1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIêN cứu tác DỤNG của cốm TAN SINH hóa TRêN THỰC NGHIỆM và lâm SÀNG đối với PHỤ nữ SAU SINH

67 63 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 2,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mọi sự bất thường trong quá trình co hồi tử cungđều gây ra những nguy cơ cho bà mẹ như chảy máu do đờ tử cung tiên pháthoặc thứ phát, sót rau sót màng, chấn thương…, nhiễm khuẩn, ứ sản d

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU SINH

Người hướng dẫn khoa học:

1 PGS TS Tạ Văn Bình

2 GS.TS Nguyễn Viết Tiến

HÀ NỘI - 2017 MỤC LỤC

Trang 2

1.1 Theo Y học hiện đại 3

1.1.1 Thay đổi về giải phẫu và sinh lý sau khi đẻ 3

1.1.2 Những hiện tượng lâm sàng 7

1.1.3 Chăm sóc và điều trị hậu sản thường 9

1.1.4 Biến chứng trong thời kỳ hậu sản 12

1.2 Theo Y học cổ truyền 13

1.2.1 Đặc điểm sinh lý của phụ nữ về thai nghén và sinh đẻ 13

1.2.2 Hậu sản 14

1.3 Tổng quan về bài thuốc Sinh hóa thang 16

1.3.1 Nguồn gốc xuất xứ 16

1.3.2 Thành phần 16

1.3.3 Cách dùng 16

1.3.4 Tác dụng 16

1.3.5 Ứng dụng lâm sàng 16

1.3.6 Chú ý 16

1.3.7 Phân tích bài thuốc 17

1.4 Tình hình nghiên cứu về thời kỳ hậu sản thường 24

1.4.1 Thế giới 24

1.4.2 Việt Nam 26

CHƯƠNG 2: CHẤT LIỆU - ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 Chất liệu nghiên cứu 27

2.1.1 Thuốc YHCT 27

2.1.2 Thuốc YHHĐ 28

2.1.3 Phương tiện và trang thiết bị nghiên cứu 28

Trang 3

2.2.2 Đối tượng nghiên cứu trên lâm sàng 29

2.3 Phương pháp nghiên cứu 30

2.3.1 Phương pháp nghiên cứu trên thực nghiệm 30

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu trên lâm sàng 36

2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 41

2.3.4 Đạo đức trong nghiên cứu 41

2.3.5 Thiết kế nghiên cứu tổng quát 42

Chương 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ 43

3.1 Nghiên cứu trên thực nghiệm 43

3.1.1 Độc tính cấp của Cốm tan Sinh hóa 43

3.1.2 Độc tính bán trường diễn 43

3.1.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc lên cơ trơn tử cung thỏ 43

3.1.4 Tác dụng của Cốm tan Sinh hóa trên cơ ruột cô lập của thỏ sau sinh 45

3.1.5 Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc lên sự co hồi cơ tử cung 45

3.1.6 Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc lên sự bài tiết sữa trên động vật 45 3.2 Nghiên cứu trên lâm sàng 46

3.2.1 Đặc điểm chung 46

3.2.2 Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng trước điều trị 47

3.2.3 Hiệu quả điều trị 48

3.2.4 Kết quả điều trị 53

3.2.5 Tác dụng không mong muốn của thuốc 54

Chương 4: DỰ KIẾN BÀN LUẬN 55

4.1 Kết quả nghiên cứu thực nghiệm 55

4.1.1 Kết quả nghiên cứu độc tính cấp 55

4.1.2 Tác dụng của Cốm tan Sinh hóa đối với cơ trơn thỏ sau sinh 55

Trang 4

4.2.2 Tác dụng giảm đau của Cốm tan Sinh hóa 55

4.2.3 Tác dụng tống sản dịch của Cốm tan Sinh hóa 55

4.2.4 Tác dụng đối với sự tiết sữa của Cốm tan Sinh hóa 55

4.2.5 Hiệu quả điều trị chung 55

4.2.6 Tác dụng không mong muốn của thuốc 55

4.3 Bàn luận về bài thuốc và dạng thuốc nghiên cứu 55

DỰ KIẾN KẾT LUẬN 56 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

Bảng 3.1: Kết quả nghiên cứu độc tính cấp 43

Bảng 3.2: Ảnh hưởng của Cốm tan Sinh hóa lên tần số cơn co tử cung cô lập thỏ sau sinh 43

Bảng 3.3: Ảnh hưởng của Cốm tan Sinh hóa lên biên độ cao nhất cơn co tử cung cô lập thỏ sau sinh 44

Bảng 3.4: Ảnh hưởng của Cốm tan Sinh hóa lên biên độ thấp nhất cơn co tử cung cô lập thỏ sau sinh 44

Bảng 3.5: Ảnh hưởng của Cốm tan Sinh hóa lên biên độ trung bình cơn co tử cung cô lập thỏ sau sinh 44

Bảng 3.6: Ảnh hưởng của Cốm tan SH lên tần số cơn co ruột cô lập thỏ sau sinh 45

Bảng 3.7: Ảnh hưởng của Cốm tan Sinh hóa lên biên độ trung bình cơn co ruột cô lập thỏ sau sinh 45

Bảng 3.8: Đặc điểm về tuổi 46

Bảng 3.9: Đặc điểm về con so, con rạ 46

Bảng 3.10: Đặc điểm về đẻ thường và mổ đẻ 46

Bảng 3.11: Kích thước tử cung trên siêu âm 47

Bảng 3.12: Niêm mạc tử cung .47

Bảng 3.13: Thang điểm VAS 47

Bảng 3.14: Bảng Mạch trước điều trị 47

Bảng 3.15: Bảng nhiệt độ trước điều trị 48

Bảng 3.16: Bảng Huyết áp tâm thu trước điều trị 48

Bảng 3.17: Sự thay đổi kích thước tử cung sau điều trị 48

Bảng 3.18 Sự thay đổi thang điểm VAS 49

Bảng 3.19: Sự thay đổi lượng sản dịch của hai nhóm 49

Bảng 3.20: Số ngày hết sản dịch của hai nhóm 50

Trang 6

Bảng 3.23: Sự thay đổi tần số mạch của hai nhóm trong đợt điều trị 52

Bảng 3.24: Sự thay đổi nhiệt độ của hai nhóm trong đợt điều trị 52

Bảng 3.25: Sự thay đổi huyết áp tâm thu của hai nhóm trong đợt điều trị 52

Bảng 3.26: Sự thay đổi huyết áp tâm trương của hai nhóm 53

Bảng 3.27: Kết quả điều trị theo con so, con rạ của hai nhóm 53

Bảng 3.28: Kết quả điều trị chung 53

Bảng 3.29: Phân bố triệu chứng không mong muốn trên lâm sàng 54

Bảng 3.30: Chỉ số sinh hóa của hai nhóm trước - sau điều trị 54

Trang 7

Hình 1.1 Đương Quy 19

Hình 1.2: Xuyên khung 20

Hình 1.3: Đào nhân 21

Hình 1.4: Cam thảo 22

Hình 1.5 Bào khương 23

Hình 2.1: Một thang thuốc Sinh hóa thang 28

Hình 2.2: Hình ảnh cốm tan sinh hóa 28

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thời kỳ hậu sản được tính từ sau khi sản phụ đẻ xong đến khi các cơquan sinh dục (ngoại trừ vú) trở lại bình thường về giải phẫu và sinh lý nhưtrước khi có thai Thời kỳ này có thời gian là 6 tuần Tuy thời gian ngắnnhưng nếu sản phụ không được chăm sóc cẩn thận có thể gặp rất nhiều cácbiến chứng, đặc biệt là những tai biến sản khoa có thể gây tử vong cho mẹnhư: chảy máu sau đẻ, nhiễm khuẩn hậu sản, tiền sản giật và sản giật, vỡ tửcung Theo thống kê từ Bộ Y tế, năm 2013 cả nước vẫn còn 5.033 trường hợpbăng huyết, với 89 trường hợp tử vong, đứng hàng đầu về số lượng tử vongtrong các tai biến [1] Trong thời kỳ hậu sản, bộ phận sinh dục có sự thay đổinhiều nhất là tử cung Nguyên nhân do khi mang thai, tử cung thay đổi về giảiphẫu và sinh lý, đặc biệt là sự mở rộng của các lớp cơ, niêm mạc và thanhmạc, thể tích tử cung từ 3-5 ml ban đầu thành 5000ml trước khi sinh Vì vậy,ngay sau sinh, tử cung sẽ thực hiện các quá trình co rút, co bóp và co hồi đểtrở về kích thước ban đầu Mọi sự bất thường trong quá trình co hồi tử cungđều gây ra những nguy cơ cho bà mẹ như chảy máu (do đờ tử cung tiên pháthoặc thứ phát, sót rau sót màng, chấn thương…), nhiễm khuẩn, ứ sản dịch…theo y học hiện đại (YHHĐ), có rất nhiều phương pháp nhằm hạn chế các taibiến sản khoa trong thời kì này như kiểm soát tử cung, sử dụng các thuốc tăng

co bóp tử cung (Oxytocin, Ergometrin, Misoprostol…), kháng sinh… [2]

Trong y học cổ truyền(YHCT), có rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra một

số vị thuốc, bài thuốc không những có tác dụng tăng co bóp, co hồi tử cung,tăng tống sản dịch ra ngoài mà còn có tác dụng kích thích bài tiết sữa ở phụ

nữ sau sinh Một trong các bài thuốc được sử dụng nhiều nhất trong giai đoạnđầu sau sinh là bài thuốc “Sinh hóa thang” trích từ Phó Thanh Chủ nữ khoacủa danh y đời Minh Phó Sơn [3][4] Bài thuốc đã được nghiên cứu chứng

Trang 9

minh trên thực nghiệm lâm sàng dưới dạng cao lỏng và sắc thang Tuy nhiênviệc sử dụng dưới dạng sắc hay cao lỏng khó bảo quản và vận chuyển nênNhóm nghiên cứu tiến hành nghiên cứu tác dụng bài thuốc dưới dạng cốm tantrên thực nghiệm và lâm sàng Nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu sau:

1 Đánh giá độc tính cấp – bán trường diễn và tác dụng trên cơ trơn của Cốm tan Sinh hóa trong thực nghiệm.

2 Đánh giá tác dụng của Cốm tan Sinh hóa đối với phụ nữ sau sinh qua một số chỉ tiêu lâm sàng.

Trang 10

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Theo Y học hiện đại

1.1.1 Thay đổi về giải phẫu và sinh lý sau khi đẻ

1.1.1.1 Đại cương thời kỳ sau đẻ (thời kỳ hậu sản)

Hậu sản là thời kỳ các cơ quan sinh dục trở lại bình thường (trừ vú vẫnphát triển để tiết sữa) về mặt giải phẫu và sinh lý

Thời kỳ hậu sản về phương diện giải phẫu là 42 ngày kể từ sau khi đẻ vì ởnhững người không cho con bú kinh nguyệt có thể xuất hiện trở lại [5]

Là giai đoạn cần theo dõi để:

 Phát hiện và điều trị dự phòng các biến chứng sau đẻ như: chảymáu, nhiễm trùng

 Giải thích và hướng dẫn cho sản phụ những thắc mắc, sinh hoạtthường hàng ngày, nuôi con bằng sữa mẹ [5]

1.1.1.2 Những hiện tượng giải phẫu và sinh lý

* Thay đổi ở tử cung

- Thay đổi ở thân tử cung

Cuối thời kỳ thai nghén chiều cao tử cung trên khớp vệ 30-35cm, cânnặng 1500gr Trước khi có thai tử cung hoàn toàn ở trong tiểu khung vớichiều cao 6cm, cân nặng là 60gr Sự thay đổi của tử cung diễn ra rất nhanhtrong 2 tuần đầu tiên sau đẻ sau đó chậm hơn, nó trở về bình thường tối thiểu

2 tháng sau đẻ Vì vậy không được đặt vòng trong 2-3 tháng đầu sau đẻ Sau

đẻ tử cung có ba hiện tượng sau:

Trang 11

Co cứng: sau sổ rau tử cung co cứng trong vòng 2-3 giờ đầu để thực hiện

tắc mạch sinh lý Trên lâm sàng thấy tử cung co cứng thành cầu an toàn Sau

đó tử cung co cứng chỉ có co bóp nhẹ nên nắn thấy tử cung mềm hơn

Co bóp: những ngày đầu sau đẻ thỉnh thoảng có cơn co bóp mạnh làm

sản phụ đau (bình thường cơn co bóp tử cung thời kỳ hậu sản không gây đau)

Tử cung co bóp mạnh do bị kích thích bởi sản dịch, máu cục, sự cho con búhay mức độ căng quá mức của trực tràng, bàng quang do bị liệt cơ năng sau

đẻ Vì vậy mỗi cơn co bóp mạnh có ít máu cục hay thoát ra cùng sản dịch

Co hồi: sau đẻ tử cung co trên khớp mu 13cm, trung bình mỗi ngày tử

cung co hồi 1cm, ngày đầu có thể co nhanh hơn 2-3cm, và sau đẻ khoảng

12-13 ngày thì không sờ thấy đáy tử cung trên khớp vệ nữa

Sự co hồi tử cung sau đẻ phụ thuộc vào các yếu tố sau: ở người con so,

tử cung co hồi nhanh hơn người con rạ Người đẻ thường, tử cung co nhanhhơn ở người mổ đẻ Người cho con bú, tử cung co nhanh hơn người khôngcho con bú Tử cung bị nhiễm khuẩn co hồi chậm hơn tử cung không nhiễmkhuẩn Bí đái, táo bón sau đẻ tử cung bị đẩy lên cao và co hồi chậm [6][7][8]

- Thay đổi ở đoạn dưới và cổ tử cung:

Đoạn dưới của thân tử cung thay đổi rất nhanh, từ 10cm như đàn xếpdần thu ngắn lại đến ngày thứ 4 trở thành eo tử cung

Cổ tử cung đóng lại: lỗ trong đóng 5-8 ngày sau đẻ, lỗ ngoài đóng vàongày 12 sau đẻ Lỗ trong đóng lại hoàn toàn còn lỗ ngoài hé mở nhất là ởnhững người đẻ nhiều lần Ống cổ tử cung thành hình nón đáy ở dưới Lỗngoài hé mở, niêm mạc trong ống cổ tử cung lộn ra ngoài, sau 3 tháng (có khi

1 năm) lộn tuyến cổ tử cung tự nhiên giảm dần, cần theo dõi đề phòng nhiễmtrùng nhưng không được đốt tuyến trong thời kỳ hậu sản [6][7][8]

Trang 12

- Phúc mạc tử cung:

Ngay sau khi sổ thai và rau, phúc mạc có nhiều nếp nhăn (thấy rõ trongkhi mổ lấy thai), các nếp nhăn này biến đi nhanh vì phúc mạc teo và co lại [6][7][8]

- Cơ tử cung:

Lớp cơ tử cung sau đẻ dày 3-4cm, các sợi cơ phì đại và dài ra trong thai

kỳ có tính đàn hồi sẽ thu nhỏ lại, một số thì thoái hóa thành tế bào mỡ và tiêu

đi Theo sự co hồi của lớp cơ các mạch máu cũng co lại [6][7][8]

- Niêm mạc tử cung:

Rau bong ở lớp xốp, khi sổ rau ra ngoài màng rau mang theo lớp đặccủa ngoại sản mạc Lớp màng rụng nền vẫn còn nguyên và sẽ phát triển hồiphục lại niêm mạc tử cung Sau khi sổ thai và rau cả vùng màng và rau bámniêm mạc sẽ phát triển qua hai giai đoạn để trở về chức năng bình thường:Giai đoạn thoái triển: 14 ngày đầu sau đẻ các ống tuyến và các sản bàothoát ra ngoài cùng sản dịch

Giai đoạn phát triển: các tế bào trụ trong đáy tuyến phát triển và phân bàodưới ảnh hưởng của estrogen và progesteron Từ ngày 25-45 sau đẻ, niêmmạc tử cung tăng sinh dưới tác dụng của estrogen; 6 tuần sau đẻ, mặt trongđược phủ bởi một lớp tế bào trụ và thực hiện chu kỳ kinh đầu tiên trở lại vòngkinh bình thường biểu hiện phóng noãn xung quanh ngày 40 Hay gặp vòngkinh không phóng noãn và kinh nguyệt chỉ là sự trở lại bình thường của niêmmạc tử cung Theo lý thuyết diễn ra trong khoảng 60 ngày sau đẻ, thay đổi tùythuộc có cho con bú hay không, có điều trị ức chế prolactin, thuốc tránh thaikết hợp Từ đó có thể suy ra rằng niêm mạc tử cung không chuẩn bị làm tổ từngày 25 của vòng kinh nữa Hơn nữa chất nhầy cổ tử cung không đủ cho tinhtrùng xâm nhập lên, vì vậy không dùng estrogen trước 25 ngày sau đẻ vì niêmmạc tử cung đang còn bong [6][7][8]

Trang 13

* Âm hộ, âm đạo, tầng sinh môn.

Âm hộ, âm đạo bị dãn căng sau đẻ, sẽ co dần lại và 10-15 ngày sau đẻ sẽtrở về bình thường

Những tổn thương bề mặt âm đạo liền nhanh chóng, những tổn thươngsâu và rộng ở âm đạo phải chăm sóc cẩn thận vì lớp bề mặt có thể bìnhthường nhưng đôi khi không mềm mại gây đau khi giao hợp

Sa bàng quang nhẹ thường gặp ở những ngày đầu, nó cũng mất đi nhanh

và hoàn toàn theo những tổn thương phối hợp ở dưới niêm mạc

Sự teo niêm mạc âm đạo, giảm tiết dịch thay đổi tùy có cho con bú haydùng nội tiết Màng trinh luôn bị xé rách khi thai đi qua chỉ còn lại di tích

Âm hộ hé mở ở những ngày đầu tiên và co lại theo tổ chức dưới niêm mạc.Tầng sinh môn: trương lực cơ bề mặt và cơ nâng hậu môn trở về bìnhthường phụ thuộc vào cuộc đẻ và cắt khâu tầng sinh môn Trương lực cơ tốtlên khi tập thể dục tầng sinh môn trong thời kỳ hậu sản [6][7][8]

* Phần phụ

Các dây chằng tử cung, vòi trứng, buồng trứng dần trở về bình thường

về chiều dài, hướng và vị trí

* Vú

Trong thời kỳ có thai, dưới ảnh hưởng của nội tiết thai nghén, vú pháttriển, đặc biệt là sau đẻ Một vài ngày sau đẻ vú căng to, rắn chắc, núm vúcũng to và dài ra, các tĩnh mạch vú nổi lên rõ rệt, các tuyến sữa to, có khi lêntận nách, lúc đó sẽ tiết sữa Hiện tượng tiết sữa xảy ra khi có sự giảm đột ngộtestrogen, prolactin được giải phóng ra tác dụng lên tuyến sữa [5]

* Nội tiết

Estrogen tụt ngay từ ngày đầu sau đẻ, từ ngày 25 dưới tác dụng của FSHbắt đầu chế tiết estrogen chuẩn bị vòng kinh mới Progesteron cũng hạ trongkhoảng 10 ngày đầu sau đẻ Nó biến mất và trở lại chỉ sau khi có phóng noãn

Trang 14

xảy ra sớm, nhất vào khoảng 40 ngày sau đẻ Prolactin tăng cao ngay sau đẻ

và giảm sau ngày 15 ngay cả cho con bú [6][7][8]

1.1.2 Những hiện tượng lâm sàng

1.1.2.1 Sự co hồi tử cung

Sau đẻ tử cung cao trên khớp vệ 13cm, mỗi ngày co lại được 1cm, ngàyđầu co nhanh hơn, có thể co được 2-3cm Thường đến ngày thứ 12-13 sau đẻkhông sờ thấy tử cung trên khớp vệ nữa

Sau đẻ tử cung phải co bóp mạnh để tống máu cục và sản dịch cònđọng lại trong buồng tử cung ra ngoài gây ra cơn đau tử cung, mức độ đau tùyvào cảm giác của từng sản phụ Người đẻ con rạ đau nhiều hơn vì chất lượng

cơ tử cung không con tốt như cơ tử cung người đẻ con so, tử cung phải co bópmạnh hơn để tống máu cục và sản dịch ra ngoài Ở một số sản phụ, các cơnđau có thể kéo dài nhiều ngày Các cơn đau tử cung đặc biệt cũng có thể gặpkhi cho trẻ bú do oxytoxin giải phóng ra nhiều Thường các cơn đau sẽ giảmdần về cường độ và sản phụ cảm thấy dễ chịu vào ngày thứ 3 sau đẻ

Theo dõi lâm sàng co hồi tử cung bằng cách đo chiều cao tử cung hàngngày Những ngày sau đẻ ở những trường hợp bị táo bón, bí đái tử cung bịđẩy lên cao, co hồi chậm Khi tử cung to, đau, sản phụ sốt, sản dịch (nhiều,hôi) thì phải nghĩ đễn nhiễm khuẩn hậu sản [8], [9]

tế bào biểu mô ở cổ tử cung và âm đạo bị thoái hóa bong ra

Tính chất: trong ba ngày đầu, sản dịch toàn máu loãng và máu cục nhỏ,

có màu đỏ sẫm Từ ngày thứ tư đến ngày thứ tám, sản dịch loãng hơn, chỉ là

Trang 15

một chất nhầy lẫn ít máu nên có màu lờ lờ máu cá Từ ngày thứ chín trở đi,sản dịch không có máu, chỉ còn là một dịch trong vàng màu của huyết tương.Bình thường trong sản dịch không bao giờ có máu mủ, nhưng khi đi qua âmđạo, âm hộ, sản dịch mất tính vô khuẩn và có thể bị nhiễm các vi khuẩn gâybệnh Vì vậy ứ sản dịch là điều kiện thuận lợi cho nhiễm khuẩn hậu sản.

Mùi: sản dịch có mùi nồng, nếu bị nhiễm khuẩn sẽ có mùi hôi

Khối lượng: Khối lượng sản dịch thay đổi tùy người Trong 10 ngàyđầu, trung bình sản dịch có thể ra tới 1500g, đặc biệt ngày thứ nhất và thứ hai

có thể lên đến 1000g, các ngày sau sản dịch ra ít dần, hai tuần thì hết hẳn.Ngày 20 sản phụ có thể ra ít huyết đỏ tươi, loãng trong 1 đến 2 ngày đó làhiện tượng kinh non do niêm mạc tử cung phục hồi sớm [8], [9]

Ở người con so, cho con bú, sản dịch hết nhanh hơn do tử cung co hồinhanh hơn Ở người mổ đẻ, sản dịch thường ít hơn so với người đẻ thường

Nếu sản dịch ra nhiều, kéo dài hoặc đã hết huyết đỏ sẫm, lại ra máu táilại cần phải theo dõi sót rau sau đẻ

Trên lâm sàng theo dõi sản dịch bằng cách khám, cân khố sản phụ [10]

1.1.2.3 Sự xuống sữa

Sữa non có thể có từ khi đang có thai, sau đẻ 2-3 ngày với con rạ, sau3-4 ngày với con so, nhờ Prolactin hai vú sẽ căng to và tiết sữa, gọi là hiệntượng xuống sữa Sản phụ có thể bị sốt nhẹ dưới 38 độ, hai vú căng to, mạchnhanh, khi sữa được tiết ra thì tình trạng này sẽ hết Nếu sau khi sữa đã xuốngrồi mà vẫn còn sốt phải đề phòng nhiễm khuẩn ở tử cung hoặc ở vú [9]

Sữa những ngày đầu tiên là sữa non có màu vàng, nhiều men tiêu hóa,muối khoáng, protein (globulin và kháng thể), đường, mỡ Về sau sữa sẽ đặchơn, ngọt hơn, đó là sữa mẹ bình thường [11], [12], [13]

Khi nào cho trẻ bú mẹ: Ngay sau khi đẻ để trẻ bú được sữa non là sữa

có giá trị dinh dưỡng cao và có vai trò sinh lý hoạt động hệ thống tiêu hóa của

Trang 16

trẻ, gắn kết tình cảm giữa mẹ và con, đồng thời kích thích tuyến yên tiếtoxytocin có tác dụng co bóp tử cung và tiết sữa.

Số lần cho bú: Trong những ngày đầu số lần cho bú nhiều hơn, từ 7-9lần, cho trẻ bú cả hai vú Các lần cho bú cách nhau từ 2-3h, tốt nhất là cho búkhi trẻ đòi bú Sau vài ngày chính cảm giác đói của trẻ tự điều hòa số lần bú

Trọng lượng cơ thể: sản phụ có thể sụt 3kg đến 5kg do sự bài tiết mồhôi, nước tiểu, sản dịch

Nếu sản phụ không cho con bú, sản phụ có thể có kinh lại lần đầu tiênsau 6 tuần và hết thời kỳ hậu sản [9]

1.1.3 Chăm sóc và điều trị hậu sản thường

1.1.3.1 Chăm sóc tinh thần

Trong thời gian sản phụ nằm viện, có sự theo dõi của bác sĩ, nữ hộ sinh

và gia đình chăm sóc để sản phụ yên tâm, phục hồi sức khỏe nhanh sau đẻ,stress sau sinh có thể gây ra mất sữa [1515]

Trang 17

1.1.3.2 Vệ sinh

Vệ sinh cá nhân: tắm rửa bằng nước sạch, nơi thoáng khí không có giólùa, chú ý không ngâm người trong nước gây nhiễm trùng ngược dòng Mặcquần áo phải rộng rãi thoáng mát, nịt vú nới rộng, mùa hè mặc quần áo mỏngthấm mồ hôi, mùa đông mặc ấm đề phòng rét lên cơn sản giật sau đẻ

Phòng cho sản phụ cần sạch, yên tĩnh, thoáng mát Cần có buồng điềutrị cách ly cho các sản phụ bị bệnh truyền nhiễm hay nhiễm khuẩn để tránhlây chéo giữa các sản phụ

Chế độ ăn giàu chất dinh dưỡng, kiêng những chất kích thích

Vệ sinh khi giao hợp, có thể giao hợp khi hết sản dịch, cổ tử cung đóng,tầng sinh môn liền, nói chung là 4 tuần sau đẻ Chú ý tránh thai trong thời kỳhậu sản, cho con bú

Hạn chế thăm hỏi tránh gây mệt mỏi và mang các bệnh đến cho sản phụcũng như trẻ sơ sinh [9]

1.1.3.3 Theo dõi mạch, huyết áp, nhiệt độ.

Theo dõi 1 giờ/ lần trong 6 giờ đầu sau đẻ để phát hiện chảy máu, sau

đó ngày 1 lần để phát hiện nhiễm khuẩn

1.1.3.4 Theo dõi co hồi tử cung, sản dịch.

Nếu tử cung co chậm cho thuốc tăng co, nếu tử cung co bóp gây đauchườm nóng, cho thuốc giảm đau

* Theo dõi sự co hồi tử cung:

Đo chiều cao tử cung trên khớp vệ, sờ nắn tử cung hàng ngày để đánhgiá: sự co hồi tử cung tốt hay xấu, mật độ tử cung chắc hay mềm, di động tửcung hoặc sờ nắn tử cung có bị đau không

Nếu tử cung co hồi chậm và ấn đau, sờ mềm thì cẩn thận có thể là bịnhiễm khuẩn hậu sản, cần lưu ý điều trị sớm

Trang 18

* Theo dõi sản dịch:

Hàng ngày theo dõi sản dịch bằng cách xem khố của sản phụ và đánh giá:

số lượng sản dịch, có bị bế sản dịch hay không (không có sản dịch); màu sắccủa sản dịch, mùi sản dịch: có mùi hôi không, nếu hôi là có nhiễm khuẩn [9]

1.1.3.5 Chăm sóc vú

Giáo dục cho sản phụ biết tầm quan trọng của sữa mẹ, giải quyết cho

họ vấn đề nứt đầu vú, tắc tia sữa, tụt núm vú

1.1.3.6 Chăm sóc tầng sinh môn và theo dõi đại tiểu tiện

Làm thuốc âm hộ 2-3 lần trong ngày sau khi đại tiện, rửa bằng nướcđun sôi để nguội, không thụt rửa âm đạo, sau đó lau khô, thay khố vô khuẩn.Cắt chỉ khâu tầng sinh môn sau 5 ngày

Bí đái hay gặp khi chuyển dạ lâu, khó, đẻ can thiệp Nếu bí đái lâu, tạocầu bàng quang dễ nhầm với khối an toàn tử cung Phải vận động sản phụ đilại nhiều, xoa nắn vùng bàng quang Sau 12 giờ không đái được, phải thôngtiểu, sau khi thông bơm 5-10ml dung dịch glycerin Borat 5% để kích thích cobóp bàng quang, bơm kháng sinh đề phòng nhiễm khuẩn

Có thể cho Prostigmin, châm cứu để tăng co bóp bàng quang

Nếu táo bón nhiều, hướng dẫn sản phụ ăn thức ăn xơ, xoa bụng Sau 3ngày vẫn không đại tiện được phải thụt tháo phân, uống dầu parafin 20g.Tránh dùng thuốc tẩy mạnh

1.1.3.7 Sử dụng kháng sinh

Chỉ cần thiết trong trường hợp nhiễm khuẩn tiềm tàng, có nguy cơ caonhư: kiểm soát tử cung, ối vỡ sớm, hay có bệnh tim Dùng kháng sinh nhómBeta-lactam như: Ampixillin 2g trong 5 - 10 ngày [10]

Trang 19

1.1.4 Biến chứng trong thời kỳ hậu sản

1.1.4.1 Nhiễm khuẩn hậu sản

Là nhiễm khuẩn ở sản phụ sau đẻ mà khởi điểm là từ đường sinh dục(âm đạo, cổ tử cung, tử cung vùng rau bám), biểu hiện hội chứng nhiễm trùng,nhiễm độc, với mỗi vị trí có triệu chứng riêng Cách phòng tránh:

Khi có thai: điều trị các ổ viêm nhiễm của sản phụ khoa, tiết niệu

Trong chuyển dạ: hạn chế thăm âm đạo, không để chuyển dạ kéo dài Trong đẻ: không để sót rau, chỉ định kiểm soát tử cung đúng, khửkhuẩn tốt các dụng cụ

Sau đẻ: Tránh ứ sản dịch, vệ sinh, tăng sức đề kháng của cơ thể [9]

1.1.4.2 Chảy máu

Ngay sau đẻ, liên quan đến sót rau, màng rau, phải nạo buồng tử cunglấy hết rau và màng rau Muộn hơn liên quan đến viêm niêm mạc tử cung.Triệu chứng: ra sản dịch hôi, tử cung còn to, đau, sốt Phải xét nghiệm sảndịch ở âm đạo cổ tử cung, hướng điều trị theo viêm niêm mạc tử cung

Có thể chảy máu do u xơ tử cung, điều trị theo hướng viêm niêm mạc

tử cung cho kết quả tốt, nếu mổ đẻ phải loại trừ nhiễm trùng vết mổ Cuốicùng phải nghĩ đến u vùng rau bám và phải định lượng HCG [9]

1.1.4.3 Các biến chứng khác

* Thiếu máu

* Nhiễm trùng đường tiết niệu

* Tăng huyết áp sau đẻ

* Biến chứng tâm thần

* Rong huyết: thường do sót rau hoặc polyp rau…

* Mất kinh [9]

Trang 20

1.2 Theo Y học cổ truyền

1.2.1 Đặc điểm sinh lý của phụ nữ về thai nghén và sinh đẻ

Cơ thể của con người nam cũng như nữ sinh lý bình thường giống nhaunhưng có điều khác hơn là do phụ nữ có tử cung, buồng trứng, kinh nguyệt,mang thai, sinh đẻ và cho con bú [16], [17]

Trai gái khi đã đến tuổi dậy thì mà hai bên giao hợp thì có thể có thai,Thiên quyết khí sách Linh khu có nói: “Hai thần cấu kết với nhau, hợp lại màthành hình, trước khi chưa kết hợp lại thành hình thì còn gọi là “tinh” Câunày nói lên: muôn vật hóa sinh trước hết tất do ở tinh, tinh của trai gái hợp vớinhau sẽ cấu tạo thành thân hình Như thế là nói rất rõ ràng về nguyên lý củaviệc thụ thai

Phụ nữ sau khi thụ thai, về sinh lý có một số thay đổi đặc biệt Nói vềdấu hiệu của cơ thể thì trước tiên là không hành kinh nữa, âm đạo tiết dịch rathêm nhiều, vùng ngoài âm đạo da sẫm lại, tổ chức chỗ đó mềm ra, bầu vú todần ra, đầu vú và quầng vú cũng thâm lại và có một số điểm tròn nổi lên, cóthể nặn ra một ít sữa gọi là “sữa non” Phía trước trán và chính giữa đườngbụng có màu sẫm mà hiện ra sắc nâu

Sau lúc có thai, vì thai nhi lớn lên dần, nên tử cung cũng lớn dần, sau

ba tháng, vùng bụng dưới phình to ra, vách bụng giãn ra, hiện ra sắc phấnhồng hoặc những đường vằn trắng Sau bốn tháng, người có thai có thể tựthấy thai cử động Thời kỳ đầu của thai nghén thường biểu hiện ăn uống khácthường, như thích ăn của chua, có thể nôn mửa nhẹ Có thai đã đến thời kỳcuối thì thường có biểu hiện muốn đi tiểu luôn và đại tiện bí kết

Thụ thai được khoảng 280 ngày (chín tháng mười ngày) là đẻ Sự sinh

đẻ là một hiện tượng sinh lý, nói chung không có gì đáng lo ngại, người xưa

đã hình dung sự sinh đẻ như “dưa chín thì cuống rụng” [18]

Trang 21

1.2.2 Hậu sản

Theo YHCT thì sản hậu là giai đoạn kết thúc thời kỳ thai nghén Trongthời kỳ này vì lúc sinh đẻ làm cho rách tầng sinh môn và ra huyết làm hao tổnrất nhiều nguyên khí, nếu sơ suất một chút có thể gây ra bệnh Trước lúc sứckhỏe chưa trở lại cần đặc biệt chú ý đến vệ sinh, điều dưỡng nếu không sẽ gây

ra bệnh sản hậu Thời kỳ này kéo dài khoảng 6-8 tuần sau đẻ [19], [20], [21]

Do khi sinh đẻ mất huyết làm hao tổn đến âm dịch, âm huyết bị hư haonên dương khí dễ phù lên trên vì thế sau khi sinh đẻ 1-2 ngày thường thấy cácchứng trạng âm hư dương vượng như: phát sốt, sợ lạnh, mồ hôi tự ra, lànhững hiện tượng tạm thời Những chứng trạng này nếu không có kèm theonguyên nhân nào khác thì trong thời gian ngắn sẽ hết [22], [23]

Ngoài ra, sau khi mới sinh xong, chức năng sinh lý của bào cung chưathể khôi phục lại như bình thường thì trong một số ngày sau ở bụng dưới cónhững cơn co bóp, đè vào thấy có khối nổi lên, trong 15-20 ngày sau âm đạo

có huyết bẩn bài tiết ra ngoài đều là những hiện tượng bình thường [20]

Cho con bú là chức năng đặc biệt của người phụ nữ Trong thời gianmang thai thường có nhiều thay đổi ở vú như vú căng lớn, đầu vú cứng hơnhoặc có chút sữa non sớm Sau khi sinh đẻ, cơ thể người mẹ nhờ được hấp thuchất tinh vi của thủy cốc để cung cấp dinh dưỡng cung ứng cho con Ngoài raXung mạch và khí của Dương minh thượng hành lên trên (vú thuộc túc dươngminh vị kinh) hóa sinh ra nhũ trấp cung ứng cho con, vì vậy cho nên thời giancho con bú thì kinh nguyệt bị đình chỉ [23], [24]

Sau khi mới đẻ nên nghỉ lao động trên dưới 40-50 ngày để thân thểkhôi phục lại trạng thái bình thường như trước, điều lý tỳ vị, cho ăn uống đồngon lành, thì tạng phủ dễ bình phục, khí huyết tự nhiên điều hòa, trăm bệnh

Trang 22

không sinh Sau khi đẻ khí trung tiêu còn yếu, khó mà vận hóa, chớ nên ănuống quá nhiều, trở lại hại tỳ vị [23].

Hải Thượng Lãn Ông có ghi: Phụ nữ ngay sau sinh nên dè dặt lời nói,giữ gìn thất tình (đừng giận quá, quá mừng, quá buồn tủi, thương cảm Nếukhí huyết kém, thì phải kiêng lâu không kể ngày tháng, nếu không kiêng được

sẽ sinh ra các chứng đau nhức chân tay mình mẩy, gọi là nhục lao, rất khóchữa khỏi Tối kỵ là quá mừng, quá giận: vì mừng thì khí tán, hoặc sinh đổ

mồ hôi, giận thì khí nghịch hoặc sinh trưng hà, lúc nào khí huyết bìnhthường lại, mới nên làm việc [23]

Sau khi sinh, tạng phủ hư nhược, huyết thất đang mở, ăn ở không cẩnthận thì phong hàn thừa cơ xâm nhập, dẫn đến huyết dễ bị ngưng tụ Tình chílại thất thường dẫn đến can khí uất kết, huyết theo khí ứ lại cản trở XungNhâm, bào mạch không thông nên bụng dưới đau thành từng cơn Kinh mạchtắc nghẽn dễ gây thiếu sữa, kinh mạch tắc nghẽn cũng dễ cản trở Nhâm mạchlàm cho sản sịch không ra được Tóm lại sản hậu “đa hàn đa ứ”, do đó người

ta nói “sản hậu như một khối băng”, điều trị phải nên ôn bổ [25], [26]

Sau khi đẻ, nguyên khí suy, huyết chạy thất thường, dễ bị ứ huyết tíchđọng lại, nên chữa bệnh trước phải trục ứ, ứ tiêu rồi mới nên bổ, đó là điều cốtyếu Nhưng người hư quá không thể bù trừ được, thì trong thứ thuốc tuấn bổ(đại bổ), gia thêm thuốc Ôn hành (nóng mà có tính lưu thông) thì vừa bổ vừalưu hành được Ôn hành thì huyết được trôi chảy mà không ngưng trệ Đếnnhư chứng thực mà trục ứ cũng không nên dùng thứ thuốc mạnh mẽ, vì saukhi đẻ khí huyết rất hư, sợ huyết không giữ vững được mà bị sức thuốc mạnhrồi sinh ra băng huyết, chứng hư thì dễ thoát, cũng ví như nước đổ khó hốt lại.Cho nên không gì bằng bài thuốc Sinh hóa thang: vì trong hành huyết lại có

bổ huyết, không trệ không hại đến vị khí là rất thỏa đáng [3], [26]

Trang 23

1.3 Tổng quan về bài thuốc Sinh hóa thang

1.3.1 Nguồn gốc xuất xứ

Bài thuốc “Sinh hóa thang” được trích từ sách “Phó Thanh Chủ nữkhoa” Y gia Phó Sơn (1607-1684), tự là Thanh Chủ sống ở cuối đời Minhđầu đời Thanh (Trung Quốc) là thầy thuốc chuyên về phụ khoa đã ứng dụngbài này nhiều nhất Ông thấy rằng bài thuốc “Sinh hóa thang” là bài thuốc đầutay dùng cho thời kỳ hậu sản [27]

Sắc uống ngày 1 thang, uống trong 5 ngày, uống ấm Sau khi sinh có

thể dùng ngay từ ngày thứ nhất, mổ đẻ thì trung tiện xong mới dùng [27]

1.3.6 Chú ý

Không dùng cho sản phụ bị nhiễm trùng [33]

Trang 24

1.3.7 Phân tích bài thuốc

Trong bài Sinh hóa thang vai trò của các vị thuốc như sau:

- Đương qui: Bổ huyết sinh tân là quân

- Xuyên khung: hành khí, hoạt huyết là thần

- Đào nhân: hoạt huyết khứ ứ là thần

- Bào khương: ôn kinh tán hàn là tá

- Chích cam thảo: điều hòa vị thuốc là sứ

Năm vị thuốc hợp lại tạo thành bài thuốc có công dụng hóa ứ sinh tân,

ôn kinh chỉ thống [34], [35]

Mọi chứng sản hậu, phương thuốc xưa hay dùng là Tứ vật thang giagiảm Tuy nhiên Thục địa tính nê trệ, rất hại tỳ vị; Thược dược chua mà hàn,lại có tính công phạt làm tổn thương đến nguyên khí của người mới sinh.Bệnh sản hậu thường hay hại người Bài thuốc Sinh hóa thang thì bỏ hai vị ấy(Thục địa, Thược dược) gia thêm Bào khương có tính nóng để hành huyết.Trong sản hậu đau máu dạ con (nhi chẩm thống) thường hay dùng thuốc tiêucục phá huyết, rồi sau mới bàn đến bổ huyết Lại có người dùng thuốc tiêu bổlẫn lộn, chứ không biết huyết cũ nên tiêu hóa, mà huyết mới cũng nên sinh ra.Nếu chỉ chuyên công huyết cũ thì huyết mới lại bị tổn thương Nếu dùng Hồisinh đan (bài thuốc làm cho sống lại, chữa bệnh của đàn bà do Cung ĐìnhHiền đời nhà Minh viết ra, gồm 30 vị: Đại hoàng, Xuyên khung, Ô dược, Đàonhân, Hồng hoa, Bồ hoàng, Qui vĩ, Tam lăng ) để phá huyết cục, nguyên khí

sẽ bị tổn hại rất nhiều

Bài thuốc Sinh hóa thang là do công dụng của các vị thuốc mà đặt tên:

vì chuyên vào tiêu huyết thì huyết mới không sinh ra, chuyên vào sinh huyếtthì huyết cũ trở lại tích trệ Cho nên Sinh hóa thang dùng Xuyên khung,Đương qui, Đào nhân ba vị này trừ huyết cũ mà sinh huyết mới, phụ thêmBào khương, Chích thảo để đưa ba vị trên vào đến Phế, Can để sinh hòa khí

Trang 25

huyết Trong hành mà có bổ và lại được thuốc ấm nóng thì huyết tự lưu thông,

ác huyết tự hết Đúng là “Sản hậu thánh dược” [34] [36] [37]

Trong ứng dụng mới của bài Sinh hóa thang, hiện nay ở Trung Quốcdùng nhiều cho phụ nữ sau sinh có huyết ứ, tử cung co hồi kém hay sau sảythai, sau nạo thai lưu và cho kết quả tốt Tùy theo chứng mà gia vị cho phùhợp, ít khi dùng bài Sinh hóa thang nguyên vị Nếu sản hậu mà đau bụng cóhuyết ứ, gia thêm Sài hồ, Bạch thược, để thư Can điều đạt khí cơ, gia Ích mẫuthảo, Chỉ thực để hoạt huyết hóa ứ Trong trường hợp sau nạo sảy thai, pháthai bằng thuốc, nạo thai lưu, người ta cũng thường dùng bài này và gia thêmcác vị hoạt huyết hóa ứ [38], [39], [40]

Các vị thuốc trong bài Sinh hóa thang được phân tích cụ thể như sau:

Đương qui (Radix Angelicae sinensis)

- Bộ phận dùng: Là rễ phơi hay sấy khô của cây Đương qui [Angelica

sinensis (Oliv.) Diel.], họ Hoa tán (Apiaceae).

- Qui là về, vị thuốc có tác dụng điều khí nuôi huyết làm cho huyếtđang loạn xạ trở về chỗ cũ nên có tên như thế

- Chế biến: thu hoạch vào mùa thu Đào lấy rễ, rửa sạch, loại bỏ tạpchất, phơi hoặc sấy ở nhiệt độ thấp đến khô

- Bào chế: Đương quy đã loại bỏ tạp chất, rửa sạch, ủ mềm, thái látmỏng, phơi khô hoặc sấy khô ở nhiệt độ thấp

Tửu Đương quy: Lấy Đương quy đã thái thành lát, phun rượu cho đều,

ủ qua, cho vào chảo đun nhỏ lửa, sao nhẹ đến khô, lấy ra để nguội Cứ 100 kgĐương quy dùng 10 kg rượu Dược liệu này là phiến mỏng dạng tròn hoặckhông đều, mặt cắt có vân nâu nhạt, chất dai, màu vàng thẫm, vị hơi đắng,mùi thơm nồng, có mùi rượu [42], [43]

- Tính vị qui kinh: vị ngọt, cay tính ấm; qui vào kinh tâm, can, tỳ

Trang 26

- Tác dụng: bổ huyết, hành huyết (theo kinh nghiệm dùng thì phần đầu(qui đầu) có tác dụng chỉ huyết, phần giữa (qui thân) có tác dụng bổ huyết,phần đuôi (qui vĩ) có tác dụng hoạt huyết.

+ Chữa xung huyết, tụ huyết do sang chấn, kết

hợp Xuyên khung, Hồng hoa, Đào nhân

+ Cắt cơn đau: dạ dày, dây thần kinh do lạnh,

co cơ do lạnh

+ Nhuận tràng, thông tiện do huyết hư gây

táo bón

+ Giải độc, tiêu viêm: chữa mụn nhọt, vết

thương có mủ do vừa có tác dụng giải độc lại có

khả năng hoạt huyết [42], [43]

Trong bài này dùng Qui thân có tác dụng bổ huyết

Theo Chu Nhan của Trung Quốc 1954 (Trung dược đích dược lý dữứng dụng) đã đề xuất rằng Đương qui có hai tác dụng: thành phần tan trongnước không bay hơi, có tinh dầu, có tác dụng hưng phấn cơ tử cung làm cho

sự co bóp tăng mạnh Thành phần bốc hơi có tác dụng ức chế co tử cung làm

tử cung giãn nghỉ Nếu muốn làm cho có tác dụng co bóp tử cung cần sắcthuốc có Đương qui lâu để trừ bỏ bớt phần bay hơi, trái lại nếu muốn làm cho

tử cung giãn nghỉ thì sắc rất nhanh chóng để bảo vệ phần bay hơi [42], [43]

- Liều dùng từ 6-12g/ ngày Là một vị thuốc hay dùng cho phụ nữ

- Kiêng kỵ: Tỳ vị có thấp nhiệt, đại tiện lỏng không nên dùng [44].

Hình 1.1 Đương Quy (Nguồn: Internet)

Trang 27

Hình 1.2: Xuyên khung (Nguồn: Internet)

 Xuyên khung (Rhizoma Ligustici wallichii)

- Bộ phận dùng: thân rễ đã phơi hay sấy khô của cây Xuyên khung

(Ligusticum chuanxiong Hort.), Họ Hoa tán (Apiaceae)., p

- Chế biến: Lấy thân rễ cắt bỏ gốc thân, rửa sạch, phơi hoặc sấy nhẹ chokhô Khi dùng thái phiến, vi sao [45]

- Tính vị qui kinh: vị đắng, tính ấm qui vào kinh Can Đởm, Tâm bào.

- Tác dụng: Hành khí hoạt huyết, khu phong chỉ thống.

- Ứng dụng lâm sàng

+ Hoạt huyết điều kinh: chữa rối loạn kinh nguyệt, bế kinh, thống kinh,rau thai không xuống

+ Chữa nhức đầu, đau mình, đau khớp do phong thấp

+ Tác dụng giải uất: chữa đau mạng sườn, tình chí uất kết

+ Tiêu viêm chữa mụn nhọt

+ Bổ huyết: phối hợp với các thuốc khác để bổ huyết trong trường hợphuyết hư (bài Tứ vật)

- Tác dụng dược lý:

+ Đối với cơ trơn: Kinh Lợi Bân và

Thạch Nguyên Cao dùng dung dịch nước của

Xuyên khung thí nghiệm trên tử cung cô lập

của thỏ đã có thai, thấy với liều nhỏ dung dịch

nước Xuyên khung có tác dụng kích thích sự

co bóp của tử cung thỏ có thai, cuối cùng đi

đến hiện tượng co quắp, ngược lại nếu dùng

liều lượng lớn, tử cung bị tê liệt và đi đến

ngừng co bóp Tiêm dung dịch Xuyên khung

liên tục một thời gian cho thỏ và chuột bạch

có thai thì thấy thai chết trong bụng mà không đẩy ra được (do Xuyên khung

Trang 28

gây co bóp tử cung, ảnh hưởng đến dinh dưỡng của thai làm cho thai chết).Hai tác giả trên nhận định rằng người xưa dùng Xuyên khung trị sản phụ bịbăng huyết là do Xuyên khung có khả năng làm co tử cung, làm cho mạchmáu ở vách tử cung áp chặt vào tử cung gây ra cầm máu [41].

- Liều dùng 6-12g

- Kiêng kỵ: người âm hư hỏa vượng không nên dùng [44], [24]

 Đào nhân (Semen Pruni)

- Bộ phận dùng: hạt lấy ở quả chín phơi khô của cây Đào [Prunus

persica (L.) Batsch.] hoặc cây Sơn đào [Prunus

davidiana (Carr.) Franch.], họ Hoa hồng

(Rosaceae)

- Chế biến: thu hoạch quả chín vào mùa hè

hoặc mùa thu, loại bỏ phần thịt, xay vỡ hạch lấy

hạt bên trong, phơi hoặc sấy khô

- Bào chế:

Đào nhân: Loại bỏ tạp chất, khi dùng giã nát

Đàn đào nhân: Lấy đào nhân sạch, loại bỏ

tạp chất, cho vào nước sôi, đun đến khi vỏ lụa

nhăn lại, thì vớt ra ngâm vào nước ấm, chà xát

cho tách riêng vỏ ngoài, phơi khô, khi dùng giã nát

Đào nhân sao: Đào nhân rửa sạch, để ráo nước, cho vào chảo, đun nhỏlửa, đảo đều đến khi có màu vàng, khi dùng giã nát [42]

- Tính vị qui kinh : vị ngọt, đắng, tính bình qui vào kinh Tâm, Can

- Tác dụng: phá huyết, trục ứ, nhuận táo

Hình 1.3: Đào nhân (Nguồn: Internet)

Trang 29

Hình 1.4: Cam thảo (Nguồn: Internet)

- Kiêng kỵ : người không có ứ trệ, tích huyết, ỉa lỏng không nên dùng [44]

 Cam thảo (Radix Glycyrrhizae).

- Bộ phận dùng: rễ còn vỏ hoặc

đã cạo lớp bần, được phơi hay sấy

khô của ba loài Cam thảo Glycyrrhiza

uralensis Fisch., Glycyrrhiza inflata

Bat hoặc Glycyrrhiza glabra L., họ

Đậu (Fabaceae)

- Chế biến: Sau khi đào lấy rễ,

xếp thành đống để cho hơi lên men

làm cho rễ có màu vàng sẫm hơn,

phơi hoặc sấy khô

- Bào chế:

Lấy rễ Cam thảo, phun nước cho mềm, thái phiến, phơi hoặc sấy khô

Chích Cam thảo: Lấy Cam thảo đã thái phiến, đem tẩm mật ong (cứ 1 kg

Cam thảo, dùng 200 g mật), rồi sao vàng thơm [45]

- Tính vị qui kinh: vị ngọt tính bình vào 12 đường kinh

- Tác dụng: bổ trung khí, nhuận phế chỉ ho, hòa hoãn cơn đau, thanhnhiệt giải độc

- Ứng dụng lâm sàng:

+ Chữa tỳ vị hư: dùng với Đảng sâm, Bạch linh, Bạch truật

Trang 30

+ Nhuận phế, chỉ ho: dùng trong đau hầu họng, viêm họng cấp và mạntính, ho nhiều đờm Nếu do phong hàn kết hợp với Ma hoàng, Hạnh nhân.Nếu ho do phong nhiệt kết hợp với Tang bạch bì, Cát cánh, Cúc hoa Nếu dophế nhiệt kết hợp với Thạch cao, Ma hoàng, Cam thảo Nếu đờm nhiều gây

ho hen kết hợp Trần bì, Bán hạ, Bạch linh

+ Tả hỏa giải độc: dùng trong bệnh mụn nhọt, đinh độc, sưng đau

+ Hoãn cấp chỉ thống: trị đau dạ dày, loét đường tiêu hóa, đau bụng, gânmạch co rút kết hợp với Bạch thược

+ Điều vị, giảm tác dụng phụ và dẫn thuốc khi dùng phối hợp

- Trong bài này dùng vị chích Cam thảo

- Liều dùng 4-10g

- Kiêng kỵ: không dùng cho người phù nề, thận trọng với người huyết ápcao [44], [24]

Bào khương ( Rhizoma Zingiberis).

- Bộ phận dùng: củ gừng phơi khô của cây Gừng (Zingiber officinale

- Tính vị qui kinh: vị cay đắng,

tính ôn qui kinh Tỳ, Vị, Tâm, Phế,

Trang 31

+ Chữa đau bụng do lạnh (trừ hàn chỉ thống), chữa nôn mửa do lạnh.+ Chữa băng lậu, đau bụng kinh, mất máu.

- Liều dùng: 4-8g

1.4 Tình hình nghiên cứu về thời kỳ hậu sản thường

1.4.1 Thế giới

Tại Trung Quốc chủ yếu các nghiên cứu tập trung vào các sản phụ sau

đẻ theo dõi vài ngày có ứ sản dịch hoặc tử cung co hồi không tốt, hoặc dùngbài thuốc Sinh hóa thang sau nạo thai

Năm 2001, Sử Nhân Cúc tiến hành đề tài “Đông Tây y kết hợp điều trị

58 trường hợp ác lộ bất tuyệt” (tử cung co hồi không tốt, sót rau, hay giaiđoạn muộn sau đẻ mà xuất huyết) Từ thàng 1/2001 đến 12/2008 nghiên cứu

108 bệnh nhân sau đẻ ra máu âm dạo kéo dài từ 15 đến 76 ngày Đối tượngnghiên cứu chia ra làm hai nhóm tương đồng về tuổi, tình hình chảy máu, cònsót rau hay không Nhóm đối chứng 50 sản phụ dùng thuốc kháng sinh và cohồi tử cung, nhóm nghiên cứu 58 sản phụ dùng kháng sinh, thuốc co hồi tửcung và bài thuốc Sinh hóa thang gia Bồ hoàng, Ích mẫu thảo, Đảng sâm,Hoàng kỳ Nghiên cứu cho thấy: ở nhóm nghiên cứu: 94,8% kết quả rõ ràng(âm đạo không ra máu, không có cảm giác khó chịu, kết quả siêu âm khôngcòn mảnh sót rau, kích thước tử cung bình thường), 5,2% có kết quả (chảymáu giảm, mảnh sót rau còn, phải nạo buồng tử cung), 0% không có kết quả

Ở nhóm đối chứng: 64% có kết quả rõ ràng, 20% có kết quả và 16% không cókết quả Tác giả kết luận: bài thuốc Sinh hóa thang gia thêm Hoàng kỳ, Đảngsâm, Bồ hoàng, Ích mẫu thảo có tác dụng bổ ích khí huyết, hành ứ Khí vượngthì huyết hành, huyết ứ khứ đi thì sinh huyết mới, huyết mới tắc sẽ qui kinh,

ưu việt hơn hẳn dùng Tây y đơn thuần [46]

Năm 2006, Phạm Lệ Lệ nghiên cứu đề tài “Đánh giá tác dụng bài thuốcSinh hóa thang gia giảm cho sản phụ sau mổ đẻ” Nghiên cứu được tiến hành

Trang 32

từ tháng 6/2006 đến tháng 12/2008 trên 360 sản phụ sau mổ đẻ ở thành phốTrịnh Châu Đối tượng được chia làm hai nhóm Nhóm nghiên cứu có 180 sảnphụ sau mổ dùng Oxytocin 10UI tiêm bắp 2 lần/ngày, kháng sinh Penicillinhoặc Cefalexin tiêm tĩnh mạch 3-4 ngày, kèm theo dùng bài Sinh hóa thanggia vị (Đương qui 15g, Xuyên khung 10g, Đào nhân 9g, Bào khương 6g, Íchmẫu thảo 30g, Hoàng kỳ 20g, Chỉ xác 15g, Chích cam thảo 3g), uống ngàymột thang, chia làm hai lần, uống 5 thang sau khi sản phụ đã trung tiện Nhómđối chứng dùng thuốc y học hiện đại như nhóm nghiên cứu Kết quả cho thấy

ở nhóm nghiên cứu không có sản phụ nào có triệu chứng ra máu giai đoạnmuộn sau sinh, đau do tử cung co hồi, có 1% sản phụ bị sốt sau đẻ, có 2,7%sản phụ thiếu sữa, có 3,9% sản phụ có hiện tượng sản dịch ra không ngớt.Trong khi đó ở nhóm đối chứng có 1,7% sản phụ bị ra máu giai đoạn muộnsau sinh, 9,4% sản phụ đau do tử cung co hồi, có 5% sản phụ bị sốt sau đẻ, có11,2% sản phụ thiếu sữa, có 20% sản phụ có hiện tượng sản dịch ra khôngngớt Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p <0,05 Tác giả kết luận Sinh hóathang gia các vị Ích mẫu thảo, Chỉ xác, Hoàng kỳ có tác dụng giảm đau bụngdưới do tử cung co hồi, giảm sản dịch, chống viêm [36]

Từ Mai Nguyên năm 2007 tiến hành đề tài “Quan sát hiệu quả điều trịcủa thuốc Sinh hóa thang gia vị rút ngắn thời gian hết sản dịch sau khi gâysảy thai bằng thuốc” Đề tài tiến hành từ tháng 3 năm 2007 đến tháng 3 năm

2008 trên 200 bệnh nhân sau khi nạo thai bằng thuốc Nhóm chứng gồm 100bệnh nhân phá thai bằng Mifepriston và Misoprostol Nhóm nghiên cứu gồm

100 bệnh nhân phá thai bằng thuốc tây y đúng liệu trình, 2h sau đó được uốngbài Sinh hóa thang gia Ngũ linh chi, Ích mẫu thảo, Đại táo, sắc uống ngày 1thang chia làm 2 lần, uống trong 7 ngày Kết quả cho thấy nhóm nghiên cứusau 7 ngày không còn ra máu âm đạo là 83,6% (ở nhóm đối chứng là 62,2%),sau 14 ngày là 15,3% (ở nhóm đối chứng là 20,4%) Có 89% sảy thai hoàn

Trang 33

toàn ở nhóm nghiên cứu (ở nhóm đối chứng là 87%) có 9% sảy thai khônghoàn toàn ở nhóm nghiên cứu (ở nhóm đối chứng là 11,2%) và 2% thất bại ở

cả nhóm đối chứng và nhóm nghiên cứu Tác giả kết luận: bài thuốc Sinh hóathang gia Ngũ linh chi, Ích mẫu thảo, Đại táo giúp rút ngắn thời gian hết ramáu âm đạo sau phá thai bằng thuốc [38]

Như vậy chúng ta thấy các công trình nghiên cứu trên đều dùng bàithuốc Sinh hóa thang gia vị mà chưa có công trình nghiên cứu về bài Sinh hóathang nguyên phương

Tuy nhiên, như đã trình bày ở trên, dạng sắc và dạng cao lỏng khó sửdụng và bảo quản nên nhóm nghiên cứu muốn chuyển dạng thuốc sang cốmtan Vì vậy nhóm nghiên cứu tiến hành đề tài này

Ngày đăng: 05/08/2019, 21:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. Philip Timms (2008), “Postanatal depression”, The Royal College of Psychiatrists Sách, tạp chí
Tiêu đề: Postanatal depression”
Tác giả: Philip Timms
Năm: 2008
16. Lê Quí Ngưu, Trần Thị Như Đức (1992), Phụ khoa trong Đông Y, Nhà xuất bản Thuận Hóa, tr. 47, 48, 392 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ khoa trong Đông Y
Tác giả: Lê Quí Ngưu, Trần Thị Như Đức
Nhà XB: Nhàxuất bản Thuận Hóa
Năm: 1992
17. Trần Thúy, Lê Thị Hiền (2002), Sản phụ khoa Y học cổ truyền, Nhà xuất bản Y học, tr. 164-186 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản phụ khoa Y học cổ truyền
Tác giả: Trần Thúy, Lê Thị Hiền
Nhà XB: Nhàxuất bản Y học
Năm: 2002
18. Tổ nghiên cứu giảng dạy về phụ khoa của Học viện trung y Thành Đô (1960), Bài giảng phụ khoa Trung y, Nhà xuất bản Y học và thể dục thể thao, tr. 7, 8, 73 – 88 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng phụ khoa Trung y
Tác giả: Tổ nghiên cứu giảng dạy về phụ khoa của Học viện trung y Thành Đô
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học và thể dục thểthao
Năm: 1960
19. Vũ Nam (2005), “Bệnh sản hậu”, Chuyên đề sản phụ khoa Y học cổ truyền, Nhà xuất bản Y học, tr. 170, 171 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh sản hậu”, "Chuyên đề sản phụ khoa Y học cổtruyền
Tác giả: Vũ Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2005
20. Lê Quí Ngưu, Trần Thị Như Đức (1992), Phụ khoa trong Đông Y, Nhà xuất bản Thuận Hóa, tr. 47, 48, 392 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ khoa trong Đông Y
Tác giả: Lê Quí Ngưu, Trần Thị Như Đức
Nhà XB: Nhàxuất bản Thuận Hóa
Năm: 1992
21. Phạm Văn Trịnh, Lê Thị Hiền (2008), Bệnh học ngoại phụ Y học cổ truyền, Nhà xuất bản Y học, tr. 190 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh học ngoại phụ Y học cổtruyền
Tác giả: Phạm Văn Trịnh, Lê Thị Hiền
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2008
22. Trần Văn Kỳ (1998), Điều trị phụ khoa Đông y, Nhà xuất bản Y học, TP Hồ Chí Minh, tr 69, 81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều trị phụ khoa Đông y
Tác giả: Trần Văn Kỳ
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 1998
23. Lê Hữu Trác (2005), “Phụ đạo xán nhiên”, Hải Thượng Y tông tâm lĩnh, Nhà xuất bản Y học, tr. 298-378 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ đạo xán nhiên”, "Hải Thượng Y tông tâm lĩnh
Tác giả: Lê Hữu Trác
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2005
24. Lê Hữu Trác (2005), “Dược phẩm vậng yếu”, Hải Thượng Y tông tâm lĩnh, tập I, Nhà xuất bản Y học, tr. 521, 542 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dược phẩm vậng yếu”, "Hải Thượng Y tông tâmlĩnh
Tác giả: Lê Hữu Trác
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2005
25. 2011,“ ,” 广广广广广 , 31   1 ,  40  Sách, tạp chí
Tiêu đề: " ,” 广广广广广
26.  2010, “ ,” 广广广广广广 , 2010  7  5 21 ,  149  Sách, tạp chí
Tiêu đề:  ,”" 广广广广广广
29.  ,  (2008), “,” 广广广广广, 2008  8  31  4 ,  1  Sách, tạp chí
Tiêu đề: ",” 广广广广广
Tác giả:  , 
Năm: 2008
30. , ,  (2008) , “ ,” 广广广广广广广, 2008  12  28  6 ,  13  Sách, tạp chí
Tiêu đề: ,” "广广广广广广广
31.  (2010), “ 30 , ” 广广广广广广广广, 2010  31  4 ,  84  Sách, tạp chí
Tiêu đề: 30 , ” "广广广广广广广广
Tác giả: 
Năm: 2010
32.  2010, “,”广广广广广广广广, 2010  31  7 ,  44  Sách, tạp chí
Tiêu đề: ,”"广广广广广广广广
33.  , 2011,“ ,” 广广广广广广 ,2011  4 ,  55  Sách, tạp chí
Tiêu đề:  ,"” 广广广广广广
34.   2010, “ ,” 广广广广广广广广广广广 广广, 8   1 ,  48  Sách, tạp chí
Tiêu đề:  ,” "广广广广广广广广广广广广广
35.  2011, “,” 广广广广, 2011  2  17   4 ,  152  Sách, tạp chí
Tiêu đề: ,” "广广广广
36.  2010, “ ,” 广广广广广广 , 2010  7  5 21 ,  149  Sách, tạp chí
Tiêu đề:  ,”" 广广广广广广

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w