Ở nước ta hiện nay một số tác giả đãlưu ý có một tỷ lệ đáng kể UTMX trên những bệnh nhân có tiền sử này [1].Giai đoạn sau, UTMX không chỉ khu trú ở vùng sàng hàm mà xâm lấn raxung quanh
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư mũi – xoang (UTMX) là loại ung thư không thường gặp, chiếmkhoảng 0,2 – 0,8% tổng số các ung thư nói chung và khoảng 3% các ung thưvùng đầu cổ [1] UTMX là ung thư xuất phát từ niêm mạc xoang mũi hoặccác xoang cạnh mũi Về phân loại cổ điển, UTMX thường xuất phát từ mộttrong ba tầng: tầng sàng, tầng hàm, tầng khẩu cái Ở nước ta UTMX chiếmmột tỷ lệ khá cao trong ung thư đầu mặt cổ, đứng thứ ba sau ung thư vòm mũihọng và ung thư hạ họng thanh quản, khoảng 92,7% các u có nguồn gốc biểu
mô [2] Trên thế giới UTMX đã được nghiên cứu từ lâu và rộng rãi Ở ViệtNam, các nghiên cứu về UTMX chưa nhiều, đặc biệt rất ít các nghiên cứu vềhình ảnh học của UTMX
Do đặc điểm về cấu trúc và vị trí giải phẫu của vùng sàng hàm rất phứctạp và ở sâu, các triệu chứng lâm sàng thường kín đáo, tiến triển chậm không
có hạch hoặc hạch xuất hiện muộn, nên việc chẩn đoán giai đoạn sớm thườnggặp khó khăn, dễ bỏ qua và dễ nhầm lẫn với viêm mũi xoang Tỷ lệ UTMXđược che đậy dưới dạng viêm mũi xoang mạn tính có thoái hoá cuốn giữa,polyp khe giữa cũng hay thường gặp Ở nước ta hiện nay một số tác giả đãlưu ý có một tỷ lệ đáng kể UTMX trên những bệnh nhân có tiền sử này [1].Giai đoạn sau, UTMX không chỉ khu trú ở vùng sàng hàm mà xâm lấn raxung quanh như: các xoang lân cận, hốc mũi, hốc mắt, cơ chân bướm, nội sọ,gây khó khăn cho phẫu thuật và có thể gây ra biến chứng nguy hiểm Tuynhiên UTMX ít khi di căn xa và di căn chậm do đó có thể phẫu thuật được.Phẫu thuật phối hợp với tia xạ và hoá chất có thể kéo dài cuộc sống đáng kểcho bệnh nhân so với các ung thư đầu mặt cổ khác
Để phẫu thuật triệt để hay xây dựng được chiến lược điều trị đúng đắnthì vấn đề quan trọng là đánh giá chính xác vị trí và mức độ xâm lấn của u
Trang 2Tuy nhiên chẩn đoán UTMX ở nước ta chủ yếu dựa vào lâm sàng, XQ thườngquy và giải phẫu bệnh – những phương pháp này khó đánh giá được chính xác
vị trí, kích thước, liên quan của u Ngày nay việc sử dụng cắt lớp vi tính(CLVT) và cộng hưởng từ (CHT) trong chẩn đoán và đánh giá xâm lấnUTMX có giá trị cao Với hệ thống máy chụp ngày càng cải tiến, tái tạo vàthể hiện hình ảnh ở nhiều mặt phẳng khác nhau, kết hợp với tiêm thuốc cảnquang và thuốc đối quang từ cho phép đánh giá tốt hơn giới hạn u và sự xâmlấn của u sang tổ chức phần mềm lân cận và tổ chức xương lân cận [3]
Chính vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh cắt lớp vi tính và cộng hưởng từ trong chẩn đoán ung thư mũi - xoang” với 2 mục tiêu:
1 Mô tả đặc điểm hình ảnh chụp cắt lớp vi tính và cộng hưởng từ của
ung thư mũi - xoang.
2 So sánh khả năng phát hiện tổn thương trên hình ảnh chụp cắt lớp vi
tính và cộng hưởng từ trong đánh giá ung thư mũi - xoang.
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.Giải phẫu các xoang cạnh mũi
Hệ thống xoang mặt có 10 xoang xếp thành 5 đôi, cân đối 2 bên hố mũigồm: xoang trán, xoang hàm, xoang sàng trước, xoang sàng sau, xoang bướm.Các xoang được chia thành hai nhóm : nhóm xoang trước bao gồm xoangtrán, xoang hàm, xoang sàng trước Nhóm xoang sau bao gồm xoang sàngsau, xoang bướm Các xoang cạnh mũi là các hỗng rỗng trong các xương đầumặt, thành xoang được lót bởi các tế bào biểu mô phủ có lông chuyển luônluôn chuyển động theo một chiều để quét các chất nhầy vào ổ mũi qua các lỗxoang đổ vào các ngách mũi Do đó, bình thường các xoang đều rỗng, thoáng
và khô Chức năng các xoang là góp phần làm ấm và ẩm không khí qua mũi,cộng hưởng âm thanh và làm nhẹ các khối xương sọ và mặt
1.1.1 Giải phẫu mũi và các xoang cạnh mũi.
Nguyên uỷ của các xoang chính là nguyên uỷ của hốc mũi tạo nên, do đócòn gọi xoang là những hốc mũi phụ
1.1.1.1.Giải phẫu khoang mũi
Ổ mũi đi từ lỗ mũi trước tới lỗ mũi sau:
- Lỗ mũi trước: tiền đình mũi
- Lỗ mũi sau: thông với tỵ hầu, được giới hạn ở trong là bờ sau váchmũi, ở dưới là giới hạn đường khẩu cái cứng và khẩu cái mềm, ở ngoài làmảnh trong chân bướm, ở trên là thân xương bướm
- Thành trên: đoạn trước do xương sống mũi, xương trán; đoạn giữa tạonên bởi mảnh sàng và xương sàng; đoạn sau: thân xương bướm, cánh xương
lá mía và mỏm bướm xương khẩu cái
Trang 4- Thành dưới: tạo nên bởi mỏm khẩu cái xương hàm trên ở trước vàmảnh ngang xương khẩu cái ở sau.
- Thành ngoài: cấu tạo của nhiều xương: một phần của xương hàm trên,xương lệ, xoắn mũi, mảnh thẳng xương khẩu cái, mảnh chân bướm trong
- Thành trong: gồm 3 phần: phần xương ở sau cấu tạo bởi mảnh thẳngxương sàng và xương lá mía; phần sụn ở trước tạo bởi sụn vách mũi và sụn cánhmũi lớn; phần màng ở trước và dưới, cùng tạo nên bởi mô sợi và da; cơ quan lámía gồm 2 túi cùng nhỏ ở trong niêm mạc đổ vào phần trước vách mũi
1.1.1.2 Giải phẫu các xoang cạnh mũi
Các xoang cạnh mũi là các hốc ở trong các xương ở xung quanh ổ mũi,
mở vào ổ mũi và được phủ bởi lớp niêm mạc cốt mạc liên tiếp với niêm mạcvùng hô hấp của mũi Nhiễm trùng của mũi có thể lan truyền tới xoang gâyviêm xoang
- Xoang hàm trên: là một hốc xẻ trong xương hàm trên, là xoang lớnnhất trong các xoang cạnh mũi, có hình tháp giống như xương: mặt trước giápmá; mặt trên giáp với nền ổ mắt; mặt sau liên quan với hố chân bướm khẩucái; đỉnh liên quan với gò má; nền hay mặt trong liên quan với mũi và có lỗthông đổ vào ngách mũi giữa; bờ dưới xoang liên quan với răng hàm bé thứ 2
và chân răng hàm lớn thứ nhất
- Xoang trán: có 02 xoang trán tương ứng của phần đứng xương trán.Các xoang trán rất thay đổi về hình dáng, kích thước và hai xoang hai bêncũng thường khác nhau Mặt trước của xoang là mặt phẫu thuật có da chephủ; mặt sau mỏng liên quan với não, màng não; mặt trong là một vách xươngmỏng ngăn cách 2 xoang ở hai bên; mặt dưới liên quan với trần ổ mắt vàxoang sàng Lỗ thông xoang trán đổ vào ngách mũi giữa
- Xoang sàng: gồm rất nhiều xoang nhỏ, có từ 4 -17 xoang cho mỗi bên, nằmtrong mê đạo sàng Dựa vào vị trí của xoang mà người ta chia làm 3 nhóm:
Trang 5+ Các tiểu xoang sàng trước: đê mũi (nếp lồi ở cực trước xoăn mũi giữa)
là mốc để vào các tiểu xoang sàng trước
+ Các tiểu xoang sàng giữa
hai nhóm này đổ vào ngách mũi giữa
+ Các tiểu xoang sàng sau: đổ vào ngách mũi trên
- Xoang bướm: là một hốc xẻ trong thân xương bướm, kích thước rất thayđổi, thường đổ vào phần trên ngách bướm sàng của ổ mũi Lỗ đổ vào ổ mũi củaxoang bướm cao hơn sàn xoang 10 – 15mm, đường kính trung bình 5mm
Có hai xoang (phải và trái), ngăm cách nhau bởi một vách xương,thường lệch sang một bên
Hình 1.1 Giải phẫu các xoang cạnh mũi [4]
1 vách ngăn, 2 mào gà, 3 ổ mắt, 4.xương giấy
5 cuốn mũi giữa, 6.cuốn mũi dưới, 7.khe mũi giữa,
8 khe mũi dưới, 9 xoang hàm, 10 xoang sàng
Trang 61.1.1.3 Mạch máu và thần kinh mũi xoang
Động mạch: hệ thống mạch máu ở mũi rất phong phú Mũi được cấpmáu bởi các nhánh của cả hệ thống cảnh trong (động mạch mắt) và hệ thốngcảnh ngoài (động mạch hàm trong)
Động mạch sàng trước (nhánh của động mạch mắt), đi trong một ốngxương sát nền sọ, nằm giữa các tế bào sàng trước và bóng sàng Động mạchsàng trước dễ bị tổn thương trong các phẫu thuật vào xoang sàng, vì vậy đâyđược coi như giới hạn phẫu thuật mở xoang sàng trước
Động mạch sàng sau (nhánh của động mạch mắt), và động mạch bướm - khẩucái (nhánh của động mạch hàm trong) nằm sâu trong xương nên ít bị tổn thương.Động mạch bướm khẩu cái, tận cùng của động mạch hàm trong chui vào
hố mũi ở lỗ bướm khẩu cái rồi chia ra làm hai ngành: ngành trong cho váchngăn, ngành ngoài cho vách mũi xoang Các động mạch này giao lưu vớinhau tại một điểm gọi là điểm mạch Kiesselbach ở phần trước và dưới củavách ngăn mũi
Động mạch khẩu cái trên: là nhánh của động mạch hàm trong đi xuốngdưới vào ống khẩu cái sau ở ngang mức xương cuốn dưới thì tách ra một hoặchai nhánh đi qua mảnh đứng xương khẩu cái để phân nhánh vào khe dưới vàxương cuốn dưới
Động mạch chân bướm khẩu cái: là nhánh của động mạch hàm trong điqua ống chân bướm - khẩu cái và phân nhánh cho niêm mạc trần ổ mũi vàniêm mạc vòm mũi họng
Động mạch cánh mũi và các động mạch chân vách ngăn: là nhánh độngmạch mặt tưới máu cho vùng đầu mũi và cánh mũi
Tĩnh mạch: hệ thống tĩnh mạch đổ vào tĩnh mạch hàm trong, tĩnh mạchmắt và tĩnh mạch mặt
Trang 7Thần kinh: Sự phân bố thần kinh ở mũi rất phong phú Ở mũi có hai loạithần kinh: thần kinh cảm giác và thần kinh khứu giác Dây thần kinh cảm giác
là các nhánh của dây mắt và hạch bướm – khẩu cái Hạch bướm khẩu cái chocác dây thần kinh bướm khẩu cái trong, bướm khẩu cái ngoài, khẩu cái sau,trước, giữa Dây thần kinh mắt chia ra dây thần kinh sàng, dây này lại chia radây thần kinh cánh mũi và dây thần kinh mũi trong
Dây thần kinh khứu giác: bắt nguồn từ các tế bào khứu giác ở vệt vàngcủa khe khứu giác Các dây này chui qua mảnh sàng vào não và tập chung ởhành khứu của vỏ não
1.1.2 Xếp loại TMN và phân loại giai đoạn bệnh
* Phân loại kinh điển: [5] [6] Sébileau, Hautan và Monod dựa vào vịtrí xuất phát của u và hướng lan tràn của nó chia ung thư mũi xoang thành
T1: u <1cm2, không phá huỷ xương
T2: U>1cm2, không phá huỷ xương
T3: u phá huỷ xương một cấu trúc nhưng chưa vượt quá giới hạn mũi xoang.T4: u phá huỷ xương từ hai cấu trúc trở lên hoặc vượt quá giới hạn mũi xoang
Trang 8+ Khối u xoang hàm:
T1: u trong niêm mạc xoang hàm không phá huỷ xương
T2: u xâm lấn hoặc phá huỷ xương thành trên và trong xoang hàm
T3: u xâm lấn vào các phần sau: da ngoài mặt, hốc mắt, xoang sàngtrước, thành sau xoang hàm và cơ chân bướm
T4: u xâm lấn khẩu cái cứng, xoang sàng sau, xoang bướm, chân bướmkhẩu cái, vòm họng hoặc nền sọ
- N (Hạch):
Nx: hạch vùng không khám thấy
No: không có di căn hạch vùng
N1: Di căn hạch cùng bên, kích thước <=3 cm
N2: Di căn hạch, kích thước hạch >3cm và <6cm
N2a: Di căn một hạch cùng bên
N2b: Di căn nhiều hạch cùng bên
N2c: Di căn hạch hai bên hoặc bên đối diện
N3: Di căn hạch >6cm
- M (di căn):
Mx: di căn xa không phát hiện thấy
Mo: không có di căn
M1: có di căn xa
- Chẩn đoán giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: T1+ No+ Mo
+ Giai đoạn 2: T2+ No+ Mo
+ Giai đoạn 3: T3+ No+ Mo
T1+N1+M T2+N1+Mo T3+N1+M
Trang 9+ Giai đoạn 4: T4+ No+Mo
T4+ N1+Mo Bất kỳ T+N1+M1 Bất kỳ T+N2+M1 Bất kỳ T+N3+Mo
* Đối với các khối u của các xoang cạnh mũi thì phân giai đoạn dựa vàokết quả phẫu thuật thường được sử dụng hơn phân giai đoạn lâm sàng, bởi vìđánh giá về lâm sàng có hạn chế về việc xác định phạm vi của khối u Tuynhiên không phải tất cả các u ở xoang cạnh mũi đều được điều trị phẫu thuật,làm cho sự so sánh kết quả điều trị khó khăn, vì vậy phân loại TMN sẽ cungcấp các thông tin hữu ích để quyết định phương pháp điều trị và tiên lượng
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về ung thư mũi – xoang
1.2.1 Một số nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam UTMX đã được quan tâm nghiên cứu từ thập niên 60 Năm
1969, Lê Văn Bích và Phạm Khánh Hoà đã báo cáo 60 ca ung UTMX [9].Đến năm 1978, Nguyễn Mạnh Cường nghiên cứu những biểu hiện lâm sàng
tổ chức bệnh học, XQ của 52 trường hợp ung thư biểu mô khối sàng hàm [5].Năm 1991 Nguyễn Công Thành qua nghiên cứu 46 trường hợp UTMXtại khoa ung thư, Viện tai mũi họng từ năm 1986 – 1990, nhận thấy UTMXhay gặp trong các khối u ác tính vùng đầu cổ, trung bình mỗi năm 9-10 ca,bằng 1/3 số lượng ung thư vòm trung bình hàng năm, tỷ lệ bệnh nhân đượcchẩn đoán giai đoạn T4 là 47,8% Hình ảnh trên phim Blondeau và Hirtz có17/19 bệnh nhân (89,4%) hình mờ đều xoang hàm, sang và phá vỡ vách ngănmũi 14/19 bệnh nhân (73,7%) [6]
Năm 1996 Vũ Công Trực nghiên cứu 96 ca UTMX được chẩn đoán vàđiều trị tại Viện tai mũi họng thấy UTMX chiếm >6% các u ác tính đường
Trang 10hô hấp trên UTMX đứng thứ 3 sau ung thư vòm họng và ung thư thanhquản Phim Blondeau và Hirtz ít có giá trị và chỉ rõ khi bệnh đã ở giai đoạnmuộn [10].
Năm 2001 Ngô Ngọc Liễn và cộng sự qua tổng kết 277 trường hợpUTMX tại Viện tai mũi họng từ năm 1986 – 2001 Cắt lớp vi tính cho phépđánh giá được đầy đủ tổn thương và nhất là sự lan tràn của khối u Phim chụpcắt lớp vi tính giúp cho chỉ định phẫu thuật được chuẩn xác nhất là với trườnghợp các khối u đã lan tràn ra ngoài xoang [1]
1.2.2 Một số nghiên cứu trên thế giới
Những nghiên cứu về UTMX đã có từ lâu Công trình đầu tiên được ghinhận trên y văn là của Morgagni, Bichat [11] Năm 1906: Sébileau đã mô tả,phân loại khối u 3 tầng: tầng trên, tầng giữa, tầng dưới Năm 1920: Hautant vàManod đã đặt vấn đề xếp loại và đưa ra hướng điều trị UTMX [12]
Năm 1979 Colin Pason, Neil Hodson đã mô tả tỷ trọng khối UTMX tănglên sau khi tiêm thuốc cản quang không có giá trị phân biệt các khối tân tạo ởmặt, tuy nhiên khi ung thư sàng hàm xâm lấn nội sọ làm cho hàng rào máu não
bị tổn thương thì hình ảnh u ngấm thuốc tăng tỷ trọng lại rất có giá trị [13].Năm 1984 Anton N.Hasso đã dùng máy CT Scanner có độ phân giảicao, chụp trước và sau tiêm thuốc cản quang Có thể phát hiện nguyên uỷ củakhối UTMX, đánh giá mức độ phá huỷ xương và lan tràn của khối ung thư ralân cận Ngoài ra CT Scanner còn cho phép đánh giá giai đoạn phát triển củakhối UTMX [14]
Năm 1998 Yuan.Y và cộng sự qua nghiên cứu 13 trường hợp u nguyênbào thần kinh khứu giác bằng CT Scanner phát hiện 6 trường hợp có u tăng
tỷ trọng, 3 trường hợp tỷ trọng không đồng đều và 3 trường hợp có vôi hoátrong u [15]
Trang 11Năm 1998 Wolfgang Dahnert nhận thấy tần suất carcinoma mũi - xoangchiếm 5-6% của carcinoma xoang cạnh mũi, 90% là carcinoma tế bào vẩy,sau đó là sarcoma, carcinoma tuyến ống, carcinoma tuyến kén và thường thứphát từ carcinoma xoang hàm [16].
1.3 Chẩn đoán ung thư mũi xoang
1.3.1 Lâm sàng
Do cấu trúc giải phẫu phức tạp của mũi xoang và sự lan rộng của khối uxâm lấn ra lân cận nên xuất hiện phối hợp nhiều dấu hiệu lâm sàng, thườngđược phân chia thành 5 hội chứng chính [1] [6] [10] :
Hội chứng mũi xoang: hay gặp nhất biểu hiện
- Triệu chứng đầu tiên là ngạt tắc mũi một bên, tổn thương tắc ngày càngtăng dẫn đến ngạt tắc mũi hoàn toàn Chảy mũi nhầy trong hoặc mầu hồngthỉnh thoảng chẩy mũi lẫn máu tươi
- Giai đoạn muộn khi u phát triển to ra và xâm lấn vào mũi bệnh nhân sẽđau nhức nhiều vùng má hoặc dọc theo sống mũi kèm theo bệnh nhân có rốiloạn ngửi (giảm ngửi, mất ngửi)
Hội chứng thần kinh:
- Thường thấy ở giai đoạn muộn khi u đã phát triển và xâm lấn các tổchức lân cận chèn ép vào dây thần kinh V gây ra các biểu hiện: lúc đầuthường đau chốc lát rồi hết, giai đoạn sau đau nửa đầu, đau vùng thái dương,đau âm ỉ liên tục không thành cơn
Trang 12- Khám lâm sàng sẽ thấy tê bì nửa mặt, đau tê răng vùng bên tổn thương,nặng hơn có thể mất cảm giác một bên bị tổn thương.
Hội chứng biến dạng do u:
Tuỳ thuộc vào vị trí xuất phát của khối u và sự xâm lấn của nó vào các tổchức lân cận, ở giai đoạn muộn sẽ có các biểu hiện sau:
- Góc trong của mắt bị phồng đẩy lồi mắt
- Gốc mũi bị biến dạng, mất rãnh mũi má, vùng má bị sưng nề
- Đẩy rãnh lợi môi, phồng sàn hàm ếch
Hội chứng do di căn
- Di căn hạch: ung thư mũi xoang di căn thường xuất hiện ở giai đoạnmuộn và ít gặp hơn các ung thư khác ở vùng đầu mặt cổ Trong ung thư mũixoang khi có hạch là biểu hiện xấu đối với tiên lượng và điều trị Tính chấthạch di căn: rắn chắc, di động kém vị trí cùng bên tổn thương và thường thấy
ở dưới hàm, góc hàm và ít thấy ở rãnh cảnh
- Ung thư mũi xoang hiếm gặp di căn xa, nếu có thì có thể di căn ở não,phổi, chi và các xương dài
1.3.2 Nội soi xoang [17]
Phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong chẩn đoán và điều trịUTMX, nó có một số ưu điểm mà một số phương pháp khác không cóđược:
- Nhìn thấy trực tiếp được lớp niêm mạc trong xoang, có thể phát hiệnđược nang, dịch nhầy, polyp, u trong xoang
- Có thể làm được sinh thiết, thực hiện một số vi phẫu thông xoang.Tuy vậy nội soi xoang cũng có một số hạn chế:
- Gây chảy máu và đau
- Một số bệnh nhân có thể bị shock do tác dụng phụ của thuốc tê
- Không đánh giá được các tổn thương ở sâu như xoang sàng, xoangbướm, hốc mắt và nội sọ
Trang 131.3.3 Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh
1.3.3.1 Chụp X –quang thường quy [17] [18]
- Phim Blondeau: có đám mờ đậm lan toả trong xoang hàm, cá biệt cóthể thấy hình ảnh khối u trong xoang khi u xâm lấn vào hốc mũi, thấy mờ đặctrong hốc mũi, các thành xoang bị mờ, mất nét do thâm nhiễm u Thànhxoang bị vỡ do u xâm lấn, hay gặp nhất là vách ngăn mũi xoang, sàn và thànhngoài ổ mắt
- Phim Hirtz: thấy các xoang sàng trước và sàng sau mờ hoặc giãn rộngmột bên Có thể thấy vùng cánh xương bướm: các nét xương mờ không rõ nétnhư bên kia
- Phim tư thế sọ nghiêng cho thấy thành trước của xoang hàm bị phá vỡ,
có thể thấy tổn thương ung thư xâm lấn xương nền sọ
Các dấu hiệu trên phim XQuang chỉ có ý nghĩa định hướng tổn thương
do chồng các tổ chức phần mềm, xương của nhiều xoang nên hạn chế trongchẩn đoán: không đánh giá chính xác được vị trí, kích thước, số lượng của u
và mức độ lan rộng của tổn thương sang lân cận
1.3.3.2.Chụp cắt lớp vi tính [17] [19]
Chụp được tiến hành trên 02 lớp cắt : lớp cắt trục (Axial) - lớp cắt songsong CLVT với đường thẳng nối lỗ tai ngoài tới điểm ngoài hố mắt (đườngOM), và lớp cắt theo mặt phẳng trán (Coronal) – lớp cắt vuông góc với đường
OM Tiêm thuốc cản quang tĩnh mạch được sử dụng trong chụp CLVT gópphần đánh giá tình trạng mạch máu và tính chất ngấm thuốc cản quang của u,mức độ xâm lấn của u sang lân cận như: hốc mắt, hố chân bướm, lỗ mũi sau –vòm họng, đặc biệt có giá trị trong chẩn đoán u xâm lấn nội sọ, giúp sơ bộchẩn đoán phân biệt Ngoài ra còn có giá trị trong lập kế hoạch tia xạ trước
mổ và đưa ra phương pháp phẫu thuật tối ưu
Trang 14Chụp CLVTcó thể đánh giá hình ảnh tổn thương là khối có tỷ trọng tổ chứctrong xoang sàng, xoang hàm, kèm theo có hình ảnh phá huỷ thành xoang.
Khối u nhỏ: trên phim chụp CLVT có thể thấy sự khác nhau giữa lớp
niêm mạc và dưới niêm mạc bị thâm nhiễm ở thì tiêm thuốc cản quang và sựdày niêm mạc xoang khu trú
Khối u lớn hơn: u thâm nhiễm niêm mạc xoang, phá huỷ cấu trúc xương
thành xoang làm biến dạng xoang và xâm lấn vào các tổ chức lân cận
- Hay gặp u xoang hàm xâm lấn vào hốc mũi, phá huỷ các cuốn mũi,vách ngăn mũi
- U xoang hàm phát triển ra phía sau vào lỗ mũi sau – vòm họng, hố chânbướm hàm và hố dưới thái dương, khối u được nhận ra như là một khối xâmlấn làm lớp mỡ bao bọc giữa các cơ bị mất do sự lan tràn của các tế bào có tỷtrọng cao hơn mỡ trên cửa sổ mỡ, u phá huỷ mảnh chân bướm hàm
- U mũi - xoang xâm lấn vào nền sọ xuyên qua trần sàng, mảnh sàng lúc đó
sẽ có hình ảnh đẩy phồng hoặc khuyết xương tại trần sàng, u có thể xâm lấn vàothuỳ trán, hình ảnh nhu mô não bị xâm lấn ngấm thuốc cản quang mạnh
- U mũi - xoang xâm lấn phá huỷ xương giấy hoặc rãnh dưới hốc mắt,sàn hốc mắt xâm lấn vào hốc mắt: hình ảnh khối tỷ trọng mô mềm lan vàochiếm chỗ, thâm nhiễm các thành phần trong hốc mắt như thần kinh thị giác,
cơ vận nhãn gây lồi mắt
1.3.3.3 Cộng hưởng từ
Nhờ đặc điểm đối quang của tổ chức phần mềm rất cao và có thể tạohình ảnh trên nhiều mặt phẳng khác nhau nên hình ảnh của CHT ưu thế hơnnhiều kỹ thuật khác trong chẩn đoán UTMX
Chẩn đoán mô bệnh học của khối u mũi - xoang thì sử dụng hình ảnh làkhông thể Thay vào đó, các nhà chẩn đoán hình ảnh xác định chính xác giớihạn giải phẫu của một khối u nhất định Sự kết hợp giữa CLVT và CHT là
Trang 15cần thiết, trong đó CLVT được sử dụng để xác định ảnh hưởng của khối u vớicác xương liền kề, còn CHT là cần thiết để đánh giá sự xâm lấn xung quanhcác dây thần kinh, nền sọ, hốc mắt, và xâm lấn nội sọ.
Quy trình chụp khối u xoang cạnh mũi bao gồm sự kết hợp hình ảnhgiữa T1W axial và coronal với T2W axial và coronal.Thông thường T1Waxial, T1W coronal, và T2W coronal bão hoà chất béo (xoá mỡ) là cần thiết.T1W sagital cũng thường được sử dụng để đánh giá vòm mũi họng.Gadolinium được dùng thường xuyên và hình ảnh axial và coronal xoá mỡ cótiêm thuốc đối quang từ Độ dày lát cắt không quá 3mm là cần thiết
Một trong những khó khăn trong xác định mức độ lan tràn của khối u làcùng tồn tại tổn thương viêm Chụp CHT là vượt trội hơn CLVT trong việc đưa
ra sự phân biệt giữa khối u và tổn thương viêm lân cận Hàm lượng nước caohơn trong chất tiết do viêm niêm mạc chuyển đổi thành tăng tín hiệu trên T2W.Các khối u có mật độ tế bào dày đặc và lượng nước nội bào và khoảng gian bào
ít nên chúng thường có tín hiệu trung gian trên hình ảnh T2W [20] Tuy nhiêntăng tín hiệu trên T2W là đặc điểm đặc trưng của u tuyến nước bọt đa hình, cáckhối u vỏ dây thần kinh, u mạch và u nhú đảo ngược [21] Chú ý rằng cường
độ tín hiệu của dịch tiết phụ thuộc vào hàm lượng protein trong nó Khi hàmlượng protein trong dịch tiết tăng lên, cường độ tín hiệu sẽ tăng trên T1W vàgiảm trên T2W Khi nồng độ protein vượt quá 28%, thì chất tiết sẽ giảm tínhiệu trên cả T1W và T2W, và có thể như một xoang chứa khí [22]
1.3.3.4 Mô hình xâm lấn và đánh giá trên cắt lớp vi tính và cộng hưởng từ
UTMX có khả năng lan tràn, xâm lấn vào các cấu trúc lân cận bằng cáchphát triển trực tiếp hoặc tạo các u nhầy xâm lấn
a) Phá huỷ xương
Sự phá huỷ xương liền kề là thường thấy trong UTMX Huỷ xươngthường được quan sát thấy trong ung thư biểu mô tế bào vẩy, di căn, sarcom,
Trang 16ung thư biểu mô không biệt hoá Tuy nhiên, u tuyến nước bọt ác tính,lymphoma tế bào lớn, melanoma, ung thư thần kinh khứu giác có xu hướngtái tạo xương Cần chú ý rằng sự thay đổi xương thường là phản ánh sự pháttriển của khối u Lymphoma và melanoma – tổn thương tái tạo xương, tiênlượng xấu hơn ung thư bểu mô tế bào vảy [21] Mặt khác, bệnh lý viêm nhiễmxoang có thể liên quan đến sự phá huỷ xương rộng nên cần chẩn đoán phânbiệt, đánh giá sự thay đổi xương này trên CHT tốt hơn trên CLVT.
b) Xâm lấn nền sọ
Sự xâm lấn có thể từ xói mòn xương đơn thuần đến xâm lấn theo các dâythần kinh sọ qua các lỗ nền sọ vào các ngăn nội sọ Xie và cộng sự đã quansát thấy hình ảnh CHT tốt hơn CLVT trong đánh giá xói mòn xương nền sọcủa 63 bệnh nhân ung thư vòm [23] Thay thế cường độ tín hiệu cao bìnhthường của tuỷ xương trên T1W, xói mòn xương thể hiện bằng hình ảnh xoá
mỡ sau tiêm thuốc và tăng tín hiệu của phù tuỷ khi có xâm lấn đáy sọ Tuynhiên trong một số bệnh máu, thiếu máu mạn tính, HIV, và loãng xương cóquá trình tái tạo tuỷ xương, làm giảm tín hiệu trên T1W Chuỗi xung khuếchtán được sử dụng để phân biệt ung thư với thâm nhiễm tuỷ không do ung thư,điều này đã được áp dụng trong chẩn đoán bệnh lý cột sống [24]
c) Xâm lấn nhu mô não, màng não
Xâm lấn màng cứng là bước cuối cùng trước khi xâm lấn vào nhu mônão chức năng Mức độ xâm lấn màng cứng là một chỉ số quan trọng Theodõi 21 bệnh nhân có xâm lấn tầng trước sọ mặt, chỉ 22% bệnh nhân xâm lấnmàng cứng sống sót sau 3 năm Xâm lấn màng cứng cũng ảnh hưởng đếnphương pháp phẫu thuật và quyết định sửa chữa lắp mảnh xương sọ hay cấy
mô ghép [25] Xâm lấn nhu mô não không phải chống chỉ định tuyệt đối củaphẫu thuật Tuy nhiên có một phương pháp điều trị tích cực với cắt bỏ rộngmột phần nhu mô với người già hoặc người đã từng điều trị chiếu xạ [26]
Trang 17CHT là tốt hơn CLVT trong đánh giá xâm lấn màng cứng Trên CHT,màng cứng tăng ngấm thuốc là không đủ để chẩn đoán xâm lấn, nó có thểtrong bệnh cảnh của chảy máu, viêm, hay dày màng cứng đơn thuần Nhữngnốt ngấm thuốc thì 100% là tổn thương xâm lấn màng cứng Khi mà màngcứng dày > 5mm và ngấm thuốc thì chẩn đoán xâm lấn có độ nhạy, độ đặchiệu, độ chính xác lần lượt là 75%, 100%, và 91% [27] Nhu mô não tăng tínhiệu là chắc chắn có sự xâm lấn màng não.
d) Xâm lấn ổ mắt
Bảo tồn hốc mắt trong suốt quá trình phẫu thuật là vấn đề còn nhiềutranh cãi Hai điểm chính của vấn đề là cắt bỏ toàn bộ khối u và bảo tồn chứcnăng của hốc mắt.Tuy nhiên nhiều bệnh nhân chấp nhận rủi ro khi phẫu thuậtcắt bỏ tối thiểu để bảo toàn chức năng ổ mắt Một nghiên cứu ở đại họcVirginia với kế hoạch điều trị xạ trị trước phẫu thuật, mắt có thể được bảo tồn
ở hầu hết phẫu thuật các khối u xoang cạnh mũi mà vẫn đảm bảo lấy hết tổchức khối u ở mức an toàn [28] [29] [30]
Tất cả 4 xoang cạnh mũi đều nằm liền kề với ổ mắt Nhiều những lỗ nhỏtrên thành ổ mắt cho mạch máu và thần kinh đi vào hốc mắt, chính nhữngđường này dẫn truyền cho khối u lan vào ổ mắt Các xương của tuyến lệ làmỏng và thường dễ dàng bị các khối u gốc mũi xoang xâm nhập Xương giấycũng là một cấu trúc xương mỏng Tuy nhiên, cấu trúc quanh hốc mắt vàmàng xương hốc mắt khá kiên cố, do đó có thể chưa có sự xâm lấn hốc mắt
dù đã có sự phá huỷ xương của thành ổ mắt
CLVT và CHT đều được sử dụng để đánh giá sự xâm lấn ổ mắt Một vàidấu hiệu như thay đổi chất béo, mối quan hệ giữa khối u và thành ổ mắt (tiếpxúc, đẩy phồng), bất thường cơ vận động nhãn cầu (phì đại, tín hiệu bấtthường, thay đổi vị trí), các nốt của khối u trên thành xương ổ mắt, sự toànvẹn của thành ổ mắt đã được sử dụng để đánh giá xâm lấn Trong số các
Trang 18tiêu chí này, có giá trị tiên lượng dương tính cao nhất là tăng tín hiệu cơ vậnđộng nhãn cầu (100%) và xâm lấn lớp mỡ ổ mắt (80% với CHT, 86% vớiCLVT) Chụp CLVT có thể chính xác hơn CHT do nó có khả năng đánh giáxương và chất béo ổ mắt tốt, trong khi CHT thì cả hai cùng giảm tín hiệu trêntất cả các chuỗi xung [24] [31] [32].
e) Lan tràn u theo dây thần kinh ngoại biên
Các phân tử kết dính tế bào ung thư vào các tế bào thần kinh cho phép tếbào u lan dọc theo các dây thần kinh Có nhiều loại khối u đầu mặt cổ, trong đóđáng kể nhất là ung thư tế bào tuyến nang và ung thư tế bào biểu mô vảy là có sựlan tràn mạnh mẽ nhất xấp xỉ 93% [24] [33] [34] Ung thư tế bào biểu mô tuyếnnang là ung thư thường gặp nhất lây lan theo các dây thần kinh ngoại biên(60%) Một số loại khác có thể lan tràn như vậy như ung thư tế bào đáy, ung thưbiểu mô niêm mạc, lymphoma, melanoma, sarcom cơ vân, di căn
Phát hiện bệnh lý thần kinh sọ não trên một bệnh nhân UTMX có thể làtổn thương thứ phát do lan tràn theo các dây thần kinh ngoại vi Nó có thểkhông có triệu chứng gì Hiếm khi phát hiện các triệu chứng thứ phát (dị cảmtrên khuôn mặt) trước khi phát hiện khối u nguyên phát
Hiểu biết chắc chắn về giải phẫu đầu mặt cổ là rất quan trọng trong đánhgiá sự xâm lấn theo các dây thần kinh Tổn thương sọ não có thể là sự xâmlấn qua hố chân bướm khẩu cái Hố này nằm giữa thành sau của xoang hàm
và mỏm chân bướm của xương bướm.Mỗi hố liên tiếp với xoang hang qua lỗtròn cho dây thần kinh sinh ba hàm trên (V2) đi qua và khuyết hay ống chânbướm cho các dây thần kinh chân bướm đi qua Hố này thông với khoangmiệng qua khe bướm hàm Thần kinh hàm trên chi phối cơ nhai nên có thể lantruyền tế bào ung thư theo đường này xuống hố chân bướm- khẩu cái thôngqua lỗ bầu dục đến các khoang Meckel Các hố này liên tiếp với ổ mắt quakhe ổ mắt dưới, liên tiếp với tầng giữa với khoang mũi thông qua lỗ chânbướm Ở phía dưới là các lỗ cho các dây thần kinh khẩu cái lớn và nhỏ đi qua
Trang 19CHT có tiêm thuốc trên xung xoá mỡ là đánh giá tốt nhất sự lan tràn theocác dây thần kinh Các dấu hiệu này bao gồm thâm nhiễm mỡ của hố chân bướmkhẩu cái, ngấm thuốc và dày các dây thần kinh, thâm nhiễm mỡ đáy sọ, ngấmthuốc của các mô mềm trong xoang hang và hang Meckel, mất dẫn truyền cơnhai (teo cơ nhai) Khi bệnh lan tràn rộng, phá huỷ cấu trúc xương đáy sọ có thểthấy rõ trên CLVT Có nhiều tổn thương có thể cùng tồn tại nhưng không liêntiếp nhau, những xâm lấn nhỏ là khó có thể đánh giá trên hình ảnh, chẩn đoánhình ảnh phát hiện khoảng 70% các trường hợp [35] [36].
f) Xâm lấn hạch (Lymph Node Spread)
Di căn hệ thống mô liên kết là một dấu hiệu để tiên lượng Khám lâmsàng có thể phát hiện khoảng 70% hạch bất thường CLVT và CHT phát hiện
di căn hạch trong khoảng 38% - 67% trường hợp không sờ thấy được [37].Khối u xâm lấn rộng đến da, nếp má lợi, hệ thống cơ chân bướm, liên quanđến di căn hạch Xấp xỉ 15% bệnh nhân UTMX phát triển dạng nốt
Dẫn lưu bạch huyết của các xoang theo hệ thống tĩnh mạch Bạch huyếtcủa nửa trước khoang mũi dẫn về nhóm IB Bạch huyết từ nửa sau khoangmũi đến họng mũi đổ vào các hạch bạch huyết sau hầu và vào các nhóm hạch
từ nhóm II đến nhóm V Bạch huyết từ xoang trán và xoang sàng đổ vàonhóm I, xoang bướm đổ vào hạch sau hầu, xoang hàm trên đổ vào nhóm IB,
II, III, IV và các hạch bạch huyết phía bên sau hầu Chú ý rằng các hạch phíasau hầu có thể không còn cấu trúc bình thường do những nhiễm trùng tái phátkhi còn nhỏ; hạch nhóm I và II thường là những trạm đầu cho tổn thương dicăn xa từ khối u nguyên phát ở các xoang cạnh mũi
Tiêu chuẩn đánh giá di căn hạch từ khối u nguyên phát vùng đầu mặt cổcũng giống như từ khối u nguyên phát của nơi khác, với các đặc điểm: kíchthước lớn trên 10mm, có hoại tử, xâm lấn ra ngoài vỏ, và cấu trúc mạch máubất thường… là những đặc điểm có thể đánh giá trên hình ảnh Tuy nhiên
Trang 20cần chú ý rằng hạch có kích thước bình thường vẫn có thể chứa các tế bàoung thư hoặc ngược lại phản ứng tăng sản của hạch từ nguyên nhân kháckhông phải di căn.
Một số kỹ thuật CHT đã được phát triển với mục tiêu phát hiện sự thâmnhập tế bào u vào hạch trước khi có sự phát triển thay đổi hình thái Oxid sắtsiêu thuận từ và siêu nhỏ siêu thuận từ đã được sử dụng làm tác nhân tươngphản âm tính Các oxid sắt này đi qua màng trong tế bào được thực bào bởicác đại thực bào trong các hạch bình thường, và các tế bào sẽ trở nên giảm tínhiệu mạnh trên T2W và T2* Các hạch bạch huyết có chứa các tế bào ung thư
có một lượng rất ít các đại thực bào và do đó không làm giảm tín hiệu trên cácxung trên Với các khối u vùng đầu mặt cổ, độ nhạy, độ đặc hiệu, độ chínhxác của kỹ thuật này đã được báo cáo khá là cao với 96%, 87% và 93% [38].Tuy nhiên kỹ thuật này chưa được phổ biến rộng rãi và đòi hỏi phải theo dõitrong thời gian dài là những vấn đề còn khó khăn
Trong 27 bệnh nhân nghiên cứu, Fischbein và cộng sự thấy rằng sử dụngCHT có tiêm thuốc có thể phân biệt hạch bệnh lý và hạch bình thường ở nhữngbệnh nhân ung thư biểu mô tế bào vảy Họ thấy rằng cần một thời gian lâu hơn
để ngấm thuốc hoàn toàn, đỉnh ngấm thuốc cũng thấp hơn, và rửa trôi chậm hơntrong ung thư hạch bạch huyết sau khi tiêm thuốc đối quang từ Họ đưa ra giảthiết để giải thích là do giảm thành phần vận chuyển trong mô hạch và giảm thểtích ngoại bào, giảm mạch máu trong hạch chứa ung thư [39]
1.3.4 Giải phẫu bệnh
Trong các phương pháp chẩn đoán ung thư nói chung, chẩn đoán UTMXnói riêng, bộ ba chẩn đoán gồm chẩn đoán hình ảnh, chẩn đoán nội soi vàchẩn đoán mô bệnh học thì chẩn đoán mô bệnh học có ý nghĩa tiêu chuẩnvàng Phân loại mô bệnh học UTMX của tổ chức y tế thế giới năm 2005 [40]chia ung thư biểu mô mũi xoang ra làm các dạng:
Trang 21- Ung thư biểu mô vẩy
- Ung thư dạng biểu mô lympho
- Ung thư biểu mô không biệt hóa
- Ung thư biểu mô tuyến
- Ung thư typ tuyến nước bọt
- U thần kinh nội tiết
Trang 22CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu dự kiến: Nghiên cứu được tiến hành
tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương từ tháng 01/2016 đến tháng 06/2017
và khoa Chẩn đoán hình ảnh – Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 08/2016 đếntháng 06/2017
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu bao gồm những bệnh nhân được
chẩn đoán UTMX đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn lựa chọn và không vi phạm cáctiêu chuẩn loại trừ
2.1.2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
- Các bệnh nhân được chẩn đoán UTMX dựa trên các triệu chứng lâmsàng và nội soi tai mũi họng, được chụp CLVT và/ hoặc CHT
- Các bệnh nhân này được phẫu thuật hoặc sinh thiết và có kết quả giảiphẫu bệnh là UTMX
- Mọi lứa tuổi không phân biệt giới tính
- Có đủ thông tin hồ sơ bệnh án lưu trữ
2.1.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân có chụp CLVT và/ hoặc CHT xoang nhưng không có kếtquả giải phẫu bệnh
- Bệnh nhân đã điều trị phẫu thuật, xạ trị hay hoá chất trước khi chụp
Trang 23- Bệnh nhân có chống chỉ định tuyệt đối chụp CLVT, CHT (có cấy ghépcác thiết bị điện tử như máy tạo nhịp, máy khử rung, cấy ghép máy bơminsulin tự động, kẹp phẫu thuật nội sọ, trong hốc mắt…).
- Không được chụp đúng quy trình hoặc không đạt chất lượng chẩn đoán
2.1.3 Cỡ mẫu nghiên cứu: Mẫu thuận tiện.
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang.
2.2.2 Phương tiện nghiên cứu
- Máy chụp CHT Avanto 1,5 Tesla của hãng Siemens – Đức, máy cộnghưởng từ Phillip Ingenia Hà Lan và máy chụp CLVT đa dãy
- Thuốc đối quang từ tiêm tĩnh mạch Dotarem (gadoterate meglumine)0,5mmol/ml, Guerbet Pháp
- Máy tiêm thuốc đối quang từ tự động Spectris Solaris, Medrad Mỹ
- Máy
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu
- Xây dựng bệnh án mẫu chung cho toàn bộ quá trình nghiên cứu
- Trực tiếp tham gia tiến hành chụp CLVT, CHT cho bệnh nhân tại khoaChẩn đoán hình ảnh bệnh viện Bạch Mai Sau đó đọc phim và mô tả đầy đủcác thông tin theo bệnh án mẫu
- Thu thập hình ảnh các phim chụp của bệnh nhân không được chụp tạikhoa Chẩn đoán hình ảnh bệnh viện Bạch Mai Sau đó đọc lại phim và mô tảđầy đủ các thông tin theo bệnh án mẫu
Trang 242.2.4 Sơ đồ nghiên cứu
2.2.5 Quy trình chụp cắt lớp vi tính và cộng hưởng từ xoang hàm mặt
2.2.5.1 Chuẩn bị bệnh nhân.
Bệnh nhân được gửi đến khoa chẩn đoán hình ảnh để chụp CLVT, CHT
đã qua thăm khám lâm sàng và cận lâm sàng trước đó
Xem xét các chống chỉ định của chụp CLVT, CHT, loại trừ các dị vậtkim loại, các loại thẻ từ, điện thoại di động…
Giải thích cho người nhà và bệnh nhân những biến chứng, tai biến khi tiêmthuốc cản quang và thuốc đối quang từ đường tĩnh mạch Chỉ tiêm thuốc cho bệnhnhân nếu GFR >30
hàm CHT
Dương tính
Âm tính
Dương tính
Trang 25người, cổ ngửa tối đa, đầu đặt trên giá đỡ Ở tư thế này thực hiện các lớp cắtvuông góc với đường nối lỗ ống tai ngoài tới điểm hố mắt ngoài (đường OM)với các lớp cắt liên tục từ bờ trước xoang trán đến bờ sau của xoang bướm.
- Chụp tư thế trục (Axial): bệnh nhân nằm ngửa trên bàn, hai tay buôngxuôi theo người, đầu dựa trên giá đỡ Ở tư thế này các lớp cắt song song vớiđường OM liên tục từ mào huyệt răng hàm trên tới đỉnh xoang trán
Tư thế chụp CHT: nằm ngửa hai tay xuôi dọc thân mình Các lát cắtliên tục từ đỉnh của vòm sọ đến khớp ức đòn để đánh giá di căn hạch vùng
2.2.5.2 Quy trình chụp cắt lớp vi tính xoang hàm mặt.
Chụp CLVT xoang được thực hiện cho tất cả các bệnh nhân có độ dàylát cắt 3mm theo cả trục axial và coronal, trước và sau tiêm thuốc cản quang,
sử dụng cả hai cửa sổ mô mềm (50/200) và cửa sổ xương (100/1500)
2.2.5.3 Quy trình chụp cộng hưởng từ xoang hàm mặt.
Các chuỗi xung cộng hưởng từ được sử dụng: Coronal, axial và sagittalT1 trước và sau tiêm gadolinium - DTPA; Axial T2W; DWI; T2*
* Các thông số của các xung cộng hưởng từ được sử dụng:
Thông số Thời gian lặp lại
xung TR (mili giây)
Thời gian phản hồi TE (mili giây)
Độ dày lát cắt (mm)
Bước nhảy (mm)
Trang 26- Kích thước khối u (<10mm, 10 - 30mm, >30mm)
- Ranh giới khối u: rõ, không rõ
- Bờ tự do của khối: đều, liên tục hay không đều, liên tục
- Cấu trúc khối u: đồng nhất tỷ trọng tổ chức (30 - 55HU), đồng nhất tỷtrọng dịch (0-30HU), tỷ trọng không đồng nhất
- Mức độ ngấm thuốc cản quang của u: dựa vào sự thay đổi tỷ trọng của
u tại cùng một vị trí trước và sau tiêm thuốc cản quang với các mức độ: khôngngấm thuốc (tăng <5HU), ngấm ít (tăng 5-10HU), ngấm vừa (tăng 10-20HU),ngấm mạnh (tăng >20HU)
- Xâm lấn màng cứng và nhu mô não: thông qua xương sàng xâm lấn nhu
mô não thuỳ trán: hình ảnh màng cứng, nhu mô não bị xâm lấn ngấm thuốc cảnquang mạnh hơn vùng nhu mô não không bị tổn thương ở xung quanh
- Xâm lấn ổ mắt: UTMX xâm lấn phá huỷ xương giấy hoặc rãnh dưới ổmắt, sàn hốc mắt xâm lấn vào hốc mắt: hình ảnh khối tỷ trọng nhu mô lan vàochiếm chỗ, thâm nhiễm các thành phần trong hốc mắt: thần kinh thị giác, cơvận nhãn gây lồi mắt
- Xâm lấn hạch: hạch tăng kích thước >10mm, hoại tử, xâm lấn phá vỡ
vỏ, ngấm thuốc chậm và kém, thải thuốc lâu
Trang 27Hình 2.1: Lymphoma xoang hàm trái (mũi tên đỏ) xâm lấn phá huỷ thành xoang (mũi tên vàng), tiêu huỷ và tái tạo xương bướm (mũi tên xanh), xâm
lấn mô mềm trong khoang cơ cắn (dấu sao).
Hình 2.2: Ung thư biểu mô xoang sàng trái xâm lấn phá huỷ xương thành ổ mắt.
Trang 28Hình 2.3: Ung thư biểu mô tế bào hình thoi xâm lấn lỗ tròn bên phải, phá huỷ các cấu trúc xương lân cận (mũi tên xanh), bên trái bình thường (mũi tên vàng).
Hình 2.4: Ung thư biểu mô tế bào vảy xoang hàm trái là khối tỷ trọng hỗn hợp ngấm thuốc không đều sau tiêm, phá huỷ xương thành xoang, xâm lấn ổ mắt (mũi tên hình A), cơ chân bướm trong bên trái (mũi tên hình B).
Trang 292.2.6.2 Đánh giá trên cộng hưởng từ
Đánh giá khối u
- Vị trí khối u
- Kích thước khối u (đo đường kính lớn nhất của u theo tiêu chuẩn RECIST)
- Tín hiệu của khối u trên các chuỗi xung: giảm tín hiệu trên T1W, ngấmthuốc không đồng nhất hoặc đồng nhất sau tiêm thuốc, đồng hoặc giảm tỷtrọng trên T2W
- Cấu trúc khối u: nang, đặc , hỗn hợp
- Ranh giới u: rõ, không rõ
- Chảy máu trong u, vôi hoá trong u, hoại tử trong u (là vùng có tín hiệudịch không đồng nhất trong khối u, tăng tín hiệu không đồng nhất trên T2W,giảm tín hiệu không đồng nhất trên ảnh T1W, sau tiêm không ngấm thuốc
Hình 2.5: Ung thư biểu mô tế bào vảy của khoang mũi trái giảm tín hiệu trên T1W, tăng tín hiệu trên T2W Khối này chèn ép ngách bướm sàng và ngách
xoang hàm trái gây tắc nghẽn lưu thong dịch xoang (dấu sao).
Đánh giá xâm lấn
- Xâm lấn xương sọ và các xoang lân cận: thay thế tín hiệu cao của tuỷxương bằng tín hiệu thấp của khối u trên T1W
Trang 30- Xâm lấn màng cứng: màng cứng dày (>5mm) và ngấm thuốc, đặc biệtngấm thuốc dạng nốt.
- Xâm lấn ổ mắt: khối nốt trên thành xương ổ mắt; thay đổi chất béo(giảm tín hiệu chất béo ổ mắt trên tất cả các chuỗi xung); phì đại, tăng tín hiệu
và thay đổi vị trí các cơ vận nhãn
- Xâm lấn u theo các dây thần kinh ngoại biên: thâm nhiễm mỡ hố chânbướm, mỡ đáy sọ; dây thần kinh dày và ngấm thuốc; ngấm thuốc của mô mềmtrong xoang hang và hang Meckel; teo cơ nhai (mất dẫn truyền cơ nhai),…
- Xâm lấn hạch: hạch tăng kích thước >10mm, hoại tử, xâm lấn phá vỡ
vỏ, ngấm thuốc chậm và kém, thải thuốc lâu
Hình 2.6: Ung thư biểu mô vảy kém biệt hoá của khoang mũi và xoang sàng
xâm lấn nhu mô não thuỳ trán trái.
Trang 31Hình 2.7: Ung thư tuyến nang có sự xâm lấn vào hố chân bướm khẩu cái và dây thần kinh V2 (dây thần kinh dầy lên và ngấm thuốc mạnh sau tiêm) trong lỗ tròn.
2.2.7 Thu thập, xử lý và phân tích số liệu
- Thu thập số liệu: Theo mẫu bệnh án nghiên cứu thống nhất và thu thậpcác thông tin từ hồ sơ bệnh án
- Xử lý số liệu: Các số liệu được thống kê và xử lý bằng các thuật toánthống kê thích hợp trên phần mềm SPSS16.0
+ Mô tả đối tượng nghiên cứu và đặc điểm hình ảnh: thống kê số liệu và
sử dụng công thức tính tỷ lệ (%)
+ So sánh vai trò của CLVT và CHT trong đánh giá UTMX: tính độnhạy, độ đặc hiệu của mỗi phương pháp trong chẩn đoán xác định UTMX, sửdụng kiểm định giả thiết Ho trong đánh giá mức độ xâm lấn của UTMX (sựkhác biệt giữa tỷ lệ phát hiện các đặc điểm xâm lấn của hai phương pháp có ýnghĩa thống kê hay không)
Trang 322.3 Đạo đức nghiên cứu
Các phương pháp chẩn đoán trong nghiên cứu đã được áp dụng tại nhiềucác trung tâm lớn ở nhiều nước trên thế giới Mục đích của nghiên cứu nhằmđánh giá giá trị của CLVT và CHT trong việc chẩn đoán xác định cũng nhưchẩn đoán giai đoạn của bệnh, giúp các nhà lâm sàng vạch ra được nhữngchiến lược điều trị phù hợp
Tất cả các BN trong nghiên cứu đều được giải thích đầy đủ, rõ ràng vềqui trình tiến hành, các ưu, nhược điểm của phương pháp và rủi ro có thể xảy
ra, được BN và gia đình đồng ý tham gia Các thông tin cá nhân của bệnhnhân được bảo mật thông qua việc mã hóa các số liệu trên máy tính
Đề tài đã được hội đồng Bộ môn Chẩn đoán hình ảnh và Phòng Đào tạosau đại học thông qua
Trang 33CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ
Chúng tôi nghiên cứu 42 bệnh nhân được chụp CLVT và/hoặc CHT (trong
đó có 39 bệnh nhân được chụp CLVT và 18 bệnh nhân được chụp CHT), đượcphẫu thuật hoặc sinh thiết có kết quả mô bệnh học là UTMX (có 28/39 bệnhnhân được chụp CLVT có kết quả phẫu thuật và 7/18 bệnh nhân được chụp CHT
có kết quả phẫu thuật) tại bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương từ tháng 01/2016đến tháng 06/2017 và khoa Chẩn đoán hình ảnh – Bênh viện Bạch Mai từ tháng08/2016 đến tháng 06/2017, thu được kết quả sau:
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Trang 36Nhận xét:
Trong hội chứng mũi xoang, triệu chứng ngạt tắc mũi là hay gặp nhấtvới 33/42 bệnh nhân (78,57%) và thường ngạt tắc mũi tăng dần một bên đếnngạt hoàn toàn
3.1.4 Đặc điểm mô bệnh học.
Bảng 3.2 Đặc điểm mô bệnh học (n = 42).
Số lượng Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Ung thư biểu mô tế bào vảy là chủ yếu có 24/42 trường hợp chiếm57,16%, ung thư biểu mô tuyến có 6/42 trường hợp chiếm 14,28%, ít nhất làung thư biểu mô không biệt hoá và ung thư biểu mô typ tuyến nước bọt có1/24 trường hợp (2,38%)
Trang 373.2 Đặc điểm chung của khối u mũi – xoang.
Theo đánh giá vị trí xoang có mô u trên CLVT: vị trí hay gặp mô u nhất
là hốc mũi với 37,5%, sau đó là xoang hàm 28,13% và xoang sàng 27,08%, ítgặp nhất là xoang trán 1,04%
Theo đánh giá vị trí xoang có mô u trên CHT: vị trí hay gặp mô u nhất
là hốc mũi 32,65%, tiếp đến là xoang sàng 28,58%, xoang hàm 22,45%, ít gặpnhất là xoang trán 4,08%
Bảng 3.4 Số lượng xoang có mô u
Trang 383.2.3 Ranh giới, đường bờ khối u.
Bảng 3.6 Đặc điểm ranh giới của u
Nhận xét: UTMX phần lớn có ranh giới không rõ (95,24%)
Bảng 3.7 Đặc điểm đường bờ của u
Nhận xét: UTMX phần lớn có bờ không đều (95,24%)
3.2.4 Cấu trúc khối u trên CLVT.
Bảng 3.8 Cấu trúc khối u trên cắt lớp vi tính (n = 39).
Nhận xét:
Trang 39Trong 39 trường hợp bệnh nhân được chụp CLVT có 17 trường hợp(43,59%) khối u có cấu trúc đồng nhất tỷ trọng tổ chức và 22 bệnh nhân(56,41%) có khối u tỷ trọng không đồng nhất.
Nhận xét:
Trong 22 bệnh nhân có tỷ trọng không đồng nhất, thành phần có tỷ lệlớn nhất là hoại tử với 16 bệnh nhân (01 bệnh nhân có vôi hoá + hoại tử, 01bênh nhân có chảy máu + hoại tử,14 bệnh nhân chỉ có hoại tử) chiếm 72,73%.Thành phần vôi hoá gặp trong 7 trường hợp bệnh nhân (31,82%) Chảy máugặp trong 3 trường hợp (13,64%)
Trang 40Bảng 3.10 Tính chất ngấm thuốc cản quang của khối u trên cắt lớp vi tính
3.2.5 Đặc điểm khối u trên CHT.
Bảng 3.11 Cấu trúc khối u trên CHT (n = 18)