1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luan Van Thac Si Hoan Chinh- Dang Thai Hoa - LHU

117 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT LUẬN VĂN Nghiên cứu này được thực hiện với 2 mục tiêu trọng tâm là: 1 Xác định các yếu tố tác động đến việc vận dụng KTQT tại các trường Cao đẳng nghề thuộc Bộ Xây Dựng, 2 Đưa ra

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG

- O 0 O -

ĐẶNG THÁI HÒA

ĐÁNH GIÁ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC VẬN DỤNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ VÀO CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ THUỘC

BỘ XÂY DỰNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN

Đồng Nai – Năm 2017

Trang 2

ĐẶNG THÁI HÒA

ĐÁNH GIÁ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC VẬN DỤNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ VÀO CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ THUỘC

Trang 3

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Người hướng dẫn khoa học

PGS.TS.Phan Đức Dũng đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo cho tác giả hoàn thành

luận văn này

Tác giả xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp của tác giả và gia đình đã động viên, khích lệ, tạo điều kiện và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này

Đồng Nai, ngày 01 tháng 08 năm 2017

Tác giả

Đặng Thái Hòa

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu luận văn thạc sĩ của riêng tác

giả: “Đánh giá các nhân tố tác động đến việc vận dụng kế toán quản trị vào các

trường Cao đẳng nghề thuộc Bộ Xây Dựng” dưới sự hướng dẫn trực tiếp của

Trang 5

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Nghiên cứu này được thực hiện với 2 mục tiêu trọng tâm là: (1) Xác định các yếu

tố tác động đến việc vận dụng KTQT tại các trường Cao đẳng nghề thuộc Bộ Xây Dựng, (2) Đưa ra những kiến nghị, đề xuất nâng cao việc vận dụng KTQT tại các trường Cao đẳng nghề thuộc Bộ Xây Dựng nhằm góp phần tăng sức cạnh tranh và nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý của nhà trường trong thời gian tới Nghiên cứu được tiến hành qua hai giai đoạn là nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng Nghiên cứu định tính xác định được 5 yếu tố tác động đến việc vận dụng KTQT tại các trường Cao đẳng nghề thuộc Bộ Xây Dựng là: Đặc điểm của các trường cao đẳng nghề thuộc Bộ Xây Dựng; Mức độ cạnh tranh của thị trường; Sự quan tâm đến KTQT của Ban giám hiệu nhà trường; Trình độ của nhân viên kế toán; Chi phí cho việc tổ chức một hệ thống KTQT tại các trường Cao đẳng nghề

Nghiên cứu định lượng được thực hiện thông qua bảng câu hỏi khảo sát, sử dụng phân tích hồi quy đa biến thông qua phần mềm SPSS với cỡ mẫu là 200 quan sát Qua đánh giá độ tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích yếu tố EFA tiến hành phân tích tương quan, hồi quy bội cho thấy mô hình nghiên cứu lý thuyết hoàn toàn phù hợp với dữ liệu thị trường Trong đó, có yếu tố tác động dương (Đặc điểm của các trường cao đẳng nghề thuộc Bộ Xây Dựng; Mức độ cạnh tranh của thị trường; Sự quan tâm đến KTQT của Ban giám hiệu nhà trường; Trình độ của nhân viên kế toán)

và 1 yếu tố tác động âm (Chi phí cho việc tổ chức một hệ thống KTQT tại các trường Cao đẳng nghề) đến việc vận dụng kế toán quản trị

Bằng việc xây dựng mô hình lý thuyết dựa trên một số lý thuyết: KTQT cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT; kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan, tác giả đã cung cấp một cái nhìn đầy đủ hơn về vấn đề nghiên cứu cần khảo sát Do đó, các dữ liệu này sẽ góp phần bổ sung vào kho tài liệu các nhà nghiên cứu hàn lâm và ứng dụng hiểu rõ hơn về vận dụng KTQT tại các trường Cao đẳng nghề thuộc Bộ Xây Dựng Bên cạnh đó, thông qua việc xác định các yếu tố tác động đến việc vận dụng KTQT tại các trường Cao đẳng nghề thuộc Bộ Xây Dựng, nghiên cứu đã cung cấp cho Ban giám hiệu nhà trường có một cái nhìn cụ thể hơn về việc vận dụng KTQT

Trang 6

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

TÓM TẮT LUẬN VĂN

MỤC LỤC

DANH MỤC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

CHƯƠNG 1 – PHẦN MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

1.5 Phương pháp nghiên cứu 4

1.6 Đóng góp mới của đề tài 5

1.8 Kết cấu của luận văn 5

TÓM TẮT CHƯƠNG 1 6

CHƯƠNG 2 – CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7

2.1 Tổng quan các đề tài nghiên cứu có liên quan 7

2.1.1 Các nghiên cứu công bố ở nước ngoài 7

2.1.1.1 Các nghiên cứu chung 7

2.1.1.2 Các nghiên cứu về nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQT 8

2.1.2 Các nghiên cứu công bố ở trong nước 9

2.1.2.1 Các nghiên cứu chung 9

2.1.2.2 Các nghiên cứu về nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQT 10

2.2 Một số lý thuyết nền tảng về việc vận dụng KTQT trên thế giới 10

2.2.1 Lý thuyết bất định 10

2.2.1.1 Nội dung lý thuyết bất định 10

2.2.1.2 Áp dụng lý thuyết bất định vào việc vận dụng KTQT 12

2.2.2 Lý thuyết đại diện 13

2.2.2.1 Nội dung lý thuyết đại diện 13

2.2.2.2 Áp dụng lý thuyết đại diện vào việc vận dụng KTQT 14

2.2.3 Lý thuyết xã hội học 15

2.2.3.1 Nội dung lý thuyết xã hội học 15

Trang 7

2.2.3.2 Áp dụng lý thuyết xã hội học vào việc vận dụng KTQT 15

2.2.4 Lý thuyết về mối quan hệ lợi ích - chi phí (Cost Benefit Theory) 17

2.2.4.1 Nội dung lý thuyết về mối quan hệ lợi ích - chi phí 17

2.2.4.2 Áp dụng lý thuyết về mối quan hệ lợi ích - chi phí vào việc vận dụng KTQT 18

2.3 Tổng quan về KTQT 18

2.3.1 Các khái niệm về KTQT 18

2.3.2 Mục tiêu, nhiệm vụ, vai trò của KTQT trong các tổ chức 20

2.3.2.1 Mục tiêu của kế toán quản trị 20

2.3.2.2 Nhiệm vụ của kế toán quản trị 20

2.3.2.3 Vai trò của kế toán quản trị trong các tổ chức 20

2.4 Thực trạng về công tác kế toán quản trị tại các trường Cao đẳng nghề thuộc bộ xây dựng 21

2.5 Các nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQT tại các trường Cao đẳng nghề thuộc Bộ Xây Dựng 22

2.5.1 Đặc điểm của các trường chuyên nghiệp ảnh hưởng đến công tác kế toán quản trị 22

2.5.2 Mức độ cạnh tranh của thị trường 24

2.5.3 Sự quan tâm đến KTQT của chủ đơn vị 24

2.5.4 Trình độ của nhân viên kế toán 25

2.5.5 Chi phí để tổ chức một hệ thống KTQT 25

TÓM TẮT CHƯƠNG 2 27

CHƯƠNG 3 – THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 28

3.1 Quy trình nghiên cứu 28

3.1.1 Khung nghiên cứu 28

3.1.2 Thiết kế nghiên cứu 28

3.1.2.1 Mẫu nghiên cứu 28

3.1.2.2 Phương pháp chọn mẫu 29

3.1.2.3 Thu thập dữ liệu 29

3.2 Phương pháp nghiên cứu 32

3.2.1 Phương pháp nghiên cứu định tính 32

3.2.1.1 Thiết kế nghiên cứu định tính 32

3.2.1.2 Nội dung nghiên cứu định tính 32

3.2.1.3 Kết quả thảo luận chuyên gia 33

3.2.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng 33

3.2.2.1 Thiết kế nghiên cứu định lượng 33

Trang 8

3.2.2.2 Xây dựng thang đo 34

3.2.2.3 Xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất 36

3.2.2.4 Mô hình hồi quy 38

3.2.2.5 Phương pháp đo lường và tính toán hiệu quả 39

TÓM TẮT CHƯƠNG 3 43

CHƯƠNG 4 – KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 44

4.1 Kết quả khảo sát 44

4.1.1 Thống kê mô tả mẫu 44

4.1.2 Kiểm định độ tin cậy thang đo 44

4.1.3 Kiểm định thang đo thông qua phân tích nhân tố khám phá EFA 46

4.1.5 Kiểm định mô hình nghiên cứu và các giả thuyết 54

4.1.5.1 Phân tích tương quan 54

4.1.5.2 Phân tích hồi quy 56

4.1.5.3 Kiểm định các giả thuyết 60

4.1.5.4 Phân tích sự khác biệt 63

4.2 Bàn luận về kết quả nghiên cứu 66

TÓM TẮT CHƯƠNG 4 70

CHƯƠNG 5 – KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 71

5.1 Kết luận 71

5.2 Kiến nghị 71

5.2.1 Trình độ của nhân viên kế toán 71

5.2.2 Chi phí cho việc tổ chức một hệ thống KTQT tại các trường Cao đẳng nghề thuộc Bộ Xây Dựng 72

5.2.3 Sự quan tâm đến KTQT của Ban giám hiệu nhà trường 73

5.2.4 Mức độ cạnh tranh của thị trường 74

5.2.3 Đặc điểm của các trường Cao đẳng nghề thuộc Bộ Xây Dựng 74

5.2.4 Các giải pháp vận dụng kế toán quản trị vào các trường Cao đẳng nghề thuộc Bộ Xây Dựng 75

5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 75

TÓM TẮT CHƯƠNG 5 77 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

CBA (Cost Benefit Analysis) Phân tích lợi ích – Chi phí

CIMA (Chartered Institute of Management Accountants) Học viện kế toán quản

trị công chứng Anh quốc

CMA (Certified Management Accountant) Hiệp hội kế toán quản trị Hoa Kỳ CNTT Công nghệ thông tin

C-V-P (Cost-Volume-Profit) Chi phí – Khối lượng – Lợi nhuận

DN Doanh nghiệp

DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa

DNVVN Doanh nghiệp vừa và nhỏ

EFA (Exp loratory Factor Analysis) Phương pháp phân tích nhân tố khám phá IFAC (International Federation of Accountants) Các liên đoàn quốc tế của kế

toán

IMA (Institute of Management Accountants) Viện kế toán quản trị

IRR (Internal Rate of Return) Suất thu lợi nội tại

KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) Chỉ số xem xét sự thích hợp của EFA

MAS (Management Accounting System) Quản lý hệ thống kế toán

MAS (Management Accounting System) Quản lý hệ thống kế toán

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Thang đo các thành phần Việc vận dụng KTQT 35 Bảng 3.2 Giá trị tiêu chuẩn của hệ số tải Factor Loading 40

Bảng 4.2 Bảng kết quả phân tích Cronbach’s Alpha 45

Bảng 4.9 Bảng kết quả phân tích EFA các biến độc lập 51

Bảng 4.13 Bảng kết quả phân tích EFA biến phụ thuộc 53 Bảng 4.14 Bảng tóm tắt giả thuyết mô hình nghiên cứu sau khi đánh

Bảng 4.15 Kết quả phân tích tương quan Pearson 55 Bảng 4.16 Bảng chỉ tiêu đánh giá độ phù hợp của mô hình 57 Bảng 4.17 Bảng kiểm định độ phù hợp của mô hình 57 Bảng 4.18 Bảng thông số thống kê của từng biến trong mô hình hồi

Bảng 4.19 Vị trí quan trọng của các nhân tố tác động đến việc vận

Bảng 4.20 Kết quả kiểm định mô hình lý thuyết 63

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Khung lý thuyết bất định của Macy và Arunachalam (1995) 11 Hình 2.2 Khung lý thuyết bất định của Chenhall – năm 2003) 13 Hình 2.3 Khung lý thuyết đại diện Healy và Palepu (2001) 15 Hình 2.4 Khung lý thuyết xã hội học của Covaleski và cộng sự (1996) 17

Trang 12

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 4.1 Biểu đồ phần dư chuẩn hóa mô hình 60 Biểu đồ 4.2 Biểu đồ phân tích sự khác biệt theo chức vụ 64 Biểu đồ 4.3 Biểu đồ phân tích sự khác biệt theo quy mô nhà trường 65

Trang 13

CHƯƠNG 1 – PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Kế toán quản trị (KTQT) là một bộ phận trong hệ thống thông tin của mọi tổ chức,

kể cả các tổ chức sản xuất kinh doanh và tổ chức phi lợi nhuận với mục đích là cung cấp thông tin KTQT cho các nhà quản lý thực hiện các chức năng hoạch định, tổ chức điều hành, kiểm tra và ra quyết định Bên cạnh đó, KTQT có vai trò cung cấp thông tin định lượng về tình hình tài chính, tình hình hoạt động, tổng hợp, phân tích, truyền đạt thông tin của đơn vị một cách thường xuyên, liên tục và hữu ích cho các nhà quản trị nhằm phục vụ cho việc ra quyết định kịp thời của các nhà quản trị, đồng thời giúp cho nhà quản trị có thể lập được các kế hoạch và xác định các mục tiêu, đánh giá, kiểm tra để giúp ra được các quyết định nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn

vị trong tương lai

Để kế toán quản trị có thể phát huy một cách tốt nhất là các chức năng thông tin

và chức năng kiểm tra thì cần phải có một hệ thống kế toán hoàn chỉnh bao gồm: hệ thống kế toán tài chính và hệ thống kế toán quản trị Trong đó công việc của kế toán tài chính là cung cấp các thông tin đã xảy ra trước đây và nó mang tính chất khách quan vì nó đã xảy ra trong quá khứ rồi, nhiệm vụ của kế toán tài chính là ghi chép lại các thông tin đó và phân tích nó Các thông tin mà kế toán quản trị đưa ra có tính linh hoạt, phản ánh xu hướng biến động, có tính dự báo, có thể phục vụ cho việc đánh giá

và xây dựng các kế hoạch tài chính cho phù hợp với các mục tiêu mà đơn vị muốn hướng tới

Tuy nhiên, trong thực tiễn hiện nay ở các tổ chức, công ty, doanh nghiệp, đơn vị hành chính tại Việt Nam, đặc biệt tại các đơn vị hành chính sự nghiệp công lập, việc

áp dụng KTQT còn chưa phát triển mạnh và chưa được áp dụng phổ biến cũng như xây dựng một hệ thống kế toán quản trị một cách có hiệu quả Ngay cả luật kế toán cũng chỉ nặng về kế toàn tài chính cho đến khi Bộ Tài Chính năm 2016 ban hành thông tư 53/2006/TT-BTC mới có hướng dẫn cụ thể về kế toán quản trị nhưng mà cũng chỉ là doanh nghiệp Còn các đơn vị hành chính sự nghiệp vẫn chưa thực hiện

kế toán quản trị Trong khi đó, trường học nói chung và các trường Cao Đẳng Thuộc

Bộ Xây Dựng nói riêng đóng vai trò quan quyết định quan trong việc cung cấp kiến thức cho các học sinh, sinh viên nhằm phục vụ cho xã hội, đất nước Do đó, cần phải xây dựng được các mô hình KTQT đắc lực để có thể phát huy tốt vai trò, chức năng

Trang 14

và nhiệm vụ của các đơn vị hành chính sự nghiệp này trong việc hoạch định và đề ra các chiến lược phát triển trong ngắn hạn hoặc trong dài hạn của các đơn vị

Hiện nay, đất nước đang trong thời kỳ mở cửa hội nhập kinh tế thế giới không chỉ cạnh tranh trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh mà trong cả giáo dục cũng cạnh tranh Giáo dục đang có xu hướng thương mại hóa do hệ thống giáo dục Việt Nam đang có nhưng bước tiến chuyển mình vươn lên trong sự phát triển của xã hội Nhu cầu của người học ngày càng tăng lên và đòi hỏi chất lượng giảng dạy kiến thức, cơ sở vật chất và trình độ quản lý cũng được nâng cao Người học hiện nay đang có rất nhiều

sự lựa chọn các trường trong nước cũng như sự xuất hiện của các tổ chức giáo dục quốc tế tại Việt Nam hơn trước đây Với thực trạng hiện nay, các trường cao đẳng, đại học đang được thành lập ngày càng nhiều trong khi số lượng người học hạn chế

và nhu cầu việc làm đang trong tình trạng không đủ để phục vụ các sinh viên mới ra trường, dẫn đến tình trạng nguy cơ thất nghiệp trong thời gian tới tăng cao Bên cạnh

đó, cũng có nhiều trường đã và đang có nguy cơ giải thể vì số lượng tuyển sinh, giảng viên cũng như cơ sở vật chất chưa đáp ứng yêu cầu của nội dung thông tư số 57/2011/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo Đặc biệt là sau nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/04/2006 của chính phủ về việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn

vị sự nghiệp công lập Do đó, để có một chỗ đứng vững chắc và tạo được thương hiệu cho trường mình đồng thời thích nghi với thời buổi cạnh tranh như hiện nay thì các trường Cao đẳng thuộc Bộ Xây Dựng phải có các biện pháp để nâng cao công tác giảng dạy và không ngừng đổi mới công tác đào tạo và quản lý giáo dục, trong đó có công tác quản lý tài chính Tuy nhiên, hiện nay có một số trường đang thực hiện công tác tự chủ về tài chính thì việc chủ động chi tiêu trong nguồn tài chính hiện có, các nhà quản lý cần kiểm soát các khoản chi chưa thật sự cần thiết và tăng nguồn thu từ các hoạt động của đơn vị Vì vậy, kế toán cần đưa ra những thông tin kinh tế kịp thời, linh hoạt, phù hợp với yêu cầu quản trị cho các nhà quản lý trong việc hoạch định các chiến lược phát triển trường cũng như các hoạt động Marketing để thu hút người học theo học tại trường một cách hiệu quả nhất và bên cạnh đó cũng phải tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá và ra quyết định các hoạt động phát triển nhà trường trong từng giai đoạn Qua những điều đó cho nhận thấy rằng ngoài đối tượng sử dụng KTQT

Trang 15

là các doanh nghiệp (DN), các tổ chức phi lợi nhuận cũng cần có sự hỗ trợ của KTQT

để đạt được mục tiêu của mình

Vì vậy, việc tổ chức KTQT tại các trường Cao đẳng, Đại học là một vấn đề hết sức cần thiết và cần chú trọng ngay trong giai đoạn hiện nay Cụ thể, các trường cao đẳng nghề thuộc Bộ Xây Dựng đã được Ban lãnh đạo nhà trường chú ý đến nhưng chưa đưa vào vận dụng một cách triệt để Xuất phát từ yêu cầu của sự cần thiết đó, tác giả

đã chọn đề tài: “Đánh giá các nhân tố tác động đến việc vận dụng kế toán quản trị vào các trường Cao đẳng nghề thuộc Bộ Xây Dựng” để giúp các ban giám hiệu

nhà trường có thể quản lý được các hoạt động nhà trường một cách hiệu quả hơn

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

 Mục tiêu tổng quát:

Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT trong các trường Cao đẳng nghề thuộc Bộ Xây Dựng và dựa trên cơ sở đó đưa ra các chính sách nhằm gia tăng mức độ vận dụng KTQT vào trong các các trường Cao đẳng nghề thuộc Bộ Xây Dựng

 Mục tiêu cụ thể:

Trên cơ sở xây dựng đề tài nghiên cúu thì tác giả có đưa ra 6 mục tiêu cụ thể để hoàn thành luận văn nghiên cứu đánh giá các nhân tố tác động đến việc vận dụng kế toán quản trị vào các trường Cao đẳng nghề thuộc Bộ Xây Dựng như sau:

(1) Hệ thống cơ sở lý luận về kế toán quản trị và các yếu tố ảnh hưởng đến việc vận dụng dụng KTQT vào trong các trường Cao đẳng nghề

(2) Hiểu được các nhân tố tác động đến việc vận dụng kế toán quản trị

(3) Nhận diện các nhân tố tác động đến việc vận dụng kế toán quản trị

(4) Đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến việc vận dụng kế toán quản trị

(5) Kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến các yếu tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT và xác định tầm quan trọng của việc vận dụng KTQT

(6) Đưa ra các chính sách nhằm gia tăng tính vận dụng KTQT

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Các câu hỏi được tác giả đưa ra để hình thành bảng câu hỏi khảo sát khi thực hiện nghiên cứu gồm 3 câu hỏi sau:

Trang 16

(1) Các nhân tố nào tác động đến việc vận dụng kế toán quản trị trong các trường Cao đẳng nghề thuộc Bộ Xây Dựng?

(2) Mức độ tác động của những nhân tố tác động đến việc vận dụng kế toán quản trị trong các trường Cao đẳng nghề?

(3) Các chính sách nào nhằm gia tăng tính vận dụng KTQT?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Các nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQT trong các trường Cao đẳng nghề thuộc Bộ Xây Dựng

- Phạm vi và Đối tượng khảo sát gồm: Kế toán viên; Giáo viên Kế toán – Quản trị; Ban Giám Hiệu làm việc trong các trường Cao đẳng nghề thuộc Bộ Xây Dựng

- Thời gian nghiên cứu là: Năm 2017

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng trong luận văn bao gồm: Phương pháp nghiên cứu định tính và và Phương pháp nghiên cứu định lượng, cụ thể như sau:

- Phương pháp định tính: tổng hợp, phân tích, so sánh những thông tin thu

được từ phỏng vấn ý kiến chuyên gia để khám phá các nhân tố có thể tác động đến việc vận dụng KTQT trong các trường Cao đẳng nghề thuộc Bộ Xây Dựng

Từ nội dung trao đổi, tác giả sẽ sử dụng kết quả thảo luận cuối cùng để làm cơ

sở để xây dựng bảng câu hỏi phục vụ cho công tác khảo sát phục vụ cho các mục tiêu như: Hệ thống cơ sở lý luận về kế toán quản trị và các yếu tố ảnh hưởng đến việc vận dụng dụng KTQT vào trong các trường Cao đẳng nghề; Hiểu được các nhân tố tác động đến việc vận dụng kế toán quản trị; Nhận diện các nhân tố tác động đến việc vận dụng kế toán quản trị; Đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến việc vận dụng kế toán quản trị

- Phương pháp nghiên cứu định lượng: với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS

nhằm xử lý dữ liệu thu thập được từ phỏng vấn qua bảng câu hỏi đóng đối với các kế toán viên làm việc trong các trường Cao đẳng nghề thuộc Bộ Xây Dựng như: thống kê mô tả, kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích hồi quy tương quan được sử dụng để kiểm định mô hình nghiên cứu nhằm hướng tới các mục tiêu: Kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến các yếu tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT và xác định tầm

Trang 17

quan trọng của việc vận dụng KTQT; Đưa ra các chính sách nhằm gia tăng tính vận dụng KTQT

1.6 Đóng góp mới của đề tài

Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ cung cấp các thông tin về các nhân tố ảnh hưởng đến công tác vận dụng KTQT trong các trường Cao đẳng nghề thuộc Bộ Xây Dựng Do

đó, các đóng góp này sẽ chỉ ra được những khía cạnh hạn chế, những vấn đề cần giải quyết trong quá trình định hướng chiến lược cho các trường Cao đẳng nghề thuộc Bộ Xây Dựng hiện nay vào các tài liệu về lĩnh vực vận dụng KTQT về mặt lý thuyết và thực tế Cụ thể kết quả nghiên cứu của đề tài này đem lại một số ý nghĩa như sau:

- Cung cấp thông tin thực tế về các biến số có thể tác động và chỉ ra mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT trong các trường Cao đẳng nghề thuộc Bộ Xây Dựng

- Làm cơ sở cho các đơn vị hành chính sự nghiệp trường học tham khảo, hiểu biết sâu hơn về việc vận dụng KTQT trong các trường Cao đẳng nghề thuộc

Bộ Xây Dựng và có các chiến lược hoạt động phù hợp

- Ngoài ra, nghiên cứu này có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên ngành Kế toán – Quản trị nghiên cứu các vấn đề liên quan đến lĩnh vực KTQT, góp một phần cơ sở lý luận cho các nghiên cứu tiếp theo về lĩnh vực này

1.8 Kết cấu của luận văn

Luận văn được kết cấu thành 05 chương ngoài các phần trang bìa và phụ lục, cụ thể như sau:

Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Chương 3: Thiết kế nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Trang 18

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Tại Chương 1 này tác giả đã trình bày tổng quan các vấn đề nghiên cứu gồm: Tính cấp thiết của đề tài; Mục tiêu nghiên cứu; Câu hỏi nghiên cứu; Đối tượng nghiên cứu; Phương pháp nghiên cứu; Đóng góp của đề tài và Kết cấu luận văn Từ đó sẽ đưa ra định hướng cho tác giả xây dựng nội dung phân tích tại các chương tiếp theo của đề tài nghiên cứu

Trang 19

CHƯƠNG 2 – CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Tổng quan các đề tài nghiên cứu có liên quan

2.1.1 Các nghiên cứu công bố ở nước ngoài

Kế toán quản trị được áp dụng trong việc quản lý ở các doanh nghiệp, đơn vị hành chính đã được quan tâm từ rất lâu trên thế giới và thực hiện một cách có hiệu quả Vì vậy, đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu của các tác giả về vấn đề vận dụng và các nhân

tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị đã được thực hiện kiểm tra và bàn luận trong các tình hình phát triển khác nhau của kinh tế và xã hội, nhưng mỗi đề tài nghiên cứu chỉ đóng góp một phần các yếu tố có thể ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị tại các đơn vị Vì vậy, những vấn đề mà các tác giả đưa ra liên quan đến các yếu tố như sau: Sự quan tâm của chủ doanh nghiệp; Môi trường cạnh tranh; Trình

độ quản lý; nhưng chưa đề cập đến vấn đề chi phí và đặc điểm của các đơn vị vận dụng kế toán quản trị

2.1.1.1 Các nghiên cứu chung

Khi thực hiện thì nhiều đề tài nghiên cứu đã chỉ ra các mối quan hệ giữa các yếu

tố trong các môi trường khác nhau và có những dự báo như sau:

Nghiên cứu về “Lựa chọn chiến lược, không chắc chắn về môi trường và hiệu suất các Doanh nghiệp nhỏ và vừa, về vai trò Can thiệp của Hệ thống Kế toán quản trị” của tác giả Chong & Chong (1997) đã đề cập đến chức năng và vai trò của quản

lý hệ thống kế toán trên các mối quan hệ giữa:

 Chiến lược kinh doanh và hiệu suất doanh nghiệp;

 Nhận thức về sự không chắc chắn môi trường dựa trên hiệu suất doanh nghiệp

Hệ thống KTQT đã được xây dựng theo mức độ mà người quản lý sử dụng trong phạm vi thông tin đến khi cho ra quyết định Việc thu thập ý kiến của các lãnh đạo doanh nghiệp nhỏ và vừa bằng một nghiên cứu cắt ngang của các công ty sản xuất ở Tây Úc, việc sử dụng các thông tin này được thực hiện để đánh giá các mối liên hệ vừa được đề cập trên Kết quả của cuộc nghiên cứu chỉ ra rằng các chiến lược đề ra của các nhà lãnh đạo của các doanh nghiệp và môi trường cạnh tranh ngày càng trở nên khốc liệt, và phạm vi sử dụng thông tin của kế toán quản trị trong việc đưa ra các quyết định là tiền đề quan trọng của của việc vận dụng hệ thống kế toán quản trị trong các doanh nghiệp

Trang 20

Khi nghiên cứu các tập đoàn, công ty lớn, một số nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc vận dụng KTQT có thể được xác định bằng thang đo về mức độ yêu cầu về thông tin, nó sẽ được xây dựng bởi hệ thống xử lý thông tin Theo Mitchell et al (2000) chỉ

ra rằng thông tin kế toán có thể giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa xây dựng các chiến lược quản lý ngắn hạn như: Dự báo chi phí, doanh thu bằng cách cung cấp thông tin

để hỗ trợ giám sát và kiểm soát

Việc vận dụng kế toán quản trị còn nhiều rào cản trong vấn đề về chi phí của các doanh nghiệp nhỏ có những hạn chế đáng kể do họ có vấn đề về khả năng tài chính- Marriot & Marriot (2000)

Còn theo Perren & Grant (2000) cho rằng quá trình ra quyết định trong doanh nghiệp nhỏ là phức tạp hơn nhiều so với các dự đoán, vì các kỹ thuật kế toán chính thức trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ đều cung cấp các thông tin kế toán và kiểm soát hệ thống để hỗ trợ các quyết định của nhà lãnh đạo Vì vậy, các công ty nhỏ nhận thức được tầm quan trọng của thông tin kế toán và sử dụng nó cho các mục đích vận dụng kế toán quản trị vào các hoạt động xây dựng và phát triển doanh nghiệp

2.1.1.2 Các nghiên cứu về nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQT

Theo các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến việc vận dụng kế toán quản trị thì nổi bật nhất là nghiên cứu của Fuller (1996) đề cập vấn đề quan trọng của vận dụng KTQT trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa là:

- Các vấn đề liên quan đến tài chính;

- Việc thiếu các kinh nghiệm thực tiễn trong việc quản trị;

- Trình độ chuyên môn kế toán của các nhân viên kế toán

Khi đề cập đến vấn đề thiếu chuyên môn và sự hiểu biết thông tin thì các đơn vị

sẽ thực hiện việc vận dụng kế toán quản trị chỉ nhằm mục đích cung cấp cho doanh nghiệp các thông tin cần thiết (Ravarini et al 2002); Còn theo Lesjak (2001) và Levy

et al (2001) cho rằng KTQT giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ việc áp dụng KTQT

sẽ tạo nên sự phát triển và giúp cho các chiến lược kinh doanh tốt hơn

Và theo 2 nhà nghiên cứu Cragg et al (2002) và Ismail & King (2005) đưa ra một nhận xét như sau: Một số doanh nghiệp đã chú trọng vấn đề vận dụng từ rất sớm

và nó đưa đến việc thực hiện tốt hơn việc vận dụng này so với các chủ doanh nghiệp hay công ty có nhận thức thấp hơn về vai trò của kế toán quản trị

Trang 21

Bên cạnh đó các nhà nghiên cứu khác như: Thong & Yap (1995); Thong et al (1996); Igbaria et al (1997); Thong (2001); Shiels et al (2003); Raymond & St-Pierre (2005); de Guinea et al (2005) đã chỉ thêm được các yếu tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT phụ thuộc vào mức độ vận dụng công nghệ thông tin; việc quan tâm đến KTQT của các nhà lãnh đạo; môi trường cạnh tranh và yếu tố quy mô của doanh nghiệp cũng ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT

2.1.2 Các nghiên cứu công bố ở trong nước

Các nhà nghiên cứu hiện nay tại trong nước thì cũng chỉ đánh giá được các thực trạng đang còn tồn tại và từ đó đưa ra các giải pháp xây dựng mô hình nghiên cứu đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến việc vận dụng này

2.1.2.1 Các nghiên cứu chung

Việc vận dụng KTQT trong các doanh nghiệp, các đơn vị hành chính sự nghiệp

ở Việt Nam hiện đã được sự quan tâm của các nhà quản trị, các nhà lãnh đạo trong những năm gần đây Và việc vận dụng này được dựa trên cơ sở kế thừa những kết quả của các đề tài nghiên cứu của các tác giả ở trong và ngoài nước Trong quá trình thực hiện bài nghiên cứu Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị vào các trường Cao đẳng nghề thuộc Bộ Xây Dựng thì tác giả cũng đã tham khảo một số các đề tài nghiên cứu của một số tác giả:

“Mô hình tổ chức kế toán quản trị của một số nước trên thế giới – Bài học kinh nghiệm đối với các doanh nghiệp Việt Nam” của tác giả Lê Thị Hương được đăng trên Tạp chí nghiên cứu tài chính kế toán số 7 (1996) Đề tài nghiên cứu này đã cung cấp hai cách tổ chức mô hình KTQT là: Mô hình kết hợp và Mô hình tách rời dựa vào một số mô hình tổ chức KTQT của một số nước phát triển và rút ra các giải pháp khi thực hiện vận dụng KTQT đối với các doanh nghiệp Việt Nam

Tác giả Nguyễn Thành Kim Dung (2013) với đề tài “Tổ chức công tác kế toán quản trị tại các doanh nghiệp vận tải thủy nội địa Logistics trên địa bàn Thành phố

Hồ Chí Minh” Qua đề tài nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thành Kim Dung thì giải pháp đưa ra để hoàn thiện công tác KTQT này dựa trên việc nghiên cứu tình hình tổ chức KTQT nhằm giúp các doanh nghiệp giao nhận vận tải cung cấp các dịch vụ đa dạng và có chất lượng tốt hơn, giá thành rẻ hơn theo nhu cầu của khách hàng; Giúp các doanh nghiệp vận tải vượt qua được các thử thách và ngày càng phát triển mạnh

trong hệ thống vận tải quốc tế

Trang 22

2.1.2.2 Các nghiên cứu về nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQT

Tác giả Đào Khánh Trí (2015) với đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Thành phố Hồ Chí Minh”, thì thông qua dữ liệu thu thập từ 150 doanh nghiệp tại địa bàn Kết quả chỉ ra rằng việc vận dụng KTQT ở các doanh nghiệp vừa cao hơn các doanh nghiệp nhỏ khi tác giả thực hiện mô hình Hồi quy Binary Logistics thì có 3 yếu tố tác động đến việc vận dụng KTQT tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ đó là: Trình độ của nhân viên kế toán;

Sự quan tâm của chủ doanh nghiệp; Chi phí cho việc tổ chức một hệ thống KTQT là

có ý nghĩa thống kê và có mối quan hệ tích cực (mối quan hệ dương) đến mức độ vận dụng

Tác giả Dương Thị Cẩm Vân (2007) với đề tài “Vận dụng kế toán quản trị vào các trường chuyên nghiệp” Qua đề tài nghiên cứu thì tác giả cũng đã đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao việc vận dụng kế toán quản trị vào các trường chuyên nghiệp bằng cách tổ chức vận dụng hệ thống chứng từ kế toán, tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán, tổ chức vận dụng sổ kế toán, tổ chức vận dụng báo cáo kế toán Tác giả Hà Xuân Thạch và Đào Tuyết Lan (2015) với đề tài : “Kế toán quản trị tại các trường Đại học ngoài công lập – Thực trạng và định hướng giải pháp” Đã được các tác giả đưa ra các giải pháp về phân loại chi phí theo tính chất ứng xử, xây dựng hệ thống chi phí đào tạo linh hoạt, tính giá thành đào tạo linh hoạt

2.2 Một số lý thuyết nền tảng về việc vận dụng KTQT trên thế giới

2.2.1 Lý thuyết bất định

2.2.1.1 Nội dung lý thuyết bất định

Lý thuyết bất định lần đầu tiên được phát triển trong lý thuyết tổ chức vào những năm 1960, nhưng phải đến những năm 1970 thì lý thuyết kế toán mới phát triển lý thuyết này thành lý thuyết bất định Theo nghiên cứu Waterhouse, J H & Tiessen (1978) thì lý thuyết bất định đưa ra các giả thuyết là một quy trình và cấu trúc hiệu quả của đơn vị là bất định trong bối cảnh của đơn vị đó Còn theo nghiên cứu Ezzamel and Hart (1987) đưa ra giả định rằng hoạt động hiệu quả của đơn vị phụ thuộc vào mức độ phù hợp của cấu trúc đơn vị cùng với các sự kiện ngẫu nhiên xảy ra trước Các nhà lý luận về học thuyết bất định này tuyên bố rằng không có một giải pháp toàn cầu nào có thể giải quyết được tất cả mọi vấn đề của đơn vị, và mức độ hiệu quả của giải pháp còn tùy thuộc vào đặc điểm của đơn vị cũng như môi trường xung quanh

Trang 23

Theo Otley (1980) thì các yếu tố bất định có tác động đến thiết kế của đơn vị cũng đồng thời nó có ảnh hưởng đến cách vận dụng KTQT Sau này khi mở rộng và phát triển, P Tiessen và J H Waterhouse (1983) đã chỉ ra rằng cấu trúc của đơn vị phụ thuộc vào công nghệ và môi trường hoạt động của đơn vị và sự hiệu quả của vận dụng KTQT lại phụ thuộc vào yếu tố bất định cấu trúc của đơn vị Việc xác định mối quan hệ giữa thông tin với công nghệ của đơn vị cũng như môi trường hoạt động có ảnh hưởng quan trọng đến việc tổ chức cấu trúc của đơn vị Nếu đơn vị hoạt động trong môi trường hoạt động không ổn định hay áp dụng công nghệ đòi hỏi thay đổi liên tục thì thông tin chủ yếu là nội bộ của đơn vị và ngược lại, nếu môi trường hoạt động ổn định hoặc công nghệ ít thay đổi thì thông tin là hướng ra bên ngoài Dưới đây là khung lý thuyết bất định diễn giải mối quan hệ giữa thông tin - cấu trúc - công nghệ:

(Nguồn: Khung lý thuyết bất định của Macy và Arunachalam (1995))

Hình 2.1: Khung lý thuyết bất định của Macy và Arunachalam (1995)

Theo Mintzberg (1979) thì các nhân tố bất định tác động đến cấu trúc của đơn

vị có thể chia làm 04 (bốn) nhóm: số năm thành lập và quy mô của đơn vị, hệ thống

Trang 24

kỹ thuật đơn vị đó sử dụng, môi trường xung quanh và sức mạnh của các mối liên hệ Còn theo Chenhall & ctg.,(1981) thì yếu tố môi trường và các yếu tố ngẫu nhiên nội tại như công nghệ, quy mô, cấu trúc lại có tác động đáng kể lên các quy trình hoạt động và ra quyết định của đơn vị

2.2.1.2 Áp dụng lý thuyết bất định vào việc vận dụng KTQT

Lý thuyết bất định nghiên cứu kế toán quản trị tại đơn vị trong mối quan hệ tác động đến môi trường hoạt động tại các đơn vị vận dụng kế toán quản trị Vì vậy, có thể nói rằng một hệ thống kế toán quản trị phù hợp với đơn vị sẽ dựa vào các đặc điểm đơn vị và môi trường đơn vị đó đang hoạt động Điều này chứng tỏ rằng không thể xây dựng được một mô hình KTQT áp dụng cho tất cả các đơn vị mà việc vận dụng KTQT vào đơn vị phải tùy thuộc vào đặc trưng của từng ngành, từng lĩnh vực sản xuất kinh doanh, đồng thời phải phù hợp với các điều kiện về cơ cấu tổ chức, quy

mô đơn vị, trình độ công nghệ đơn vị, đặc điểm của đơn vị và chiến lược tổ chức trong từng giai đoạn

Rất nhiều các nhà nghiên cứu khi lựa chọn để nghiên cứu các nhân tố bất định ảnh hưởng đến sự vận dụng các kỹ thuật KTQT vào đơn vị, hầu hết các kết quả nghiên cứu như: Gordon và Miller (1976); Waterhouse và Tiessen (1978); Otley (1980); Gerdin và Greve (2004) đều chỉ ra rằng không có một mô hình KTQT nào là phù hợp cho tất cả các loại hình đơn vị cũng như trường tồn qua các giai đoạn khác nhau, và các nhân tố tác động, tác động đến việc triển khai vận dụng các kỹ thuật KTQT có thể chia làm hai loại: yếu tố nội tại bên trong đơn vị và yếu tố bên ngoài đơn vị (Walker, M., & Alan, S ,1996) Khi nghiên cứu các nhân tố tác động đến việc vận dụng KTAT thì đề tài nghiên cứu Chenhall (2003) đề cập đến khung lý thuyết bất định dựa trên khía cạnh chức năng với giả định rằng hệ thống kiểm soát quản trị được phát triển, lựa chọn nhằm mục đích giúp đạt được các chỉ tiêu và mục tiêu đề ra của đơn vị Trong trường hợp này KTQT là bất định đối với các yếu tố như môi trường kinh doanh bên ngoài, công nghệ của đơn vị, cấu trúc của đơn vị, quy mô đơn vị, chiến lược của đơn vị và văn hóa dân tộc Sơ đồ diễn giải khung lý thuyết bất định cập nhật của Chenhall (2003):

Trang 25

(Nguồn: Khung lý thuyết bất định cập nhật của Chenhall (2003))

Hình 2.2: Khung lý thuyết bất định của Chenhall – năm 2003)

Đối với nghiên cứu của tác giả thì lý thuyết bất định của Chenhall (2003) là nền tảng khá tốt cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu của tác giả Tuy nhiên với bối cảnh nghiên cứu cho các trường cao đẳng nghề thuộc Bộ Xây Dựng thì tác giả lựa chọn các yếu tố Công nghệ của doanh nghiệp, Quy mô của doanh nghiệp , Chiến lược của đơn vị để điều chỉnh và hình thành nên yếu tố: Đặc điểm của các trường Cao đẳng nghề để đưa vào đánh giá ảnh hưởng của việc vận dụng KTQT tại các trường cao đẳng nghề thuộc Bộ Xây Dựng

2.2.2 Lý thuyết đại diện

2.2.2.1 Nội dung lý thuyết đại diện

Lý thuyết đại diện có nguồn gốc từ lý thuyết kinh tế sau đó được phát triển bởi Alchian và Demsetz (1972) và được Jensen và Meckling phát triển thêm vào năm

1976 Lý thuyết này nghiên cứu mối quan hệ giữa bên ủy quyền và bên được ủy quyền

và được thể hiện như sau:

- Quan hệ nhà quản lý và cổ đông: Các giải pháp để giảm chi phí ủy quyền là thông qua hợp đồng giữa các cổ đông và nhà quản lý theo hướng khuyến khích nhà quản lý tối đa hóa giá trị thị trường của công ty và tối đa hóa lợi nhuận Phần lớn các kế hoạch khen thưởng này dựa trên các con số kế toán, do đó nhà

Trang 26

quản lý sẽ tìm cách tác động vào báo cáo tài chính thông qua vận dụng chính sách kế toán để đạt được mục đích được hưởng lợi cá nhân của mình

- Quan hệ cổ đông và chủ nợ: Để giảm chi phí ủy quyền, chủ nợ có thể đưa vào hợp đồng các điều khoản hạn chế như: kiểm soát việc chia cổ tức, kiểm soát hoạt động đầu tư, yêu cầu thông tin để giám sát tình hình hoạt động đơn vị Việc sử dụng các điều khoản hạn chế nói trên phải dựa trên số liệu kế toán của đơn vị

Do đó, các nhà quản lý sẽ tìm cách vận dụng chính sách kế toán khi lập báo cáo tài chính có lợi nhất cho đơn vị khi đơn vị gần đến tình trạng vi phạm hợp đồng vay

2.2.2.2 Áp dụng lý thuyết đại diện vào việc vận dụng KTQT

Lý thuyết đại diện cho rằng xung đột sẽ phát sinh khi có thông tin không đầy đủ

và bất cân xứng giữa chủ thể và đại diện trong công ty Cả hai bên có lợi ích khác nhau và vấn đề này được giảm thiểu bằng cách sử dụng các cơ chế thích hợp để có thể hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa cổ đông và người quản lý công ty, thông qua thiết lập những cơ chế đãi ngộ thích hợp cho các nhà quản trị, và thiết lập cơ chế giám sát hiệu quả để hạn chế những hành vi không bình thường, tư lợi của người quản lý công ty

Theo Healy và Palepu (2001) thì hợp đồng tối ưu giữa nhà quản trị với nhà đầu

tư, thỏa thuận thù lao và tiền thưởng của nhà quản trị, giải pháp dung hòa lợi ích giữa nhà quản trị đơn vị (và chủ đơn vị) với lợi ích của nhà đầu tư bên ngoài Những hợp đồng này thường yêu cầu đơn vị phải sử dụng thông tin được cung cấp bởi hệ thống KTQT như: hệ thống ngân sách, thông tin kiểm soát chi phí, phân bổ các nguồn lực

để nhà đầu tư đánh giá sự tuân thủ những cam kết trong hợp đồng và đánh giá nhà quản trị đơn vị có quản trị các nguồn lực của công ty gắn với lợi ích của nhà đầu tư bên ngoài

Trang 27

(Nguồn: Khung lý thuyết đại diện Healy và Palepu (2001))

Hình 2.3: Khung lý thuyết đại diện Healy và Palepu (2001)

Lý thuyết đại diện cũng là cơ sở để xây dựng các báo cáo nội bộ trong đơn vị, các báo cáo đánh giá trách nhiệm phù hợp với hệ thống phân quyền trong các đơn vị Việt Nam Từ cơ sở lý thuyết đại diện tác giả rút trích được yếu tố sự quan tâm đến KTQT của Ban Giám Hiệu ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT

2.2.3 Lý thuyết xã hội học

2.2.3.1 Nội dung lý thuyết xã hội học

Theo nghiên cứu của Harrington (2005) thì lý thuyết xã hội học là các khung phân tích dùng để nghiên cứu các hiện tượng xã hội bao gồm các ý tưởng về việc xã hội thay đổi và phát triển, các phương pháp để giải thích về hành vi xã hội, về sức mạnh và cấu trúc xã hội, về giới tính và sắc tộc, về sự hiện đại và hiện tượng xã hội hóa, về các cuộc cách mạng và các xã hội lý tưởng

2.2.3.2 Áp dụng lý thuyết xã hội học vào việc vận dụng KTQT

Lý thuyết xã hội học tập trung vào việc làm thế nào tổ chức được thành lập thông qua tương tác giữa con người, tổ chức và xã hội Covaleski và cộng sự (1996) cho rằng sự tồn tại của một tổ chức yêu cầu phù hợp với xã hội về hành vi có thể chấp nhận được để đạt được mức độ cao của hiệu quả sản xuất

Các nhà lý thuyết xã hội học xem xét hệ thống KTQT về mặt thực tiễn xã hội hơn là chỉ về mặt kỹ thuật để đưa ra quyết định nội bộ và hiệu quả tổ chức Thực tiễn KTQT phản ánh quyền lực chính trị và xã hội Ví dụ, Wildavsky và Caiden (2003)

Trang 28

lập luận rằng hệ thống ngân sách có thể được sử dụng cho mục đích khác ngoài vấn

đề kiểm soát như sử dụng ngân sách để thiết lập và duy trì các mối quan hệ quyền lực hiện tại, bản chất chính trị của ngân sách thường quan sát thấy trong đời sống xã hội phức tạp Quan điểm về quá trình lao động trong các tác phẩm của Carl Marx nhấn mạnh sự phân chia giai cấp trong xã hội, mâu thuẫn giữa lao động, tiền lương và các nhà tư bản Từ quan điểm của nhà tư bản, lao động cần được giảm thiểu và tối đa hóa giá trị thặng dư, không giống như các yếu tố khác của sản xuất

Do đó các nhà đầu tư phải kiểm soát được lao động cũng như quá trình lao động Thông qua một số công trình như Hopper và Armstrong (1991), Oakes và Covaleski (1994), các tác giả đều lập luận rằng KTQT và thông tin chi phí là công cụ để khai thác hiệu quả sản xuất

Foucault (1926 -1984) sử dụng cách tiếp cận để nghiên cứu KTQT trong một bối cảnh chính trị và xã hội rộng hơn Một loại của lý thuyết xã hội học thường được

sử dụng là lý thuyết đại diện Nó giải thích quá trình thể chế mà theo đó quy định, chuẩn mực hoặc thói quen đã trở thành hướng dẫn cho hành vi xã hội (Scott 2004) Như Covaleski et al.(1996) đã chỉ ra sự phù hợp với chuẩn mực xã hội của hành vi chấp nhận được và mức độ cao của sản xuất hiệu quả là tương đối quan trọng cho sự sống còn của một tổ chức

Lý thuyết xã hội học cho thấy hệ thống KTQT trong đơn vị không chỉ là những vấn đề mang tính nội bộ đơn vị mà nó chịu tác động ảnh hưởng trong một bối cảnh

xã hội chung, nó liên quan đến các chế độ, chính sách hiện hành và giải quyết các mối quan hệ với người lao động trong đơn vị Chính vì vậy các mục tiêu của đơn vị đặt ra phải nằm trong mục tiêu chung mà xã hội chấp nhận được Điều này phù hợp với xu hướng phát triển bền vững và lợi ích đơn vị phải gắn với lợi ích chung của xã hội Ví dụ các tiêu chuẩn chi phí phải xây dựng trên cơ sở định mức chung của ngành, hay việc lập các kế hoạch về chi phí tiền lương phải trên cơ sở mức lương tối thiểu

do nhà nước quy định, các thông tin về chi phí KTQT cung cấp cũng sẽ chịu sự tác động bởi các quy định của các chính sách thuế, chính sách tài chính của Nhà nước…

Trang 29

(Nguồn: Khung lý thuyết xã hội học của Covaleski và cộng sự (1996))

Hình 2.4: Khung lý thuyết xã hội học của Covaleski và cộng sự (1996)

Từ cơ sở lý thuyết xã hội học của Covaleski và cộng sự (1996) có thể thấy được Việc vận dụng KTQT của các đơn vị chịu tác động của yếu tố môi trường do đó tác

giả đưa yếu tố: Mức độ cạnh tranh của thị trường vào đánh giá Việc vận dụng

KTQT tại các trường Cao đẳng nghề thuộc Bộ Xây Dựng

2.2.4 Lý thuyết về mối quan hệ lợi ích - chi phí (Cost Benefit Theory)

2.2.4.1 Nội dung lý thuyết về mối quan hệ lợi ích - chi phí

Phân tích Chi phí - Lợi ích ước lượng và tính tổng giá trị bằng tiền tương đương đối với những lợi ích và chi phí của cộng đồng từ các dự án nhằm xác định xem chúng đầu tư có hợp lý hay không Đánh giá mang tính lợi ích được bắt đầu từ năm 1948 khi một bài báo của Jules Dupuit - một kỹ sư người Pháp Nhưng quá trình phát triển thực tế của việc phân tích này là kết quả của Luật Hàng Hải Liên Bang (Federal Navigation Act) năm 1936 khi luật này đòi hỏi Đoàn Kỹ sư của Mỹ (U.S Corps of Engineers) phải tiến hành các dự án nâng cấp hệ thống đường thuỷ khi tổng lợi ích của một dự án vượt quá chi phí của dự án đó Vì vậy, họ đã xây dựng những phương pháp nhằm đánh giá những lợi ích và chi phí đó đã tiến hành công việc với sự hỗ trợ của các chuyên gia trong lĩnh vực kinh tế Vào những năm 1950, các nhà kinh tế đã

Trang 30

xây dựng tập hợp những phương pháp chặt chẽ, nghiêm ngặt để tính toán lợi ích, chi phí và quyết định xem liệu một dự án có đáng để thực hiện hay không

2.2.4.2 Áp dụng lý thuyết về mối quan hệ lợi ích - chi phí vào việc vận dụng KTQT

Việc đánh giá mối quan hệ lợi ích - chi phí vào việc vận dụng KTQT cũng rất được các đơn vị quan tâm Bởi những lợi ích từ việc vận dụng KTQT là khá lớn nhưng chi phí bỏ ra để vận dụng KTQT trong đơn vị khá cao Thông qua việc giảm những tác động tiêu cực trong vận dụng KTQT trong đơn vị với giá trị bằng tiền tương đương nên việc phân tích chi phí - lợi ích sẽ quyết định việc vận dụng KTQT

có đáng để đầu tư hay không Giá trị bằng tiền tương đương dựa trên thông tin phát sinh từ sự lựa chọn hệ thống kế toán áp dụng cho đơn vị Khi hệ số lợi ích trên chi phí lớn hơn 1 và giá trị hiên tại ròng dương thì ta nhận xét dự án nên đầu tư vì nó sẽ sinh lời

Khi đề cập đến vấn đề mối quan hệ Lợi ích – Chi phí thì nghiên cứu của Mitchell

et al (2000) đã nhận xét rằng: Thông tin kế toán có thể giúp các đơn vị quản lý, giải quyết các vấn đề trong ngắn hạn về các lĩnh vực như dự toán kinh phí, chi phí và dòng tiền bằng cách cung cấp thông tin để hỗ trợ giám sát và kiểm soát Bên cạnh đó, Marriot & Marriot (2000) cũng chỉ ra rằng vấn đề về khả năng tài chính của các đơn

vị nhỏ có những hạn chế đáng kể do đó việc áp dụng kế toán quản trị còn nhiều rào cản trong vấn đề về chi phí

Từ cơ sở lý thuyết trên có thể thấy được Việc vận dụng KTQT của các đơn vị chịu tác động của yếu tố Lợi ích – Chi phí do đó tác giả đưa yếu tố Chi phí cho việc

tổ chức một hệ thống KTQT ở các trường Cao Đẳng Nghề vào đánh giá Việc vận dụng KTQT tại các trường Cao đẳng nghề thuộc Bộ Xây Dựng

2.3 Tổng quan về KTQT

2.3.1 Các khái niệm về KTQT

Nếu nói kế toán quản trị chỉ là công việc ghi chép sổ sách về tình hình tài chính diễn ra hàng ngày tại một đơn vị, tính toán chi phí, lợi nhuận,… và đến cuối kỳ (quý, năm) thì lập các báo cáo tài chính theo quy định nộp cho cơ quan chức năng Có nghĩa

là kế toán chỉ cần ghi chép lại một cách chính xác những nghiệp vụ kinh tế đã xảy ra

là đủ Nếu vậy thì chỉ nhìn kế toán như một công việc thụ động, thực ra kế toán còn

là một công cụ quản lý rất quan trọng trong mọi tổ chức hệ thống thông tin kế toán là

Trang 31

một trong những thông tin quản lý cần thiết cho các nhà quản lý Nó cung cấp thông tin nhằm mục đích:

- Thứ nhất: Thuyết minh rõ ràng và chính xác các chiến lược cũng như các kế hoạch phát triển lâu dài của tổ chức

- Thứ hai: Hỗ trợ việc phân bổ các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) của tổ chức một cách hợp lý và có hiệu quả nhất

- Thứ ba: Lập kế hoạch chi phí và kiểm soát chi phí đối với các mặt hoạt động

và các quá trình trong tổ chức

- Thứ tư: Đo lường và đánh giá trách nhiệm cá nhân

- Thứ năm: Lập báo cáo theo quy định của chế độ báo cáo kế toán nhà nước Trong năm mục đích trên thì mục đích cuối cùng thuộc về kế toán tài chính, còn lại là thuộc về lĩnh vực kế toán quản trị Như vậy có thể thấy một hệ thống kế toán đầy đủ phải bao gồm đầy đủ cả hai phần là kế toán tài chính và kế toán quản trị Nếu như ở một số nước phát triển thì kế toán quản trị đã phát triển rất lâu và đã đạt được nhiều thành tựu rất lớn Ví dụ như: Ở Canada, Mỹ thì kế toán quản trị đã trở thành một nghề với những tiêu chuẩn nghề nghiệp xác định (CMA), thì ở Việt Nam, thuật ngữ “Kế toán quản trị” mới chỉ được ghi nhận chính thức trong Luật Kế Toán ban hành vào ngày 17/06/2003 Ngày 12/06/2006 Bộ tài chính ban hành thông tư 53/2006/TT - BTC, hướng dẫn áp dụng KTQT trong đơn vị Theo đó, KTQT được hiểu là “việc thu thập, xử lý và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán” Ngoài ra, KTQT còn được hiểu ở một khía cạnh khác là việc thu thập, xử lý thông tin về các nguồn lực hiện có của đơn vị nhằm cung cấp cơ sở cần thiết để nhà quản trị đưa ra các quyết định điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị trong tương lai

Nhìn chung KTQT trên thế giới hiện nay phát triển rất mạnh, theo thời gian tất cả các định nghĩa quản trị truyền thống dần thu hẹp, nhường chỗ cho các hoạt động nhằm tạo ra các giá trị cho quá trình hoạt động của đơn vị, các hoạt động đó nhấn mạnh vào việc quản trị đơn vị ở mức độ cao hơn và KTQT là một công cụ không thể thiếu trong hoạt động này, còn ở Việt Nam hiện nay KTQT đóng vai trò rất khiêm tốn, nhất là đối với đơn vị

Trang 32

2.3.2 Mục tiêu, nhiệm vụ, vai trò của KTQT trong các tổ chức

2.3.2.1 Mục tiêu của kế toán quản trị

Mục tiêu cơ bản của kế toán quản trị là cung cấp thông tin phục vụ cho lãnh đạo đơn vị để ra quyết định quản trị có trọng tâm, giúp lãnh đạo đơn vị chủ động tham gia vào quá trình quản trị, điều hành hoạt động

Cung cấp thông tin: thu thập và cung cấp thông tin cần thiết cho nhà quản trị mọi cấp nhằm hoạch định, đánh giá và quản trị hoạt động sản xuất kinh doanh Tham gia vào quá trình quản trị: quá trình quản trị bao gồm ra nhiều quyết định chiến lược, chiến thuật và tác nghiệp

2.3.2.2 Nhiệm vụ của kế toán quản trị

- Thống kê các nguồn lực của tổ chức với mục đích kiểm soát và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực

- Kiểm soát và phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ nhằm điều chỉnh các hoạt động cần thiết để đạt được mục tiêu đề ra

- Hoạch định: đây chính là quá trình xây dựng mục tiêu

- Dự báo và đánh giá dự báo

2.3.2.3 Vai trò của kế toán quản trị trong các tổ chức

Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh hay cung cấp, bất kỳ một tổ chức nào cũng phải thiết lập kế hoạch cho hoạt động của mình Từ kế hoạch chung của tổ chức, các bộ phận triển khai thành các mục tiêu cụ thể để thực hiện và kiểm tra kết quả thực hiện các mục tiêu này Trong quá trình thực hiện các mục tiêu đề ra, cần phải quản lý các quy trình cụ thể, chi tiết Vì vậy, kế toán quản trị là công cụ đánh giá việc thực hiện những mục tiêu thông qua việc phân tích chi phí, là công cụ kiểm tra quá trình thực hiện hoạt động theo kế hoạch đã đề ra, từ đó có những quyết định hợp

lý để hoạt động ngày càng đạt hiệu quả cao hơn Vai trò của KTQT đối với đơn vị đặc biệt là các nhà quản trị là hỗ trợ thực hiện các chức năng cơ bản sau:

Chức năng lập kế hoạch: Đòi hỏi phải nắm được những thông tin đã xảy ra

trong quá khứ, có những phương pháp để phân tích đánh giá tình hình và phải có những công cụ để đưa ra những dự báo trong tương lai và đưa ra dự báo trên các hoạt động về chi phí, doanh thu, hiệu quả công việc Việc lập kế hoạch phụ thuộc vào 2 yếu tố là: Mục tiêu hoạt động và dự toán ngân sách

Trang 33

Chức năng tổ chức và điều hành: Là quá trình thực hiện các công việc như:

Tổ chức về nhân sự, phân bổ tài sản, nguồn vốn Để thực hiện được các công việc trên thì KTQT đòi hỏi phải nắm được thông tin về tình hình hoạt động của từng bộ phận, phải có những công cụ để đánh giá kết quả, hiệu quả của từng bộ phận, từ đó xác định được trách nhiệm của từng bộ phận, của mỗi cá nhân phụ trách từng bộ phận trong việc thực hiện mục tiêu chung của toàn bộ đơn vị

Chức năng kiểm tra: Là quá trình đối chiếu, so sánh giữa số liệu thực tế với

số liệu phản ánh mục tiêu, nhiệm vụ và kế hoạch đề ra nhằm đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch KTQT có vai trò trong việc hình thành thông tin thực tế và kế hoạch phục vụ cho công tác kiểm tra

Chức năng ra quyết định: Là một bộ phận của 3 chức năng được đề cập trên

vì vậy nó không phải là một chức năng riêng biệt, bởi vì trong quá trình lập kế hoạch,

tổ chức - điều hành và kiểm tra thì các nhà quản trị phải ra quyết định Người đảm nhận công việc KTQT thì ngoài những kiến thức chuyên môn, cần phải hiểu được các lĩnh vực chức năng khác như marketing, tài chính, quản trị để có thể thực hiện công việc này được tốt hơn

2.4 Thực trạng về công tác kế toán quản trị tại các trường Cao đẳng nghề thuộc bộ xây dựng

Qua khảo sát tìm hiểu công tác kế toán tại các trường cho thấy các trường Cao đẳng nghề thuộc bộ xây dựng có những đặc điểm sau:

 Công việc kế toán ở các trường bao gồm 2 phần là kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết được phân thành những thành phần cụ thể như sau: Kế toán vốn bằng tiền, kế toán thanh toán; Kế toán tài sản, vật tư; Kế toán nguồn kinh phí; Kế toán các khoản thu, chi; Kế toán tổng hợp Kế toán trưởng chịu trách nhiệm chung, có nhiệm vụ phân công, phân nhiệm trong bộ phận kế toán và hướng dẫn các nhân viên kế toán thực hiện các phần công việc được giao

Trang 34

 Trong mục lục ngân sách thì các khoản mục, tiểu mục quá chi tiết và cứng nhắc gây khó khăn cho công tác quản lý chi phí nhưng không hiệu quả vì thông tin không được cung cấp một cách kịp thời và hữu ích cho nhà quản lý

 Hầu hết 70% các trường không ứng dụng phần mềm kế toán hỗ trợ cho công tác kế toán

 Không có sự phân biệt giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị: trong các thông tin kế toán cung cấp ngoài những thông tin kế toán như tình hình vật tư, kinh phí, các khoản thu chi cũng có những thông tin kế toán quản trị như phân tích quyết toán, lập dự toán tuy nhiên không có sự phân biệt giữa 2 lĩnh vực này

 Thông tin kế toán chủ yếu là để cung cấp cho cơ quan chức năng và cơ quan chủ quản như Bộ Xây Dựng hơn là cung cấp cho nhà quản trị Tất cả các mẫu biểu báo cáo đều theo mẫu quy định chung thống nhất mà không theo yêu cầu của nhà quản trị

2.5 Các nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQT tại các trường Cao đẳng

 Một số điểm khác biệt cơ bản giữa trường học và doanh nghiệp:

Quá trình tạo ra sản phẩm trong trường học khác với một doanh nghiệp đó là sự khác biệt về đối tượng và tính chất của quá trình Đối tượng của quá trình sản xuất là vật chất (nguyên vật liệu), tính chất của quá trình này là con người sử dụng công cụ lao động tác động lên vật chất tạo ra sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng Còn đối tượng của quá trình đào tạo là người học và tính chất của quá trình này là sự

Trang 35

tác động qua lại giữ người dạy và người học thông qua các thiết bị, phương tiện và

đồ dùng dạy học Môi trường học tập dù tốt đi mấy đi nữa nhưng học sinh không nỗ lực tự học, tự biến đổi mình đến mức cần thiết thì mục tiêu đào tạo mong muốn không thể nào thực hiện được

Sản phẩm của một doanh nghiệp dù hữu hình hay vô hình đều dễ dàng nhận biết được và có những thông số kiểm định, đo đạt Còn sản phẩm của giáo dục rất khó định nghĩa và không có một tiêu chuẩn cụ thể

Khách hàng trong nhà trường là ai? Có thể hiểu trước tiên đó là thị trường lao động, những người sử dụng lao động và tuyển dụng lao động

Không chấp nhận làm thử và không có cơ hội làm lại Điều khác biệt này đòi hỏi

sự chu đáo trong việc chuẩn bị cho một quá trình đào tạo Tất cả các khâu trong quá trình cần phải có các yêu cầu và trình tự thực hiện cụ thể nhưng phải mềm dẻo và có tính cá biệt cao

Việc cung cấp các dịch vụ giáo dục chuyên nghiệp đòi hỏi phải sử dụng số lượng lớn các nguồn lực, và các nguồn lực sử dụng không sẵn có để sản xuất như sản xuất các hàng hóa và dịch vụ khác Dịch vụ giáo dục đào tạo chính là một trong những lựa chọn sử dụng nguồn lực cạnh tranh lớn Hơn nữa giáo dục cũng là những điều thiết thực giống như phân tích lợi ích và chi phí kinh tế Dịch vụ giáo dục cũng là một phần của tổng thu nhập quốc dân

Giống như những doanh nghiệp sản xuất khác trong nền kinh tế, các cơ sở giáo dục đào tạo sử dụng nguồn lực và công nghệ để sản xuất những gì có lợi cho xã hội

và từng cá nhân Sản xuất những gì có thể được mô tả như các dịch vụ giáo dục Để hiểu được cái gì thiết lập các dịch vụ giáo dục, vì vậy có thể đặt câu hỏi: Tại sao lại

đi học một nghề nghiệp nào đó? Có ít nhất 3 câu trả lời cho câu hỏi này: Thứ nhất là mong muốn giáo dục nâng cao khả năng để sản xuất và tạo ra thu nhập, có nghĩa là tăng chất lượng nguồn lao động đó là sự phát triển vốn nhân lực Thứ hai là ngoài nâng cao chất lượng nguồn lao động, nó thoả mãn tức thì việc tham gia vào các quy trình và quá trình hoạt động của trường, có nghĩa là dịch vụ tiêu dùng trực tiếp Thứ

ba là có thể mong muốn sẽ có một số lợi ích cho toàn xã hội, ngoài lợi ích dành cho chính mình từ kết quả giáo dục đào tạo Bây giờ hãy xem xét những khía cạnh của giáo dục:

 Các nguồn hỗ trỡ:

Trang 36

- Học phí và lệ phí

- Ngân sách nhà nước

- Các nguồn khác

2.5.2 Mức độ cạnh tranh của thị trường

Libby và Waterhouse (1996); Bjornenak (1997); O'Connor (2004) và Al- Omiri và Drury (2007) đã cho rằng mức độ của cạnh tranh thị trường có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc khuyến khích người quản lý tăng cường hệ thống kế toán quản trị và các thông lệ kế toán quản trị phức tạp Khi cạnh tranh của thị trường tăng lên,

hệ thống quản lý thông tin kế toán đáng tin cậy hơn có thể là cần thiết giúp các công

ty cạnh tranh hiệu quả và tránh lập kế hoạch dựa trên những thông tin sai lầm khi đưa

ra quyết định được Cooper đưa ra năm 1988 Do đó thị trường cạnh tranh như là một

sự thúc đẩy tích cực ảnh hưởng đến mức độ sử dụng KTQT trong các đơn vị Nghiên cứu Kamilah A (2012) cũng đã cho thấy rằng có sự tác động từ mức độ cạnh tranh của thị trường đến việc vận dụng KTQT trong đơn vị

Mức độ cạnh tranh của thị trường đối với các trường Cao đẳng nghề thuộc Bộ Xây Dựng ảnh hưởng bởi các yếu tố như sau: Sự gia tăng về số lượng các trường trung cấp, cao đẳng, đại học và mức điểm sàn; Sự thay đổi về phương pháp dạy và học kéo theo việc vận hành hệ thống KTQT chi phí; Đa dạng các chiến lược quảng cáo/marketing; Mức độ cạnh tranh về học phí

2.5.3 Sự quan tâm đến KTQT của chủ đơn vị

Kế toán quản trị được xem là một công cụ của người quản lý có thể kiểm tra, giám sát mọi hoạt động và vận hành đơn vị hoạt động có hiệu quả Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, nó chưa phát huy được khả năng của khiến các nhà quản lý chưa thật sự quan tâm đến vai trò quản lý của nó Ở góc độ đó, sự quan tâm của sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc vận dụng KTQT trong các đơn vị tại Việt Nam

Nghiên cứu trước đây của Shields (1995); Brown và cộng sự (2004), Đào Khánh Trí (2015) chỉ ra rằng sự quan tâm của chủ đơn vị có tác động ảnh hưởng rất lớn vào việc vận dụng KTQT trong đơn vị Tương tự đối với đơn vị hành chính sự nghiệp trường học thì tác giả nhận định đây là yếu tố có ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT của các đơn vị bao gồm: Ban Giám Hiệu ngày càng yêu cầu nhiều hơn những thông tin mà có thể dự báo hoạt động của nhà trường trong tương lai; luôn vận hành hệ thống kế toán hướng theo hệ thống KTQT; Định hướng kế hoạch trong tương lai dựa

Trang 37

trên các thông tin kế toán; đọc hiểu các thông tin trình bày trên báo cáo tài chính; Các thông tin trên báo cáo kế toán là cơ sở để Ban Giám Hiệu đưa ra các quyết định quản trị; đầu tư hệ thống kiểm soát nội bộ cho đơn vị Do đó biến này sẽ là một biến để thử nghiệm giả thuyết về một mối quan hệ tích cực giữa sự quan tâm đến KTQT của chủ đơn vị và mức độ sử dụng KTQT

2.5.4 Trình độ của nhân viên kế toán

Trên góc độ vận dụng KTQT, thì trình độ của kế toán viên ảnh hưởng đến khả năng vận hành và lựa chọn các kỹ thuật, các chính sách kế toán phù hợp để tối đa hóa lợi ích của đơn vị mình Do vậy, việc hiểu rõ KTQT và vận dụng nó vào trong thực tiễn đòi hỏi kế toán viên phải có những kiến thức nhất định và lĩnh hội những tư tưởng

để vận dụng các chuẩn mực vào công tác kế toán

Các nghiên cứu của Halma và Laats (2002) ; Al-Omiri (2003) và Ismail và King (2007) cho rằng sự hiện diện của nhân viên kế toán có trình độ có liên quan đến một mức độ cao của ứng dụng hệ thống KTQT; trong nghiên cứu Collis và Jarvis (2002)

và McChlery et al (2004) lại cho rằng kế toán có trình độ giúp sự phát triển của KTQT trong các đơn vị vừa và nhỏ Do đó mức độ trình độ của nhân viên kế toán sẽ

là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến sự vận dụng của KTQT Do đó trong nghiên cứu này, tác giả nhận định đây là yếu tố có ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT của các đơn vị hành chính sự nghiệp trường học bao gồm các yếu tố sau: Nhân viên kế toán có trình độ từ cử nhân kế toán trở lên; có khả năng vận dụng các kỹ thuật KTQT; thường xuyên tham gia các lớp đào tạo nâng cao kiến thức; có các chứng chỉ về kế toán chuyên nghiệp; có khả năng tư vấn cho Ban Giám Hiệu trong các công tác liên quan đến kế toán; có khả năng ghi nhận, xử lý và báo cáo số liệu chính xác và kịp thời các hoạt hoạt động của nhà trường; có khả năng đọc hiểu và nắm vững chế độ kế toán giúp Ban Giám Hiệu hoàn thiện công tác tổ chức bộ máy kế toán

Trang 38

Chi phí hữu hình đối với trường học: là chi phi của các nguồn lực mà trường đó mua và thuê để cung cấp các dịch vụ giáo dục Đó là chi phí về vốn và lao động như nhà trường sử dụng đất, nhà, trang thiết bị, sử dụng cán bộ, giáo viên, công nhân viên hành chính

Chi phí hữu hình đối với sinh viên: ngoài những chi phí phải nộp cho nhà trường sinh viên còn phải tốn thêm những khoản chi phí khác như: sách vở, máy tính và một

số đồ dùng học tập khác

Chi phí vô hình: chi phí thực tế để cung cấp dịch vụ giáo dục chuyên nghiệp cao

hơn nhiều so với các khoản chi phí có thể nhìn thấy được Để sử dụng các dịch vụ giáo dục, hầu hết các sinh viên phải tạm dừng một phần hoặc hoàn toàn các công việc của mình, do vậy làm giảm khối lượng hàng hóa và dịch vụ khác cho xã hội

Vì vậy, tác giả nhận định Chi phí để tổ chức một hệ thống KTQT là yếu tố có ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT của các đơn vị bao gồm các yếu tố: Chi phí cho nhân viên vận hành hệ thống KTQT khá lớn; Chi phí trang bị hệ thống thông tin cho KTQT trong nhà trường là không nhỏ; Chi phí bảo trì hệ thống máy móc hàng năm cho hệ thống KTQT không nhỏ; Chi phí đào tạo nâng cao trình độ nhân viên kế toán đảm bảo việc vận hành KTQT; Nhà trường phải thường xuyên dự trù ngân sách cho việc đổi mới hệ thống KTQT

Trang 39

TÓM TẮT CHƯƠNG 2

Chương này tác giả đã trình bày cơ sở lý luận về KTQT cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT trong các đơn vị hiện nay Đồng thời tác giả cũng nêu lên những đặc điểm của các trường Cao đẳng nghề thuộc Bộ Xây Dựng khác với các doanh nghiệp Đây sẽ là cơ sở cho tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu trong chương tiếp theo

Trang 40

CHƯƠNG 3 – THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 3.1 Quy trình nghiên cứu

3.1.1 Khung nghiên cứu

Khi thực hiện đề tài “Đánh giá các nhân tố tác động đến việc vận dụng kế toán quản trị vào các trường Cao đẳng nghề thuộc Bộ Xây Dựng” tác giả đã xây dựng khung nghiên cứu của đề tài sau như sau:

(Nguồn: Thiết kế khung nghiên cứu của tác giả)

Hình 3.1: Khung nghiên cứu 3.1.2 Thiết kế nghiên cứu

3.1.2.1 Mẫu nghiên cứu

Khung chọn mẫu của đề tài nghiên cứu đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị vào các trường Cao đẳng nghề thuộc Bộ Xây Dựng là các:

Kế toán viên; Giáo viên Kế Toán – Quản Trị; Ban Giám Hiệu hiện đang công tác tại các trường cao Đẳng nghề thuộc Bộ Xây Dựng

Theo Nguyễn Đình Thọ (2011), kích thước mẫu cần cho nghiên cứu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như phương pháp phân tích dữ liệu và độ tin cậy cần thiết Hiện nay,

Ngày đăng: 06/08/2019, 09:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Huỳnh Đức Lộng, “ Bài giảng Kế toán quản trị”, Lưu hành nội bộ, Trường Đại học Kinh tế Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Kế toán quản trị
2. Lê Thị Hương (1996), “Mô hình tổ chức kế toán quản trị của một số nước trên thế giới – Bài học kinh nghiệm đối với các doanh nghiệp Việt Nam”, Tạp chí nghiên cứu tài chính kế toán số 7 năm 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình tổ chức kế toán quản trị của một số nước trên thế giới – Bài học kinh nghiệm đối với các doanh nghiệp Việt Nam
Tác giả: Lê Thị Hương
Năm: 1996
3. Nguyễn Thành Kim Dung (2013), “Tổ chức công tác kế toán quản trị tại các doanh nghiệp vận tải thủy nội địa Logistics trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”, luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức công tác kế toán quản trị tại các doanh nghiệp vận tải thủy nội địa Logistics trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Thành Kim Dung
Năm: 2013
5. Võ Văn Nhị (2007), “Báo cáo tài chính và báo cáo KTQT áp dụng cho doanh nghiệp Việt Nam”. Nhà xuất bản Giao thông vận tải, TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tài chính và báo cáo KTQT áp dụng cho doanh nghiệp Việt Nam
Tác giả: Võ Văn Nhị
Nhà XB: Nhà xuất bản Giao thông vận tải
Năm: 2007
6. Dương Thị Cẩm Vân (2007), “Vận dụng kế toán quản trị vào các trường chuyên nghiệp”, luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng kế toán quản trị vào các trường chuyên nghiệp
Tác giả: Dương Thị Cẩm Vân
Năm: 2007
7. Hà Xuân Thạch và Đào Tuyết Lan (2015), “Kế toán quản trị tại các trường Đại học ngoài công lập – Thực trạng và định hướng giải pháp”, Tạp chí khoa học quản lý giáo dụcTiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế toán quản trị tại các trường Đại học ngoài công lập – Thực trạng và định hướng giải pháp
Tác giả: Hà Xuân Thạch và Đào Tuyết Lan
Năm: 2015
8. Abdel-Kader M, Luther R (2008), The impact of firm characteristics on management accounting practices: A UK-based empirical analysis, The British Accounting Review, 40: 2–27 Khác
9. Alchian and Demsetz (1972), Production, information costs, and economic organization, American Economic Review 62 (December): 777-795 Khác
10. Chong V, Chong K (1997), Strategic choices, environmental uncertainty and SBU performance: a note on the intervening role of management accounting systems, Accounting and Business Research, 27: 268–276 Khác
11. Ezzamel and Hart (1987), Advanced Management Accounting, an Organizational Emphasis, Cassell Educational Limited, London, UK, pp. 139 - 159 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w