1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tình trạng rối loạn thăng bằng và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân COPD cao tuổi giai đoạn ổn định

117 156 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

loạn thăng bằng ở 191 bệnh nhân COPD cho rằng thang điểm TUG là thangđiểm nên được sử dụng để đánh giá rối loạn thăng bằng ở tất cả các bệnh nhânCOPD để từ đó tiên lượng được nguy cơ ngã

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) là bệnh thường gặp có thể dựphòng và điều trị được, đặc trưng bởi tắc nghẽn đường thở tiến triển ngàycàng nặng dần liên quan đến phản ứng viêm bất thường của đường thở và nhu

mô phổi bởi các phần tử và khí độc hại [4] Theo Tổ chức Y tế Thế giới(WHO), dự báo đến năm 2020 COPD chiếm tỷ lệ 4,5 – 7% dân số, và sẽ tănglên vị trí thứ 3 trong số các bệnh mạn tính có nguy cơ tử vong cao sau bệnhtim mạch, bệnh ung bướu và làm gia tăng đáng kể gánh nặng về kinh tế và xãhội [2] Ở Việt Nam, theo điều tra của Đinh Ngọc Sỹ (2011), tỷ lệ mắc bệnhCOPD toàn quốc có tỷ lệ 4,2% trong dân số [3] COPD ở người cao tuổikhông những phải đối mặt với các nguy cơ suy hô hấp mạn tính, suy dinhdưỡng, loạn dưỡng mà còn nguy cơ rối loạn thăng bằng dẫn tới té ngã, đặcbiệt là bệnh nhân COPD ở đợt cấp Rối loạn thăng bằng là vấn đề sức khỏequan trọng ảnh hưởng lớn tới sinh hoạt ở người cao tuổi, dẫn tới người caotuổi dễ bị ngã làm gia tăng gánh nặng ở người cao tuổi

Thăng bằng của cơ thể là khả năng của cơ thể để duy trì sự ổn định khi

di chuyển hoặc không di chuyển, do vậy thăng bằng là một trong những chứcnăng quan trọng nhất của cơ thể [5] Theo Alexandru Florian (2015) rối loạnthăng bằng gây ngã ở người trên 65 tuổi có tỷ lệ 30-50 % một lần mỗi năm[4] Theo Tinetti et al 1988, nghiên cứu ở cộng đồng ở đối tượng người caotuổi không có nguy cơ rối loạn thăng bằng thì ngã chỉ chiếm 8%, nhưng ở đốitượng COPD cao tuổi tỷ lệ tăng lên 78% [6] Theo nghiên cứu AlexandruFlorian và cs (2015), rối loạn thăng bằng dẫn tới ngã ở bệnh nhân COPD caotuổi trong nghiên cứu là 37,9% và tăng lên trong đợt cấp COPD là 41,2% [4],[5] Theo Alina Sorina Voica (2016) cho rằng ở bệnh nhân COPD cao tuổi cónguy cơ rối loạn hoạt động thăng bằng hơn so với bệnh nhân cao tuổi không

Trang 2

có bệnh COPD trong đó không có sự khác biệt về rối loạn thăng bằng giữangười bệnh COPD cao tuổi thể viêm phế quản mạn và người bệnh COPD caotuổi thể khí phế thũng [30] Các tác giả cho rằng bệnh nhân cao tuổi có COPDgây lên tình trạng yếu cơ, giảm khả năng hoạt động hàng ngày kéo dài làmtăng tình trạng rối loạn thăng bằng ở người cao tuổi.

Như vậy rối loạn thăng bằng ở bệnh nhân COPD cao tuổi đang là vấn đềquan trọng trên các bệnh nhân COPD cao tuổi, ảnh hưởng lớn đến sức khỏecủa họ Trên thế giới cũng như ở Việt Nam hiện nay chưa có nhiều đề tàinghiên cứu về rối loạn thăng bằng ở bệnh nhân COPD cao tuổi Do vậy

nghiên cứu này chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu tình trạng rối loạn thăng bằng và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân COPD cao tuổi giai đoạn ổn định” với hai mục tiêu:

1 Đánh giá tình trạng rối loạn thăng bằng ở bệnh nhân COPD cao tuổi giai đoạn ổn định.

2 Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến rối loạn thăng bằng ở nhóm đối tượng trên.

Trang 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tổng quan bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

1.1.1 Tình hình bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trên thế giới.

Ngày nay sự phát triển kinh tế-xã hội, quá trình công nghiệp hóa diễn ramạnh mẽ và lan rộng kéo theo mặt trái là ô nhiễm môi trường làm tăng bệnh

lý hô hấp nhất là bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) Số người mắc COPDđang tăng cao trên thế giới Theo WHO, năm 1990 tỷ lệ mắc COPD trên toànthế giới ước tính khoảng 9,34/1000 ở nam và 7,33/1000 ở nữ, tuy nhiên,những ước tính này bao gồm ở mọi lứa tuổi và chưa phản ánh đúng tỷ lệCOPD thực ở người cao tuổi và người cao tuổi là nhóm người có tỷ lệ mắccao nhất COPD là nguyên nhân gây tử vong xếp hàng thứ 6 với 2,2 triệungười chết [2], [3] Tính đến năm 1997 có khoảng 400 triệu người mắc bệnhCOPD và là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ thứ 4 [7] Theo dự báo củaWHO số người mắc bệnh sẽ tăng 3-4 lần trong thập kỷ này, gây ra 2,9 triệungười chết mỗi năm và ước tính đến năm 2020, COPD sẽ là nguyên nhân gây

tử vong hàng thứ 3 ở các bệnh mạn tính trên toàn thế giới [2], [3] Tùy theotừng nước tỷ lệ tử vong dao động do COPD từ 10-500/100000 dân vớikhoảng 6% nam và 2,4% nữ [2], [7] Thống kế trên còn cho thấy tỷ lệ mắcCOPD cao nhất ở những vùng đã và đang thịnh hành việc hút thuốc trong khi

tỷ lệ mắc COPD thấp nhất ở những nước ít hút thuốc hơn hay có tỷ lệ tiêu thụthuốc lá trên mỗi cá thể thấp Tỷ lệ thấp nhất ở nam giới là 2,96/1000 dân ởBắc Phi và Trung Đông và tỷ lệ thấp nhất ở nữ giới là 1,79/1000 dân ở cácquốc gia vùng đảo châu Á [3], [8], [9]

Theo Chapman K.R (2005), tỷ lệ bệnh COPD ở tất cả các lứa tuổi là 1%,tuy nhiên tỷ lệ này sẽ tăng lên 10% ở các đối tượng trên 40 tuổi [10]

Trang 4

Ở Mỹ tỷ lệ tử vong do COPD tăng đều đặn trong vài thập niên qua.Trong giai đoạn 1965 – 1998 trong khi tỷ lệ tử vong ở bệnh mạch vành namgiới giảm 59%, bệnh đột quỵ giảm 64%, các bệnh tim mạch khác giảm 35%thì ngược lại tỷ lệ tử vong do COPD lại tăng lên 169% [11] Trong năm 2000

tỷ lệ tử vong do COPD ở nữ tăng nhiều hơn nam giới cũng như ở Nauy, ThụyĐiển [10], [11] Theo Mannino DM và cộng sự tại Mỹ một khảo sát có tínhquốc gia trên mẫu đại diện ở những người trên 25 tuổi, dựa vào rối loạn thôngkhí tắc nghẽn cho thấy tỷ lệ mắc là 8,8% [11]

Ở châu Âu những nghiên cứu hiện nay cho thấy tỷ lệ mắc COPD chiếmkhoảng 9% ở người trưởng thành, chủ yếu ở người hút thuốc lá [2] Theo WHObệnh COPD gây tử vong ở 4,2% nam giới và 2,4% ở nữ giới vào năm 1997 và tỷ

lệ tử vong ở nữ đã tăng lên từ năm 1980 – 1990 ở các nước bắc Âu [2]

Ở Anh: 15-20% nam giới trên 40 tuổi và 10% nữ trên 45 tuổi có ho khạcđờm mạn tính và khoảng 4% nam và 3% nữ được chẩn đoán bệnh COPD.COPD là nguyên nhân tử vong hàng thứ 5 ở Anh và xứ Wales [2], [10]

Ở các nước khu vực đông nam châu Á tần suất mắc COPD khoảng 6-8%dân số [3]

Tại Nhật Bản theo bộ y tế nước này COPD là 0,3% vào năm 1996 thấphơn nhiều so với nghiên cứu có tính dịch tễ có tính chất quốc gia của Fukuchi

Y và cộng sự (2004) sử dụng tiêu chuẩn GOLD 2003 nghiên cứu trên 2343người ≥ 40 tuổi, nhận thấy tỷ lệ các đối tượng có rối loạn thông khí tắc nghẽn

Trang 5

Theo đánh giá của hội lồng ngực Đài Loan thì có tới 16% dân số nướcnày ≥ 40 tuổi mắc bệnh COPD Năm 1994, tỷ lệ tử vong do bệnh COPD là16,6/100000 dân và là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ 6 [3].

Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO) thì trên thế giới có khoảng 600triệu người mắc COPD và hơn 3 triệu người tử vong mỗi năm năm 2005[2], [3], [9]

Chương trình “Khởi động toàn cầu về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính –GOLD” được xây dựng từ năm 1997 với sự phối hợp của Viện Tim mạch,Phổi, Huyết học quốc gia Mỹ với Tổ chức y tế thế giới (WHO) nhằm huyđộng nỗ lực trên toàn thế giới để đối phó với căn bệnh này Tháng 4/2001GOLD đưa ra hướng dẫn chẩn đoán, điều trị và dự phòng bệnh [14] Tháng7/2003 GOLD đã đưa ra bản cập nhật với nhiều điểm mới trong chẩn đoán,điều trị và dự phòng bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính Hàng năm GOLD đưa ranhững điểm cập nhật mới trong chẩn đoán và điều trị bệnh trên thế giới

1.1.2 Tình hình bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ở Việt Nam.

Năm 2003, nhóm nghiên cứu của Hiệp hội Hô hấp châu Á Thái BìnhDương đã tính toán tần suất COPD trung bình và nặng ở Việt Nam từ trên 35tuổi là 6,7%, cao nhất trong khu vực [3], [9] Báo cáo của Đinh Ngọc Sỹ vàcộng sự trong Hội nghị Lao và Bệnh phổi toàn quốc năm 2011 cho biết tỷ lệCOPD trong cộng đồng dân cư Việt Nam từ 40 tuổi trở lên là 4,2% trong đónam 7,1% và nữ 1,9% [3] Nếu chia theo khu vực thì nông thôn là 4,7%,thành thị là 3,3% và miền núi là 3,6% [3] Các yếu tố nguy cơ cho COPD tạiViệt Nam cũng như mọi nơi khác trên thế giới là hút thuốc lá, thuốc lào làmtăng tỷ lệ mắc COPD lên gấp 4 lần [3] Các tác giả cũng chú ý đến chất đốtsinh khói và cho thấy đun bếp với củi, với rơm rạ làm tăng tỷ lệ mắc COPDlên gấp 2 lần so với khí đốt [3] Ngoài thuốc lá và chất đốt sinh khói thì tìnhtrạng ô nhiễm môi trường và đặc biệt là lao phổi đã làm tăng tỷ lệ mắc COPDtại Việt Nam

Trang 6

COPD gây gánh nặng to lớn cho kinh tế Việt Nam, bệnh nhân COPDthường chiếm 25% số giường trong các khoa hô hấp và trong chăm sóc tíchcực luôn có bệnh nhân COPD thở máy Việc áp dụng GOLD ngay từ nhữngnăm 2002 và hướng dẫn điều trị của Bộ Y tế 2006 đã gia tăng sự chú ý về việcphát hiện sớm và quản lý bệnh nhân COPD trong giai đoạn ổn định [2], [7].Theo Lê Thị Huyền Trang và cộng sự cho thấy hiệu quả của việc tầm soátCOPD bằng câu hỏi của GINA để sàng lọc bệnh nhân làm hô hấp ký [15] Kếtquả điều trị COPD theo GOLD đã được Cao Thị Mỹ Thúy và Lê Thị TuyếtLan tổng kết qua đo hô hấp ký cho thấy mặc dù sự cải thiện về chức năng hôhấp không có sự khác biệt nhưng các triệu chứng đều được cải thiện rõ, chấtlượng cuộc sống của bệnh nhân COPD cũng được cải thiện [9], [15], [16].Theo Nguyễn Quỳnh Loan (2002) nghiên cứu trên 2000 dân cư phườngKhương Mai, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội nhận thấy tỷ lệ mắcCOPD những người trên 35 tuổi là 1,57% trong đó nam 2,37% và nữ là0,36% Yếu tố nguy cơ gây COPD rõ rệt là hút thuốc lá [17].

Ngô Quý Châu và cộng sự nghiên cứu dịch tễ học COPD ở thành phố HàNội trên 2.583 người tuổi trên 40 tuổi thuộc nội thành Hà Nội cho thấy tỷ lệmắc COPD chung cho hai giới là 2% trong đó nam là 3,4% và nữ là 0,7%.Đối tượng hút thuốc có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn hẳn, tỷ lệ hút thuốc trongnhóm bệnh là 66,7% [17], [18]

Một nghiên cứu khác của Ngô Quý Châu và cộng sự trên 2.979 đốitượng dân cư tuổi ≥ 40 tuổi ở thành phố Hải Phòng nhận thấy tỷ lệ mắc bệnhCOPD chung là 5,65% trong đó nam giới là 7,91% và nữ giới là 3,63% Tỷ lệmắc bệnh viêm phế quản đơn thuần không có rối loạn tắc nghẽn là 14,4%.Đối tượng hút thuốc có tỷ lệ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính cao hơn hẳn,

tỷ lệ hút thuốc lá trong nhóm bệnh là 72,7% [18], [19]

Trang 7

Một số nghiên cứu của bệnh viện Bạch Mai cho thấy từ năm 1996-2000

tỷ lệ các bệnh nhân mắc COPD vào điều trị là 25,1% đứng đầu các bệnh lý hôhấp [20]

Theo nghiên cứu của Chu Thị Hạnh và cộng sự tiến hành điều tra ngẫunhiên trên 14.246 người dân >16 tuổi tại 7 vùng miền sinh thái trên cả nướccho thấy rằng độ lưu hành hen phế quản ở người trưởng thành Việt Nam năm

2010 là 4.1% [3], [18], [20] Trong đó tỷ lệ mắc bệnh cao nhất là ở nhóm trên

80 tuổi (11,9%) và thấp nhất ở nhóm 21-30 tuổi (1,5%), tỷ lệ mắc hen ở namgiới là 4,6%, tỷ lệ mắc hen ở nữ giới là 3,6% Nghiên cứu cũng cho thấy hiệnnay nhiều phương pháp điều trị hen, trong đó điều trị bằng thuốc tây y chiếm91,1%, đông y chiếm 14,4%, bên cạnh đó nghiên cứu cũng cho thấy chỉ có29,1% người có điều trị dự phòng hen, và 57,7% người bệnh chưa từng dùngthuốc dự phòng hen nào, ngoài ra tỷ lệ bệnh nhân có theo dõi lưu lượng đỉnhtại nhà khá thấp, chỉ chiếm 4,5%, trong đó chỉ có 5% bệnh nhân hen trên toàncầu được kiểm soát hen tốt [18], [21]

COPD là bệnh biểu hiện bằng tắc nghẽn luồng khí thở ra không hồi phụchoàn toàn do phản ứng viêm không đặc hiệu ở đường thở bởi tác động cácyếu tố bụi và khí độc hại, bệnh thường tiến triển nặng dần, tác động toàn thânnhưng có thể phòng và điều trị được Theo nghiên cứu của Đinh Ngọc Sỹ(2006) tỷ lệ BPTNMT ở Việt Nam trong cộng đồng dân cư từ 15 tuổi trở lên

có tỷ lện 2,2%, theo đó nam là 3,5%, nữ là 1,1% [3], [18] Tỷ lệ COPD trongcộng đồng dân cư từ 40 tuổi trở lên là 4,2%, trong đó nam là 7,1%, nữ là1,9%, miền bắc là 5,7%, miền trung 4,6%, miền nam là 1,9%, tỷ lệ bị bệnh ởthành thị là 3,3%, nông thôn là 4,7% Gánh nặng của bệnh BPTNMT tăng lênhàng năm, dự báo đến năm 2020, COPD xếp hàng thứ 5 những bệnh hay gặp

và hàng thứ 3 trong các nguyên nhân gây tử vong, trong các yếu tố nguy cơcủa bệnh thì khói thuốc lá có vai trò quan trọng [3], [18], [19]

Trang 8

1.1.3 Chẩn đoán bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính giai đoạn ổn định

A, Lâm sàng:

Bệnh nhân thường trên 40 tuổi, có tiền sử hút thuốc lá, thuốc lào hoặcnghề nghiệp có tiếp xúc với khói bụi, ô nhiễm môi trường…

Bệnh nhân thường đến khám vì ho, khạc đờm, khó thở

Ho: nhiều về buổi sáng, ho cơn hoặc ho thúng thắng, có kèm khạcđờm hoặc không

Khạc đờm: tăng lượng đờm trong, nhầy, trừ đợt cấp có bội nhiễm thìđờm màu vàng hoặc màu xanh

Khó thở: có đặc điểm tăng dần, tăng khu gắng sức, duy trì kéo dài

Khám lâm sàng:

- Kiểu thở: thở mím môi nhất là khi gắng sức

- Có sử dụng các cơ hô hấp phụ: cơ liên sườn, co kéo hõm ức

- Có sử dụng cơ bụng khi thở ra, thở nghịch thường

- Đường kính trước sau lồng ngực tăng lên (ngực hình thùng)

- Gõ: vang, nhất là khi có giãn phế nang

- Nghe: tiếng tim mờ, rì rào phế nang giảm, ran rít, ran ngáy

- Có thể có dấu hiệu tăng áp lực động mạch phổi

B Cận lâm sàng:

Chức năng thông khí

Để giúp phát hiện bệnh trong giai đoạn sớm của bệnh nên tiến hành đochức năng thông khí cho tất cả bệnh nhân có ho, khạc đờm mạn tính mặc dùchưa có khó thở Khi đo chức năng thông khí cần đánh giá các thông số: dungtích sống gắng sức (FVC), thể tích khí thở ra tối đa trong một giây đầu tiên(FEV1), chỉ số Tiffeneau (FEV1/VC), và Gaensler (FEV1/FVC) Phân độnặng COPD theo GOLD 2013

Trang 9

Chẩn đoán xác định COPD khi chỉ số Tiffeneau (FEV1/VC), và Gaensler(FEV1/FVC) < 70% sau test giãn phế quản.

Các giai đoạn theo trị số FEV1:

I: COPD nhẹ FEV1 > 80% trị số lí thuyết

Có hoặc không có triệu chứng mạn tính

II:COPD vừa 50% < FEV1<80% trị số lý thuyết

Thường có các triệu chứng mạn tính

III: COPD nặng 30% < FEV1<50% trị số lý thuyết

Khó thở tăng và tái phát làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống

IV: COPD rất nặng FEV1<30% trị số lý thuyết

Hoặc FEV1<50% nhưng có biến chứng tăng áp động mạch phổi hoặcsuy hô hấp mạn tính

Đo khí máu động mạch:

Bệnh nhân COPD nên được tiến hành đo khí máu động mạch khi có kếtquả đo chức năng thông khí với FEV1<50% hoặc lâm sàng gợi ý suy tim phảihoặc suy hô hấp Chẩn đoán suy hô hấp với PaO2 <60mmHg có hoặc không

có tăng PaCO2 >50mmHg khi thở khí trời

X-quang phổi thường quy

Giai đoạn đầu đa số bình thường, trên phim có thể thấy hình ảnh đậm cácnhánh phế huyết quản: “phổi bẩn” Khi bệnh tiến triển nặng thấy viêm phếquản mạn tính hoặc giãn phế nang:

- Lồng ngực giãn: tăng khoảng sáng trước và sau tim, vòm hoành bị đẩyxuống, xương sườn nằm ngang Một số ít trường hợp thấy hình ảnh vòmhoành phẳng hoặc vòm hoành đảo

- Hình ảnh dày thành phế quản: thường tìm thấy ở phân thùy trước hoặcsau của thùy trên hoặc phân thùy trên của thùy dưới

Trang 10

- Hình ảnh bóng khí thũng dưới màng phổi ở đáy phổi, nhiều khi chỉphát hiện được nhờ chụp cắt lớp vi tính lồng ngực.

- Các mạch máu ngoại vi thưa thớt tạo nên vùng giảm động mạch kếthợp với hình ảnh căng giãn phổi

- Cung động mạch phổi nổi, kích thước động mạch phổi ngoại vi thon lạinhanh chóng Đây là dấu hiệu rất có giá trị để chẩn đoán tăng áp động mạchphổi, ngoài ra đường kính động mạch phổi thùy dưới bên phải >16mm cũng

là dấu hiệu tăng áp động mạch phổi

- Tim dài, thõng, giai đoạn cuối có hình ảnh tim to toàn bộ

Chụp cắt lớp vi tính:

Thường được tiến hành khi có giãn phế nang Cần chụp cắt lớp độ phângiải cao Trên hình ảnh chụp cắt lớp vi tính thấy có các vùng sáng, không cómạch máu, các bóng khí

Siêu âm tim Doppler

Nhằm đánh giá tình trạng tăng áp động mạch phổi, giãn thất phải, suytim trái phối hợp

Một số thăm dò khác:

- Test phục hồi với thuốc giãn phế quản:

Thường được tiến hành một lần tại thời điểm lúc chẩn đoán Trước khilàm test bệnh nhân phải dừng thuốc giãn phế quản kéo dài trong 24h và thuốcgiãn phế quản tác dụng ngắn trong 4h Bệnh nhân được đo thông khí để có chỉ

số FEV1 trước test, sau đó bệnh nhân được xịt 400µg salbutamol, nghỉ 30

Trang 11

phút sau đó đo lại chức năng thông khí để có được FEV1 sau test Nếu FEV1sau test chỉ tăng được <15% khi đó được xem là test âm tính và loại trừ henphế quản, ngoài ra test còn cho phép đánh giá khả năng đáp ứng với thuốcgiãn phế quản của bệnh nhân mắc bệnh phổi mạn tính.

- Test phục hồi với thuốc glucocorticosteroid:

Cho bệnh nhân dùng glucocorticosteroid dạng xịt trong thời gian 6 tuầnđến 3 tháng sau đó đo lại FEV1, so sánh với FEV1 trước test Nếu FEV1 tăng

> 200ml hoặc tăng >12% khi đó bệnh nhân được cho đáp ứng vớiglucocorticosteroid Đây là tiêu chí để quyết định điều trị corticoid kéo dàicho bệnh nhân [22]

C Phân loại COPD theo GOLD 2017[22]

Tiền căn đợt Đánh giá triệu chứng/nguy cơ

(D)Nhiều triệu chứngNguy cơ cao

0 hoặc 1

Không nhập viện

(A)

Ít triệu chứngNguy cơ thấp

(B)Nhiều triệu chứngNguy cơ thấp mMRC 0-1 mMRC ≥ 2

CAT < 10 CAT ≥ 10

1.2 Tổng quan rối loạn thăng bằng ở bệnh nhân COPD cao tuổi.

1.2.1 Một số nghiên cứu về rối loạn thăng bằng người cao tuổi.

Hiện nay lão hóa đang là vấn đề được nhiều người quan tâm nghiên cứu

vì tuổi thọ ngày càng cao, số người cao tuổi ngày càng đông Việc phân chiangười cao tuổi, trẻ theo tuổi không phản ánh chính xác quá trình sinh học.Theo P Baumgartner (1968) [23] chia các giai đoạn tuổi như sau:

Giai đoạn phát triển: từ lúc mới đẻ đến 20-22 tuổi

Trang 12

Giai đoạn thanh niên: từ 22 – 45 tuổi

Giai đoạn trước lão hóa có hai thời kỳ:

- Thời kỳ chuyển tiếp: từ 45 đến 60 tuổi

- Thời kỳ lão hóa thực sự: từ 61 đến 80 tuổi

Giai đoạn lão hóa có hai thời kỳ:

- Thời kỳ còn hoạt động: từ 80 đến 94 tuổi

- Thời kỳ lão hóa hẳn: từ 95 tuổi trở đi

Cách phân chia như trên hiện nay vẫn còn áp dụng ở nhiều nước, nhưng

có nhiều tác giả khác cho lão hóa từ 65 tuổi trở đi Ngoài ra còn nhiều cáchphân chia giai đoạn khác nhau nữa

Tổ chức Y tế Thế giới sắp xếp các lứa tuổi như sau [1]:

45 đến 59 tuổi: tuổi trung niên

60 đến 74 tuổi: người có tuổi

75 đến 90 tuổi: người già

90 tuổi trở đi: người già sống lâu

Hiện nay nhiều nước cũng theo cách quy định chính thức phân loại của

Nếu tính từ 60 tuổi trở lên thì tỷ lệ người già ở một số nước như sau:Pháp (18,2%), Chi lê (7,2%), Ấn độ (7%), Singapore (5,7%) Tỷ lệ người từ

60 tuổi trở lên so với dân số là 16% ở Bungari, 17,5% ở Hungari, 21% ở Đức,12,8% ở Liên xô trước đây [1], [23], [24]

Trang 13

Những năm gần đây, dân số già tăng lên rất nhanh, biểu hiện trên tỷ lệngười già so với dân số chung, qua các cuộc điều tra dân số Lấy tỷ lệ người

từ 60 tuổi trở lên ở một số nước cho thấy: Bungari trong 16 năm qua, tỷ lệtăng từ 11,4% lên 16%, ở Hungari trong 27 năm qua tăng từ 9,8% lên 17,5%,

Ba Lan trong 22 năm tăng từ 6,7% lên 13,5% [23], [24]

Tuổi thọ trung bình cũng tăng nhanh: Tuổi thọ trung bình dưới thời cổđại La Mã khoảng 25 tuổi, sang thế kỷ XIX là 37 tuổi, nhưng sang thế kỷ XX

đã tăng lên khoảng 70 tuổi ở châu Âu và châu Mỹ Ở Nga tuổi thọ trung bình

là 32 tuổi năm 1887 lên 44 tuổi năm 1926, lên 67 tuổi năm 1957 và lên 73tuổi năm 1974 [23]

Ở Việt Nam tuổi thọ trung bình tăng nhiều ở miền Bắc, tuổi thọ trungbình năm 1939 là 18,6 tuổi ở nam và tăng lên 34 tuổi năm 1960, tăng lên 49tuổi năm 1969 và 59 tuổi ở nam, 75 tuổi ở nữ những năm 1975 – 1979 [23] Ởmiền Nam Việt Nam chưa có số liệu chung, riêng trong vùng Sài Gòn (cũ)năm 1962, tuổi thọ trung bình là 51 tuổi ở nam và 58,7 ở nữ, năm 1967 là51,1 ở nam và 59,4 tuổi ở nữ Tuổi thọ trung bình cả nước năm 1980 chưađược thống kê nhưng theo ước lượng qua một số vùng điểm khoảng 62 chonam và 66 cho nữ [23] Số người từ 60 tuổi trở lên trong cả nước năm 1980 là3,33 triệu người chiếm 7,1% dân số Năm 2012 người cao tuổi Việt Namkhoảng 9,2 triệu người trên 60 tuổi và chiếm tỷ lệ 10,5% [23], [24]

Khoảng 20 – 40% người già trên 65 tuổi có rối loạn ít nhiều về thăngbằng, một nửa trong số họ có bất thường thực sự, tuổi càng cao rối loạn thăngbằng càng hay gặp Ở nhóm trên 85 tuổi, có khoảng 40-50% có rối loạn vềthăng bằng, bệnh nhân cần giúp đỡ khi đi lại trong phòng, leo cầu thang hoặc

đi ở khoảng cách xa 500 m [4], [5]

Rối loạn thăng bằng sẽ dẫn tới nguy cơ ngã, ngã được định nghĩa nhưmột sự kiện, được bản thân người ngã hoặc người xung quanh chứng kiến làm

Trang 14

cho cơ thể ngã xuống đất hoặc chúi người về phía trước, người ngã có thể tỉnhhoặc mê, bị chấn thương hoặc không Ngã là một vấn đề nghiêm trọng ởngười cao tuổi vì nó rất thường hay gặp, gây tàn phế thậm chí tử vong và lànguyên nhân đứng hàng thứ năm ở người cao tuổi Ngã là một yếu tố gây tửvong ở bệnh viện, 25% số ca nhập viện do ngã ở người cao tuổi bị tử vong,trong khi chỉ có 6% tử vong do các nguyên nhân khác Ngã gây ra trên 10.000

ca tử vong một năm ở nhóm trên 65 tuổi Khoảng 30-40% người cao tuổi trên

65 tuổi ngã ít nhất 1 lần trong 1 năm và tỷ lệ này tăng rất cao ở người trên 75tuổi và người phải điều trị lâu dài Ở Pháp có khoảng 1,2 đến 1,5 triệu ngườicao tuổi bị ngã do rối thăng bằng 1 lần trong 1 năm Ngã tăng lên theo tuổi,đặc biệt ở nhóm trên 85 tuổi, nhất là nhóm có suy giảm nhận thức Ngã có tỷ

lệ rất cao ở nhóm người rất già và nhóm người có hạn chế vận động Ngãthường có nguy cơ tái phát và tiên lượng không tốt ở nhóm này Tỷ lệ ngã cònthay đổi tùy theo từng quần thể và môi trường sống, tỷ lệ thấp nhất ở ngườigià tương đối khỏe mạnh và sống chung cùng gia đình Hàng năm có khoảng1/3 số người trong nhóm này bị ngã, phần lớn không gây thương tật nghiêmtrọng, nhưng có khoảng 4% bị gẫy xương cần phải nhập viện Với nhữngngười già sống trong trại dưỡng lão hoặc bệnh viện thì tỷ lệ bị ngã gấp 3 lần

so người sống tại gia đình Hàng năm có khoảng 40-60% người sống trongtrại dưỡng lão bị ngã, 10-25% bị ngã kèm theo gẫy xương hoặc chấn thươngnghiêm trọng phải chuyển đến bệnh viện Theo một nghiên cứu có 40% ngườigià nằm ở trại dưỡng lão do bị ngã và chi phí cho ngã rất cao Trung tâmphòng chống ngã quốc gia Mỹ cho biết chi phí hàng năm cho ngã lên tới 27,3

tỷ đô la, chi phí điều trị cho ngã ở Pháp lên tới hàng triệu euro [23], [25].Nghiên cứu Brooke salzman và cs (2010) về dáng đi và rối loạn thăngbằng ở người cao tuổi cho thấy ít nhất 30% người lớn tuổi từ 65 tuổi trở lêngặp khó khăn trong việc đi bộ hoặc đi lên một bậc cầu thang, có khoảng 20%

Trang 15

phải cần sự trợ giúp cho việc di chuyển, rối loạn thăng bằng đã được phát hiện

ở khoảng 25% người từ 70 đến 74 tuổi, và gần 60% ở độ tuổi từ 80 đến 84 vàngười cao tuổi trên 65 thì có tới 35% người cao tuổi được phát hiện có sự rốiloạn thăng bằng hoặc có dáng đi bất thường, rối loạn thăng bằng dẫn đến ngãđược xác định do các nguyên nhân, viêm khớp 35%, hạ huyết áp tư thế 9%[4], [26]

Nghiên cứu Alexandru Floria Crian và cs (2015) về rối loạn thăng bằng

ở bệnh nhân có COPD ở 46 bệnh nhân COPD mức độ trung bình và nặng chothấy qua Timed Up to Go test (TUG) tỷ lệ thời gian COPD giai đoạn ổn định

là 12,3 giây và COPD giai đoạn cấp là 15,9 giây với p < 0,001, và cho rằngrối loạn thăng bằng ở người cao tuổi sẽ tăng lên cùng tuổi tác và tăng lên ởnhững người cao tuổi có các bệnh cấp tính hoặc những người cao tuổi sốngdài hạn ở các trại dưỡng lão [4]

Xác định một rối loạn thăng bằng có thể là một thách thức, bởi vì không

có một tiêu chuẩn rõ ràng được chấp nhận để xác định bất thường về thăngbằng và lối đi bình thường ở người cao tuổi [4], [23], [26] Nghiên cứu sosánh những người khỏe mạnh trong độ tuổi 70 của họ so với thời kỳ 20 tuổicủa họ chứng minh giảm 10 đến 20% trong tốc độ đi và độ dài mỗi bước sảichân [4], [23] Các đặc tính khác của thăng bằng thường thay đổi khi lão hóabao gồm chiều rộng mặt sân tăng lên, thời gian mỗi bước chân tăng lên, tư thếngười cong, sức mạnh mỗi bước chân giảm đi Những thay đổi này có thểbiểu hiện ở sự thích ứng với những thay đổi trong hệ thống cảm giác hoặcgiúp người cao tuổi tạo ra một hình thức đi bộ an toàn hơn và ổn định hơn Thuật ngữ “Rối loạn thăng bằng người cao tuổi” đã được sử dụng để mô

tả những rối loạn khi đi bộ ở người lớn tuổi khi không thể xác định được cănbệnh tiềm ẩn của họ Nó được đặc trưng bởi mô hình đi bộ chậm, rộng, xáotrộn và thận trọng [23] Tuy nhiên sự hiểu biết hiện tại về rối loạn thăng bằng

là một thách thức bởi vì hầu hết những thay đổi lớn của cân bằng là do mộthoặc nhiều điều kiện cơ bản tạo lên Do vậy có tới 20% người cao tuổi vẫn

Trang 16

giữ được dáng đi bình thường đến tuổi già, củng cố một điều rằng lão hóakhông cùng với rối loạn thăng bằng [4], [5] Rối loạn thăng bằng ở người caotuổi có thể biểu hiện lâm sàng của một bệnh vì có thể rối loạn thăng bằng xuấthiện cùng với một số bênh mạn tính như tim mạch, COPD [4], [5], [23].

Nguyên nhân của rối loạn thăng bằng có thể được liệt kê ở một số bệnh,

và sẽ gây rối loạn thăng bằng vì nhiều lý do như gây đau, khó thở, mất cânbằng, sức khỏe giảm sút, hạn chế vận động, giảm cảm giác, mệt mỏi, có thểgiảm nhận thức và khả năng thích ứng của cơ thể người cao tuổi với môitrường xung quanh, ngoài ra phẫu thuật gần đây, hoặc nhập viện do bệnh cấptính có thể dẫn đến rối loạn thăng bằng, việc sử dụng nhiều loại thuốc (trênbốn loại) cũng có thể dẫn tới rối loạn thăng bằng và tăng tỷ lệ ngã [24], [26]

1.2.2 Các thang điểm đánh giá rối loạn thăng bằng người cao tuổi.

Hiện nay chưa trên thế giới chưa có một tiêu chuẩn vàng để đánh giá rốiloạn thăng bằng, mà công cụ để chẩn đoán và đánh giá rối loạn thăng bằng chủyếu dựa vào các thang điểm Theo Shylie F.H Mackintosh và cs (2007) [59] cácthang điểm để đánh giá rối loạn thăng bằng phải đủ các tiêu chuẩn sau:

+ Thang điểm phải phù hợp với tất cả mọi người cao tuổi trong cộng đòng+ Thang điểm phải được thực hiện dễ dàng trong các điều kiện khác nhau.+ Thang điểm phải đánh giá được ít nhất 2 trong số 3 tiêu chuẩn của rốiloạn thăng bằng sau:

Đánh giá rối loạn thăng bằng khi nghỉ ngơi

Đánh giá rối loạn thăng bằng khi di chuyển

Đánh giá rối loạn thăng bằng trong các điều kiện giác quan khác nhau(rối loạn tiền đình, thị giác…)

Trong tổng số 33 thang điểm đánh giá rối loạn thăng bằng thì chỉ có 15thang điểm phù hợp với các tiêu chuẩn trên, trong đó chỉ có thang điểm BergBalance Scale (BBS) và thang điểm Timed Up to Go (TUG) là có độ tin cậy

và độ nhậy cao nhất [27], [28], [59]

Trang 17

A, Thang điểm Berg Balance Scale (BBS) [27]:

Đây là thang điểm được coi là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán rối loạnthăng bằng [59], được phát triển và hoàn thiện để đo lường mức độ thăngbằng ở những người lớn tuổi có nguy cơ suy giảm chức năng thăng bằng bằngcách đánh giá việc thực hiện một số động tác chức năng thăng bằng Đâycũng là một công cụ được sử dụng để đánh giá hiệu quả của can thiệp cảithiện chức năng thăng bằng và để mô tả chức năng thăng bằng trong thựchành lâm sàng và trong nghiên cứu Thang điểm BBS bao gồm 14 mục, đánhgiá theo thứ tự và mất khoảng 15 phút để hoàn tất thang điểm, dụng cụ gồmhai chiếc ghế, một đồng hồ bấm giờ, một thước kẻ và cần khoảng không giantối thiểu để thực hiện động tác Theo Berg và cộng sự (1989) thang điểm BBS

có hệ số tương quan là (ICC= 0,88-0,98) như vậy độ tin cậy tuyệt vời, đặcbiệt BBS đánh giá chính xác rối loạn chức năng thăng bằng ở tư thế tĩnh [38].Theo Scott Bennie và cộng sự thang điểm BBS đã làm giảm sự tác động củatình trạng bệnh nhân như mệt mỏi, đến đánh giá của thang điểm [60] TheoTheo Shylie F.H Mackintosh và cs (2007) [59] cho rằng thang điểm BBS làthang điểm đáng tin cậy và hợp lệ để đánh giá rối loạn thăng bằng ở ngườicao tuổi

Dụng cụ để đánh giá rối loạn cân bằng trong thang điểm BBS gồm:Thước kẻ

Hai ghế tựa chuẩn

Ghế để chân

Đồng hồ bấm giờ

Đường bộ 15 ft

Thời gian thực hiện: 15 – 20 phút

Đánh giá thang điểm BBS có 5 điểm: 0-4

0: là mức độ thấp nhất của mỗi phần chức năng

Trang 18

4: là mức độ cao nhất của mỗi phần chức năng

Thang điểm BBS: có 14 động tác đánh giá gồm

Ngồi xuống và đứng lên

Đứng lên không có sự hỗ trợ

Ngồi xuống không có sự hỗ trợ

Đứng lên để ngồi lên ghế

Di chuyển đi lại

Đứng lên nhưng nhắm mắt

Đứng lên bằng hai bàn chân

Vươn tay ra phía trước với hai cánh tay

Lấy đồ ở sàn nhà

Quay người nhìn sang hai bên

Xoay người 180 độ

Đặt bàn chân lên ghế để chân

Đứng lên với 1 chân đặt phía trước

Đứng lên với 1 chân

Hướng dẫn thực hiện:

Hướng dẫn người bệnh làm hoặc ghi ra giấy cho người bệnh làm theo,khi đánh giá điểm của từng động tác hãy đánh giá điểm thấp nhất của mỗiđộng tác trở lên Trong tất cả các động tác người bệnh phải duy trì ở một vị trítrong một thời gian nhất định Các điểm ở mỗi động tác sẽ bị trừ nếu:

Trang 19

Không đáp ứng được yêu cầu về thời gian và khoảng cách.

Động tác đó cần sự hỗ trợ bên ngoài

Động tác đó không được người nhà đồng ý thực hiện

Người bệnh khi thực hiện thang điểm BBS phải cố gắng thực hiện cácyêu cầu trong bảng BBS Sự lựa chọn chân nào để đứng, để đi bao xa để đạtđược là chân thuận của người bệnh, do bệnh nhân chọn Sự phán đoán kém sẽảnh hưởng bất lợi đến điểm BBS

B Thang điểm Timed Up and Go (TUG).

Thang điểm cơ bản, chính xác để đánh giá nguy cơ ngã và nhận ra cácrối loạn thăng bằng của bệnh nhân, bằng cách quan sát dáng đi bằng các độngtác đứng lên, đi bộ và ngồi xuống và đo thời gian bệnh nhân thực hiện, thangTUG đo thời gian một người khi họ đứng dậy từ một chiếc ghế, đi bộ ba mét,quay lại và quay trở lại ghế, thang TUG để hoàn thành mất 1-2 phút, và chỉcần một chiếc ghế và một đồng hồ bấm giờ Theo Shylie F.H.Mackintosh và

cs (2007) [59] độ tin cậy khi sử dụng TUG đánh giá rối loạn thăng bằng có độtin cậy tuyệt vời (ICC=0,97-0,98), đặc biệt TUG là tiêu chuẩn vàng đánh giárối loạn thăng bằng ở tư thế động Trong lần thăm khám đầu tiên thầy thuốccần hỏi kỹ về các lần ngã và nỗi sợ ngã Đối với các bệnh nhân từng ngã, cầnhỏi kỹ hơn hoàn cảnh ngã của bệnh nhân.Theo Anne Shumway – Cook (2000)nghiên cứu thì độ nhậy và độ đặc hiệu của thang điểm TUG trong đánh giá rốiloạn thăng bằng là trên 87% [61] Theo nghiên cứu của Beauchet O (2011)nghiên cứu về thang điểm TUG ở người cao tuổi cho rằng đây là thang điểmđầy đủ đánh giá tiền sử ngã và cung cấp thông tin chính xác về rối loạn thăngbằng ở người cao tuổi từ đó có thể tiên đoán được nguy cơ ngã trong tương lai

ở người cao tuổi [35] Năm 2013 Trung tâm phục hồi chức năng Shirley Ryan

ở Chicago, Hòa Kỳ cũng khuyến cáo thang điểm TUG là thang điểm đánh giárối loạn thăng bằng ở người cao tuổi có các bệnh lý mạn tính như viêm khớp,Parkinson…[58] Theo Al Haddan MA (2016) sử dụng TUG để đánh giá rối

Trang 20

loạn thăng bằng ở 191 bệnh nhân COPD cho rằng thang điểm TUG là thangđiểm nên được sử dụng để đánh giá rối loạn thăng bằng ở tất cả các bệnh nhânCOPD để từ đó tiên lượng được nguy cơ ngã của họ trong tương lai [62].

1.2.3 Các thang điểm đánh giá rối loạn nhận thức về sự thăng bằng và

đánh giá nguy cơ ngã.

A Thang điểm Falls Efficacy scale (FES-I).

Đây là thang điểm được sử dụng để đánh giá nhận thức, cảm nhận vềthăng bằng và trạng thái ổn định trong hoạt động hàng ngày, sự lo lằng vềnguy cơ ngã ở người cao tuổi trong cộng đồng Thang điểm FES là bộ câu hỏigồm 16 câu hỏi, mỗi câu hỏi cho điểm lần lượt từ 1 đến 4 điểm tùy theo cảmnhận, lượng giá của từng người Thang điểm đánh giá sự tự tin của bệnh nhânkhi thực hiện một số động tác làm cho bệnh nhân mất cân bằng hoặc khôngvững Theo Michael T Morgan (2014) [56], thang điểm FES-I có hệ số tươngquan tuyệt vời với (ICC= 0,94) và độ nhậy, độ đặc hiệu là 95% và 97% và tácgiả cũng khuyến cáo thang điểm FES-I khuyến cáo đánh giá rối loạn thăngbằng cho người cao tuổi có các bệnh lý mà họ không thể thực hiện được cácđộng tác theo yêu cầu trong các thang điểm

B Thang điểm Stratify.

Thang điểm Stratify được Oliver sử dụng vào năm 1997 để đánh giánguy cơ ngã ở những bệnh nhân cao tuổi nhập viện điều trị nội trú, dựa vào sốđiểm để dự đoán nguy cơ ngã từ đó đề xuật các biện pháp để ngăn chặn nguy

cơ ngã cho người bệnh, thang điểm Stratify gồm 05 câu hỏi về tri giác, rốiloạn dáng đi, có tiền sử ngã, có đi tiểu đêm, mờ mắt và trả lời có không, từ đócho tổng điểm Theo Jane Smith (2006) cho rằng thang điểm Stratify có giá trịcao trong dự báo nguy cơ ngã ở người bệnh cao tuổi với độ nhậy 89%, độ đặchiệu 91% [52] Theo St Thomas (2016), thang điểm Stratify để đánh giá nguy

cơ ngã ở người cao tuổi có độ nhậy 98%, độ đặc hiệu 88% [55]

C Thang điểm Hendrich II – Fall.

Trang 21

Đây là thang điểm được Ann Hendrich sử dụng vào năm 2003 để đánhgiá nguy cơ ngã ở người cao tuổi, gồm 5 mục là đánh giá về tri giác, đánh giá

về trạng thái trầm cảm, đánh giá về giới tính, đánh giá về tiền sử dùng thuốc

an thần, đánh giá về rối loạn tiền đình Theo Jialin Han (2017) cho rằng thangđiểm Hendrich II fall rất có giá trị để đánh giá nguy cơ ngã người cao tuổi[57] Tại Hoa kỳ thang điểm Hendrich II – Fall được sử dụng để đánh giánguy cơ ngã ở các bệnh nhân nội trú, thời gian để hoàn thành thang điểm này

là 3-5 phút [57] Theo Congcong Zhang (2015) nghiên cứu ở 989 bệnh nhânnội trú để đánh giá và dự đoán nguy cơ ngã của bệnh nhân cho rằng thangđiểm Hendrich II-Fall có hệ số tương quan tuyệt vời (ICC=0,99), độ nhậy là72%, độ đặc hiệu là 69%, và các tác giả khuyến cáo thang điểm Hendrich II-Fall có độ tin cậy cao trong đánh giá nguy cơ ngã của bệnh nhân [58]

1.2.4 Một số nghiên cứu về rối loạn thăng bằng và một số yếu tố liên quan

trên bệnh nhân cao tuổi có COPD.

Rối loạn thăng bằng ở bệnh nhân COPD có thể liên quan trực tiếp đếntuổi già, bệnh mạch vành Theo báo cáo Hội nghị Hô hấp sinh học Châu Á –Thái Bình Dương (2016) nghiên cứu rối loạn thăng bằng ở bệnh nhân COPDcao tuổi ở 102 bệnh nhân sử dụng thang điểm BBS để đánh giá rối loạn thăngbằng cho thấy có 27,5% sự suy giảm, rối loạn kiểm soát cân bằng ở bệnhnhân COPD cao tuổi và nghiên cứu cho biết có sự gia tăng rối loạn cân bằng

ở bệnh nhân COPD lớn tuổi (bệnh nhân trên 80 tuổi), còn nữ giới cao tuổiCOPD không có sự thay đổi rối loạn cân bằng đáng kể [29] Nghiên cứu nàycho thấy khả năng duy trì ổn định và thăng bằng là điều cần thiết cho sự tựchủ về chức năng trong các hoạt động sinh hoạt hàng ngày và tự do đi lạitránh ngã, rối loạn thăng bằng sẽ làm tăng nguy cơ tử vong ở bệnh nhânCOPD cao tuổi Nghiên cứu này cũng cho biết việc đánh giá thăng bằng ởbệnh nhân COPD nên được đưa vào đánh giá thường quy ở bệnh nhân COPD

để ngăn ngừa ngã và giảm hậu quả tàn phế nặng nề của nó [29]

Trang 22

Nghiên cứu của Alina Sorina Voica và cs (2016) về các thể bệnh COPD

và rối loạn thăng bằng trên 27 bệnh nhân COPD ổn định và 17 người khỏemạnh và có sử dụng thang điểm BBS đánh giá mức độ thăng bằng cho thấybệnh nhân COPD có sự rối loạn thăng bằng rõ rệt, trong đó tác giả cho rằngbệnh nhân cao tuổi có COPD thể khí phế thũng ít rối loạn thăng bằng hơn sovới bệnh nhân cao tuổi có COPD thể viêm phế quản mạn [30]

Nghiên cứu của Alexandru Floria Crisan và cs (2015) về rối loạn thăngbằng ở bệnh nhân COPD trên 46 bệnh nhân COPD, trong đó 29 bệnh nhân ổnđịnh và 17 bệnh nhân đang có đợt cấp COPD và 17 đối tượng khỏe mạnh làmnhóm chứng, sử dụng thang điểm thăng bằng BBS cho thấy có mối tươngquan có ý nghĩa thống kê (p <0,05) giữa rối loạn thăng bằng với mức độ viêm

ở bệnh nhân COPD [4] Tác giả cũng cho thấy mối tương quan giữa mức độ

lo lắng về khó thở với mức độ viêm, tương quan giữa mức độ FEV1(%) vớiđiểm BBS để đánh giá mức độ thăng bằng (p= 0,03, y=0,24x + 42,3) về số lầnngã, nhóm đợt cấp COPD có số lần ngã cao hơn nhóm COPD ổn định, khôngngã ở nhóm COPD ổn định trong một năm là 62,1% so với không ngã trongmột năm nhóm đợt cấp là 23,5%, một lần ngã 1 lần trong một năm ở bệnhnhân COPD ổn định là 37,9% so với nhóm COPD đợt cấp là 41,2%, hai lầnngã trong một năm nhóm COPD ổn định là 0% so với nhóm COPD đợt cấp là35,3% [4], [5] Nghiên cứu này đã nhấn mạnh và chứng minh nguy cơ rốiloạn thăng bằng dẫn tới ngã ở bệnh nhân COPD cao tuổi, đặc biệt là bệnhnhân COPD đợt cấp

Nghiên cứu của Roig M và cs (2009) về tình trạng ngã ở bệnh nhânCOPD trên 4050 phụ nữ cao tuổi cho rằng tỷ lệ ngã ở bệnh nhân COPD là 1,2người/năm cao gấp 4 lần ở tỷ lệ người cao tuổi không có bệnh COPD, đợt cấpCOPD làm tăng nguy cơ rối loạn thăng bằng dẫn tới ngã cũng do đợt cấp có

sự suy giảm trao đổi khí dẫn tới giảm oxy máu [31]

Trang 23

Nghiên cứu của Spruit MA và cs (2003) về tình trạng yếu cơ ở bệnhnhân COPD đợt cấp nằm viện trên 54 bệnh nhân cho thấy với các bệnh nhâncao tuổi nằm trên giường dài ngày do một bệnh nặng cấp tính đã làm giảm tỷ

lệ rối loạn thăng bằng dẫn tới ngã ở bệnh nhân COPD cao tuổi Tác giả cũngcho rằng đợt cấp COPD ảnh hưởng tiêu cực đến chức năng cơ bắp của bệnhnhân và hoạt động thể chất của người bệnh đã giải thích nguy cơ cao rối loạnthăng bằng dẫn tới ngã của bệnh nhân COPD [32]

Nghiên cứu của Beuchamp MK và cs (2014) về tình trạng suy giảm chứcnăng thăng bằng ở 35 bệnh nhân COPD có sử dụng thang điểm BBS cho thấy

ở những bệnh nhân có BBS 50 điểm thì có 10% bệnh nhân có rối loạn thăngbằng và có nguy cơ ngã, trong khi ở những bệnh nhân có 38 điểm hoặc thấphơn sẽ giảm được 90% nguy cơ rối loạn thăng bằng dẫn tới ngã, và cho thấyrằng sự thay đổi 8 điểm trong thang BBS cho biết có sự khác biệt quan trọng

về nguy cơ rối loạn thăng bằng dẫn tới ngã của bệnh nhân [34]

Nghiên cứu của Alexandru Floria Crisan và cs (2015) về tình trạng rốiloạn thăng bằng ở bệnh nhân COPD ở 46 bệnh nhân trong đó có 29 bệnh nhânCOPD ổn định và 17 bệnh nhân COPD đợt cấp cho thấy ở những bệnh nhânCOPD ổn định có thang điểm BBS là 53 điểm có sự khác biệt rất lớn về nguy

cơ rối loạn thăng bằng so với nhóm bệnh nhân đợt cấp COPD có điểm BBS là

44 điểm có nguy cơ rối loạn thăng bằng dẫn tới ngã là rất cao [5] Kết quảcũng cho rằng điểm BBS càng giảm đi thì nguy cơ rối loạn cân bằng dẫn tớingã càng tăng [5] Điểm số BBS thấp có thể giải thích do 40% bệnh nhân cókhả năng tập thể dục hạn chế do sự thay đổi cơ xương [4]

Nghiên cứu của Smith MD và cộng sự (2010) về tình trạng rối loạnthăng bằng dẫn tới ngã ở 12 bệnh nhân bị COPD cao tuổi và 12 người caotuổi khỏe mạnh, đối tượng tham gia nghiên cứu phải đứng trên một tấm áp lực

và tác giả sẽ ghi lại sự dịch chuyển áp lực để đánh giá mức độ thăng bằng, sự

Trang 24

di động của thắt lưng và sự dịch chuyển của hông được đo bằng máy đo độnghiêng, tác giả cho rằng những bệnh nhân COPD đã tăng sự dịch chuyển củalưng và hông hơn so với những người khỏe mạnh bình thường, do vậy tác giảcho rằng những người bị COPD đã giảm sự kiểm soát thăng bằng so vớinhững người khỏe mạnh bình thường, do vậy nguy cơ té ngã của những người

bị COPD tăng cao hơn [36]

Nghiên cứu của Ms.Iiknur và cộng sự (2013) về nguy cơ ngã của bệnhnhân COPD ổn định có sử dụng thang điểm BBS đánh giá trên 30 bệnh nhânCOPD cao tuổi trong đó có 26 nam và 4 nữ điều trị nội trú tại bệnh viện, chothấy rằng đa số bệnh nhân có nguy cơ rối loạn thăng bằng dẫn tới ngã cao vớiđiểm trung bình BBS là 34,15 ± 15,5 [37]

1.2.5 Các yếu tố liên quan rối loạn cân bằng ở bệnh nhân COPD cao tuổi.

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) là một bệnh lý về đường hô hấplàm hạn chế luồng không khí và không có khả năng hồi phục, ngoài các biểuhiện ở phổi bệnh nhân COPD còn biểu hiện ở các bệnh lý tim mạch, các suygiảm chức năng thăng bằng của cơ thể như giảm cơ bắp, giảm cân, viêm hệthống và các vấn đề về tâm lý [4], [35] Khả năng duy trì thăng bằng là rấtquan trọng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sinh hoạt nhất là ở người cao tuổidẫn tới nguy cơ ngã cao [4]

Các yếu tố dẫn tới rối loạn thăng bằng dẫn tới ngã ở người cao tuổi dohai nguyên nhân, đó là những yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến rối loạn thăngbằng như đi bộ trên bề mặt trơn, giầy dép không đúng cách, điều kiện sốngkhông ổn định hoặc các nguy cơ từ môi trường [37] Còn các nguyên nhânbên trong, nội tại đó là bệnh mạn tính, tuổi cao, yếu cơ, độ lệnh hướng đi [36].Trong bệnh COPD đã là tăng các rối loạn thăng bằng dẫn tới nguy cơ ngãcao hơn so với những người bằng độ tuổi nhưng không mắc bệnh COPD, nghiêncứu của Alexandru Floria Crisan và cộng sự (2015) về rối loạn thăng bằng ở

Trang 25

bệnh nhân COPD ở 46 bệnh nhân cho rằng mặc dù có nhiều yếu tố nguy cơ liênquan đến rối loạn thăng bằng ở bệnh nhân COPD cao tuổi, nhưng tác giả chorằng lo lắng với tình trạng khó thở được đánh giá bằng test đi bộ 6 phút, đánh giámức độ khó thở bằng câu hỏi CAT, mMRC, sự mệt mỏi, chỉ số BMI là nhữngyếu tố quan trọng nhất liên quan tới rối loạn thăng bằng [38], [39], [40].

Nghiên cứu của Marc Roig và cs (2009) về tình trạng ngã ở bệnh nhân

có bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính cho rằng những bệnh nhân cao tuổi cóCOPD có nguy cơ rối loạn thăng bằng dẫn tới ngã cao hơn so với người caotuổi không có COPD là do tình trạng yếu cơ và giảm hoạt động hàng ngàykéo dài gây lên [49], ngoài ra còn một số yếu tố khác nữa như tình trạng thiếudinh dưỡng, tình trạng thừa cân, và việc sử dụng một số thuốc kéo dài trongCOPD gây lên [49]

Nghiên cứu của Alexandru Floria Crisan và cộng sự cho rằng (2015) vềđánh giá rối loạn thăng bằng ở bệnh nhân COPD trên 46 bệnh nhân cho rằngtình trạng lo âu đến triệu chứng khó thở là yếu tố quan trọng liên quan tới rốiloạn thăng bằng [4], cũng theo tác giả, có sự liên quan tới khoảng cách đi bộdẫn tới ngã của bệnh nhân, và cho rằng test đi bộ 6 phút có thể là công cụ hữuích để đánh giá rối loạn cân bằng dẫn tới nguy cơ ngã của bệnh nhân COPDcao tuổi nhưng cần làm thêm một số nghiên cứu để xác định một ngưỡngthích hợp để dự đoán các trường hợp có rối loạn cân bằng [4], [40], [41] Theo một số tác giả nguyên nhân tình trạng khó thở qua test đi bộ 6 phútliên quan đến rối loạn thăng bằng ở bệnh nhân COPD cao tuổi là do thiếu oxymáu dẫn tới rối loạn chức năng chuyển hóa trong cơ và làm tăng axit lactic sớmhơn do vậy khả năng bệnh nhân ngừng tập thể dục cũng sớm hơn [42] Với liên

hệ này tác giả cho rằng khoảng cách đi bộ ngắn làm tăng nguy cơ rối loạn thăngbằng [42] Sợ hãi lo lắng cho tình trạng khó thở được một số tác giả cho rằngliên quan và làm tăng rối loạn cân bằng và làm tăng nguy cơ ngã

Trang 26

Nghiên cứu của Steven De Peuter và cộng sự (2010) về rối loạn thăngbằng qua đánh giá bằng điểm TSK trên 187 bệnh nhân có triệu chứng khó thở

ở bệnh nhân COPD cao tuổi đã sử dụng thang điểm BBQ (Breathlessnessbeliefs questionnaire) được chuyển đổi từ thang điểm TSK (Tampa Scale forKinesiophobia) cho rằng điểm BBQ càng cao càng làm giảm hoạt động chung

và sẽ làm tăng nguy cơ rối loạn cân bằng dẫn tới nguy cơ ngã cao [28], [43].Nghiên cứu của Alexandru Floria Crisan và cộng sự (2015) về đánh giátình trạng rối loạn thăng bằng ở bệnh nhân COPD trên 46 bệnh nhân đượcđánh giá tình trạng khó thở của bệnh nhân bằng bộ câu hỏi CAT cho có mốitương quan giữa điểm bộ câu hỏi với các hoạt động hàng ngày, di chuyển vàliên quan rối loạn thăng bằng, điểm CAT càng cao có tình trạng sức khỏechung cũng như rối loạn thăng bằng dẫn tới ngã càng cao [4], [5]

Nghiên cứu của Julia GS và cộng sự (2015) về thực trạng ngã và khó thở ởbệnh nhân COPD trên 43 bệnh nhân cho rằng có sự liên hệ tích cực và có ýnghĩa giữa số lần ngã trong một năm với số điểm CAT (p< 0,001) chứng tỏ điểmCAT tăng lên là yếu tố tiên đoán cho rối loạn thăng bằng ở bệnh nhân COPD caotuổi [5], [44] Mức độ nặng của triệu chứng khó thở ở bệnh nhân COPD cao tuổiđược đánh giá và tiên lượng bằng thang điểm MRCS (Medical Research CouncilScale) [4], [37]

Nghiên cứu của Ms.Iiknur và cộng sự (2013) về mối liên quan tình trạngmệt mỏi với rối loạn thăng bằng ở 187 bệnh nhân cho rằng sự mệt mỏi mạntính của bệnh nhân COPD cao tuổi được đánh giá bằng thang điểm CIS(Checklist Individual Strength) cho rằng sự mệt mỏi mạn tính cũng liên quanchặt chẽ với rối loạn cân bằng có nguy cơ ngã với p < 0,001 [37], [45] Mộtnghiên cứu ở Thổ Nhĩ Kỳ cho rằng ở những bệnh nhân có mệt mỏi mạn tínhđang điều trị có điểm CIS cao hơn hẳn những bệnh nhân khỏe mạnh bìnhthường với p <0.01 [37], [46]

Trang 27

Chỉ số khối cơ thể BMI (Body Mass Index) của mỗi người có ảnh hưởnglớn đến sức khỏe chung, cũng như ảnh hưởng tới nguy cơ rối loạn thăng bằngdẫn tới ngã của bệnh nhân COPD cao tuổi [4] Nghiên cứu của Himes và cộng

sự (2011) về mối quan hệ giữa BMI với tình trạng rối loạn thăng bằng ở10.750 người ở độ tuổi trên 65 cho rằng BMI cao có nguy cơ cao đến hoạtđộng hàng ngày nhất là rối loạn thăng bằng dẫn đến ngã so với người bìnhthường, còn BMI thấp hay gặp ở thiếu cân không liên quan đến rối loạn thăngbằng, và tác giả cũng cho rằng ở bệnh nhân cao tuổi bị COPD có BMI cao sẽlàm tăng nguy cơ rối loạn thăng bằng dẫn tới ngã và tàn phế [47]

Trang 28

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên được chẩnđoán COPD giai đoạn ổn định và đến khám và điều trị tại Bệnh viện Lão khoa

- Bệnh nhân có dấu hiệu thần kinh khu trú

- Bệnh nhân có dấu hiệu rối loạn tâm thần

- Bệnh nhân có bệnh lý tim mạch cấp

- Bệnh nhân có tình trạng suy hô hấp mạn tính

- Bệnh nhân và gia đình không đồng ý làm nghiên cứu

2.2.Địa điểm nghiên cứu

Bệnh viện Lão khoa trung ương, số 1A, Phương Mai, Đống Đa, Hà Nội

và Bệnh viện 19-8, Bộ Công an số 9 Trần Bình, Mai Dịch, Cầu Giấy, Hà Nội

2.3 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 08/2017 đến tháng 06/2018

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Thiết kế nghiên cứu

- Mô tả, cắt ngang

Trang 29

2.4.2 Cỡ mẫu nghiên cứu

- Phương pháp chọn mẫu thuận tiện, cỡ mẫu là các bệnh nhân cao tuổi cóCOPD giai đoạn ổn định từ 60 tuổi khám và điều trị tại Bệnh viện Lão khoa TW

và Bệnh viện 19-8, Bộ Công an từ tháng 9/2017 đến tháng 06 năm 2018

2.4.3 Quy trình nghiên cứu, kỹ thuật và công cụ thu thập thông tin:

Tất cả các đối tượng nghiên cứu được tiến hành thu thập số liệu nghiêncứu thông qua bệnh án nghiên cứu (Phụ lục 1) được thiết kế sẵn gồm: hànhchính, tiền sử bệnh tật, thời gian mắc bệnh, thăm khám lâm sàng, cận lâmsàng, các thang điểm đánh giá

2.4.3.1 Đặc điểm chung

* Tuổi, giới, trình độ học vấn, hút thuốc lá, BMI

Chỉ số cơ thể BMI được tính theo công thức

BMI = cân nặng (kg)/chiều cao x chiều cao (m)

Bảng 2.1 Chỉ số BMI cho người Việt Nam [16], [64]

* Hoạt động chức năng hàng ngày: ADL, IADL [1], [65]

- ADL (Activities of Daily Living) (Phụ lục 3): Bảng đánh giá hoạt động

hàng ngày ADL đang được sử dụng thường quy tại Bệnh viện Lão khoa Trungương

- Cách tiến hành:

Phỏng vấn bệnh nhân hoặc người chăm sóc về các hoạt động sinh hoạthàng ngày của bệnh nhân theo 6 câu hỏi về các hoạt động: ăn uống, đi vệsinh, mặc quần áo, chăm sóc bản thân, đi lại, tắm rửa

Trang 30

Bệnh nhân/người chăm sóc trả lời từng câu theo cách chấm điểm tươngứng với tình trạng của bệnh nhân (1 hoặc 0 điểm)

- Đánh giá kết quả:

Điểm tối đa đối với một người bình thường khỏe mạnh là 6 điểm; dưới 6điểm là có suy giảm chức năng hoạt động hàng ngày Điểm càng thấp tươngứng với khả năng tự chủ của bệnh nhân càng thấp và người chăm sóc phảiphục vụ bệnh nhân nhiều hơn

- IADL (Intrusmental Activities of Daily Living), (Phụ lục 4): Bảng

đánh giá hoạt động hàng ngày có sử dụng phương tiện, dụng cụ IADL đangđược sử dụng thường quy tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương

- Cách tiến hành:

Phỏng vấn bệnh nhân/người chăm sóc theo 8 câu hỏi về các hoạt độngsinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân khi sử dụng các dụng cụ phương tiện: sửdụng điện thoại, mua bán, nấu ăn, dọn dẹp nhà cửa, giặt quần áo, sử dụngphương tiện giao thông, sử dụng thuốc, khả năng quản lý chi tiêu

Bệnh nhân/người chăm sóc trả lời từng câu theo cách chấm điểm tươngứng với tình trạng của bệnh nhân (1 hoặc 0 điểm)

- Đánh giá kết quả:

Điểm tối đa đối với một người bình thường khỏe mạnh là 8 điểm, dưới 8điểm là có suy giảm chức năng hoạt động hàng ngày có sử dụng dụng cụ,phương tiện Điểm càng thấp tương ứng với sự phụ thuộc của bệnh nhân càngcao và người chăm sóc phải phục vụ bệnh nhân nhiều hơn

Trang 31

- Đo chức năng hô hấp: bằng máy spirolad III

Chẩn đoán và phân loại COPD giai đoạn ổn định: Theo tiêu chuẩnGOLD 2017 Khi bệnh nhân không có các triệu chứng hàng ngày tăng lên màbuộc bệnh nhân phải thay đổi điều trị hoặc phải vào viện điều trị

Với chỉ số Gaensler (FEV1/FVC < 70% sau test giãn phế quản)

Tiền căn đợt Đánh giá triệu chứng/nguy cơ

(D)Nhiều triệu chứngNguy cơ cao

0 hoặc 1

Không nhập viện

(A)

Ít triệu chứngNguy cơ thấp

(B)Nhiều triệu chứngNguy cơ thấp mMRC 0-1 mMRC ≥ 2

CAT < 10 CAT ≥ 10

Trang 32

Phân loại mức độ tắc nghẽn theo FEV1:

I: COPD nhẹ FEV1 > 80% trị số lí thuyết

II: COPD vừa50% < FEV1<80% trị số lý thuyết

III: COPD nặng 30% < FEV1<50% trị số lý thuyết

IV: COPD rất nặng FEV1<30% trị số lý thuyết

Xét nghiệm CRP trên máy Cobas C311

* Thang điểm BBS (Berg Balance Scale) (Phụ lục 5): Thang điểm BBS

được phát triển và hoàn thiện để đo lường mức độ cân bằng ở những ngườilớn tuổi có nguy cơ suy giảm chức năng cân bằng bằng cách đánh giá việcthực hiện một số động tác chức năng cân bằng

+ Dụng cụ để đánh giá rối loạn cân bằng trong thang điểm BBS gồm:

Thước kẻHai ghế tựa chuẩnGhế để chânĐồng hồ bấm giờĐường bộ 15 ft

+ Cách tiến hành:

Bệnh nhân thực hiện 14 động tác theo hướng dẫn nhân viên y tế

Thời gian thực hiện: 15 – 20 phút

+ Đánh giá thang điểm BBS

Mỗi động tác có 5 điểm: 0-4

Trang 33

Đánh giá thang điểm BBS

Khi sự thay đổi giữa 2 lần đo là là 8 điểm cho biết sự chính xác sự rốiloạn cân bằng giữa hai lần đo đánh giá

* Thang điểm Timed Up and Go (TUG): đây là thang điểm thông thường

và cơ bản để đánh giá nguy cơ ngã và nhận biết rối loạn thăng bằng thông quaquan sát dáng đi của người bệnh

+ Dụng cụ gồm: một ghế có tay vịn, một quãn đường dài 3m có vạch kẻsẵn, đồng hồ bấm giờ

+ Cách tiến hành: Cho người bệnh ngồi thoải mái trên ghế tựa có tay vịn,

đi giầy vừa chân, có thể sử dụng công cụ hỗ trợ đi lại nếu có (gậy, khung đitập ) Hướng dẫn bệnh nhân: Khi bác sỹ nói đi thì:

Đứng dậy

Đi hết quãng đường theo vạch kẻ sẵn với tốc độ bình thường

Quay đầu lại

Đi trở lại về ghế với tốc độ bình thường

Ngồi xuống ghế

+ Đánh gía kết quả: Tính thời gian lúc nói bệnh nhân đi đến lúc bệnhnhân ngồi xuống ghế

< 10 giây: Bình thường

10-20 giây: Giới hạn bình thường ở bệnh nhân tàn tật và người cao tuổi

> 20 giây: Bệnh nhân nguy cơ ngã cao

Trang 34

b Các yếu tố liên quan:

* Thang điểm đánh giá nhận thức và cảm nhận về rối loạn thăng bằng khi hoạt động (Falls Efficaci Scale)(Phụ lục 6): Thang điểm được sử dụng để

đánh giá nhận thức, cảm nhận về thăng bằng và trạng thái ổn định trong hoạtđộng hàng ngày, sự lo lằng về nguy cơ ngã ở người cao tuổi trong cộng đồng.Thang điểm gồm 16 mục, mỗi mục cho điểm tử 1 đến 4

Trang 35

Không

lo sợ(1)

Lo sợ1chút(2)

Losợ(3)

Rất

lo sợ(4)Ông bà cảm thấy lo sợ mức độ nào khi thực

hiện động tác dưới đây:

Khả năng

hoạt động

hàng ngày

Dọn dẹp nhà cửaMặc và cởi quần áoChuẩn bị bữa ăn hàng ngàyTắm rửa

Đi mua sắp

Khả năng

vận động

Đứng lên và ngồi xuống ghế

Đi lên và đi xuống câu thang

Đi dạo xung quanh nhàVới được vật qua đầu và dướinền nhà

Tới nghe điện thoại trướcchuông reo hết

Khả năng

đi lại

Đi bộ trên mặt đường trơnĐến chơi bạn bè, người than

Đi bộ tại nơi đông người

Đi bộ trên mặt đường ghồ ghề

Đi lên và xuống dốcTham gia các hoạt động xã hộiĐiểm thấp nhất là 16 điểm, điểm cao nhất là 64 điểm

Đánh giá: 16 – 19: Cảm nhận nguy cơ ngã thấp khi hoạt động

20 – 27: Cảm nhận nguy cơ ngã trung bình khi hoạt động

28 – 64: Cảm nhận nguy cơ ngã cao khi hoạt động [Delbaere 2010]

Trang 36

Cách thực hiện: Nhân viên y tế đưa câu hỏi đề người bệnh trả lời gồm 16câu hỏi Nếu bệnh nhân thường xuyên sử dụng các dụng cụ hỗ trợ hoặc ngườikhác giữ, hãy đánh giá sự tự tin của họ được bao nhiêu điểm khi sử dụngdụng cụ đó.

* Đánh giá nguy cơ ngã:

- Thang điểm STRATIFY (Phụ lục 7) đây là thước đo gồm 5 câu hỏiđánh giá nguy cơ ngã dựa vào bảng câu hỏi, khai thác tiền sử ngã, tiền sửbệnh lý, quan sát thăng bằng, đánh giá tinh thần

+ Cách làm: Nhân viên y tế dựa bảo bảng đánh giá để đánh giá và khaithác theo từng mục

1 Bn bị ngã trong khi nằm viện, thời gian gần đây 1 0

3 Bn bị rối loạn thị giác gây ảnh hưởng chức năng hàng ngày 1 0

+ Đánh giá:

0: Nguy cơ ngã thấp

1: Nguy cơ ngã trung bình

≥ 2: Nguy cơ ngã cao

-Thang điểm Hendrich II – Fall

Đây là thang điểm gồm 7 mục để đánh giá, mỗi mục cho điểm nguy cơtheo hướng dẫn

Cách làm: Nhân viên y tế dựa vào bảng hướng dẫn để đánh giá và khaithác theo từng mục

Trang 37

STT Yếu tố nguy cơ Điểm nguy cơ

Thang điểm mMRC(Medical Reseach Council)(Phụ lục 8): đánh giá tính

trạng khó thở: đây là thang điểm có 5 câu hỏi mô tả tình trạng khó thở khigắng sức

Thang điểm CAT (COPD assessment Test)(Phụ lục 8.): Thang điểm CAT

gồm 8 câu hỏi, cho bệnh nhân tự đánh giá từ mức độ nhẹ đến mức độ nặng,mỗi câu đánh giá có 8 mức độ tự 0 đến 5 điểm, tổng số điểm từ 0 đến 40điểm Bộ câu hỏi này sẽ giúp bệnh nhân và các nhân viên y tế đánh giá được

Trang 38

tác động của bệnh COPD ảnh hưởng lên sức khỏe và cuộc sống hàng ngàycủa bệnh nhân Nhân viên y tế sẽ sử dụng câu trả lời của bệnh nhân và kết quảđánh giá để giúp họ nâng cao hiệu quả điều trị bệnh COPD của bệnh nhân vàbệnh nhân sẽ được hưởng lợi ích nhiều nhất từ việc điều trị Người bệnh sẽ tựđánh giá theo bảng.

+ Cách tiến hành:

Nhân viên y tế sẽ hướng dẫn theo bảng để người bệnh đánh vào vị trítừng câu trả lời, sau đó nhân viên y tế sẽ tính điểm

Trang 39

+ Cách đánh giá

Điểm CAT Mức tác động Hình ảnh lâm sàng về tác động COPD

> 30 Rất cao

Bệnh nhân không làm được tất cả các việc

họ muốn, không có ngày nào thấy thoảimái Tắm hoặc gội đầu lâu hơn bìnhthường, không thể ra khỏi nhà để đi chợ,thường không thể đi xa khỏi giường

Không làm được hầu hết các việ họ muốn,xuất hiện khó thở khi đi quanh nhà, giặtquần áo, Có biểu hiện khó thở khi nóichuyện, mệt khi ho, ngủ không yên giấc dokhó thở, Họ thấy rằng tập thể dục không antoàn, họ cảm thấy lo lắng, sợ hãi khi kiểmsoát bệnh

10-20 Trung bình

COPD là bệnh nghiêm trọng nhất của bệnhnhân, có một số ngày bình thường với hầuhết ngày ho, khạc đờm bùng phát 1-2 lầntrong năm, khó thở hầu hết các ngày vàthường thức vào ban đêm, xuất hiện khóthở khi leo dốc, cầu thang

Hầu hết các ngày là tốt,, COPD có thể gâymột số khó chịu, làm người bệnh khônglàm được 1-2 việc mà họ muốn Họ thường

ho 1 vài ngày trong tuần và khó thở khi tậpthể thao, họ thường đi chậm hoặc dừng lạikhi leo dốc

2.5 Kế hoạch nghiên cứu.

Trang 40

2 Thu thập số liệu 01/9/2017 - 30/9/2018

3 Xử lý số liệu 01/10/2018 - 15/10/2018

4 Viết luận văn và in ấn 15/10/2018 - 30/10/2018

5 Báo cáo và nghiệm thu đề tài Tháng 11-12/2018

2.6 Xử lý số liệu.

Số liệu được phân tích cử lý bằng phần mềm thống kê SPSS 16.0

- Thống kê mô tả được thực hiện thông qua tính toán các số trung bình,cực tiểu, cực đại và các tỷ lệ Thống kê phân tích được thực hiện thông quacác test như khi bình phương so sánh các tỷ lệ, Mann-Whitney test đối với

so sánh 2 nhóm và Kruska Wallis test đối với so sánh 3 nhóm về mối liênquan giữa rối loạn thăng bằng với các giai đoạn COPD, mức độ khoa thở,mức độ viêm

- Mức p < 0,05 được sử dụng nhằm xác định ý nghĩa thống kê

2.7 Đạo đức nghiên cứu.

Nghiên cứu được tiến hành với sự đồng ý của bệnh nhân bằng phiếuđược ký Đối tượng được giải thích kỹ lưỡng các nội dung tham gia nghiêncứu và có thể rút ra khỏi nghiên cứu bất cứ lúc nào Mọi thông tin của đốitượng nghiên cứu đều được giữ bí mật, các số liệu thu thập chỉ được dùng vớimục đích khoa học, không dùng vào bất cứ mục đích nào khác Đề cươngnghiên cứu được Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học, Bệnh viện19-8 thông qua

Ngày đăng: 05/08/2019, 21:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. GOLD (2006), “ Global strategy for diagnosis management and prevention of COPD”, NHLBI/WHO, update 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Global strategy for diagnosis management andprevention of COPD”
Tác giả: GOLD
Năm: 2006
15. Lờ Thị Huyền Trang và cs (2009), ô Tần suất mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tớnh dựa vảo bảng cõu hỏi tầm soỏt GOLD ằ. Tập chớ Y học TP Hồ Chí Minh, tập 1 – Phụ bản 2009, 92-94 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ô Tần suất mắc bệnh phổi tắc nghẽnmạn tớnh dựa vảo bảng cõu hỏi tầm soỏt GOLD ằ
Tác giả: Lờ Thị Huyền Trang và cs
Năm: 2009
16. Nguyễn Ngọc Phương Thư và cs (2009), “Khảo sát sự tương quan giữa mức độ khó thở và FEV1 với chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính”. Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh, chuyên ngành Y học cơ sở, 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Khảo sát sự tương quangiữa mức độ khó thở và FEV1 với chất lượng cuộc sống ở bệnh nhânbệnh phổi tắc nghẽn mạn tính”
Tác giả: Nguyễn Ngọc Phương Thư và cs
Năm: 2009
17. Nguyễn Quỳnh Loan (2002). “ Nghiên cứu dịch tễ học bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại phường Khương Mai, quận Thanh Xuân, Hà Nội”.Tạp chí Y học thực, 11(34): 14-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Nghiên cứu dịch tễ học bệnh phổi tắcnghẽn mạn tính tại phường Khương Mai, quận Thanh Xuân, Hà Nội”
Tác giả: Nguyễn Quỳnh Loan
Năm: 2002
20. Chu thị Hạnh (2007) “ Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và dịch tễ học bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trong công nhân của một số nhà máy công nghiệp ở Hà Nội”. Luận văn tiến sỹ Y học, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và dịch tễ họcbệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trong công nhân của một số nhà máycông nghiệp ở Hà Nội
21. Nguyễn Viết Nhung (2011), “ Giải pháp cho quản lý Hen và COPD ở Việt Nam”, Tạp chí Lao và Bệnh phổi, số 3 tháng 4/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Giải pháp cho quản lý Hen và COPD ởViệt Nam”
Tác giả: Nguyễn Viết Nhung
Năm: 2011
22. Ngô Quý Châu (2011), “ Bệnh hô hấp”, Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam, 177 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Bệnh hô hấp”
Tác giả: Ngô Quý Châu
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục ViệtNam
Năm: 2011
23. Phạm Khuê (2003), Bệnh học lão khoa từ đại cương đến thực hành, nhà xuất bản Y học 2003, trang 145-146 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh học lão khoa từ đại cương đến thực hành
Tác giả: Phạm Khuê
Nhà XB: nhà xuất bản Y học 2003
Năm: 2003
24. UNFPA (2011), Già hóa dân số và người cao tuổi ở Việt Nam: thực trạng, dự báo và gợi ý chính sách.:68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Già hóa dân số và người cao tuổi ở Việt Nam: thựctrạng, dự báo và gợi ý chính sách
Tác giả: UNFPA
Năm: 2011
25. Nguyễn Thanh Bình (2009), Ngã và rối loạn dáng đi ở người cao tuổi, tạp chí Y học thực hành, số 789, 39-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngã và rối loạn dáng đi ở người cao tuổi
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Năm: 2009
26. Salzman B(2010), Gait and balance disorders in older adults, American Academy of Family Physicians, p: 112-113 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gait and balance disorders in older adults
Tác giả: Salzman B
Năm: 2010
29. Rối loạn cân bằng ở bệnh nhân COPD cao tuổi (2016), Báo cáo hội nghị Hô hấp sinh học Châu Á Thái Bình Dương tại Thái Lan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rối loạn cân bằng ở bệnh nhân COPD cao tuổi
Tác giả: Rối loạn cân bằng ở bệnh nhân COPD cao tuổi
Năm: 2016
30. Voica AS và cs (2015), “ Chronic Obstructive pulmonary disease phenotypes and balance impairment”, 23 November 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Chronic Obstructive pulmonary diseasephenotypes and balance impairment”
Tác giả: Voica AS và cs
Năm: 2015
31. Roig M, Eng JJ và cs (2009), “ Falls in patients with chronic obstructive pulmonary disease”, Respir Med, 103 (9): 1257-1269 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Falls in patients with chronicobstructive pulmonary disease”
Tác giả: Roig M, Eng JJ và cs
Năm: 2009
32. Spruit MA và cs (2003), “ Muscle force during an acute axerbation in hospital patient with COPD and ít relationship”, Thorax, 58: 752-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Muscle force during an acute axerbation inhospital patient with COPD and ít relationship”
Tác giả: Spruit MA và cs
Năm: 2003
33. Tinetti ME, Speechley và cs (1994), Fear of falling and fall-related falling effecacy in relatioship to functionning among community, Engl J Med, 319(26): 1701-1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fear of falling and fall-relatedfalling effecacy in relatioship to functionning among community
Tác giả: Tinetti ME, Speechley và cs
Năm: 1994
34. Beauchamp MK và cs(2010), Defictis in postural control in individuals with COPD – emegency evidence for importain secondary impairment, Multidisciplinary Respisratory Medicine, 217-421 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Defictis in postural control in individualswith COPD – emegency evidence for importain secondary impairment
Tác giả: Beauchamp MK và cs
Năm: 2010
36. Smiths MD và cs (2010), Balance is impaisred in people with chronic obstructive pulmonary disease, Gait posture, 456-460 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Balance is impaisred in people with chronicobstructive pulmonary disease
Tác giả: Smiths MD và cs
Năm: 2010
37. Ms. Iiknur và cs (2013), Investigation of balance problem and affecring factors in COPD patients, Publication number, P 1299 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Investigation of balance problem andaffecring factors in COPD patients
Tác giả: Ms. Iiknur và cs
Năm: 2013
38. Berg K và cs (1989), Functional assessments of balance and gait Clin.GeriaMed, 705-723 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Functional assessments of balance and gait
Tác giả: Berg K và cs
Năm: 1989

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w