1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG, NHU cầu và GIẢI PHÁP CAN THIỆP đào tạo LIÊN tục CHO cán bộ y học cổ TRUYỀN TUYẾN HUYỆN tại VIỆT NAM

44 179 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 485,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN THÀNH TRUNG THỰC TRẠNG, NHU CẦU VÀ GIẢI PHÁP CAN THIỆP ĐÀO TẠO LIÊN TỤC CHO CÁN BỘ Y HỌC CỔ TRUYỀN TUYẾN HUYỆN TẠI VIỆT NAM Người hướng dẫn khoa học: 1.. Trong đó công tác đào tạo

Trang 1

NGUYỄN THÀNH TRUNG

THỰC TRẠNG, NHU CẦU VÀ GIẢI PHÁP

CAN THIỆP ĐÀO TẠO LIÊN TỤC CHO CÁN BỘ

Y HỌC CỔ TRUYỀN TUYẾN HUYỆN TẠI VIỆT NAM

TIỂU LUẬN TỔNG QUAN

HÀ NỘI – 2018

Trang 2

NGUYỄN THÀNH TRUNG

THỰC TRẠNG, NHU CẦU VÀ GIẢI PHÁP

CAN THIỆP ĐÀO TẠO LIÊN TỤC CHO CÁN BỘ

Y HỌC CỔ TRUYỀN TUYẾN HUYỆN TẠI VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: 1 TS Nguyễn Ngô Quang

2 PGS.TS Đỗ Thị Phương

Cho đề tài: “Thực trạng và hiệu quả can thiệp Đào tạo liên tục cho nhân

viên y tế Khoa Y học cổ truyền tuyến Huyện tại

Trang 4

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

NỘI DUNG 3

I.Giới thiệu khái quát hệ thống đào tạo liên tục y học cổ truyền trên thế giới và Việt Nam 3

1.1 Một số khái niệm về đào tạo liên tục 3

1.1.1 Khái niệm đào tạo liên tục 3

1.1.2 Khái niệm đào tạo y khoa liên tục 3

1.2 Tình hình đào tạo liên tục về YHCT tại một số nước trên thế giới 5

1.3 Hệ thốngđào tạo liên tục về YHCT tại Việt Nam 10

1.3.1 Hệ thống văn bản ban hành về Đào tạo liên tục YHCT tại Việt Nam .11 1.3.2 Hệ thống tổ chức và quản lý đào tạo liên tụcYHCT ở Việt Nam hiện nay 12

1.3.3 Các loại hình đào tạo liên tục Y học cổ truyền tại Việt Nam 15

II Mô tả thực trạng và nhu cầu đào tạo liên tục y học cổ truyền tuyến huyện tại Việt Nam 15

2.1 Thực trạng về cung cấp đào tạo liên tục về YHCT 15

2.1.1 Tình hình cung cấp đào tạo liên tục YHCT của các cơ sở đào tạo Trung ương, học viện và trường đại học 15

2.1.2 Tình hình cung cấp đào tạo liên tục YHCT của một số cơ sở đào tạo tuyến tỉnh 17

2.1.3 Một số khó khăn và bất cập đối với công tác triển khai đào tạo liên tục YHCT trên toàn quốc 20

2.2 Nhu cầu của cán bộ y tế về Đào tạo liên tục YHCT tuyến huyện 22

III Tổng quan một số nghiên cứu về đào tạo liên tục Y học cổ truyền tại Việt Nam 23

KẾT LUẬN 30

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đào tạo liên tục là một hoạt động được xác định rõ ràng để phát triểnchuyên môn của cán bộ y tế và dẫn tới việc cải thiện chăm sóc cho bệnh nhân.Đào tạo liên tục bao gồm tất cả các hoạt động học tập mà cán bộ y tế mongmuốn thực hiện để có thể thường xuyên, liên tục nâng cao năng lực chuyênmôn của mình[1] Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật vànhu cầu ngày càng cao về chất lượng dịch vụ y tế, việc đào tạo liên tục chocán bộ y tế càng trở nên cấp thiết và là một hình thức bảo đảm duy trì chấtlượng dịch vụ y tế

Y học cổ truyền có vai trò quan trọng trong chăm sóc sức khỏe cộngđồng Do vậy việc đào tạo nguồn nhân lực YHCT nói chung và đào tạo liêntục nói riêng là một trong những giải pháp then chốt giúp tăng cường chấtlượng các dịch vụ YHCT nhằm chăm sóc sức khỏe cộng đồng hiệu quả hơn

Ở một số nước trong khu vực châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, NhậtBản, Philippin, Thái Lan, Bangladesh đã đưa y học cổ truyền vào chươngtrình mục tiêu quốc gia [2],[3]

Việt Nam là một nước thuộc khối ASEAN, là nước được đánh giá là cótiềm năng lớn về y học cổ truyền[4] Tuy vậy, đào tạo nguồn nhân lực y học

cổ truyền tại Việt Nam còn chưa được quan tâm cao; đội ngũ cán bộ chuyênngành y dược cổ truyền còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, đặc biệt làthiếu đội ngũ cán bộ chuyên môn chuyên sâu Trong đó công tác đào tạo liêntục về YHCT cho đội ngũ cán bộ y tế chưa được quan tâm đúng mức, chưađáp ứng được nhu cầu chất lượng nguồn nhân lực y học cổ truyền

Việc đào tạo nguồn nhân lực liên tục về y học cổ truyền sẽ góp phầnđảm bảo con người cho y học cổ truyền phát triển trong tương lai Ở ViệtNam, cho đến nay chưa có đề tài nghiên cứu tổng thể nào về thực trạng nhân

Trang 7

lực y dược cổ truyền và nhu cầu đào tạo liên tục cho cán bộ y dược cổ truyền.

Do vậy, đề tài nghiên cứu “Thực trạng và hiệu quả can thiệp đào tạo liên tụccho nhân viên y tế khoa YHCT tuyến huyện tỉnh Thanh Hóa” được tiến hành

Trong khuôn khổ đề tài này, tiểu luận tổng quan: “Thực trạng, nhu cầu và

giải pháp can thiệp đào tạo liên tục cho cán bộ y học cổ truyền tuyến huyện tại Việt Nam” được thực hiện gồm các nội dung chính sau:

1 Giới thiệu khái quát hệ thống đào tạo liên tục Y học cổ truyền trên Thế giới

Trang 8

NỘI DUNG

I Giới thiệu khái quát hệ thống đào tạo liên tục y học

cổ truyền trên thế giới và Việt Nam

1.1 Một số khái niệm về đào tạo liên tục

1.1.1 Khái niệm đào tạo liên tục

Unesco định nghĩa đào tạo liên tục trong tài liệu đề cập về chính sách vàđiều hành mới như sau: Đào tạo liên tục là một phần của kế hoạch tổng thểtrong phát triển kinh tế - xã hội quốc gia để phát hiện và hỗ trợ các tổ chức và

cá nhân tìm kiếm ý tưởng và giúp các tổ chức và cá nhân nhận thức về sự cầnphải thay đổi và tham gia vào sự thay đổi [5] Đào tạo liên tục thể hiện sự cầnthiết cho mỗi quốc gia để thích nghi với sự thay đổi liên tục của khoa họccông nghệ để có thể tiếp thu và vận dụng tốt nhất cho sự phát triển kinh tế -

xã hội quốc gia

1.1.2 Khái niệm đào tạo y khoa liên tục

Theo Hiệp hội điều dưỡng Hoa Kỳ (1999) đã định nghĩa về ĐTLT tronglĩnh vực điều dưỡng như sau: “là những hoạt động đào tạo có kế hoạch đượcxây dựng trên cơ sở kinh nghiệm và kiến thức của những điều dưỡng chuyênnghiệp để tăng cường khả năng thực hành, đào tạo, quản lý, nghiên cứu, pháttriển lý thuyết nhằm mục tiêu cuối cùng là cải thiện sức khỏe cộng đồng” [6].Theo Ủy ban kiểm định giáo dục y học liên tục của Hoa Kỳ, ĐTLT baogồm các hoạt động giáo dục được cung cấp để duy trì, phát triển, hoặc nângcao kiến thức, kỹ năng, hiệu suất làm việc và tác nghiệp của nhân viên y tế đểcung cấp dịch vụ y tế cho người bệnh, cộng đồng, hoặc nhằm tăng cường sựchuyên nghiệp Nội dung của ĐTLT là tổng thể của kiến thức và kỹ năngđược công nhận về y học, những tiêu chuẩn về thực hành lâm sàng và cung

Trang 9

cấp sức khỏe cho cộng đồng Nghĩa rộng hơn của ĐTLT bao gồm tất cả cáchoạt động giáo dục thường xuyên nhằm hỗ trợ các nhân viên y tế để hànhnghề một cách có hiệu quả hơn Ví dụ: một khóa học về quản lý sẽ thích hợpcho các bác sĩ chịu trách nhiệm quản lý một cơ sở chăm sóc sức khỏe; mộtkhóa học về phương pháp giảng dạy sẽ thích hợp cho các bác sĩ giảng dạy tạimột trường y tế; một khóa học về lâm sàng sẽ thích hợp cho các nhân viên y

tế trong việc cung cấp dịch vụ tốt hơn cho bệnh nhân [7]

Theo Bộ Y tế Việt Nam (thông tư số 07/2008/TT-BYT ngày 25/08/2008)thì ĐTLT: “là các khoá đào tạo ngắn hạn, bao gồm: đào tạo bồi dưỡng kiếnthức, kỹ năng, nghiệp vụ; cập nhật kiến thức y khoa liên tục (ContinuingMedical Education - CME); phát triển nghề nghiệp liên tục (ContinuingProfessional Development - CPD); đào tạo chuyển giao kỹ thuật; đào tạo theonhiệm vụ chỉ đạo tuyến và các khóa đào tạo chuyên môn nghiệp vụ khác chocán bộ y tế mà không thuộc hệ thống văn bằng giáo dục quốc dân” [8]

Tổ chức y tế thế giới cũng đã đưa ra thuật ngữ phát triển nghề nghiệpliên tục (CPD) và được sử dụng rộng rãi tại các nước Âu, Mỹ Ngoài các nộidung giống như của CME, CPD còn bao gồm cả các phương pháp học tậpkhác ngoài hình thức nghe giảng và ghi chép là các hình thức tự học và tựphát triển của từng cá nhân Phát triển nghề nghiệp liên tục đề cập việc cán bộ

y tế sau khi đã hoàn thành giai đoạn đào tạo cơ sở, sẽ học tập trong suốt cuộcđời làm việc của mỗi người để cập nhật kiến thức, kỹ năng để đáp ứng nhucầu của người bệnh, các dịch vụ y tế CPD được xây dựng dựa trên nhu cầuchuyên môn của cán bộ y tế đồng thời cũng là giải pháp chính để cải thiệnchất lượng Khác với đào tạo chính quy hay đào tạo sau đại học được thựchiện theo các quy định và quy tắc cụ thể thì CPD lại chủ yếu là các hoạt độnghọc tập trên cơ sở định hướng cá nhân và thực hành để thúc đẩy nâng caonăng lực nghề, nhằm duy trì và nâng cao năng lực từng cá thể để đáp ứng

Trang 10

được các nhu cầu ngày càng tăng của người bệnh và của hệ thống y tế Trênthực tế hiện nay ở nước ta đang đồng nhất giữa CPD và CME [9].

1.2 Tình hình đào tạo liên tục về YHCT tại một số nước trên thế giới

Trung quốc:

Khi nói đến YHCT trên thế giới thì Trung Quốc là một trong các quốcgia có nền YHCT phát triển mạnh nhất thế giới, năm 2011, Chính phủ TrungQuốc đưa ra kế hoạch 5 năm lần thứ 12 (2011-2015) về phát triển YHCT đảmbảo YHCT được bảo vệ, hỗ trợ và phát triển tích cực Hiến pháp của TrungQuốc năm 1982 ghi rõ: phát triển nền y học của Trung Quốc theo hướng kết hợpYHHĐ và YHCT trong hệ thống chăm sóc sức khỏe quốc gia[10],[11]

Trung Quốc có 27 trường Đại học YHCT, 52 trường trung học YHCT và

81 trường Đại học Y khoa có khoa YHCT Những Bệnh viện lớn có triển khaichương trình đào tạo liên tục thường xuyên và liên tục về YHCT như: Bệnhviện đại học Đông y dược Thiên Tân, Bệnh viện Đông Tây y, Bệnh việnĐông y Bắc Kinh, Bệnh viện Tây Phạm – Viện Khoa học Đông y TrungQuốc, Bệnh viện Vọng Kinh – Viện Khoa học Đông y Trung Quốc, Bệnhviện Đông y Thành phố Thượng Hải, Bệnh viện Đại học Đông y dược Thành

Đô, Viện Đông y tỉnh Chiết Giang, Viện Đông y tỉnh Quảng Đông, ViệnĐông y tỉnh Cam Tú [10],[11],[12]

Tại Trung Quốc, vấn đề kết hợp YHCT với YHHĐ là một trongnhững chủ trương chính của Trung Quốc Trong đó các thầy thuốc YHHĐđược đào tạo thêm về YHCT, các thầy lang cổ truyền được đào tạo thêm vềYHHĐ, họ được tham gia các chương trình y tế của Nhà nước và được côngnhận một cách chính thức Năm 1995, Trung Quốc đã có 2.522 bệnh việnYHCT với 353.373 nhân viên y tế và 236.060 giường bệnh Những bệnh việnnày đã điều trị 200 triệu bệnh nhân ngoại trú và 3 triệu bệnh nhân nội trú mộtnăm Đồng thời 95% các bệnh viện ở Trung Quốc có khoa YHCT [13],[14]

Trang 11

Theo ước tính có 40% người cung cấp dịch vụ CSSK ở Trung Quốc làYHCT, chủ yếu tập trung ở vùng nông thôn của Trung Quốc [15] Cùng vớinhu cầu về nguồn nhân lực YHCT, yêu cầu về nâng cao chất lượng dịch vụ và

kĩ năng chuyên môn trong phục người bệnh cũng nâng lên và đào tạo liên tục

là nhu cầu thiết yếu và điều kiện bắt buộc để có thể tiếp tục hành nghề tạiTrung Quốc [14]

Đặc trưng của mô hình đào tạo YHCT ở Trung Quốc là để trở thành mộtbác sĩ YHCT bạn sẽ phải theo học tập trung trong thời gian là 5 năm; đối vớitrung học YHCT bạn sẽ phải theo học tập trung 3 năm [13] Ủy ban đào tạoliên tục y khoa cấp quốc gia và cấp tỉnh có trách nhiệm hướng dẫn, điều phối

và quản lý chất lượng của hoạt động đào tạo liên tục y khoa, hệ thống đào tạotrực tuyến đang được phát triển nhưng cũng chỉ chiếm một phần tương đốinhỏ trong các hoạt động của đào tạo y khoa liên tục Các bác sĩ sẽ lựa chọnmột chủ đề hoặc vấn đề và phát triển thành một khóa học bằng cách đưa tổchức các lớp giảng tại bệnh viện theo sự hướng dẫn của các chuyên gia Bêncạnh đó, các tài liệu của khóa học sẽ được in ấn và xuất bản thành CD Ngườihoàn thành khóa học sẽ được cấp chứng nhận 3 năm sau khi hoàn thành 25chứng nhận các khóa học của chương trình đào tạo liên tục[14]

Nhật Bản:

Ảnh hưởng lớn bởi nền YHCT Trung Quốc phải kể đến Nhật Bản; NhậtBản là nước có truyền thống YHCT lâu đời, từ thế kỷ thứ V Y học cổ truyềnTrung Quốc đã vào Nhật Bản qua con đường bán đảo Triều Tiên Song, saunăm 1868, YHCT Nhật Bản bị lụi dần do thể chế cầm quyền, nhất là từ năm1912-1926, thời Minh Trị, YHCT bị cấm hoạt động (chỉ cho Tây y hoạtđộng) Mặc dù vậy, YHCT Nhật Bản vẫn tiếp tục tồn tại và được người dân

sử dụng trong cộng đồng, YHCT Nhật Bản bao gồm YHCT Trung Quốc và yhọc dân gian của Nhật Bản, được người Nhật Bản gọi là Kampo Sau năm

Trang 12

1950, YHCT Nhật Bản dần được phục hồi Y học cổ truyền được đưa vàogiảng trong trường đại học Y khoa hoặc trường đại học có khoa Y từ năm

1986 [10],[16]

Tại Nhật Bản, có 80 trường YHHĐ, 98% trong số đó cung cấp ít nhấtmột môn học Kampo vào năm 2011; tuy nhiên, giáo dục trong y học Kampochiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong tổng số chương trình học Cả nước chỉ có 11trường cao đẳng châm cứu[17],[18]

Đối với Nhật Bản để trở thành một Kampo, người thầy thuốc phải tốtnghiệp trường đại học y trở thành bác sỹ y học hiện đại và có thời gian thực tếlâm sàng 03 năm, sau đó học thêm 03 năm về YHCT Trên 90% bác sỹ NhậtBản thường xuyên kết hợp YHHĐ với thuốc YHCT trong khám và điều trịbệnh cho người dân tại cộng đồng và việc kê đơn thuốc YHCT của các bác sỹtrên cơ sở các bài thuốc YHCT ghi trong dược điển (kể cả sự gia giảm của bàithuốc) Trên lâm sàng, YHCT Nhật Bản được đưa vào khám và điều trị kếthợp với YHHĐ trong 25 chuyên ngành (lão khoa, nhi khoa, tiêu hóa, xươngkhớp, sản khoa, phụ khoa, da liễu, tiết niệu, tim mạch, thận, phổi ) Mộttrong những nguyên nhân giúp cho YHCT được người dân sử dụng nhiều là:

từ năm 1976 Nhật Bản đã đưa 148 bài thuốc Kampo và 6 phương pháp châmcứu vào mục chi trả của bảo hiểm y tế quốc gia và Kampo còn đáp ứng đượccác yếu tố tâm linh và tinh thần của người Nhật [10],[16],[18]

Tính từ năm 1974 đến 1989, sử dụng các loại thuốc YHCT ở Nhật Bản

đã tăng 15 lần trong khi các loại tân dược chỉ tăng 2,6 lần Ít nhất 65% bác sĩ

ở Nhật khẳng định rằng họ đã sử dụng phối hợp đồng thời thuốc YHCT vàthuốc YHHĐ [19] Lý do giải thích là Kampoo không gây phản ứng, khônggây tác dụng phụ [19] Một bài thuốc Kampoo dự định áp dụng cho bệnhnhân phải qua 2 giai đoạn: giai đoạn 1 tất cả bệnh nhân được cho sử dụng vànhững người có đáp ứng với thuốc được lựa chọn, giai đoạn 2 một thử

Trang 13

nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng chỉ bao gồm những người bệnhnhân có đáp ứng với thuốc được tiến hành trên và đánh giá tác dụng của thuốc[20],[21] Kampoo không nằm trong hệ thống nhà nước nhưng được khuyếnkhích phát triển và Nhật Bản là nước có tỷ lệ người dân sử dụng YHCT caonhất thế giới [22]

Hiệp hội y học Nhật Bản thành lập ủy ban đào tạo y khoa liên tục vàonăm 1984 và triển khai chương trình đào tạo y khoa liên tục năm 1987.Chương trình đào tạo Y khoa liên tục tại Nhật Bản yêu cầu người tham giađào tạo gửi các bài luận đến tạp chí y học Nhật Bản bằng đường bưu điệnhoặc bằng hệ thống học tâp trực tuyến (sau năm 2004) Các bác sĩ có bài báođược phê duyệt và xuất bản sẽ được cấp chứng chỉ Hiện tại theo hiệp hội yhọc Nhật Bản áp dụng tiêu chí mới cho việc xét duyệt hoàn thành đào tạo ykhoa liên tục bằng hình thức cấp chứng nhận cho mỗi lần tham gia của bác sĩtrong các chương trình như: Tham gia giảng dạy, báo cáo hội thảo, báo cáohội nghị, làm các bài kiểm tra trên hệ thống học tập trực tuyến, viết sách, báokhoa học Chứng chỉ đào tạo liên tục sẽ được cấp cho bác sĩ hoàn thành 10chứng nhận trong một năm và chứng chỉ ghi nhận hoàn thành đào tạo Y khoaliên tục sẽ được cấp cho bác sĩ nhận được 3 chứng chỉ đào tạo liên tục trong 3năm liên tiếp [23]

Hàn quốc:

Ở Hàn Quốc, có 12 trường học y khoa có đào tạo YHCT, 11 trườngtrong số đó là các trường tư thục và chỉ một trong số đó là trường công lập.Các trường đại học cung cấp một chương trình y khoa học trong 06 năm.Trong 06 năm đó, sinh viên sẽ học 02 năm tiền lâm sàng, 02 năm học cáckhóa học lâm sàng và 02 năm học về bán hàng [17]

Để trở thành một bác sĩ YHCT tại Hàn Quốc, một người phải trải qua 7năm học tập (3 năm tiền y khoa và 4 năm ở trường y khoa) Sau khi tốt nghiệp

Trang 14

được cấp chứng chỉ hành nghề thì bác sĩ bắt buộc phải thực hiện đào tạo liêntục hàng năm Các các bác sĩ Y học nói chung và YHCT nói riêng bắt buộcphải tham gia các khóa đào tạo liên tục hàng năm theo đạo luật/nghị định thựcthi dịch vụ Y tế Các bác sĩ phải đạt được 8 điểm đào tạo liên tục hàng năm được

để nhận được sự phê duyệt duy trì chứng chỉ hành nghề Điểm đào tạo liên tục

có thể có được qua nhiều cách thức khác nhau bao gồm: Tham gia các hội nghịquốc gia thường kì (4 điểm đào tạo liên tục), xuất bản các bài báo khoa học (2điểm đào tạo liên tục), tham gia các hội nghị khoa học quốc tế (4 điểm đào tạoliên tục), hội nghị khoa học trong nước (2 điểm đào tạo liên tục), [24]

Singapore:

Theo báo cáo của Bộ Y tế Singapore tại Hội nghị YHCT các nướcASEAN lần thứ 02: từ năm 1995, Vụ YHCT của Bộ Y tế Singapore đã đượcthành lập Đến năm 2000, đạo luật về đội ngũ hành nghề YHCT đã đượcQuốc hội Singapore thông qua [25]

Tính đến ngày 31/12/2009, Singapore có 2.421 cán bộ đăng ký hànhnghề YHCT Việc khám bệnh, chữa bệnh bằng YHCT được người Singaporetin dùng Singapore có ba chủng tộc chính, chủ yếu là người Trung Quốc(74,7%), người Malaysia chiếm 13,6%, người Ấn Độ chiếm 8,9% Y học cổtruyền tại nước này gồm các phương pháp chữa bệnh chính là: YHCT TrungQuốc (sử dụng châm cứu và nguyên liệu thuốc Trung Quốc); Y học cổ truyềnMalaysia (sử dụng dược liệu thuốc của Malaysia hoặc Jamu chủ yếu từIndonesia và Malaysia); Y học cổ truyền Ấn Độ (sử dụng dược liệu thuốchoặc Ayurveda chủ yếu từ Ấn Độ) [11],[25]

Thái Lan:

Bộ Y tế Công cộng Thái Lan đã lồng ghép các loại thuốc thảo dược vàochương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu từ khi có kế hoạch phát triển Y tếQuốc gia lần thứ 4 (1977-1981) bằng cách lựa chọn 60 cây thuốc sử dụng

Trang 15

trong chăm sóc sức khỏe ban đầu Cẩm nang về các cây thuốc được lựa chọn

đã in thành sách xuất bản và cấp cho các tình nguyện viên về thôn bản trong

cả nước để thúc đẩy việc trồng cây thuốc tại cộng đồng và giáo dục người dânhiểu về lợi ích của các cây thuốc, góp phần điều trị các bệnh và các triệuchứng thông thường để tăng cường việc tự chăm sóc sức khỏe[11]

1.3 Hệ thốngđào tạo liên tục về YHCT tại Việt Nam

Đào tạo liên tục y học cổ truyền tại Việt Nam dựa trên nền tảng đào tạo yhọc cổ truyền được qui định bằng các văn bản pháp luật của Nhà nước Trong

hệ thống tổ chức YHCT, ngoài các cơ sở đào tạo và cung cấp dịch vụ y tếNhà nước còn có nhiều phòng chẩn trị, nhà thuốc YHCT tư nhân được mở rakhắp nơi để phục vụ cho nhu cầu khám chữa bệnh bằng YHCT của nhân dân

Trang 16

1.3.1 Hệ thống văn bản ban hành về Đào tạo liên tục YHCT tại Việt Nam

Trong thư gửi Hội nghị cán bộ Y tế, ngày 27/2/1955, Chủ tịch Hồ ChíMinh đã chỉ ra: “Ông cha ta ngày trước có nhiều kinh nghiệm quý báu vềcách chữa bệnh bằng thuốc ta, thuốc bắc Để mở rộng phạm vi y học, các cô,các chú cũng nên chú trọng nghiên cứu và phối hợp thuốc “Đông” và thuốc

“Tây”[26] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng nêu rõ:Hoàn thiện và củng cố mạng lưới YHCT Vận động, khuyến khích và hướngdẫn nhân dân nuôi, trồng và sử dụng các loại cây, con làm thuốc chữa bệnh[27] Nghị quyết số: 46 - NQ/TW, ngày 23/02/2005 của Bộ Chính trị về côngtác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới, tiếptục khẳng định: phát triển đồng thời y tế phổ cập và y tế chuyên sâu; kết hợpĐông y và Tây y [28] Ngày 04/7/2008, Ban Bí thư Trung ương Đảng banhành Chỉ thị số: 24 - CT/TW về “phát triển nền Đông y Việt Nam và Hộiđông y Việt Nam trong tình hình mới” (Chỉ thị 24 - CT/TW) [18] Nhằm thểchế hóa Chỉ thị 24 - CT/TW, ngày 30/11/2010, Thủ tướng Chính phủ đã banhành Quyết định số: 2166/QĐ - TTg về việc “Ban hành Kế hoạch hành độngcủa Chính phủ về phát triển y, dược cổ truyền Việt Nam đến năm 2020”[29].Mục tiêu cụ thể trong Kế hoạch hành động của Chính phủ là đến năm 2020:100% viện có giường bệnh, bệnh viện đa khoa, chuyên khoa, có Khoa y dược

cổ truyền (YDCT); 100% Phòng khám đa khoa và trạm y tế xã, phường, thịtrấn có tổ YDCT do thầy thuốc Y dược cổ truyền của trạm y tế phụ trách;khám, chữa bệnh bằng YHCT: tuyến trung ương đạt 15%, tuyến tỉnh đạt 20%,tuyến huyện đạt 25% và tuyến xã đạt 40% [11]

Năm 2008, Bộ Y tế đã ban hành thông tư số 07/2008/TT-BYT hướngdẫn công tác đào tạo liên tục đối với cán bộ y tế Bộ Y tế quy định tất cả cán

bộ y tế đang hoạt động trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam phải được đào tạo cậpnhật về kiến thức, kỹ năng, thái độ trong lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ của

Trang 17

mình Tuy nhiên, việc triển khai đào tạo liên tục nhân lực y tế theo luật khámbệnh chữa bệnh và Thông tư về đạo tạo liên tục còn khá chậm, nhiều đơn vị y

tế vẫn còn thụ động, trông chờ ở Bộ Y tế và sự hỗ trợ từ các dự án, vì vậyviệc đào tạo liên tục nhân lực y tế còn chưa đáp ứng yêu cầu như mong muốn.Đến nay, Việt Nam tuy bước đầu đã hình thành hệ thống đào tạo liên tụcnhưng chưa hoàn chỉnh Những chế độ chính sách còn chưa đầy đủ, thiếuđồng bộ khiến việc triển khai thực hiện đào tạo liên tục gặp nhiều khó khăn.Chất lượng đội ngũ nhân lực y tế không phát triển kịp theo nhu cầu, làm ảnhhưởng đến công tác chuyên môn của ngành [1]

Công tác đào tạo liên tục tuy đã triển khai trong ngành khá lâu, tuy nhiênkhó khăn chủ yếu nhất là cách tổ chức đào tạo và đặc biệt là vấn đề kinh phícho đào tạo liên tục, do vậy Thông tư số 22/2013/TT-BYT, ngày 9/8/2013cũng đã chỉ ra để có thể triển khai tốt công tác này thì cần phải xây dựng kếhoạch Trên cơ sở đó mới có nguồn lực bao gồm nhân lực, vật lực và tài lựccho công tác đào tạo liên tục Ngoài ra còn có Công văn số 2034/BYT-5K2ĐT năm 2014 tăng cường chất lượng công tác đào tạo liên tục cán bộ y tế

do Bộ Y tế ban hành

Đồng thời, nhiều tổ chức và hội nghị quốc tế về YHCT đã lên tiếng kêugọi coi trọng, phát huy và phát triển YHCT vì tính sẵn có, hiệu quả và giá cảhợp lý với thu nhập của số đông người dân (Chiến lược YHCT của WHO

2014 – 2023; Hội nghị YHCT các nước ASEAN lần thứ 2, năm 2010 tại HàNội…) [11],[25]

1.3.2 Hệ thống tổ chức và quản lý đào tạo liên tụcYHCT ở Việt Nam hiện

nay

Hệ thống tổ chức và quản lý Nhà nước về YHCT bước đầu đã được củngcố: 66,7% Sở Y tế tỉnh, thành phố có chuyên viên chuyên trách theo dõi côngtác YHCT và 31,7% Sở Y tế tỉnh, thành phố có chuyên viên bán chuyên trách

Trang 18

theo dõi hoạt động YHCT Tỷ lệ cán bộ theo dõi công tác YHCT có trình độ:trên đại học là 16,7%; Bác sĩ YHCT 50%; Dược sĩ đại học 16,7%; trình độkhác 16,6% Phòng Y tế (Trung tâm Y tế) có 16,4% chuyên viên chuyên tráchtheo dõi công tác YHCT và 77% có chuyên viên bán chuyên trách theo dõihoạt động YHCT[30] Cùng với đó, hệ thống đào tạo liên tục YHCT cũngtừng bước hình thành Sau nhiều năm xây dựng hiện tại hệ thống đào tạo liêntục YHCT[31],[32] được triển khai tại một số cơ sở điển hình như sau:

- Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam

- Khoa YHCT Trường đại học Y Hà Nội, Trường đại học Y Dược thànhphố Hồ Chí Minh

- Một số trường đại học y có bộ môn YHCT: Thái Bình, Thái Nguyên,Huế, Hải Phòng, Học viện Quân y

- Bệnh viện YHCT trung ương, Bệnh viện Châm cứu trung ương, ViệnYHCT Quân đội

- Hệ thống các trường trung cấp, cao đẳng y, dược của trung ương và địaphương có bộ môn đào tạo y sỹ YHCT

- Một số trường trung học YHCT dân lập: Trường trung cấp y dược LêHữu Trác; Trường trung cấp y dược Tuệ Tĩnh

Trang 19

Ngoài các trường đại học, cao đẳng, trung cấp y dược và các đơn vị cóchức năng đào tạo được quản lý bởi Bộ Giáo dục và Đào tạo Bộ Y tếcũng giao cho các bệnh viện, các đơn vị thực hành tiến hành các khóa đàotạo liên tục ngắn hạn cho các cán bộ của viện cũng như đối tượng nhânviên y tế nói chung Thông thường các khóa đào tạo ngắn hạn sẽ cung cấpchứng nhận, chứng chỉ hoàn thành khóa học do chính đơn vị tổ chức đàotạo cấp dưới danh nghĩa các trường hoặc liên kết với các trường để cungcấp chứng chỉ cho học viên.

TT kiểm nghiệm Dược phẩm

Chi cục Dân số và KHHGĐ tỉnh

Đơn vị Y tế khác, …

Sơ đồ 1.2 Hệ thống tổ chức cơ sở đào tạo liên tục cán bộ y tế

Trang 20

1.3.3 Các loại hình đào tạo liên tục Y học cổ truyền tại Việt Nam

Để nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ y tế, ngày 28/05/2008, Bộ Y tế

đã ban hành Thông tư số 07/2008/TT-BYT và ngày 9/8/2013 ban hành thông

tư 22/2013/TT-BYT hướng dẫn công tác đào tạo liên tục đối với CBYT Theothông tư này các loại hình đào tạo liên tục bao gồm:

a) đào tạo bồi dưỡng để cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ thuật thuộc lĩnhvực chuyên môn đang đảm nhận;

b) đào tạo lại;

c) đào tạo theo nhiệm vụ chỉ đạo tuyến;

d) đào tạo chuyển giao kỹ thuật;

e) những khoá đào tạo chuyên môn nghiệp vụ khác của ngành y tế màkhông thuộc hệ thống bằng cấp quốc gia [33]

Một biện pháp nâng cao trình độ CBYT tuyến dưới khác là thông quađào tạo tại chỗ, bổ túc kỹ năng và chuyển giao công nghệ, Bộ Y tế đã banhành những quy trình kỹ thuật, phương pháp chung chế biến các vị thuốc yhọc cổ truyền và các phương pháp kết hợp YHCT với YHHĐ, đồng thời chỉđạo thực hiện Đề án cử cán bộ chuyên môn luân phiên từ bệnh viên tuyến trên

về hỗ trợ các bệnh viện tuyến dưới theo Quyết định số 1816/QĐ-BYT, ngày26/05/2008, của Bộ trưởng Bộ Y tế [34],[35]

Trang 21

II Mô tả thực trạng và nhu cầu đào tạo liên tục y học cổ truyền tuyến huyện tại Việt Nam

2.1 Thực trạng về cung cấp đào tạo liên tục về YHCT

2.1.1 Tình hình cung cấp đào tạo liên tục YHCT của các cơ sở đào tạo

Trung ương, học viện và trường đại học

Trong 5 năm gần đây, Cục Y Dược cổ truyền - Bộ Y tế đã trực tiếp triểnkhai một số lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức y học cổ truyền ở các khu vực,tuy nhiên số lượng cán bộ được đi tập huấn rất ít, thống kê số lớp mà mộtCBYT đã được đào tạo cho thấy, phần lớn CBYT được học 1 khóa học(67,9%), còn lại chỉ một số ít CBYT được đào tạo 2 khóa, 3 khóa học Nộidung đào tạo tập trung chủ yếu vào các chuyên môn sâu như: kiến thứcchuyên khoa về YHCT và bổ sung kiến thức về thuốc, kĩ năng điều trị bằngYHCT [36]

Bệnh viện YHCT Trung ương:

Đây là cơ sở khám chữa bệnh hàng đầu về YHCT của cả nước; cung cấptất cả 4 hình thức ĐTLT như:

Đào tạo cho học viên tham gia thực hành lâm sàng và cấp chứng chỉ, đãđào tạo được 4 năm (từ 2013 – 2017) với tổng số 153 học viên tham gia

Đào tạo chỉ đạo tuyến (đi tuyến dưới đào tạo): đào tạo từ 2015 – 2018với 1900 học viên

Đào tạo chuyển giao kỹ thuật: đào tạo từ 2015 – 2018 với 100 học viên

Đào tạo định hướng chuyên khoa YHCT: đào tạo từ 2015 – 2017 với

67 học viên

Trường Đại học Y Hà Nội:

Trang 22

Theo số liệu thống kê của Trung tâm đào tạo theo nhu cầu xã hội củatrường đại học Y Hà Nội: đào tạo liên tục về YHCT từ 2013 – 2018 đã mởđào tạo được 5 lớp định hướng chuyên khoa YHCT với sự tham gia của 536học viên

Trường Đại học Y Dược Huế:

Là đơn vị có triển khai công tác đào tạo liên tục về YHCT của khu vựcmiền Trung, theo thống kê 05 năm gần đây (2013 – 2018) về đào tạo liên tụcYHCT có:

Tổng số cán bộ y tế được ĐTLT về YHCT là: 263 học viên

Hình thức đào tạo: bao gồm cả chứng chỉ và chứng nhận

Nội dung đào tạo:

2 Phương pháp nhĩ châm Hàn Quốc

và phương pháp massage Thái Lan 05 tiết 123

Bên cạnh đó trường còn nhiều khó khăn như:

 Số lượng học viên ít, chưa đáp ứng được nhu cầu của các cán bộ y tếtrên địa bàn tỉnh cũng như khu vực miền Trung và Tây Nguyên

 Kinh phí dành cho các khóa học còn hạn chế, chủ yếu dựa vào học viên

Giải pháp:

 Khảo sát, đánh giá nhu cầu về việc tổ chức các khóa ĐTLT về YHCT

 Phối hợp với các hội đông y, bệnh viện YHCT để đào tạo các lớpngắn hạn, liên tục

2.1.2 Tình hình cung cấp đào tạo liên tục YHCT của một số cơ sở đào tạo tuyến tỉnh

Bệnh viện Đa khoa Y học cổ truyền Hà Nội:

Ngày đăng: 06/08/2019, 11:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. WHO (2008), Tranditional Medicine, 26/09/2018, web http://www.who.int/mediacetre/factsheets/fs134/en/&gt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranditional Medicine
Tác giả: WHO
Năm: 2008
14. Lewis A. Miller (2015), "CME credit systems in three developing countries: China, India and Indonesia", Journal of European CME.4(1), 27411 Sách, tạp chí
Tiêu đề: CME credit systems in three developingcountries: China, India and Indonesia
Tác giả: Lewis A. Miller
Năm: 2015
15. Therese Hesketh Wei Xing Zhu (1997), "Health in China: Traditional Chinese medicine: one country, two systems", BMJ. 315(7100), 115 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Health in China: TraditionalChinese medicine: one country, two systems
Tác giả: Therese Hesketh Wei Xing Zhu
Năm: 1997
16. Hiromichi Yasui (2005), "Clinical Application of Kampo Medicine", The Journal of KAIM current Kampo medicime. 1(Special Edition), 3-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clinical Application of Kampo Medicine
Tác giả: Hiromichi Yasui
Năm: 2005
17. Ching Wen Huang Yu Lee Park, Yui Sasaki, (2016), "Comparative study on the education system of traditional medicine in China, Japan, Korea, and Taiwan. No Education System of Traditional Medicine", Explpre. 2(1), 12-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Comparativestudy on the education system of traditional medicine in China, Japan,Korea, and Taiwan. No Education System of Traditional Medicine
Tác giả: Ching Wen Huang Yu Lee Park, Yui Sasaki
Năm: 2016
18. Hiromichi Yasui (2005), "Clinical Application of Kampo Medicine", The Journal of KAIM current Kampo medicime. 1(Speccical Edition), 15-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clinical Application of Kampo Medicine
Tác giả: Hiromichi Yasui
Năm: 2005
19. P B A Smits, J H A M Verbeek C D de Buisonjé (2002), "Problem based learning in continuing medical education: a review of controlled evaluation studies", BMJ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Problembased learning in continuing medical education: a review of controlledevaluation studies
Tác giả: P B A Smits, J H A M Verbeek C D de Buisonjé
Năm: 2002
21. Maliheh Mansouri MD Jocelyn Lockyer PhD (2007), "A meta-analysis of continuing medical education effectiveness", Journal of Continuing Education in the Health Professions. 27(1), 6 - 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A meta-analysisof continuing medical education effectiveness
Tác giả: Maliheh Mansouri MD Jocelyn Lockyer PhD
Năm: 2007
23. Hiroshi MIKAMI (2011), "The Continuing Medical Education Program of the Japan Medical Association: Its history and future prospects", JMAJ. 54(4), 205–209 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Continuing Medical Education Programof the Japan Medical Association: Its history and future prospects
Tác giả: Hiroshi MIKAMI
Năm: 2011
24. Sang Yun Han (2016), "The past, present, and future of traditional medicine education in Korea", Integrative Medicine Research. 5(2), 73- 82 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The past, present, and future of traditionalmedicine education in Korea
Tác giả: Sang Yun Han
Năm: 2016
25. Bộ y tế (2010), Lồng ghép y học cổ truyền vào hệ thống chăm sóc sức khỏe quốc gia - Hướng tới mô hình khả thi tại các nước ASEAN, Hội nghị YHCT các nước ASEAN lần thứ 2, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hộinghị YHCT các nước ASEAN lần thứ 2
Tác giả: Bộ y tế
Năm: 2010
26. . Hồ Chí Minh (1955), Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế ngày 27 tháng 02 năm 1955, [Tài liệu chưa xuất bản] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế ngày 27 tháng 02năm 1955
Tác giả: Hồ Chí Minh
Năm: 1955
32. Học viện y học cổ truyền Việt Nam (2008), Nghiên cứu thực trạng nguồn nhân lực y dược cổ truyền Việt Nam. Đề tài cấp nghiên cứu khoa học Cấp Bộ Y tế, tr. 45- 49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạngnguồn nhân lực y dược cổ truyền Việt Nam
Tác giả: Học viện y học cổ truyền Việt Nam
Năm: 2008
44. Trịnh Yên Bình (2013), Thực trạng nhân lực, nhu cầu đào tạo liên tục cho cán bộ y dược cổ truyền và đánh giá hiệu quả một số giải pháp can thiệp, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung Ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng nhân lực, nhu cầu đào tạo liên tụccho cán bộ y dược cổ truyền và đánh giá hiệu quả một số giải pháp canthiệp
Tác giả: Trịnh Yên Bình
Năm: 2013
53. Hoàng Thị Hoa Lý Nguyễn Hoàng Sơn (2006), "Đánh giá nhu cầu và kết quả khám, chữa bệnh bằng YHCT tại quận Long Biên, Hà Nội ", Hội nghị YHCT các nước ASEAN lần thứ II, Hà Nội, 108-114 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá nhu cầu vàkết quả khám, chữa bệnh bằng YHCT tại quận Long Biên, Hà Nội
Tác giả: Hoàng Thị Hoa Lý Nguyễn Hoàng Sơn
Năm: 2006
54. Tôn Thị Tinh Đỗ Thị Phương (2007), Đánh giá thực trạng kiến thức, thực hành về y học cổ truyền của y, bác sỹ chuyên ngành y học cổ truyền tỉnh Thái Nguyên, Hội nghị toàn quốc về Y học cổ truyền năm 2007, Trường Đại học Y Hà Nội, Hà Nội, 177-179 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực trạng kiến thức,thực hành về y học cổ truyền của y, bác sỹ chuyên ngành y học cổtruyền tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Tôn Thị Tinh Đỗ Thị Phương
Năm: 2007
55. Phạm Vũ Khánh Tống Thị Tam Giang (2010), "Thực trạng hoạt động chăm sóc sức khỏe bằng Y học cổ truyền tại các cơ sở y tế tư nhân YHCT tỉnh Quảng Ninh", Tạp chí Y học thực hành. 720, 64-68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng hoạt độngchăm sóc sức khỏe bằng Y học cổ truyền tại các cơ sở y tế tư nhânYHCT tỉnh Quảng Ninh
Tác giả: Phạm Vũ Khánh Tống Thị Tam Giang
Năm: 2010
56. Trần Ngọc Phương (2012), Đánh giá thực trạng sử dụng thuốc YHCT dùng cho CSSK tại huyền Cầu Kè tỉnh Trà Vinh, Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực trạng sử dụng thuốc YHCTdùng cho CSSK tại huyền Cầu Kè tỉnh Trà Vinh
Tác giả: Trần Ngọc Phương
Năm: 2012
57. Phạm Phú Vinh (2012), Nghiên cứu thực trạng YHCT Lạng Sơn và đề xuất một số giải pháp để phát triển YHCT Lạng Sơn , Học viện Y Dược cổ truyền Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng YHCT Lạng Sơn và đềxuất một số giải pháp để phát triển YHCT Lạng Sơn
Tác giả: Phạm Phú Vinh
Năm: 2012
58. Hoàng Thị Hoa Lý (2006), Khảo sát thực trạng nguồn nhân lực và sử dụng YHCT ở một số địa phương tỉnh Bắc Ninh, Đại học Y Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát thực trạng nguồn nhân lực và sửdụng YHCT ở một số địa phương tỉnh Bắc Ninh
Tác giả: Hoàng Thị Hoa Lý
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w