1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG, NHU cầu và GIẢI PHÁP CAN THIỆP đào tạo LIÊN tục CHO cán bộ y học cổ TRUYỀN TUYẾN HUYỆN tại VIỆT NAM

37 155 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 351,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy vậy, đào tạo liên tụcnguồn nhân lực y học cổ truyền tại Việt Nam còn chưa được quan tâm cao;trong khi đó Việt Nam là một nước thuộc khối ASEAN được đánh giá là cótiềm năng lớn về y h

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

NGUYỄN THÀNH TRUNG

THỰC TRẠNG, NHU CẦU VÀ GIẢI PHÁP

CAN THIỆP ĐÀO TẠO LIÊN TỤC CHO CÁN BỘ

Y HỌC CỔ TRUYỀN TUYẾN HUYỆN TẠI VIỆT NAM

TIỂU LUẬN TỔNG QUAN

HÀ NỘI – 2018

Trang 2

NGUYỄN THÀNH TRUNG

THỰC TRẠNG, NHU CẦU VÀ GIẢI PHÁP

CAN THIỆP ĐÀO TẠO LIÊN TỤC CHO CÁN BỘ

Y HỌC CỔ TRUYỀN TUYẾN HUYỆN TẠI VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: 1 TS Nguyễn Ngô Quang

Trang 4

NỘI DUNG 3

1 Tình hình đào tạo liên tục y học cổ truyền trên thế giới 3

1.1 Văn phạm pháp luật 3

1.2 Hệ thống đào tạo liên tục trên thế giới 4

1.2.1 Tổ chức đào tạo 4

1.2.2 Chương trình đào tạo liên tục 5

1.3 Hình thức, mô hình đào tạo liên tục YHCT 7

1.4 Thực trạng và nhu cầu cung cấp ĐTLT về YHCT 9

2 Tình hình ĐTLT về YHCT tại Việt Nam 10

2.1 Văn bản ban hành về ĐTLT YHCT Việt Nam 10

2.2 Hệ thống đào tạo cán bộ y dược cổ truyền hiện nay 12

2.3 Loại hình đào tạo y dược cổ truyền 13

2.4 Thực trạng và nhu cầu cung cấp ĐTLT về YHCT 13

2.4.1 Thực trạng về cung cấp ĐTLT về YHCT 13

2.4.2 Thống kê thực trạng ĐTLT theo khu vực trong cả nước 17

3 Một số nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam của ĐTLT về YHCT 19

3.1 Một số nghiên cứu về kiến thức, kỹ năng và thực hành 19

3.1.1 Tại một số nước trên thế giới: 19

3.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam: 20

3.2 Một số nghiên cứu về thực trạng, nhu cầu về ĐTLT YHCT 22

3.3 Mô hình và giải pháp can thiệp 22

KẾT LUẬN 23 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đào tạo liên tục là một hoạt động được xác định rõ ràng để phát triểnchuyên môn của cán bộ y tế và dẫn tới việc cải thiện chăm sóc cho bệnh nhân.Đào tạo liên tục bao gồm tất cả các hoạt động học tập mà cán bộ y tế mongmuốn thực hiện để có thể thường xuyên, liên tục nâng cao năng lực chuyênmôn của mình [1] Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa họckỹ thuật vànhu cầu ngày càng cao về chất lượng dịch vụ y tế, việc đào tạo liên tục chocán bộ y tế càng trở nên cấp thiết Việc đào tạo liên tục là một hình thức bảođảm duy trì và đảo đảm chất lượng dịch vụ y tế Tuy vậy, đào tạo liên tụcnguồn nhân lực y học cổ truyền tại Việt Nam còn chưa được quan tâm cao;trong khi đó Việt Nam là một nước thuộc khối ASEAN được đánh giá là cótiềm năng lớn về y học cổ truyền[2] Ở một số nước trong khu vực châu Ánhư Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Philippin, Thái Lan, Bangladesh đãđưa y học cổ truyền vào chương trình mục tiêu quốc gia [3] Đến nay chấtlượng công tác khám, chữa bệnh bằng y học cổ truyền còn nhiều hạn chế domột số tỉnh chưa có bệnh viện y dược cổ truyền; nhiều tỉnh, bệnh viện y dược

cổ truyền tiếp thu cơ sở của bệnh viện đa khoa tỉnh nên cơ sở hạ tầng xuốngcấp, trang thiết bị phục vụ cho công tác khám, chữa bệnh vừa cũ, lạc hậu lạivừa thiếu Đội ngũ cán bộ chuyên ngành y dược cổ truyền còn thiếu về sốlượng, yếu về chất lượng, đặc biệt là thiếu đội ngũ cán bộ chuyên môn chuyênsâu Việc đầu tư nguồn lực cho chuyên ngành y dược cổ truyền chưa đượcquan tâm đúng mức, dù đã có nhiều chương trình đào tạo liên tục nhưng vẫnchưa đáp ứng được nhu cầu chất lượng nguồn nhân lực y học cổ truyền Việcđào tạo nguồn nhân lực liên tục về y học cổ truyền sẽ góp phần đảm bảo conngười cho y học cổ truyền phát triển trong tương lại Ở Việt Nam,cho đến naychưa có đề tài nghiên cứu tổng thể nào về thực trạng nhân lực y dược cổ

Trang 7

1 Khái quát hệ thống đào tạo và đào tạo liên tục nguồn nhân lực Y học

cổ truyền tại Việt Nam.

2 Thực trạng và nhu cầu đào tạo liên tục Y học cổ truyền tại Việt Nam.

3 Tình hình nghiên cứu về đào tạo liên tục Y học cổ truyền.

Trang 9

Ảnh hưởng lớn bởi nền YHCT Trung Quốc phải kể đến Nhật Bản;Nhật Bản là nước có truyền thống YHCT lâu đời, từ thế kỷ thứ V Y học cổtruyền Trung Quốc đã vào Nhật Bản qua con đường bán đảo Triều Tiên.Song, sau năm 1868, YHCT Nhật Bản bị lụi dần do thể chế cầm quyền, nhất

là từ năm 1912-1926, thời Minh Trị, YHCT bị cấm hoạt động (chỉ cho Tây yhoạt động) Mặc dù vậy, YHCT Nhật Bản vẫn tiếp tục tồn tại và được ngườidân sử dụng trong cộng đồng, YHCT Nhật Bản bao gồm YHCT Trung Quốc

và y học dân gian của Nhật Bản, được người Nhật Bản gọi là Kampo Saunăm 1950, YHCT Nhật Bản dần được phục hồi Y học cổ truyền được đưavào giảng trong trường đại học Y khoa hoặc trường đại học có khoa Y từ năm

1986 [4],[6]

Theo báo cáo của Bộ Y tế Singapore tại Hội nghị YHCT các nướcASEAN lần thứ 02: từ năm 1995, Vụ YHCT của Bộ Y tế Singapore đã được

Trang 10

thành lập Đến năm 2000, đạo luật về đội ngũ hành nghề YHCT đã đượcQuốc hội Singapore thông qua [7].

1.2 Hệ thống đào tạo liên tục trên thế giới

Theo đánh giá của WHO năm 2008 có 80% dân số Châu Phi đượcchăm sóc sức khỏe dựa vào phương pháp điều trị YHCT và trên 50% ngườidân Châu Âu và Nam Mỹ đã sử dụng YHCT trong một năm qua khi được hỏi

“Bạn có sự dụng y học cổ truyền trong chữa bệnh ?”; chính vì thế việc đào tạoliên tục nhân lực cho YHCT nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụbên cạnh đó cập nhật kiến thức về YHCT liên tục đóng vai trò hết sức quantrọng trong trong nền y tế nói chung và ngành YHCT nói riêng[4],[8]

1.2.1 Tổ chức đào tạo

Hệ thống giáo dục y học cơ bản của y học cổ truyền ở Trung Quốc,Hàn Quốc và Đài Loan, Nhật Bản trong y học cổ truyền được cung cấp tại cáctrường đại học y học cổ truyền ở cấp đại học hoặc sau đại học Tuy nhiên, có

sự khác biệt giữa các quốc gia này ở nhiều khía cạnh như số lượng trườnghọc, bằng cấp, thời lượng giáo dục và chương trình giảng dạy

Ở Hàn Quốc, có 12 trường học, 11 trường trong số đó là các trường

tư thục và đại học và chỉ một trong số đó là trường công lập và sau đại học.Các trường đại học cung cấp một chương trình y khoa học trong 06 năm.Trong 06 năm đó, sinh viên sẽ học 02 năm tiền lâm sàng, 02 năm học cáckhóa học lâm sàng và 02 năm học về bán hàng [9]

Ở Trung Quốc, có 16 trường cung cấp chương trình đại học học trong

05 năm và 12 trường cung cấp cả chương trình đại học 05 năm và chươngtrình 07 năm kết hợp các khóa học đại học và các khóa học sau đại học Tất

Trang 11

cả đều là trường công lập Sinh viên tốt nghiệp từ các trường đại học nhậnđược bằng cử nhân, và sinh viên tốt nghiệp từ các trường cung cấp mộtchương trình kết hợp 07 năm nhận được bằng cử nhân và bằng thạc sĩ[9]

Ở Đài Loan, có 04 trường tư Hai trong số 04 trường cung cấp mộtchương trình học đại học 07 năm bao gồm 06 năm cho học y khoa và 01 nămthực tập định hướng Ở Đài Loan, có 02 chương trình đào tạo về y học; một làchương trình đào tạo hoàn toàn để làm một bác sỹ YHCT; hai là chương trìnhhọc kép, học sinh vừa được học y học hiện đại kết hợp y học cổ truyền [9]

Tại Nhật Bản, có 80 trường YHHĐ, 98% trong số đó cung cấp ít nhấtmột môn học Kampo vào năm 2011; tuy nhiên, giáo dục trong y học Kampochiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong tổng số chương trình học Cả nước chỉ có 11trường cao đẳng châm cứu[9],[10]

Ở mỗi quốc gia có những hình thức tổ chức đào tạo cho ngành YHCTriêng biệt, chính vì vậy việc đào tạo liên tục bổ sung YHCT là hoàn toàn cầnthiết

1.2.2 Chương trình đào tạo liên tục

Trung Quốc có 27 trường Đại học YHCT (thời gian đào tạo 05 năm),

52 trường trung học YHCT và 81 trường Đại học Y khoa có khoa YHCT.Những trường đại học lớn như: Bệnh viện đại học Đông y dược Thiên Tân,Bệnh viện Đông Tây y, Bệnh viện Đông y Bắc Kinh, Bệnh viện Tây Phạm –Viện Khoa học Đông y Trung Quốc, Bệnh viện Vọng Kinh – Viện Khoa họcĐông y Trung Quốc, Bệnh viện Đông y Thành phố Thượng Hải, Bệnh việnĐại học Đông y dược Thành Đô, Viện Đông y tỉnh Chiết Giang, Viện Đông ytỉnh Quảng Đông, Viện Đông y tỉnh Cam Túc, trường đại học có từ lâu đời

Trang 12

nhất ở Trung Quốc là trường đại học Đông y dược Thiên Tân: thành lập năm

1954, là đơn vị điều trị Đông y có quy mô lớn nhất, thành lập sớm nhất ởThiên Tân Có tổng diện tích hơn 80 000m2, 1300 giường, số bệnh nhân nhậpviện hàng ngày duy trì ở mức trên 1700 người Số bệnh nhân đến khám hàngngày trên 7000 lượt người, số bệnh nhân đến khám hàng năm liên tục trongsuốt 20 năm qua đều trên 1triệu lượt người Tỉ lệ giường bệnh sử dụng hàngnăm liên tục trong suốt 15 năm qua đều trên 100% Mô hình hoạt động theo

đó có khoa đa khoa: Có 35 khoa kỹ thuật, lâm sàng, 103 phòng khám chuyênkhoa, 24 khu bệnh nội trú Năm 2009, đã có 300.000 sinh viên theo học tạicác trường Đại học YHCT, trong đó có 3.000 sinh viên nước ngoài [4],[5],[8]

Đối với Nhật Bản để trở thành một Kampo, người thầy thuốc phải tốtnghiệp trường đại học y trở thành bác sỹ y học hiện đại và có thời gian thực tếlâm sàng 03 năm, sau đó học thêm 03 năm về YHCT Trên 90% bác sỹ NhậtBản thường xuyên kết hợp YHHĐ với thuốc YHCT trong khám và điều trịbệnh cho người dân tại cộng đồng và việc kê đơn thuốc YHCT của các bác sỹtrên cơ sở các bài thuốc YHCT ghi trong dược điển (kể cả sự gia giảm của bàithuốc) Trên lâm sàng, YHCT Nhật Bản được đưa vào khám và điều trị kếthợp với YHHĐ trong 25 chuyên ngành (lão khoa, nhi khoa, tiêu hóa, xươngkhớp, sản khoa, phụ khoa, da liễu, tiết niệu, tim mạch, thận, phổi ) Mộttrong những nguyên nhân giúp cho YHCT được người dân sử dụng nhiều là:

từ năm 1976 Nhật Bản đã đưa 148 bài thuốc Kampo và 6 phương pháp châmcứu vào mục chi trả của bảo hiểm y tế quốc gia và Kampo còn đáp ứng đượccác yếu tố tâm linh và tinh thần của người Nhật [4],[6],[10]

Singapore tính đến ngày 31-12-2009, Singapore có 2.421 cán bộ đăng kýhành nghề YHCT Việc khám bệnh, chữa bệnh bằng YHCT được người

Trang 13

Singapore tin dùng Singapore có ba chủng tộc chính, chủ yếu là người TrungQuốc (74,7%), người Malaysia chiếm 13,6%, người Ấn Độ chiếm 8,9% Yhọc cổ truyền tại nước này gồm các phương pháp chữa bệnh chính là: YHCTTrung Quốc (sử dụng châm cứu và nguyên liệu thuốc Trung Quốc); Y học cổtruyền Malaysia (sử dụng dược liệu thuốc của Malaysia hoặc Jamu chủ yếu từIndonesia và Malaysia); Y học cổ truyền Ấn Độ (sử dụng dược liệu thuốchoặc Ayurveda chủ yếu từ Ấn Độ) [5],[7]

Thái Lan: Bộ Y tế Công cộng Thái Lan đã lồng ghép các loại thuốc thảodược vào chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu từ khi có kế hoạch pháttriển Y tế Quốc gia lần thứ 4 (1977-1981) bằng cách lựa chọn 60 cây thuốc sửdụng trong chăm sóc sức khỏe ban đầu Cẩm nang về các cây thuốc được lựachọn đã in thành sách xuất bản và cấp cho các tình nguyện viên về thôn bảntrong cả nước để thúc đẩy việc trồng cây thuốc tại cộng đồng và giáo dụcngười dân hiểu về lợi ích của các cây thuốc, góp phần điều trị các bệnh và cáctriệu chứng thông thường để tăng cường việc tự chăm sóc sức khỏe[5]

1.3 Hình thức, mô hình đào tạo liên tục YHCT

Tại Nhật Bản, với lịch sử nền YHCT trên 1400 năm, được xem là mộttrong những nước có tỷ lệ người khám chữa bệnh bằng YHCT cao nhất thếgiới hiện nay Thầy thuốc YHCT Nhật Bản là sự kết hợp giữa YHCT TrungQuốc và thuốc dân gian Nhật Bản gọi chung là Kampo Kampo được đàotạo như sau: sau khi tốt nghiệp ở trường y (6 năm) và thực hành 3 năm tạicác cơ sở khám chữa bệnh, sau đó học thêm 3 năm về YHCT mới trở thànhKampoo Tính từ năm 1974 đến 1989, sử dụng các loại thuốc YHCT ở NhậtBản đã tăng 15 lần trong khi các loại tân dược chỉ tăng 2,6 lần Ít nhất 65%bác sĩ ở Nhật khẳng định rằng họ đã sử dụng phối hợp đồng thời thuốc YHCT

và thuốc YHHĐ [11] Lý do giải thích là Kampoo không gây phản ứng,

Trang 14

không gây tác dụng phụ, ngoài ra y học Kampoo còn đáp ứng các yếu tố tâmlinh và tinh thần của người Nhật [11] Một bài thuốc Kampoo dự định ápdụng cho bệnh nhân phải qua 2 giai đoạn: giai đoạn 1 tất cả bệnh nhânđược cho sử dụng và những người có đáp ứng với thuốc được lựa chọn, giaiđoạn 2 một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng chỉ bao gồmnhững người bệnh nhân có đáp ứng với thuốc được tiến hành trên và đánh giátác dụng của thuốc [12],[13] Kampoo không nằm trong hệ thống nhà nướcnhưng được khuyến khích phát triển và Nhật Bản là nước có tỷ lệ người dân

sử dụng YHCT cao nhất thế giới [14] Hiệp hội y học Nhật Bản thành lập ủyban đào tạo y khoa liên tục tại các vào năm 1984 và triển khai chương trìnhđào tạo y khoa liên tục năm 1987 Chương trình đào tạo Y khoa liên tục tạiNhật Bản yêu cầu người tham gia đào đạo gửi các bài luận đến tạp chí y họcNhật Bản bằng được bưu điện hoặc bằng hệ thống học tâp trực tuyến (saunăm 2004) Các bác sĩ có bài báo được phê duyệt và xuất bản sẽ được cấpchứng chi Hiện tại theo hiệp hội y học Nhật bản áp dụng tiêu chí mới choviệc xét duyệt hoàn thành đào tạo y khoa liên tục bằng hình thức cấp chứngnhận cho mỗi sự tham gia của bác sĩ trong các chương trình có cấp chứng nhậnnhư: Tham gia giảng dạy, báo cáo hội thảo, báo cáo hội nghị, làm các bài kiểmtra trên hệ thống học tập trực tuyến, viết sách, báo khoa học Chứng chỉ đào tạoliên tục sẽ được cấp cho bác sĩ hoàn thành 10 chứng nhận trong một năm vàchứng chỉ ghi nhận hoàn thành đào tạo Y khoa liên tục sẽ được cấp cho bác sĩnhận được 3 chứng chỉ đào tạo liên tục trong 3 năm liên tiếp [15]

Tại Hàn Quốc, để trở thành một bác sĩ YHCT một người phải trải qua 7năm học tập (3 năm tiền y khoa và 4 năm ở trường y khoa) Sau khi tốt nghiệpđược cấp chứng chỉ hành nghề thì bác sĩ bắt buộc phải thực hiện đào tạo liêntục hàng năm Các các bác sĩ Y học nói chung và YHCT nói riêng bắt buộcphải tham gia các khóa đào tạo liên tục hàng năm theo đạo luật/nghị định thực

Trang 15

thi dịch vụ Y tế Các bác sĩ phải đạt được 8 điểm đào tạo liên tục hàng nămđược để nhận được sự phê duyệt duy trì chứng chỉ hành nghề Điểm đào tạoliên tục có thể có được qua nhiều cách thức khác nhau bao gồm: Tham gia cáchội nghị quốc gia thường kì (4 điểm đào tạo liên tục), xuất bản các bài báokhoa học (2 điểm đào tạo liên tục), tham gia các hội nghị khoa học quốc tế (4điểm đào tạo liên tục), hội nghị khoa học trong nước (2 điểm đào tạo liêntục), [16]

Mô hình đào tạo YHCT ở Trung Quốc là để trở thành một bác sĩ YHCTbạn sẽ phải theo học tập trung trong thời gian là 5 năm; đối với trung họcYHCT bạn sẽ phải theo học tập trung 3 năm [17] Ủy ban đào tạo liên tục ykhoa cấp quốc gia và cấp tỉnh có trách nhiệm hướng dẫn, điều phối và quản lýchất lượng của hoạt động đào tạo liên tục y khoa, hệ thống đào tạo trực tuyếnđang được phát triển nhưng cũng chỉ chiếm một phần tương đối nhỏ trong cáchoạt động của đào tạo y khoa liên tục Các bác sĩ sẽ lựa chọn một chủ đề hoặcvấn đề và phát triển thành một khóa học bằng các đưa tổ chức các lớp giảngtại bệnh viện theo sự hướng dẫn của các chuyện gia Bên cạnh đó, các tại liệucủa khóa học sẽ được in ấn và xuất bản thành CD Người hoàn thành khóahọc sẽ được cấp chứng nhận 3 năm sau khi hoàn thành 25 chứng nhận cáckhóa học của chương trình đào tạo liên tục[18]

1.4 Thực trạng và nhu cầu cung cấp ĐTLT về YHCT

Năm 2004, công nghiệp thuốc cổ truyền Trung Quốc đã thu được 90 tỷNhân dân tệ (tương đương 11,1 tỷ USD), tổng giá trị sản lượng chiếm 26%toàn bộ khu vực dược phẩm Trung Quốc Ngày nay, vấn đề kết hợpYHCT với YHHĐ là một trong những chủ trương chính của Trung Quốc.Trong đó các thầy thuốc YHHĐ được đào tạo thêm về YHCT, các thầy lang

cổ truyền được đào tạo thêm về YHHĐ, họ được tham gia các chương trình y

Trang 16

tế của Nhà nước và được công nhận một cách chính thức Năm 1995 TrungQuốc đã có 2.522 bệnh viện YHCT với 353.373 nhân viên y tế và 236.060giường bệnh Những bệnh viện này đã điều trị 200 triệu bệnh nhân ngoại trú

và 3 triệu bệnh nhân nội trú một năm Đồng thời 95% các bệnh viện ở TrungQuốc có khoa YHCT [17],[18].Theo ước tính có 40% người cung cấp dịch vụCSSK ở Trung Quốc là YHCT, chủ yếu tập trung ở vùng nông thôn củaTrung Quốc [19] Cùng với nhu cầu về nguồn nhân lực YHCT, yêu cầu vềnâng cao chất lượng dịch vụ và kĩ năng chuyên môn trong phục người bệnhcũng nâng lên và đào tạo liên tục là nhu cầu thiết yếu và điều kiện bắt buộc để

có thể tiếp tục hành nghề tại Trung Quốc[18]

Hiện nay, hầu như chưa có đề tài nghiên cứu nào trên thế giới đưa rađược nghiên cứu cụ thể về nguồn nhân lực để phát triển YHCT cũng như nhucầu đào tạo liên tục cho các cán bộ làm về công tác YHCT, tuy nhiên trongchiến lược phát triển YHCT năm 2002 – 2005, Tổ chức y tế thế giới tiếp tụckhẳng định vai trò và giá trị của YHCT trong chăm sóc sức khỏe ban đầu chonhân dân Chiến lược y học cổ truyền khu vực Tây Thái Bình Dương (2011 –2020) đã tính đến các thách thức và xu hướng của khu vực cũng như bối cảnhchiến lược toàn cầu Bản chiến lược đã ghi nhận phương hướng của mỗi quốcgia và vùng lãnh thổ sẽ tùy thuộc vào nhu cầu, năng lực, ưu tiên, chính sách y

tế hiện hành, các quy định, chiến lược, nguồn lực, văn hóa và lịch sử của quốcgia đó Mục tiêu của chiến lược bao gồm [17]:

- Đưa y học cổ truyền vào hệ thống y tế quốc gia

- Thúc đẩy sử dụng y học cổ truyền an toàn và hiệu quả

- Tăng cường cơ hội sử dụng y học cổ truyền an toàn và hiệu quả

Trang 17

- Thúc đẩy bảo vệ sử dụng bền vững nguồn lực y học cổ truyền

- Tăng cường hợp tác trong việc xây dựng, chia sẻ kiến thức, kỹ năng thựchành y học cổ truyền

2 Tình hình ĐTLT về YHCT tại Việt Nam

2.1 Văn bản ban hành về ĐTLT YHCT Việt Nam

Trong thư gửi Hội nghị cán bộ Y tế, ngày 27/2/1955, Chủ tịch Hồ ChíMinh đã chỉ ra: “Ông cha ta ngày trước có nhiều kinh nghiệm quý báu vềcách chữa bệnh bằng thuốc ta, thuốc bắc Để mở rộng phạm vi y học, các cô,các chú cũng nên chú trọng nghiên cứu và phối hợp thuốc “Đông” và thuốc

“Tây”[20] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng nêu rõ:Hoàn thiện và củng cố mạng lưới YHCT Vận động, khuyến khích và hướngdẫn nhân dân nuôi, trồng và sử dụng các loại cây, con làm thuốc chữa bệnh[21] Nghị quyết số: 46 - NQ/TW, ngày 23/02/2005 của Bộ Chính trị về côngtác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới, tiếptục khẳng định: phát triển đồng thời y tế phổ cập và y tế chuyên sâu; kết hợpĐông y và Tây y [22] Ngày 04/7/2008, Ban Bí thư Trung ương Đảng banhành Chỉ thị số: 24 - CT/TW về “phát triển nền Đông y Việt Nam và Hộiđông y Việt Nam trong tình hình mới” (Chỉ thị 24 - CT/TW) [18] Nhằm thểchế hóa Chỉ thị 24 - CT/TW, ngày 30/11/2010, Thủ tướng Chính phủ đã banhành Quyết định số: 2166/QĐ - TTg về việc “Ban hành Kế hoạch hành độngcủa Chính phủ về phát triển y, dược cổ truyền Việt Nam đến năm 2020”[23].Mục tiêu cụ thể trong Kế hoạch hành động của Chính phủ là đến năm 2020:100% viện có giường bệnh, bệnh viện đa khoa, chuyên khoa, có Khoa y dược

cổ truyền (YDCT); 100% Phòng khám đa khoa và trạm y tế xã, phường, thịtrấn có tổ YDCT do thầy thuốc Y dược cổ truyền của trạm y tế phụ trách;

Trang 18

khám, chữa bệnh bằng YHCT: tuyến trung ương đạt 15%, tuyến tỉnh đạt 20%,tuyến huyện đạt 25% và tuyến xã đạt 40% [5]

Năm 2008, Bộ Y tế đã ban hành thông tư số 07/2008/TT-BYT hướngdẫn công tác đào tạo liên tục đối với cán bộ y tế Bộ y tế quy định tất cả cán

bộ y tế đang hoạt động trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam phải được đào tạo cậpnhật về kiến thức, kỹ năng, thái độ trong lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ củamình Tuy nhiên, việc triển khai đào tạo liên tục nhân lực y tế theo luật khámbệnh chữa bệnh và Thông tư về đạo tạo liên tục còn khá chậm, nhiều đơn vị y

tế vẫn còn thụ động, trông chờ ở Bộ Y tế và sự hỗ trợ từ các dự án, vì vậyviệc đào tạo liên tục nhân lực y tế còn chưa đáp ứng yêu cầu như mong muốn.Đến nay, Việt Nam tuy bước đầu đã hình thành hệ thống đào tạo liên tụcnhưng chưa hoàn chỉnh Những chế độ chính sách còn chưa đầy đủ, thiếuđồng bộ khiến việc triển khai thực hiện đào tạo liên tục gặp nhiều khó khăn.Chất lượng đội ngũ nhân lực y tế không phát triển kịp theo nhu cầu, làm ảnhhưởng đến công tác chuyên môn của ngành [1]

Công tác đào tạo liên tục tuy đã triển khai trong ngành khá lâu, tuy nhiênkhó khăn chủ yếu nhất là cách tổ chức đào tạo và đặc biệt là vấn đề kinh phícho đào tạo liên tục, do vậy Thông tư số 22/2013/TT-BYT cũng đã chỉ ra để

có thể triển khai tốt công tác này thì cần phải xây dựng kế hoạch Trên cơ sở

đó mới có nguồn lực bao gồm nhân lực, vật lực và tài lực cho công tác đàotạo liên tục

Ngoài ra còn có Công văn số 2034/BYT-5K2ĐT năm 2014 tăng cườngchất lượng công tác đào tạo liên tục cán bộ y tế do Bộ y tế ban hành

Đồng thời, nhiều tổ chức và hội nghị quốc tế về YHCT đã lên tiếng kêugọi coi trọng, phát huy và phát triển YHCT vì tính sẵn có, hiệu quả và giá cả

Ngày đăng: 05/08/2019, 21:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. P B A Smits, J H A M Verbeek C D de Buisonjé (2002), "Problem based learning in continuing medical education: a review of controlled evaluation studies", BMJ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Problembased learning in continuing medical education: a review of controlledevaluation studies
Tác giả: P B A Smits, J H A M Verbeek C D de Buisonjé
Năm: 2002
12. MD. Dave Davis (1999), "Impact of Formal Continuing Medical Education Do Conferences, Workshops, Rounds, and Other Traditional Continuing Education Activitie Change Physician Behavior or Health Care Outcomes?", JAMA. 9(282), 867-874 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Impact of Formal Continuing MedicalEducation Do Conferences, Workshops, Rounds, and Other TraditionalContinuing Education Activitie Change Physician Behavior or HealthCare Outcomes
Tác giả: MD. Dave Davis
Năm: 1999
13. Maliheh Mansouri MD Jocelyn Lockyer PhD (2007), "A meta-analysis of continuing medical education effectiveness", Journal of Continuing Education in the Health Professions. 27(1), 6 - 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A meta-analysisof continuing medical education effectiveness
Tác giả: Maliheh Mansouri MD Jocelyn Lockyer PhD
Năm: 2007
15. Hiroshi MIKAMI (2011), "The Continuing Medical Education Program of the Japan Medical Association: Its history and future prospects", JMAJ. 54(4), 205–209 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Continuing Medical Education Programof the Japan Medical Association: Its history and future prospects
Tác giả: Hiroshi MIKAMI
Năm: 2011
16. Sang Yun Han (2016), "The past, present, and future of traditional medicine education in Korea", Integrative Medicine Research. 5(2), 73-82 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The past, present, and future of traditional medicineeducation in Korea
Tác giả: Sang Yun Han
Năm: 2016
18. Lewis A. Miller (2015), "CME credit systems in three developing countries: China, India and Indonesia", Journal of European CME.4(1), 27411 Sách, tạp chí
Tiêu đề: CME credit systems in three developingcountries: China, India and Indonesia
Tác giả: Lewis A. Miller
Năm: 2015
19. Therese Hesketh Wei Xing Zhu (1997), "Health in China: Traditional Chinese medicine: one country, two systems", BMJ. 315(7100), 115 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Health in China: TraditionalChinese medicine: one country, two systems
Tác giả: Therese Hesketh Wei Xing Zhu
Năm: 1997
25. Học viện y học cổ truyền Việt Nam (2008), Nghiên cứu thực trạng nguồn nhân lực y dược cổ truyền Việt Nam. Đề tài cấp nghiên cứu khoa học Cấp Bộ Y tế, tr. 45- 49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạngnguồn nhân lực y dược cổ truyền Việt Nam
Tác giả: Học viện y học cổ truyền Việt Nam
Năm: 2008
28. Vụ Khoa học - Đào tạo (2007), Một số vấn đề trong đào tạo nhân lực y tế. Tài liệu báo cáo Bộ trưởng Nguyễn Quốc Triệu,Thứ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến. Tháng 10, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề trong đào tạo nhân lực ytế
Tác giả: Vụ Khoa học - Đào tạo
Năm: 2007
30. Hoàng Thị Hoa Lý (2006), Khảo sát thực trạng nguồn nhân lực và sử dụng YHCT ở một số địa phương tỉnh Bắc Ninh, Đại học Y Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát thực trạng nguồn nhân lực và sửdụng YHCT ở một số địa phương tỉnh Bắc Ninh
Tác giả: Hoàng Thị Hoa Lý
Năm: 2006
31. Phạm Nhật Uyển (2001), Thực trạng sử dụng Y học cổ truyền tại tỉnh Thái Bình, Đại học Y Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng sử dụng Y học cổ truyền tại tỉnhThái Bình
Tác giả: Phạm Nhật Uyển
Năm: 2001
39. Phạm Việt Hoàng Đỗ Thị Phương (2011), "Kiến thức và kỹ năng thực hành YHCT của cán bộ chuyên ngành YHCT tỉnh Hưng Yên", Tạp chí Nghiên cứu Y học, Đại học Y Hà Nội. 5, 100-105 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức và kỹ năng thựchành YHCT của cán bộ chuyên ngành YHCT tỉnh Hưng Yên
Tác giả: Phạm Việt Hoàng Đỗ Thị Phương
Năm: 2011
40. Đỗ Thị Phương (2005), "Kiến thức, thái độ, thực hành sử dụng y học cổ truyền của cán bộ y tế huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên", Tạp chí Y học Thực hành. 12, 74-76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thái độ, thực hành sử dụng y học cổtruyền của cán bộ y tế huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Đỗ Thị Phương
Năm: 2005
41. Hoàng Thị Hoa Lý Nguyễn Hoàng Sơn (2006), "Đánh giá nhu cầu và kết quả khám, chữa bệnh bằng YHCT tại quận Long Biên, Hà Nội ", Hội nghị YHCT các nước ASEAN lần thứ II, Hà Nội, 108-114 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá nhu cầu vàkết quả khám, chữa bệnh bằng YHCT tại quận Long Biên, Hà Nội
Tác giả: Hoàng Thị Hoa Lý Nguyễn Hoàng Sơn
Năm: 2006
43. Trần Thúy Nga và cs (2002), Tình hình y học cổ truyền của một số tỉnh đồng bằng sông Hồng, Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học 2001 - 2002, Hà Nội, Bộ Y tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học 2001 -2002
Tác giả: Trần Thúy Nga và cs
Năm: 2002
44. Tôn Thị Tinh Đỗ Thị Phương (2007), Đánh giá thực trạng kiến thức, thực hành về y học cổ truyền của y, bác sỹ chuyên ngành y học cổ truyền tỉnh Thái Nguyên, Hội nghị toàn quốc về Y học cổ truyền năm 2007, Trường Đại học Y Hà Nội, Hà Nội, 177-179 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực trạng kiến thức,thực hành về y học cổ truyền của y, bác sỹ chuyên ngành y học cổtruyền tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Tôn Thị Tinh Đỗ Thị Phương
Năm: 2007
45. Phạm Vũ Khánh Tống Thị Tam Giang (2010), "Thực trạng hoạt động chăm sóc sức khỏe bằng Y học cổ truyền tại các cơ sở y tế tư nhân YHCT tỉnh Quảng Ninh", Tạp chí Y học thực hành. 720, 64-68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng hoạt độngchăm sóc sức khỏe bằng Y học cổ truyền tại các cơ sở y tế tư nhânYHCT tỉnh Quảng Ninh
Tác giả: Phạm Vũ Khánh Tống Thị Tam Giang
Năm: 2010
46. Phạm Phú Vinh (2012), Nghiên cứu thực trạng YHCT Lạng Sơn và đề xuất một số giải pháp để phát triển YHCT Lạng Sơn , Học viện Y Dược cổ truyền Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng YHCT Lạng Sơn và đềxuất một số giải pháp để phát triển YHCT Lạng Sơn
Tác giả: Phạm Phú Vinh
Năm: 2012
14. American Hospital Association's Leadership Forum (2014), Contiuing Medical Education as a Strategic Resource Khác
17. WHO (2011), Strategy on traditional medicine for health system in the Western pacific region, pp. 35 - 55 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w