1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN cứu tỷ lệ HIỆN mắc, các PHƯƠNG PHÁP CHẨN đoán và HIỆU QUẢ CHẨN đoán HÌNH ẢNH TRONG BỆNH lý SINH MEN bất TOÀN tại VIỆT NAM

51 195 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 3,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bất thường sự phát triển men răng được biểu hiện dưới các dạng khácnhau như: thiểu sản men, men lỗ chỗ có ranh giới rõ và men lỗ chỗ lan tỏa.Thuật ngữ MIH được giới thiệu vào năm 2001 để

Trang 1

HOÀNG BẢO DUY

NGHIÊN CỨU TỶ LỆ HIỆN MẮC,

CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN

VÀ HIỆU QUẢ CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH TRONG BỆNH LÝ SINH MEN BẤT TOÀN

TẠI VIỆT NAM

ĐỀ CƯƠNG DỰ TUYỂN NGHIÊN CỨU SINH

HÀ NỘI – 2018

Trang 2

HOÀNG BẢO DUY

NGHIÊN CỨU TỶ LỆ HIỆN MẮC,

ĐỀ CƯƠNG DỰ TUYỂN NGHIÊN CỨU SINH

Người hướng dẫn khoa học:

1 PGS.TS Trịnh Thị Thái Hà

2 TS Lê Long Nghĩa

HÀ NỘI – 2018

Trang 3

DMFT Răng bị mục nát, mất tích, hoặc răng đủ

MIH

MỤC LỤC ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Trang 4

1.1.1 Định nghĩa 3

1.1.2 Đặc điểm lâm sàng và phân loại sinh men bất toàn 3

1.2 Quá trình hình thành, đặc điểm cấu trúc men răng và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành men răng 5

1.2.1 Cấu trúc bình thường của men răng 5

1.2.2 Quá trình hình thành men răng 8

1.2.3 Sự trưởng thành men răng 10

1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành men răng 11

1.3 Các phương pháp chẩn đoán bệnh lý sinh men răng bất toàn 12

1.3.1 Khám lâm sàng tại cộng đồng 12

1.3.2 Khám qua ảnh chuẩn hoá 13

1.4 Các nghiên cứu về sinh men bất toàn ở trên thế giới và tại Việt Nam.16 1.4.1 Các nghiên cứu trên thế giới: 16

1.4.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 19

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Đối tượng nghiên cứu 20

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 20

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 20

2.1.3 Tiêu chí chọn ảnh 20

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 21

2.3 Phương pháp nghiên cứu 21

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu mục tiêu 1 21

2.3.2 Thiết kế nghiên cứu mục tiêu 2 25

2.4 Xử lý số liệu 32

2.5 Các sai số và biện pháp khống chế sai số 32

2.6 Đạo đức nghiên cứu 32

Trang 5

DỰ KIẾN KẾT LUẬN & KHUYẾN NGHỊ 33 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

Bảng 1.1: Tuổi khoáng hóa, hoàn thành thân răng và mọc răng của các răng

vĩnh viễn 11Bảng 2.1 Các bước thực hiện nghiên cứu tổng quan hệ thống 21Bảng 2.2 Từ khóa được sử dụng trong tìm kiếm trên các cơ sở dữ liệu 22

Trang 7

Hình 1.1: Hình ảnh dải Hunter-Schreger 6

Hình 1.2: Hình ảnh đường Retzius 6

Hình 1.3: Hình ảnh trụ men trên tiêu bản cắt ngang 7

Hình 1.4: Hình ảnh bụi cây men 8

Hình 1.5: Hình ảnh lá men 8

Hình 1.6: Hình ảnh lá men dưới kính hiển vi điện tử 8

Hình 2.1: Mờ đục có ranh giới rõ 27

Hình 2.2: Mờ đục lan tỏa 28

Hình 2.3: Thiểu sản men 28

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀKhiếm khuyết sự phát triển men răng (sinh men bất toàn - SMBT) làcác bất thường tạo ra do tổn thương cơ quan tạo men trong quá trình tạo menrăng [1] Bất thường sự phát triển men răng được biểu hiện dưới các dạngkhác nhau như: thiểu sản men, men lỗ chỗ có ranh giới rõ và men lỗ chỗ lantỏa [1] Các bất thường này ảnh hưởng đến vấn đề thẩm mỹ, nhạy cảm răng,các bất thường khác về răng mặt cũng như làm tăng khả năng sâu răng [2].Ngày nay, tỷ lệ bất thường men răng ở trẻ em ngày một tăng cao, kể cả răngsữa và răng vĩnh viễn Tỷ lệ này ở Braxin năm 2005 là 24,4% [3], ở Tây BanNha năm 2013 là 40,2% [4] (răng sữa), ở Ba Lan năm 2015 là 25,7% [5](răng vĩnh viễn) Nhiều tài liệu cho thấy tỷ lệ bất thường men răng trung bình

ở các nước phát triển là 10% [6] Những bệnh nhân bị bất thường sự pháttriển men răng đòi hỏi phải có sự can thiệp phòng ngừa và điều trị sớm Mụctiêu của việc điều trị là cải thiện chức năng và hình dáng của các răng bị ảnhhưởng Có bằng chứng cho thấy các răng bị bất thường sự phát triển men răng

có nhu cầu điều trị cao hơn gấp mười lần răng bình thường [1] Ngoài việcquan tâm đến chi phí cho điều trị nha khoa, chi phí xã hội, trẻ phải vắng mặt ởtrường và bố mẹ phải vắng mặt ở cơ quan để đưa con đến các buổi hẹn vớinha sĩ, những trẻ bị bất thường men răng có thể bị ảnh hưởng đến tâm lýnghiêm trọng vì cảm thấy như bản thân bị kỳ thị do chúng nhận thức rằng sựbất thường này như một sự biến dạng

Tuy vậy, tại Việt Nam bệnh lý sinh men bất toàn cũng chưa được quantâm đúng mức, cả về về lượng và quy mô các nghiên cứu Xuất phát từ thựctiễn đó, chúng tôi đã tiến hành đề tài:

“Nghiên cứu tỷ lệ hiện mắc, các phương pháp chẩn đoán và hiệu quả các

phương pháp phát hiện bệnh lý sinh men bất toàn tại Việt Nam” với mục

tiêu sau:

Trang 9

Mục tiêu nghiên cứu:

1 Tổng quan hệ thống về các phương pháp chẩn đoán và điều trị bệnh

lý sinh men bất toàn.

2 Xác định tỷ lệ sinh men bất toàn và các yếu tố ảnh hưởng đến sinh men bất toàn tại Việt Nam.

3 Đánh giá hiệu quả chẩn đoán của 3 phương pháp: khám trực tiếp, chụp ảnh chuẩn hoá và sử dụng trí thông minh nhân tạo.

1.

Trang 10

CHƯƠNG 1TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Định nghĩa, phân loại và dịch tễ sinh men bất toàn

1.1.1 Định nghĩa

Khiếm khuyết sự phát triển men răng (sinh men bất toàn - SMBT) là cácbất thường tạo ra do tổn thương cơ quan tạo men trong quá trình tạo men răng[1] Bất thường sự phát triển men răng được biểu hiện dưới các dạng khácnhau như: thiểu sản men, men lỗ chỗ có ranh giới rõ và men lỗ chỗ lan tỏa.Thuật ngữ MIH được giới thiệu vào năm 2001 để mô tả sự xuất hiện lâm sàngcủa men kém khoáng hóa của nguồn gốc hệ thống ảnh hưởng đến một hoặcnhiều răng hàm vĩnh viễn đầu tiên (FPM) là các răng thường xuyên liênquan[1] Tình trạng này còn được biết đến như là các men đục không khoánghóa (nonflouride), thiểu sản men men nội sinh, sự phân tán không men củamen, các điểm mờ đục, các men mờ vô căn, men đục, và men kém khoánghóa vô căn [7]

Trên thực tế, men kém khoáng hóa có thể mềm, xốp hoặc tương tự nhưphấn màu hoặc phô mai Hà Lan cũ Các khiếm khuyết men có thể khác nhau

về màu sắc từ màu trắng sang màu vàng hoặc nâu, nhưng chúng luôn hiển thịmột ranh giới sắc nét giữa các men bị ảnh hưởng và khỏe mạnh Lớp menxốp, dễ vỡ có thể dễ dàng bóc ra dưới các lực cắn Thỉnh thoảng, mất men cóthể xảy ra rất nhanh sau khi mọc có vẻ như men không được hình thành banđầu và tạo ra một hình ảnh giống như thiểu sản men Loại thứ hai, tuy nhiên,

có ranh giới mịn cho men xung quanh, trong khi ở MIH ranh giới xuất hiện làbất thường [8]

1.1.2 Đặc điểm lâm sàng và phân loại sinh men bất toàn

Phân loại sinh men bất toàn sử dụng phổ biến nhất là phân loại củaWitkop năm 1988 và được sửa đổi bởi Nusier năm 2004 Căn cứ vào sự biểu

Trang 11

hiện men răng và các khuyết tật giả thuyết về sự phát triển, sinh men bất toànđược chia làm 4 nhóm: giảm sản, kém trưởng thành, kém khoáng hóa và kémtrưởng thành – giảm sản.

Phân loại của Witkop năm 1988 [9]:

Bốn loại chính dựa vào kiểu hình (giảm sản, kém trưởng thành, kémkhoáng hóa, kém trưởng thành – giảm sản cùng với buồng tủy lấn răng)

Sự biểu hiện lâm sàng và Xquang của các kiểu hình chính của sinh men bấttoàn [10]:

Thiểu sản men Kém trưởng thành Kém khoáng hóa

Khiếm khuyết về chấtlượng của quá trìnhkhoáng hóa, số lượngmen bình thườngLâm sàng Độ dày men răng giảm

Men gồ ghề, không đều

Màu sắc thay đổi từđốm trắng đục tớivàng nâu hoặc nâu đỏ

Độ dày men răng bìnhthường nhưng mất sựtrong mờ Men răngmềm, dễ bị phá hủy

Răng có xu hướng tốimàu hơn tổn thươngsinh men bất toànkhác

Xquang Men răng cản quang hơn

so với ngà răng (tương

phản bình thường so với

ngà răng)

Men răng có hình ảnhcản quang giống ngàrăng

Men răng ít cản quanghơn so với ngà răng

Trang 12

1.2 Quá trình hình thành, đặc điểm cấu trúc men răng và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành men răng

1.2.1 Cấu trúc bình thường của men răng

1.2.1.1 Tính chất lý học

Men răng trong mờ hơi có ánh xanh xám vàng nhạt Rất cứng, giòn Màurăng được quyết định bởi chiều dày lớp men, màu vàng nhạt của ngà, mức độtrong, tính đồng nhất của men Mức độ trong và tính đồng nhất của men phụthuộc vào mức độ khoáng hóa và độ chắc của men răng, bề dày của men răngxác định màu sắc của răng Bề dày men răng thay đổi và không đồng nhật ởcác vị trí Men răng dày nhất ở đỉnh múi, vào khoảng 2.5mm và mỏng nhất ởvùng cổ răng Men răng là mô cứng nhất trong cơ thể và là mô không có khảnăng tái sinh [11] Độ cứng Knop 343, cứng gấp 5 lần ngà răng [12]

1.2.1.2 Thành phần hóa học

Theo khối lượng, ở men răng trưởng thành chất khoáng chiếm 95%, chấthữu cơ chiếm 1%, còn lại 4% là nước

Nước: trong men răng chưa trưởng thành là 50%, sau đó giảm dần theo

quá trình khoáng hóa Phần lớn lượng nước bao quanh các tinh thể trụmen

Khuôn hữu cơ: Men răng trưởng thành chứa chủ yếu là các protein hòa

tan và không hòa tan cùng một lượng nhỏ carbonhydrate và chất béo.Khuôn hữu cơ phần lớn là protein không có collagen Carbonhydratethể hiện dưới dạng glycoproteine và glycosaminoglycan

Thành phần amino acid của protein trong men răng chứa: Prolin,

aspatic acid, glutamic acid, glycine, leucine, histidine, arginine

Thành phần vô cơ: Thành phần chính của khoáng chất men răng là

canxi, phospho và các ion hydroxy Ba thành phần này cấu thànhhydroxyt apatit, là dạng tinh thể chính của men răng Các thành phần

Trang 13

khác như: F, Fe, Mg, Mn, Sn, Na, K, Cl, tham gia cấu tạo nên cácdạng tinh thể khác của men răng, có vai trò quan trọng ảnh hưởng tớitính chất hóa lý và sức đề kháng của men răng [13].

1.2.1.3 Tổ chức học

Đại thể: quan sát tiêu bản men răng dưới kính lúp, thấy các dải

Hunter-Schreger sáng tối xen kẽ chạy vuông góc đường nối men ngà [12]

- Trụ men: quan sát thấy dưới kính hiển vi phóng đại Là đơn vị cơ bản của lớp

men Chạy suốt chiều dày lớp men từ ranh giới men ngà đến bề mặt men, có thểthay đổi hướng tạo các đường gấp khúc Sự đổi hướng thấy rõ ở lớp men gần

Trang 14

ngà, ở phía ngoài hướng đi của trụ men đều hơn [12] Trên lát cắt ngang trụ men

có nhiều hình thể: lục giác, tròn, bầu dục, hình lỗ khóa [13]

Hình 1.3: Hình ảnh trụ men trên tiêu bản cắt ngang [12]

o Kích thước và mật độ: Kích thước trung bình là 5 µm, chiều dài 9 µm(chiều dài trụ men còn phụ thuộc từng vị trí lớp men dày hay mỏng), ởvùng đường nối giáp men ngà, kích thước có thể nhỏ hơn Số lượngtrung bình 20.000 - 30.000/ mm2 [12]

o Tinh thể của trụ men: Hình trụ dẹt, chiều rộng 30 - 90 nm, chiều dày

20 - 60 nm Thành phần hóa học là canxi phosphat loại apatit Ca10

[PO4]6[OH]2

- Bụi cây men: là các khoảng sẫm gần đường ranh giới men ngà giữa các

nhóm trụ men, tạo nên bởi các khoảng kém ngấm vôi

Trang 15

Hình 1.4: Hình ảnh bụi cây men [12]

- Lá men: là một khe không ngấm vôi, chạy thẳng góc từ bề mặt men đến

lớp sâu của men hoặc tới cả đường ranh giới men ngà thậm chí vào đến lớpngà Ở vùng này chất ngoại lai rất dễ xâm nhập

Hình 1.5: Hình ảnh lá men

[12]

Hình 1.6: Hình ảnh lá men dưới kính

hiển vi điện tử [14]

1.2.2 Quá trình hình thành men răng

Men răng là một sản phẩm của hoạt động tế bào, khoáng hóa và có cấutrúc tinh thể gần như thuần khiết; là sản phẩm cuối cùng và trưởng thành từsản phẩm ban đầu của nguyên bào men là khuôn men [15]

Men răng là kết quả của ba quá trình diễn ra đồng thời trong mỗi mầm răng [15]:

Trang 16

1.2.2.1 Sự tạo thành khuôn men

Tiền thể khuôn men được tổng hợp trong các khoang của lưới nội bào,những tiền thể này chứa thành phần protein của khuôn men Các túi tiền thểkhuôn men dần xuất hiện trong khu mạng lưới Golgi Trong hệ thống lướiGolgi, các thành phần cacbohydrat của khuôn men được tổng hợp từ cácđường lactose, fructose và glycosamine Các thành phần cacbohydrat sau đókết hợp với thành phần protein để tạo thành glycoprotein Về sau, bên ngoàicủa các bồn trong lưới nội bào Golgi, xuất hiện các túi chứa glycoprotein đểsau đó phát triển thành các hạt khuôn men

Trong vòng hai mươi đến ba mươi phút, các hạt khuôn men dichuyển về phía cực chóp của tế bào và đi vào vùng sẽ là nhú Tomes Ở đó,màng của hạt khuôn men nối kết với màng bào tương của nhú Tomes tươnglai Từ đây, vật chứa của các hạt (khuôn men) được chế tiết từ tế bào Cácphần tử khuôn men ngoại bào và nội bào tương tự nhau về mặt hình thái vicấu trúc và hóa học Khuôn men ở trong hạt thì chưa bị khoáng hóa nhưng

có nồng độ canxi cao

Khuôn men mới được chế tiết chứa phần lớn là protein không có collagen và

1 – 2% cacbohydrat và lipid Về mặt cấu trúc, khuôn men chưa khoáng hóa làmột khối chất vô định hình, giàu điện tử, trông có dạng hạt dưới kính hiển vi

độ phóng đại cao

1.2.2.2 Sự khoáng hoá men răng

Sự khoáng hóa men răng gồm ba pha Pha đầu tiên (khoáng hóa sơkhởi) bắt đầu ngay sau khi chế tiết khuôn men, các hạt tinh thể lắng đọng Cáctiểu tinh thể ngay sau khi hình thành sẽ tăng trưởng nhanh trong khuôn hữu

cơ Lúc này thành phần vô cơ của men đạt khoảng 6 đến 10% thể tích hoặckhối lượng men đã có Đây là men răng chưa trưởng thành Lượng canxi (theo

Trang 17

khối lượng khô) của men răng chưa trưởng thành từ 21 – 26%; lượng phốtpho thay đổi từ 9 – 12%.

Pha thứ hai và pha thứ ba có đặc trưng là sự tăng trưởng mạnh mẽ cáctinh thể (gồm tăng tỷ lệ khoáng chất và sự lớn lên về kích thước của các tinhthể) Men răng ở pha thứ hai và thứ ba của quá trình khoáng hóa gọi là menrăng đang trưởng thành Nồng độ của thành phần muối khoáng ở men răngđang trưởng thành tăng lên đều đặn nhưng thành hai đợt sóng Đợt thứ nhất(khoáng hóa thứ cấp): sự tăng nồng độ khoáng bắt đầu ở bề mặt của men răngkhoáng hóa sơ khởi (men đã đạt được độ dày cuối cùng), lan về phía đườngtiếp giáp men - ngà, cho đến cách đường tiếp nối men - ngà 8 µm Ở cuối phathứ hai, protein của khuôn men bị thay thế chọn lọc bởi thành phần muốikhoáng và dịch mô, lượng canxi và phốt pho bắt đầu tăng lên Đợt thứ hai(khoáng hóa kỳ ba) bắt đầu lan tỏa ra phía ngoài từ lớp men trong cùng nàytrở ra phía ngoài bề mặt men Ở pha thứ ba, hầu như toàn bộ khuôn men bịhấp thụ, những lỗ rỗ thoạt tiên bị dịch mô lấp đầy, tỷ lệ canxi và phốt pho đạtđến lần lượt là 35% và 17% Sự trưởng thành của men răng tiếp tục, lượngkhoáng chất tiếp tục tăng nhưng men vẫn còn sự khác biệt so với các lớptrong do sự khoáng hóa chậm

1.2.3 Sự trưởng thành men răng

Trong pha thứ tư (khoáng hóa kỳ tư) men răng đạt tới trưởng thành, mất

đi các lỗ rỗ và trở nên khoáng hóa tới mức cao nhất của nó Lớp men ngoàicùng được khoáng hóa nhanh và mạnh trong pha này, trở thành lớp có độkhoáng hóa cao nhất Trong pha này, các tiểu tinh thể tăng lên về chiều dày

và chiều rộng Kích thước tiểu tinh thể non tăng lên trong quá trình trưởngthành Ở men răng trưởng thành, các tiểu tinh thể nằm hoàn toàn sát nhau.Chúng có thể tăng độ dài và chạy dài từ đường nối men – ngà đến bề mặtngoài của men

Trang 18

Bảng 1.1: Tuổi khoáng hóa, hoàn thành thân răng và mọc răng của các

Thángthứ 4của thaikỳ

Thángthứ 5củathai kỳ

Khisinh

Thángthứ 9

Thángthứ 4của thaikỳ

Thángthứ 12

Bắt đầu

khoáng

hóa

Thángthứ 3

Thángthứ 4

Thángthứ 5

Tháng18

Tháng24

Khisinh 3 tuổiHoàn

thành

thân răng

4 tuổi 5 tuổi 7 tuổi 6 tuổi 7 tuổi 3 tuổi 7 tuổiMọc răng 7 tuổi 8 tuổi 11 tuổi 9 tuổi 10 tuổi 6 tuổi 12 tuổi

1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành men răng

Bất thường sự phát triển men răng có căn nguyên đa yếu tố [1],[17] Cácyếu tố bệnh căn này có thể chia thành hai nhóm: nhóm phân bố khu trú vànhóm phân bố toàn bộ [1] Các nguyên nhân gây bất thường men răng khu trú

là chấn thương, nhiễm trùng cục bộ và tia xạ Các răng sữa bị chấn thươngdẫn đến hoại tử tủy, nếu không được xử trí sẽ gây ảnh hưởng đến mầm răngvĩnh viễn bên dưới, kết quả các răng vĩnh viễn thay thế có thể bị bất thườngmen răng Nghiên cứu của Paiari và Lanning cho thấy những đứa trẻ bịleukemia cấp tính phải điều trị bằng liều xạ trị 0,72 – 1,44 Gy có tăng tỷ lệ bấtthường men răng [1]

Các nguyên nhân gây bất thường men răng toàn bộ có các rối loạn gen,các bệnh toàn thân, nhiễm độc, các vấn đề về chu sinh và sau sinh, suy dinhdưỡng Rối loạn gen trong bệnh sinh men bất toàn là bất thường đơn gen, liênkết trên nhiễm sắc thể X hoặc nhiễm sắc thể thường trội hay lặn Các bệnh

Trang 19

toàn thân như bệnh đường tiêu hóa celiac (ở Hà Lan, 90% trường hợp có bấtthường men răng), bệnh thủy đậu, hen suyễn, thiếu vitamin D và bệnh còixương Thiếu vitamin D dẫn đến sự chuyển hóa canxi bị suy yếu trong cácnguyên bào tạo men, gây ra kém khoáng hóa men răng [17] Các nhiễm độcđiển hình như nhiễm độc Fluor và nhiễm độc Dioxin Chứng nhiễm Fluor là

do lượng Fluor được đưa vào cơ thể quá mức ở giai đoạn sau sinh đến 7 tuổi.Fluor tác động đến giai đoạn trưởng thành trong quá trình tạo men răng Cụthể, nó ức chế sự thoái hóa và loại bỏ các protein khung hữu cơ [1] Vấn đềchu sinh như trẻ sinh non, thời gian đau đẻ kéo dài quá mức dẫn đến giảm oxymáu, thiếu cung cấp oxy cho các mô, ảnh hưởng đến hoạt động của cácnguyên bào tạo men [17] Một vấn đề không thể không nhắc đến đó là vấn đềnuôi dưỡng sau sinh và việc sử dụng kháng sinh trong ba năm đầu của cuộcđời Việc kéo dài thời gian cho con bú có thể là một yếu tố nguy cơ vì cácchất gây ô nhiễm trong môi trường qua sữa mẹ tác động đến sự trưởng thànhmen răng [1] Trẻ phải dùng amoxycillin hoặc erythromycin trong suốt nhữngnăm đầu tiên của cuộc đời gây ra sự phát triển men nhanh hơn mà không chophép sự khoáng hóa đầy đủ [17]

1.3 Các phương pháp chẩn đoán bệnh lý sinh men răng bất toàn

1.3.1 Khám lâm sàng tại cộng đồng

Khám lâm sàng tại cộng đồng là phương pháp phổ biến nhất hiện nay tạiViệt Nam, với nhiều ưu điểm có thể kể đến như:

- Sự thuận tiện

- Cảm giác tiếp xúc thật, ba chiều về răng

- Có thể thay đổi vị trí của đầu khi đánh giá, để không bị bóng sáng làmnhiễu

- Dụng cụ đơn giản: gương phẳng, đầu dò và nguồn sáng

Tuy nhiên phương pháp này cũng tồn tại nhiều nhược điểm:

Trang 20

- Sự thiên vị không chủ ý, chủ quan của người quan sát Đặc biệt có thể

bị ảnh hưởng khi nghiên cứu viên nhận thức được về trình độ kinh tế xãhội của khu dân cư

- Để thực hiện được một nghiên cứu cần tối thiểu 1 đánh giá viên và đốitượng ở cùng một vị trí, do vậy, với một nghiên cứu với cỡ mẫu lớn,kéo dài, sẽ tốn kém nhiều thời gian

- Hạn chế trong việc lưu trữ kết quả đánh giá hoặc chuyển đối tượng chonghiên cứu viên khác đánh giá

- Không thể khám đi khám lại đối tượng quá nhiều lần để đánh giá, cóthể xảy ra tình trạng bỏ sót các tổn thương

1.3.2 Khám qua ảnh chuẩn hoá

Khám qua ảnh chuẩn hoá đang ngày càng khẳng định ưu thế của mình,được áp dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, với rất nhiều ưu điểm nổi bật như:

- Cho phép đánh giá độc lập được thực hiện bởi nhiều nhà điều tra ở nhữngthời điểm khác nhau, trong môi trường đồng nhất được kiểm soát và tạicác điểm xa các khu vực mà đối tượng đang điều tra là cư dân

- Bản ghi hình ảnh là vĩnh viễn, dễ sao lưu, có thể được đánh giá theo bất

kỳ trình tự nào, để tạo sự mù cho các thủ tục đánh giá tiếp theo

- Phát hiện các khuyết tật phát triển của men răng dưới dạng ngẫu nhiên,phân chia, khám từ xa, ghi nhận vĩnh viễn để so sánh trong tương lai,

và việc áp dụng các cách tiếp cận khác nhau trong việc sử dụng cùngmột loại vật liệu

- Có thể được sử dụng để tái đánh giá nhiều lần

Mặt khác, phương pháp này cũng có nhiều hạn chế:

- Quy trình chụp ảnh cần được chẩn hóa, để giảm thiểu các sai số về hìnhảnh do ánh sáng của đèn flash, hoặc độ ẩm trên răng, có thể tạo sự mờ

Trang 21

đục về hình ảnh nhưng không tương xứng với tổn thương thực tế củamen răng.

- Trang thiết bị và môi trường chụp cần được đồng bộ và kiểm soát

- Rất khó để có những bức ảnh của một chất lượng nhất quán cho răngphía sau trong miệng hơn so với răng hàm nhỏ đầu tiên

- Ảnh là sự minh họa hai chiều

- Thị trường của ảnh hạn chế

1.3.2.1 Phương pháp chụp ảnh bằng smartphone.

Hình ảnh chất lượng cao không chỉ giúp đỡ rất nhiều cho chẩn đoán,điều trị trong nha khoa mà còn là công cụ truyền thông tuyệt vời Các máyảnh kỹ thuật số được sử dụng rộng rãi trong nha khoa để chụp được các bứcảnh macro có độ nét cao nhưng giờ đây với sự phát triển của công nghệ vàcác thiết bị hỗ trợ thì chỉ với chiếc điện thoại di động cũng có thể tạo ra nhữngbức ảnh chất lượng[18]

MDP (mobile dental photography) là phương pháp được ứng dụng từ năm

2003 cho phép bác sĩ răng hàm mặt tạo ra các bức ảnh chụp về răng chất lượngcao với độ sâu phù hợp, vẫn thể hiện được màu sắc và chi tiết của vật chụp

Trong những trường hợp cần chụp ảnh trong miệng nhanh mà không đòi hỏi tínhchính xác cao, tái lập lại giống nhau giữa các lần chụp để so sánh trước sau thìchúng ta cũng có thể sử dụng điện thoại Smart phone để chụp [18]

 Ưu điểm khi dùng điện thoại thông minh để chụp ảnh

- Rất thuận tiện để chụp những khoảng khắc và những tình huống cầnchụp ảnh nhanh để tư vấn hoặc lưu trữ, hướng dẫn thực hành cho sinhviên

- Kích thước nhỏ gọn nhưng khẩu độ lớn

- Có thể thiết lập Iso cao mà độ nhiễu ảnh thấp

- Độ phân giải tốt để có thể hiển thị được các chi tiết nhỏ

Trang 22

- Màn hình rộng rất thuận tiện để dùng ở chế độ preview cũng như có thểxem lại ảnh rất nhanh (Với điện thoại có màn hình rộng).

- Pin dung lượng cao cho phép làm việc nhiều giờ liên tục

- Một số máy còn có chế độ tự điều chỉnh các thông số: White balance,exposure, forcus

- Nhẹ và dễ sử dụng

- Bệnh nhân có thể sử dụng để chụp ảnh trao đổi thông tin với bác sĩ [18]

 Các dụng cụ hỗ trợ cần có để chụp ảnh nha khoa bằng điện thoại di độngthông minh

Các dụng cụ để chụp ảnh trong nha khoa [18]

- Banh miệng: có thể dùng banh miệng phẫu thuật hoặc tiện lợi hơn làdùng banh miệng cá nhân

Khi chụp thì nên điều chỉnh đèn ở phía trên vì 2 lí do:

+ Nếu để ở đằng trước thì lúc chụp người chụp phải tránh sang một bên

để tránh đèn thì khó để lấy nét ảnh

+ Nếu điều chỉnh đèn ở phía trên co với vật chụp, đèn nen đặt chếch mộtgóc nhỏ hơn 90 độ thì màu của lợi trong bức ảnh sẽ đẹp hơn và sau đóchỉ cần edit và crop ảnh lại

- Gương chụp trong miệng

Trang 23

- Smart phone: Khi chụp các ảnh mặt trước và các mặt bên thì nên đểđiện thoại tì và chếch lên gương một góc 45 độ, chụp ảnh mặt trước sau đó dichuyển gương và điện thoại đồng thời để chụp các mặt bên tránh nhấc điệnthoại lên rồi di chuyển Lúc chụp thì lấy nét giữ rồi chụp.

- Thiết bị hỗ trợ để chụp ảnh bằng smart phone: nó cấu tạo gồm có đèn ởgiữa và hai phía hai bên có phần để lắp bộ phận tán xạ màu trắng ở hai bên và

có thể lắp thêm bộ lọc phân cực ở giữa thiết bị

Đằng sau thiết bị có phần để lắp smart phone vào Khi lắp smart phonevào cần điều chỉnh sao cho camera của smart phone ở chính giữa Khi chụpảnh đằng trước cần bật đèn sáng ở cả ba phần của thiết bị ở giữa và cả ở haibên Khi chụp ở phần sau thì chỉ cần bật đèn ở phần giữa

Thiết bị có tính năng tuyệt vời này sẽ giúp chụp những bức ảnh chỉ vớismart phone nhưng có chất lượng hình ảnh cao tái tạo được hình dáng sắc nét

và màu sắc chân thực và ngừa hiện tượng mờ khi chụp ảnh

1.4 Các nghiên cứu về sinh men bất toàn ở trên thế giới và tại Việt Nam

1.4.1 Các nghiên cứu trên thế giới:

Hiện nay, khá nhiều tài liệu trên thế giới đề cập đến các phương phápchẩn đoán và điều trị bệnh lý sinh men bất toàn Theo nghiên cứu củaGabriela Caldeira Andrade Americano vào năm 2016 thì phần lớn các nghiêncứu đánh giá sâu răng bằng cách sử dụng tiêu chuẩn được thành lập bởi Tổchức Y tế Thế giới (WHO) Một nghiên cứu đã sử dụng hệ thống tính điểmhình ảnh phổ quát để đánh giá tổn thương sâu răng không bị tổn thương vàmột số khác được sử dụng Hệ thống đánh giá và phát hiện sâu răng quốc tế II(ICDAS-II) Các thông số được sử dụng để đánh giá sâu răng như sau: răng bịmục nát, mất tích, hoặc răng đủ (DMFT) so với tất cả các răng vĩnh viễn hoặcFPMs; có nghĩa là tổn thương sâu răng không không tạo lỗ thủng trên răng sovới tất cả các răng vĩnh viễn; các bề mặt bị hư hỏng, mất tích, hoặc bình

Trang 24

thường (DMFS) so với tất cả các răng vĩnh viễn hoặc FPMs; tỷ lệ hiện nhiễmcủa FPM không có sâu răng; và tỷ lệ trẻ bị sâu răng so với tất cả các răng vĩnhviễn hoặc FPMs.[19]

Kotsanos N năm 2005 [20] đã báo cáo rằng việc sử dụng phương phápđiều trị lấp đầy và bịt kín ở trẻ em bị MIH nhiều gấp ba lần có khả năng phảirút lui như các can thiệp được thực hiện ở trẻ em không có MIH Nó đượccông nhận rằng MIH là mối quan tâm ngày càng tăng đối với các bác sĩ lâmsàng trên toàn thế giới Vì vậy, nó có liên quan để tăng kiến thức về cáckhiếm khuyết của tác động lâm sàng với MIH về sức khỏe răng miệng Mộtnghiên cứu khác về quyết định điều trị bệnh lí men răng bất toàn của tác giảSimen E.Kopperud vào năm 2016 tại Na-Uy trình bày rằng báo cáo được lấy

từ 61,5% số người được hỏi sau hai lần hỏi [21] Trong lần đầu tiên, cho thấy

sự mọc răng hàm đầu tiên với sự giảm khoáng vừa phải và không tan rã củacác men bề mặt, thì điều trị ưa thích trong phần lớn số người được hỏi(53,5%) là ứng dụng của men florua, trong khi 19,6% sẽ được đóng kín khevới GIC vật chất Trong trường hợp thứ hai, cho thấy một mol vĩnh viễn đầutiên bị hư hỏng nghiêm trọng ở một đứa trẻ tuổi sáu năm, hơn một nửa sốngười được hỏi (57,5%) sẽ đặt một sự phục hồi kính ionomer thường và10,5% sẽ sử dụng một thân răng bằng thép không gỉ (SSC) Trong trường hợpthứ ba, cho thấy một phân tử đầu tiên bị hư hỏng nghiêm trọng đầu tiên trongmột đứa trẻ chín tuổi, 43,8% các nha sĩ sẽ loại bỏ chỉ các bộ phận với mềm,

hư hỏng men; trong khi 35,2% sẽ loại bỏ nhiều hơn và 21,0% sẽ loại bỏ tất cảmen bị ảnh hưởng và để lại các khe hở trong men răng

Tỷ lệ hiện mắc MIH dao động từ 0,48% đến 40% theo một nghiên cứutổng quan hệ thống của Kalyana Chakravarthy Pentapati vào năm 2017 [22].Trong phần lớn các nghiên cứu, tỷ lệ hiện mắc dao động từ 8% đến 20% Ướctính < 5% chỉ được thấy trong bốn nghiên cứu Mười nghiên cứu báo cáo tỷ lệ

Trang 25

> 20% Ngoài ra, cũng trong nghiên cứu tổng quan hệ thống trên, năm nghiêncứu đã ghi nhận các bé gái có tỷ lệ mắc bệnh MIH cao hơn đáng kể so vớinam trong khi 41 nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt giữa nam và nữ.Tuy nhiên, chín trong 46 nghiên cứu này đã không báo cáo phân bố giới tínhcủa mẫu hoặc phân bố MIH giới tính thông minh hoặc cả hai Tỷ lệ nam giớitrong số 37 nghiên cứu dao động từ 0,72 đến 3,99 Trong hơn một nửa cácnghiên cứu này, các bé gái có tỷ lệ nhiễm cao hơn bé trai.

Theo nghiên cứu của Yong-Long Hong vào năm 2017 thực hiện tạiTrung Quốc đã báo cáo rằng trong số 1145 học sinh tiểu học có 51 bệnh nhânMIH [23] Tỷ lệ chung là 4,45%, 4,78% (29/51) ở nam và 4,09% (22/51) ở

nữ Không có sự khác biệt về mặt thống kê trong giới tính (P = 0,57) Có 33bệnh nhân MIH trong số 7-8 tuổi (tỷ lệ hiện nhiễm là 6,25%), 8 bệnh nhânMIH trong độ tuổi 9–10 (tỷ lệ nhiễm là 2,53%) và 10 bệnh nhân MIH trong

độ tuổi 11-12 (tỷ lệ hiện nhiễm là 3,31%) Nhóm tuổi 7-8 có tỷ lệ nhiễm MIHcao hơn đáng kể so với các nhóm tuổi khác (P = 0,022) Tỷ lệ hiện nhiễmMIH không tương quan với tình trạng gia đình của trẻ, phương pháp cho ăn

và các điều kiện thể chất của mẹ trong thai kỳ (P> 0,05) Nghiên cứu củaYong-Long Hong cho thấy tỷ lệ MIH là cao nhất trong số trẻ em 7-8 tuổi.Đây là tuổi khi răng hàm vĩnh viễn đầu tiên và răng cửa vĩnh cửu bùng nổ.MIH được đặc trưng bởi quá trình khoáng hóa men hypo, làm cho kết cấumen mềm hơn và mỏng manh Với sự gia tăng tuổi tác, lực cắn nhai tăng lên,khiến cho các loại men khử khoáng không được xử lý dễ bị tổn thương hơn.Thông thường, răng của bệnh nhân trở nên rất nhạy cảm, và trẻ em khôngmuốn đánh răng, dẫn đến vệ sinh răng miệng kém và tích lũy mảng bám vàtích tụ axit Tình trạng này càng trầm trọng hơn với sự xuất hiện sâu rănghoặc nhiễm trùng và viêm nha chu và biểu hiện lâm sàng giống như sâu rănghoặc viêm tủy truyền thống, và viêm nha chu thường, do đó che giấu nguyên

Ngày đăng: 06/08/2019, 21:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. M. Patel, S. T. McDonnell, S. Iram và cộng sự (2013). Amelogenesis imperfecta - lifelong management. Restorative management of the adult patient. Br Dent J, 215 (9), 449-457 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Restorative management of the adult patient
Tác giả: M. Patel, S. T. McDonnell, S. Iram
Nhà XB: Br Dent J
Năm: 2013
11. R. S. Jones và D. Fried (2006). Remineralization of enamel caries can decrease optical reflectivity. J Dent Res, 85 (9), 804-808 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Remineralization of enamel caries can decrease optical reflectivity
Tác giả: R. S. Jones, D. Fried
Nhà XB: J Dent Res
Năm: 2006
12. Avery J. K (2002). Histology of enamel, Oral development and histology, Thieme Stuttgart, New York Sách, tạp chí
Tiêu đề: Histology of enamel
Tác giả: Avery J. K
Nhà XB: Thieme Stuttgart
Năm: 2002
13. H. T. Hùng (2001). Sự hình thành, cấu trúc và chức năng của men răng, Mô phôi răng miệng, Nhà xuất bản y học thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự hình thành, cấu trúc và chức năng của men răng
Tác giả: H. T. Hùng
Nhà XB: Nhà xuất bản y học thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2001
14. Heymann H, Swift E. Jr và R. A. V (2011). Dental caries: etiology clinical characteristics risk assessment and management, Sturdevant’s Art &amp; Science of Operative Dentistry Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sturdevant’s Art & Science of Operative Dentistry
Tác giả: Heymann H, Swift E. Jr, R. A. V
Năm: 2011
15. H. T. Hùng (2001). Mô phôi răng miệng, Nhà xuất bản y học, 16. V. T. N. Ngọc (2013). Răng trẻ em, Nhà xuất bản giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô phôi răng miệng", Nhà xuất bản y học, 16. V. T. N. Ngọc (2013). "Răng trẻ em
Tác giả: H. T. Hùng (2001). Mô phôi răng miệng, Nhà xuất bản y học, 16. V. T. N. Ngọc
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 2013
17. R. A.H (2012). Identification of factors in the natal and neonatal period influencing enamel development in the permanent first molars and incisors Sách, tạp chí
Tiêu đề: Identification of factors in the natal and neonatal period influencing enamel development in the permanent first molars and incisors
Tác giả: R. A.H
Năm: 2012
18. V. T. N. Ngọc (2018). Chụp ảnh nha khoa bằng điện thoại di động thông minh 2018. Ghi hình răng hàm mặt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chụp ảnh nha khoa bằng điện thoại di động thông minh 2018
Tác giả: V. T. N. Ngọc
Nhà XB: Ghi hình răng hàm mặt
Năm: 2018
19. G. C. Americano, P. E. Jacobsen, V. M. Soviero và cộng sự (2017). A systematic review on the association between molar incisor hypomineralization and dental caries. Int J Paediatr Dent, 27 (1), 11-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A systematic review on the association between molar incisor hypomineralization and dental caries
Tác giả: G. C. Americano, P. E. Jacobsen, V. M. Soviero
Nhà XB: Int J Paediatr Dent
Năm: 2017
21. S. E. Kopperud, C. G. Pedersen và I. Espelid (2016). Treatment decisions on Molar-Incisor Hypomineralization (MIH) by Norwegian dentists – a questionnaire study. BMC Oral Health, 17 (1), 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Treatment decisions on Molar-Incisor Hypomineralization (MIH) by Norwegian dentists – a questionnaire study
Tác giả: S. E. Kopperud, C. G. Pedersen, I. Espelid
Nhà XB: BMC Oral Health
Năm: 2016
22. K. Pentapati, S. Yeturu và H. Siddiq (2017). Systematic review and meta-analysis of the prevalence of molar-incisor hypomineralization.Journal of International Oral Health, 9 (6), 243-250 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Systematic review and meta-analysis of the prevalence of molar-incisor hypomineralization
Tác giả: K. Pentapati, S. Yeturu, H. Siddiq
Nhà XB: Journal of International Oral Health
Năm: 2017
23. Yong-Long Hong, Haiyan Wu, Jialu Yuan và cộng sự (2017).Prevalence Study of Molar-Incisor Hypo Mineralisation in Primary School Children in South China. Journal of Pediatric Care, 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prevalence Study of Molar-Incisor Hypo Mineralisation in Primary School Children in South China
Tác giả: Yong-Long Hong, Haiyan Wu, Jialu Yuan
Nhà XB: Journal of Pediatric Care
Năm: 2017
24. N. Garg, A. K. Jain, S. Saha và cộng sự (2012). Essentiality of early diagnosis of molar incisor hypomineralization in children and review of its clinical presentation, etiology and management. Int J Clin Pediatr Dent, 5 (3), 190-196 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Essentiality of early diagnosis of molar incisor hypomineralization in children and review of its clinical presentation, etiology and management
Tác giả: N. Garg, A. K. Jain, S. Saha
Nhà XB: Int J Clin Pediatr Dent
Năm: 2012
25. J. P. Higgins và D. G. Altman (2008). Assessing risk of bias in included studies. Cochrane handbook for systematic reviews of interventions:Cochrane book series, 187-241 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Assessing risk of bias in included studies
Tác giả: J. P. Higgins, D. G. Altman
Nhà XB: Cochrane handbook for systematic reviews of interventions
Năm: 2008
26. J. Deeks, J. Dinnes, R. D'amico và cộng sự (2003). Evaluating non- randomised intervention studies. Health technology assessment (Winchester, England), 7 (27), iii-x, 1-173 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evaluating non- randomised intervention studies
Tác giả: J. Deeks, J. Dinnes, R. D'amico, cộng sự
Nhà XB: Health technology assessment (Winchester, England)
Năm: 2003
27. S. A. Bhaskar và S. Hegde (2014). Molar-incisor hypomineralization:prevalence, severity and clinical characteristics in 8- to 13-year-old children of Udaipur, India. J Indian Soc Pedod Prev Dent, 32 (4), 322- 329 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Molar-incisor hypomineralization:prevalence, severity and clinical characteristics in 8- to 13-year-old children of Udaipur, India
Tác giả: S. A. Bhaskar, S. Hegde
Nhà XB: J Indian Soc Pedod Prev Dent
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w