Tác giả Mario Gonzalez đã nhấn mạnh tầm quantrọng của phim sọ mặt nghiêng...51Trong nghiên cứu của chúng tôi, các chỉ số về khoảng cách N-ANS, ANS-Me,N-Me, I-NA, i-NB và GI-ANS được đưa
Trang 1NGUYỄN VŨ TRUNG
MéT Sè CHØ Sè Sä MÆT CHÝNH TR£N
PHIM §O Sä MÆT NGHI£NG ë NG¦êI VIÖT Tõ 18 §ÕN
25 TUæI T¹I TØNH B×NH D¦¥NG N¡M 2017
Chuyên ngành : Răng Hàm Mặt
LUẬN VĂN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA II
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS TRƯƠNG MẠNH DŨNG
2 TS VŨ MẠNH TUẤN
Trang 2Tôi là: Nguyễn Vũ Trung
Học viên lớp: Bác sĩ chuyên khoa cấp II Khóa 30
chuyên ngành Răng Hàm Mặt
Tôi xin cam đoan toàn bộ nội dung trong đề cương luận văn cũng nhưnội dung luận văn này là của tôi, không có sự sao chép của người khác
Hà Nội, ngày 19 tháng 09 năm 2018
Người viết cam đoan
Nguyễn Vũ Trung
Trang 3Bản cam kết
Mục lục
Danh mục bảng
Danh mục hình
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 3
TỔNG QUAN 3
1.1 Sơ lược lịch sử nhân trắc học 3
1.2 Lịch sử sử dụng phim sọ mặt trong nghiên cứu nhân trắc 5
1.3 Các phim sọ mặt từ xa trong nghiên cứu đặc điểm nhân trắc đầu mặt 7
1.3.1 Các điểm mốc mô cứng – các góc – các mặt phẳng 7
1.3.2 Các điểm mốc mô mềm và góc thường được sử dụng để phân tích thẩm mỹ 13
1.3.3 Các mốc đo, mặt phẳng và góc liên quan đến xương hàm dưới và cằm trong phân tích Ricketts [3] 15
1.3.4 Đặc điểm phân tích Steiner 18
1.4 Một số nghiên cứu nhân trắc học đầu mặt trên phim X quang từ xa .20
1.4.1 Trên thế giới 20
1.4.2 Ở Việt Nam 24
1.5 Một số đặc điểm về người Kinh 18 đến 25 tuổi tại Bình Dương 26
Chương 2 27
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 27
2.2.1 Thời gian nghiên cứu: 27
Trang 42.3 Phương pháp nghiên cứu 28
2.4 Cỡ mẫu nghiên cứu 28
2.5 Phương tiện nghiên cứu 29
2.5.1 Vật liệu và trang thiết bị nghiên cứu 29
2.5.2 Kỹ thuật chụp phim sọ-mặt kỹ thuật sọ nghiêng từ xa 30
2.6 Các bước nghiên cứu 31
2.6.1 Lập danh sách đối tượng nghiên cứu 32
2.6.2 Khám sàng lọc và lập danh sách đối tượng nghiên cứu 32
2.6.3 Tiến hành chụp phim đo sọ mặt nghiêng 33
2.6.4 Đo đạc và ghi nhận các chỉ số trên phim thông qua phần mềm đo phim 34
2.7 Các biến số và chỉ số nghiên cứu 34
2.7.1 Các biến số nghiên cứu 34
2.7.2 Các chỉ số nghiên cứu 35
2.8 Xử lý và phân tích số liệu 39
2.9 Sai số và biện pháp khống chế sai số 39
2.9.1 Sai số 39
2.9.2 Cách khống chế sai số 39
2.10 Đạo đức nghiên cứu 41
Chương 3 42
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 42
3.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 42
3.2 Mục tiêu 1: Định lượng một số chỉ số chính trên phim đo sọ mặt nghiêng ở người Việt từ 18 đến 25 tuổi tại tỉnh Bình Dương năm 2017 .43
Nhận xét: 50
Trang 5Chương 4 50BÀN LUẬN 504.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu 50Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ nam giới và nữ giới tham gia nghiêncứu là tương đương nhau với tỷ lệ lần lượt là 49,1% và 50,9% Tỷ lệ này cóthể đại diện được cho độ chính xác và tin cậy về mặt thống kê khi so sánh cácchỉ số giữa hai giới Mặt khác, tất các cả đối tượng này đều có độ tuổi từ 18-
25 và có môi trường sống, địa lý giống nhau (cùng ở tỉnh Bình Dương) là yếu
tố phù hợp đối với nghiên cứu nhân trắc học và mang tính đại diện 504.2 Một số chỉ số của mô cứng và mô mềm trên phim chụp sọ nghiêng 51Phân tích các chỉ số mô cứng là mục đích đầu tiên, quan trọng nhất trongphân tích phim sọ nghiêng Nghiên cứu định lượng về sự thay đổi các cấu trúctrên phim sọ nghiêng được B Holy Broadbent thực hiện năm 1931 Trải quagần 100 năm phát triển của phim sọ nghiêng, rất nhiều nhà khoa học đã tiếnhành các nghiên cứu phân tích các chỉ số sọ mặt và đưa ra các phương pháptrong nghiên cứu chỉnh nha Tác giả Mario Gonzalez đã nhấn mạnh tầm quantrọng của phim sọ mặt nghiêng 51Trong nghiên cứu của chúng tôi, các chỉ số về khoảng cách N-ANS, ANS-Me,N-Me, I-NA, i-NB và GI-ANS được đưa vào nghiên cứu 51Lựa chọn góc SNA, SNB và ANB để đánh giá xương hàm trên và xương hàmdưới chưa tìm thấy sự khác biệt về giá trị trung bình giữa các góc này giữanam và nữ Điều này cho thấy độ nhô của mặt trên mô cứng giữa nam và nữa
ở tỉnh Bình Dương không có sự khác nhau Kết quả nghiên cứu của chúng tôi
Trang 6Trong nghiên cứu của chúng tôi, giá trị trung bình góc SNA, SNB và ANB cũng nằm trong giới hạn cao của giá trị trung bình, tương tự như kết quả nghiên cứu của Trần Tuấn Anh (2016) Có thể nhận định rằng các đối tượng
trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi không vẩu 51
So sánh với các nghiên cứu trong nước 51
Chỉ số 51
Nguyễn Vũ Trung 51
(2017) 51
N=265 52
Trần Tuấn Anh 51
(2016) 52
N=100 52
Nguyễn Thị Phương Thảo 51
(2011) 51
N=89 52
Võ Trương Như Ngọc 51
(2010) 51
N=143 52
Võ Thị Kim Liên 51
(2006) 51
N=35 52
Trang 783,9±2,5 52
84,14±3,11 52
SNB 52
80,5±3,2 52
79,4±3,5 52
80,5±3,39 52
80,76±3,53 52
ANB 52
3,2±0,9 52
3,3±1,9 52
3,2±2,3 52
3,35±2,24 52
So sánh với các kết quả nghiên cứu trong nước qua các năm chúng tôi nhận thấy kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với các kết quả nghiên cứu của các tác giả khác 52
So sánh với các chủng tộc khác 52
Chỉ số 52
Nhóm người Việt Nam tại Bình Dương 52
(n=265) 52
Người Nhật Bản 52
Trang 8Người Ấn Độ 52
(n=50) 52
SNA 52
81,3 52
81,2 52
84,1 52
SNB 52
76,8 52
78,7 52
81,9 52
ANB 52
4,5 52
2,5 52
2,3 52
So sánh với kết quả của các nghiên cứu khác trên thế giới cho thấy có sự khác biệt giữa chỉ số góc mô cứng giữa các chủng tộc người khác nhau 52
Trong nghiên cứu của chúng tôi, để có thể thu thập các chỉ số trên phim sọ nghiêng, chúng tôi không áp dụng hoàn toàn một phương pháp cụ thể mà lựa chọn từ các phương pháp phân tích các chỉ số phù hợp cho nghiên cứu 52
Trang 9hành nghiên cứu trên nhóm sinh viên tại thành phố Hồ Chí Minh 52
Trên phim sọ nghiêng, qua các góc đánh giá mối tương quan giữa 2 xương hàm, xương – răng, răng – răng cho thầy không có sự khác biệt giữa nam và nữ, điều này cho thấy độ nhô của mặt trên mô cứng giữa nam và nữ không có sự khác nhau Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với kết quả của Võ Trương Như Ngọc và Đỗ Thị Thu Loan nghiên cứu tại Viện đào tạo Răng Hàm Mặt 53
53
KẾT LUẬN 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
PHỤ LỤC
Trang 10Bảng 1.1 Các khoảng cách và góc mô mềm thường được sử dụng trên phim
sọ mặt nghiêng từ xa 14
Bảng 1.2 Các nghiên cứu phân tích cấu trúc đầu - mặt trên phim 22
Xquang từ xa [1] 22
Bảng 2.1 Các biến số trong nghiên cứu 34
Bảng 2.2 Ý nghĩa của hệ số tương quan 41
Bảng 3.1 Giá trị trung bình các khoảng cách (mm) trên phim sọ nghiêng 43
Nhận xét: 43
Nghiên cứu 06 chỉ số khoảng cách điển hình của mô cứng trên phim sọ nghiêng cho thấy: 43
+ Giá trị trung bình của N-ANS là 50,97±4,40 (mm) 43
+ Giá trị trung bình của ANS-Me là 59,82 ± 5,67 (mm) 43
+ Giá trị trung bình của N-Me là 113,79 ± 7,59 (mm) 43
+ Giá trị trung bình của I-NA là 6,32±2,55 (mm) 43
+ Giá trị trung bình của i-NB là 6,53 ± 2,29 (mm) 43
+ Giá trị trung bình của GI-ANS là 66,56±5,80 (mm) 43
Bảng 3.2 Giá trị trung bình các góc mô cứng phản ánh tương quan các xương hàm với nhau và với nền sọ 44
Nhận xét: 44
Giá trị trung bình của góc SNA là 83,90±4,98, Giá trị trung bình của góc SNB là 80,82±4,97, Giá trị trung bình của góc ANB là 3,07±2,61 44
Trang 11Nhận xét: 44
Giá trị trung bình của góc FMIA là 57,58±8,53, Giá trị trung bình của góc F/N-Pg là 87,92±4,67 44
Bảng 3.4 Giá trị trung bình các góc mô mềm 45
Nhận xét: 45
Nghiên cứu 08 chỉ số góc điển hình của mô mềm trên phim sọ nghiêng cho thấy: 45
+ Giá trị trung bình của Sn-Ls/Li-Pg’là 138,76±12,96 45
+ Giá trị trung bình của Pn-N’-Pg’là 27,88± 3,92 45
+ Giá trị trung bình của Li-B’-Pg’là 133,09± 14,85 45
+ Giá trị trung bình của Cm-Sn-Ls là 97,89±14,19 45
+ Giá trị trung bình của Pn-N’-Sn là 19,59± 2,58 45
+ Giá trị trung bình của N’-Sn-Pg’là 163,54±6,18 45
+ Giá trị trung bình của N’-Pn-Pg’ là 134,41± 5,73 45
+ Giá trị trung bình của Góc Z là 74,32±7,27 45
Bảng 3.5 Giá trị trung bình các khoảng cách từ hai môi đến các đường thẩm mỹ 46
Nhận xét: 46
Giá trị trung bình trung bình các khoảng cách từ hai môi đến các đường thẩm mỹ: Li-S là 2,83±2,62; Ls-S là 1,38±2,60; Li-E là 1,88±2,52; Ls-E là -0,44±2,50 46
Bảng 3.6: Giá trị trung bình một số tỷ lệ của mô cứng trên phim 46
Trang 12Bảng 3.7 So sánh giá trị trung bình các khoảng cách (mm) trên phim sọ nghiêng ở nam và nữ 47
Nhận xét: 47
Trong 06 chỉ số khoảng cách mô cứng trên phim sọ nghiêng, hầu hết các khoảng cách đo được ở nam cao hơn ở nữ, 4/6 chỉ số có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05, t-test và Mann-Whitney test) Chỉ trừ các khoảng cách i-NB (mm) và GI-ANS (mm) là không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai giới (p>0,05) 47
Bảng 3.8 So sánh giá trị trung bình các góc mô cứng phản ánh tương quan các xương hàm với nhau và với nền sọ ở nam và nữ 48
Bảng 3.9 So sánh giá trị trung bình các góc mô cứng phản ánh tương quan xương - răng và răng – răng giữa nam và nữ 48
Nhận xét: 48
Bảng 3.10 So sánh giá trị trung bình các góc mô mềm giữa nam và nữ 49
Nhận xét: 49
Có 04/8 góc mô mềm ở nữ có giá trị trung bình lớn hơn ở nam là Sn-Ls/Li-Pg’, N’-Sn-Sn-Ls/Li-Pg’, Góc Z Các góc mô mềm còn lại ở nữ có giá trị trung bình nhỏ hơn ở nam là Pn-N’-Pg’, Li-B’-Pg’, Cm-Sn-Ls, Pn-N’-Sn Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05, t-test và Mann-Whitney test) 49
Bảng 3.11 So sánh giá trị trung bình các khoảng cách từ hai môi đến các đường thẩm mỹ giữa nam và nữ 49
Trang 13Kết quả nghiên cứu của chúng tôi về các chỉ số mô mềm cho thấy, giá trị trung bình góc môi cằm Li-B’-Pg’là 133,09± 14,85, so với nghiên cứu của Trần Anh Tuấn ( Giá trị trung bình của Li-B’-Pg’là 133,43 ở nam và 134,87 ở nữ) là tương đồng Kết quả này lớn hơn so với kết quả nghiên cứu của Scheiderman ở người Châu Âu (nam 122, nữ 128) Như vậy, chúng tôi thấy góc môi cằm ở nam và nữa của chúng tôi lớn hơn Điểm B’ ở đối tượng nghiên cứu của chúng tôi ít lõm hơn, hay cằm của các đối tượng trong mẫu
nghiên cứu của chúng tôi ít nhô ra trước hơn so với người Châu Âu 52
Các chỉ số khoảng cách mô mềm trên phim sọ nghiêng của nhóm đối tượng nghiên cứu có sự khác biệt rõ rệt với nghiên cứu trên người Irac và Thổ Nhĩ Kỳ Tuy nhiên có nhiefu điểm tương đồng với nghiên cứu trên người Nhật của Alcade R.E năm 2000 và người Trung Quốc 53
Giá trị trung bình góc Cm-Sn-Ls là 97,89±14,19 (nam 98,02; nữ 97,76) có sự khác biệt với người Châu Âu (nam 90-95o và nữ 95-110o) 53
DANH MỤC HÌNH Hình 1.1 Phim chụp sọ nghiêng [1] 6
Hình 1.2 Các điểm mốc giải phẫu trên phim sọ mặt nghiêng từ xa [1] 8
Hình 1.3 Các mặt phẳng tham chiếu trên mô cứng [1] 12
Hình 1.4 Các điểm mốc mô mềm [1] 14
Hình 1.5: Góc SNA, SNB, ANB 19
Trang 14ĐẶT VẤN ĐỀ
Xã hội ngày nay đang liên tục phát triển, đời sống hiện đại ngày càngđược nâng cao, vì thế một vẻ đẹp hoàn thiện đang trở thành mối quan tâmhàng đầu của con người trong đó thẩm mỹ khuôn mặt là một thành tố quantrọng góp phần tạo nên vẻ đẹp hoàn thiện đồng thời cũng tạo nên những đặcđiểm, tính cách riêng cho mỗi cá nhân, từ đó hình thành nên những nét đặctrưng riêng cho các các nhân, vùng miền khác nhau
Các giá trị nhân trắc học sọ - mặt có thể được thu thập bằng nhiều cách.Ngoài việc dùng cho nghiên cứu nhân trắc đơn thuần, các số đo và chỉ số đạidiện cho từng nhóm dân tộc còn được dùng vào nhiều ứng dụng khác nhau:chế tạo phương tiện lao động, phương tiện bảo hộ phù hợp với kích thước vàhình dáng của đầu; để nhận dạng cá thể trong khoa học hình sự dựa trên ngânhàng dữ liệu nhân trắc sọ; nhân chủng và khảo cổ học; chẩn đoán và điều điềutrị trong y khoa nói chung và trong chuyên ngành răng hàm mặt nói riêng
Phim sọ mặt đã được sử dụng từ lâu trong chẩn đoán và điều trị rănghàm mặt, phim cho phép làm hiện rõ hơn các điểm mốc mô cứng và mềm nhờ
có phân giải tốt hơn Hơn nữa, máy chụp lại được kết hợp với các phần mềm
đo đạc, tính toán chính xác, cho phép lưu giữ và xử lý số liệu thuận tiện Dựatrên loại phim này, có thể đo được nhiều kích thước (góc và đoạn thẳng) để từ
đó thực hiện được các phân tích sọ mặt khác nhau tùy theo mục đích chẩnđoán và điều trị
Tuổi từ 18 đến 25 có thể coi là một lứa tuổi đặc trưng và đại diện chongười trưởng thành Đã có rất nhiều các nghiên cứu ở lứa tuổi này trong nướccũng như ngoài nước đưa ra được các chỉ số về hình thái và kích thước cungrăng Số liệu nhân trắc đầu mặt ở độ tuổi này vì thế khá quan trọng Ngoài tácdụng phục vụ cho các yêu cầu ứng dụng khác nhau của độ tuổi này, khi so
Trang 15sánh với các giá trị ở các độ tuổi khác sẽ cho phép nhận ra được các quy luậttăng trưởng.
Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu khác nhau để mô tả các đặc điểmnhân trắc đầu của các chủng tộc khác nhau bằng phim chụp sọ mặt Phân tíchqua phim đo sọ mặt nghiêng được đánh giá là phương pháp hữu hiệu và đáng tincậy trong chẩn đoán, lập kế hoạch điều trị và can thiệp răng hàm mặt Chính vìthế, việc có được các giá trị nhân trắc sọ mặt trên người Việt nói chung và ở độtuổi trưởng thành nói riêng là rất cần thiết
Ở Việt Nam, hiện nay chúng ta vẫn chưa có các số đo, chỉ số đầu mặttrung bình đáng tin cậy trên phim X quang của người Việt Nam ở các lứa tuổi.Mặc dù đã có một số nghiên cứu nhỏ lẻ nhưng do hạn chế về cỡ mẫu nên các
số liệu hiện có chưa thể coi là có tính đại diện
Xuất phát từ những nhu cầu thực tiễn nhóm nghiên cứu tiến hành nghiêncứu quy mô lớn, nằm trong đề tài cấp nhà nước, để có thể đưa ra được một bộ
số liệu chính xác, hoàn thiện và mang tính đặc trưng cao cho người Việt Nam
Chúng tôi chọn đề tài: “ Một số chỉ số sọ mặt chính trên phim đo sọ mặt nghiêng ở người Việt từ 18 đến 25 tuổi tại tỉnh Bình Dương năm 2017”
nhằm mục tiêu:
1 Định lượng một số chỉ số chính trên phim đo sọ mặt nghiêng ở người
Việt từ 18 đến 25 tuổi tại tỉnh Bình Dương năm 2017.
2 Phân tích mối tương quan giữa các chỉ số mô cứng và mô mềm trên
phim đo sọ nghiêng ở nhóm đối tượng trên.
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Sơ lược lịch sử nhân trắc học
Thời kỳ Phục hưng, với Leonardo Da Vinci (1452 - 1519) là đại diện
tiêu biểu, có sự tập trung nghiên cứu những tỷ lệ cơ thể và khuôn mặt đượccho là lý tưởng và ứng dụng những tiêu chuẩn đó vào những tác phẩm nghệhội họa và điêu khắc Bức tranh nổi tiếng về hình người trong vòng tròn củaông minh họa cho những tỷ lệ được mô tả bởi tác giả người La Mã: Vitruvius.Theo Da Vinci, ở khuôn mặt cân đối thì: kích thước của miệng bằng khoảngcách từ đường giữa 2 môi tới cằm, tỷ lệ giữa 3 tầng mặt bằng nhau, chiều caocủa tai bằng chiều cao của mũi Dù đưa ra những chuẩn khá nghiêm ngặt về tỷ
lệ lý tưởng, ông cũng không phủ nhận sự khác biệt và tính đa dạng vốn cógiữa các cá thể [1]
Vào các Thế kỷ XVIII – XIX, hầu hết các phép đo khuôn mặt đượcthực hiện trực tiếp trên sọ và chỉ một số ít phần mềm được đo, với mục đíchchủ yếu là nhằm cố tìm ra các khác biệt nhân trắc giữa các các chủng tộc haytầng lớp xã hội, hay chứng minh sự tiến hóa loài
Nhân trắc học đã có từ rất lâu đời, tuy nhiên nó thực sự phát triển vàođầu thế kỷ XX khi Fisher sáng lập ra môn duy truyền quần thể Vào nhữngnăm 20 của thế kỷ này, Rudolf Martin phân tích nhân trắc học thông qua hệthống số liệu toán học, đề xuất hệ thống phương pháp và dụng cụ đo kíchthước cơ thể người Ông được coi là nhà đặt nền móng cho nhân trắc học hiệnđại Quá tình phát triển nhân trắc học do Rudolf Martin nghiên cứu đã giànhđược nhiều thành tựu lớn
Thế kỷ XX trở thành thời kì của những tỉ lệ và phép đo khách quan,nhưng phương pháp nghiên cứu vẫn chỉ là đo trực tiếp bằng các loại thước
Trang 17Phải tới năm 1931, khi Holy Broadbent (1894 - 1977) xử dụng phim X –quang sọ mặt để nghiên cứu các cấu trúc sọ mặt một cách gián tiếp thì phim
sọ mặt từ xa mới chính thức trở thành một phương tiện gián tiếp để nghiêncứu nhân trắc sọ mặt Mario Gonzalez Ulloa (1912 - 1995) nhấn mạnh tầmquan trọng của nét mặt nhìn nghiêng
Nhân trắc học là môn khoa học cổ điển ra đời từ rất sớm trong lịch sửhình thành xã hội loài người và đang ngày càng phát triển Nghiên cứu hìnhthái - thể lực của con người được xem như một bộ phận của sinh học cơ thể,
nó cũng có lịch sử tồn tại và phát triển hết sức phong phú thể hiện trên nhiềulĩnh vực như sự tăng trưởng, phát triển, đặc trưng theo chủng tộc, giới tính
Nhân trắc học con người Việt Nam được nghiên cứu lần đầu tiên vàonăm 1875 do Mondiere thực hiện trên trẻ em Vào những năm 30 của thế kỷ
20 tại Viện Viễn Đông Bác cổ, sau đó là tại trường Đại học Y khoa ĐôngDương (1936 - 1944) đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu về vấn đề
này Tác phẩm "Những đặc điểm nhân chủng và sinh học của người Đông Dương" của P Huard, A Bigot và "Hình thái học Người và giải phẫu thẩm
mỹ học" của P Huard và Đỗ Xuân Hợp, Đỗ Xuân Hợp được xem là những
công trình đầu tiên nghiên cứu về hình thái người Việt Nam Tuy số lượngchưa nhiều, nhưng các tác phẩm này đã nêu được các đặc điểm nhân trắc củangưòi Việt Nam đương thời
Đặc biệt nghiên cứu tổng thể mới nhất về các chỉ số sinh học ngườiViệt Nam thập kỷ 90 do GS.TSKH Lê Nam Trà cùng với các cộng sự đã cho
ta cái nhìn mới nhất và cụ thể nhất về thực trạng hình thái - sinh lý người ViệtNam đương đại Có thể coi đây là những thông số cập nhật nhất về các chỉ sốsinh học của người Việt Nam hiện nay Năm 2003 công trình “Các giá trị sinhhọc người Việt nam thập kỷ 90 thế kỷ 20” đã được hoàn thành và nó đã nhanhchóng trở thành cẩm nang của các nhà nhân chủng học Việt Nam Tuy nhiên
Trang 18việc tìm hiểu các giá trị nhân trắc theo vùng sinh thái vẫn là một khoảngtrống, trong khi đó ảnh hưởng của các yếu tố sinh thái lên hình thái người làrất quan trong lại chưa được nhiều nghiên cứu đề cập đến một cách tổng thể
và hệ thống những năm 90 của thế kỷ trước, nhân trắc học sọ mặt chủ yếuđược nghiên cứu bằng cách đo đạc trực tiếp trên xương sọ hay trên ngườisống Những tác giả tiêu biểu ở thời kỳ này là Nguyễn Quang Quyền, Lê GiaVinh, Thẩm Hoàng Điệp, Lê Hữu Hưng Trong vòng hơn 20 năm trở lại đây,
đo đạc trên phim sọ mặt rồi ảnh chụp kỹ thuật số đã trở nên các phương phápđược dùng đến nhiều hơn, giúp cho số liệu nhân trắc trên người Việt Nam trởnên ngày càng phong phú Công trình nghiên cứu tiêu biểu sử dụng nhiềuphép đo để phân tích nhiều khía cạnh của cấu trúc sọ mặt mới được công bố
là của Võ Trương Như Ngọc [2]
1.2 Lịch sử sử dụng phim sọ mặt trong nghiên cứu nhân trắc
Năm 1931, Holly Broadbent (Mỹ) và Hofrath (Đức) giới thiệu về phim
sọ nghiêng với mục đích nghiên cứu các hướng phát triển của phức hợp sọmặt (H 1.1) Nhưng rất nhanh chóng, nó được sử dụng với mục đích đánh giá
sự cân đối của hàm mặt và làm sáng tỏ cơ sở giải phẫu của khớp cắn Hàngloạt những nghiên cứu về mặt đã được đánh giá qua phân tích trên phim Một
số phân tích được thực hiện với mục đích đưa ra các chuẩn đồng thời được sửdụng để xác định phương án điều trị trong chỉnh nha như các phân tích củaTweed (1954), Steiner (1960) và Ricketts (1961) [3] Một số phân tích khácvới mục đích tìm hiểu về khớp cắn, ổ răng hoặc cấu trúc xương Các phân tíchnày cũng cố gắng làm sáng tỏ sự ảnh hưởng qua lại giữa các cấu trúc sọ mặttrong quá trình phát triển tự nhiên, như các các phân tích của Bjork (1947)[4],Downs (1948) [5], Enlow (1971)[6] và McNamara (1984)[7]
Trang 19Hình 1.1 Phim chụp sọ nghiêng [1]
Phân tích phim sọ mặt cho phép chúng ta xác định được dạng mặt Tuynhiên, dạng mặt và các bất thường không phải khi nào cũng gắn liền nhau, vìnhiều trường hợp có lệch lạc xương nhưng khớp cắn hoàn toàn bình thường.Nghiên cứu về tương quan xương cũng cho phép chúng ta định hướng đượcđiều trị nhờ vào phân tích mối liên quan xương trong mặt phẳng đứng ngang
và đứng dọc giữa giúp chúng ta có thể phân biệt được lệch lạc do xương hàmhay xương ổ răng
Không giống các loại phim XQ khác, phim chụp sọ mặt từ xa có đặcđiểm hết sức riêng biệt Phim chụp sọ sẽ không có nhiều ý nghĩa nếu khôngbiết phiên giải chúng Muốn phim có ý nghĩa phải đánh dấu những điểm mốcrồi từ đó xác định các đường thẳng, các góc thể hiện sự liên quan giữa chúngvới nhau Nói một cách khác đó chính là quá trình chuyển biến hầu hết nhữngthông tin thu được trên phim thành những con số dễ hiểu, dễ phân tích và
Trang 20quản lý, thống kê Các điểm mốc được định ra phải đủ hai tính chất: đặc trưng
So với đo trực tiếp và đo trên ảnh chuẩn hóa, ưu điểm vượt trội của đotrên phim sọ mặt là đánh giá được mô xương bên dưới và mối tương quangiữa mô cứng và mô mềm, vấn đề đánh giá mô mềm hạn chế hơn Khi đánhgiá thẩm mỹ, các tác giả thường sử dụng các góc mô mềm và các đường thẩm
và cs [4] thì trên phim sọ mặt từ xa chúng ta có thể đánh dấu 220 điểm Tuynhiên, trên phim sọ nghiêng, chỉ những điểm mốc giải phẫu như dưới đây hayđược sử dụng:
Trang 21Hình 1.2 Các điểm mốc giải phẫu trên phim sọ mặt nghiêng từ xa [1]
- Điểm N hoặc Na (Nasion): Chỗ giao nhau của các đường khớp gianmũi và mũi - trán trên mặt phẳng dọc giữa
- Điểm Ba (Basion): Điểm dưới nhất của bờ trước lỗ chẩm
- Điểm S (Sella Turcica) Điểm giữa của hố yên xương bướm
- Điểm Po hoặc Pr (Porion): Điểm cao nhất của bờ trên ống tai ngoài
- Điểm Or (Orbitale): Điểm thấp nhất của bờ dưới hốc mắt
- Điểm ANS (Anterior nasalspine – Điểm gai mũi trước): Nằm ở bờ dướicủa lỗ mũi trước (lỗ xương) trên mặt phẳng dọc giữa
- Điểm PNS (Posterior nasal spine – Điểm gai mũi sau): Điểm sau nhấtcủa khẩu cái cứng trên mặt phẳng dọc giữa
- Điểm A (Subspinale): Điểm lõm nhất trên đường giữa ở mặt trướcxương ổ răng hàm trên
Trang 22- Điểm B (Submetal): Điểm lõm nhất trên đường giữa ở mặt trước xương
ổ răng hàm dưới
- Điểm D: Điểm trung tâm của cằm, không tính đến bờ xương ổ răng vàrăng cửa
- Điểm trên Ptm: Điểm cùng của khe chân bướm – hàm trên
- Điểm Pg hoặc Pog (Pogonion): Điểm trước nhất của cằm trên mặtphằng dọc giữa
- Điểm Me (Menton): Điểm dưới nhất của cằm trên mặt phẳng dọc giữa
- Điểm Gn (Gnathion): Điểm cắt nhau của đường Npog và mặt phẳng MP
- Điềm Go (Gonion): điểm dưới nhất và sau nhất của góc hàm dưới, làđiểm cắt nhau của đường tiếp tuyến với bờ sau của ngành xương hàm dưới(không tính đến lồi cầu) và mặt phẳng hàm dưới MP
Ngoài các điểm mốc giải phẫu nói trên, còn có các điểm sau là điểm phát sinh:
- Điểm Ar (Articulare): Giao điểm giữa bờ sau ngành xương hàm dưới và
bờ dưới của nền sọ sau (phần xương chẩm)
- Điểm E: Hình chiếu của điểm xa nhất của lồi cầu trên đường SN.
- Điểm L: Hình chiếu của điểm Pog trên đường SN
- Điểm DC: Điểm giữa cổ lồi cầu nơi đường nối N- Ba cắt ngang qua, đi
qua những điểm nổi bật ở mặt, mũi, cằm, gò, má, môi
- Điểm CC: Điểm cắt nhau giữa trục m ặt và đường N-Ba.
- Điểm CF: Điểm cắt nhau của mặt phẳng Frankfort với đường thẳngđứng tiếp tuyến với mặt sau của khe chân bướm hàm trên
Một số điểm khác
1 R1: Điểm sau nhất trên bờ trước ngành xương hàm dưới
2 R2: Điểm đối diện với R1 trên bờ sau ngành xương hàm dưới
3 R3: Điểm thấp nhất của khuyết xích-ma
4 R4: Điểm đối xứng với R3 ở vùng góc hàm
5 Điểm préGo (Prégonion): Điểm dưới nhất của ngành xương hàm dưới
Các góc
Trang 23- Các góc sử dụng để đánh giá mối tương quan của xương
1 Góc SNA: Đánh giá tương quan theo chiều trước sau của xương hàm trên
4 Góc Ar-Go-Me(GHD): Góc xương hàm dưới
5 Góc MP/SN: Góc giữa mặt phẳng hàm dưới với mặt phẳng nền sọ
6 Góc Pal/ MP: Góc giữa mặt phẳng khẩu cái và mặt phẳng hàm dưới
7 Góc FMA: Góc tạo bởi mặt phẳng FH và mặt phẳng MP
8 Góc mặt: Góc dưới-trong tạo bởi mặt phẳng F và đường NPog (mặtphẳng mặt): đánh giá tương quan của cằm so với nền sọ
9 Góc lồi: Góc tạo bởi đường đường thẳng NA và đường Apog
10 Góc giữa mặt phẳng A-B và đường Npog
11 Góc tạo bởi trục Y và mặt phẳng Francfort
12 Góc SN/ GoGn: Góc tạo bởi đường SN và đường GoGn (mặt phẳng hàm dưới)
13 Góc Edmondo Muzi: Là một góc xương được xác định bằng chụp TeleProfil với tổ chức mềm Góc này được hình thành bởi một đường thẳng điqua điểm nhô nhất của xương trán, qua gai mũi trước và điểm Pogonionxương Góc này khoảng 1400 – 1800, trung bình là 1620
14 Góc mặt Camper: Xác định bởi điểm giao nhau giữa một đường thẳngchạy từ ống tai ngoài đến gai mũi trước, và một đường thẳng chạy từ gaimũi trước đến điểm nhô cao nhất của trán Góc này trung bình khảng 800
- Các góc sử dụng để đánh giá mối tương quan giữa răng và xương
1 Góc U1/SN: Góc giữa trục răng cửa trên với mặt phẳng nền sọ
2 GócU1/Pal: Góc giữa trục răng cửa trên với mặt phẳng khẩu cái
3 Góc L1/MP: Góc giữa trục răng cửa dưới với mặt phẳng hàm dưới
4 Góc U1/NA: Góc nghiêng răng cửa trên với tầng giữa mặt
5 Góc L1/ NB: Góc nghiêng răng cửa dưới với tầng dưới mặt
6 Góc occ/SN: góc giữa mặt phẳng cắn và đường SN
Trang 247 Góc IMPA: Góc tạo bởi mặt phẳng hàm dưới và trục răng cửa dưới.
8 Góc FMIA: Góc tạo bởi mặt phẳng Francfort và trục răng cửa dưới
9 Góc occl/FH: Đánh giá độ nghiêng của mặt phẳng cắn
10 Góc i/MP: Góc tạo bởi trục răng cửa hàm dưới và mặt phẳng hàm dưới
11 Góc i/occl: Góc tạo bởi trục răng cửa dưới và mặt phẳng cắn
12 Độ lồi của răng cửa trên: Khoảng cách tính từ rìa cắn răng cửa trên đếnđường APog
13 I to NA: Khoảng cách tính từ điểm trước nhất của thân răng cửa hàmtrên đến đường NA theo hướng trực giao
14 I to NA: Khoảng cách tính từ điểm trước nhất của thân răng cửa hàmdưới đến đường NA theo hướng trực giao
15 Pog to NB: Khoảng cách tính từ điểm Pog đến đường NB theo hướngtrực giao
- Các góc sử dụng đánh giá mối tương quan răng-răng
1 Góc I/i (góc liên răng cửa): Góc giữa trục răng cửa trên và răng cửadưới (đánh giá tương quan giữa răng cửa trên và răng cửa dưới)
- Các mặt phẳng tham chiếu của mô cứng:
1 Mặt phẳng SN (Sella-Nasion): Mặt phẳng đi qua điểm S và N
2 Mặt phẳng FH (Francfort Horizontal): Mặt phẳng đi qua điểm Po và Or
3 Mặt phẳng cắn (Occ): Mặt phẳng đi qua điểm giữa độ cắn phủ của rănghàm lớn thứ nhất và độ cắn phủ răng cửa
4 Mặt phẳng PtV: Mặt phẳng vuông góc với mặt phẳng Francfort và điqua điểm Pt
5 Mặt phẳng nền sọ Ba-N: Mặt phẳng đi qua điểm Ba và N
6 Mặt phẳng khẩu cái (Pal): Mặt phẳng đi qua điểm ANS và PNS
7 Mặt phẳng hàm dưới (MP): Có bốn cách xác định là mặt phẳng đi quađiểm Gn và Go; Go và Me, mặt phẳng tiếp tuyến với điểm thấp nhấtcủa hàm dưới song song với trục của thân xương hàm dưới; mặt phẳng
Trang 25Downs phía sau tiếp tuyến với góc hàm nơi thấp nhất, phía trước tiếptuyến với điểm thấp nhất của cằm
Các kích thước trên mụ cứng
N- ANS, ANS-Me, N-Me, GL-ANS, I-NA, I-NB, Ls-S, Ls-E, Li-S, Li-E
Hình 1.3 Các mặt phẳng tham chiếu trên mô cứng [1]
SN FH Pal Occ MP
Trang 261.3.2 Các điểm mốc mô mềm và góc thường được sử dụng để phân tích thẩm mỹ
1 Điểm Gla’ hoặc Gl’ (Glabela): Điểm lồi nhất của trán, tương ứng với bờcủa ổ mắt theo mặt phẳng dọc giữa
2 Điểm Tr (Tritrion): Điểm chân tóc nằm trên đường giữa của trán
3 Điểm N’: Điểm sau nhất của mô mềm vùng khớp trán mũi theo mặtphẳng dọc giữa
4.Điểm Pn (Pronasale): Điểm đỉnh mũi là điểm nhô nhất của mũi
5.Điểm Cm (Columella point): Điểm trước nhất của trụ mũi
6 Điểm Sn (Subnasale): Điểm dưới mũi, điểm chân vách ngăn dưới mũi vàmôi trên, là điểm sau nhất và cao nhất của góc mũi môi
7 Điểm Gn’: Điểm dưới nhất của mô mềm vùng cằm trên mặt phẳng dọc giữa.8.Điểm Me’: Điểm dưới nhất của mô mềm vùng cằm
9 Điểm Pg’ (Pogonion): Điểm nhô nhất của mô mềm vùng cằm
10 Điểm Ls (Lip superius): Điểm môi trên, điểm nhô nhất của đường viềnmôi trên theo mặt phẳng dọc giữa
11 Điểm Li (Lip inferius): Điểm môi dưới, điểm nhô nhất của đường viềnmôi dưới theo mặt phẳng dọc giữa
12.Điểm Sto (Stominon): Điểm nối liền môi trên và môi dưới trên mặtphẳng dọc giữa khi hai môi khép nhẹ và răng ở tư thế cắn tự nhiên 13.Điểm B’: Điểm lồi nhất của môi dưới trên mặt phẳng dọc giữa
14.Điểm C: Điểm giao nhau giữa đường viền cổ và bờ dưới cằm
Trang 27Hình 1.4 Các điểm mốc mô mềm [1]
Bảng 1.1 Các khoảng cách và góc mô mềm thường được sử dụng
trên phim sọ mặt nghiêng từ xa
5 Chiều cao mặt dưới Sn-Gn’6 Chiều cao môi đỏ trên môi đỏ dưới Ls-Li
7 Chiều cao mặt đặc biệt
8 Chiều cao môi trên môi đỏ dưới
Sn-Li
9 Chiều cao mặt đặc biệt
N’-Gn’10 Khoảng cách từ điểm lồi nhất của
11 Chiều cao mặt trên
N’-Sto12 Khoảng cách từ điểm lồi nhất của
13 Chiều cao xương hàm
14 Khoảng cách từ điểm lồi nhất của
15 Chiều cao nhân trung
Sn-Ls16 Khoảng cách từ điểm lồi nhất của
Trang 282 Độ nghiêng mũi Goc giữa tiếp tuyến của sống mũi và đường thẳng qua Gl’
đo sọ của Ricketts cho phép nghiên cứu sâu về: 1 Hình thái sọ mặt của bệnhnhân để xác định type mặt 2 Các vị trí và các liên quan của các hợp phầnkhác nhau của các cấu trúc răng – hàm – mặt
Các điểm mốc trên xương sọ của Ricketts:
Gn (Gnathion): Điểm giao cắt giữa các mặt phẳng mặt và hàm dưới
Trang 29PM (Protuberance menti): Điểm lồi cằm hay điểm trên Pogonion, điểm
mà tại đó khớp dính cằm chuyển từ lõm sang lồi
Pog (Pogonion): Điểm trên khớp dính cằm tiếp tuyến với mặt phẳng mặt.Điểm PO: Điểm giao của mặt phẳng mặt và trục xương hàm dưới
Điểm TI: Điểm giao của mặt phẳng cắn và mặt phẳng mặt
Điểm C1 (Điểm lồi cầu – Condyle): Điểm trên chỏm lồi cầu mà tiếp xúc
và tiếp tuyến với mặt phẳng ngành hàm dưới,
Điểm CC (Center of cranium – Trung tâm nền sọ): Điểm giao của mặtphẳng nasion – basion và trục mặt
Điểm CF (Center of face): Điểm giao của PtV (pterygoid vertical –đường thẳng đứng qua bờ trước gốc mỏm chân bướm hay bờ sau khe chânbướm – hàm trên) với mặt phẳng Frankfort
Điểm Pt: Tương ứng bờ trước gốc mỏm chân bướm, chỗ nối giữa đầutrên khe chân bướm – hàm trên và lỗ tròn
Điểm DC (Dead center of condyle): Điểm ở trung tâm cổ lồi cầu, trênmặt phẳng nasion-basion
Các mặt phẳng/đường và góc:
Mặt phẳng N – Ba
Trục mặt của Ricketts (Gn-Pt): Một đường nối Gnathion với Pt
Góc trục mặt của Ricketts (N-Ba - Gn-Pt): Góc sau dưới được tạo nênbởi chỗ giao cắt của trục mặt của Ricketts và đường N-Ba Góc này có giá trịtrung bình khoảng 90 độ Giá trị nhỏ hơn 90 độ cho thấy mặt chủ yếu theo chiềuthẳng đứng hay mẫu loại II, trong khi đó một giá trị lớn hơn 90 độ chứng tỏ mộtmẫu phát triển theo chiều nằm ngang hay khuynh hướng loại III
Điểm Xi: Điểm trung tâm hình học của ngành hàm dưới
Trục lồi cầu (condylar axis): Đường nối các điểm Dc tới Xi;
Trang 30Trục thân hàm dưới (Axis of mandibular corpus): Đường nối các điểm
Xi và Pm
Cung hàm dưới (mandibular arc): Được tạo nên giữa phần kéo dài ra sau củatrục thân xương hàm dưới (Pm-Xi) và trục lồi cầu (Dc-Xi) Góc lớn cho biết hàmdưới khỏe và vuông (mặt ngắn) Giá trị trung bình của góc là 26° ± 2°
Mặt phẳng mặt (facial plane): Mặt phẳng đi qua các điểm N và Pog).Góc sâu mặt (facial depth angle): Góc dưới và sau được tạo nên bởi sựcắt nhau của mặt phẳng Frankfort (FH) và mặt phẳng mặt (N-Pog) Góc nàykhoảng 90 độ Góc này là chỉ dấu phát triển của xương hàm dưới: Góc tăngcho thấy vị trí ra trước của Pog (type mặt ngắn) trong khi góc giảm chứng tỏ
sự thụt ra sau của cằm (type mặt dài) Góc sâu mặt tăng 1o cho mỗi ba nămkhi xương hàm dưới đang phát triển ra trước và xuống dưới Sự thay đổi theotuổi chủ yếu là do mức độ tăng trưởng khác nhau của nền sọ trước so với thânxương hàm dưới Số đo trung bình ở ngưởi trưởng thành là 90o
Góc mặt phẳng hàm dưới (Mandibular plane angle): Góc tạo nên bởi sựgiao cắt nhau của mặt phẳng hàm dưới và mặt phẳng Frankfort Góc này chobiết độ nghiêng của thân xương hàm dưới và giá trị của nó phụ thuộc vào hìnhdạng và vị trí của xương hàm dưới trong phức hợp sọ mặt Góc mặt phẳnghàm dưới cao gặp ở bệnh nhân mặt dài với hệ cơ yếu; góc thấp gặp ở bệnhnhân mặt ngắn với hệ cơ khỏe Giá trị góc là 26° ± 4° lúc 9 tuổi và cứ mỗi 3năm giảm 1° cho tới trưởng thành
Cao mặt dưới (Lower facial height): Góc tạo bởi sự giao cắt nhau của 2đường: đường nối ANS với Xi và trục thân xương hàm dưới (Xi-Pm), ANS-Xi-Pm Góc lớn hơn cho thấy sự phân ly giữa các xương hàm hay chiềuhướng tăng trưởng theo chiều thẳng đứng (mẫu mặt dài) Giá trị góc thấp hơngợi ý mẫu phát triển mặt theo chiều nằm ngang (mặt ngắn)
Các số đo của Ricketts để định vị cằm trong không gian
Trang 311.3.4 Đặc điểm phân tích Steiner
Steiner nhấn mạnh sự khó khăn trong việc xác định vị trí điểm Porion
và sự thay đổi tương đối của nó, có thể được quan sát trên phim X Quang Khiđiểm Porion và Orbital đều là những điểm nằm ở hai bên của sọ, vị trí của haiđiểm này sẽ bị thay đổi khi đầu đối tượng nghiêng trong lúc chụp phim Dovậy nó sẽ ảnh hưởng tới hướng của mặt phẳng Frankfort Mặt khác, việc xácđịnh điểm S và điểm Na thuộc mặt phẳng dọc giữa cơ thể làm tăng độ chínhxác khi xác định các tương quan
Tuy dễ xác định, nhưng mặt phẳng SNa lại thay đổi theo từng cá thể.Mặt phẳng SNa có thể dốc lên hoặc dốc xuống làm tương quan xương hàm sovới xương bị thay đổi và mặt phẳng SNa ngắn hay dài có thể làm tương quanhai hàm không còn chính xác nữa Do đó trong nhiều trường hợp cần phốihợp với các phân tích khác
Steiner tổng hợp rằng ở những bệnh nhân không còn phát triển xương,
và tương quan xương không thể thay đổi, nó có thể không thể là bộ răng đượcsửa chữa theo tiêu chuẩn lý tưởng Để điều trị răng theo tình trạng chấp nhậnrằng sẽ che giấu sự biến dạng của xương nằm phía dưới càng nhiều càng tốt làđiều cần thiết
Mặt khác, giống như Reidel, Steiner [8] là người đã phổ biến góc ANBvào năm 1959 trong một bài báo của ông Góc này đã được chấp nhận rộngrãi như là một phương pháp có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá tươngquan xương hai hàm theo chiều trước sau [9] và hiện nay góc này vẫn là giátrị trên phim sọ nghiêng từ xa được sử dụng phổ biến nhất trong chẩn đoán và
Trang 32điều trị của các bác sỹ phẫu thuật chỉnh hình hàm mặt tại Việt Nam Góc ANB
là góc giữa đường thẳng NA (Nasion – Subspinal) và đường thẳng NB(Nasion – Submental) Góc này được xác định bằng cách đo trực tiếp hoặcbằng cách lấy góc SNA trừ đi góc SNB
Trang 33Vì lý do đó, phân tích của Steiner nên sử dụng khi đánh giá người trưởngthành với sự phát triển xương gần như ngừng lại.
Tuy nhiên những chỉ số đo đạc sử dụng trong phân tích được dựatrên mẫu là những Người Mỹ da trắng và có thể không được áp dụng như làmột tiêu chuẩn cho chẩn đoán và điều trị cho các chủng tộc khác Người
Mỹ da trắng đến chủ yếu từ Anh, Ba Lan, Đức, Pháp, Tây Ban Nha…(Steiner 1953) Mặt phẳng Hố yên - Gốc mũi được đưa làm mặt phẳngtham chiếu Phân tích Steiner chỉ nên được sử dụng làm định hướng chứkhông là giá trị tuyệt đối cho mỗi bệnh nhân Vì vậy để chẩn đoán và điềutrị dựa vào định hướng của phân tích Steiner, cần thiết phải dựa vào tiêuchuẩn đặc trưng của quần thể Do vậy nhu cầu cấp thiết là phải nghiên cứuđưa ra những chỉ số riêng cho quần thể người Việt
1.4 Một số nghiên cứu nhân trắc học đầu mặt trên phim X quang từ xa
1.4.1 Trên thế giới
Đã có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới đề cập đến vấn đề nhân trắc học như:Bronfman CN và cộng sự nghiên cứu tổng hợp và so sánh một cách hệthống những nghiên cứu trên phim sọ nghiêng trước đây với người Nhật Bản,với mục tiêu xác định các thông số trên phim sọ nghiêng và quan điểm vềthẩm mỹ của một khuôn mặt hài hòa cho người dân Nhật Bản, nghiên cứu chothấy đặc trưng của người dân Nhật Bản là kiểu mặt ít lồi do xương, cằm có xuhướng lùi sau và răng cửa trên đưa ra trước, và quan điểm thẩm mỹ khuônmặt có xu hướng giống với người da trắng [18]
Rathore AS, Dhar V, Arora R và cộng sự nghiên cứu sử dụng phân tíchSteiner nhằm xác định các giá trị trung bình cho trẻ em Mewari ở Rajasthan,
từ đó so sánh với những giá trị tiêu chuẩn của người da trắng So sánh chothấy trẻ em Mewari có sự lùi sau xương hàm dưới so với nền sọ, xương hàmtrên và răng cửa đưa ra trước, cằm không rõ nét [19]
Trang 34Benedicto Ed và cộng sự đã nghiên cứu trên phim sọ nghiêng để phântích mối tương quan có thể có giữa các biện pháp khác nhau trong việc đưa rađịnh nghĩa của các loại mặt thẳng, nghiên cứu cho thấy phân tích phim sọnghiêng thường trình bày giải thích khác nhau về sự mô tả của các loại mặtthẳng, trong nghiên cứu này, sự kém đồng thuận nhất để đánh giá mặt thẳng làgiữa góc Sn-GoGn và chỉ số Jarabak.
Yung-Seop Lee, Hyoungjin Moon và cộng sự nghiên cứu sự hấp dẫn củakhuôn mặt người Ấn Độ [10], Direk FK, Deniz M, Uslu AI, Doğru S nghiêncứu các đặc điểm nhân trắc học và sự thay đổi của những đặc điểm đó liênquan đến lứa tuổi ở phụ nữ [20], Packiriswamy V, Bashour M, Nayak Snghiên cứu đặc điểm nhân trắc vùng mũi phụ nữ Ấn Độ [21]
Cũng có nghiên cứu phân tích các chỉ số của khuôn mặt qua phim sọnghiêng từ xa nhằm đưa ra các chỉ số sọ mặt cơ bản như: Người châu Âu(Miyajima và cộng sự 1996), Người châu Phi (Conner và cộng sự 1985),Người Nhật Âu (Miyajima và cộng sự 1996), Người Trung Quốc (Lew vàcộng sự 1992), Người Mông Cổ (Ji-Hwan và cộng sự 2011), Người Hàn Quốc(Ji-Hwan và cộng sự 2011), Người Ấn Độ (Nanda 1969), Người Malay (Foo
và Woon, 1983 & 1984)… Nghiên cứu phim sọ nghiêng của những dân tộckhác nhau kể cả nghiên cứu của Chan ở Trung Quốc, Garda ở người Mexico,Negroes và Park ở người Hàn Quốc trưởng thành đã chỉ ra những đo đạc bìnhthường của nhóm chủng tộc này không thể coi là bình thường của nhómchủng tộc khác Những nhà nghiên cứu như Fujio Miura ở Nhật và Carlos JGarcia ở Mỹ đã công bố những giá trị bình thường của phân tích Steiner [22].Nghiên cứu trên một nhóm người trưởng thành trẻ ở Chhattisgarh Ấn
Độ với mặt ngoài cân đối và khớp cắn hạng I, cắn chùm cắn chìa tối thiểu vàkhông điều trị chỉnh hình răng qua phim sọ nghiêng và sử dụng phân tích củaSteiner (các gõ SNA, SNB, góc răng cửa trên và dưới tương ứng lần lượt sovới NA, NB, góc giữa 2 răng cửa, góc mặt phẳng khớp cắn và SN, góc SN-