớ thành tựu của nhiều nhà khảo cổ học phương Tây, đặc biệt là người Pháp, đã tổ chức, tham gia các đợt khai quật khảo cổ, các chuyến khảo sát, nghiên cứu thực địa tại các di tích nói trên, tiêu biểu là M Vinet, H Parmentier và M Colani
Di tích Long Thạnh
Tên gọi di tích này bắt nguồn từ địa danh Long Thạnh, một thôn của xã Phổ Thạnh, huyện Đức Phổ, phía Đông giáp biển, phía Tây giáp đầm nước ngọt An Khê, phía Bắc giáp đồi cát Phú Khương; tại đây vào các năm 1977-1978 Viện Bảo tàng lịch sử Việt Nam
và Viện khảo cổ học Việt Nam đã tiến hành liên tục hai cuộc khai quật khảo cổ học và phát hiện một khu di tích mới gọi theo tên địa phương là Gò Ma Vương hoặc Gò Diều Gà Đây vừa là di chỉ cư trú, vừa là khu mộ táng Sau đó Viện khảo cổ và Viện bảo tàng lịch
sử, còn có nhiều đợt khảo sát của các nhà khảo cổ học trong nước và nước ngoài Cuộc khai quật năm 1978 tìm thấy di chỉ cư trú có tầng văn hoá dày trên 2m và khu mộ táng có
16 quan tài chum gốm chôn đứng, phân thành từng cụm kề nhau
Chum gốm Long Thạnh có hai loại (hình trứng và hình cầu), hầu hết có nắp đậy Bên trong chum có chứa rất nhiều đồ tùy táng bằng đá, xương và gốm Bộ sưu tập di vật của cư dân cổ Long Thạnh khá phong phú với công cụ sản xuất bằng đá như cuốc đá dạng “lưỡi mèo”, rìu vai, rìu tứ giác, rìu tam giác, bàn mài, dao, đục Bộ sưu tập đồ trang sức bằng đá
đa dạng gồm những khuyên tai hình vành khăn, khuyên tai có mấu hình đuôi cá, khuyên tai hình tròn dẹt có khe hở, hạt chuỗi hình đốt trúc…Hầu hết đồ trang sức được chế tác và
Trang 29tạo hình công phu Lọ gốm tìm thấy ở Long Thạnh cổ cao, miệng loe, eo cổ và bụng tròn,
có chân đế hoặc không, tạo dáng cân đối, các đường cong lượn mềm mại, toàn thân bình phủ kín các kiểu hình hoa văn sóng biển
Đồ gốm Sa Huỳnh khai quật tại di tích
Long Thạnh
Chum gốm Long Thạnh
Di tích Long Thạnh đại diện cho giai đoạn tiền Sa Huỳnh, thuộc thời đại đồ đông thanh mà trước đây giới khảo cổ học thường gọi là đồng thau, niên đại có thể tham khảo qua C14 là 1420 40 năm TCN và 925 60 năm TCN
Nếu như Phú Khương, Thạnh Đức là những di chỉ khiến giới khoa học nhắc đến công lao của nhiều nhà khảo cổ học phương Tây trong giai đoạn đầu của công cuộc phát hiện và nghiên cứu về văn hoá Sa Huỳnh, thì di chỉ Long Thạnh lại cho thấy các nhà khảo
cổ học Việt Nam đã kế thừa xuất sắc thành tựu của các đồng nghiệp tiền bối, đồng thời có cống hiến lớn góp phần khẳng định nguồn gốc nội sinh của văn hoá Sa Huỳnh
Di tích Văn hóa Sa Huỳnh ở phía Nam huyện Đức Phổ đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử Văn hóa Quốc gia ngày 5/11/1997
Bảng 7 Danh mục di tích trên địa bàn huyện Đức Phổ
Năm công nhận
I Cấp Quốc gia
1 Cuộc biểu tình chiếm Huyện
Trang 30TT Tên di tích Địa điểm
Năm công nhận
2
Nhà thờ và mộ Huỳnh Công
Thiệu
Mộ: An Thường, Phổ Hòa, Đức Phổ
Nhà thờ: Phổ Ninh & Phổ Minh, Đức Phổ
Thôn Phú Long, xã Phổ Khánh
1993
II Cấp tỉnh
1 Chiến thắng Quai Mỏ Thôn Nga Mân, xã Phổ Cường 1993
2 Chiến thắng Đèo Mỹ Trang Thôn Mỹ Trang, xã Phổ Cường 2002
3 Vụ thảm sát Bàn Thạch Thôn Bàn Thạch, xã Phổ Cường 1993
4 Vụ thảm sát Thanh Sơn Thôn Thanh Sơn, xã Phổ Cường 1993
5 Vụ thảm sát Hội An Thôn Hội An, xã Phổ An 1993
12 Chiến thắng Cầu Giác Thôn Vùng 4, xã Phổ Thuận 1993
13
Di tích lưu niệm Anh hùng liệt
sỹ BS Đặng Thùy Trâm, gồm:
1 Địa điểm khe Nước Lạnh
2 Địa điểm trạm tiền phẩu Đức
Trang 31TT Tên di tích Địa điểm
Năm công nhận
17 Nhà thờ và mộ Phan Long Bằng Thôn Thanh Sơn, xã Phổ Cường 2012
19 Liên trì dục nguyệt (danh thắng) Thôn Mỹ Thuận, xã Phổ Thuận 1993
20 Nhà lưu niệm Anh hùng liệt sỹ
Phạm Xuân Hòa Thôn Thủy Thạch, Phổ Cường 2013
21 Mộ chí sĩ yêu nước Nguyễn
22 Địa điểm biểu tình tại Trường
7 Quốc phòng, an ninh
Tình hình an ninh chính trị trên địa bàn luôn được giữ vững, ổn định Tệ nạn xã hội
cơ bản được kiềm chế Trật tự an toàn xã hội đảm bảo và có bước tiến bộ Các lực lượng
vũ trang đã chú trọng tổ chức triển khai các chủ trường của Đảng và Nhà nước về quốc phòng an ninh, "phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc", chủ động trong việc bảo
vệ, phòng ngừa, phòng chống có hiệu quả mọi dấu hiệu phá hoại, tuyên truyền chiến tranh tâm lý “diễn biến hòa bình” Tiếp tục thực hiện Nghị quyết 08/BCT về Chiến lược bảo vệ
tổ quốc trong giai đoạn mới Đến cuối năm 2018, trên địa bàn có 100% khu phố đạt chuẩn
an toàn về an ninh trật tự; địa phương được đánh giá là đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm
vụ
Về trật tự an toàn xã hội, tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số
09/1998/NQ-CP ngày 31/7/1998 của Chính phủ Nhìn chung, tội phạm hình sự, trọng án, vi phạm hành chính, tệ nạn xã hội hàng năm đều giảm, tai nạn giao thông được kiềm chế
Thực hiện tốt công tác quản lý, động viên thanh niên lên đường nhập ngũ Thực hiện tốt công tác quản lý, động viên nhân dân dự bị, đạt 100% chỉ tiêu
Trang 32Thực hiện công tác tuyển chọn, xây dựng lực lượng dân quân một cách chặt chẽ, công khai, dân chủ, đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng
Xây dựng, triển khai kế hoạch hiệp đồng phòng chống bão lũ, tìm kiếm cứu nạn theo đúng kế hoạch trên giao
Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động ngư dân bám biển, yên tâm đánh bắt trên vùng biển chủ quyền của Tổ quốc và tham gia bảo vệ chủ quyền biển đảo
Thực hiện công tác tuyển chọn, xây dựng lực lượng dân quân một cách chặt chẽ, công khai, dân chủ, đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng
8 Về tổ chức bộ máy, biên chế, cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị tại địa bàn
Trong những năm qua thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết của Trung ương về công tác cán bộ và xuất phát từ tình hình thực tiễn tổ chức bộ máy và cán bộ của Huyện, Ban Thường vụ Huyện uỷ đã quan tâm chỉ đạo nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị từ cấp huyện đến cơ sở, nhiều chủ trương, quan điểm lớn của Trung ương, của tỉnh đã từng bước được cụ thể hoá, chuẩn hoá, thể chế hoá, mạnh dạn đột phá vào một
số khâu trọng yếu của công tác cán bộ, do đó đã đem lại kết quả tích cực Đội ngũ cán bộ
từ huyện đến cơ sở không ngừng được tăng cường cả về số lượng và chất lượng
Việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức từ Huyện đến cơ sở, đặc biệt cán bộ lãnh đạo, quản lý đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới là vấn đề vừa cơ bản, chiến lược vừa cấp bách; đây là một quá trình với nhiều biện pháp thích hợp, đòi hỏi phải tiến hành thường xuyên, liên tục Nhằm từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chuẩn
bị nhân sự cho các nhiệm kỳ đại hội, trong những năm qua thị xã luôn coi trọng công tác quy hoạch cán bộ đặc biệt là chất lượng nguồn quy hoạch, cơ cấu cán bộ nữ, cán bộ trẻ Công tác tuyển dụng đảm bảo về tiêu chuẩn, quy trình tuyển chọn đúng nguyên tắc, khách quan, dân chủ nên chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức đã được nâng lên rõ rệt cả
về trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị và năng lực thực tiễn
Công tác đào tạo, bồi dưỡng được quan tâm đúng mức, số lượng cán bộ, công chức
từ Huyện đến cơ sở được cử đi đào tạo, bồi dưỡng ngày một tăng, trình độ được nâng cao, phần lớn đội ngũ được bố trí sử dụng phù hợp với năng lực sở trường của từng chức danh, đáp ứng được công việc chuyên môn Công tác luân chuyển cán bộ từ Huyện xuống cơ sở luôn được quan tâm chú trọng, lựa chọn cán bộ có năng lực, trình độ chuyên môn đại học
và trình độ lý luận chính trị phù hợp về công tác ở cơ sở
Tổ chức tốt công tác tiếp công dân, kịp thời giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân và những tranh chấp trong nội bộ nhân dân, không để xảy ra điểm nóng Về trình độ chuyên môn, kỹ năng quản lý đô thị của cán bộ địa phương đã từng bước được nâng cao; cán bộ quản lý đô thị đều có trình độ về chuyên ngành xây dựng, kiến trúc, giao thông Hiện trạng các cơ quan Đảng, bộ máy Hành chính nhà nước, hệ thống tổ chức, cơ cấu và số lượng đội ngũ cán bộ của Huyện Đức Phổ đang hoạt động gồm:
a) Hiện trạng các cơ quan Đảng, bộ máy hành chính nhà nước, hệ thống tổ chức, cơ cấu và số lượng đội ngũ cán bộ của huyện Đức Phổ đang hoạt động gồm:
Trang 33- Cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên làm việc trong cơ quan, đảng, Đoàn thể, UBND huyện Đức Phổ là 136 người Trong đó khối cơ quan Đảng 35 người chiếm 26%; Mặt trận Tổ quốc và các Đoàn thể 24 người chiếm 18%; Khối các cơ quan, đơn vị hành chính huyện 77 người chiếm 56%
- Viên chức, nhân viên làm việc trong các đơn vị sự nghiệp của huyện Đức Phổ bao gồm: 1659 người (trong đó 1250 viên chức và 409 hợp đồng lao động), 04 hợp đồng lao động theo Nghị định 68/2000/NĐ-CP
+ Số cán bộ nam: 23/35 người; chiếm 66%
c) Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể:
- Ủy ban MTTQ VN: 5 người
- Các đoàn thể chính trị - xã hội huyện: Hội Nông dân, Hội Liên hiệp phụ nữ, Huyện đoàn, Hội cựu chiến binh, Liên đoàn lao động: 19 người
+ Trình độ chuyên môn: Trên đại học: 03; Đại học 21; Cao đẳng: 0; Trung cấp: 0 + Số cán bộ nữ: 13/24 người; chiếm 54%
+ Số cán bộ nam: 11/24 người; chiếm 46%
d) Số lượng, chất lượng đại biểu HĐND:
- Tổng số đại biểu được bầu đầu nhiệm kỳ: 36 đại biểu
- Số đại biểu xin thôi nhiệm vụ trong nhiệm kỳ: 03 đại biểu (do chuyển công tác ra khỏi địa phương)
- Tổng số đại biểu hiện nay: 33 đại biểu
- Chất lượng:
+ Trình độ phổ thông:
Tốt nghiệp 12/12: 36/36 đại biểu, chiếm tỷ lệ 100%
+ Trình độ chuyên môn:
Tốt nghiệp Dưới Đại học: 02/36 đại biểu, chiếm tỷ lệ 5,56%
Tốt nghiệp Đại học, Cao đẳng: 31/36 đại biểu, chiếm tỷ lệ 86,11%
+ Trình độ lý luận chính trị:
Tốt nghiệp cao cấp, cử nhân: 14/36 đại biểu, chiếm tỷ lệ 38,89%
Tốt nghiệp trung cấp: 19/36đại biểu, chiếm tỷ lệ 52,78%
Tốt nghiệp sơ cấp: 0/36 đại biểu, chiếm tỷ lệ 0%
Trang 34+ Về độ tuổi:
Dưới 30 tuổi: 0/36 đại biểu, chiếm tỷ lệ 0%
Từ 30 đến 50 tuổi: 26/36 đại biểu, chiếm tỷ lệ 72,22%
Trên 50 tuổi: 10/36 đại biểu, chiếm tỷ lệ 27,78%
+ Về giới tính:
Nữ: 09/36 đại biểu, chiếm tỷ lệ 25%
Nam: 27/36 đại biểu, chiếm tỷ lệ 75%
đ) Số lượng, chất lượng thành viên Ủy ban nhân dân:
- Số lượng: Thành viên Ủy ban nhân dân huyện Đức Phổ, nhiệm kỳ 2016 - 2021 có
16 thành viên, gồm: 01 Chủ tịch, 02 Phó Chủ tịch và 13 Ủy viên
- Chất lượng:
+ Trình độ chuyên môn:
Tốt nghiệp Đại Học, Cao đẳng: 16/16 thành viên, chiếm tỷ lệ 100%
+ Trình độ lý luận chính trị:
Tốt nghiệp cao cấp, cử nhân: 13/16 thành viên, chiếm tỷ lệ 81,25%
Tốt nghiệp trung cấp: 01/16 thành viên, chiếm tỷ lệ 6,25%
+ Trình độ quản lý nhà nước:
Chuyên viên chính: 07/16 thành viên, chiếm tỷ lệ: 43,75%
Chuyên viên: 06/16 thành viên, chiếm tỷ lệ 37,5%
+ Về độ tuổi:
Từ 30 đến 50 tuổi: 12/16 thành viên, chiếm tỷ lệ 75%
Trên 50 tuổi: 04/16 thành viên, chiếm tỷ lệ 2,5%
+ Về giới tính:
Nữ: 01/16 thành viên, chiếm tỷ lệ 6,25%
Nam: 15/16 thành viên, chiếm tỷ lệ 93,75%
e) Số lượng, chất lượng cán bộ, công chức, viên chức:
- Các cơ quan chuyên môn:
+ Số lượng: Hiện nay, đội ngũ cán bộ, công chức, nhân viên tại các cơ quan chuyên môn bao gồm 70 người
+ Chất lượng: Ngạch công chức: Chuyên viên chính và tương đương: 03/70 người, chiếm tỷ lệ: 4,29%; Chuyên viên và tương đương: 56/70 người, chiếm tỷ lệ 80%; Cán sự
và tương đương: 10/70 người, chiếm tỷ lệ 14,28%; Nhân viên: 01/70 người, chiếm tỷ lệ 1,43%
+ Trình độ chuyên môn: Trên Đại học: 10/70 người, chiếm tỷ lệ 14,28%; Đại học: 55/70 người, chiếm tỷ lệ 78,57%; Cao đẳng: 03/70 người, chiếm tỷ lệ 4,29%; Trung cấp: 01/70 người, chiếm tỷ lệ 1,43%; Còn lại: 01/70 người, chiếm tỷ lệ 1,43%
Trang 35+ Trình độ lý luận chính trị: Cao cấp: 21/70 người, chiếm tỷ lệ 30%; Trung cấp: 15/70 người, chiếm tỷ lệ 21,43%
+ Về độ tuổi: Dưới 30 tuổi: 05/70 người, chiếm tỷ lệ 7,14%; Từ 30-50 tuổi: 51/70 người, chiếm tỷ lệ 72,86%; Trên 50 tuổi: 14/70 người: 20%;
+ Về giới tính: Nam: 45/70 người, chiếm tỷ lệ 64,29%; Nữ: 25/70 người, chiếm tỷ lệ 35,71%;
- Các đơn vị sự nghiệp:
+ Số lượng cán bộ, viên chức, nhân viên: 1250 người
+ Chất lượng: Chức danh nghề nghiệp: Chuyên viên và tương đương: 1023 người, chiếm tỷ lệ 81,84%; Cán sự và tương đương: 227 người, chiếm tỷ lệ 18,16%; Nhân viên: người, chiếm tỷ lệ %
+ Trình độ chuyên môn: Đại học: 599 người, chiếm tỷ lệ 47,92 %; Cao đẳng: 508 người, chiếm tỷ lệ 40,64%; Trung cấp: 143 người, chiếm tỷ lệ 11,44%; Còn lại: 0 người, chiếm tỷ lệ 0 %
+ Trình độ lý luận chính trị: Cao cấp: 09 người, chiếm tỷ lệ 0,72%; Trung cấp: 111 người, chiếm tỷ lệ 8,88%
+ Về độ tuổi: Dưới 30 tuổi: 205 người, chiếm tỷ lệ 16,4%; Từ 30-50 tuổi: 803 người, chiếm tỷ lệ 64,24%; Trên 50 tuổi: 262 người: 19,36%
+ Về giới tính: Nam: 312 người, chiếm tỷ lệ 24,96 %; Nữ: 938 người, chiếm tỷ lệ 75,04 %
g) Số lượng, chất lượng bộ máy chính quyền cấp xã:
Có 15 đơn vị hành chính: 01 thị trấn, 14 xã, gồm 85 thôn, ấp, khu phố; 06 tổ dân phố
Về cơ cấu tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ được thực hiện theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán
bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp
xã
- Tổng số cán bộ, công chức xã, thị trấn là: 302 người
- Tổng số ủy viên Ủy ban nhân dân xã, thị trấn là: 23 ủy viên
- Tổng số Đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn là: 411 đại biểu
+ Về tổ chức bộ máy, biên chế, cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị của thị trấn Đức Phổ
Tổng số cán bộ, công chức, làm việc trong cơ quan, đảng, Đoàn thể, xã là: 34 người, trong đó cán bộ là: 10 người chiếm 29,41%; công chức là: 8 người chiếm 23,53%; những người hoạt động không chuyên trách là:16 người
+ Về tổ chức bộ máy, biên chế, cán bộ, trong hệ thống chính trị của xã Phổ Hòa Tổng số cán bộ, công chức, làm việc trong cơ quan, đảng, Đoàn thể, xã là: 37 người, trong đó cán bộ là: 10 người chiếm 27,78%; công chức là: 09 người chiếm 25%; những người hoạt động không chuyên trách là: 17 người
+ Về tổ chức bộ máy, biên chế, cán bộ, trong hệ thống chính trị của xã Phổ Minh
Trang 36Tổng số cán bộ, công chức, làm việc trong cơ quan, đảng, Đoàn thể, xã là: 40 người, trong đó cán bộ là: 10 người chiếm 27,78%; công chức là: 09 người chiếm 25%; những người hoạt động không chuyên trách là: 17 người
+ Về tổ chức bộ máy, biên chế, cán bộ, trong hệ thống chính trị của xã Phổ Ninh Tổng số cán bộ, công chức, làm việc trong cơ quan, đảng, Đoàn thể, xã là: 40 người, trong đó cán bộ là: 10 người chiếm 25%; công chức là: 10 người chiếm 25%; những người hoạt động không chuyên trách là: 20 người
+ Về tổ chức bộ máy, biên chế, cán bộ, trong hệ thống chính trị của xã Phổ Văn Tổng số cán bộ, công chức, làm việc trong cơ quan, đảng, Đoàn thể, xã là: 38 người, trong đó cán bộ là: 10 người chiếm 26,32%; công chức là: 09 người chiếm 23,68%; những người hoạt động không chuyên trách là: 19 người
+ Về tổ chức bộ máy, biên chế, cán bộ, trong hệ thống chính trị của xã Phổ Thạnh Tổng số cán bộ, công chức, làm việc trong cơ quan, đảng, Đoàn thể, xã là: 47 người, trong đó cán bộ là: 11 người chiếm 23,4%; công chức là: 14 người chiếm 29,78%; những người hoạt động không chuyên trách là: 22 người
+ Về tổ chức bộ máy, biên chế, cán bộ, trong hệ thống chính trị của xã Phổ Quang Tổng số cán bộ, công chức, làm việc trong cơ quan, đảng, Đoàn thể, xã là: 59 người, trong đó cán bộ là: 11 người chiếm 23,4%; công chức là: 12 người chiếm 25,5%; những người hoạt động không chuyên trách là: 19 người
+ Về tổ chức bộ máy, biên chế, cán bộ, trong hệ thống chính trị của xã Phổ Vinh Tổng số cán bộ, công chức, làm việc trong cơ quan, đảng, Đoàn thể, xã là: 35 người, trong đó cán bộ là: 10 người chiếm 28,57%; công chức là: 08 người chiếm 22,86%; những người hoạt động không chuyên trách là: 17 người
BẢNG TỔNG HỢP CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
ST
T
Tên xã, thị trấn
UBND tỉnh giao
Cán bộ chuyên trách Công chức Theo
quy định
Hiện có Theo quy
Trang 379 Tiêu chuẩn thành lập thị xã và các phường thuộc thị xã Đức Phổ
9.1 Đánh giá các tiêu chuẩn thành lập thị xã Đức Phổ thuộc tỉnh Quảng Ngãi
Căn cứ Nghị quyết số 1211/2016/UBTVQH13 ngày 25/5/2016 của Uỷ ban thường
vụ Quốc hội về tiêu chuẩn của đơn vị hành chính và phân loại đơn vị hành chính, huyện Đức Phổ đạt được 5/5 tiêu chuẩn thành lập thị xã thuộc tỉnh Cụ thể như sau:
9.1.1 Quy mô dân số
Theo số liệu thống kê năm 2018, dân số thường trú trên địa bàn huyện là 150.927 người gồm khu vực nội thị 78.192 người và khu vực ngoại thị là 72.735 người
DÂN SỐ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỨC PHỔ
STT Chỉ tiêu Diện tích
(km 2 )
Dân số trung bình (Người) Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 Toàn huyện 372,76 150.384 149.992 150.927
I Khu vực nội thị dự kiến 120,74 78.046 77.524 78.192
1 Thị trấn Đức Phổ 6,09 8.528 8.596 8.712
3 Xã Phổ Ninh 22,25 9.081 9.307 9.395
Trang 38Cụ thể đối với dân số quy đổi huyện Đức Phổ: 9.458 người
- Dân số các doanh nghiệp hộ sản xuất 1.542 người
- Dân số tạm trú dưới 6 tháng được quy đổi về dân số đô thị theo công thức như sau:
Trong đó: No : Số dân tạm trú quy đổi về dân số đô thị (người); Nt: Tổng số lượt khách đến tạm trú ở khu vực nội thị và ngoại thị dưới 6 tháng (người); m: Số ngày tạm trú trung bình của một khách (ngày)
No =
365
2Nt m
(3)
Trang 39Thống kê dân số tạm trú trên địa bàn huyện Đức Phổ tính đến 31/12/2018
Dân số quy đổi
1 SV các trường ĐH CĐ THCN Người 3,5 năm
2 HS SV các trường đào tạo nghề Người 35 năm
3 Học viên các cơ sở đào tạo khác Người 3,5 năm
4 Lực lượng quân đội không đăng
ký thường trú tại gia đình Người Lâu dài
5 Lực lượng công an không đăng ký
thường trú tại gia đình Người Lâu dài
6 Các doanh nghiệp hộ sản xuất Người
6.1 Kinh doanh các KCN tạm trú Người
6.2 Lao động tạm trú các xã ngoại thị Người
6.3 Lao động tạm trú khu vực nội thị Người
7.1 Khách du lịch tạm trú Lượt 3
7.2 Khách tham quan hội nghị hội thảo Lượt 2
8 Bệnh nhân và người chăm sóc tại
các cơ sở y tế trên địa bàn Lượt 8
Tổng cộng
Dân số của huyện Đức Phổ đến 31/12/2018 đạt 150.927 người
Đánh giá đạt so với mức quy định(theo quy định ≥ 100.000 người) Đạt
9.1.2 Diện tích tự nhiên
Trang 40Diện tích tự nhiên của đô thị Đức Phổ là 372,76 km2
Đánh giá đạt so với mức quy định(theo quy định ≥200 km 2
) Đạt
9.1.3 Số đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc:
- Hiện tại, huyện Đức Phổ có 15 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc
- Tỷ lệ số phường trên tổng số đơn vị hành chính cùng cấp trực thuộc
Sau khi thành lập 08 phường, thì đô thị Đức Phổ có 08 phường và 07 xã, đạt 53,3%
Đánh giá đạt so với quy định 50% (theo quy định ≥ 50 %)
9.1.4 Phân loại đô thị
Huyện Đức Phổ đã được công nhận là đô thị loại IV (Tại quyết định số 40/QĐ-BXD ngày 17/01/2019 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về việc công nhận khu vực dự kiến thành lập thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi đạt tiêu chuẩn đô thị loại IV)
Đánh giá đạt so với quy định đã được cấp có thẩm quyền công nhận là đô thị loại
IV
Bảng tiêu chuẩn của đơn vị hành chính và phân loại đơn vị hành chính
1211/2016/UBTVQH13 Hiện trạng
Đánh giá
5 Đã được công nhận là đô thị
loại III hoặc loại IV
Loại III hoặc
9.1.5 Các chỉ tiêu kinh tế - xã hội:
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2016 - 2018 là 13,60%, đạt so với quy
định đạt mức bình quân của tỉnh Quảng Ngãi Đánh giá đạt so với quy định
- Cân đối thu chi ngân sách: Cân đối dư Đánh giá đạt so với quy định:
Thu ngân sách trên địa bàn năm 2018 là 174,597 tỷ đồng, vượt so với chỉ tiêu
quy định từ 84 đến 120 tỷ đồng Đánh giá đạt so với quy định
Chi ngân sách địa phương năm 2018 là 668,125 tỷ đồng; trong đó ngân sách chi
đầu tư phát triển là 145,911 tỷ đồng