Trong 5 năm gần đây, các nghiên cứu về bệnh glôcôm bẩm sinh nguyên phátở châu Á đã và đang tập trung đi sâu vào cơ chế bệnh sinh ở mức độ phân tử, làm cơ sở cho việc triển khai chẩn đoán
Trang 1Từ những năm 1970, Shaffer và Weiss đã xác định glôcôm bẩm sinh nguyênphát là một thể bệnh glôcôm di truyền lặn liên kết nhiễm sắc thể thường, phổ biến ởtrẻ em [5] Các nghiên cứu sinh học phân tử đã xác định ba gen đột biến liên quanđến bệnh lý này là CYP1B1, LTBP2, MYOC [6] Những nghiên cứu ở mức độ in
vitro và in vivo đã chỉ ra rằng protein CYP1B1 đóng vai trò quan trọng nhất trong
việc hình thành cấu trúc và duy trì chức năng của mắt Đột biến gen CYP1B1 chủyếu là đột biến điểm nằm rải rác trên toàn bộ chiều dài gen; tỉ lệ phát hiện đột biếnCYP1B1 cũng mang tính đặc trưng cho từng chủng tộc, ở châu Á khoảng 30% [7],[8], [9], [10] Theo Khan và cộng sự (2012), 90% những người mang đột biến genCYP1B1 sẽ biểu hiện bệnh ở cả hai mắt với các mức độ khác nhau [11]
Ngày nay, phát triển kinh tế xã hội đi kèm tình trạng ô nhiễm môi trường,lạm dụng hóa chất độc hại trong bảo quản thực phẩm, nguy cơ phơi nhiễm với cáctác nhân gây đột biến gen như virus, khói thuốc, phóng xạ, các chất hóa học ngàycàng cao Các yếu tố này gây tăng tỷ lệ đột biến gen, vô hiệu hóa bộ máy sửa chữathông tin di truyền trong tế bào Nguy cơ các tổn thương được lưu giữ trong bộ gencủa người bệnh có khả năng truyền lại cho các thế hệ sau Ở Việt Nam, hàng năm
có một số lượng lớn trẻ sinh ra bị bệnh glôcôm bẩm sinh nguyên phát Áp dụng chẩnđoán người mang gen bệnh và chẩn đoán trước sinh để đưa ra lời khuyên di truyềnthích hợp sẽ giảm được tỷ lệ trẻ mắc bệnh trong cộng đồng và về lâu dài sẽ tác động tốttới sự phát triển kinh tế, xã hội
Trang 2Trong 5 năm gần đây, các nghiên cứu về bệnh glôcôm bẩm sinh nguyên phát
ở châu Á đã và đang tập trung đi sâu vào cơ chế bệnh sinh ở mức độ phân tử, làm
cơ sở cho việc triển khai chẩn đoán trước sinh cũng như liệu pháp điều trị gen, đồngthời giúp việc quản lý tốt những người mang gen gây bệnh Tuy nhiên ở Việt Nam,hầu hết các nghiên cứu bệnh glôcôm bẩm sinh nguyên phát mới chỉ đề cập về tỉ lệmắc bệnh, biểu hiện lâm sàng, kết quả điều trị và các biến chứng của bệnh Xuất
phát từ thực tiễn này, chúng tôi thực hiện tiểu luận tổng quan để tìm hiểu về bệnh glôcôm bẩm sinh nguyên phát và cơ chế phân tử của bệnh.
Trang 31 ĐẠI CƯƠNG BỆNH GLÔCÔM BẨM SINH NGUYÊN PHÁT
1.1 Lịch sử nghiên cứu bệnh glôcôm bẩm sinh nguyên phát
Từ thời Hippocrates vào những năm 460 - 377 trước công nguyên, Celus thế
kỷ thứ nhất và Galen năm 130 - 201 sau công nguyên đã ghi nhận bệnh mắt to(buphthalmos) bẩm sinh mặc dù thời điểm đó chưa ai biết có mối liên quan giữamắt to và nhãn áp [12] Cho đến thế kỷ 18, Berger (1744) đã đề cập đến vấn đề tăngnhãn áp và phân vào nhóm bệnh di truyền [1] Năm 1896, Von Muralt xác định cáctrường hợp mắt to trong gia đình bệnh glôcôm [13] Năm 1970, Shaffer và Weissđịnh nghĩa glôcôm bẩm sinh nguyên phát là "glôcôm di truyền phổ biến nhất ở trẻ
em, di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường, với bất thường đặc biệt về góc làkhông có hiện tượng lùi điểm gắn chân mống mắt tạo góc tại vùng bè và không kèmnhững bất thường phát triển khác” Tăng nhãn áp là nguyên nhân gây giác mạc to,đục và chảy nước mắt do rạn màng Descemet [5]
1.2 Dịch tễ học của bệnh glôcôm bẩm sinh nguyên phát
Glôcôm bẩm sinh nguyên phát là bệnh hiếm gặp, có tần suất khoảng1/10.000 đến 1/20.000 trẻ sinh sống ở các nước châu Âu và Mỹ Trong khi đó tỷ lệnày rất cao ở cộng đồng có cha mẹ cùng huyết thống như Ấn Độ 1/3.300, TrungĐông 1/2.500 và 1/2.250 ở Slovakia hay Rumani
Bệnh chiếm 55% tổng số glôcôm nguyên phát trẻ em
Ở Nhật Bản, trẻ nữ bị nhiều hơn nam trong khi ở Mỹ và châu Âu trẻ nammắc nhiều hơn với tỷ lệ 3:2 Bệnh xảy ra trên khắp thế giới không ưu thế rõ rệt vềchủng tộc cũng như địa lý Hầu hết các trường hợp glôcôm bẩm sinh nguyên phátxảy ra ở cả hai mắt (65-80%) với mức độ bệnh thường không tương đương nhau
Khoảng 25% khởi bệnh lúc sinh, 60% trẻ được chẩn đoán dưới 6 tháng tuổi
và 80% xuất hiện trong năm tuổi đầu tiên [1]
1.3 Chẩn đoán bệnh glôcôm bẩm sinh nguyên phát
1.3.1 Chẩn đoán xác định
Triệu chứng: gồm tam chứng kinh điển
- Sợ ánh sáng, co quắp mi: thường là triệu chứng khởi đầu và quan trọng.Bệnh nhân thường nheo mắt hoặc quay mặt đi nơi khác khi có ánh sáng chiếu vào
Trang 4mắt, ở trẻ nhỏ thường hay gục đầu vào lòng mẹ Sợ ánh sáng là do kích thích các tếbào biểu mô giác mạc khi áp lực nội nhãn tăng.
- Chảy nước mắt
- Mờ mắt
Dấu hiệu lâm sàng: để chẩn đoán xác định glôcôm bẩm sinh cần phải khám
và đánh giá rất nhiều thông số, khi trẻ nhỏ không hợp tác cần khám dưới gây mê
- Mi mắt: có xu hướng khép lại nhằm hạn chế ánh sáng vào mắt
- Giác mạc:
Glôcôm bẩm sinh thường giác mạc to đi cùng nhãn cầu to đặc biệt khi xuấthiện ở trẻ dưới 3 tuổi Bình thường khi mới sinh giác mạc trong và có đường kínhngang là 10-10,5mm và tăng thêm 0,5-1mm sau một năm Theo Kluys Ken, đườngkính ngay khi sinh là 10mm, khi 1 tuổi là 11,5mm; theo Aminlary đường kính giáclúc sinh là 9,4-11mm, lúc 1 tuổi là 10,5-11,7mm và 12mm khi 6 tuổi Trong nămđầu nếu đường kính ngang lớn hơn 12mm là dấu hiệu rất nghi ngờ của glôcôm bẩmsinh nguyên phát
Rạn màng Descemet (vết Haabs): là vệt trắng ngang khi ở trung tâm hoặcsong song với rìa khi ở chu biên giác mạc Dấu hiệu này thường không gặp ở giácmạc có đường kính ngang dưới 12,5mm hoặc bệnh xuất hiện sau 3 tuổi
Hình 1 Vết rạn giác mạc màng Descemet (vết Haab's)
Phù giác mạc: phù biểu mô giác mạc đơn thuần do tăng nhãn áp, nếu bệnhtiến triển kéo dài có thể gây phù nhu mô giác mạc vĩnh viễn
- Củng mạc: mỏng và giãn làm quan sát thấy được hắc mạc bên dưới ở trẻ sơsinh và tạo nên củng mạc có màu đen hoặc hơi xanh Dây Zinn có thể giãn ra gây
Trang 5lệch thể thủy tinh Ở giai đoạn muộn nhãn cầu bị giãn to toàn bộ do hậu quả tăngnhãn áp lâu ngày gây ra hiện tượng lồi mắt trâu.
- Tiền phòng sâu
- Mống mắt: chân mống mắt bám cao ở góc tiền phòng
- Đồng tử giãn, mất phản xạ khi nhãn cầu mất chức năng
- Đáy mắt: có thể thấy các dấu hiệu teo lõm gai tùy theo mức độ bệnh Lõmgai trong glôcôm bẩm sinh nguyên phát có thể hồi phục hoàn toàn nếu nhãn ápđược điều chỉnh tốt, đây là đặc điểm khác với lõm gai người lớn
- Góc tiền phòng: soi góc tiền phòng bằng kính soi góc phát hiện chân mốngmắt bám cao và ra trước hơn Bè màng bồ đào nhạt màu hơn làm khó phân biệt dảithể mi, vùng bè và cựa củng mạc
Hình 2 Hình ảnh soi góc tiền phòng
- Thị lực: nếu thử được thường giảm
- Nhãn áp: trẻ sơ sinh có nhãn áp trung bình là 11,4 ± 2,4 mmHg, trẻ dưới 1tuổi có giới hạn trên nhãn áp bình thường là 21 mmHg Ở trẻ lớn có thể đo nhãn áptheo phương pháp hay dùng, trẻ nhỏ cần đo nhãn áp khi ngủ hoặc dưới gây mê
- Thị trường: thường không làm được ở trẻ nhỏ Trẻ lớn thị trường bị tổn hại
- Chiều dài trục nhãn cầu: thường tăng gây cận thị trục tiến triển
Dấu hiệu cận lâm sàng:
- Siêu âm A: siêu âm A dùng để chẩn đoán và theo dõi bệnh glôcôm bẩm sinhnguyên phát Ở trẻ sơ sinh bình thường trục dọc nhãn cầu khoảng 17 mm nhỏ hơntrục ngang (18.3 mm) Trong 2 năm đầu đời nhãn cầu phát triển rất nhanh, đến 2tuổi trục nhãn cầu tương tự như trục nhãn cầu người lớn là 23 - 24 mm Theo tác giảRamanjit trục nhãn cầu bình thường ở trẻ em từ 0 đến 12 tuổi mắt phải là 22,0 ±1,45 mm, mắt trái là 21,8 ± 1,26 mm Trong glôcôm bẩm sinh nguyên phát đặc biệt
Trang 6- Cắt lớp võng mạc (OCT): một số trẻ lớn ta có thể làm OCT để xác định mức
độ tổn hại thị thần kinh đồng thời đánh giá được chính xác mức độ teo lõm gai thị
- Chụp ảnh đáy mắt, Retcam: đánh giá tình trạng gai thị trong bệnh glôcômbẩm sinh và theo dõi tiến triển của bệnh theo thời gian
Dấu hiệu toàn thân: đối với glôcôm bẩm sinh nguyên phát thường không có
các dị tật bẩm sinh tại mắt và toàn thân kèm theo
1.3.2 Chẩn đoán phân biệt
Glôcôm bẩm sinh nguyên phát không phải lúc nào cũng xuất hiện đầy đủ cáctriệu chứng và dấu hiệu nêu trên Sơ đồ Ourgaud hình tượng để giúp phân biệtglôcôm bẩm sinh nguyên phát với một số bệnh khác [14]
Ba yếu tố chính của glôcôm bẩm sinh là:
4
1 3 2
Trang 7cần phân biệt với bệnh giác mạc to Khu vực 3: nhãn áp tăng kèm theo đục giác mạc(A + C): glôcôm ở trẻ lớn tuổi và người trẻ, cần phân biệt với những bệnh giác mạcđục hoặc glôcôm thứ phát do những dị tật khác Khu vực 4: đường kính giác mạctăng kèm theo đục giác mạc Khu vực 5: đường kính giác mạc to đơn thuần Khuvực 6: nhãn áp tăng đơn thuần glôcôm bẩm sinh ở trẻ lớn tuổi xảy ra ở mắt thứ 2.Khu vực 7: mờ đục giác mạc: sang chấn lúc sinh ra, xơ hóa giác mạc.
1.3.3 Chẩn đoán giai đoạn
Ở người lớn dựa vào nhãn áp, mức độ lõm gai và sự thu hẹp thị trường đểphân chia giai đoạn glôcôm, nhưng ở trẻ em không thể dựa vào các yếu tố này được
vì hầu hết trẻ em không đo được thị trường
Một số tác giả phân loại thành 4 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: đường kính giác mạc tăng hơn 1-2mm, phù nhẹ giác mạc, thịlực ít biến đổi, không có teo lõm gai
- Giai đoạn 2: đường kính giác mạc tăng hơn 3mm, giác mạc phù đục, dãnvùng rìa giác mạc, đồng tử dãn, có teo lõm gai
- Giai đoạn 3: đường kính giác mạc tăng hơn 4mm, giác mạc phù đục mạnh,củng mạc dãn rộng, tiền phòng sâu, đồng tử dãn, thị lực giảm nhiều
- Giai đoạn 4: đục giác mạc rất nặng, dãn lồi vùng rìa, lồi mắt trâu, tiềnphòng sâu, mống mắt teo có tân mạch, thị lực giảm trầm trọng, teo lõm lai hoàntoàn [15]
Theo Corcelles phân loại giai đoạn bệnh theo đường kính giác mạc như sau [15]:
- Giai đoạn 1: đường kính giác mạc ≤ 12mm, giác mạc trong
- Giai đoạn 2: đường kính giác mạc từ >12mm đến 14mm, giác mạc trong
- Giai đoạn 3: đường kính giác mạc >14mm, giác mạc phù đục, dãn lồi nhãncầu không hồi phục
Phân loại của Al-Hazmi về giai đoạn bệnh glôcôm bẩm sinh như sau:
- Giai đoạn 1: nhãn áp <25mmHg, đường kính giác mạc <13mm, giác mạccòn trong
Trang 8- Giai đoạn 2: nhãn áp 25 - 35mmHg, đường kính giác mạc 13 - 14mm, giácmạc phù đục.
- Giai đoạn 3: nhãn áp > 35mmHg, đường kính giác mạc >14mm, giác mạcđục trắng [16]
1.4 Điều trị bệnh glôcôm bẩm sinh nguyên phát
1.4.1 Điều trị nội khoa
Điều trị nội khoa chỉ là bước đầu chuẩn bị cho một cuộc phẫu thuật hoặc điềutrị bổ sung khi phẫu thuật chưa đạt kết quả hoàn toàn hoặc thất bại Các thuốc dùngtrong điều trị nội khoa gồm: thuốc co đồng tử, thuốc ức chế anhydrase carbonic, cácthuốc hủy beta-adrenergic, các thuốc nhóm prostaglandin, cường adrenergic, thuốctăng thẩm thấu
1.4.2 Điều trị ngoại khoa
Nguyên lý: cơ chế bệnh sinh của glôcôm bẩm sinh nguyên phát là do sự tồnlưu tổ chức bất thường ở góc tiền phòng nên hai phẫu thuật thực sự sinh lý là phá từtrong ống Schlemm ra (goniotomy) hoặc từ ngoài vào (trabeculotomy), làm rạch mởlưới bè, phá màng tổ chức bất thường tạo điều kiện cho thủy dịch tới được vùng bèbình thường, vào ống Schlemm và lưu thông ra ngoài
Trước đây các tác giả đã dùng các phương pháp như: áp điện đông thể mikhông xuyên (Wewe năm 1933), mở góc (Barkan năm 1942), mở bè củng giác mạc(Burian và Smith năm 1960), cắt bè củng giác mạc (Cairns năm 1968), laser xuyêncủng mạc và lạnh đông thể mi Cùng với việc sử dụng các phẫu thuật điều trị, cácthuốc chống chuyển hóa cũng được các nhà nhãn khoa phối hợp để điều trị glôcômbẩm sinh phức tạp, nhãn áp không điều chỉnh sau nhiều lần phẫu thuật Một xuhướng mới tìm ra một phương pháp điều trị hữu hiệu, an toàn hơn là cắt củng mạcsâu Tại Việt Nam, Nguyễn Như Quang và Vũ Thị Bích Thủy (1988) đã đánh giákết quả phẫu thuật cắt rạch bè trong điều trị glôcôm bẩm sinh Tôn Thị Kinh Thanh(1993) đã cải tiến phẫu thuật cắt kẹt bè củng giác mạc trên cơ sở nguyên tắc củaphẫu thuật cắt bè củng giác mạc Trần An và Trịnh Thị Hiền (2004) đã tiến hànhnghiên cứu hiệu quả của phẫu thuật cắt bè củng giác mạc có dùng thuốc chống
Trang 9chuyển hóa 5 - Fluorouracil Đinh Yên Lục đã áp dụng phẫu thuật mở bè kết hợp cắt
bè củng giác mạc (năm 2006) cho kết quả tương đối tốt
2 GEN CYP1B1 VÀ CƠ CHẾ SINH HỌC PHÂN TỬ CỦA BỆNH GLÔCÔM BẨM SINH NGUYÊN PHÁT
2.1 Cơ chế bệnh sinh của bệnh glôcôm bẩm sinh nguyên phát
Qua nghiên cứu quá trình phát triển phôi thai học và giải phẫu học góc tiềnphòng cho thấy cơ chế tăng nhãn áp trong glôcôm bẩm sinh khác hoàn toàn với cơchế trong glôcôm góc đóng và glôcôm góc mở ở người trưởng thành Cơ chế gâynên glôcôm bẩm sinh nguyên phát là do dị dạng phát triển của phôi hay được coi làglôcôm phát triển do ngừng phát triển hoặc kém phát triển của góc mống mắt - giácmạc ở giai đoạn thai kỳ làm tăng kháng trở thoát lưu thủy dịch
Sự ngưng trệ phát triển của góc tiền phòng có nguồn gốc từ tế bào mào thầnkinh dẫn đến tắc nghẽn thủy dịch bởi một hoặc nhiều cơ chế Cơ chế này được cáctác giả mô tả là do sự bám của cơ thể mi và mống mắt vào phần sau của vùng bè cóthể đè ép những trục bè, khiếm khuyết phát triển nguyên phát với những mức độkhác nhau của vùng bè, trong một số trường hợp là của ống Schlemm, tồn lưu tổchức bất thường ở góc tiền phòng, loạn sản bán phần trước gây cản trở lưu thôngthủy dịch dẫn tới tăng nhãn áp Tuy nhiên các tác giả đều cho rằng áp lực nội nhãntăng trong glôcôm bẩm sinh nguyên phát là do sự phát triển bất thường góc tiềnphòng dẫn đến cản trở lưu thông thủy dịch Có rất nhiều giả thuyết được đưa ra giảithích về cơ chế gây tăng nhãn áp trong glôcôm bẩm sinh nguyên phát
Các nghiên cứu sớm nhất của Von Hippel (1897), Gros (1897), Parson(1904) và Siegrist (1905), Reis (1905 – 1911), Seefelder (1906 – 1920) đã phát hiệnnhững bất thường bẩm sinh ở cấu trúc góc tiền phòng và ống Schlemm [17] Đếnnăm 1949, Barkan cho rằng có sự tồn tại một màng phôi thai ở lưới bè [18] Năm
1966, Worst đã khẳng định điều này và gọi đó là màng Barkan [19] Tuy nhiênnghiên cứu dưới sinh hiển vi điện tử, Anderson và cộng sự lại không tìm thấy sựhiện diện của màng Barkan nhưng lại phát hiện thấy mặt trước của màng bồ đàobám cao vào vùng bè [20] Maumenee lại nhấn mạnh cơ chế bệnh sinh của glôcôm
Trang 10bẩm sinh nguyên phát là do thuyết tách lớp [21] Tác giả này cho rằng trong glôcômbẩm sinh nguyên phát cựa củng mạc kém phát triển nên các thớ cơ thể mi bámthẳng vào vùng bè, vì vậy khi chúng co cứng sẽ đè bẹp ống Schlemm gây cản trởlưu thông thủy dịch Smelser và Ozanics lại cho rằng cơ chế bệnh là do sự thay đổimạng lưới bè màng bồ đào, đồng thời có một chất vô định tạo nên lớp dày trong nội
mô thành ống Schlemm, điều này được phát hiện từ giải phẫu bệnh bệnh nhân.Kupfer lại nói đến sự hiện diện của các tế bào mào thần kinh thuộc xương sọ cótrong góc tiền phòng
Hình 3 Phát triển của một phần mống mắt trên bề mặt vùng bè [ 22 ]
2.2 Cơ chế phân tử của bệnh glôcôm bẩm sinh nguyên phát
Ngày nay, thuyết di truyền trong glôcôm bẩm sinh nguyên phát ngày càngđược đề cập đến nhiều hơn và sáng tỏ qua các nghiên cứu Cho đến nay, trên thếgiới đã tìm ra mối liên quan của 3 gen với bệnh glôcôm bẩm sinh nguyên phát làCYP1B1, LTBP2 và MYOC [6]
Gen MYOC nằm trên nhánh dài nhiễm sắc thể 1 tại vị trí 1q24.3, còn có têngọi là GLC1A được cho là giúp duy trì cấu trúc góc tiền phòng, thể mi và mạng lưới
bè củng giác mạc tuy nhiên các nghiên cứu đã đưa ra tỷ lệ đột biến của gen MYOCrất thấp trong bệnh glôcôm bẩm sinh nguyên phát Theo nghiên cứu của của Hee-Jung Kim tỷ lệ này là 2,4%, nghiên cứu của Kaur K là 5,5% và nhiều nghiên cứukhác không tìm ra đột biến gen MYOC trong bệnh này [23], [24]
Trang 11Hình 4 Vị trí của gen MYOC trên nhánh dài nhiễm sắc thể 1 [ 25 ]
Gen LTBP2 hay còn gọi là GLC3D nằm trên nhánh dài nhiễm sắc thể 14 tại
vị trí 14q24.3 Gen LTBP2 không có đột biến gây bệnh mà chỉ ở dạng SNPs độc lậphoặc phối hợp với đột biến gen CYP1B1 Nghiên cứu ở Saudi, Trung quốc và ThổNhĩ Kỳ đều cho tỷ lệ đột biến của gen LTBP2 là 0% (tỷ lệ tương ứng là 0/74; 0/214
và 0/94) [26], [27], [28]
Hình 5 Vị trí của gen LTBP2 trên nhánh dài nhiễm sắc thể 14[ 25 ]
Trong số 3 gen nói trên, chỉ có đột biến gen CYP1B1 được chứng minh gâybệnh glôcôm bẩm sinh nguyên phát với tỷ lệ đột biến là cao nhất từ 10% đến 100%tùy theo vùng lãnh thổ [23], [24] Vì vậy, trong chuyên đề này chúng tôi chỉ đi sâuvào nghiên cứu đặc điểm và cơ chế gây bệnh của gen CYP1B1
2.2.1 Cấu trúc và vị trí gen CYP1B1
Tên khoa học chính thức của gen CYP1B1 là "cytochrome P450, family 1,subfamily B, polypeptide 1” Ngoài ra gen CYP1B1 còn được gọi với các tên khácnhư: aryl hydrocarbon hydroxylase, CP1B, CP1B1_HUMAN, cytochrome P450 -subfamily I (dioxin-inducible) - polypeptide 1, flavoprotein-linked monooxygenas,microsomal monooxygenase, xenobiotic monooxygenase
Năm 1994, Sutter và cộng sự đã xác định được gen CYP1B1 gồm 543 axitamin và là một phân họ gen mới của cytochrome P450, P4501B1 Bằng cách phân
Trang 12tích tế bào sinh dưỡng của người và động vật gặm nhấm, tác giả đã lập bản đồ genCYP1B1 và xác định gen nằm trên nhiễm sắc thể 2 [29]
Năm 1996, Tang và cộng sự đã phát hiện ra gen CYP1B1 nằm trên nhánhngắn nhiễm sắc thể 2 tại vị trí 2p22.2 và bao gồm 3 exon, phần mã hóa gen bắt đầu
từ exon thứ 2, chiều dài gen là 1629 cặp base [30]
Từ việc xác định vị trí nối intron/exon của gen CYP1B1, Stoilov và cộng sự(1997) đã chỉ ra gen CYP1B1 có 3 exon và 2 intron, dài 12 kb, mã hóa phân tửmRNA gồm 1.631 base Cụ thể hơn nữa, các gen CYP1B1 nằm từ cặp base số38.067.602 đến 38.076.180 [31] Trong một loạt nghiên cứu về nhiễm sắc thể 2,vùng chứa gen CYP1B1 đã được xác định là GLC3A [32]
Hình 6 Vị trí của gen CYP1B1 trên nhánh ngắn nhiễm sắc thể 2 [ 25 ]
Năm 1998, Ivaylo Stoilov và cộng sự đã xây dựng mô hình ba chiều về vùngC' tận (C-terminal) của protein CYP1B1 Cấu trúc này gồm bốn vùng I, L, J và Kcùng với vùng gắn heme mô tả 3 đột biến dẫn đến thiếu một sản phẩm giữa axitamin 189 và 254 axit amin từ terminus C là Glu387, Arg390 và Cys470
Trang 13Hình 7 Hình ảnh không gian 3 chiều vùng C' tận của protein CYP1B1[ 33 ].
2.2.2 Chức năng, cơ chế gây bệnh của gen CYP1B1
Gen CYP1B1 là một phân họ của cytochrome P450 Các cytochrome củadòng P450 được biết đến chủ yếu với khả năng chuyển hóa các chất lạ sinh học(xenobiotics) và có chức năng giống như bất kỳ phân tử men nào Các cytochrometham gia vào các phản ứng oxy hóa như: sinh tổng hợp, sản xuất hormon cần thiếthoặc đóng vai trò là các hợp chất trao đổi chất trung gian trong hầu hết các sinh vậtsống Đột biến ảnh hưởng đến men thường tạo ra các đột biến lặn Đối với đột biếnlặn dạng dị hợp tử, alen bình thường có khả năng bù đắp chức năng cho alen bị độtbiến Từ quan điểm này, một kiểu hình lặn như glôcôm bẩm sinh nguyên phát đượcgây ra bởi đột biến trong một loại men như CYP1B1 là hợp lý
Trong quá trình hình thành và phát triển nhãn cầu, chức năng của menCYP1B1 chưa rõ ràng, nhưng nó được giả thiết rằng đóng một vai trò trong việchình thành các cấu trúc ở phía trước của mắt và cũng có thể tham gia vào một quátrình điều chỉnh sự bài tiết thủy dịch
Schwartzman và cộng sự năm 1987 đã xác định có mối liên quan giữaarachidonate phụ thuộc cytochrome P450 với ức chế Na +, K +-ATPase trong giácmạc trong việc điều chỉnh tính trong suốt của giác mạc và tiết thủy dịch Phát hiện
Trang 14Mất chức năng
Đột biến cắt cụt
Thể hoang dại CYP1B1 Đích tác động Thể đột biến CYP1B1
gắn heme Đột biến
vùng bản lề Đột biến vùng lõi
Hoạt hóa hay Bất hoạt
này phù hợp với mờ đục của giác mạc và tăng nhãn áp, 2 tiêu chuẩn chẩn đoánchính cho bệnh glôcôm bẩm sinh nguyên phát [34]
Stoilov I (2000) đã đưa ra giả thuyết rằng CYP1B1 chuyển hóa một phân tử
có nguồn gốc nội sinh (như steroid, axit béo hoặc hợp chất prostanoid) cần thiết chophát triển bình thường và chức năng của mắt Hoạt động của CYP1B1 có thể dướihai dạng: tạo ra một hợp chất hoạt động trên một số mục tiêu hoặc ngừng tác dụngcủa các hợp chất sinh học khác và chiếm vị trí của nó Tuy nhiên các phân tử nàyđược chuyển hóa bởi quá trình kích hoạt có tổ chức của các men Vì vậy, CYP1B1
có thể thuộc về một con đường tín hiệu sinh hóa nội sinh chưa được biết rõ, liênquan đến trưởng thành cuối cùng của góc tiền phòng Đột biến gen CYP1B1 sẽ gây
ra rối loạn sản xuất men , làm bất thường cấu trúc mạng lưới vùng bè, nơi có cácống tuyến giúp lưu thoát thủy dịch khỏi mắt Sự ứ trệ thủy dịch này làm tăng nhãn
áp gây bệnh glôcôm [35]
Hình 8 Sơ đồ minh họa cơ chế ảnh hưởng của đột biến gen CYP1B1
Có sự khác biệt về tác động của thể hoang dại và thể đột biến của phân tửCYP1B1 Phân tử CYP1B1 thể hoang dại được neo trên màng của lưới nội nguyênsinh Chức năng bình thường của nó đòi hỏi sự tham gia của một số đối tác oxy hóakhử P450 reductase P450 reductase có khả năng đưa một nguyên tử của phân tử
Cơ chất
Trang 15oxy vào cơ chất của nó Khi đó có 2 khả năng xảy ra: (B) trường hợp cơ chất đượchoạt hóa và tác động trên mục tiêu xuôi dòng chưa được biết Tuy nhiên, oxy phân
tử có thể làm tăng khả năng ưa nước của cơ chất và làm dễ dàng cho sự bài tiết vàthanh lọc cơ chất từ trong tế bào Bởi vậy, đột biến CYP1B1 có thể làm thay đổi 2khả năng trên (C) sự điều hòa không gian và thời gian của các gen kiểm soát pháttriển của góc tiền phòng sẽ bị thay đổi bởi sự vắng mặt của phân tử điều hòa (ví dụnhư steroid) được sản sinh bởi CYP1B1 Bên cạnh đó, những dấu hiệu dừng pháttriển của góc tiền phòng được quan sát thấy trong góc tiền phòng của glôcôm bẩmsinh nguyên phát có thể phản ánh ảnh hưởng của một quá trình chuyển hóa có thểđược giới hạn và loại bỏ bởi phân tử CYP1B1
2.3 Mối liên quan giữa bệnh glôcôm bẩm sinh nguyên phát với đột biến gen CYP1B1
Các nghiên cứu trên thế giới trước đây đã đề cập đến một số dấu hiệu lâmsàng và kết quả điều trị liên quan đến đột biến gen CYP1B1 gây bệnh glôcôm bẩmsinh nguyên phát
2.3.1 Mối liên quan giữa giới tính với đột biến gen CYP1B1
Các nghiên cứu đều chỉ ra rằng tỷ lệ đột biến giữa hai giới không có sự khác biệt.Nghiên cứu của Xueli Chen tại Trung Quốc (2013) cho thấy tỷ lệ đột biếngen CYP1B1 của bệnh nhân nam là 18,9% và của bệnh nhân nữ là 13%, sự khácbiệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) [36, 37]
Tỷ lệ nam:nữ trong nghiên cứu của Orna Geyer tại Israel(2010) ở nhóm độtbiến là 7:10 và nhóm không đột biến là 8:9, sự khác biệt về giới tính ở hai nhómkhông có ý nghĩa thống kê với p=0,72 [38]
2.3.2 Mối liên quan giữa thời gian xuất hiện bệnh với đột biến gen
Qua các nghiên cứu thấy nhóm bệnh nhân có mang đột biến gen CYP1B1 biểuhiện bệnh sớm hơn nhóm không có đột biến gen, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
Nghiên cứu của Reddy A B ở Ấn Độ (2004) tiến hành trên 64 bệnh nhân đãphát hiện 24 bệnh nhân (37,5%) mang đột biến gen CYP1B1 Tất cả các bệnh nhânnày đều xuất hiện bệnh rất sớm trong tháng đầu sau sinh [39]
Trang 16Nghiên cứu của Geyer O (2010) tiến hành trên 34 bệnh nhân của 26 gia đìnhI-xra-en (Israel) đã phát hiện 17 bệnh nhân (50%) trong 12 gia đình (46%) mang độtbiến gen CYP1B1 Nghiên cứu đã chỉ ra rằng ở nhóm bệnh nhân có đột biến tuổixuất hiện bệnh trung bình là 1,3 tháng và chẩn đoán sớm ở 16/17 trường hợp (94%),sớm hơn nhóm không đột biến là 4 tháng và 7/17 trường hợp (41%) một cách có ýnghĩa thống kê (p=0,0009) [38]
Nghiên cứu của Wool Suh (2012) tiến hành trên 85 bệnh nhân Hàn Quốcphát hiện 22 bệnh nhân (25,9%) mang đột biến CYP1B1 và 63 bệnh nhân khôngmang mang đột biến Trong số đó 61,1% bệnh nhân xuất hiện triệu chứng đầu tiêntrong vòng 6 tháng tuổi [40]
Nghiên cứu của Xueli Chen tại Trung Quốc (2013) trên 238 bệnh nhân chothấy tuổi trung bình xuất hiện bệnh ở nhóm mang đột biến là 2 tháng sớm hơn mộtcách có ý nghĩa thống kê so với tuổi trung bình của nhóm không mang đột biến là 6tháng (p=0,028) [36]
Nghiên cứu của Christiane Al-Haddad (2016) tại Liban tiến hành trên 18bệnh nhân đã phát hiện 6 bệnh nhân có đột biến gen CYP1B1 (33%), tuổi phát hiệnbệnh trung bình là 1,5 tháng Khi so sánh tuổi xuất hiện bệnh trung bình giữa hainhóm thấy ở nhóm có đột biến gen là 0,8 tháng sớm hơn một cách có ý nghĩa thống
kê so với nhóm không có đột biến gen là 5,7 tháng (p=0,01) [41]
2.3.3 Mối liên giữa tỷ lệ bị bệnh một mắt và hai mắt với đột biến gen
Nghiên cứu của Wool Suh (2012) đã chỉ ra tỷ lệ xuất hiện bệnh ở 2 mắt trongnhóm 22 bệnh nhân mang đột biến CYP1B1 là 81,8%, cao hơn so với nhóm 63bệnh nhân không mang mang đột biến là 61,9%, tuy nhiên sự khác biệt này không
có ý nghĩa thống kê (p=0,087) [8]
Kết quả cũng tương tự như trong nghiên cứu của Christiane Al-Haddad(2016), tỷ lệ bệnh xuất hiện ở 2 mắt là 4/6 bệnh nhân ở nhóm đột biến cao hơn ởnhóm không có đột biến là 4/12 bệnh nhân, sự khác biệt không có có ý nghĩa thống
kê (p=0,32) [41]
Trang 172.3.4 Mối liên giữa mức độ nặng của bệnh với đột biến gen CYP1B1
Để đánh giá mối liên quan giữa mức độ nặng của bệnh glôcôm bẩm sinh nguyên phát với đột biến gen CYP1B1, các nghiên cứu trên thế giới đã chia bệnh thành 4 mức độ [42]
Đặc điểm
lâm sàng
Bình thường Nhẹ Trung bình Nặng/ Rất nặng
Nghiên cứu của Orna Geyer (2010), mức độ đục giác mạc nặng và lồi mắttrâu chiếm 58% (10/17 bệnh nhân) ở nhóm mang đột biến cao hơn nhóm không độtbiến là 11% (2/17 bệnh nhân) (p=0,004) [38]
Nghiên cứu của Wool Suh (2012) thấy ở nhóm có đột biến gen CYP1B1 tỷ lệmức độ bệnh nặng cao hơn (52,4%) so với nhóm không có đột biến gen (43,9%),tuy nhiên các khác biệt này không có ý nghĩa thống kê [8]
Nghiên cứu tại Liban (2016) chỉ ra rằng nhãn áp trung bình như nhau ở hainhóm (35,2 mmHg và 35,6 mmHg trước mổ; 15,6 mmHg và 14,8 mmHg sau mổ),mức độ lõm gai C/D của 2 nhóm là như nhau 0,57±0,19 so với 0,62±0,3 (p=0,98).Mức độ nặng của bệnh (đục giác mạc nặng và lồi mắt trâu) tại thời điểm phát hiệnbệnh của nhóm mang đột biến là 67% cao hơn gấp 2 lần nhóm không mang độtbiến, tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p=0,32) [41]
Trang 182.3.5 Mối liên giữa kết quả điều trị với đột biến gen CYP1B1
Các nghiên cứu khác nhau trên thế giới đã đề cập đến mối liên quan giữaphương pháp phẫu thuật, số lần phẫu thuật, kết quả thị lực, nhãn áp, khúc xạ sau mổvới nhóm bệnh nhân có và không có đột biến gen, số lượng đột biến gen, loại độtbiến gen khác nhau trên bệnh nhân glôcôm bẩm sinh nguyên phát
Nghiên cứu của Reddy (2004) phát hiện 2 bệnh nhân mang đột biến xóađoạn đều có kết quả phẫu thuật rất kém, chỉ làm hạ nhãn áp còn thị lực dưới đếmngón tay 1 mét Ngược lại, 2 bệnh nhân mang đột biến thay thế acid amin ở trạngthái đồng hợp tử kết quả thị lực sau mổ rất tốt là 20/40 và 20/50 [39]
Nghiên cứu của tác giả Xueli Chen tại Trung Quốc năm 2013, phẫu thuật 192bệnh nhân (305 mắt) thấy tỷ lệ phẫu thuật thành công tại các thời điểm theo dõi sau
mổ ở nhóm mang đột biến gen luôn cao hơn nhóm không mang đột biến gen mộtcách có ý nghĩa thống kê (p<0,05), điều này trái ngược với nhận định của cácnghiên cứu khác trên thế giới [36] Tác giả giải thích do kết quả phẫu thuật phụthuộc rất lớn vào thời điểm phát hiện của bệnh nhân Nhóm bệnh nhân có đột biếngen CYP1B1 thời gian biểu hiện bệnh bệnh trung bình là trước 2 tháng tuổi, sớmhơn một cách có ý nghĩa thống kê so với nhóm không có đột biến gen là 6 thángtuổi, do vậy được can thiệp phẫu thuật sớm hơn dẫn tới kết quả phẫu thuật tốt hơn
h Thời gian theo dõi sau mổ (tháng)
Hình 9 Tỷ lệ phẫu thuật thành công ở nhóm có và không có đột biến CYP1B1 [ 36 ]
Nghiên cứu của Orna Geyer (2010) chỉ ra rằng tỷ lệ mắt cần phẫu thuật lại ởnhóm 17 bệnh nhân mang đột biến gen CYP1B1 là 23/28 mắt (82%) cao hơn nhómkhông mang đột biến là 12/30 mắt (40%) (p=0,001) [43] Kết quả phẫu thuật lại ởnhóm bệnh nhân này cũng phù hợp với thời gian xuất hiện bệnh sớm hơn và đặcđiểm lâm sàng nặng hơn so với nhóm không có đột biến gen
Nghiên cứu của Wool Suh (2012) tại Hàn Quốc phát hiện tỷ lệ phẫu thuật lần
2 ở 22 bệnh nhân mang đột biến gen là 22,7% nhiều hơn nhóm không mang đột
CYP1B1
có đột biến
không đột biến
Trang 19biến gen là 17,5%, tuy nhiên các khác biệt này không có ý nghĩa thống kê 64,4%bệnh nhân ở nhóm không đột biến được phẫu thuật góc (rạch bè hoặc mở bè) trongkhi đó phẫu thuật được lựa chọn cho 68,7% số bệnh nhân có đột biến là cắt bè hoặcđặt van dẫn lưu tiền phòng, sự khác biệt này có nghĩa thống kê với p=0,027 58,7%bệnh nhân đạt kết quả nhãn áp điều chỉnh (<21 mmHg) sau phẫu thuật ở nhómkhông đột biến tốt hơn kết quả này ở nhóm đột biến là 22,7% (p=0,008)
Bên cạnh đó khi so sánh đặc điểm lâm sàng giữa nhóm không có đột biếngen (63 bệnh nhân), nhóm mang 1 đột biến gen (11 bệnh nhân) và nhóm mang 2 độtbiến gen (11 bệnh nhân) thấy kết quả nhãn áp không điều chỉnh sau phẫu thuật vàdùng thuốc ở nhóm mang 2 đột biến gen lên tới 45,5% cao hơn hẳn 2 nhóm kia là4,8% và 0% (p=0,000) Tỷ lệ các loại phẫu thuật (phẫu thuật góc, phẫu thuật gócphối hợp cắt bè, phẫu thuật đặt van dẫn lưu tiền phòng cũng khác biệt có ý nghĩathống kê giữa 3 nhóm nghiên cứu (p=0,002) [40]
Nghiên cứu của Christiane Al-Haddad (2016) tại Liban cho thấy nhãn áptrung bình của hai nhóm có và không có đột biến gen CYP1B1 là như nhau trước vàsau phẫu thuật (35,2 và 35,6 mmHg trước mổ; 15,6 và 14,8 sau mổ) Số lượng thuốcđiều trị glôcôm như nhau (1,2 loại và 1,3 loại) Số lần phẫu thật của nhóm có độtbiến cao hơn nhóm không đột biến (1,8 và 1,4 lần với p=0,15) Mức độ tật khúc xạ
ở 2 nhóm là như nhau: nhóm đột biến có 4 mắt cân thị nhẹ đến trung bình, 3 mắtcận nặng và 4 mắt viễn thị, 1 mắt không đo được khúc xạ; nhóm không đột biến gen
có 7 mắt cận nhẹ đến trung bình (< - 6,00 D), 4 mắt cận nặng (> - 6,00 D) và 3 mắtviễn thị, 2 mắt không đo được khúc xạ do giác mạc đục Kết quả thị lực kém sau mổ(< 20/400) như nhau ở 2 nhóm Tuy nhiên có một bệnh nhân mang đột biến1793delC tạo mã kết thúc ở vị trí acid amin 464 (S464X) biểu hiện bệnh lúc 2 ngàytuổi, 2 mắt lồi mắt trâu rất nặng, cần phẫu thuật rất nhiều lần bao gồm cắt rạch bè vàđặt van ở cả 2 mắt [41]
2.4 Các kỹ thuật phát hiện đột biến gen CYP1B1
2.4.1 Kỹ thuật PCR (Polymerase Chain Reaction)
Trang 20Năm 1985, kỹ thuật PCR lần đầu tiên được Kary Mullis phát minh, quá trìnhnhân bản DNA được thực hiện trong ống nghiệm mà không cần nhờ đến các tế bàochủ như vi khuẩn hay nấm men, đồng thời mở ra nhiều triển vọng trong nghiên cứu vàứng dụng.
2.4.1.1 Nguyên tắc chung
Dựa vào hoạt tính của các DNA polymerase xúc tác tổng hợp một mạchDNA mới từ mạch DNA khuôn, với nguyên liệu là bốn loại nucleotid Phản ứng nàyđòi hỏi sự có mặt của những mồi xuôi và mồi ngược có trình tự bổ sung với hai đầucủa trình tự DNA khuôn
Phản ứng PCR là một chuỗi nhiều chu kỳ nối tiếp nhau, mỗi chu kỳ gồm babước: biến tính, bắt cặp, kéo dài chuỗi
- Bước 1: là giai đoạn biến tính (denaturation) Trong một dung dịch phản ứng bao
gồm các thành phần cần thiết cho sự sao chép, phân tử DNA được biến tính ở nhiệt
độ cao hơn Tm (nhiệt độ nóng chảy) của phân tử, thường là 94oC - 95oC trong vòng
30 giây - 1 phút
- Bước 2: là giai đoạn bắt cặp (annealing) Nhiệt độ được hạ thấp cho phép các mồi
bắt cặp với khuôn, dao động trong khoảng 40oC - 70oC, tuỳ thuộc Tm của các mồi
sử dụng và kéo dài từ 30 giây - 1 phút
- Bước 3: là giai đoạn tổng hợp hay kéo dài (extension) Nhiệt độ được tăng lên 72oC
để cho DNA polymerase là các polymerase chịu nhiệt (Taq polymerase, Tth polymerase, Pfu polymerase,…) hoạt động tổng hợp tốt nhất Thời gian phụ thuộc vào
độ dài của trình tự DNA cần khuếch đại, thường kéo dài từ 30 giây đến nhiều phút
Sau mỗi chu kỳ các chuỗi đôi ADN mới tạo thành sẽ tiếp tục được dùng đểlàm các DNA nền để tổng hợp các DNA mới trong chu kỳ tiếp theo Sản phẩm cuốicủa phản ứng PCR là những đoạn DNA chuỗi đôi có chiều dài là khoảng cách giữahai đoạn gen mồi, và hai đầu tận cùng của sản phẩm được xác định bởi đầu tận cùng5’ của hai đoạn gen mồi
Số lượng chu kỳ mỗi phản ứng PCR phụ thuộc vào số lượng khuôn DNA banđầu, thường không vượt quá 40 chu kỳ Sau mỗi chu kỳ sẽ làm tăng gấp đôi lượng
Trang 21mẫu của lần trước Như vậy sau n chu kỳ, từ một DNA đích đã nhân bản được thành
2n bản sao Nhờ vậy đủ số lượng DNA để có thể tách ra khi điện di và có thể pháthiện được sau khi nhuộm và để có thể tạo dòng hoặc giải trình tự Trong quá trìnhthực hiện phản ứng PCR, ở những chu kỳ sau lượng khuôn tăng nhưng lượng mồi
và dNTP (deoxyribonucleoside triphosphate) tự do giảm, enzym DNA polymerasehoạt động yếu dần Do đó, cần tính toán hàm lượng mồi, dNTP và enzym để đảmbảo phản ứng PCR cho kết quả tốt nhất [44]
Hình 10 Các bước cơ bản của kỹ thuật PCR (Theo Andy Vierstraete, 1999)
Trang 222.4.1.2 Các thành phần tham gia phản ứng PCR
DNA khuôn
Đoạn khuôn DNA (DNA template, DNA target) tinh sạch là một yếu tố quantrọng, giúp phản ứng PCR tạo được các sản phẩm chính xác Kích thước đoạn DNAkhuôn nhỏ hơn 3kb cho kết quả nhân gen tốt nhất DNA khuôn mẫu có thể đượcchiết tách từ bạch cầu máu ngoại vi, từ mô sinh thiết, từ tinh dịch đã lâu ngày, từ tóc
và xương của người đã chết, Lượng DNA khuôn thường dùng là khoảng
100-1000 ng cho phản ứng PCR 25-50 μl [45]
Mồi
Mồi là những đoạn oligonucleotid có chiều dài khoảng 15-30 nucleotid Đểthực hiện nhân một đoạn DNA bằng phản ứng PCR, cần có một cặp mồi thích hợp,bắt cặp đặc hiệu với DNA khuôn Mỗi cặp mồi gồm 1 mồi xuôi và 1 mồi ngược.Mồi xuôi có trình tự acid nucleic tương đồng với trình tự của mạch đơn DNA khôngmang mã (mạch antisense), mồi xuôi bắt cặp ở đầu 3’ của mạch antisense Mồingược có trình tự tương đồng với trình tự của mạch DNA mang mã di truyền (mạchsense) và bắt cặp với mạch sense ở đầu 3’ Nồng độ của mỗi mồi trong phản ứng là0,1-0,5 μM [46]
Các nucleotid tự do
Gồm 4 loại deoxynucleotid triphosphat (dNTPs): dATP, dTTP, dGTP vàdCTP, được dùng làm cơ chất để tổng hợp DNA Nồng độ dNTP mỗi loại khoảng50-200μM cho mỗi phản ứng PCR Khi hàm lượng dNTP tự do quá ít, tạo sản phẩmPCR ít không đủ để phát hiện Ngược lại nồng độ dNTP cao thì phản ứng PCR khóthực hiện
Enzym DNA polymerase
Là yếu tố đóng vai trò quyết định hiệu quả của phản ứng PCR Enzymthường được sử dụng hiện nay là Taq polymerase, được phân lập từ vi khuẩnThermus aquaticus sống ở nhiệt độ cao Hàm lượng enzym ảnh hưởng rất lớn đếnhiệu quả PCR Khi hàm lượng enzym quá ít, không đủ tạo sản phẩm PCR cần thiết.Ngược lại, quá nhiều enzym, sẽ tạo ra các sản phẩm PCR không đặc hiệu Thông
Trang 23thường lượng enzym Taq polymerase cần cho mỗi phản ứng có thể tích 25 μl là 0,5
2.4.1.3 Phương pháp PCR thường được sử dụng phát hiện đột biến gen CYP1B1 gây bệnh glôcôm bẩm sinh nguyên phát - PCR đơn mồi (monoplex PCR)
Là PCR kinh điển nhất, trong mỗi phản ứng PCR, chỉ sử dụng duy nhất một cặpmồi đặc hiệu để khuếch đại một đoạn gen đặc hiệu từ phân tử DNA của tế bào [49]
Các tác giả đã sử dụng từng cặp mồi để khuếch đại từng exon của genCYP1B1 bằng phản ứng PCR, sau đó điện di trên gel agarose, mẫu bệnh nhân đượctiến hành song song với mẫu đối chứng Nếu mẫu đối chứng xuất hiện vạch DNAtương ứng với kích thước của exon được khuếch đại, trong khi mẫu bệnh nhânkhông xuất hiện vạch thì bệnh nhân bị đột biến mất đoạn exon đó
Để khuếch đại gen CYP1B1 trong bệnh glôcôm bẩm sinh nguyên phát, cácnghiên cứu trước đây đều sử dụng phương pháp PCR
Hình 11 Hình ảnh điện di sản phẩm PCR khuếch đại exon 2,
gen CYP1B1 đột biến G61E trong nghiên cứu của I Stoilov năm 1998 [ 33 ].
Trang 24Hình 12 Hình ảnh PCR-RFLP của đột biến E229K [ 33 ]
2.4.2 Kỹ thuật giải trình tự gen (DNA sequencing)
Giải trình tự gen (DNA sequencing) là phương pháp xác định vị trí sắp xếpcủa các nuceotid trong phân tử DNA Hiện nay, người ta thường sử dụng haiphương pháp giải trình tự đó là phương pháp dideoxynucleotid và giải trình tự bằngmáy tự động
2.4.2.1 Giải trình tự theo phương pháp dideoxynucleotid
Phương pháp này do F Sanger, Smith và Coulson phát hiện ra năm 1977.Nguyên lý của phương pháp này như sau: dideoxynucleotid (ddNTP) là một phân tửnhân tạo, cấu trúc của nó tương tự như phân tử deoxynucleotid (dNTP), tuy nhiên ởcarbon số 3 của đường deoxyribose không phải là nhóm hydroxyl (– OH) mà là – H(hình 10)
Hình 13 Cấu trúc phân tử dNTP và ddNTP
Trang 25Trong quá trình tổng hợp mạch đơn bổ sung, một dNTP tự do gắn vào chuỗiđang tổng hợp bằng liên kết phosphodieste giữa 5’ phosphat với nhóm 3’ hydroxylcủa nucleotid cuối cùng của chuỗi (hình 11.A) Tuy nhiên, nếu một ddNTP đượcgắn vào đầu 3’ của chuỗi đang tổng hợp thì sự tổng hợp DNA sẽ dừng lại do khônghình thành được liên kết phosphodieste với nucleotid tiếp theo (hình 11.B).
Hình 14 Quá trình tổng hợp DNA bình thường (A) và tổng hợp DNA bị ức chế (B)
Trang 26Quy trình giải trình tự theo phương pháp dideoxynucleotid gồm các bước:
Hình 15 Quy trình giải trình tự theo phương pháp ddNTP
(a) Đoạn DNA cần giải trình tự được đưa vào vector tách dòng (thường là
plasmid), vector mang đoạn DNA này được biến nạp vào tế bào E.coli để chọn lọc
và nhân dòng Sau đó tiến hành tách chiết DNA plasmid
Trang 27(b) Sử dụng một đoạn mồi bổ sung với trình tự của vector và gắn vào đầu 3’của vector gần vị trí chèn DNA.
(c) Phản ứng được tiến hành trong 4 ống nghiệm, mỗi ống được cung cấpthêm DNA polymerase, 4 loại dNTP tự do ( một trong bốn loại dNTP này đượcđánh dấu phóng xạ) và một trong bốn dideoxynucleic (ddATP, ddCTP, ddGTP,ddTTP) Nồng độ của mỗi ddNTP được điều chỉnh thận trọng, thường chỉ dùng mộtlượng nhỏ, khoảng 1%
Trong quá trình tổng hợp chuỗi, enzym DNA polymerase sẽ gắn các dNTPvào để kéo dài chuỗi Do hàm lượng rất thấp nên thỉnh thoảng mới có 1dideoxynucleotid được gắn vào chuỗi và lúc đó phản ứng tổng hợp chuỗi bị dừng lại.Như vậy trong mỗi ống phản ứng chứa các mạch đơn DNA có chiều dài khác nhau, và
ở đầu 3’ của các đoạn DNA chứa một ddNTP tương ứng đã cho vào ống đó
(d) Tiến hành điện di 4 ống phản ứng trên 4 hàng của một gel polyacrylamid
để phân tách các đoạn DNA
(e) Do một trong 4 dNTP có đánh dấu phóng xạ nên khi dùng kỹ thuật phóng
xạ tự ghi, các mạch đơn trên gel điện di sẽ tạo các vạch sáng trên phim X quang
(f) Tổng hợp kết quả ở cả 4 ống, thu được các mạch đơn có kích thước hơnkém nhau 1 nucleotid Đoạn DNA ngắn nhất sẽ di chuyển xa nhất Trên ví dụ ở hình
10, đoạn ngắn nhất xuất hiện ở ống chứa ddATP, như vậy nucleotid đầu tiên đượctổng hợp ở chuỗi bổ sung là Adenin Đoạn DNA ngắn thứ 2 xuất hiện ở ống chứaddCTP, như vậy nucleotid thứ 2 của mạch DNA bổ sung là cytosin, Phân tíchtương tự, chúng ta sẽ biết được trình tự đoạn mạch đơn mới được tổng hợp và xácđịnh được trình tự của mạch DNA khuôn [50]
2.4.2.2 Giải trình tự bằng máy tự động
Giải trình tự gen là phương pháp xác định vị trí sắp xếp của các nucleotidtrong phân tử DNA Đoạn DNA cần giải trình tự được sử dụng như trình tự mẫu chophản ứng khuếch đại gen (PCR) bắt đầu từ vị trí gắn mồi Hỗn hợp của deoxy- vàdideoxynucleotid được sử dụng trong phản ứng với nồng độ sao cho cácdideoxynucleotid sẽ gắn vào mỗi vị trí mà các deoxynucleotid thường gắn trên đoạn
Trang 28DNA đang được tổng hợp Sự gắn của các dideoxynucleotid sẽ làm gián đoạn quátrình kéo dài các đoạn DNA được tổng hợp, kết quả sẽ tạo ra hỗn hợp các sợi DNA
có kích thước khác nhau Nucleotid tận cùng trên mỗi sợi DNA có thể được xácđịnh bằng cách chạy đồng thời bốn phản ứng riêng biệt trong đó mỗi phản ứng chứamột loại dideoxynucleotid (ddATP, ddCTP, ddGTP, ddTTP) hoặc bởi một phản ứnghỗn hợp nhưng từng loại dideoxynucleotid được đánh dấu bằng các chất phát huỳnhquang đặc hiệu khác nhau Kết quả là hỗn hợp các sợi DNA tổng hợp từ sợi khuônđược phân tách bằng điện di trên thạch acrylamid có độ phân giải cao, cho phépphân biệt được các sợi đơn DNA hơn kém nhau 1 nucleotid Trình tự các nucleotidđược xác định tương ứng với trình tự của các vạch trên gel ứng với mỗi loạidideoxynucleotid
Máy giải trình tự gen tự động hoàn toàn được thiết kế trên nguyên tắc sửdụng ddNTP do F Sanger và cộng sự phát minh Máy giải trình tự gen dùng 4 màuhuỳnh quang khác nhau để đánh dấu 4 loại ddNTP, hệ thống điện di thường là điện
di mao quản Mỗi khi có một vạch điện di đi qua, phân tử ddNTP cuối cùng ở đầu 3’của đoạn DNA sẽ phát ra một màu huỳnh quang tương ứng, máy sẽ ghi nhận màusắc này và chuyển về máy tính phân tích Dựa vào màu huỳnh quang mà máy nhậnbiết được từng loại nucleotid và trình tự của DNA đích [50]
Trình tự gen được đối chiếu và so sánh với trình tự gen trên GeneBank(National Center for Biotechnology Information – NCBI)
Kỹ thuật giải trình tự của DNA đích đã được ứng dụng trong nhiều nghiên cứu
để xác định các đột biến mất nucleotid, thay thế nucleotid, thêm nucleotid trên gen
Trang 29Người lành
Bệnh nhân
Hình 16 Hình ảnh giải trình tự gen CYP1B1 của bệnh nhân glôcôm bẩm sinh
nguyên phát (Trung tâm nghiên cứu Gen – Protein)
2.4.2.3 Phương pháp giải trình tự gen thường được sử dụng phát hiện đột biến gen CYP1B1 gây bệnh glôcôm bẩm sinh nguyên phát
Nghiên cứu của tác giả Hee-Jung Kim ở Hàn Quốc năm 2011 sử dụngphương pháp Bi-directional sequencing phân tích 85 bệnh nhân glôcôm bẩm sinhnguyên phát đã phát hiện được 22 bệnh nhân (chiếm 25,9%) mang 11 đột biến genkhác nhau, trong đó có 3 trường hợp đồng hợp tử và 8 trường hợp dị hợp tử 7 độtbiến thay thế acid amin (1 đột biến mới là p.G329S) và 4 đột biến xóa đoạn (1 độtbiến mới làm lệch khung dịch mã là p.V419Gfs11X) [23]
Hình 17 Hình ảnh giải trình tự gen của đột biến xóa đoạn
làm lệch khung dịch mã p.V419Gfs11X
Trang 30Nghiên cứu của Gronskov K và cộng sự (2016) tại Đan Mạch đã dùngphương pháp Sanger sequencing xác định được 12 đột biến của gen CYP1B1 gâybệnh glôcôm bẩm sinh nguyên phát, trong đó có 5 đột biến mới 12 đột biến gen baogồm 6 đột biến thay thế acid amin, 4 đột biến tạo mã kết thúc (2 đột biến vô nghĩa
và 2 đột biến lệch khung dịch mã), 1 đột biến xóa đoạn và 1 đột biến lặp đoạn [51]
Nghiên cứu của Đỗ Tấn và cộng sự năm 2016 ở Việt Nam đã dùng phươngpháp Bi-directional sequencing trên 30 bệnh nhân đã phát hiện được 5 đột biến(chiếm 16,7%), trong đó có 2 dạng đồng hợp tử và 3 dị hợp tử [52]
Bệnh nhân Người lành
Hình 18 Hình ảnh giải trình tự gen của đột biến thay thế acid amin p.L107V.
2.4.3 Phương pháp MLPA (multiplex ligation-dependent probe amplification)
Hiện nay, kỹ thuật MLPA được sử dụng trong nhiều nghiên cứu về bệnh lý ditruyền, nó cho phép phát hiện các tổn thương gen một cách nhanh chóng [53]
2.4.3.1 Chuẩn bị probe
Trong phản ứng MLPA, vấn đế thiết kế các probe gắn đặc hiệu với các đoạnDNA đích đóng vai trò cực kỳ quan trọng Thông thường, mỗi probe chứa hai phân
tử oligonucleotid có kích thước khác nhau (hình 14):
- Phân tử oligonucleotid ngắn: Gồm 2 đoạn:
+ Đoạn 1: Có trình tự nucleotid đặc hiệu với đoạn DNA đích và sẽ lai vớiDNA đích khi tiến hành phản ứng lai, đoạn này có khoảng 21-30 nucleotid nằm ởđầu 3’ của probe
+ Đoạn 2: Nằm ở đầu 5’, chứa khoảng 19 nucleotid Trình tự nucleotid củađoạn này giống nhau cho tất cả các probe, đây là vị trí gắn với mồi Y để khuyếchđại probe khi tiến hành phản ứng PCR
Trang 31- Phân tử oligonucleotid dài: cấu tạo gồm 3 đoạn:
+ Đoạn 1’: Chứa 25-43 nucleotid, gắn đặc hiệu với DNA đích ở đầu tận 5’.+ Đoạn 2’: Gồm 36 nucleotid ở đầu 3’, trình tự nucleotid giống nhau cho tất
cả các probe Là vị trí gắn với mồi X đặc hiệu để khuyếch đại probe
+ Đoạn 3’: Còn gọi là đoạn nucleotid đệm (stuffer) nằm giữa hai đoạn 1’ và2’, cấu tạo gồm từ 19 đến 370 nucleotid Trình tự nucleotid không đặc hiệu vớiDNA đích nên nó không gắn vào DNA đích Chiều dài đoạn stuffer khác nhau ở cácprobe, vì vậy các probe khác nhau sẽ có chiều dài khác nhau Do đó, sản phẩmkhuyếch đại của các probe sẽ được phân tách bằng điện di [54], [55]
Hình 19 Các giai đoạn của Kỹ thuật MLPA (theo Jan P Schouten, 2002)
2.4.3.2 Các bước tiến hành phản ứng MLPA
- Mẫu DNA hòa với 5 μl TE được biến tính ở 98°C trong 5’.
Trang 32- Cho hỗn hợp chứa các đoạn oligonucleotid của các probe vào.
- Hỗn hợp được ủ ở 60°C trong vòng 16 giờ (qua đêm) Hai đoạn lai của 2phân tử oligonucleotid sẽ gắn với DNA đích đặc hiệu ở vị trí sát nhau
- Cho enzym ligase vào và ủ ở 54°C trong 15 phút, enzym lipase xúc tác, nốihai đoạn oligonucleotid của probe lại với nhau Phản ứng nối sẽ chấm dứt bởi sựtăng nhiệt độ lên 98°C trong 5 phút của phản ứng PCR để khuyếch đại các probe
- Hai đầu 5’ và 3’ của các probe có trình tự nucleotid hoàn toàn giống nhau,đây cũng là vị trí gắn mồi khi tiến hành phản ứng PCR Do vậy, chúng ta chỉ cầndùng duy nhất 1 cặp mồi nhưng khuyếch đại được toàn bộ các probe khác nhau cótrong hỗn hợp
- Sau phản ứng PCR, mỗi probe sẽ được khuyếch đại thành nhiều bản sao.Các probe khác nhau sẽ có kích thước khác nhau do độ dài đoạn đệm (stuffer) củachúng khác nhau Do vậy, chúng sẽ được phân tách bằng phương pháp điện di(thường sử dụng phương pháp điện di mao quản) Số lượng sản phẩm khuyếch đạicủa mỗi probe sẽ tỷ lệ thuận với số bản copy của đoạn DNA đích đặc hiệu với probe
Trang 33Hình 20 Hình ảnh đột biến xóa đoạn dạng đồng hợp tử
(vùng màu hồng) của gen CYP1B1.
3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỘT BIẾN GEN CYP1B1 GÂY BỆNH GLÔCÔM BẨM SINH NGUYÊN PHÁT TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM 3.1 Tỷ lệ đột biến gen CYP1B1 trong bệnh glôcôm bẩm sinh nguyên phát
Theo tổng kết của Chouiter L năm 2017, trên thế giới từ năm 2011 đến năm
2016 có 19 nghiên cứu về đột biến gen CYP1B1 được thực hiện với tổng số 1220bệnh nhân cho thấy tỷ lệ phát hiện đột biến gen CYP1B1 trung bình là 41,6%.Trong đó, đột biến gen CYP1B1 hay gặp nhất ở Trung Đông (64,8%) và Địa TrungHải (54,4%) do tình trạng kết hôn cận huyết gây nên, tiếp đến là Châu Âu (34,7%),Châu Á (21,3%), tỷ lệ thấp nhất ở Mỹ (14,9%) [57]
Các nghiên cứu tại Trung Đông và Địa Trung Hải cho thấy tỷ lệ đột biến genCYP1B1 cao hơn các vùng lãnh thổ khác trên thế giới một cách rõ rệt Theo nghiêncứu tại Ả rập Saudi của Osama M Badeeb (2014) tiến hành trên 34 bệnh nhân thấy
tỷ lệ đột biến là 27/34 bệnh nhân (79,4%) Qua đánh giá đặc điểm bệnh nhân thấy tỷ
lệ đột biến rất cao do tình trạng kết hôn cận huyết gây nên, tỷ lệ này ở nhóm kết hôncận huyết là 21/23 bệnh nhân (91%) và nhóm không có kết hôn cận huyết là 6/11bệnh nhân (54,5%) [58] Cũng trong năm này, một nghiên cứu khác của Bouyacoub
Y trên 18 bệnh nhân ở Tunisia cho thấy tỷ lệ đột biến gen CYP1B1 là 55% [59].Nghiên cứu tại Marroc (2010) ở 90 bệnh nhân thấy tỷ lệ đột biến là 47,77% (43/90bệnh nhân) [60]