Con người không phải là vật chủ thích hợp củagiun đũa chó/mèo, khi vô tình ăn phải các trứng có chứa ấu trùng L3 hoặc ăn thịt của vật chủ khác có chứa ấu trùng Magnaval et
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Toxocariasis là tên gọi của bệnh do ấu trùng giun đũa chó Toxocara canis hoặc ấu trùng giun đũa mèo Toxocara cati gây nên ở người Đây là
bệnh lây truyền từ động vật sang người (Magnaval et al, 2001; Despommier,2003) Trong chu kỳ phát triển, giun trưởng thành ký sinh ở ruột vật chủchính tự nhiên là chó/mèo Giun cái trưởng thành đẻ trứng, trứng ra ngoàimôi trường theo phân vật chủ Phôi trong trứng phát triển qua các giai đoạnấu trùng L1, L2 và L3.Trứng chứa ấu trùng L3 có khả năng lây nhiễm Nếuchó/mèo nuốt phải trứng đã có ấu trùng L3 thì chúng sẽ phát triển thành giuntrưởng thành ký sinh ở ruột Con người không phải là vật chủ thích hợp củagiun đũa chó/mèo, khi vô tình ăn phải các trứng có chứa ấu trùng L3 hoặc
ăn thịt của vật chủ khác có chứa ấu trùng (Magnaval et al, 2001;Despommier, 2003) thì ấu trùng thoát vỏ xâm nhập thành ruột và theo đườngmáu đến gan, phổi, mắt, hệ thần kinh trung ương và những cơ quan kháctrong cơ thể người hoặc di chuyển dưới da Ở những cơ quan này, ấu trùng dichuyển hàng tuần hay hàng tháng hoặc nằm im thành những vật lạ gây viêmvà kích thích tạo ra u hạt thâm nhiễm bạch cầu ái toan (Magnaval et al, 2001;Despommier, 2003)
Bệnh giun đũa chó/mèo xuất hiện ở mọi nơi trên thế giới, đặc biệt là ởcác nước nhiệt đới Tỷ lệ nhiễm bệnh cao thường xuất hiện ở những vùngnuôi nhiều chó/mèo và dân trí thấp Nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo tácđộng đến cơ thể người một cách âm ỉ kéo dài (ấu trùng có thể sống trong cơthể người đến 10 năm) làm ảnh hưởng đến sức khỏe, thể chất lẫn tinh thầnngười bệnh
Trang 2Tại Việt Nam trước đây, bệnh giun đũa chó /mèo được xem là bệnh ítgặp Tuy nhiên, những năm gần đây tỷ lệ người dương tính với kháng thể
kháng Toxocara spp ngày càng nhiều Hiện nay, bệnh này được xem là bệnh
ký sinh trùng mới nổi (Nguyễn Võ Hinh, 2008) Một số điều tra nghiên cứuthực hiện tại một số tỉnh phía Nam và khu vực miền Trung - Tây Nguyên chothấy tỷ lệ nhiễm ở một số vùng tương đối cao (Nguyễn Văn Chương và cs,2011) Các báo cáo về nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo ở các tỉnh phía Bắccòn rất ít Gần đây số lượng bệnh nhân đến khám tại Bộ môn Ký sinh trùng –Đại học y Hà Nội với các triệu chứng nghi ngờ nhiễm ấu trùng giun đũa chó/
mèo tương đối nhiều Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài: “Thực trạng nhiễm
và một số yếu tố liên quan đến nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo
(Toxocara spp.) của các đối tượng khám tại Bộ môn Ký sinh trùng –
Trường Đại Học Y Hà Nội” nhằm nâng cao chất lượng chẩn đoán và phòng
trị bệnh ấu trùng giun đũa chó/mèo ở người, với hai mục tiêu:
1 Nắm được thực trạng nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo (Toxocara spp.)
trên các đối tượng đến khám tại Bộ môn Ký sinh trùng – Đại học Y Hà Nội.
2 Xác định được sự hiểu biết và hành vi phòng nhiễm ấu trùng giun
đũa chó/mèo (Toxocara spp.).
1.
2.
3.
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Khái quát chung về giun đũa chó mèo và bệnh ấu trùng giun đũa chó/mèo ở người
1.1.1. Tác nhân gây bệnh và vòng đời phát triển
Tác nhân gây bệnh ấu trùng giun đũa chó mèo là giun tròn thuộc giống
Toxocara, họ Toxocaridae, liên họ Ascaridiodea, bộ Ascaridida Giống Toxocara
gồm nhiều loài ký sinh ở các loài động vật khác nhau, tuy nhiên chỉ có 2 loài được
ghi nhận là gây bệnh ở người, đó là Toxocara canis ký sinh ở chó và Toxocara cati
ký sinh ở mèo (Magnaval et al, 2001; Despommier, 2003)
Hình thái học giun đũa chó/mèo:
Giun đũa chó/mèo có màu vàng trắng, phân tính đực cái Con cái (9 - 18cm) lớn hơn con đực (4 - 10 cm) Tử cung con cái trưởng thành chứa đầy trứnghình bán thùy, dày, vỏ xù xì, kích thước 90 x 75 µm (Esfandiari et al, 2010)
Vòng đời phát triển của giun đũa chó/mèo:
Trong vòng đời phát triển, giun đũa chó/mèo trưởng thành ký sinh ở ruộtchó/mèo, chúng thải trứng ra ngoài theo phân vật chủ Sau 1 - 3 tuần, phôi phát triểnthành ấu trùng qua các giai đoạn L1, L2, L3 ở trong trứng Trứng chứa ấu trùng L3có thể nhiễm cho vật chủ Khi chó, mèo nuốt phải trứng giun đũa đã chứa ấutrùng L3.Ở ruột non chó/mèo với điều kiện thích hợp ấu trùng thoát khỏitrứng, chui qua thành ruột, theo dòng máu đến gan, tim, phổi và sau đó trở vềlại ruột non phát triển thành giun trưởng thành và bắt đầu sinh sản Giun đũachó/mèo có thể truyền từ mẹ sang con qua bào thai Thời gian sống trung bìnhcủa giun đũa chó/mèo khoảng 4 tháng, trong thời gian đó con cái có thể đẻkhoảng 200.000 trứng/ngày (Azira and Zeehaida, 2011) Theo phân chó/mèo,trứng giun đũa chó từ ruột được thải vào đất hoặc nước Trong đất, trứng có
Trang 4thể bảo tồn khả năng sống và khả năng gây bệnh trong thời gian dài, có thể tới
1 năm trong điều kiện thuận lợi (Arias et al, 2013)
Hình 1.1: Vòng đời phát triển của giun đũa chó
Người nhiễm bệnh do ăn phải trứng có chứa ấu trùng L3 qua rau, bụi,tay bẩn… hoặc ăn thịt của vật chủ khác có chứa ấu trùng (Magnaval et al,2001; Despommier, 2003) Tại ruột non, ấu trùng thoát khỏi vỏ trứng, xâmnhập qua thành ruột đi vào máu, theo dòng máu đến gan, từ đó vào tim phải.Qua động mạch phổi, các mao mạch và sau đó đi rải rác khắp các cơ quan,như gan, phổi, tụy, cơ vân, não, mắt và một số cơ quan khác có các mao mạchnhỏ (0,02 mm) và bị đọng lại tại đây Chúng không phát triển trong cơ thểngười nhưng có thể bảo tồn sự sống trong thời gian dài, dần dần ấu trùng tạonang và chết trong đó
Trang 5Ngoài người những thú vật khác như loài gặm nhấm, cừu, côn trùng,
chim và ngay cả giun đất cũng có thể mang ấu trùng giun đũa chó/mèo Tất cả
những vật chủ này được gọi là vật chủ ngẫu nhiên, ký sinh trùng không baogiờ phát triển đến giai đoạn trưởng thành, không sinh sản được Vì vậy, ởnhững người bị nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo không bao giờ tìm thấytrứng trong phân
1.1.2 Nguồn bệnh và con đường nhiễm bệnh giun đũa chó/mèo
- Nguồn bệnh:
Chó/mèo nhiễm bệnh là nguồn dự trữ và phát tán mầm bệnh chính, ổchứa trứng giun là đất, nước nhiễm phân chó/mèo Bệnh nhân nhiễm ấu trùnggiun đũa chó/mèo không phải là nguồn lây nhiễm, vì ấu trùng không pháttriển thành con giun trưởng thành trong cơ thể người vì vậy không đẻ trứng(Malloy and Embil, 1978)
- Con đường nhiễm bệnh giun đũa chó/mèo
Ở chó/mèo:
o Nhiễm trực tiếp qua đường tiêu hóa do nuốt phải trứng nhiễm ấu trùng.
o Gián tiếp qua ăn các động vật khác bị nhiễm ấu trùng.
o Nhiễm qua bào thai.
Ở người:
o Qua ăn thức ăn bị nhiễm trứng giun đũa chó/mèo, hoặc đất, nước
o Qua tiếp xúc với chó/ mèo khi chăm sóc, chơi hoặc ngủ cùng chó mèo
o Qua ăn thịt các động vật khác bị nhiễm ấu trùng
Trang 61.1.3 Đặc điểm lâm sàng của bệnh giun đũa chó/mèo ở người
Phụ thuộc vào mức độ nhiễm ấu trùng giun nhiều hay ít và tính nhạycủa người bệnh mà thời gian ủ bệnh từ vài tuần đến vài tháng
Đặc điểm lâm sàng của bệnh rất đa dạng, phụ thuộc rất nhiều vào sốlượng, vị trí ký sinh của ấu trùng và đáp ứng của cơ thể người bị nhiễm.Thông thường người bệnh có các triệu chứng toàn thân như: mệt mỏi, ănkhông ngon, thể trạng kém, sốt bất thường và bị dị ứng (nổi mẩn ngứa, nổiban mày đay…)
Hình 1.2: Triệu chứng mẩn ngứa trên bệnh nhân
Nhiễm ấu trùng giun đũa chó mèo thường gây các hội chứng chínhnhư sau: ấu trùng di chuyển nội tạng (Visceral larva migrans = VLM), ấutrùng di chuyển ở mắt (Ocular larva migrans = OLM), thể không điển hình,thể thần kinh (Neurological toxocariasis)
Trang 7- Ấu trùng di chuyển nội tạng (Visceral larva migrans = VLM)
Thể bệnh ấu trùng di chuyển nội tạng ở người đầu tiên được phát hiệnnăm 1952, ở trẻ em bị gan to và tăng bạch cầu ái toan (Beaver et al, 1952).Bệnh nhân VLM điển hình là trẻ ở độ tuổi 2 - 7 tuổi thường nghịch đất vàchơi với chó nhà Các dấu hiệu cấp tính của VLM liên quan đến sự di chuyểncủa ấu trùng ở gan và phổi, gây đau bụng, giảm sự thèm ăn, bồn chồn, sốt, ho,thở khò khè, hen suyễn Ở thể bệnh này thấy rõ nhất sự tăng bạch cầu ái toan(> 2.000 tế bào/mm3) Ở các quốc gia phương Tây, hội chứng VLM hiếm gặp,
từ 1952 đến 1979 chỉ thấy 970 trường hợp (Ehrard and Kernbaum, 1979)
- Ấu trùng di chuyển ở mắt (Ocular larva migrans = OLM)
Hội chứng ấu trùng di chuyển ở mắt xảy ra ở cả trẻ em và thanh thiếuniên Triệu chứng phổ biến nhất là mất thị giác, bắt đầu trong một khoảng thờigian vài ngày đến vài tuần Ở mắt, ấu trùng bị giữ lại tạo một khối viêm thâmnhiễm BCAT Triệu chứng điển hình bao gồm: giảm thị lực một bên, đau mắt,đồng tử trắng, lé mắt kéo dài nhiều tuần Thường gặp nhất là u hạt võng mạc cựcsau dễ nhầm với ung thư võng mạc Những biểu hiện hay gặp khác là viêmmàng bồ đào, áp - xe thuỷ tinh thể, viêm thần kinh thị giác, mủ tiền phòng.Thường bị một bên mắt, hiếm khi cả hai mắt cùng bị Bệnh ở mắt thường khôngthấy tăng BCAT, gan to hay các triệu chứng khác ở thể bệnh ấu trùng di chuyểnnội tạng OLM dường như là một bệnh lưu hành ở một số khu vực với ước tínhtỷ lệ 1/100.000 người ở Alabama, Hoa Kỳ (Maetz et al, 1987)
- Thể bệnh không điển hình
Tỷ lệ huyết thanh dương tính cao, nhưng số lượng các ca bệnh mắc 2thể bệnh VLM và OLM ít đã gợi ý các cuộc điều tra tìm kiếm các dấu hiệukhác của bệnh nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo Hai cuộc điều tra được thựchiện tại Pháp và Ai-len đã được thực hiện để giải quyết vấn đề này
Trang 8Ở người trưởng thành tại Pháp, bệnh ấu trùng giun đũa chó mèo đặctrưng lâm sàng bởi sự ốm yếu, ngứa, phát ban, khó thở và đau bụng Nhữngphát hiện trong phòng thí nghiệm bao gồm tăng bạch cầu ái toan (trung bình1.444 tế bào/mm3), tăng nồng độ kháng thể IgE (trung bình, 851 IU/ml) Hộichứng này được gọi là "phổ biến" ở người lớn (Magnaval et al, 1994)
Tại Ai-len, triệu chứng lâm sàng thường gặp nhất ở trẻ em là sốt, chán
ăn, nhức đầu, đau bụng, buồn nôn, nôn mửa, rối loạn hành vi và ngủ, viêmhọng, viêm phổi, ho, thở khò khè, đau chân tay, viêm hạch Hai bảy phần
trăm bệnh nhân có hàm lượng kháng thể kháng Toxocara có hàm lượng bạch
cầu ái toan bình thường Thể bệnh này gọi là thể ẩn tính
- Thể thần kinh (Neurological toxocariasis)
Ấu trùng giun đũa chó/mèo di chuyển trong não động vật thí nghiệm.Tuy nhiên, từ năm 1950 đến nay, gần 20 trường hợp bệnh ấu trùng giun đũa ở
não người đã được xác định qua hình ảnh ấu trùng Toxocara trong dịch não
tủy, mô não, màng não, và/ hoặc chẩn đoán miễn dịch trên dịch não tủy
(Wang et al, 1983; Hill et al, 1985; Russegger and Schmutzhard, 1989;
Ruttinger and Hadidi, 1991; Kumar and Kimm, 1994; Komiyama et al, 1995;Duprez et al, 1996) Cũng như VLM, dấu hiệu lâm sàng của các rối loạn thầnkinh là không đặc hiệu (Magnaval et al, 1997), dẫn tới khả năng có thể chẩnđoán nhầm tình trạng này
Chẩn đoán bệnh ấu trùng giun đũa chó/mèo ở người
Chẩn đoán bệnh ấu trùng giun đũa chó/mèo tương đối khó khăn vì cáctriệu chứng lâm sàng đa dạng và thường không đặc hiệu Nếu thấy có cáctriệu chứng mề đay, mẩn ngứa, sốt kéo dài, ho, thở khò khè, triệu chứng thầnkinh, tổn thương ở mắt… thì cần nghĩ tới nhiễm ấu trùng giun đũa chó mèovà kết hợp thực hiện các phương pháp chẩn đoán khác để khẳng định, baogồm các phương pháp sau:
Trang 9- Tìm hiểu tiền sử bệnh nhân: có tiếp xúc với chó/mèo hay các hoạtđộng liên quan đến tiếp xúc với nguồn bệnh không, như nghịch đất, mút tay,
ăn rau sống
Chẩn đoán hình ảnh:
Kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh có thể được sử dụng để phát hiện và xác
định vị trí tổn thương u hạt do ấu trùng Toxocara Siêu âm bụng cho thấy
nhiều vùng giảm âm trong gan ở trẻ em bị gan to, tăng bạch cầu ái toan và
huyết thanh dương tính với Toxocara (Baldisserotto et al, 1999)
Sử dụng chụp cắt lớp vi tính (CT) thấy hình ảnh tổn thương gan xuấthiện dưới dạng các vùng mật độ thấp (Dupas et al, 1986; Ishibashi et al,1992) Trong hệ thần kinh trung ương, hình ảnh cộng hưởng từ (MRI) chothấy u hạt xuất hiện là các vùng cường độ cao, chủ yếu nằm vỏ não hoặc dưới
vỏ não (Ruttinger and Hadidi, 1991) Ở 11 bệnh nhân bị thể bệnh OLM, siêu
âm thấy khối ngoại vi phản chiếu cao, dải thủy tinh hoặc các màng, và võngmạc bị bong tách (Wan et al, 1991)
Chẩn đoán cận lâm sàng
Tăng bạch cầu ái toan máu ngoại vi mặc dù không đặc hiệu đối vớinhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo, nhưng cho thấy có liên quan đến thể bệnhVLM Ngược lại, ở bệnh nhân OLM không thấy tăng bạch cầu ái toan(Glickman and Schantz, 1981), có thể là do mật độ ấu trùng thấp (thường làmột ấu trùng) Ở thể bệnh phổ biến và ẩn tính, một số bệnh nhân không tăngbạch cầu ái toan Vì vậy, các chẩn đoán xét nghiệm khác cần xem xét, tốt nhấtlà xác định nồng độ kháng thể IgE
Chẩn đoán phòng thí nghiệm có thể đạt được bằng cách khám bệnh lýcác cơ quan, bao gồm gan (Kirchner and Altmann, 1987), não (Hill and et al,1985), phổi hoặc mắt (Neafie and Connor, 1976) Ở thể bệnh mắt, ấu trùng di
Trang 10chuyển có thể được quan sát trực tiếp dưới võng mạc (Meyer Riemann et al,1999) Tuy nhiên, kiểm tra ký sinh trùng trực tiếp thường ít thấy, và phươngpháp chẩn đoán huyết thanh học là chính.
Kỹ thuật chẩn đoán huyết thanh học phổ biến nhất là kỹ thuật miễn dịchliên kết enzyme - sorbent assay (ELISA) với kháng nguyên là chất tiết của ấutrùng giun đũa chó/mèo (De Savigny et al, 1979) Sử dụng chất tiết từ ấu
trùng T canis nuôi trong ống nghiệm làm tăng độ đặc hiệu của phản ứng ELISA (Jacquier et al, 1991) Kết quả ELISA dương tính với Toxocara spp.
có thể được khẳng định bằng kỹ thuật Western blot (WB), với độ nhạy cũngnhư ELISA, và khá đặc hiệu khi các băng trọng lượng phân tử thấp hơn, từ 24đến 35 kilodalton (Magnaval et al, 1991) Một bộ kit thương mại hiện đượccung cấp ở Châu Âu cho kết quả rất tốt
Các xét nghiệm hấp phụ miễn dịch liên kết enzyme (ELISA) sử dụngcác kháng nguyên được tiết ra bởi ấu trùng giai đoạn hai, có độ đặc hiệu thíchhợp để chẩn đoán nhiễm bệnh Kháng nguyên tái tổ hợp đã được sản xuất từấu trùng giai đoạn 2 hứa hẹn độ đặc hiệu cao hơn kỹ thuật đáng tin cậy hiệnhành (khoảng 92%) ELISA có độ nhạy cao (khoảng 78%), ở nồng độ huyếtthanh lớn hơn 1:32
Phát hiện các loại globulin miễn dịch khác ngoài IgG có thể hữu íchtrong chẩn đoán phân biệt Tăng nồng độ IgE đặc hiệu với kháng nguyên TES
- Ag, được đo bằng kỹ thuật miễn dịch - phóng xạ (Genchi et al, 1988) vàELISA (Magnaval et al, 1992) đã được xác định ở bệnh nhân có dấu hiệu lâmsàng nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo
ELISA xác định kháng thể IgG trong huyết thanh đặc hiệu với
Toxocara spp ít nhạy cảm hơn đối với chẩn đoán thể mắt OLM so với các
dạng bệnh khác (Glickman et al, 1986) Vì vậy, cần thu nước hoặc dịch lỏng ở
Trang 11mắt khi nghi ngờ thể bệnh ở mắt Kháng thể chống lại Toxocara spp trong
những chất lỏng này cao hơn so với ở huyết thanh và do đó, chẩn đoán tốt hơn
so với huyết thanh ở những bệnh nhân thể mắt (Brasseur et al, 1984)
Khi đọc kết quả huyết thanh học, cần lưu ý rằng rất nhiều bệnh nhânhuyết thanh dương tính qua xét nghiệm sàng lọc các quần thể lớn có thể bịnhiễm trong quá khứ chứ không phải nhiễm hiện tại Chỉ những bệnh nhân có
dấu hiệu lâm sàng nhiễm Toxocara spp mới cần điều trị, vì xét nghiệm miễn
dịch học không có khả năng phân biệt giữa nhiễm hiện tại và quá khứ Vì vậy,chẩn đoán miễn dịch học cần kèm theo kiểm tra bạch cầu ái toan máu và nếucó thể, xác định lượng IgE huyết thanh
Phát hiện cả tăng bạch cầu ái toan máu ngoại vi và xét nghiệm huyếtthanh dương tính là chỉ thị của nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo hiện tại.Chẩn đoán ít chắc chắn ở những bệnh nhân không tăng bạch cầu ái toan,nhưng có những dấu hiệu của thể bệnh ẩn tính Trong những trường hợp đó,tăng nồng độ IgE tổng số > 500 IU ml là bằng chứng của nhiễm gần đây Pháthiện protein trao đổi cation với bạch cầu ái toan (ECP) được tiết ra bởi bạchcầu ái toan cũng có thể hữu ích, vị sự tích tụ các tế bào này ở các mô
1.1.4 Điều trị bệnh ấu trùng giun đũa chó mèo ở người
Các dẫn xuất từ benzimidazole bao gồm thiabendazole (TBZ),mebendazole (MBZ), và albendazole (ABZ) được sử dụng phổ biến
TBZ được cho uống hàng ngày, liều 25 - 50 mg/kg kéo dài 3 - 7 ngày.Tác dụng phụ bao gồm chóng mặt, buồn nôn, nôn mửa
MBZ, liệu pháp điều trị tốt nhất lịch trình là 20 - 25 mg/kg/ngày trong 3tuần, hiệu quả giảm 70% các triệu chứng lâm sàng Tác dụng phụ bao gồmmệt mỏi, chóng mặt, buồn nôn, đau bụng và dạ dày nhẹ
Trang 12ABZ liều 10 mg/kg/ngày trong 5 ngày, cải thiện lâm sàng ở 47% bệnhnhân nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo Tác dụng phụ nhẹ được thông báo ở60% bệnh nhân
Người nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo có nên điều trị hay không phụthuộc vào loại và mức độ nghiêm trọng của các dấu hiệu lâm sàng Nhiễmbệnh ở thể VLM cấp tính ở trẻ em và người lớn thường được điều trị triệuchứng kết hợp với thuốc đặc hiệu Bệnh nhân nhiễm ở thể phổ biến hoặc ẩntính cùng với chứng tăng bạch cầu ái toan ngoại biên, cần được điều trị thậntrọng vì những thể bệnh này thường tự khỏi Do đó, điều trị bằng thuốc tẩygiun không bắt đầu ngay lập tức, nhưng có thể được xem xét ở những bệnh
nhân vẫn có triệu chứng mặc dù đã nỗ lực ngăn ngừa tái nhiễm Toxocara spp Các đối tượng không triệu chứng nhưng bị tăng bạch cầu ái toan mạn
tính và những bệnh nhân mắc thể ẩn tính mà không tăng bạch cầu ái toan thìkhông cần phải điều trị đặc hiệu
Với bệnh nhân thể OLM, chưa có thử nghiệm điều trị dạng bệnh này.Tuy nhiên, có báo cáo khuyên dùng corticosteroids để giảm viêm hiệu quả vàcó thể giảm thiểu tổn thương mắt gây ra bởi sự thải kháng nguyên của ấutrùng giun Phác đồ điều trị thường khoảng 1 mg/kg/ngày từ 1 tháng trở lên,nếu cần, thì liều lượng giảm dần Trong số các phương pháp vật lý, chiếu tialaser được chỉ định khi ấu trùng được nhìn thấy trong mắt U hạt có thể đượcđiều trị bằng áp lạnh
Điều trị bệnh nhân thể thần kinh bao gồm sự kết hợp corticosteroids vàDEC, hoặc MBZ hoặc TBZ, hoặc chỉ DFC hoặc TBZ Kết quả của nhữngnghiên cứu này không rõ ràng
Theo dõi sau điều trị
Đối với việc theo dõi sau điều trị (ngoại trừ thể OLM), chỉ số bạch cầucái toan có vẻ hữu ích Trong một thử nghiệm so sánh DEC và MBZ, cả hai
Trang 13đều giảm số lượng bạch cầu ái toan sau 1 tháng điều trị, trong khi nồng độ
IgE không thay đổi Việc phát hiện IgG chống Toxocara spp đặc hiệu bởi
ELISA dường như không hữu ích để theo dõi liệu pháp Khi so sánh hàmlượng kháng thể giữa trẻ không được điều trị và trẻ được điều trị, biến động
kháng thể chống IgG Toxocara spp không bị ảnh hưởng Ngược lại, nồng độ huyết thanh IgE chống Toxocara spp dường như giảm đáng kể sau điều trị
nếu nó tăng đáng kể trước khi điều trị, đặc biệt ở bệnh nhân dị ứng
1.1.5 Phòng bệnh ấu trùng giun đũa chó/mèo (Huỳnh Hồng Quang, 2008)
Hạn chế tối đa tiếp xúc các vật chủ nhạy cảm, các con chó/mèo bịnhiễm và môi trường nghi ngờ có bệnh
Chó/mèo cần tẩy giun bắt đầu từ 2 đến 3 tuần tuổi Tẩy 2 tuần/ 1 lầncho đến 12 tuần tuổi Chó mèo trưởng thành nên tẩy hai lần/năm Điềutrị chó cái cũng được chỉ định sau mỗi chu kỳ động dục
Phải có quy trình kiểm tra phân định kỳ và có kế hoạch điều trị cần thiết
Cấm chó/mèo chạy trong khu vườn chơi, công viên hoặc các hộp cáttông nơi ở của chó/mèo
Nhanh chóng loại bỏ các thùng chứa phân chó/mèo
Giáo dục sức khỏe bởi các bác sĩ thú y, các thầy thuốc, các nhà hoạtđộng xã hội và những chủ vật nuôi để góp phần vào công tác dựphòng và phòng chống bệnh
Rửa tay sau khi chơi ở nơi có cát và vật nuôi
1.2 Tình hình nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo trên thế giới
Nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo (Toxocariasis) ở người được Willder
mô tả lần đầu năm 1950 khi phát hiện ấu trùng của giun trong u hạt võng mạc(retinal granuloma) Sau đó, bệnh ở người được Beaver mô tả năm 1952, trên
bệnh nhân có bệnh lý ở gan và phổi Ấu trùng Toxocara spp được phát hiện
Trang 14sau khi giải phẫu tử thi, sinh thiết gan, phổi Beaver và cộng sự đã chứng
minh có sự hiện diện của ấu trùng giun đũa chó ở người và gọi đó là bệnh “ấu trùng di chuyển nội tạng”.
Toxocariasis là một trong những bệnh giun sán truyền từ động vật sangngười phổ biến nhất, xuất hiện khắp mọi nơi trên thế giới, không phụ thuộcvào nông thôn hay thành thị, ngay cả những nước phát triển, như Nhật Bản,
Mỹ, Úc, Pháp, vẫn có khả năng nhiễm và thậm chí nhiều hơn ở một số vùng
so với các quốc gia đang phát triển Các nghiên cứu nhận thấy rằng tỷ lệ mắcbệnh do giun đũa chó/mèo ở vùng nhiệt đới cao hơn do nhiệt độ và độ ẩmthích hợp cho sự hình thành phôi của trứng
Đây là bệnh lây truyền từ động vật và truyền qua đất Nghịch đất hoặc
ăn đất làm tăng nguy cơ nhiễm bệnh, đặc biệt là trẻ em sống ở nhà có chó conchưa được tẩy giun Vệ sinh cá nhân kém cũng như ăn rau sống được trồng ởvườn nhà bị nhiễm bẩn có thể gây nhiễm liều thấp mãn tính Ít phổ biến hơnliên quan đến tiêu thụ thịt sống của vật chủ chứa, như gà (Nagakura et al,1989), cừu (Salem và Schantz, 1992) hoặc thỏ (Sturchler et al, 1990) Trong
số sinh viên thú y tại Toulouse (Pháp), tỷ lệ huyết thanh dương tính với
Toxocara spp cao hơn ở những người thường ăn sống gan bê hoặc nấu chưa
chín kỹ so với những người ăn chín (Baixench và et al, 1992) Điều nàykhuyên rằng ấu trùng lây nhiễm có thể giải phóng khỏi mô động vật trong quátrình tiêu hóa và sau đó gây bệnh cho người
Tỷ lệ mắc bệnh giun đũa chó/mèo ở người liên quan trực tiếp với tỷ lệnhiễm trùng ở chó/mèo và tập quán thả rông chó/mèo ở nơi công cộng Bệnhxảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng trẻ em có nguy cơ mắc bệnh cao hơn người lớn dothói quen chơi của trẻ và khuynh hướng đưa tay vào miệng, đặc biệt ở những trẻchậm phát triển, không có sự khác biệt về chủng tộc, bé trai có tỷ lệ mắc bệnh
Trang 15cao hơn trẻ gái Hội chứng ấu trùng di chuyển nội tạng thường xảy ra ở trẻ 1-7tuổi, trong khi ấu trùng di chuyển ở mắt hay gặp ở trẻ lớn và trung niên.
Các cuộc điều tra về tỷ lệ nhiễm ở các nước phương Tây thấy rằng từ 5% người trưởng thành khỏe mạnh ở khu vực thành thị dương tính và tỷ lệnày ở nông thôn là 14,2 - 37% (Magnaval et al, 1994a)
2-Ở các nước nhiệt đới tỷ lệ huyết thanh dương tính với Toxocara spp cao
hơn, cụ thể là 63,2% ở Bali (Chomel et al, 1993), 86% ở trẻ em tại Saint Lucia, Tây Ấn Độ (Thompson et al, 1986), và 92,8% ở người lớn ở LaReunion (Lãnh thổ nước ngoài của Pháp, Ấn Độ Dương) (Magnaval et al,1994) Một nghiên cứu trên cộng đồng người miền núi phía Bắc Đài Loan cho
-thấy tỷ lệ dương tính Toxocara spp là 57% Đặc biệt ở Nepal tỷ lệ huyết
thanh dương tính là 81,0% Điều này cho thấy mức độ ô nhiễm đáng kể củaphân chó/mèo trong môi sinh (Zibaei et al, 2010)
1.3 Tình hình nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo tại Việt Nam
Trước đây, bệnh ấu trùng giun đũa chó/mèo ở người tại Việt Nam chưađược nghiên cứu nhiều, vì hiểu biết về bệnh này ở nước ta còn hạn chế, thậm chíngay cả với các bác sĩ Hơn nữa, các triệu chứng lâm sàng không đặc hiệu vàviệc xét nghiệm phân không áp dụng được trong bệnh này do giun không pháttriển được đến giai đoạn trưởng thành và đẻ trứng trong ruột của người Nhữngnăm gần đây đã có một số nghiên cứu điều tra huyết thanh học (ELISA) ở một
số địa điểm, chủ yếu ở miền Nam và miền Trung - Tây Nguyên
Năm 1988, tại bệnh viện Nhi đồng II, Thành phố Hồ Chí Minh, TrầnVinh Hiển gặp một bệnh nhi bị sốt kéo dài, bạch cầu ái toan tăng rất cao Huyếtthanh của bệnh nhân được gửi sang Pháp xét nghiệm đã xác định là trường hợpnhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo Sử dụng kỹ thuật ELISA với kháng nguyênchất tiết của ấu trùng giun đũa chó/mèo đã phát hiện hàng ngàn người có huyếtthanh dương tính (Trần Thị Kim Dung, Trần Phủ Mạnh Siêu, 2009)
Trang 16Trong một nghiên cứu ở khoa Miễn dịch của Trường Đại học Y DượcThành phố Hồ Chí Minh, tỉ lệ huyết thanh dương tính với kháng nguyên giunđũa chó/mèo trên các bệnh nhân có triệu chứng dị ứng là 46,9% Trong số bệnhnhân nghiên cứu có triệu chứng ngứa và phản ứng huyết thanh dương tính với
kháng nguyên giun đũa chó/mèo được điều trị Albendazole 800 mg/ngày trong
21 ngày thì chỉ có 11,3% hết triệu chứng ngứa Một số báo cáo ca bệnh nhiễm
ấu trùng giun đũa chó/mèo có tổn thương cơ quan nội tạng, tăng bạch cầu ái
toan, tăng IgE và phản ứng huyết thanh đối với kháng nguyên giun đũachó/mèo
Một điều tra khảo sát tình hình nhiễm ấu trùng giun đũa chó ở xã ThạnhTân, thị xã Tây Ninh năm 2009 cho thấy tỷ lệ huyết thanh dương tính
với Toxocara canis là 20,6% (Trần Thị Hồng, Trần Vinh Hiển, 1997).
Theo dõi tình hình nhiễm Toxocara canis trong số cán bộ chiến sĩ công
an nghi ngờ nhiễm ký sinh trùng đến khám và điều trị tại bệnh viện 30 - 4 TP
HCM, cho các số liệu sau: năm 2011 huyết thanh dương tính với Toxocara spp là
40/861 (4,6%) trường hợp, năm 2012 tỷ lệ này là 130/1628 (8%) trường hợp (MaiThị Trong, 2013)
Tại phòng khám của Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng QuyNhơn trong năm 2009 đã phát hiện 4.652 trường hợp huyết thanh dương tínhvới giun đũa chó/mèo Các trường hợp nhiễm này phân bố rất rộng nhưng chủyếu là khu vực miền Trung - Tây Nguyên Tỉnh được phát hiện nhiễm cao
nhất là Bình Định 2.706 ca, tiếp theo là Gia Lai 786 ca, Phú Yên 520 ca, Quảng Ngãi 304 ca, Đăk Lăk 228 ca Nhóm tuổi từ 15 tuổi trở lên nhiễm chủ
yếu với 4.134 ca, nhóm tuổi nhỏ từ 1 - 4 tuổi chỉ phát hiện có 44 ca Tuynhiên, đa số bệnh nhân đến khám là người lớn, trẻ em rất ít nên không thể xácđịnh là nhóm tuổi nhỏ nhiễm thấp hơn người lớn
Trang 17Ở miền Bắc chưa có nhiều báo cáo về tình hình nhiễm ấu trùng giunđũa chó/mèo ở người Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Quyên tại tỉnh PhúThọ cho thấy tỷ lệ huyết thanh dương tính với ấu trùng giun đũa chó/mèo rấtcao từ 72,5 – 87,6% (Nguyễn Thị Quyên, 2017) Tỷ lệ nhiễm giun đũachó/mèo trên bệnh nhân đến khám và điều trị tại Bệnh viện 103 là 35%(Nguyễn Thị Nga và cs, 2013).
Như vậy điều tra tại cộng đồng cho thấy tỷ lệ nhiễm giun đũa chó/mèotại một số địa phương ở nước ta tương đối cao Nguyên nhân là ở nước ta chó/mèo được nuôi phổ biến, thường thả rông, phân chó gặp ở khắp nơi Các
nghiên cứu trước đây cho thấy chó ở Bắc Bộ nhiễm giun đũa chó với tỷ lệ dao
động từ 16,7 - 47,1% (Houdemer, 1938; Đỗ Hài, 1972) Tỷ lệ chó mẹ nuôicon nhiễm giun đũa chó tới 73,7% Một khảo sát tình hình nhiễm giun trònđường tiêu hóa ở chó tại một số địa phương tỉnh Thanh Hóa gần đây cho thấy
qua mổ khám tỷ lệ chó nhiễm Toxocara canis chiếm từ 10% - 25% và qua xét
nghiệm phân là 22,8% - 40% (Võ Thị Hải Lê và Nguyễn Văn Thọ, 2011).Ngoài ra, khảo sát trên 90 mẫu rau sống bán tại các siêu thị trên địa bàn TP
Hồ Chí Minh thấy 67,7% số mẫu rau nhiễm trứng giun đũa chó/mèo (Lê ThịNgọc Kim và cs, 2007), số mẫu đất có nhiễm trứng giun đũa chó/mèo thayđổi từ 5 - 26% (Trần Thị Kim Dung và cs, 2005)
Có thể thấy rằng nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo tương đối phổ biến ởnước ta, đặc biệt là ở khu vực miền Nam và miền Trung - Tây Nguyên, sốliệu về bệnh này ở các tỉnh miền Bắc còn rất ít Hiện nay, một số bệnh việnquan tâm đến khám, xét nghiệm và điều trị cho bệnh nhân, nhưng chưa đisâu nghiên cứu về tình hình dịch tễ, các yếu tố nguy cơ nhiễm bệnh Các sốliệu này rất cần thiết cho việc kiểm soát bệnh Vì vậy, chúng tôi tiến hành
đề tài “Thực trạng nhiễm và một số yếu tố liên quan đến nhiễm ấu trùng
giun đũa chó/mèo (Toxocara spp.) của các đối tượng khám tại Bộ môn Ký
sinh trùng – Trường Đại Học Y Hà Nội”
Trang 18CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, nguyên liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Bệnh nhân đến khám, xét nghiệm tại Bộ môn Ký sinh trùng - Đại học
Y Hà Nội có một số triệu chứng lâm sàng nghi ngờ: mẩn ngứa hay nổi mềđay, đau bụng, đau đầu, nhức mỏi, kết quả siêu âm hay cắt lớp vi tính (CT) cótổn thương ở gan
- Bệnh nhân được giải thích rõ và đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.2 Nguyên liệu nghiên cứu
- Mẫu huyết thanh của các bệnh nhân đến khám tại Bộ môn Ký sinhtrùng - Đại học Y Hà Nội
2.1.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện tại Bộ môn Ký sinh
trùng - Trường Đại học Y Hà Nội
- Thời gian nghiên cứu: từ năm 2016 - 2017.
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Xác định tình hình nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo ở các đối tượng có dấu hiệu lâm sàng nghi ngờ nhiễm Toxocara spp đến khám và làm xét nghiệm tại Bộ môn Ký sinh tùng - Trường đại học Y Hà Nội.
2.2.2 Xác định một số yếu tố liên quan đến nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Cỡ mẫu nghiên cứu
- Tổng số 397 bệnh nhân đến khám và làm xét nghiệm ELISA Toxocara
spp tại Bộ môn Ký sinh trùng - Trường Đại học Y Hà Nội.
Trang 19- Lấy máu và chắt huyết thanh: bệnh nhân được lấy 1ml máu ở tĩnh mạch
trong chất chống đông dùng để xét nghiệm công thức máu và 1ml dùng đểchắt huyết thanh làm xét nghiệm ELISA
2.3.2 Kỹ thuật xét nghiệm ELISA tìm kháng thể chống ấu trùng giun đũa chó/mèo
- Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng bộ Kit Toxocara ELISA của
Mỹ sản xuất, với độ nhạy 93%, độ đặc hiệu 88% để phát hiện kháng thể IgG
đặc hiệu với Toxocara spp trong huyết thanh người bị nhiễm ấu trùng giun
đũa chó/mèo, với các thông tin của bộ Kit như sau :
Bảng 2.1.Thông tin của bộ Kit Toxocara ELISA
Phương pháp Kỹ thuật miễn dịch gắn men (ELISA)
Trang 20Hình 2.1: Bộ Kit Toxocara ELISA
+ Nguyên tắc hoạt động của bộ kit
Bộ kit hoạt động theo nguyên tắc phản ứng ELISA gián tiếp phát hiện
kháng thể: kháng nguyên Toxocara spp đã gắn sẵn trong các giếng nhựa
polystyren kết hợp với kháng thể đặc hiệu có trong huyết thanh người, sau đókháng thể kết hợp với kháng kháng thể IgG người gắn men peroxidase Phứchợp này được phát hiện bằng cách cho thêm cơ chất Men peroxidase phângiải H202 tạo oxy nguyên tử sẽ oxi hóa cơ chất làm thay đổi màu phản ứng
Trang 21+ Thành phần bộ kit:
R1: Bản nhựa polystyren 96 giếng, với 12 thanh, mỗi thanh 8 giếng đã
gắn sẵn kháng nguyên Toxocara spp.
R2: Dung dịch rửa PBS - T (Photphate buffer saline -Tween 80)
R3: Dung dịch pha loãng PBS - T - BSA (BSA: Bovis serum albumin)
R4: Kháng thể kháng IgG gắn men peroxidase (HRPO)
R5a: Dung dịch pha cơ chất (mono USA Ag - HBs)
R5b: Cơ chất OPD (Ortho - Phenylene - Diamine) hoặc TMB
R5c: Dung dịch ngưng phản ứng (acid sunfuaric loãng)
R6a: Huyết thanh đối chứng dương
R6b: Huyết thanh đối chứng âm
+ Dụng cụ:
- Bộ Micropipet: 5 cái (0 - 5 l ; 2 - 20 l ; 20 - 200 l ; 200 - 1000 l ;Micropipet 8 đầu : 20 - 200 l)
- Tủ ấm, tủ sấy, máy ly tâm
- Đầu Eppendorf, tube lấy máu, giá đựng ống nghiệm, ống nghiệm, kimlấy máu, bông , cốc đong
Các bước thực hiện ELISA:
- Chuẩn bị: dung dịch rửa: 475ml nước cất + 25 ml wash buffer, phaloãng huyết thanh bệnh nhân (pha loãng 1/64): 5µl huyết thanh + 315µldilution (chứng âm, chứng dương không cần pha loãng)
- Các bước tiến hành:
+ Bẻ số giếng cần dùng (số bệnh nhân, chứng âm và chứng dương),đánh số
+ Cho lần lượt vào mỗi giếng 100µl chứng âm, chứng dương và huyếtthanh bệnh nhân đã được pha loãng ở trên
Trang 22+ Ủ ở nhiệt độ phòng trong vòng 10 phút.
+ Rửa 03 lần với dung dịch rửa đã chuẩn bị ở trên
+ Nhỏ vào mỗi giếng 02 giọt (100µl) Emzyme Conjugate
+ Ủ ở nhiệt độ phòng 05 phút
+ Rửa 03 lần bằng dung dịch rửa đã chuẩn bị
+ Nhỏ vào mỗi giếng 02 giọt (100µl) Chromogen
+ Ủ ở nhiệt độ phòng 05 phút
+ Nhỏ vào mỗi giếng 02 giọt (100µl) Stop
- Cách đánh giá kết quả: đọc giá trị OD bằng máy đọc ở bước sóng 450
nm Ghi kết quả trị số OD của từng giếng
Nếu OD > 0,3: Dương tính
Nếu OD < 0,3: Âm tính
- Tỷ lệ nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo thông qua xét nghiệm ELISA
dương tính được tính theo công thức
Tỷ lệ nhiễm (%) = Số xét nghiệm dương tính x 100
Tổng số xét nghiệm
2.3.3 Xét nghiệm công thức bạch cầu
- Sử dụng máy xét nghiệm huyết học ADVIA 2120i do hãng Siemens
(Đức) sản xuất để xét nghiệm 24 thông số: Công thức máu, công thức bạch cầu
- Xác định tỷ lệ BCAT:
+ Số lượng bạch cầu bình thường: 4,0 - 9,0 x103/µl máu
+ Tỷ lệ BCAT bình thường: 1 - 4%
+ Số lượng BCAT bình thường: 40 - 350/µl máu
- Các mức độ tăng BCAT (Theo Franklin và CS, 1998):
Trang 23+ Tăng nhẹ: từ 350 - 1.500/µl máu hay 4 - 7%.
+ Tăng trung bình: > 1.500 - 5.000/µl máu hay > 7 - 10%
+ Tăng cao: > 5.000/µl máu hay > 10%
- Xác định tỷ lệ BCAT (Eosinophil) bằng cách lấy máu giọt đàn, để khô
tự nhiên, nhuộm giêm sa, soi lam vật kính dầu và tính theo công thức:
2.3.4 Phương pháp điều tra hiểu biết và hành vi phòng chống bệnh
- Các đối tượng nghiên cứu được phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi
KAP về các thông tin sau:
o Hiểu biết về bệnh giun đũa chó/mèo
o Nguồn nhiễm bệnh giun đũa chó/mèo
o Con đường nhiễm bệnh ấu trùng giun đũa chó/mèo
o Tác hại của bệnh ấu trùng giun đũa chó/mèo
o Cách phòng chống bệnh ấu trùng giun đũa chó/mèo
o Nuôi chó/mèo, có chó/mèo chạy xung quanh nhà hay không
o Tiếp xúc với chó/mèo
o Tiếp xúc với đất, rửa tay trước khi ăn, ăn rau sống
- Một số khái niệm dùng trong câu hỏi KAP
Trang 24o Nghịch đất: được dùng cho trẻ em dưới 15 tuổi Ở nông thôn đại đa
số trẻ em thường có thói quen chơi các trò chơi dân gian, nô đùa tạicác bãi đất, khu đất trống, vườn xung quanh nhà
o Tiếp xúc đất: dùng đối với người từ 15 tuổi trở lên, trong độ tuổi lao
động, làm ruộng, trồng trọt có liên quan đến đất
o Bồng bế chó/mèo: là hành động chơi với chó/mèo, bế chó/mèo của
trẻ em hoặc người lớn Ở đây có thể là bế chó/mèo nhà nuôi hoặcchó/mèo không do mình nuôi nhưng được những hộ gia đình trongcùng khu nuôi
o Thường xuyên: là hành động diễn ra hằng ngày như một thói quen
(bồng bế chó/mèo) hay công việc hằng ngày (làm ruộng, trồng trọt)
o Không thường xuyên: là hành động thỉnh thoảng mới diễn ra, bị
gián đoạn thường xuyên
Đối tượng nghiên cứu được biết trước về mục đích, yêu cầu, lợi ích của
đề tài, sẵn sàng, tự nguyện tham gia và hợp tác tốt trong quá trìnhnghiên cứu
Đối tượng có quyền từ chối tham gia nghiên cứu
Trang 25CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thực trạng nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo ở đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Trong số 397 bệnh nhân đến khám tại điểm nghiên cứu có biểu hiệnnghi ngờ nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo có đầy đủ các thành phần giớitính, nhóm tuổi và nghề nghiệp
Bảng 3.1: Đặc điểm giới tính, nhóm tuổi, nghề nghiệp của đối tượng
Tỷ lệ nam, nữ tương đối đồng đều (nam 51,9% và nữ 48,1%) Đối
tượng nghiên cứu chủ yếu là nhóm tuổi từ 15 đến 60 tuổi (80,1%) , sau đó là nhóm trên 60 tuổi (12,6%), nhóm dưới 15 tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất (7,3%).
Trang 26Nghề nghiệp chủ yếu là làm ruộng (43,3%), ít gặp nhất là nhóm học sinh(10,1%).
3.1.2 Kết quả xét nghiệm ELISA và BCAT
Kết quả xét nghiệm ELISA và BCAT được trình bày ở bảng 3.2
Bảng 3.2: Kết quả xét nghiệm ELISA và BCAT
Trang 27Hình 3.1: Hình ảnh chứng âm, dương, mẫu (+), (-) và kết quả giá trị OD
của từng giếng
So sánh với một số nghiên cứu trước đây ở nước ta cho thấy tỷ lệnhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo trên các đối tượng đến khám và xét nghiệmtại Bộ môn Ký sinh trùng – Trường Đại học Y Hà Nội tương đối cao, tỷ lệnày cao hơn so với kết quả nghiên cứu tại Bệnh viện 103 là 35% (Nguyễn ThịNga và cs, 2013) hay nghiên cứu tại Bệnh viện Quận 2 Thành phố Hồ ChíMinh là 20% (Hoàng Đình Đông và cs, 2010) và báo cáo đánh giá tại ViệnRốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng Quy Nhơn số xét nghiệm dương tính tínhlà 38,24% (Nguyễn Văn Chương và Triệu Nguyên Trung, 2011) Điều nàygiải thích do các đối tượng đến khám tại Bộ môn Ký sinh trùng đã được sànglọc từ các bệnh viện với các triệu chứng nghi ngờ nhiễm ấu trùng giun đũachó/mèo như: dị ứng, mề đay kéo dài, trên siêu âm, CT có tổn thương gannghi do ký sinh trùng, BCAT tăng cao
Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của chúng tôi lại thấp hơn một số nghiêncứu khác Tỷ lệ huyết thanh dương tính tại Phú Thọ tới 79,25% (Nguyễn ThịQuyên, 2017) hay tại Yên Ninh, Thanh Hóa là 76,8% (Nguyễn Thu Hương và
cs, 2014), tại cộng đồng dân cư khu vực biên giới Việt Nam – Campuchia vớitỷ lệ nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo trên người là 51% (Nguyễn ThànhĐồng và cs, 2014) So với một số khu vực trên thế giới thì tỷ lệ nhiễm này ởngười không ngạc nhiên Điều đáng chú ý là các nghiên cứu này thực hiện tạicộng đồng, nhưng tỷ lệ nhiễm rất cao, đặc biệt là tỷ lệ nhiễm giun đũa ở chótại Phú Thọ là 24%, thấp hơn rất nhiều so với tỷ lệ huyết thanh dương tính ởngười Có thể độ đặc hiệu của kit ELISA không cao
Trang 28Xét mối liên quan giữa kết quả xét nghiệm ELISA và BCAT cho thấy tỷ
lệ tăng bạch cầu ái toan ở nhóm huyết thanh dương tính với Toxocara spp là 71,6%, và tỷ lệ bạch cầu ái toan không tăng ở nhóm này là 28,4% (bảng 3.3)
Bảng 3.3: Liên quan giữa kết quả xét nghiệm ELISA với bạch cầu ái toan
dương tính bằng kỹ thuật ELISA là 57,2% (Lê Thành Đồng và cs, 2014) Tuy
nhiên, kết quả này cao hơn nhiều so với 36,79% của nghiên cứu tại Quận 12 –Thành phố Hồ Chí Minh (Nguyễn Hồ Phương Liên và cs, 2012) hay tỷ lệ36,74% theo báo cáo tại bệnh viện Thành Phố Hồ Chí Minh (Phan Anh Tuấn,2007), cũng như nghiên cứu trên cộng đồng tại một số địa phương tỉnh QuảngNam và Quảng Ngãi với tỷ lệ 16,6% (Nguyễn Văn Chương và cs, 2011).Tăng bạch cầu ái toan là đặc trưng của nhiễm ký sinh trùng ở thời điểm hiệntại, vì bạch cầu ái toan bám vào và thải các hạt lên ký sinh trùng đã bị làm yếu
để tiêu diệt ký sinh trùng (Crowther, 1995) Khi không có sự hiện diện của kýsinh trùng thì tỷ lệ bạch cầu ái toan trở về trạng thái bình thường Trái lại,ELISA có thể phát hiện kháng thể chống ký sinh trùng cả khi có sự hiện diệncủa ký sinh trùng hoặc cả khi bị nhiễm bệnh trước đó, nhưng hiện tại khôngcó sự hiện diện của ký sinh trùng, vì kháng thể vẫn tồn tại một thời gian dàisau khi ký sinh trùng bị chết Những bệnh nhân ELISA dương tính nhưngkhông thấy tăng BCAT gợi ý họ bị nhiễm ấu trùng trước đó, những cá thể có
Trang 29huyết thanh âm tính nhưng có tăng BCAT có thể bị nhiễm các bệnh ký sinhtrùng khác hoặc bị dị ứng
3.1.3 Triệu chứng lâm sàng
Trong số 222 đối tượng có huyết thanh dương tính với ấu trùng giun đũachó/mèo được xét nghiệm sàng lọc tại Bộ môn ký sinh trùng – Đại học Y Hà Nội
đa số có triệu chứng mẩn ngứa (45,9%), tiếp đến là triệu chứng nổi mề đay
(24,8%), ngoài ra một số có các triệu chứng khác: 5% có đau mình mẩy, 4,5%có đau bụng, 6,8% có đau đầu, 5,4% có sốt, 8,1% có rối loạn tiêu hóa và 5,8%có các triệu chứng khác như đau nhức khớp, xương, mệt mỏi… (bảng 3.3) Cáctriệu chứng này là biểu hiện của nhiễm ấu trùng giun đũa chó mèo thể nội tạnghoặc ẩn tính, chưa gặp các nhân thể mắt hoặc thần kinh Trước đó, bệnh nhânnhiễm ấu trùng giun đũa chó mèo thể nội tạng, thể thần kinh (Trần Thị KimDung và cs, 2011) và thể mắt (De et al 2013) đã được thông báo ở Việt Nam Cóthể các thể bệnh này ít gặp, chủ yếu là thể bệnh ẩn tính
Bảng 3.4: Triệu chứng lâm sàng của các đối tượng đến khám
Triệu chứng Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
Trang 303.1.4 Tỷ lệ nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo theo giới
Trong tổng số 397 đối tượng nghiên cứu có 56,8% nam giới và 55% nữgiới dương tính với ấu trùng giun đũa chó mèo Sự khác biệt về tỷ lệ nhiễmgiữa giới nam và nữ không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)
Bảng 3.5: Tỷ lệ nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo theo giới
Giới tính Số XN Số dương tính Tỷ lệ (%) Giá trị P
nữ lần lượt là 32,1% và 29,7% (Sviben et al, 2009) hoặc 46,9% và 41,8%(Liao et al, 2010) Ở Việt Nam năm 2011, Nguyễn Văn Chương và cộng sựđiều tra tại tỉnh Quảng Ngãi cũng không thấy sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm ấutrùng giun đũa chó/mèo giữa giới nam (từ 6,52 đến 16,67%) và nữ (5,84 đến16,44%) Một nghiên cứu trên bệnh nhân mày đay mãn tính tại Bệnh viện 103thấy có sự chênh lệch về tỷ lệ bệnh giữa nam (44,68%) và nữ (55,32%) trongnhóm nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo Tuy nhiên, tác giả đã lý giải sựchênh lệch này là do mày đay mãn tính là lý do chủ yếu khiến bệnh nhân đikhám thường xuất hiện ở nữ giới làm cho tỷ lệ nữ nhiễm bệnh tăng lên đáng
kể (Lê Trần Anh và cs, 2012)
3.1.5 Tỷ lệ nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo theo nhóm tuổi