Với mong muốn nhận thức được yếu tố nguy cơ, bệnh cảnh lâm sàng,hình thái tiến triển và đáp ứng điều trị của bệnh lý này liên quan với đặc điểm nhân cách một cách hệ thống, chúng tôi chọ
Trang 1LÊ THỊ PHƯƠNG THẢO
§Æc ®iÓm nh©n c¸ch cña bÖnh nh©n rèi lo¹n lo ©u lan táa ®iÒu trÞ néi tró
t¹i ViÖn Søc Kháe T©m ThÇn
Chuyên ngành: Tâm thần
Mã số: 62722245
LUẬN VĂN BÁC SĨ NỘI TRÚ
Người hướng dẫn khoa học:
TS Dương Minh Tâm
HÀ NỘI – 2017 LỜI CẢM ƠN
Trang 2Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo sau Đại học, Bộ môn Tâm Thần trườngĐại học Y Hà Nội đã cho phép và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thànhluận văn này.
Đảng ủy, Ban giám đốc, Phòng kế hoạch tổng hợp Bệnh viện Bạch Mai
đã cho phép và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin đặc biệt bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Dương Minh Tâm,
Bộ môn Tâm thần Trường Đại học Y Hà Nội, người thầy đã dìu dắt tôi tronghọc tập và trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn:
- TS Nguyễn Văn Tuấn, Chủ nhiệm Bộ môn Tâm thần Trường Đại
học Y Hà Nội, Phó viện trưởng Viện Sức khỏe Tâm thần
- PGS Nguyễn Kim Việt, Phó chủ tịch hội Tâm thần học Việt Nam,
nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Tâm thần Trường Đại học Y Hà Nội
Là những người thầy trực tiếp dạy dỗ, hướng dẫn tôi từng bước hoànthành chương trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin vô cùng biết ơn tới TS.Nguyễn Doãn Phương, Viện trưởng
Viện sức khỏe Tâm Thần, cùng các toàn thể nhân viên Viện sức khỏe Tâmthần đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thu thập số liệu.Cùng các Thầy trong hội đồng chấm đề cương, luận văn, những người đãđánh giá công trình nghiên cứu của tôi một cách công minh Có ý kiến đónggóp của các Thầy sẽ là bài học quý báu cho tôi trên con đường nghiên cứukhoa học sau này
Tôi xin chân thành cảm ơn các bố mẹ, gia đình và đồng nghiệp , bạn bè đã cổ
vũ, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Tác giả
Lê Thị Phương ThảoLỜI CAM ĐOAN
Trang 3trước đây
Nếu có gì sai sự thật, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 21 tháng 09 năm 2017
Tác giả luận văn
Lê Thị Phương Thảo
DANH MỤC CHỮ KÝ VIẾT TẮT
Trang 4Phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc giaSang chấn tâm lý
Trắc nghiệm tâm lý
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Đại cương nhân cách 3
1.1.1 Khái niệm nhân cách 3
1.1.2.Đặc điểm nhân cách 3
1.1.3.Cấu trúc của nhân cách 4
1.1.4.Sự hình thành và phát triển nhân cách 7
1.1.5.Trắc nghiệm tâm lý đánh giá nhân cách 9
1.1.6 Sự liên quan giữa nhân cách và bệnh lý tâm thần 12
1.1.7.Một số bệnh lý nhân cách 13
1.2 Đặc điểm nét nhân cách trong rối loạn lo âu lan tỏa 15
1.21 Rối loạn lo âu lan tỏa 15
1.2.2.Đặc điểm nhân cách ở bệnh nhân Rối loạn lo âu lan tỏa 26
1.2.3 Rối loạn nhân cách ở bệnh nhân rối loạn lo âu lan tỏa 33
1.2.4 Sự tác động của rối loạn lo âu lan tỏa tới nhân cách 34
1.2.5.Thực trạng nhân cách ở lo âu và rối loạn lo âu loan tỏa tại Việt Nam và trên thế giới 34
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1 Đối tượng nghiên cứu 35
2.2 Phương pháp nghiên cứu 35
2.2.1.Thiết kế nghiên cứu 35
2.2.2 Cỡ mẫu 35
2.3 Phương pháp nghiên cứu 36
2.4 Phương pháp thu thập số liệu 41
2.4.1 Thu thập các thông tin về bệnh nhân 42
2.4.2 Khám lâm sàng 42
2.4.3 Cận lâm sàng 42
Trang 62.6.1 Đánh giá đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân nghiên cứu 43
2.6.2 Phân tích một số đặc điểm nhân cách ở nhóm bệnh nhân nghiên cứu .44
2.6.3 Kết quả các trắc nghiệm tâm lý 44
2.7 Phương pháp xử lý số liệu 45
2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 46
Chương 3: KẾT QUẢ 47
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 47
3.2 Đặc điểm nhân cách ở nhóm bệnh nhân nghiên cứu 52
3.2.1 Đặc điểm nhân cách của bệnh nhân thời thanh thiếu niên 52
3.2.2 Đặc điểm nhân cách của bệnh nhân tại thời điểm nghiên cứu 53
3.2.3 Mối liên quan giữa đặc điểm nhân cách và rối loạn lo âu lan tỏa 72
Chương 4: BÀN LUẬN 77
4.1 Đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân nghiên cứu 77
4.1.1 Phân bố bệnh theo giới 77
4.1.2.Đặc điểm về tuổi 77
4.1.3 Đặc điểm về trình độ văn hóa và nghề nghiệp 78
4.1.4 Đặc điểm về tình trạng hôn nhân 79
4.1.5 Đặc điểm về mức độ kinh tế 80
4.1.6 Đặc điểm về môi trường sống và dân tộc 80
4.1.7 Đặc điểm yếu tố sang chấn tâm lý 81
4.2 Đặc điểm nhân cách ở bệnh nhân rối loạn lo âu lan tỏa 83
4.2.1.Đặc điểm nét nhân cách của bệnh nhân ở thời niên thiếu 83
4.2.2.Đặc điểm nét nhân cách của bệnh nhân tại thời điểm nghiên cứu 83
4.2.3 Mối liên quan giữa đặc điểm nhân cách và rối loạn lo âu lan tỏa 89
KẾT LUẬN 92 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7Bảng 3.1 Phân bố bệnh nhân lo âu lan tỏa theo nhóm tuổi 47
Bảng 3.2: Trình độ văn hóa, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp và kinh tế 48
Bảng 3.3 Phân bố theo nơi sống và dân tộc 49
Bảng 3.4: Tỷ lệ các bệnh phối hợp trong nhóm nghiên cứu 49
Bảng 3.5 Đặc điểm sang chấn tâm lý 50
Bảng 3.6 Kết quả TNTL theo EPI 54
Bảng 3.7 Liên quan giữa nét nhân cách lo âu trên lâm sàng và nét nhân cách hướng nội – hướng ngoại trong TNTL theo EPI 55
Bảng 3.8 Liên quan giữa nét nhân cách trên lâm sàng và nét nhân cách ổn định/không ổn định trong EPI 56
Bảng 3.9 Đặc điểm kết quả TNTL theo EPI ở nhóm thời gian bị bệnh dưới 1 năm và trên 1 năm 57
Bảng 3.10 Kết quả TNTL theo EPI ở nhóm bệnh nhân bị bệnh dưới 1 năm và không có rối loạn nhân cách 58
Bảng 3.11 Kết quả TNTL theo MMPI 59
Bảng 3.12 Liên quan giữa nét nhân cách trên lâm sàng và nét nhân cách thang Hs trong MMPI 60
Bảng 3.13 Sự khác nhau về kết quả trắc nghiệm tâm lý MMPI thang Hs, D, Hy, Pt, Sc theo nhóm thời gian bị bệnh dưới 1 năm và trên 1 năm 61
Bảng 3.14 : Kết quả TNTL ở nhóm bệnh nhân không có RLNC và bệnh dưới 1 năm 62
Bảng 3.15 Đặc điểm nhân cách theo TNTL EPI ở nhóm bệnh nhân có và không có triệu chứng thần kinh thực vật 63
Bảng 3.16 Đặc điểm nhân cách theo TNTL EPI ở nhóm bệnh nhân có và không có triệu chứng ngực bụng 64
Trang 8Bảng 3.18 Đặc điểm nhân cách theo TNTL EPI ở nhóm bệnh nhân có và
không có triệu chứng toàn thân 66Bảng 3.19 Đặc điểm nhân cách theo TNTL EPI ở nhóm bệnh nhân có và
không có triệu chứng tâm thần 66
Bảng 3.20 Đặc điểm nhân cách theo TNTL EPI ở nhóm bệnh nhân có đặc
điểm rối loạn giấc ngủ khác nhau 67Bảng 3.21 Đặc điểm nhân cách theo TNTL EPI ở nhóm bệnh nhân có và
không có trầm cảm kết hợp 68Bảng 3.22 Đặc điểm nhân cách trong TNTL theo EPI ở nhóm bệnh nhân có
và không có tự sát 69Bảng 3.23 Đặc điểm nhân cách trong TNTL EPI ở nhóm bệnh nhân có và
không có triệu chứng tái diễn bệnh 70Bảng 3.24 Đặc điểm nhân cách theo TNTL EPI theo giới tính 70Bảng 3.25 Đặc điểm giữa nhóm tuổi và điểm số thang hướng ngoại – hướng
nội và thang tính ổn định – không ổn định của trắc nghiệm tâm lý EPI, và thang Hs của trắc nghiệm MMPI 71Bảng 3.26 Đặc điểm nhân cách và phương pháp điều trị 74
Trang 9Biểu đồ 3.1: Phân bố bệnh nhân rối loạn lo âu lan tỏa theo giới 47Biểu đồ 3.2 So sánh đánh giá mức độ SCTL giữa bệnh nhân và người nhà 51Biểu đồ 3.3 Mối tương quan giữa SCTL và triệu chứng khi vào viện 51Biểu đồ 3.4 Đặc điểm nét tính cách của bệnh nhân ở thời niên thiếu 52Biểu đồ 3.5 Đặc điểm các nét nhân cách lo âu thể hiện trên lâm sàng 53Biểu đồ 3.6 Đặc điểm xu hướng khí chất theo EPI ở nhóm bệnh nhân nghiên cứu .54Biểu đồ 3.7: Đặc điểm nhân cách ở nhóm không có và có rối loạn nhân cách 58Biểu đồ 3.8 Kết quả điểm số đánh giá nhân nhân cách theo thang NEO PI-R 63Biểu đồ 3.9 Tỉ lệ rối loạn nhân cách trong số các bệnh nhân nghiên cứu 72Biểu đồ 3.10 Mối liên quan giữa nhân cách theo thang EPI và mức độ bệnh
theo thang Zung 72Biểu đồ 3.11 Mối liên quan giữa tiến triển triệu chứng và xu hướng nhân cách
theo kết quả trắc nghiệm tâm lý EPI 73Biểu đồ 3.12 Mối liên quan giữa nhân cách và hiệu quả điều trị 74
Biểu đồ 3.13 Mối liên quan giữa nhân cách và thời gian điều trị 75
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Trạng thái cảm xúc thường gặp nhất của con người với nhiều mức độkhác nhau là lo âu Sự trải nghiệm cảm xúc này để đáp ứng với các kích thíchcủa môi trường, và thường chỉ là biểu hiện nhất thời Tuy nhiên cũng có nhiềungười khi đối mặt với khó khăn, áp lực của cuộc sống, biểu hiện lo âu quámức hoặc khi các khó khăn, thử thách không còn nữa mà vẫn lo âu kéo dài sẽtrở thành rối loạn lo âu trong bệnh lý tâm thần [1]
Các rối loạn lo âu gặp phổ biến trong lâm sàng tâm thần học, chiếm tỷ lệ30% các trường hợp điều trị nội trú, và ước tính khoảng 20% dân số thế giớimắc rối loạn này [2] Rối loạn lo âu lan tỏa (RLLALT) là một thể lâm sàngthường gặp, chiếm tỷ lệ 37% trong các rối loạn lo âu được điều trị nội trú [3].Rối loạn này được mô tả bởi tình trạng lo lắng quá mức không kiểm soát được,kéo dài trên 6 tháng Kèm theo là các biểu hiện căng thẳng, bồn chồn, rối loạngiấc ngủ, khó tập trung cùng các triệu chứng rối loạn thần kinh thực vật nhưcảm giác tức ngực,khó thở, hồi hộp, nuốt nghẹn, đau bụng, buồn nôn, đi ngoài,
vã mồ hôi, khô miệng [4] Rối loạn lo âu lan tỏa làm suy giảm chất lượnghoạt động nghề nghiệp xã hội, tăng nguy cơ mất việc làm, giảm chất lượngcuộc sống, có xu hướng trở thành mạn tính, tiến triển nặng lên nếu không được
điều trị [4] Theo nghiên cứu của Hoge (2004), những bệnh nhân rối loạn lo âu
lan tỏa nghỉ việc trung bình 6 ngày/tháng, so với 3,1 – 3,5 ngày/tháng trên bệnhnhân hen, đái tháo đường, viêm khớp [5] Ảnh hưởng lớn đến đời sống kinh tế
xã hội, chi phí và các vấn đề cộng đồng kèm theo là rất đáng kể, tăng nhu cầucần được trợ giúp ở các trung tâm y tế và dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần,người bệnh có xu hướng lạm dụng chất, nghiện chất Năm 2004, chi phí điều trịnội trú rối loạn lo âu lan tỏa ở Châu Âu dao động từ 2000-3000 EU/bệnh nhân/
Trang 11đợt điều trị, so với chi phí điều trị các rối loạn lo âu khác chỉ từ300-1000EU/bệnh nhân/đợt điều trị [6].
Rối loạn lo âu lan tỏa do rất nhiều yếu tố nguy cơ như các yếu tố nhâncách, các sang chấn tâm lý, cơ thể và môi trường cùng các yếu tố khác Trong
đó nhân cách có vai trò quan trọng
Rối loạn lo âu lan tỏa thường phát sinh ở những người hay có cảm xúctiêu cực, cảm xúc không ổn định, dễ xúc động, hay lo lắng suy nghĩ, khó làmchủ bản thân, tính cách cầu toàn, cẩn thận, kỹ tính, hay tách biệt xã hội, hayphụ thuộc hoặc những người trước đây nhận sự chăm sóc và bảo vệ quá mứccủa cha mẹ, hoặc thường xuyên gặp khó khăn… [7] Đặc biệt sự kéo dài vàtái phát triệu chứng liên quan mật thiết với yếu tố nhân cách Các trạng tháirối loạn lo âu lan tỏa kéo dài điều trị không có kết quả có xu hướng mãn tính,gây ảnh hưởng đến các chức năng tâm lý – xã hội của người bệnh và khả năngthuyên giảm hoàn toàn là rất thấp [7] Phát hiện bệnh, khám chữa bệnh sớm tạicác cơ sở Tâm thần đóng một vai trò quan trọng trong việc cải thiện triệuchứng, giúp người bệnh trở lại cuộc sống bình thường cũng như giảm phí tổncho họ Bởi vậy, việc nhận biết sớm các nét nhân cách lo âu là một vấn đề cầnthiết trong thực hành lâm sàng nhằm nâng cao chất lượng chẩn đoán, điều trị vàphòng bệnh Cho đến nay nước ta chưa có nhiều nghiên cứu về đặc điểm nhâncách của bệnh nhân rối loạn lo âu lan tỏa
Với mong muốn nhận thức được yếu tố nguy cơ, bệnh cảnh lâm sàng,hình thái tiến triển và đáp ứng điều trị của bệnh lý này liên quan với đặc điểm
nhân cách một cách hệ thống, chúng tôi chọn đề tài: “Đặc điểm nhân cách của bệnh nhân rối loạn lo âu lan tỏa điều trị nội trú tại Viện Sức Khỏe Tâm Thần” với mục tiêu:
Mô tả một số đặc điểm nhân cách của bệnh nhân rối loạn lo âu lan tỏa điều trị nội trú tại Viện sức khỏe Tâm thần
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đại cương nhân cách
1.1.1 Khái niệm nhân cách
1.1.1.1.Quan điểm của tâm lý học về nhân cách
Tâm lý học hiện đại khái niệm nhân cách như sau: Nhân cách là tổ hợpnhững đặc điểm, những thuộc tính tâm lý của cá nhân, quy định hành vi xãhội và giá trị xã hội của cá nhân đó [ sách T3, T2 p95, T4 p151, P1 p139]Nhân cách là sự tổng hòa không phải các đặc điểm cá thể của con người
mà chỉ là những đặc điểm qui định con người như là một thành viên của xãhội, nói lên bộ mặt tâm lý – xã hội, giá trị và cốt cách làm người của mỗi cánhân [sách T3, P1 p139, T4 p52]
1.1.1.2.Quan điểm của tâm thần học về nhân cách:
Nhân cách là toàn bộ những đặc điểm tâm lý của từng cá nhân do điềukiện sinh học và xã hội tạo ra, tổng hợp lại làm cho cá nhân ấy có một hiệntượng tâm lý, một dáng dấp tâm lý không giống cá nhân khác [?]
Trang 131.1.2.3.Tính tích cực của nhân cách
Nhân cách không chỉ là khách thể chịu sự tác động của các mối quan hệ
xã hội, mà điều quan trọng hơn là nó chủ động tham gia vào các mối quan hệ
đó, nghĩa là nó có tính tích cực của mình
1.1.2.4.Tính giao lưu của nhân cách
Được hình thành, phát triển và tồn tại, thể hiện trong mói quan hệ giaotiếp với những nhân cách khác Nhu cầu giao tiếp được xem như một nhu cầubẩm sinh của con người Con người sinh ra và lớn lên luôn có nhu cầu quan
hệ giao tiếp với mọi người, từ đó con người gia nhập vào các quan hệ xã hội
và lĩnh hội được các chuẩn mực đạo đức, những điều hay lẽ phải
1.1.3.Cấu trúc của nhân cách
Cấu trúc là sự thống nhất toàn vẹn các thành phần và sự liên hệ về mọimặt giữa chúng Cấu trúc tâm lý nhân cách cũng vậy Có nhiều quan điểmkhác nhau về cấu trúc nhân cách tùy thuộc vào quan niệm của mỗi tác giả vềbản chất của nhân cách Có thể nêu ra một số loại cấu trúc nhân cách sau-Loại cấu trúc hai thành phần: Trong tài liệu tâm lý học Việt Nam đưa raquan niệm cho rằng nhân cách gồm hai thành phần là phẩm chất (đức) vànăng lực (tài)
-Loại cấu trúc ba thành phần:
+ S Freud quan niệm cấu trúc nhân cách gồm ba phần: cái nó, cái tôi vàcái siêu tôi Mỗi bộ phận hoạt động theo nguyên tắc nhất định và có liên hệchặt chẽ với nhau
+ AG Covaliốp cho rằng trong cấu trúc của nhân cách bao gồm ba thànhphần là các quá trình tâm lí, các trạng thái tâm lí và các thuộc tính tâm lí cá nhân + Quan điểm coi nhân cách bao gồm ba lĩnh vực cơ bản: nhận thức (baogồm cả tri thức và năng lực trí tuệ), tình cảm (rung cảm, thái độ) và lí trí(phẩm chất ý chí, kĩ năng, kĩ xảo, thói quen)
-Loại cấu trúc bồn thành phần: Quan điểm coi nhân cách gồm bốn nhómthuộc tính tâm lý điển hình của cá nhân: xu hướng , khí chất, tính cách, năng lực
Trang 14+ Xu hướng: là ý định hướng tới đối tượng trong một thời gian tương đốidài, nhằm thoải mãn những nhu cầu hay hứng thú hoặc hướng tới những mụctiêu cao đẹp mà cá nhân lấy làm lẽ sống của mình
+ Tính cách là một thuộc tính tâm lý phức hợp của cá nhân bao gồm:một hệ thống thái độ của nó với hiện thực, thể hiện trong hệ thống hành vitương ứng Những biểu hiện này là thường xuyên, tương đối ổn định và bềnvững, đặc trưng cho cá nhân ở nhiều khía cạnh khác nhau
+ Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp vớinhững yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kếtquả Người ta thường chia ra thành ba mức độ khác nhau là năng lực, tài năng
và thiên tài
+ Khí chất là thuộc tính tâm lý phức hợp của cá nhân, biểu hiện cường
độ, tốc độ, nhịp độ của các hoạt động tâm lý, thể hiện sắc thái hành vi của cánhân, khiến cho sự khác biệt của người này với người khác lại càng nổi bật L.P.Phavlop đã khám phá ra hai quá trình thần kinh cơ bản là hưng phấn
và ức chế có 3 thuộc tính cơ bản: cường độ, tính cân bằng, tính linh hoạt Sựkết hợp theo các cách khác nhau giữa 3 thuộc tính này tạo ra 4 kiểu thần kinhchung cho người và động vật, là cơ sở cho 4 loại khí chất:
Kiểu Phlegmatic (bình thản): người có nhân cách này thường trầmtính, điểm đạm, kiên nhẫn, chậm chạp, không vội vàng , chín chắn, kiên trì,thích ngăn nắp, có trật tự, thích điều quen thuộc, ngại sự thay đổi
Kiểu Sanguine (hăng hái): người có nhân cách này thường hoạt bát,vui vẻ, ham hiểu biết, linh hoạt , cảm xúc họ không ổn định, dễ rung động,không sâu đậm, hướng về tập thể, dễ dàng làm quen với người khác, cởi mở
Kiểu Choleric (nóng nảy): người có nhân cách này thường hành độngnhanh nhẹn và thường không cân bằng được Họ hào hứng, nhiệt tình làmviệc, dễ nổi nóng, dễ bị kích thích, khó kiềm chế được mình Nếu bị xúcphạm, họ dễ có hành vi thô lỗ, cục cằn, có xu hướng bạo lực
Kiểu Melancholic (ưu tư): những người này có khuynh hướng kép kín,ngại giao tiếp, tkhó thích nghi hoàn cảnh mới, gặp điều kiện không thuận lợi
Trang 15thì dễ bị tổn thương, chán nản, nghi ngờ Nhưng họ lại rất nhạy bén và tinh tế
về cảm xúc, có sự cảm nhận sâu sắc về thế giới xung quanh, thường mềmmỏng, tinh tế, nhã nhặn và giàu lòng vị tha
Năm 1947, giáo sư tâm lý học người Anh H.J.Eysenck đã xác định cóhai yếu tố chính trong cấu trúc nhân cách đó là tính thần kinh (dễ bị kíchthích) và tính hướng ngoại – hướng nội
-Yếu tố hướng nội ( I: intraversion) – hướng ngoại (E: extraversion)Người có nhân cách hướng ngoại điển hình là người cởi mở, giao tiếp rộng,lạc quan Người có nhân cách hướng nội điển hình là người điềm tĩnh, rụt rè,
ít tiếp xúc với mọi người trừ bạn bè thân, thích trật tự, ngăn nắp
-Tính thần kinh - tính ổn định về cảm xúc (E: Emotional stability) làngười điềm tĩnh, kiên định, thậm chí nóng tính Tính thần kinh không ổn định(N: Neuroticism) là người hay lo âu, buồn rầu, dễ bị tổn thương,
-Thêm một đặc điểm được nhận ra bởi Eysenck (1982) là tính loạn thần(psychoticism), người có điểm số loạn thần kinh cao thì ích kỷ, hung hăng, vôcảm, thiếu sự đồng cảm, bốc đồng, thiếu quan tâm đến người khác
Eysenck đã nêu ra giả thuyết cho rằng kiểu thần kinh mạnh và yếu củaPavlov rất gần với kiểu nhân cách hướng ngoại và hướng nội Eysenck đã đưa
ra mối liên hệ giữa hướng ngoại - hướng nội và ổn định - không ổn định theovòng tròn nhân cách Một người có thể rơi vào bất cứ vị trí nào trong vòngtròn nhân cách, đi từ rất hướng nội tới rất hướng ngoại và từ rất không ổnđịnh tới rất ổn định [11]
Vị trí của khí chất trong Tâm thần học: khí chất hay còn gọi là loại hình thầnkinh có tính chất bẩm sinh di truyền, là một trong bốn thành phần của nhân cách
có ý nghĩa đặc biệt trong hình thành các loại bệnh tâm căn [P1 p137]
-Thuyết 5 nhân tố lớn của nhân cách: 5 nhân tố tố đem lại khung nghiên cứu
cơ bản khi ghi chép được đặc tính nhân cách của con người Căn cứ vào kết quảnghiên cứu, các tác giả NEO PI-R đã mô tả nhân cách theo 5 nhân tố sau:
Tính không ổn định (Neuroticism) hay lo lắng, tự ti, dễ tổn thương
Trang 16Tính hướng ngoại (Extraversion): kiếm tác động từ bên ngoài hay từcộng đồng, dễ gần hay kín đáo, vui vẻ
Tính cởi mở (openness) là người thích trải nghiệm, phong phú, cóhiểu biết nghệ thuật, vẻ đẹp thiên nhiên; hay nhạy cảm với tình cảm riêng củamình và có khả năng nhận biết cảm xúc của người khác tốt
Tính tận tâm ( Conscientiousneess) bao gồm năng lực, ngăn nắp, cótrách nhiệm, nỗ lực thành đạt, có kỷ luật, tự giác, thận trọng, cân nhắc kỹlưỡng
Tính dễ chịu (Agressableness) là xu hướng chấp nhận người khác haykhông Điểm số cao là dễ chấp nhận người khác, vị tha, dễ cảm thông vớingười khác, mong muốn giúp đỡ, khiêm tốn, nhân hậu
-Một số mô hình khác: Một số nhà tâm lý học khác coi nhân cách gồm 3lĩnh vực là nhận thức, tình cảm và ý chí
1.1.4.Sự hình thành và phát triển nhân cách
Nhân cách không phải là cái bẩm sinh có sẵn mà là cấu tạo tâm lý đượchình thành và phát triển trong quá trình sống – giao tiếp, vui chơi, học tập, laođộng Quá trình hình thành và phát triển nhân cách ở một cá thể phụ thuộcnhiều yếu tố như di truyền, môi trường sống và sự giáo dục, trong đó môitrường sống và giáo dục là những yếu tố cơ bản
1.1.4.1.Yếu tố di truyền:
Những đặc điểm sinh học có ngay từ lúc đứa trẻ mới sinh gọi là nhữngthuộc tính bấm sinh Những đặc điểm của cha, mẹ được ghi lại trong hệ thốnggen truyền lại cho con cái được gọi là di truyền Mặc dù những đặc điểm sinhhọc có thể ảnh hưởng mạnh đến quá trình hình thành tài năng, xúc cảm, sứckhoẻ thể chất trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển con người nhưng nóchỉ đóng vai trò tạo nên tiền đề cho sự phát triển nhân cách [P1 44,45,46 p139]
1.1.4.2.Yếu tố môi trường:
Môi trường là hệ thống các hoàn cảnh bên ngoài, các điều kiện tự nhiên
và xã hội xung quanh cần thiết cho hoạt động sống và phát triển của conngười Có thể phân thành hai loại: môi trường tự nhiên và môi trường xã hội
Trang 17Tác động của môi trường xã hội đến sự hình thành và phát triển nhân cáchqua các mối quan hệ xã hội mà mỗi cá nhân tham gia tích cực vào các mốiquan hệ đó
Cái quyết định sự hình thành và phát triển nhân cách là môi trường xãhội, là yếu tố xã hội Trong môi trường xã hội rộng lớn đó thì giáo dục, hoạtđộng, giao tiếp với tư cách như là những phương thức hay các con đường cóvai trò quyết định quá trình hình thành và phát triển nhân cách
1.1.4.3.Giáo dục và tự giáo dục:
Giáo dục là một hoạt động chuyên môn của xã hội nhằm hình thành vàphát triển nhân cách con người theo những yêu cầu của xã hội trong nhữnggiai đoạn lịch sử nhất định Theo nghĩa rộng, giáo dục là toàn bộ tác động củagia đình, nhà trường, xã hội bao gồm cả dạy học và cách tác động giáo dụckhác đến con người Theo nghĩa hẹp, giáo dục có thể xem như là một quátrình tác động đến thế hệ trẻ về mặt tư tưởng, đạo đức, hành vi nhằm hìnhthành thái độ, niềm tin, thói quen cư xử đúng đắn trong gia đình, nhà trường
và xã hội Thông qua giáo dục, thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau lĩnh hộitiếp thu nền văn hóa xã hội – lịch sử để tạo nên nhân cách của mình Bên cạnh
đó giáo dục không tách rời với tự giáo dục, tự rèn luyện, tự hoàn thiện nhâncách của mỗi cá nhân (sách t2 p109),
1.1.4.4.Hoạt động và giao tiếp:
Hoạt động của cá nhân mới là yếu tố quyết định trực tiếp đối với sự hìnhthành và phát triển nhân cách Mỗi hoạt động có những yêu cầu nhất định vàđòi hỏi ở con người những phẩm chất nhất định, qua hoạt động con ngườihình thành những phẩm chất đó Sự hình thành và phát triển nhân cách mỗingười phụ thuộc vào sự hoạt động chủ đạo ở mỗi thời kỳ nhất định Muốnhình thành con người phải tham gia các dạng hoạt động khác nhau
Bên cạnh đó, giao tiếp là một trong những con đường cơ bản hình thành
và phát triển nhân cách Qua con đường giao tiếp con người tham gia vào cácquan hệ xã hội, lĩnh hội nền văn hóa xã hội và chuẩn mực xã hội, từ đó lĩnh
Trang 18hội được các tiêu chuẩn đạo đức Trong quá trình giao tiếp, con người khôngchỉ nhận thức được người khác mà nhận thức được bản thân mình.
1.1.4.5.Sự hoàn thiện nhân cách:
Cá nhân hoạt động và giao tiếp trong các mối quan hệ xã hội, dưới tácđộng chủ đạo của giáo dục sẽ đưa tới hình thành một cấu trúc nhân cáchtương đối ổn định và đạt tới một trình độ phát triển nhất định Trong quá trìnhsống, nhân cách tiếp tục biến đổi và hoàn thiện dần thông qua việc cá nhân tự
ý thức, tự rèn luyện, tự giáo dục, tự hoàn thiện nhân cách của mình ở trình độCao hơn, đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của cuộc sống, của xã hội.Trong cuộc sống, có giai đoạn cá thể rơi vào bước ngoặt của cuộc đời và cáthể phải tự lựa chọn, tự điều chỉnh đề phù hợp với quy luật khách quan
1.1.5.Trắc nghiệm tâm lý đánh giá nhân cách [P1 p33]
1.1.5.1.Khái niệm trắc nghiệm tâm lý
Trắc nghiệm tâm lý (TNTL) là một hệ thống biện pháp đã được chuẩnhóa về kỹ thuật, được quy định về nội dung và quy trình thực hiện, nhằmđánh giá hành vi và kết quả hoạt động của một người hay một nhóm người[60], [61], [62]; cung cấp một chỉ báo về tâm lý (trí lực, cảm xúc, năng lực,nét nhân cách…) trên cơ sở đối chiếu với một thang đo đã được tiêu chuẩnhóa hoặc với một hệ thống phân loại trên những nhóm mẫu khác nhau vềphương diện xã hội [62]
1.1.5.2.Vị trí và vai trò của trắc nghiệm tâm lý trong tâm lý học
Nhiều loại TNTL được sử dụng trong lĩnh vực tâm lý học để đánh giácác hoạt động tâm lý khác nhau như cảm xúc, trí tuệ, nhân cách, chú ý… cácTNTL còn được ứng dụng trong nhiều ngành khoa học khác nhau như tâmthần học, giáo dục, tuyển chọn nhân viên cho một số ngành nghề, hướngnghiệp…
1.1.5.3 Trắc nghiệm tâm lý đánh giá nhân cách
Ngày nay có khá nhiều phương pháp nghiên cứu nhân cách [P33, 64].Hai phương pháp mà ở nước ta thường sử dụng đó là trưng cầu ý kiến cá nhân(dựa trên sự tự đánh giá, dạng câu hỏi) và phương pháp phóng chiếu Tại
Trang 19Viện Sức khỏe Tâm thần - Bệnh viện Bạch Mai sử dụng trắc nghiệm tâm lýEysenck (EPI) và trắc nghiệm tâm lý MMPI (Minnesota MultiphasicPersonality Inventory) là hai TNTL đánh giá nhân cách dưới dạng câu hỏi.
Trắc nghiệm tâm lý Eysenck (Eysenck Personality Inventory)
-Năm 1947, giáo sư tâm lý học người Anh H.J.Eysenck đã xác định cóhai yếu tố chính trong cấu trúc nhân cách đó là tính thần kinh (dễ bị kíchthích) và tính hướng ngoại – hướng nội
Không ổn định (24)
Ưu tư Nóng nảy Hướng nội (0) (24) Hướng ngoại
Bình thản Hăng hái
Ổn định (0)
Sơ đồ 1.1 Quan hệ giữa các phép đo của Eysenck với các kiểu khí chất
Sử dụng trắc nghiệm nhân cách Eysenck để xác định thành phần khí chấtcủa nhân cách người bệnh [68] Đây là thành phần được di truyền và có ýnghĩa quan trọng trong cơ chế hình thành các bệnh tâm căn Đối với nhómbệnh nhân có rối loạn lo âu cho đến nay có nhiều tác giả sử dụng trắc nghiệmEysenck để nghiên cứu đặc điểm nhân cách của bệnh nhân, theo lý thuyếtEysenck thì đặc điểm nhân cách của bệnh nhân có xu hướng nhân cách hướngnội và không ổn định
-Các công trình nghiên cứu đã cho thấy trắc nghiệm tâm lý Eysenck đãđược chuẩn hóa và có độ tin cậy trong nhiều nước như Anh, Mỹ, Canada, TâyBan Nha và được sử dụng để nghiên cứu nhân cách ở nhiều đối tượng [69],[70], [71], [72]
Trắc nghiệm tâm lý MMPI (Minnesota Multiphasic PersonalityInventory)
-Thiết kế MMPI được xuất bản lần đầu từ năm 1943 tại Đại học Tổnghợp Minnesota (Hoa Kỳ) S.R.Hathaway và J.C.Mc Kinley muốn có một bộ
Trang 20công cụ nhằm hỗ trợ cho qui trình thăm khám tâm thần, giúp việc đánh giámức độ rối loạn tâm thần và đánh giá hiệu quả của điều trị tâm lý trên ngườibệnh MMPI hoàn toàn không dựa trên cơ sở lý luận của nét nhân cách hayPhân tâm học mà là thang đánh giá đa diện.
-MMPI gốc lúc đầu được chấp nhận ở Hoa Kỳ, sau đó được dịch sangnhiều thứ tiếng khác nhau và là trắc nghiệm tâm lý đánh giá nhân cách được
sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới từ những năm 1950 cho nhiều đối tượngkhác nhau [73] Kết quả MMPI - II có thể hỗ trợ các nhà lâm sàng trong chẩnđoán và theo dõi đánh giá điều trị [74] Viện Sức khỏe Tâm thần - Bệnh việnBạch Mai đã hiệu chỉnh MMPI - II và đang được sử dụng phổ biến [75]
- Tại chuyên khoa tâm thần MMPI được sử dụng để đánh giá nhân cáchcủa nhiều nhóm bệnh nhân khác nhau như tâm thần phân liệt, nghiện, trầmcảm tâm căn… Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào sử dụng MMPI để đánhgiá đặc điểm nhân cách của bệnh nhân RLLA
Trắc nghiệm 5 yếu tố (Big five factors – FFM hay phiên bản rút gọnNEO PI-R)
- Nghiên cứu của Tupes, E.C và Christal, R.E (1961) rồi Norman, W.T(1963), Goldberg, L.R trên cơ sở xem xét lại bản chất ý nghĩa tâm lý của cácyếu tố đã đi đến chỗ coi 5 nhân tố là mô hình có thể ghi chép một cách baoquát về nhân cách vượt qua sự phân loại đơn thuần về mặt từ ngữ(D.Peabody, D và Goldberg, L.R 1989) Dần dần những thành tựu của nghiêncứu từ vựng và nghiên cứu hỏi đáp viết được đưa vào kết hợp lại và hìnhthành nên FFM Kết quả là thước đo với 5 nhân tố định sẵn ra đời Trong đó
có NEO PI-R (Revised NEO Personality Inventory) một mô hình hiện nayđang được sử dụng rộng rãi đã được Costa, P.T, Jr và Mccrae, R.R đưa ranăm 1992
-Bộ trắc nghiệm này đã được chấp nhận rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới
Ở Việt Nam, trắc nghiệm 5 nhân tố trong nghiên cứu nhân cách đã được nhiềucông trình khoa học sử dụng, tuy nhiên còn được sử dụng hạn chế tại các phòng
Trang 21TNTL Tại chuyên khoa tâm thần NEO PI-R phiên bản rút gọn chưa được sửdụng để đánh gia nhân cách của các nhóm bệnh nhân khác nhau
Một số trắc nghiệm tâm lý khác
Một số trắc nghiệm thường dùng để đánh giá nhân cách khác hay dùnglà: trắc nghiệm Rorschach, trắc nghiệm năng lực tổng quát, bảng liệt kê nhâncách California-CPI, test chỉ báo typ Myers – Briggs…
1.1.6 Sự liên quan giữa nhân cách và bệnh lý tâm thần
Tại sao trong cùng một hoàn cảnh có những người mắc bệnh này cònngười khác lại không như vậy, tâm lý và nhân cách của con người đóng vaitrò gì trong sự xuất hiện bệnh? Xung quanh vấn đề này có 4 dạng mô hình mànhiều tác giả đưa ra (sách t4 pp174)
1.1.6.1.Mô hình Nhân cách và bệnh
Mỗi cá nhân có những đặc điểm nhân cách riêng, một đặc điểm nào đóquá nổi trội có thể dẫn tới nguy cơ mắc bệnh nào đó Ví dụ : hư người hay lolắng thì dễ mắc bệnh viêm dạ dày vì lo lắng thường xuyên kéo dài làm tăngtiết HCl từ đó làm tổn thương niêm mạc dạ dày
1.1.6.2.Mô hình nguyên nhân sinh học – Nhân cách – Bệnh
BệnhNhân cách
Nhân cáchCác nguyên nhân
sinh học
Bệnh
Trang 22Theo mô hình này thì nhân cách và bệnh mang tính độc lập một cáchtương đối nhưng có cùng chung cơ sở sinh học Ví dụ, một gen nào đó chịutrách nhiệm cho nét nhân cách hay bực bội khó chịu cũng tham gia quy địnhcho hoạt độ hệ / thần kinh tự chủ.
1.1.6.3.Mô hình Nhân cách – Thói quen – Bệnh
Theo mô hình này, nhân cách tạo sự khác biệt về hành vi nói chung,hành vi sức khỏe nói riêng giữa các cá nhân Từ đó nếu các thói quen khôngtôt dẫn tới tăng nguy cơ bệnh nhất định
1.1.6.4.Mô hình Bệnh – Nhân cách
Nhân cách của người bệnh có thể mạn tính, có thể bị thay đỏi dưới ảnhhưởng của bệnh Ví dụ khi bị bệnh lý tâm thần mãn tính, người bệnh trở nênkém tự tin
1.1.7.Một số bệnh lý nhân cách
1.1.7.1.Bệnh nhân cách bẩm sinh (Rối loạn nhân cách)
Bệnh nhân cách bẩm sinh là một trạng thái bệnh kéo dài, dai dẳng, hầunhư suốt cuộc đời người bệnh; được hình thành do rối loạn sự phát triển bàothai (thiếu sót hệ thần kinh trong quá trình biệt hóa thai nhi), do môi trườngsống không thuận lợi và sự giáo dục không phù hợp trong từng giai đoạn pháttriển của cá thể
Bệnh nhân cách bẩm sinh với những đặc điểm là biểu hiện của nhữngtính nết bệnh lý làm rối loạn sự thích nghi của cá nhân với môi trường, rối
Nhân cách quen, hànhCác thói
vi nguy cơ
Bệnh
Nhân cáchBệnh
Trang 23loạn mối tương quan bình thường với những người xung quanh Những đặcđiểm nhân cách bệnh lý có tính chất toàn diện, không phải chỉ là một số nétnhân cách mà toàn bộ tư chất tâm thần của người đó có tính chất bệnh lý Đặcđiểm về bệnh nhân cách tương đối ổn định và ít thoái triển
+ Một số rối loạn nhân cách: rối loạn nhân cách Paranoid, rối loạn nhâncách dạng phân liệt, rối loạn nhân cách chống xã hội, rối loạn nhân cách cảmxúc không ổn định, rối loạn nhân cách kịch tính, rối loạn nhân cách ám ảnhnghi thức, rối loạn nhân cách lo âu (tránh né), rối loạn nhân cách phụ thuộc,rối loạn nhân cách đặc biệt khác, rối loạn nhân cách khác và hỗn hợp
vỏ não và dưới vỏ
1.1.7.3Biến đổi nhân cách
Biến đổi nhân cách được hình thành trên các cá nhân có nhân cách bìnhthường nhưng do mắc các bệnh lý tâm thần, bệnh lý gây tổn thương não(nhiễm khuẩn, nhiễm độc, sử dụng chất, chấn thương sọ não ) bản thân cácbệnh lý này làm biến đổi nhân cách của người bệnh
Như vậy giữ nhân cách và bệnh có mối liên hệ rất mật thiết với nhau,đặc biệt là bệnh tâm thần Không chỉ các cá nhân sinh ra đã có rối loạn nhâncách bệnh mới hay các cá nhân có nhân cách bình thường sống trong điềukiện có nhiều biến cố trong cuộc sống làm cho nhân cách bị phát triển lệchlạch mới tăng nguy cơ mắc các bệnh tâm thần mà chính các cá nhân có các
Trang 24nét nhân cách bình thường nhưng có một số nét nhân cách nào đó nổi trội hơncũng có thể dẫn tới nguy cơ mắc một số bệnh lý tâm thần nhất định Mối liênquan giữa đặc điểm nhân cách và bệnh lý tâm thần cũng đã được nghiên cứu
từ rất lâu [NC+RLNC L1], tuy nhiên đặc điểm từng nét tính cách có liên quantới từng nhóm bệnh đặc trưng như thế nào vẫn đang được nghiên cứu rộng rãi.Như các nét nhân cách trong trầm cảm, lo âu, rối loạn phân ly, hay các nétnhân cách ở những người có rối loạn sử dụng chất đều mô tả hết sức rõ ràng
về những nét nhân cách nổi trội Trong khuôn khổ tề tài này chúng tôi đề cậptới các nét nhân cách ở bệnh nhân có rối loạn lo âu và đặc biệt là rối loạn lo
âu lan tỏa
1.2 Đặc điểm nét nhân cách trong rối loạn lo âu lan tỏa
1.21 Rối loạn lo âu lan tỏa
1.2.1.1.Rối loạn lo âu
-Một số khái niệm :
+ Lo lắng (lo âu bình thường): Lo lắng là một hiện tượng phản ứng củacon người trước những khó khăn, thử thách của tự nhiên, xã hội mà con ngườiphải tìm cách vượt qua để tồn tại Lo lắng là một tín hiệu báo động, báo trướcmột nguy hiểm sắp xảy ra, cho phép con người sử dụng mọi biện pháp đểđương đầu với sự đe dọa [bệnh học p80]
F 40: Các rối loạn lo âu ám ảnh sợ
F 41: Các rối loạn lo âu khác
Trang 25F 41.0: Rối loạn hoảng sợ
F 41.1: Rối loạn lo âu lan tỏa
F 41.2: Rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm
F 41.3: Các rối loạn lo âu hỗn hợp khác
F 41.8: Các rối loạn lo âu biệt định khác
F 41.9: Các rối loạn lo âu không biệt định
Trong phạm vi đề tài này chúng tôi tập trung nghiên cứu đặc điểm nhâncách ở bệnh nhân rối loạn lo âu lan tỏa (F 41.1)
1.2.1.2.Rối loạn lo âu lan tỏa
Khái niệm Rối loạn lo âu lan tỏa
Rối loạn lo âu lan tỏa là một được đặc trưng bởi tình trạng lo âu quá mứckhông thể kiểm soát được, lo âu nhiều chủ đề, không phù hợp với thực tế Lo
âu xuất hiện nhiều ngày, kéo dài trên 6 tháng, kèm theo ít nhất 3 trong 6 triệuchứng cơ thể Gây khó chịu đáng kể và làm ảnh hưởng nhiều tới chức năng xãhội, nghề nghiệp và nhiều chức năng quan trọng khác [bình p3]
Tỉ lệ
Theo ICD-10, tỷ lệ hiện mắc của rối loạn lo âu lan tỏa là 5-8% dân số,theo DSM V tỷ lệ mắc 12 tháng là 0,9% ở thanh thiếu niên, 2,9% ở người lớntại Mỹ, tỷ lệ mắc trong 121 tháng ở các nước khác là 0,4-3,6% [thảo p33]
Bệnh nguyên – bệnh sinh
Rối loạn lo âu lan tỏa là một rối loạn liên quan stress nên trong cơ chếbệnh sinh không chỉ có vai trò cảu stress mà còn có vai trò quan trọng củanhân cách và môi trường cũng như tình trạng cơ Vì vậy nguyên nhân và cơchế sinh bệnh cũng rất phức tạp, kết hợp giữa các yếu tố di truyền, sinh lý,sinh hóa và các yếu tố tâm lý xã hội [27]
*Các yếu tố sinh học
- Yếu tố di truyền
RLLALT có thể có yếu tố gia đình và có liên quan đến gen, 20% trườnghợp bệnh nhân rối loạn lo âu lan toả có họ hàng ở đời thứ nhất cũng mắc rốiloạn này, so với 4% trường hợp không có mối liên quan trên [35] Các nghiên
Trang 26cứu gần đây cho thấy khoảng 30-40% các yếu tố nguy cơ về gia đình liênquan đến gen Tuy nhiên một số nghiên cứu khác cho thấy, trong một số giađình, bệnh nhân mắc RLLALT có liên quan đến tác động của yếu tố môitrường chiếm tỷ lệ cao hơn yếu tố di truyền.
- Các chất dẫn truyền thần kinh
Gama Aminobutiric Acide (GABA):
GABA là một aminoacide có chức năng ức chế dẫn truyền thần kinh.GABA được tổng hợp từ glutamate bởi men decarboxylase với sự tham giacủa piridoxin, bị chuyển hóa bởi men GABA-transaminase [15], [37] Cácthụ thể của GABA có ở hầu hết các phần của não nhưng tập trung nhiều ởnhững vùng vỏ não có liên quan đến cảm xúc sợ hãi, lo âu như thùy trán, hồihải mã, hạnh nhân Thực nghiệm trên động vật cho thấy sự rối loạn chức năng
hệ GABA gây ra triệu chứng của rối loạn lo âu lan tỏa Khi GABA gắn vàothụ thể của hệ GABA-negic sẽ làm tăng quá trình khử cực màng tế bào thầnkinh thông qua việc mở kênh clo, kết quả làm giảm và ức chế hoàn toàn cácxung động thần kinh [15], [37], [38]
Norepinephrine (NE):
Norepinephrin là chất dẫn truyền thần kinh có liên quan đến cơ chế bệnhsinh của các rối loạn lo âu Norepinephrine gặp chủ yếu ở vùng cầu não,phóng chiếu qua bó trước giữa tới vỏ não, hệ viền, đồi thị, dưới đồi (nhữngvùng có đáp ứng với stress và tạo ra cảm xúc sợ hãi, lo âu) [11] Các nhà khoahọc nhận thấy có sự bất thường chức năng NE trong các rối loạn lo âu , đặcbiệt là rối loạn hoảng sợ và tình trạng lo âu mãn tính Sản phẩm chuyển hóacủa Norepinephrine là 3-ethoxy-4-hydroxyphenethylene glycol (MHPG) Có
sự tăng quá mức nồng độ NE và MGPG, đồng thời có sự giảm hoạt động củacác thụ thể α2-adrenegic ở bệnh nhân rối loạn lo âu lan tỏa Các nghiên cứu
về điều trị bằng các thuốc ức chế tái hấp thu serotonin và norepinepherin cóchọn lọc (SNRI) đã chứng minh vai trò của norepinephrine trong rối loạn lo
âu lan tỏa [11], [52]
Trang 27Serotonin (S):
Chất dẫn truyền thần kinh serotonin (5-HT) được công nhận là có vai tròquan trọng trong rối loạn lo âu lan tỏa Đường dẫn truyền của hệ serotonegicbắt nguồn từ nhân raphe phóng chiếu đi các vùng của vỏ não có vai trò điềuchỉnh cảm xúc lo âu như: hồi hải mã, tuyến hạnh nhân cũng như nhânAmygdal và vòng CSTC [39] Tăng hoặc giảm chức năng hệ serotonegic đềudẫn đến rối loạn lo âu lan tỏa [21] Giảm nồng độ 5HT có liên quan đến triệuchứng lo âu [40], trong đó giảm hoạt tính của serotonin dẫn tới tăng sự nhạycảm với môi trường, tăng đáp ứng với các mối de dọa [41] Các nghiên cứugần đây cho thấy có nồng độ 5-hydroxyindoleacetic acid (chất chuyển hóa của5HT) trong nước tiểu báo hiệu những triệu chứng nặng nề của lo âu như căngthẳng, các biểu hiện ở đường tiết niệu, các triệu chứng cơ thể [41] Các nhànghiên cứu nhận thấy sự xuất hiện của m-chlorophenylpiperazine (mCPP) -chất chủ vận của 5HT1và 5HT2 liên quan đến tăng biểu hiện lo âu và sự tứcgiận trên bệnh nhân rối loạn lo âu lan tỏa
Cholecystokinin :
Cholecystokinin (CCK) là một chất dẫn truyền thần kinh loại peptit, cácthụ thể của CCK tập trung nhiều ở vùng hồi hải mã và thân não, CCK tácdụng gián tiếp lên lo âu thông qua hệ GABA và hệ noradrenergic
Hệ thống dưới đồi - tuyến yên – tuyến thượng thận :
Trục dưới đồi - tuyến yên - tuyến thượng thận là một hệ thống thần kinhnội tiết có liên quan đến quá trình điều chỉnh cảm xúc lo âu Các thông tin về
sự sợ hãi và lo âu lan truyền từ hệ viền đến vùng dưới đồi làm sản xuất racorticotropin-releasing (CRF), CRF kích thích tuyến yên sản xuất ACTH,chất này kích thích tuyến thượng thận giải phóng cortisol, đây là hormon duy trì
sự cân bằng và chuẩn bị cho sự đối mặt với nguy hiểm, đe dọa Có sự tăng caonồng độ cortisol trên bệnh nhân rối loạn lo âu lan tỏa, từ đó gián tiếp làm tăngquá trình vận chuyển serotonin [42] Một số nghiên cứu khác nhấn mạnh: việctăng nồng độ cortisol sẽ dẫn đến những đáp ứng quá mức với stress [36] [43]
Trang 28- Hình ảnh giải phẫu thần kinh, hoạt động điện của não bộ :
Điện não đồ: Có sự bất thường hoạt động điện não ở thùy thái dương,tăng hoạt động điện não ở vỏ não trước trán trên bệnh nhân rối loạn lo âu lantỏa, giảm điện thế sóng chậm lúc ngủ, hoạt động alpha có điện thế thấp
Tổn thương bán cầu não trái có triệu chứng của lo âu và trầm cảm, còntổn thương bán cầu não phải chỉ có triệu chứng của lo âu [35]
Có hình ảnh tăng thể tích tuyến hạnh nhân trên phim chụp cộng hưởng từnão bộ, chụp não bằng kỹ thuật PET thấy hình ảnh rối loạn chuyển hóa đường
ở hệ viền và hạch đáy, có sự bất thường các thụ thể benzodizepine ở thùy tháidương và hình ảnh tăng hoạt động vùng vỏ não trước trán trên bệnh nhân rốiloạn lo âu lan tỏa [35]
*Các yếu tố tâm lý xã hội
-Vai trò của sang chấn tâm lý :
+Khái niệm về stress: Stress được dùng cho người với ý nghĩa một sức
ép hay một xâm phạm nào đó tác động vào con người gây ra một phản ứngcăng thẳng Stress là một trạng thái căng thẳng cấp diễn của cơ thể buộc phảihuy động các khả năng phòng vệ để đối phó với các tình huống đang đe doạ.Như vậy Stress gồm hai trạng thái: một trạng thái là yếu tố kích thích(sang chấn tâm lý) và một trạng thái là phản ứng với stress (thường là cảmxúc tiêu cực như lo lắng, buồn rầu, tức giận, thất vọng…)
+Đặc điểm gây bệnh của stress:
Stress gây bệnh thường là những stress mạnh và cấp diễn Tuy nhiêncũng có những stress tuy không mạnh và cấp diễn nhưng lặp đi lặp lại nhiềulần gây căng thẳng nội tâm vẫn có khả năng gây bệnh
Những stress liên quan đến những hoàn cảnh xung đột (xung đột nộitâm làm cho cá nhân không tìm được lối thoát), những vấn đề không giảiquyết được, những mối quan hệ phức tạp giữa người với người hoặc đôi khi làcác nhu cầu tâm lý không được đáp ứng có thể gây ra các rối loạn lo âu [14]
Trang 29+Những bệnh nhân rối loạn lo âu lan tỏa thường có ngưỡng đáp ứng thấphơn đối với sang chấn tâm lý và họ dễ dàng bị bệnh khi có tác động củanhững sự kiện gây sang chấn nhỏ [44], [36].
-Tình trạng hôn nhân: Theo nghiên cứu của Corcoran và Walsh (2006),rối loạn lo âu lan tỏa thường gặp ở những đối tượng đã kết hôn hơn là chưahoặc không bao giờ kết hôn Hơn nữa tình trạng ly thân, ly hôn, góa bụa, mấtviệc làm là những yếu tố làm tăng nguy cơ bệnh này
-Tình trạng kinh tế: Kinh tế xã hội cũng có ảnh hưởng rất lớn RLLALTthường gặp ở những đối tượng có mức thu nhập thấp hoặc trung bình Nhữngngười có học vấn, nghề nghiệp ổn định ít bị RLLALT do cách ứng phó vớisang chấn tâm lý và khả năng tiếp cận điều trị của họ Vì vậy rất dễ hiểu khithấy những phụ nữ thất nghiệp hoặc chỉ làm việc nhà, những người có họcvấn thấp thường có tỷ lệ RLLALT cao [bình p13]
-Vai trò của khí chất (nhân cách) :
Có rất nhiều quan điểm về định nghĩa của khí chất, nhưng có một sựđồng thuận chung là khí chất có cơ sở nền tảng sinh học và di truyền Nhữngkiểu khí chất nhút nhát, e thẹn, hay sợ hãi hoặc cẩn thận, đề phòng lúc nhỏ
sẽ có xu hướng mắc rối loạn lo âu lan tỏa sau này [45] Ngoài ra sự bảo vệquá mức của cha mẹ làm cho trẻ cảm thấy thế giới là một nơi nguy hiểm vàlàm giảm cơ hội khám phá, học tập của trẻ [46]
-Vai trò của môi trường và cơ thể
Ngoài vai trò của nhân cách và yếu tố stress là những thành tố chính của cácrối loạn liên quan tới stress thì yếu tố môi trường và cơ thể cũng ảnh hưởng tới sựhình thành các rối loạn Một cơ thể khỏe mạnh, một môi trường tích cực sẽ hỗ trợtốt cho nhân cách chống đỡ với stress và ngược lại [ bệnh học TT p 82]
Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và tiêu chuẩn chẩn đoán
*Đặc điểm lâm sàng
Biểu hiện của rối loạn lo âu lan tỏa thường dao động, thay đổi Hầu hếtnhững bệnh nhân này đều có sự phối hợp giữa các triệu chứng cơ thể và triệuchứng tâm lý
Trang 30-Nhóm các triệu chứng cơ thể: biểu hiện về cơ, biểu hiện về tim mạch,biểu hiện về tiêu hóa, biểu hiện cơ thể khác Các than phiền về triệu chứng cơthể trong RLLALT rất thường gặp, có xu hướng dai dẳng, di chuyển
-Nhóm các triệu chứng tâm thần: kích thích, cáu kỉnh, cảm giác sợ hĩa,mất khả năng kiểm soát lo âu, bồn chồn không thể thư giãn được, khó tậptrung chú ý, sợ mất kiềm chế, sợ chết
-Lo âu dai dẳng, kéo dài, không kiểm soát được và không cụ thể vào mộtlĩnh vực Theo Heimberg (2004), lo về bệnh tật chiếm tỷ lệ 31%, lo về giađình 79%, lo về tài chính 50%, lo về học tập hoặc công việc 30% [52] Dễ giậtmình 68%, giảm tập trung chú ý 61%, rối loạn giấc ngủ 38% và bồn chồnkích thích chiếm tỷ lệ 74% [45].[bình p17]
-Tự sát trong lo âu: Đã có nhiều nghiên cứu trước đây gợi ý rằng các rốiloạn lo âu có liên quan đến tự sát Theo nghiên cứu dịch tễ học cộng đồng củaJosh Nepon (2010), tỷ lệ mắc các rối loạn lo âu trong cuộc đời là 29,5% và3,4% trong số này có ý tưởng hoặc hành vi tự sát [42] Những đối tượng cócác rối loạn lo âu, các rối loạn kiểm soát xung động lại có một tỷ lệ cao hơnlập kế hoạch tự sát hoặc toan tự sát Các bệnh nhân có biểu hiện lo âu, kíchthích bồn chồn hoặc sự thiếu kiểm soát xung động có xu hướng rõ rệt dẫn đếnlập kế hoạch tự sát hoặc toan tự sát [47] Trong số các rối loạn lo âu, rối loạnhoảng sợ, rối loạn ám ảnh cưỡng bức và rối loạn lo âu lan tỏa có mối liênquan lớn nhất đến tự sát [48] Có nhiều lý do để giải thích mối liên quan này
Đó là do mức độ nặng nề của bệnh, do có thêm bệnh phối hợp Do thiếu sựquan tâm, nâng đỡ, trợ giúp của xã hội đối với người bệnh cũng liên quan tới
ý tưởng, hành vi tự sát trong các rối loạn lo âu
-Các rối loạn phối hợp
RLLALt thường phối hợp với một số rối loạn khác Các rối loạn phốihợp làm cho triệu chứng của RLLALT nặng hơn, từ đó dẫn tới tăng nhu cầukhám chữa bệnh, tăng mức độ sử dụng thuốc, dẫn tới có nhiều mâu thuẫntrong điều trị và kết quả là tình trạng bệnh lại càng nặng lên
Trang 31Trên lâm sàng thường gặp nhất là RLLALT phối hợp với trầm cảm điểnhình, chiếm tỷ lệ 37% Những bệnh nhân này có tuổi khởi phát sớm hơn, mức
độ lo âu nặng nề hơn, chức năng nghề nghiệp xã hội nghèo nàn hơn và tỷ lệ
có ý tưởng tự sát cao hơn [bình p18] Chính vì vậy việc đánh giá triệu chứng
để chẩn đoán xác định và chẩn đoán phân biệt là hết sức quan trọng
Ngoài ra còn gặp RLLALT phối hợp với rối loạn hoảng sợ, ám ảnh sợ xãhội, rối loạn nhân cách
Theo nghiên cứu của Grant và cộng sự (2005) 60% bệnh nhân RLLALT
có rối loạn nhân cách [bình p19]
*Cận lâm sàng
- Các trắc nghiệm tâm lý: trên lâm sàng có rất nhiều loại trắc nghiệm đểđánh giá tình trạng lo âu, trầm cảm, tác động của stress : Thang đánh giá lo âuZung, Thang đánh giá lo âu – trầm cảm – stress (DASS)
- Các xét nghiệm huyết học, sinh hóa máu, điện não đồ, điện tim giúpđánh giá tình trạng sức khỏe chung và chẩn đoán loại trừ các bệnh thực thể
*Chẩn đoán
-Các tiêu chuẩn chẩn đoán:
Hiện nay có 2 hệ thống tiêu chuẩn chẩn đoán trên thế giới được sử dụngcho chẩn đoán các rối loạn tâm thần nói chung và các rối loạn lo âu nói riêng
đó là Bảng Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 về các rối loạn tâm thần vàhành vi của Tổ chức Y tế Thế giới (ICD 10 - 1992) [19] và Tài liệu Thống kêchẩn đoán các rối loạn tâm thần của Hội Tâm thần học Mỹ sửa đổi lần thứ IV(DSM- IV-TR 2000) [7] Về cơ bản ICD 10 và DSM -IV đồng nhất với nhau,hiện nay hầu hết các nước trên thế giới đều sử dụng ICD 10
-Chăn đoán phân biệt
+Lo âu bình thường: RLLALT thì lo âu kéo dài, dai dẳng, không khu trú,không kiểm soát được và tác động tới hoặt động chức năng [bình p22]
+Trầm cảm: Trầm cảm thì bệnh nhân buồn rầu, đau khổ, tuyệt vọng,chán sống Bệnh nhân lo âu lan tỏa thì căng thẳng, bồn chồn và có nhiều triệuchứng cơ thể, nhất là tiêu hóa, tim mạch, hô hấp [bình p22]
Trang 32+Rối loạn hoảng sợ: Rối loạn hoảng sợ thường khởi phát đột ngột, bệnhnhân than phiền, sợ hãi, bận tâm nhiều về các triệu chứng tim mạch cấp tính,nhanh chóng bị suy giảm chức năng
+Rối loạn nhân cách: Không có loại rối loạn nhân cách nào đặc trưngtrong rối loạn lo âu lan tỏa nhưng nhân cách phụ thuộc, nhân cách lo âu tránh
né, ám ảnh cưỡng bức thường gặp ở rối loạn lo âu lan tỏa
+Các rối loạn liên quan đến lạm dụng chất, nghiện chất: bệnh nhânnghiện rượu, sau điều trị nghiện rượu thường xuất hiện lo âu đặc biệt là rốiloạn lo âu lan tỏa, các rối loạn thần kinh tự trị trong trạng thái cai rượu hoặccác chất gây nghiện khác thường rất khó phân biệt với rối loạn thần kinh tự trịtrong rối loạn lo âu lan tỏa [bình p23]
Tiến triển và tiên lượng
Các triệu chứng thay đổi mức độ theo áp lực của môi trường và xã hội.Bệnh có xu hướng tái phát, theo Hoge – 2004, 60% các trường hợp tái phátsau 2 năm, 27% tái phát sau 3 năm, và 40% tái phát sau 5 năm [51] Tiến triểntheo hướng mạn tính Các triệu chứng nặng nề, suy giảm chất lượng nghềnghiệp xã hội, dẫn đến thất nghiệp, ảnh hưởng đến cả cuộc đời nếu khôngđược điều trị Bệnh có thể tiến triển thành rối loạn cơ thể hóa [21]
+Các Benzodiazepin: có tác dụng tốt, 75% bệnh nhân có đáp ứng rõràng, 35% đáp ứng vừa phải Biểu hiện lo âu, căng thẳng, các triệu chứng cơthể như bồn chồn, căng cơ, mất ngủ giảm rất nhanh [40]
+Các thuốc ức chế tái hấp thu serotonin - norepinephrin có chọn lọc(SNRI): Velafaxine
Trang 33+Các thuốc ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc (SSRI): Paroxetin,Fluoxetine, Sertraline, Fluvoxamine, Citalopram, Escitalopram Các thuốcthuộc nhóm này nhìn chung có tác dụng tốt trên bệnh nhân rối loạn lo âu lantỏa, tác dụng không mong muốn ít gặp, thường chỉ là khó chịu ở dạ dày, giảmtình dục [53].
+Beta-Blocker: (Propranolol)
Thuốc phong tỏa hoạt động của epinephrin trên cả 2 receptor β1 và β2của hệ adrenegic, từ đó làm giảm các triệu chứng của lo âu
+ Mirtazapine, Hydroxyzine, Pregabalin
+Một số thuốc khác: Azapirones (Buspiron) , Các thuốc chống trầm cảm
3 vòng, Các thuốc an thần kinh mới (Risperidone, Olanzapin , Quetiapin)-Điều trị bằng liệu pháp tâm lý
Rối loạn lo âu lan tỏa thường có liên quan tới sự bất thường trong nhậnthức của bệnh nhân về các mối nguy hiểm đe dọa, ho thường khó khăn trongviệc phân biệt giữa tình huống có gây nguy hiểm và không gây nguy hiểm, họthường không hiểu được bản chất những lo lắng của mình và điều này cànglàm tăng cảm giác lo lắng, sợ hãi [65] Các nhà nghiên cứu nhận thấy nhữngbệnh nhân có các rối loạn lo âu thường cường điệu hóa các tình huống gâynguy hiểm (Peter Tyrer, 2006) [50], thêm vào đó những bệnh nhân mắc rốiloạn lo âu lan tỏa không chỉ nhận thức sai lệch về các mối đe dọa mà còngiảm khả năng kiểm soát các tình huống đó [63] [bình p14] Do đó, khi sangchấn tâm lý tác động vào những cá nhân có nền tảng có các nét nhân cách lo âuhoặc có rối loạn nhân cách trước đó làm sẽ gây ra tác động tiêu cực từ đó làmbệnh khởi phát sớm, mức độ bệnh nặng nề hơn, thời gian điều trị bệnh kéo dài
và tăng nguy cơ tái phát bệnh Từ đó liệu pháp nhận thức giúp thay đổi nhậnthức của bệnh nhân về các đe dọa, nguy hiểm, sự xung đột, các vấn đề khônggiải quyết được…giúp cho bệnh nhân dễ đối phó được với các vấn đề trên
+ Liệu pháp nhận thức hành vi: Liệu pháp nhận thức trong rối loạn lo âulan tỏa cũng giống như trong các rối loạn lo âu khác Bao gồm:
Trang 34-Nhận biết, đánh giá mối đe dọa, nguy hiểm Hiểu được mối liên quangiữa những nguy hiểm đe dọa đó với lo âu của mình.
-Nắm rõ các biểu hiện và sự tồn tại của lo âu bệnh lý: sự tăng quá mứchoạt động thần kinh tự trị và các cảm xúc khó chịu khác Hiểu được lo âu quámức là không có lợi Bệnh nhân được luyện tập, thực hành các kỹ năng, được
ra các tình huống dẫn tới lo âu, từ đó được học cách giữ bình tĩnh, kiểm soát
lo âu và sau đó là loại bỏ lo âu
+ Liệu pháp thư giãn: Liệu pháp hành vi dựa trên giả thuyết: lo âu bệnh lýđược duy trì chủ yếu bởi cảm giác căng thẳng, đặc biệt là căng cơ Vì vậy,giảm được biểu hiện căng cơ (thư giãn cơ) nhìn chung sẽ giảm được lo âu bệnh
lý Mặt khác, liệu pháp hành vi giúp tăng khả năng kiểm soát các triệu chứng,đặc biệt là triệu chứng căng thẳng quá mức Tiến hành liệu pháp hành vi thôngqua kỹ thuật thư giãn cơ [36] Các bài tập này có tác dụng giảm căng thẳng của
cơ trơn và cơ vòng, giảm lo âu và các triệu chứng cơ thể kèm theo [14]
Tuy nhiên đây không phải là cách duy nhất để kiểm soát lo âu, bệnhnhân có thể tập yoga, tập thiền, khí công…Điều quan trọng là bệnh nhân biết
sử dụng các kỹ thuật này để tạo ra hiệu quả tối đa [40], [3]
Trắc nghiệm tâm lý đánh giá lo âu
Hiện nay trên thế giới có nhiều thang đánh giá mức độ lo âu phù hợp vớitừng đối tượng, như thang đánh giá lo âu Zung, Haminton – A, thang đánh giá
lo âu – trầm cảm – stress DASS Trong phạm vi nghiên cứu này tôi sử dụngthang đánh giá lo âu Zung và DASS
*Thang đánh giá lo âu Zung (Self- Rating Anxiety Scale)
- Thang Zung được thiết kế bởi Willam W.K Zung M.D- giáo sư tâmthần học tại đại học Duke vào năm 1971 để định lượng mức độ lo âu của bệnhnhân Với ưu điểm là ngắn gọn, xử lý khá đơn giản nên SAS được ưa dùngtrong lâm sàng và một số tác giả khuyên dùng SAS trong trường hợp sàng lọc
lo âu phổ biên trên thế giới
- Ở Việt Nam thang đo lo âu đã được chuẩn hóa, áp dụng cho mọi lứatuổi, cả trẻ em, thuận tiện cho việc điều tra dịch tễ Nó được áp dụng rộng rãi
Trang 35tại Viện Sức khỏe Tâm thần, bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện 103- khoa A6(khoa Tâm thần), khoa Tâm Thần – Bệnh viện Nhi Trung Ương Đã có không
ít các công trình nghiên cứu khác về vấn đề lo âu đều sử dụng thang đo nàytại Việt Nam [N3 p13]
* Thang đánh giá lo âu – trầm cảm – stress (DASS)
-Thang DASS 42 lần đầu tiên được công bố vào năm 1993 do Lovibon
và cộng sự phát triển Năm 1997, phiên bản rút gọn của DASS 42 là DASS –
21 ra đời và được chứng minh là có sự nhất quán giữa 2 phiên bản
- Tại Việt Nam thang này đã được chuẩn hóa và sử dụng rộng rãi tạiViện Sức khỏe Tâm thần – Bệnh viện Bạch Mai
1.2.2.Đặc điểm nhân cách ở bệnh nhân Rối loạn lo âu lan tỏa
1.2.2.1 Nhân cách ở bệnh nhân rối loạn lo âu lan tỏa
-Sự hình thành và phát triển nhân cách ở bệnh nhân rối loạn lo âu lan tỏaQuá trình hình thành và phát triển nhân cách đều phụ thuộc vào yếu tố ditruyền, môi trương, hoạt động và giao tiếp Nhân cách ở bệnh nhân rối loạn lo
âu lan tỏa cũng vậy, cũng có vai trò của di truyền, môi trường, giáo dục, hoạtđộng và giao tiếp
+Yếu tố di truyền
RLLALT có thể có yếu tố gia đình và có liên quan tới gen, 20% trườnghợp bệnh nhân rối loạn lo âu lan tỏa có họ hàng đời thứ nhất cũng mắc rốiloạn này, so với 4% trường hợp không cso mối liên quan trên [bình p9] Cácnghiên cứu gần đây cho thấy 30-40% các yếu tố nguy cơ về gia đình đều liênquan đến gen Tuy nhiên một số nghiên cứu khác cho thấy, trong một số giađình, bệnh nhân mắc RLLALT có liên quan đến tác động của yếu tố môitrường chiếm tỷ lệ cao hơn yếu tố di truyền [bình 9]
+ Môi trường
Bên cạnh vai trò của di truyền (gen) có ảnh hưởng tới sự hình thành vàphát triển nhân cách, thì hoàn cảnh sống, môi trường sống cũng ảnh hưởng rấtnhiều tới nhân cách của trẻ
Trang 36Những trẻ được sinh ra và lớn lên trong những hoàn cảnh sống khôngthuận lợi như bị gia đình bỏ rơi, hắt hủi, cách biệt với cha mẹ, hat sống cùngcha mẹ nhưng bị cha mẹ ghét bỏ, cha mẹ ly hôn, mất cha mẹ Hay nhữnghoàn cảnh sống như cuộc sống nhiều mâu thuẫn giữa các thành viên trong giađình đặc biệt là giữa cha và mẹ, cha mẹ li dị…Hoặc trẻ gặp phải các chấnthương tâm lý trong thời thơ ấu như cuộc sống khó khăn, bị thiếu thốn, đánhđập, bị lạm dụng về tình cảm, tình dục và cơ thể đều liên quan tới các triệuchứng rối loạn nhân cách ở tuổi trưởng thành [P1 p30, A1 p127]
Ngoài ra, nhân cách lo âu còn được phát triển trong hoàn cảnh trẻ sốngtrong gia đình có người thân thiết bị rối loạn tâm thần, rối loạn nhân cách lo
âu cũng sẽ chịu ảnh hưởng nhiều hơn về sự lệch lạc cảm xúc hành vi hơnnhững trẻ có người thân bình thường [A1 p137]
Trẻ được sống trong gia đình có sự bao bọc quá mức, thường xuyênkiểm soát, điều chỉnh, hoặc gia đình lại lơ là, thiếu chăm sóc cũng là yếu tốhình thành nhân cách lo âu [A1 p137]
Sự giáo dục có ý nghĩa to lớn trong sự hình thành và phát triển nhân cách
ở bệnh nhân lo âu [?? A1p129]
Sự mất cân bằng trong quá trình hưng phấn và ức chế của hệ thần kinhcũng là kết quả của tính di truyền cũng như sự giáo dục Đối với người cónhân cách lo âu thì sự giáo dục và điều kiện sống có ý nghĩa quan trọng
Quá trình sống của trẻ ngày nay có quá nhiều áp lực trong học tập, côngviệc và cuộc sống, nó là tiền đề cho sự trưởng thành nhưng nếu như quá mức,hoặc cha mẹ, giáo viện không hiểu được nhu cầu tâm lý của từng lứa tuổi thìrất khó tránh khỉ những xung đột và những nhiễu loạn về tâm lý
Nhiều sang chấn tâm lý thời thơ ấu liên quan với việc giáo dục không tốt
ở nhà trường, đặc biệt trong gia đình có bố hoặc mẹ mắc rối loạn lo âu, trầmcảm thường ảnh hưởng tới sự phát triển nhân cách của trẻ
Sự bao bọc quá mức của mẹ hay các thành viên khác trong gia đình là
mô hình thường gặp ở những bệnh nhân RLLALT Cha mẹ luôn làm mọi việccho con, luôn bắt con bệnh cạnh mình, luôn nói về các điều nguy hiểm trong
Trang 37cuộc sống khiến trẻ trở nên thụ động và luôn lo lắng về những điều xảy raxung quanh.
1.2.2.2 Trẻ có nguy cơ phát triển thành nhân cách lo âu
Nhân cách lo âu có cơ sở sinh lý bệnh là sự ưu thế quá mức của “Cáisiêu tôi” là một phần của ý thức và một phần của vô thức Khi “cái siêu tôi”mạnh, họ là người mạnh mẽ, luôn lo lắng, nóng nảy, luôn cảm thấy tội lỗi vàluôn kìm nén ham muốn của mình Nếu mạnh quá mức sẽ khiến họ trở thànhngười lo âu, dễ bị kích thích, luôn chìm ngập trong cảm giác tội lỗi và rất khókhăn để cảm thấy hài lòng [P5 p296, P4 p285] Bước đầu có thể phát hiện ởtuổi trẻ với các nét cảm xúc của nhân cách là tính cẩn thận, hiền lành, dịudàng, nhút nhát, sống nội tâm, dễ hoảng sợ, thiếu tự tin, luôn có cảm giáckhông an toàn, nhạy cảm, thiếu độc lập và hay tránh né [A1 p121]
1.2.2.3 Đặc điểm nhân cách
Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra một số nét tính cách nổi trội ởmột các nhân sẽ khiến nguy cơ mắc một số bệnh nhất định ở cá nhân đó caohơn Vậy tính hướng nội, tính hướng ngoại, tính ổn định hay tính không ổnđịnh khác nhau như thế nào ở những người mắc rối loạn lo âu lan tỏa? Néttính cách nào có liên quan mật thiết với lo âu lan tỏa? là các câu hỏi đã đượcnghiên cứu để trả lời nhiều trên thế giới
Theo Ensyenck, nhân cách được chia thành các loại dựa vào thang tính
ổn định và tính không ổn định Theo Gray (1970) đã nhận thấy đặc điểm tínhcách lo âu, đó là sự kết hợp giữa tính không ổn định và nội tâm [R3]
Đến (2001) Bienvenu bằng nghiên cứu của mình đã chứng minh đượcmối liên quan chặt chẽ của tính không ổn định và các rối loạn lo âu, tính nộitâm có liên quan hơn so với các nét tính cách khác [R3]
Andrews, Pollock và stewart (1989) cũng khẳng định mối liên quan mậtthiết giữa điểm số tính không ổn định và các rối loạn lo âu khác nhau [nc+rlncp1 p295]
David Nutt bằng các kỹ thuật của mình đã phát hiện mối liên quan giữa điểm
số tính không ổn định và hoạt động receptor GABA, khi điểm số tính không ổn
Trang 38định cao thì cá thể đó có chức năng ức chế neuron trung gian GABA bị yếu đi sovới người có điểm số tính không ổn định thấp [nc+rlnc p1 p295]
Trull and Sher (1994) thấy RLLALT có điểm tính không ổn định cao,điểm hướng ngoại, tính dễ chịu và tận tâm thấp, điểm số tránh né cũng cao[R3 p140
John M., Carol A và Kenneth S (2004) chỉ ra có mối tương quan giữarối loạn lo âu lan tỏa và tính không ổn định khá cao (0.8)
Bên cạnh trục tính không ổn định - ổn định thì trục hướng nội – hướngngoại cũng rất có ý nghĩa trong việc đánh giá nhân cách ở bệnh nhân rối loạn
lo âu và đặc biệt là lo âu lan tỏa
Theo Levenson và cs (1988) báo cáo có tỷ lệ thuận giữa tính không ổnđịnh và lo âu, và có tỷ lệ nghích trong mói quan hệ giữa tính hướng ngoại và
lo âu Theo Beth S., có sự tương tác giữa tính không ổn định và tính hướngngoại trong toàn bộ lo âu và trầm cảm xuất hiện ở thời điểm 3 năm sau đó, vànghiên cứu cũng chỉ ra sự kết hợp giữa tính không ổn định cao và điểm sốhướng ngoại thấp sẽ có vai trò quan trọng trong lo âu [nc+rlnc + R1 p843].Theo McFatter, tính không ổn định kết hợp cùng tính hướng ngoại có liênquan chặt chẽ tới tác động tích cực lên cảm xúc, tính tiêu cực hay trầm cảm,
và tính hướng ngoại thấp và tính không ổn định cao có liên quan tới trầmcảm, tuy nhiên sự kết hợp 2 đặc điểm cả tính hướng nội và tính hướng ngoạitới lo âu như thế nào vẫn chưa được biết rõ [nc+ rlnc r2 253] Gray’s (1987)
và eysenck (1987) chứng minh, lo âu liên quan với tính không ổn định caonhưng không có tính hướng nội Tương tự như vậy, Clark và cs (1994) cũngkết luận tính hương nội liên quan tới trầm cảm chứ không liên quan tới lo âu[nc+rlnc N3 p149]
Bên cạnh cách chia nhân cách thành các thành phần hướng nội – hướngngoại, tính không ôn định và tính ổn định, các nhà nghiên cứu cũng chia nhâncách thành 5 nhân tố cơ bản để nhận xét Các nghiên cứu đều chỉ ra tínhkhông ổn định và tính hướng nội chiếm đa số, tính tận tình và tính dễ chịuthường có điểm số thấp ở các rối loạn liên quan tới cảm xúc, trong đó có rối
Trang 39loạn lo âu lan tỏa [NC+RLNC R2 p470] Jan H.m và cs (2009) Kotov và cs(2010) khẳng định tính tận tâm có tương quan lớn nhất tới tính không ổn định[nc+rlnc L1] Theo Watson và cs (2005) nhận định , RLLALT có liên quanchặt chẽ với tính không ổn định (d=1.96) , RLLALT cũng liên quan đáng kểtới tính tận tâm (d=-1.13)
Các nhà tâm lý học nghiên cứu nhân cách đều nhận thấy nhân cách lo âuthường biểu hiện qua những đặc điểm sau:
Là người dễ kích thích, dễ mất bình tĩnh, nóng giận, tức giận, hay cónhững trạng thái bất ổn, dễ xúc động
Những người hay lo lắng suy nghĩ, sợ hãi, thường có xu hướng căngthẳng, bất an, bồn chồn, sốt ruột, hay bị phụ thuộc vào hoàn cảnh
Dễ có những mặc cảm tội lỗi, dễ buồn rầu, dễ chán nản, tuyệt vọng và côđơn Hay e thẹn, xấu hổ, lúng túng, thiếu tự tin, dễ nhạy cảm với các lời trêuchọc, hay có xu hướng đánh giá thấp bản thân mình
Không có khả năng kiểm soát những ham muốn, những thôi thúc từ bêntrong như nhu cầu về ăn uống, sử dụng chất kích thích, nhu cầu sở hữu, cácnhu cầu này quá mạnh mà họ không thể kiểm soát được, nhưng sau đó họ lạihối hận về những hành vi nhằm làm thỏa mãn những nhu cầu này của mình
Dễ bị tổn thương khi gặp tình huống gây stress, bị phụ thuộc, thiếu niềmtin, sợ hãi khi phải đối mặt với tình huống khó khăn
Một số người bị RLLALT lại có xu hướng rất ngăn nắp, có trách nhiệm,luôn chăm chỉ, cẩn thận, chu toàn, thận trọng và cân nhắc kỹ lưỡng, cầu toàn,khó tính [N1]
Một số có điểm tính hướng ngoại thấp cùng với tính không ổn định cóthể dự báo sẽ xuất hiện rối loạn lo âu sau này [] kj
1.2.2.4 Sự ảnh hưởng các nét nhân cách tới lo âu lan tỏa
Trang 40nghiên cứu của Emma K và cộng sự (2014) cá thể khi gặp cá sự kiện hằngngày, nếu cá thể đó có tính thần kinh không ổn định dẫn tới bị nhiều tác độngtiêu cực và ít tác động tích cực hơn Chính tính thần kinh không ổn định cóliên quan một cách đặc biệt tới rối loạn lo âu, rối loạn trầm cảm., giảm khảnăng phòng vệ khi gặp yếu tố tác động Nhiều nghiên cứu của Calkin và cáccộng sự (2009) cũng chỉ ra tỉ lệ mắc lo âu đặc biệt là lo âu lan tỏa (với tínhđặc hiệu của lo âu lan tỏa) tăng lên ở những nhóm phụ nữ có nhân cách nhạycảm với lo âu như tính không ổn định của hệ thần kinh [27] [thao p31] Do
đó đánh giá nhân cách và phát hiện ra đặc điểm khí chất là một trong các yếu
tố đánh giá nguy cơ mắc các rối loạn lo âu lan tỏa, giúp đưa ra các biện phápphòng tránh để làm giảm nguy cơ mắc bệnh
-Mức độ nặng của triệu chứng: Mức độ nặng và đặc điểm của triệuchứng: Các triệu chứng của lo âu lan tỏa có liên quan với độ dung nạp của cáccảm xúc tiêu cực, nghĩa là các nhân cách có càng nhiều cảm xúc tiêu cực thìcàng có nhiều triệu chứng bệnh lo âu lan tỏa [30] [31]
Mức độ nặng của triệu chứng lo âu và đặc điểm triệu chứng cơ thể của lo
âu cũng có liên quan tới tính thần kinh không ổn định Theo Branka F (2012)khẳng định mức độ cao của tính thần kinh không ổn định và mức độ lo âu cóliên quan đáng kể tới chứng khó tiêu [RLNC F1], từ đó làm điểm HAM-Acao hơn
Theo Philip S., Ph.D, và cộng sự cũng nhấn mạnh tính thần kinh không
ổn định và tính dễ bị tổn thương cùng lý giải cho sự kết hợp của lo âu và trầmcảm [R2] Kasch và cs 2002 đã xác định được vai trò của nhân cách tới sựkhởi phát, trùng lấp và kéo dài của lo âu và trầm cảm [nc+rlnc c2]
-Đòi hỏi điều trị thường gặp hơn ở các bệnh nhân có tính hướng nội vàtính thần kinh không ổn định cao Bệnh nhân có xu hướng than phiền nhiều
về các triệu chứng cơ thể và đòi hỏi điều trị [15]
-Mức độ thuyên giảm triệu chứng giảm đi tỉ lệ thuận với điểm số tínhkhông ổn định và dù bệnh nhân đạt được sự thuyên giảm triệu chứng thì điểmhài lòng qua test đánh giá chất lượng cuộc sống vẫn rất thấp [] theo Brown