1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỪA CÂN BÉO PHÌ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUANỞ TRẺ EM TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON NỘI,NGOẠI THÀNH HÀ NỘI NĂM 2015

101 191 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mối liên quan giữa một số thói quen thích ăn một số loại thực phẩm của trẻ và tỷ lệ thừa cân béo phì 39 Bảng 3.15.. Mối liên quan giữa tần suất ăn thường xuyên một số loại thực phẩm của

Trang 1

VŨ THỊ HẠNH

THỪA CÂN BÉO PHÌ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN

Ở TRẺ EM TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON NỘI,

NGOẠI THÀNH HÀ NỘI NĂM 2015

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

VŨ THỊ HẠNH

THỪA CÂN BÉO PHÌ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN

Ở TRẺ EM TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON NỘI,

NGOẠI THÀNH HÀ NỘI NĂM 2015

Chuyên ngành : Dinh dưỡng

Mã số : 60720303

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC

Người hướng dẫn khoa học

PGS.TS LÊ THỊ HƯƠNG

Trang 4

Với tất cả sự kính trọng, tôi xin bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:

- Ban giám hiệu Trường Đại học Y Hà Nội, Lãnh đạo Viện đào tạo Y

học dự phòng và Y tế cộng cộng, phòng đào tạo sau đại học và Quý Thầy

Cô Bộ môn Dinh dưỡng đã tạo kiều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập

và hoàn thành luận văn.

- PGS.TS Lê Thị Hương viện trưởng, người thầy trực tiếphướng dẫn,

tận tâm giảng dạy, giúp đỡ và chỉ bảo cho tôi những kinh nghiệm quý báu trong học tập và quá trình thực hiện nghiên cứu

- Các thầy cô trong hội đồng chấm luận văn Viện đào tạo Y học dự

phòng và y tế công cộng, hội đồng thông qua đề cương,những người Thầy đã đóng góp cho tôi những ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn này

- Ban Giám đốc cùng toàn thể anh chị em đồng nghiệp Bệnh Viện

Phục Hồi chức năng đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập.

-Ban giám hiệu, quý Thầy Cô của 4 trường mầm non: Trường Mầm

non Thành Công, Trường Mầm non 20/10; Trường Mầm non xã Kim Sơn và Trường Mầm non xã Đặng Xá, đã giúp đỡ tôi khi đến lấy số liệu.

- Cuối cùng Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn tới Chồng vànhững

người thântrong gia đình đã luôn động viện giúp đỡ tôi trong quá trình học

tập và là chỗ dựa vững chắc về cả vật chất lẫn tinh thần cho tôi Cảm ơn các anh chị em những người bạn thân thiết đã cùng tôi chia sẻ những ngày khó khăn vất vả trong học tập và nghiên cứu.

Trang 5

Tôi là Vũ Thị Hạnh, học viên cao học khoá 23 Trường Đại học Y HàNội, chuyên ngành Dinh dưỡng, xin cam đoan:

1 Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiệndưới sự hướng dẫn của PGS TS Lê Thị Hương

2 Công trình này không trùng lặp với bất kì nghiên cứu nào khác đã đượccông bố tại Việt Nam

3 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trungthực và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sở nơinghiên cứu

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này

Hà Nội, ngày 25 tháng 03 năm 2016

Tác giả

Vũ Thị Hạnh

Trang 6

ASEAN : Các nước khu vực Đông Nam ÁBMI : Chỉ số khối cơ thể

BP : Béo phì

CN/CC : Cân nặng, chiều cao

CNSS : Cân nặng sơ sinh

OECD : Tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triểnSDD : Suy dinh dưỡng

TC, BP : Thừa cân, béo phì

TP : Thành phố

TP HCM : Thành phố Hồ Chí Minh

WHO : Tổ chức Y tế Thế giới

Trang 7

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3

1.1 Một số khái niệm 3

1.1.1 Thừa cân béo phì 3

1.1.2 Phương pháp đánh giá thừa cân béo phì 3

1.1.3 Cơ chế sinh lý thừa cân béo phì 5

1.1.4 Tác hại của thừa cân béo phì đối với trẻ 5

1.1.5 Sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em ở lứa tuổi mẫu giáo 6

1.2 Tình hình thừa cân béo phì trên thế giới và tại Việt Nam 7

1.2.1 Trên thế giới 7

1.2.2 Tại Việt Nam 9

1.3 Một số yếu tố liên quan tới thừa cân béo phì 11

1.3.1 Khấu phần dinh dưỡng và thói quen ăn uống 11

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 19

2.3 Phương pháp nghiên cứu 19

2.3.1.Thiết kế nghiên cứu 19

2.3.2 Công cụ và kỹ thuật thu thập thông tin 21

2.3.3 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ bằng sử dụng chỉ số khối

Trang 8

3.2 Tình trạng thừa cân – béo phì ở trẻ 26

3.3 Thói quen dinh dưỡng, vận động của trẻ và kiến thức của bà mẹ vềphòng tránh thừa cân béo phì 29

3.3.1 Thói quen dinh dưỡng của trẻ 29

3.3.2 Thói quen vận động của trẻ 34

3.3.3 Kiến thức về chăm sóc trẻ và phòng tránh thừa cân béo phì ở trẻ của bà

mẹ 36 3.4 Một số yếu tố nguy cơ liên quan đến thừa cân, béo phì ở trẻ từ 3 – 5tuổi tại Hà Nội 37

3.4.1 Kinh tế HGĐ và tỷ lệ thừa cân béo phì 37

3.4.2 Thói quen ăn uống của trẻ và tỷ lệ thừa cân béo phì 38

3.4.3 Thói quen vận động của trẻ và tỷ lệ thừa cân béo phì 40

3.4.4 Thói quen nghỉ ngơi của trẻ và tỷ lệ thừa cân béo phì 41

3.4.5 Tiền sử gia đình và tỷ lệ thừa cân béo phì 42

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 43

4.1 Thực trạng thừa cân béo phì ở trẻ em từ 3 -5 tuổi ở một số trường mầmnon tại nội, ngoại thành Hà Nội năm 2015 43

4.1.1 Chiều cao, cân nặng trung bình 43

4.1.2 Xác định tỷ lệ thừa cân, béo phì ở trẻ 44

4.2 Một số yếu tố liên quan đến thừa cân béo phì ở trẻ em các trường mầmnon trên 46

4.2.1 Giới tính và tỷ lệ trẻ thừa cân béo phì 46

4.2.2 Tuổi và tỷ lệ trẻ thừa cân béo phì 47

4.2.3 Mối liên quan giữa kinh tế gia đình và tỷ lệ trẻ thừa cân béo phì

Trang 9

4.2.7.Mối liên quan giữa thời gian đi ngủ và số thời gian ngủ trong ngày

với trẻ TCBP 51

4.2.8 Mối liên quan giữa trọng lượng khi sinh với trẻ TCBP 52

4.2.9 Mối tương quan thừa cân béo phì của trẻ với thói quen ăn uống của trẻ

1.1.1 Thừa cân béo phì 3

1.1.2 Phương pháp đánh giá thừa cân béo phì 3

1.1.3 Sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em ở lứa tuổi mẫu giáo 5

1.2 Tình hình thừa cân béo phì trên thế giới và tại Việt Nam 5

1.2.1 Trên thế giới 5

1.2.2 Tại Việt Nam 8

1.3 Một số yếu tố liên quan tới thừa cân béo phì 9

1.3.1 Khấu phần dinh dưỡng và thói quen ăn uống 9

1.3.2 Hoạt động thể lực 10

1.3.3 Yếu tố gia đình 13

1.3.4 Yếu tố di truyền 14

1.3.5 Một số yếu tố khác 16

1.4 Cơ chế sinh lý thừa cân béo phì18

1.5 Tác hại của thừa cân béo phì đối với trẻ 19

CHƯƠNG 2:ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU20

Trang 10

2.3 Phương pháp nghiên cứu20

2.3.1.Thiết kế nghiên cứu 20

2.3.2 Công cụ và kỹ thuật thu thập thông tin 25

2.3.3 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ bằng sử dụng chỉ số khối

cơ thể (Body mass index – BMI) 28

2.3.4 Các biện pháp khống chế sai số 28

2.3.5 Nhập và xử lý số liệu 28

2.4 Thời gian nghiên cứu 29

CHƯƠNG 3:KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30

3.1 Thông tin chung 30

3.2 Tình trạng thừa cân – béo phì ở trẻ 32

3.2.1 Chiều cao, cân nặng trung bình của trẻ 3-5 tuổi 32

3.2.2 Chiều cao trung bình của trẻ 3-5 tuổi 33

3.2.3 Tỷ lệ thừa cân béo phì trẻ 3-5 tuổi 34

3.2.4.Tỷ lệ thừa cân béo phì trẻ 3-5 tuổi theo giới 35

3.2.5 Tỷ lệ thừa cân béo phì trẻ 3-5 tuổi theo nhóm tuổi 37

3.3 Kiến thức về chăm sóc trẻ và phòng tránh thừa cân béo phì ở trẻ của bà

mẹ 37

3.4 Một số yếu tố nguy cơ liên quan đến thừa cân, béo phì ở trẻ từ 3 – 5tuổi tại Hà Nội 40

3.4.1 Kinh tế HGĐ và tỷ lệ thừa cân béo phì 40

3.4.2 Thói quen dinh dưỡng của trẻ 42

3.4.3 Thói quen vận động của trẻ và tỷ lệ thừa cân béo phì 48

3.4.4 Tiền sử gia đình và tỷ lệ thừa cân béo phì 52

Trang 11

non trên 57

4.2.1 Giới tính và tỷ lệ trẻ thừa cân béo phì 57

4.2.2 Tuổi và tỷ lệ trẻ thừa cân béo phì 58

4.2.2 Mối liên quan giữa kinh tế gia đình và tỷ lệ trẻ thừa cân béo phì

Trang 12

Bảng 3.1 Phân bố trẻ theo giới 24

Bảng 3.2 Phân bố trẻ theo tuổi 24

Bảng 3.3 Số con và thứ tự của trẻ trong hộ gia đình 25

Bảng 3.4 Điều kiện kinh tế hộ gia đình và chi phí mua thức ăn cho trẻ 25 Bảng 3.5 Cân nặng trung bình của trẻ 3-5 tuổi 26

Bảng 3.6 Chiều cao trung bình của trẻ 3-5 tuổi 26

Bảng 3.7 Thực hành ăn uống của trẻ 3-5 tuổi 29

Bảng 3.8 Thực hành ăn vặt của trẻ 3-5 tuổi 30

Bảng 3.9 Số giờ giải trí của trẻ trong ngày 35

Bảng 3.10 Kiến thức về chăm sóc trẻ của bà mẹ 36

Bảng 3.11 Kiến thức đúng về phòng tránh thừa cân béo phì cho trẻ 37 Bảng 3.12 Liên quan giữa kinh tế hộ gia đình và tỷ lệ thừa cân béo phì 37 Bảng 3.13 Liên quan giữa thói quen ăn uống của trẻ và tỷ lệ TCBP 38 Bảng 3.14 Mối liên quan giữa một số thói quen thích ăn một số loại thực phẩm

của trẻ và tỷ lệ thừa cân béo phì 39 Bảng 3.15 Mối liên quan giữa tần suất ăn thường xuyên một số loại thực phẩm

của trẻ và tỷ lệ thừa cân béo phì 39 Bảng 3.16 Mối liên quan giữa thói quen vận động của trẻ và tỷ lệ thừa cân béo

phì 40 Bảng 3.17 Mối liên quan giữa thói quen nghỉ ngơi của trẻ và tỷ lệ TCBP

41 Bảng 3.18 Mối liên quan giữa yếu tố gia đình và tỷ lệ thừa cân béo phì 42 Bảng 3.19 Mối liên quan giữa cân nặng sơ sinh và tỷ lệ thừa cân béo phì

42 Bảng 3.1 Phân bố trẻ theo giới, khu vực30

Bảng 3.2 Phân bố trẻ theo tuổi 31

Bảng 3.3 Số con và thứ tự của trẻ trong hộ gia đình 32

Bảng 3.4 Cân nặng trung bình của trẻ 3-5 tuổi (kg) theo khu vực 32

Trang 13

Bảng 3.7 Chiều cao trung bình của trẻ 3-5 tuổi (cm) theo giới 34

Bảng 3.8 Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em 3 -5 tuổi 35

Bảng 3.9 Kiến thức về chăm sóc trẻ của bà mẹ37

Bảng 3.10 Kiến thức đúng về phòng tránh thừa cân béo phì cho trẻ 38

Bảng 3.11 Điều kiện kinh tế hộ gia đình và chi phí mua thức ăn cho trẻ 40 Bảng 3.12 Liên quan giữa kinh tế hộ gia đình và tỷ lệ thừa cân béo phì 41 Bảng 3.13 Thói quen ăn uống của trẻ 3-5 tuổi 42

Bảng 3.14 Thói quen ăn vặt của trẻ 3-5 tuổi 43

Bảng 3.15 Liên quan giữa thói quen ăn uống của trẻ và tỷ lệ TCBP46

Bảng 3.16 Mối liên quan giữa một số thói quen thích ăn một số loại thực phẩm

của trẻ và tỷ lệ thừa cân béo phì 47 Bảng 3.17 Mối liên quan giữa tần suất ăn thường xuyên một số loại thực phẩm

của trẻ và tỷ lệ thừa cân béo phì 48 Bảng 3.18 Số giờ giải trí của trẻ trong ngày 49

Bảng 3.19 Mối liên quan giữa thói quen vận động của trẻ và tỷ lệ thừa cân béo

phì 50 Bảng 3.20 Mối liên quan giữa thói quen nghỉ ngơi của trẻ và tỷ lệ TCBP 51 Bảng 3.21 Mối liên quan giữa yếu tố gia đình và tỷ lệ thừa cân béo phì 52 Bảng 3.22 Mối liên quan giữa cân nặng sơ sinh và tỷ lệ thừa cân béo phì 53

Trang 15

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ thừa cân béo phì trẻ 3-5 tuổi tại các trường mầm non 35

Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ thừa cân béo phì trẻ 3-5 tuổi theo giới 36

Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ thừa cân béo phì trẻ 3-5 tuổi theo nhóm tuổi 37

Biểu đồ 3.4 Thực phầm trẻ thích ăn 44

Biểu đồ 3.5 Loại thực phẩm yêu thích của trẻ 45

Biểu đồ 3.6 Cách chế biến thức phẩm trẻ thích ăn 45

Biểu đồ 3.7 Tần suất xuất hiện một số loại thực phẩm trong thực đơn của trẻ 46

Biểu đồ 3.8 Mức độ hiếu động của trẻ 48

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ thừa cân béo phì trẻ 3-5 tuôi tại các trường mầm non .27

Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ thừa cân béo phì trẻ 3-5 tuôi theo giới .28

Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ thừa cân béo phì trẻ 3-5 tuôi theo nhóm tuổi .28

Biểu đồ 3.4 Thực phầm trẻ thích ăn .31

Biểu đồ 3.5 Loại thực phẩm yêu thích của trẻ .32

Biểu đồ 3.6 Cách chế biến thức phẩm trẻ thích ăn .33

Biểu đồ 3.7 Tần suất xuất hiện một số loại thực phẩm trong thực đơn của trẻ 33

Biểu đồ 3.8 Mức độ hiếu động của trẻ .34

Trang 16

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong nhiều năm trở lại đây tình trạng thừa cân béo phì đang gia tăngđặc biệt là tỷ lệ thừa cân béo phì trẻ em đang là một trong những vấn đề quantrọng cho sức khỏe cộng đồng và là một trong những mối quan tâm hàng đầu

ở các quốc gia đã và đang phát triển Béo phì ở trẻ em làm ngừng tăng trưởngsớm, dễ dẫn tới những ảnh hưởng nặng nề về tâm lý ở trẻ như tự ti, nhút nhát,kém hòa đồng, học kém Béo phì ở trẻ em có thể là nguồn gốc thảm họa củasức khỏe trong tương lai [1],[2]

Thừa cân béo phì là đại dịch không chỉ giới hạn ở các nước công nghiệp,

mà đến 115 triệu người thừa cân béo phì là ở các nước đang phát triển, tốc độgia tăng cao tại các thành thị [3], [4] Năm 1997, Ban chuyên gia tư vấn Tổchức Y tế Thế giới nhận định tình hình thừa cân béo phì ở trẻ nhỏ là một vấn

đề sức khỏe phát sinh mới cần được quan tâm [5] Nghiên cứu tại Nhật Bảncho thấy khoảng 1/3 trẻ nhỏ thừa cân béo phì sẽ tiếp tục thừa cân béo phì đếnkhi trưởng thành [6] Thừa cân béo phì cũng là một trong các nguyên nhângóp phần gia tăng các bệnh mạn tính ở người trưởng thành như tăng huyết áp,đái tháo đường, là gánh nặng cho ngành y tế và cho xã hội [7]

Năm 2010, theo tạp chí dinh dưỡng lâm sàng Hoa Kỳ, điều tra ở 144quốc gia cho thấy tỷ lệ béo phì ở trẻ em dưới 5 tuổi tăng từ 4,2% năm 1990lên 6,7% năm 2010 và dự báo có thể tăng lên 9,1% vào năm 2020[8]

Nguyên nhân chủ yếu của thừa cân béo phì là do sử dụng thức ăn quánhiều năng lượng cùng với ít vận động [9] Ngoài ra, một số yếu tố có thể gây

ra thừa cân béo phì như di truyền, bệnh lý, thay đổi môi trường sống [10] Cácyếu tố ảnh hưởng tình trạng thừa cân béo phì ở trẻ là: khẩu phần ăn, tập quán

ăn uống, yếu tố kinh tế xã hội, tính chất gia đình, nhận thức của cha mẹ họcsinh [11]

Trang 17

Điều trị thừa cân béo phì rất khó khăn, tốn kém mà kết quả không mấy khảquan nhưng lại có thể phòng ngừa được [12] Ước tính thừa cân béo phì và cáchậu quả của nó làm tiêu tốn khoảng 2% đến 7% tổng chi tiêu y tế [13].

Do đó,chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài“Thừa cân béo phì và một

sốyếu tố liên quan ở trẻ em tại một số trường mầm non nội, ngoại thành

Hà Nội năm 2015”

Mục tiêu nghiên cứu.

1 Xác định tỷ lệ thừa cân béo phì ở trẻ em ở một số trường mầm non tại nội, ngoại thành Hà Nội năm 2015.

2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến thừa cân béo phì ở trẻ em các trường mầm non trên.

Trang 18

CHƯƠNG 1TỔNG QUAN

Tổ chức WHO định nghĩa béo phì là tình trạng tích lũy mỡ quá mức vàkhông bình thường tại một vùng cơ thể hay toàn thân đến mức ảnh hưởng tớisức khỏe

Bệnh béo phì là hậu quả của việc mô mỡ xuất hiện và tích tụ quá nhiều,tùy theo mức độ mà có thể là béo phì cục bộ hoặc toàn cơ thể Béo phì là tìnhtrạng sức khỏe có nguyên nhân dinh dưỡng. Béo phì gây ra nhiều tác hại đến

sức khỏe, cũng như ảnh hưởng xấu đến ngoại hình Người bị béo phì ngoàithân hình phì, nặng nề, khó coi, còn có thể là nguyên nhân trực tiếp hoặc làyếu tố thuận lợi hoặc là cả hai của nhiều bệnh như rối loạn lipit máu, tănghuyết áp, sỏi mật, đái tháo đường, xương khớp, và thậm chí là ung thư

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Thừa cân béo phì

Thừa cân là tình trạng cân nặng vượt quá cân nặng “nên có” so với chiều

cao [102].

Béo phì là một tình trạng bệnh lý mà nguyên nhân là do cơ thể tích tụmột lượng chất béo dư thừa đến mức nó có thể có tác động tiêu cực đến sứckhỏe, làm tăng nguy cơ mắc các bệnh như: tim mạch, tiểu đường, ngưng thởkhi ngủ, viêm khớp [103]

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thừa cân béo phì là tình trạng tích tụ

mỡ cao hoặc bất thường trong cơ thể có khả năng gây ảnh hưởng sức khoẻ

1.1.2 Phương pháp đánh giá thừa cân béo phì

Sự phát triển cơ thể thay đổi theo tuổi, vì vậy không thể áp dụng mộtchuẩn chung để đánh giá tình trạng thừa cân béo phì cho mọi lứa tuổi, nhất là

Trang 19

ở trẻ em lứa tuổi tiền học đường [104], [105] Tổ chức Y tế Thế giới chia 4nhóm tuổi để đánh giá tình trạng dinh dưỡng: dưới 5 tuổi, từ 5-9 tuổi, từ 10-

19 tuổi, trên 19 tuổi [105], [106]

- Cân nặng theo tuổi: Cân nặng theo tuổi cao phản ánh tình trạng thừacân nói chung, chỉ tiêu cân nặng theo tuổi phản ánh tốc độ phát triểncủa đứa trẻ

- Chiều cao theo tuổi: Chỉ số chiều cao theo tuổi phản ánh tình trạng dinhdưỡng kéo dài hoặc thuộc về quá khứ

- Cân nặng theo chiều cao: Cân nặng theo chiều cao cao phản ánh tìnhtrạng dinh dưỡng ở thời kỳ hiện tại, gần đây, làm cho đứa trẻ thừa cânhoặc béo phì Chính vì vậy thừa cân, béo phì đươc đánh giá theo cânnặng theo chiều cao là chỉ tiêu thích hợp nhất để đánh giá tình trạngdinh dưỡng trẻ em

Chỉ số khối cơ thể (Body Mass Index: BMI) theo tuổi và giới được sửdụng để đánh giá thừa cân béo phì theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thếgiới với quần thể tham khảo từ 6 quốc gia: Brazil, Ghana, Ấn Độ, Na Uy,Oman và Mỹ

BMI được tính theo công thức sau: [107]

Ở trẻ em, hai chỉ số thường dùng nhất để đánh giá tình trạng thừa cânbéo phì của trẻ là chỉ số cân nặng/chiều cao (CN/CC) và chỉ số BMI theo tuổi

và giới [107],[108]

Cách đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em (cho các lứa tuổi) dựa vào Score của các chỉ số: gồm cân nặng, chiều cao (hoặc Chiều dài nằm theo tuổi,nếu là trẻ em dưới 2 tuổi) BMI theo tuổi với chỉ số BMI theo tuổi ở lứa tuổidưới 5, nếu Z-Score>2 thì trẻ thừa cân, Z-Score >3 thì trẻ béo phì [109]

Trang 20

Z-1.1.3 Cơ chế sinh lý thừa cân béo phì

Theo Tổ chức Y tế Thế giới thừa cân béo phì trải qua 3 giai đoạn: tiềnbéo phì, tăng cân, giữ và duy trì cân nặng [11089] Trong giai đoạn tiền béophì, do thu nạp năng lượng cân bằng với sử dụng năng lượng nên đối tượngkhông tăng cân Trong giai đoạn tăng cân, có sự mất cân bằng năng lượng,trong một thời gian dài do năng lượng cung cấp cao hơn năng lượng tiêu haonên có hiện tượng tăng cân [11190],[11089] Ở giai đoạn giữ và duy trì cânnặng, đối tượng lập lại sự cân bằng năng lượng ở một mức mới cao hơn mức

cũ Cơ thể đã quen với trọng lượng cơ thể gia tăng gồm cả mỡ và khối cơ nên

sẽ có khuynh hướng duy trì cân nặng mới này [11089]

Các lý do khiến mỡ tích tụ trong cơ thể có thể kể như sau Mỡ cung cấpnăng lượng cao hơn về đậm độ so với các loại thực phẩm khác Lượng dự trữ

mỡ trong cơ thể là không giới hạn Lượng mỡ ăn vào có thể được dự trữ trongcác mô mỡ với tỉ lệ có thể lên đến 96% của lượng mỡ ăn vào và việc ăn nhiều

mỡ không làm gia tăng đáng kể ôxy hóa mỡ Cơ chế kiểm soát ăn vào đối với

mỡ rất yếu, có thể thấy cân bằng chất bột đường và cân bằng chất đạm đượcđiều hòa khá tốt trong khi cân bằng mỡ lại không được điều hòa tốt như vậy

và mỡ không chuyển hóa sang nhóm khác [11089]

1.1.4 Tác hại của thừa cân béo phì đối với trẻ

Thừa cân béo phì là yếu tố nguy cơ của các bệnh không lây Nhiều tàiliệu cho biết thừa cân béo phì làm gia tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạchnhư tăng huyết áp, đột quị, hội chứng chuyển hóa, tiểu đường týp 2, một sốung thư như túi mật, vú, đại tràng, tiền liệt tuyến và thận [11291],[11392],[11493]

Thừa cân béo phì ảnh hưởng tâm lý trẻ: trẻ bị bạn bè trong lớp trêu chọc,

bị chê cười, bị đặt các biệt danh làm cho trẻ cảm thấy mặc cảm và chịu áp lựctâm lý Nghiên cứu tại Mỹ của Deckelbaum cho thấy trẻ thừa cân béo phì bị

Trang 21

mặc cảm, kém tự tin, ngại giao tiếp với bạn, lo lắng, trầm cảm, và thườngxuyên có cảm giác bị bỏ rơi hơn trẻ bình thường [957] Năm 2005, nghiêncứu tại Bình Định của Hà Văn Thiệu ở trẻ 6 đến 15 tuổi có 16% trẻ thừa cânbéo phì bị tổn thương tâm lý [11190]

Trẻ thừa cân béo phì và Hội chứng thông khí kém: Trẻ thừa cân béo phì

dễ mắc phải hội chứng thông khí kém do mỡ tập trung trong khoang bụng vàbên ngoài lồng ngực làm cho cử động hô hấp và chuyển động cơ hoành hạnchế Trẻ dễ có cảm giác loạn nhịp thở, thở gấp và rối loạn thông khí khi giatăng vận động Ban ngày trẻ mệt mỏi, ít vận động, ngáp vặt, thở ngắn Ảnhhưởng của thừa cân béo phì lên hô hấp cần được quan tâm, nhất là khả nănggây ngưng thở lúc ngủ Thừa cân béo phì ảnh hưởng đến chức năng hô hấpbằng cách giảm suất đàn hồi của phổi và lồng ngực đưa đến giảm thông khíphế bào và gây hội chứng ngưng thở lúc ngủ Hội chứng ngưng thở lúc ngủđược định nghĩa là sự xuất hiện đột ngột sự dừng thở ít nhất 10 giây và hơn 5lần mỗi giờ Hội chứng này đưa đến thiếu khí về đêm và thường xảy ra ởngười béo phì có BMI > 35 Tuy nhiên, hội chứng này không đặc hiệu chothừa cân béo phì [10113]

1.1.5 Sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em ở lứa tuổi mẫu giáo

1.1.5.1 Đặc điểm sinh lý vận động

Sự phát triển ở trẻ em có tính chất toàn diện về thể chất, tâm thần và vậnđộng Các giai đoạn phát triển này thường được chia thành sáu thời kỳ: bàothai, sơ sinh, nhũ nhi, răng sữa, thiếu niên, dậy thì Giai đoạn từ 1 đến 6 tuổi(thời kỳ răng sữa) được chia làm hai thời kỳ: lứa tuổi nhà trẻ từ 1-3 tuổi vàmẫu giáo từ 4-6 tuổi Giai đoạn mẫu giáo có đặc điểm là tốc độ lớn của trẻchậm dần, trẻ mất dạng mập tròn mà thon dần Về cân nặng, mỗi năm trẻ tăngtrung bình 2000 gam Chiều cao lúc 4 tuổi là 1m gấp đôi so với lúc mới sinh

Tổ chức não đạt mức 100% trưởng thành lúc trẻ 6 tuổi

Trang 22

1.1.5.2 Đặc điểm tâm lý

Trẻ ham thích tìm hiểu môi trường xung quanh, thích bạn bè, nói rành rọt,biết hát, đếm số, học vẽ Trẻ điều khiển được một số động tác, trở nên khéo léo.Vào cuối giai đoạn mẫu giáo trẻ bắt đầu thích ăn một số thức ăn cứng và chánthức ăn mềm Ở giai đoạn này trò chơi là hoạt động giúp trẻ hình thành trítưởng tượng, nhân cách và tư duy [11514]

1.2 Tình hình thừa cân béo phì trên thế giới và tại Việt Nam

1.2.1.Trên thế giới

Theo tài liệu của tổ chức y tế thế giới WHO công bố, số người thừa cânbéo phì đã tăng lên gấp đôi so với năm 1980 Trong năm 2014, hơn 1,9 tỷngười, từ 18 tuổi trở lên, bị thừa cân, trong số này có hơn 600 triệu người béophì Trong năm 2013 có khoảng 43 triệu trẻ em bị thừa cân béo phì Không chỉgia tăng ở các quốc gia phát triển mà ở các quốc gia đang phát triển và chậmphát triển tỷ lệ thừa cân béo phì cũng gia tăng đặc biệt ở các thành phố [116].Thừa cân béo phì ở trẻ em đã tới mức đáng báo động trong thế kỷ 21, với

tỷ lệ tăng ở cả các nước phát triển và đang phát triển [117]

Theo WHO, xu hướng tới thừa cân béo phì sẽ thay thế tình trạng suydinh dưỡng, các bệnh truyền nhiễm trong các mối quan ngại chủ yếu do tínhphổ biến, chi phí điều trị và ảnh hưởng đến sức khỏe [118], [119]

Trong giai đoạn nền kinh tế tư bản phát triển bùng nổ, thừa cân béo phìảnh hưởng ngày càng lớn đến sức khỏe của người dân [120] Năm 1997,WHO chính thức cho rằng thừa cân béo phì như một đại dịch toàn cầu [121].Tại các nước đã phát triển, thừa cân béo phì đang gia tăng đến mức báođộng và là một nạn dịch [122], [123], [124] Tại Mỹ, giai đoạn 1986-1998 có

sự gia tăng 50% tỷ lệ trẻ em thừa cân béo phì trong một thập niên và đạt đến

tỷ lệ 21,5% ở trẻ em da đen tại Mỹ [125] Đến năm 2002, một khảo sát ở trẻ 6

Trang 23

đến 19 tuổi tại Mỹ cho tỷ lệ thừa cân béo phì là 31%, trong đó béo phì là 16%[126] Trong năm 2003-2004 tỷ lệ thừa cân béo phì ở trẻ 2-5 tuổi tại Mỹ là26,2% [127] Trong giai đọan 1999 đến 2006 tỷ lệ này không gia tăng nhiều,điều tra năm 2007-2008 tại Mỹ các trẻ từ 2 đến 19 tuổi có tỷ lệ thừa cân béophì là 31,7% [128] Thừa cân béo phì trẻ em hiện nay đang là vấn đề y tế côngcộng tại Mỹ Tại Anh, con số tỷ lệ thừa cân béo phì ở trẻ em nước này tăngnhanh Trong một thập kỷ từ 1989 đến 1998 số trẻ em thừa cân béo phì ở 3 - 4tuổi tăng 60% và 70% Tại Pháp, số trẻ em béo phì tăng gấp đôi trong 15năm, đạt mức 10-12% trẻ Pháp bị thừa cân béo phì Tại Nhật, trẻ 6-14 tuổiNhật có tỷ lệ béo phì là 5-11% [129] Tỷ lệ thừa cân béo phì ở người lớn Nhậtnăm 2005 là 18,1% ở nữ, và 27,0% ở nam Dự báo đến năm 2015, tỷ lệ thừacân béo phì của Nhật ở nam và nữ trưởng thành (trên 15 tuổi) như sau: nữ24,4%, nam 32,7% [130] Theo dõi thừa cân béo phì tại Nhật trong 22 năm(1974-1995) cho kết quả 32% trẻ trai béo phì và 41% trẻ gái béo phì tiếp tụcbéo phì khi đã trưởng thành [946].

Trong báo cáo của Tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển (OECD), cómột tỷ lệ không nhỏ 18% dân số thuộc các nước OECD bị béo phì, cứ 5 đứatrẻ thì có 1 bị béo phì, tỷ lệ thừa cân béo phì trong vòng 5 năm tính đến tháng6/2014 tăng mạnh [131]

Tại châu Á, tỷ lệ TC, BP lứa tuổi học sinh cũng gia tăng nhanh chóng.Tại Trung Quốc, các cuộc điều tra theo 4 giai đoạn khác nhau trong khoảng từnăm 1989 và 1997 thấy tỷ lệ thừa cân ở trẻ em từ 2 đến 6 tuổi tăng rất nhanh

từ 15% lên 29%, đặc biệt ở các vùng đô thị [132] Ở Thái Lan, trong nhữngnăm 1990, tỷ lệ BP ở trẻ từ 6 – 12 tuổi tăng từ 12% lên 16% chỉ trong vòng 2năm [133] Hiện nay, béo phì ở trẻ em đã trở thành vấn đề sức khoẻ ưu tiênthứ hai trong phòng chống bệnh tật ở các nước châu Á và được xem như làmột trong những thách thức đối với ngành dinh dưỡng và y tế [134], một số

Trang 24

nước có tỷ lệ thừa cân béo phì rất cao như Brunei 63,2% ở nữ và 56,4% ởnam Việt Nam và Cambodia có tỷ lệ thừa cân béo phì ban đầu thấp nhưngsau 10 năm (2005-2015) tỷ lệ này sẽ tăng lên đáng kể Tỷ lệ thừa cân béo phì

ở phụ nữ Lào khá cao do theo văn hóa Lào hình ảnh phụ nữ mập mạp là biểuhiện của sức khỏe và sự sung túc Dự báo các nước khác trong khối ASEAN

có hiện tượng nữ giới gia tăng tỷ lệ thừa cân béo phì nhanh hơn nam giới.Philippine, Thái Lan, Indonesia, Malaysia tỷ lệ thừa cân béo phì ở nam giớikhông tăng nhiều nhưng ở nữ giới lại tăng từ 28,5% lên 38,8%, 35,2% lên44,7%; 22,7% lên 31,8%, 37,2% lên 47,2%, tương ứng [135], [136] Trong 2thập kỷ qua, tỷ lệ TC, BP dường như đã không tăng ở Châu Mỹ La tinh (ướctính khoảng 4 triệu trẻ bị mắc TC, BP vào năm 1990, 2000 và 2010) Trongkhi đó tỷ lệ này tăng rất cao ở Châu Phi (từ 4% năm 1990, lên 5,7% năm 2000

và 8,5% năm 2010), số lượng trẻ em bị mắc TC, BP tăng từ 4 triệu trẻ lên 13triệu trẻ vào năm 2010 Ở Châu Á, tuy tỷ lệ TC, BP không cao như Châu Phi,nhưng số lượng trẻ bị TC, BP thì rất cao (tăng từ 13 triệu trẻ em năm 1990 lên

18 triệu năm 2010), cao nhất trong 3 Châu lục [137], [138]

Trang 25

1.2.2 Tại Việt Nam

Tại Việt Nam, trước năm 1995, không có một công bố dịch tễ học nàonhắc đến vấn đề béo phì ở người Việt, tỷ lệ người thừa cân rất ít Nhưng đếnnăm 2000, theo kết quả tổng điều tra dinh dưỡng toàn quốc thì tỷ lệ thừa câncủa phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ từ 15 – 49 tuổi là 9,2% (ở thành phố) và 3,0% (ởnông thôn) [140]

Ở trẻ nhỏ: Theo dõi tình trạng dinh dưỡng của trẻ tại các thành phố lớnnhư Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Nha Trang các nghiên cứu đều cho thấykhuynh hướng gia tăng tỷ lệ thừa cân béo phì ở trẻ lứa tuổi mẫu giáo, họcsinh tiểu học Năm 2000trẻ em ở tuổi 6 – 14 có tỷ lệ thừa cân là 6,6% (ởthành phố) và 1,2% (ở nông thôn) [140] Đặc biệt ở trẻ em dưới 5 tuổi tỷ lệthừa cân béo phì gia tăng nhanh, năm 2011 tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị thừa cânbéo phì là 4,8% gia tăng gấp 6 lần so với số liệu năm 2000 [139]

Một số khảo sát gần đây tại các thành phố lớn ở Việt Nam như Hà Nội, TP.HCM… đều cho thấy tỷ lệ thừa cân béo phì ở trẻ em có hiện tượng gia tăng.Tại Hà Nội, năm 2000 tỷ lệ thừa cân béo phì ở trẻ là 5,6% [9911], Năm

2003, tỷ lệ TC, BP ở trẻ em từ 7 – 12 tuổi ở nội thành TP Hà Nội là 7,9%(nam: 8,5%, nữ: 7,2%) và đã có rối loạn lipit máu ở trẻ bị TC, BP: 66,7% tăngTriglyxerit máu, 10,5% tăng Cholesterol toàn phần và 5,7% tăng LDL – C[141], đến năm 2012, tỷ lệ trẻ thừa cân béo phì của trẻ từ 6 – 14 tuổi Hà Nội

là 10,7% trong đó béo phì là 3% [142]

Tại TP HCM, năm 2000, tỷ lệ trẻ 4-5 tuổi thừa cân béo phì là 3,1%, điềutra năm 2006 trên 670 trẻ 4-5 tuổi tại thành phố Hồ Chí Minh của Huỳnh ThịThu Diệu cho thấy ở lứa tuổi tiền học đường tỷ lệ thừa cân là 20,5% và béo phì

Trang 26

là 16,3% [143], năm 2008, tỷ lệ trẻ 4 -5 tuổi tại Q 5 TP HCM thừa cân béo phì

là 21,2% [144] Năm 2000, tỷ lệ TC, BP ở học sinh từ 6 -11 tuổi tại quận HồngBàng, TP Hải Phòng là 10,4% [145], tại Nha Trang, theo dõi diễn biến thừacân béo phì ở trẻ em tiểu học thành phố Nha Trang, Bùi Văn Bảo và cộng sựthấy tỷ lệ thừa cân béo phì tăng nhanh từ 2,7% năm 1997 lên 5,9% năm 2001[146], nghiên cứu tại TP Buôn Ma Thuật, tỷnh Đắc Lắc năm 2004 thấy tỷ lệ

TC, BP ở trẻ em tiểu học từ 6 – 11 tuổi là 10,4%, trong đó tỷ lệ TC, BP ở trẻtrai là 11,1% và trẻ gái là 9,5% [147], nghiên cứu tại TP Huế năm 2007 ở trẻ từ

6 – 10 tuổi thấy tỷ lệ TC, BP là 7,98%, trong đó BP là 1,51% [148], tỷ lệ TC,

BP ở trẻ từ 11 – 15 tuổi là 8,3% [149], nghiên cứu tại Đà Nẵng ở học sinh tiểuhọc năm 2006 – 2007 thấy tỷ lệ TC là 4,9% và nguy cơ TC là 8,7% [150]

1.3 Một số yếu tố liên quan tới thừa cân béo phì

1.3.1 Khấu phần dinh dưỡng và thói quen ăn uống

Cơ thể giữ được cân nặng ổn định là nhờ trạng thái cân bằng giữa nănglượng do thức ăn cung cấp và năng lượng tiêu hao cho lao động và các hoạtđộng khác của cơ thể Cân nặng cơ thể tăng lên có thể do chế độ ăn dư thừavượt quá nhu cầu hoặc do nếp sống làm việc tĩnh tại ít tiêu hao năng lượng.Người ta nhận thấy 60% - 80% trường hợp béo phì là do nguyên nhân dinhdưỡng, bên cạnh đó còn có thể do các rối loạn chuyển hóa trong cơ thể thôngqua vai trò điều tiết của hệ thống thần kinh và các tuyến nội tiết như tuyếnyên, tuyến thượng thận, tuyến giáp trạng và tuyến tụy

Khi vào cơ thể, các chất protein, lipit, gluxit đều có thể chuyển hóa thànhchất béo dự trữ Vì vậy không nên coi ăn nhiều thịt, nhiều mỡ mới gây béo

mà ăn quá thừa chất bột, đường, đồ ngọt đều có thể gây béo Các hành vi ănuống có liên quan tới thừa cân và béo phì bao gồm tần suất ăn/ăn vặt, khẩu

Trang 27

phần ăn quá dư thừa, ăn thức ăn nhanh ở bên ngoài và vấn đề bú sữa mẹ hoàntoàn Các yếu tố dinh dưỡng bao gồm chất béo, các loại carbohydrat (bao gồmcác loại carbohydrat tinh chế như đường), chỉ số đường huyết của thực phẩm

và chất xơ [151]

Qua nhiều thập kỉ nghiên cứu, người ta đã phát hiện ra mối liên quan giữachế độ ăn và tỷ lệ TC, BP ở trẻ em Theo Grund A và cs nghiên cứu thuần tập ởtrẻ từ 3 - 5 tuổi cho thấy tăng % mỡ ăn vào làm tăng chỉ số BMI, ngược lạiLobstein T quan sát thấy trẻ thừa cân ăn ít năng lượng hơn trẻ bình thường[152], [153] Nghiên cứu của Shaw ở trẻ 3 -7 tuổi thấy những trẻ mà cơ thể cónhiều mỡ thì tiêu thụ nhiều chất béo, nhiều năng lượng từ lipit hơn [154] Nghiên cứu tại Mỹ cho thấy thực phẩm chế biến ngoài gia đình chứanăng lượng, chất béo toàn phần, chất béo no, cholesterol và natri cao hơn mộtcách có ý nghĩa so với thức ăn được chuẩn bị ở nhà Người dân Mỹ thường ăn

ở nhà hàng có xu hướng BMI cao hơn những người ăn ở nhà và có tới 30 70% số trẻ em Mỹ có sử dụng thức ăn nhanh tại các nhà hàng và những trẻ

-em này tiêu thụ nhiều hơn 187 kcal/ngày, 228g chất ngọt so với trẻ không sửdụng thức ăn nhanh Những người thường ăn ở ngoài nhiều thường tiêu thụthức ăn có mức năng lượng cao nhiều hơn khi ăn ở nhà [155] Tại Mỹ, trongsuốt 2 thập kỷ qua, tỷ lệ hộ gia đình ăn ở ngoài và ăn các thức chế biến sẵn cónhiều chất béo tăng từ 16% (năm 1977) đến 27% (năm 1995) Trẻ em từ 6 - 19tuổi tiêu thụ thức ăn ngoài gia đình tăng từ 55% (năm 1977) lên 66% (năm1994) [156] Một số nghiên cứu ở Việt Nam lứa tuổi học đường cho thấynhững trẻ hay ăn bữa phụ, nhất là vào buổi tối dễ mắc béo phì [9911], [145],[157], [158]

1.3.2 Hoạt động thể lực

Hoạt động thể lực và chỉ số khối cơ thể:

Trang 28

Cân bằng năng lượng phụ thuộc vào năng lượng ăn vào và năng lượngtiêu hao Ngày nay, sự gia tăng tiêu thụ các thực phẩm giầu năng lượng cùngvới giảm hoạt động thể lực của người dân thành thị đang làm gia tăng tìnhtrạng TC, BP Để giảm cân cần phải kết hợp đồng thời giữa việc giảm nănglượng ăn vào và tăng hoạt động thể lực

Sahota P và cộng sự đã định nghĩa “sự duy trì cân nặng” là mức độ thayđổi của cân nặng không quá 3% trọng lượng cơ thể Khi mức độ này dao động

từ 3% - 5% được gọi là có sự thay đổi cân nặng nhẹ Khi mức độ thay đổi nàyđạt mức từ 5% trở lên được gọi là có sự thay đổi cân nặng rõ rệt [159]

Các nghiên cứu cho thấy hoạt động thể lực từ 13 - 26 MET một tuần cótác dụng giảm từ 1-3% cân nặng và duy trì cân nặng ổn định 13 MET tươngđương với khoảng đi bộ 150 phút với tốc độ 6,4 km/giờ hoặc chạy bộ 75 phútvới tốc độ 9,6 km/giờ Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng liệu pháp “hoạt độngthể lực” hoặc “chế độ ăn” đơn thuần chỉ đóng vai trò rất nhỏ trong điều trị béophì Muốn giảm cân từ 5% trở lên thì phải kết hợp giữa hoạt động thể lực vàkiểm soát chế độ ăn hàng ngày

Grund A và cộng sự khi nghiên cứu mối tương quan giữa hoạt động thểlực và BMI thấy rằng ở các mức hoạt động thể lực 0.9, 4.8, 11.3, 22.6, 46.8MET/một tuần tương ứng với các mức BMI 25.4, 25.3, 25.1, 24.7 và 24.4 kg/

m2[34] Nghiên cứu của Kimm SY và cộng sự cũng chỉ rằng những người cóhoạt động thể lực trung bình ít nhất 30 phút/một ngày trong 5 ngày 1 tuần cóBMI thấp hơn một cách có ý nghĩa thống kê so với những người ít hoạt độngthể lực [160]

Hoạt động thể lực và béo phì:

Béo phì là hậu quả trực tiếp của những thay đổi môi trường sống củacon người có liên quan tới việc dễ dàng tiếp cận với các phương tiện giaothông hiện đại, phương tiện và dụng cụ lao động không tốn nhân lực, phương

Trang 29

tiện giải trí sẵn có tại nhà và thực phẩm cao năng lượng Tỷ lệ mới mắc BPtrong vòng 20 năm qua đã tăng tới 20 - 25% ở Mỹ và đang trở thành đại dịch

ở các nước đang phát triển [161] Các bằng chứng khoa học cho thấy giảmhoạt động thể lực là yếu tố chủ yếu và có tính quyết định hơn so với tăng khẩuphần năng lượng đối với BP Có nhiều nghiên cứu đã chứng minh lợi ích củalối sống tích cực và tăng cường hoạt động thể lực trong phòng chống béo phì.Hoạt động làm giảm đi mức tăng cân của lứa tuổi trung niên Luyện tập có tácđộng ở mức giảm cân trung bình với người TC, BP và có tác dụng giảm cân

bổ sung với người có chế độ ăn giảm năng lượng Hoạt động thể lực giúpgiảm một cách có hiệu quả mỡ bụng và mỡ nội tạng Người có hoạt độngluyện tập thường xuyên thường duy trì mức giảm cân trong một thời gian dàihơn mức giảm cân của người chỉ phụ thuộc vào việc kiểm soát khẩu phần ănđơn thuần [162], [163]

Những thay đổi trong mô hình ăn uống cả ở trẻ em và người lớn luônsong hành với những thay đổi trong mô hình hoạt động thể lực Tình trạngthừa năng lượng của trẻ không chỉ do khẩu phần ăn quá nhiều mà còn do tìnhtrạng không tham gia các hoạt động thể lực, thời gian xem vô tuyến nhiều đãlàm giảm tiêu hao năng lượng ở trẻ và tăng nguy cơ mắc TC, BP ở lứa tuổinày [164]

Hoạt động thể lực bao gồm những hoạt động hàng ngày, các công việcliên quan với hoạt động thể lực và luyện tập thể dục thể thao Trẻ em hoạtđộng thể lực nhiều thì càng có cơ thể khoẻ mạnh, và sẽ ít liên quan đến tănghuyết áp nhất là trẻ dưới 5 tuổi và càng có ít nguy cơ trở thành béo phì khilớn Hoạt động thể thao có vai trò trong giảm tích mỡ, tăng khối nạc, tuynhiên sau khi ngừng tập luyện quá trình này đảo lại Thay đổi giữa khối mỡ

và nạc có thể xảy ra mà không thay đổi về cân nặng, nhưng nếu hoạt động thể

Trang 30

lực được duy trì thường xuyên trong suốt cuộc đời thì việc tăng khối mỡ cóthể bị ngăn chặn [165].

Ngày nay xã hội càng phát triển, chương trình vô tuyến dành cho trẻ emcàng đa dạng và hấp dẫn, số giờ phát sóng lại liên tục trong ngày do đó trẻcàng có nhiều cơ hội tiếp cận với vô tuyến Xem vô tuyến làm giảm hoạt độngthể lực, giảm chuyển hoá cơ bản, tăng ăn vặt đặc biệt là thức ăn giàu béo(Snack) Có tới 54,2% trẻ em 10 tuổi ở Singapore ăn ở các quán bán rongngoài đường, 65% trẻ tiêu thụ 2 - 3 lần thức ăn giàu béo trong một ngày như

mì tôm, nước ngọt, bánh ngọt, thức ăn rán [166] Việc tiếp xúc nhiều vớiquảng cáo thực phẩm trên vô tuyến làm tăng sở thích của trẻ đối với thức ănnhư đường ngọt, bánh kẹo dẫn đến tăng tiêu thụ các sản phẩm này và lànhững yếu tố nguy cơ dễ gây TC, BP [167]

Việc tập luyện nên bắt đầu từ nhỏ, nếu đi kèm với dinh dưỡng thích hợp

sẽ tạo ra lợi ích sức khoẻ tốt nhất, tập luyện lúc nhỏ tuổi còn ngăn chặn được

BP đặc biệt trong giai đoạn trẻ phát triển nhanh Người ta còn thấy những trẻhay hoạt động thể lực có điểm thể dục cao hơn trẻ ít hoạt động thể lực Nhữngtrẻ em béo phì thường ít hoạt động hơn những trẻ cùng lứa tuổi, chúng kémnhanh nhẹn và đôi khi còn xấu hổ hoặc gặp khó khăn khi tham gia các hoạtđộng thể thao [168]

1.3.3 Yếu tố gia đình

Một số nghiên cứu đã cho thấy thừa cân béo phì có tính gia đình: Càngnhiều cá nhân trong gia đình bị TC thì nguy cơ TC của các thành viên khác tronggia đình càng cao Hiện nay đã có những bằng chứng kết luận rằng BP thường

do yếu tố môi trường tác động lên những cá thể có khuynh hướng di truyền[169],[170],[171]

Kết quả nghiên cứu trong nước cho thấy tiền sử gia đình có BP là yếu tốnổi bật trong các yếu tố nguy cơ của BP trẻ em Nghiên cứu của Lê Thị Hải

Trang 31

năm 1998 ở học sinh tiểu học từ 6 đến 11 tuổi tại TP Hà Nội nhận thấy nếutrẻ có bố và mẹ béo thì nguy cơ BP gấp 4,8 lần, mẹ bị béo thì nguy cơ BP gấp7,5 lần [9911] Nghiên cứu của Luo J và cộng sự trên 210 trẻ BP tại TrungQuốc cho thấy những gia đình có bố hoặc mẹ béo thì khả năng con BP caogấp 3,7 lần so với gia đình không có bố mẹ BP, nếu cả bố và mẹ cùng béo thìnguy cơ này tăng gấp 5 lần so với gia đình mà bố và mẹ không bị BP [132].

Cả 2 yếu tố gen và môi trường đều góp phần thúc đẩy BP, nhiều nghiên cứucho rằng trẻ em không có cha mẹ BP thì ít hơn 10% cơ hội trở thành BP khilớn [172], [173]

1.3.4 Yếu tố di truyền

Tương tác giữa các gen nhạy cảm với chế độ ăn và lối sống có thể dẫnđến nguy cơ BP Nhiều nghiên cứu đã xác định vai trò của các yếu tố ditruyền đối với sự phát triển của bệnh BP Nghiên cứu các cặp sinh đôi và giađình cho thấy ảnh hưởng của yếu tố di truyền (gen) chiếm từ 40 - 70% trongbệnh BP Các yếu tố di truyền có thể được phân loại theo cơ chế tác động đốivới BP như: nhóm gen kích thích sự ngon miệng (Neuropeptide Y, Leptinreceptor, P proopiomelanocortin), nhóm liên quan đến tiêu hao năng lượng(Uncoupling proteins), nhóm điều hòa chuyển hóa (Beta-2 adrenergicreceptor, Beta-3 adrenergic receptor), nhóm liên quan đến sự biệt hóa và pháttriển tế bào mỡ (Peroxisome proliferator-activated receptor, Vitamin Dreceptor, Retinoid X receptor) [171],[165

Một số nghiên cứu cho thấy có sự liên quan giữa các chỉ số đánh giá BP(BMI, cân nặng, % mỡ cơ thể, tỷ lệ vùng bụng/vùng mông) với các genUncoupling protein 1 (UCP1), Uncoupling protein 2 (UCP2), Alpha -2B

adrenergic receptor (ADRA2B), Beta -3 adrenergic receptor (ADRB3), Leptin receptor (LEPR), Vitamin D receptor (VDR), và Estrogen receptor 1 (ESR1) ở

phụ nữ sau mãn kinh Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy phụ nữ sau mãn kinh

Trang 32

có genotype TC của gen ESR1 thì có tỷ lệ % mỡ cơ thể cao hơn những phụ nữ mang genotype TT (p = 0.006) Các SNP BsmI và ApaI của gen VDR có liên quan có ý nghĩa thống kê đến TC và BP Sự tương tác gen - gen UCP2-VDR

ApaI làm tăng sự nhạy cảm đối với TC và BP và sự tương tác này đạt tới

69,09% sự chính xác về dự đoán TC và BP (p = 0.001, Sign test) [174],[171]

Trang 33

1.3.5 Một số yếu tố khác

Tuổi:

Một số nghiên cứu cho thấy tuổi xuất hiện TC, BP rất sớm (từ 1- 5 tuổi),tuy nhiên độ tuổi xuất hiện phổ biến là lứa tuổi học đường [171]

Điều kiện kinh tế văn hoá xã hội:

Các yếu tố văn hoá, dân tộc, tầng lớp xã hội, tôn giáo cũng là những yếu

tố môi trường làm ảnh hưởng đến lượng thức ăn đưa vào theo nhiều cách khácnhau Người ta thấy ở những nước đã phát triển, có mối liên quan nghịch giữatình trạng kinh tế xã hội và béo phì còn ở các nước đang phát triển thì xuhướng này có chiều hướng ngược lại

Các nhà tâm lý học nhất trí rằng nhiều cha mẹ nuông chiều và ân cần quámức trong việc ăn uống của trẻ đã sử dụng những thực phẩm không thích hợp

để làm yên lòng những đứa trẻ hiếu động, quấy khóc Chính vì vậy đã tạo chotrẻ thói quen đòi và tìm ăn những thực phẩm này khi buồn chán [172]

Thời gian ngủ:

Ngủ ít cũng được tìm thấy như một yếu tố nguy cơ cao của trẻ thừa cân.Nguyên nhân chưa rõ nhưng theo một số tác giả có thể đây là một kiểu sốnggia đình thiếu điều độ từ ăn tới ngủ hoặc do sự thiếu hoạt động thể lực tạonhững nếp sóng thấp trên điện não đồ khi ngủ của trẻ, cũng có thể do hoạtđộng tiêu mỡ của cơ thể là tối đa về đêm và sự ngủ ít làm giảm tiêu mỡ nóichung [171], [175]

Cân nặng sơ sinh:

Nghiên cứu về sự liên quan giữa cân nặng sơ sinh (CNSS) cho các kếtquả không đồng nhất Nghiên cứu trong 5 năm trên 4062 trẻ ở Úc cũngthấyCNSS là một yếu tố dự đoán độc lập cho béo phì vừa và nặng [165] Nghiêncứu của Daniels SR chỉ ra rằng CNSS của trẻ béo phì không cao hơn CNSS

Trang 34

của trẻ bình thường, nhưng trong nhóm trẻ béo phì thì số trẻ có CNSS trên

4000 gram cao hơn hẳn nhóm trẻ bình thường [169]

Giả thuyết “nguồn gốc bào thai” của các bệnh mạn tính đóng vai trò thenchốt trong tiếp cận dinh dưỡng theo chu kỳ vòng đời Năm 1986, nghiên cứucủa Manios Y đã nhận thấy tỷ lệ chết do bệnh mạch vành cao gấp đôi ở nhóm

có CNSS thấp [176] Từ đó tác giả cho rằng “dinh dưỡng kém ở thời kỳ bàothai làm tăng tính nhạy cảm đối với tác dụng của chế độ ăn dư thừa” Ở người

có thể xảy ra 2 chu kỳ như sau:

- Ở những đứa trẻ bị SDD bào thai nếu tiếp tục sống trong môi trườngthiếu thốn sẽ bị SDD, còi cọc rồi trở thành những người mẹ thấp bé, ít tăngcân khi có thai và lại đẻ ra những trẻ sơ sinh có cân nặng thấp theo một vòngluẩn quẩn

- Trong thời kỳ chuyển tiếp, những đứa trẻ sơ sinh có cân nặng thấp saukhi ra đời được sống trong môi trường thực phẩm dồi dào (cân nặng đuổi kịp)

dễ trở thành thấp - béo (fat – stunted) và trở thành những người mẹ thấp béo,

có các rối loạn chuyển hóa Những người mẹ này có thể sinh ra những đứa trẻthiếu cân hoặc cũng có thể béo với các khuyết tật của nó [176]

Hậu quả của lập trình bào thai có thể thấy rõ ở các quần thể dân cư, cáchđây chưa lâu có tỷ lệ trẻ sơ sinh nhẹ cân cao và sẽ biểu hiện thiên về thừa cânbéo phì song song với chuyển tiếp về dinh dưỡng và lối sống tĩnh tại Do đólập trình bào thai về chuyển tiếp về dinh dưỡng đòi hỏi được quan tâm đồngthời trong các chương trình can thiệp dinh dưỡng

Suy dinh dưỡng thể thấp còi:

Có mối quan hệ giữa SDD trước đó với thừa dinh dưỡng về sau và đó là

sự kết hợp đặc biệt nguy hiểm Người ta nhận thấy những đứa trẻ có cân nặngkhi sinh hoặc khi một tuổi thấp thì về sau mỡ có khuynh hướng tập trung ởbụng Một công trình nghiên cứu ở trẻ em 3 – 6 tuổi và 7 – 9 tuổi ở 4 quốc giacho thấy có mối liên quan có ý nghĩa giữa tình trạng thấp còi (Stunting) và

Trang 35

thừa cân (Overweight) (Popkin 1996) Tuy cơ chế còn chưa rõ ràng nhưngphát hiện này có ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng quan trọng Ở các nước nghèo

số đông trẻ em bị thấp còi và thiếu cân nhưng khi thu nhập tăng, điều kiệnsống thay đổi chúng dễ dàng trở nên béo phì [177], [178]

Nghiên cứu trên trẻ em Nam Phi cho thấy có mối liên quan chặt chẽ giữatiền sử thấp còi và TC, BP ở trẻ vị thành niên Những trẻ có tình trạng thấpcòi sớm trong những năm đầu tiên của cuộc đời (1- 5 tuổi) dễ bị TC, BP ởtuổi vị thành niên (11 - 20 tuổi) [177]

Trang 36

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Trẻ em từ 36 tháng đến dưới 72 tháng đang học tại trường mầm non 20tháng 10, trường mầm non Thành Công và 2 trường mầm non Đặng Xá vàtrường mầm non Kim Sơn thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội

- Phỏng vẩn trực tiếp mẹ hoặc người chăm sóc nuôi dưỡng trẻ

Tiêu chuẩn lựa chọn:

- Trẻ trong độ tuổi từ 36 tháng dưới 72 thángkhông bị mắc các bệnh bẩmsinh, các bệnh mạn tính, cấp tính đang học ở trương mầm non có mặt trongthời gian điều tra

- Bà mẹ/người chăm sóc trẻ: là mẹ/người chăm sóc của các trẻ được lựachọn, không bị tâm thần, không bị rối loạn trí nhớ và hợp tác

Tiêu chuẩn loại trừ:

- Trẻ ngoài độ tuổi trên.Trẻ: Mắc các bệnh bẩm sinh, các bệnh mạn tínhhoặc đang mắc bệnh cấp tính

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Từ tháng 08 năm 2015 đến tháng 12 năm 2015

- Địa điểm: Nghiên cứu tại trường mầm non 20 tháng 10, trường mầmnon Thành Công và 2 trường mầm non Đặng Xá và trường mầm non KimSơn thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1.Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang có so sánh

Trang 37

p) (1 p Z

n: Cỡ mẫu (số trẻ em từ 36 tháng đến 60 tháng cần điều tra)

Z: Độ tin cậy đòi hỏi Với độ tin cậy 95% thì z = 1,96

p : Tỷ lệ trẻ thừa cân béo phì theo mẫu 15%[17988]

d : Sai số cho phép = 0,03

Thay số ta được n= 544 cộng thêm 10% bỏ cuộc và làm tròn số thì cỡmẫu cho 2 trường nội thành và 2 trường ngoại thành là 600mẫu Tổng số mẫuđiều tra là 1200 trẻ trên 4 trường

2.3.1.2 Phương pháp chọn mẫu

Chọn mẫu nhiên giai đoạn:

Giai đoạn 1: Chọn chủ đích 2 trường mầm non nội thành và 2 trườngmầm non ngoại thành

Giai đoạn 2: Chọn chủ đích trường 20 tháng 10, trường mầm non ThànhCông thuộc trường nội thành Còn 2 trường mầm non Đặng Xá và trườngmầm non Kim Sơn của huyện Gia Lâm thuộc trường ngoại thành Hà Nội.Giai đoạn 3: Tại mỗi trường lấy toàn bộ số học sinh trong trường có độ tuổi

từ 36 tháng- dưới 72 tháng, loại bỏ học sinh không đủ tiêu chẩn,để đạt được cỡmẫu là300 trẻ cho một trường mầm non nội thành trường mầm non ngoại thành

Trang 38

2.3.1.3 Các biến số và chỉ số trong nghiên cứu

* Thông tin chung đối tượng nghiên cứu: Tuổi, giới, cân nặng s ơo sinh, số con trong gia đình, trẻ là con thứ mấy.

* Xác định tỷ lệ thừa cân – béo phì ở trẻ:

- Cân nặng : Tính theo kg

- Chiều cao ; Tính theo m

- Chỉ số BMI: Cân nặng kg/ chiều cao2 (m2)

* Một số yếu tố liên quan thừa cân béo phì: thu nhập HGĐ, thực hành ănuống – vận động của trẻ, kiến thức – thực hành chăm sóc trẻ của bà mẹ,

2.3.2 Công cụ và kỹ thuật thu thập thông tin

2.3.2.1.Thu thập các chỉ số nhân trắc bằng phương pháp cân đo

Ở trẻ em, đánh giá tình trạng thừa cân béo phì thường được thực hiệnbằng cách cân đo các chỉ số nhân trắc: cân nặng, chiều cao[180]

- Đo chiều cao:

+ Dụng cụ: thước đo chiều cao loại microtoise

+ Kỹ thuật đo cần hai người, một người đo chính và một người trợ giúp:+ Để thước đo theo chiều thẳng đứng, vuông góc với mặt đất nằm ngang+ Bỏ tất cả dày dép, mũ của trẻ;

+ Để trẻ đứng quay lưng vào thước đo, đảm bảo 5 điểm chạm, trục củathước trùng với trục của cơ thể;

+ Một người giữ đầu trẻ sao cho mắt trẻ hướng thẳng ra phía trước, haitay để xuôi xuống 2 bên mình

+ Người thứ 2 giữ thẳng 2 đầu gối của trẻ, đặt 2 gót rộng bằng vai chânsong song, tay kia đẩy êke di động áp sát vào đỉnh đầu, vuông góc vớimặt thước

Trang 39

+ Đọc kết quả theo đơn vị là cm với 1 số thập phân.

Cân trẻ:

- Dụng cụ cân: sử dụng cân talitacó độ chính xác tới 100g

- Vị trí đặt cân: nơi bằng phẳng, thuận tiện để cân

- Chỉnh cân: chỉnh cân về số 0 trước khi cân, kiểm tra độ nhạy củacân.Thường xuyên kiểm tra độ chính xác của cân sau 20 lượt cân

2.3.2.2 Phỏng vấn theo bộ câu hỏi

Theo phụ lục 1: Bộ câu hỏi phỏng vấn điều tra tình trạng dinh dưỡng củatrẻ và một số vấn đề liên quan

Trang 40

2.3.3 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ bằng sử dụng chỉ số khối cơ thể (Body mass index – BMI)

Theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới (2005), với trẻ dưới 9 tuổixác định tình trạng thừa cân béo phì của trẻ dựa trên chỉ số BMI theo tuổi vàgiới so sánh với quần thể tham khảo WHO Chỉ số BMI theo tuổi và giớinếu vượt quá +2 Z- score là thừa cân, nếu vượt quá +3 Z- score là béo phì

2.3.4 Các biện pháp khống chế sai số

Các số liệu nhân trắc: được các điều tra viên cố định cân, đo với việc sửdụng cùng loại cân, cùng loại thước và trẻ được cân, đo trong cùng một thờigian (từ 8:00 đến 10:00 sáng) Sử dụng các loại cân, thước đo với kỹ thuậtchuẩn, tuân theo phương thức thường quy và thống nhất phương pháp điều tra

đã được tập huấn cho điều tra viên nhằm loại trừ khả năng sai số do điều traviên hoặc do dụng cụ cân, đo

Nhằm đảm bảo chất lượng số liệu điều tra, học viên có trách nhiệm phảikiểm tra tất cả các số liệu của các mẫu phiếu điều tra trong ngày, nếu pháthiện các số liệu bất thường, phiếu sẽ được gửi trả lại điều tra viên để điều traviên kiểm tra lại tính xác thực của số liệu

- Thống nhất dụng cụ chuẩn cân đo trẻ và kiểm tra bằng vật chuẩn hàng ngày

- Học viên cân đo kiểm tra ngẫu nhiên cứ 20 trẻ cân đo lại 2 trẻ (10%)theo thứ tự trên xuống và dưới lên

Số liệu được làm sạch trước khi nhập vào máy tính

2.3.5 Nhập và xử lý số liệu

Kết quả nghiên cứu được nhập bằng phần mềm epidata và xử lý bằngphần mềm Stata- Các thuật toán dùng để phân tích số liệu:

+Test 2 dùng để so sánh sự khác biệt giữa các tỷ lệ

+ Đánh giá mối liên quan dùng test 2 và tỷ suất chênh (OR)

Ngày đăng: 06/08/2019, 21:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w