Do đó nghiên cứu phân loại DHVN trong bệnh lýmũi xoang góp phần trong khám, chẩn đoán và điều trị bệnh lý mũi xoang.Trước đây chỉ có các nghiên cứu về vấn đề này rồi , tuy nhiên chưa có
Trang 1Mũi có một cấu trúc giải phẫu rất đặc biệt , mũi nhô ra ở giữa mặt tạonên sự hài hòa của khuôn mặt, nhưng đồng thời vì đặc điểm này mũi dễ bịchấn thương, không những ảnh hưởng đến di lệch tháp mũi mà còn ảnhhưởng đến vách ngăn Để đảm bảo vững chắc cho cấu trúc mũi về thẩm mỹcũng như sự lưu thông không khí thì vách ngăn cũng đóng vai trò rất quantrọng Những sai lệch về vị trí và cấu trúc vách ngăn mũi biểu hiện bằng vẹo,lệch, mào, dày, gai vách ngăn, thậm chí có thể các dị hình này phối hợp vớinhau tạo nên những dị hình phức tạp của vách ngăn, những dị hình này đềugây ảnh hưởng tới sự lưu thông không khí qua mũi Và cũng chính sự kémlưu thông không khí làm ảnh hưởng, gây nên bệnh lý mũi xoang.
Dị hình vách ngăn có xu hướng gặp ngày càng cao, ngoài nguyên nhânbẩm sinh còn do chấn thương Dị hình vách ngăn gặp ở mọi lứa tuổi, ởngười lớn tuổi ít thấy vách ngăn làm một tấm phẳng ở chính giữa hốc mũi màthường cong về bên này hay bên kia Dị hình vách ngăn có liên quan mật thiếtvới bệnh lý mũi xoang và là một trong số các nguyên nhân gây viêm xoang,
dị hình vách ngăn gây nên ba dạng: Viêm xoang nhiễm khuẩn, đau đầu mạn
Trang 2tính và là “gai kích thích” trong viêm mũi dị ứng, ba bệnh lý này có thể đơnthuần hay kết hợp với nhau Do đó nghiên cứu phân loại DHVN trong bệnh lýmũi xoang góp phần trong khám, chẩn đoán và điều trị bệnh lý mũi xoang.Trước đây chỉ có các nghiên cứu về vấn đề này rồi , tuy nhiên chưa có nghiêncứu nào cho thấy vai trò dị hình vách ngăn với từng loại bệnh lý này vì vậy
chúng tôi nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu hình thái dị hình vách ngăn và mối liên quan của dị hình vách ngăn với triệu chứng bệnh lý mũi xoang".
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN1.1 Vài nét về lịch sử
1.1.1 Trên thế giới
Trên thế giới trong ngành Tai Mũi Họng những dị hình vách ngăn đượcthầy thuốc tai mũi họng quan tâm tới từ lâu, nhưng hầu như chưa có số liệuchính thức nào được công bố về sự liên quan giữa dị hình vách ngăn đặc biệtvới các vấn đề sức khỏe liên quan cho đến tận những năm đầu 1990
Những lỗ lực đầu tiên để hệ thống các các biến dạng vách ngăn đã đượcđưa ra rất sớm từ năm 1958 bởi Cottle , người đã xác định rõ 5 nhóm của dịhình vách ngăn từ trước ra sau
Năm 1987 Mladina là người đầu tiên phân loại dị dạng vách ngăn thành
6 loại Ông cũng miêu tả một loại thứ 7 trình bày riêng rẽ nhưng luôn là sự kếthợp của một số trong số 6 loại trước, việc phân loại này đã ngay lập tức đượccác nhà mũi học trên toàn thế giới tán thành và đã được trích dẫn từ nhữngngày đầu Số lượng trích dẫn đã được phát triển kể từ đó, và điều này đã trởthành hệ thống tiêu chuẩn, đã có ít nhất 40 công trình nghiên cứu lâm sàng ởcác nước khác nhau trên toàn thế giới
Mười hai năm sau Mladina công bố phân loại của mình và sau khi nó đãđược sử dụng trong nhiều nghiên cứu lâm sàng, năm 1999, Guyuron công bố
đề xuất của ông, Guyuron đề nghị các loại sau đây: nghiêng, trước-sau C,trước-sau S, đuôi S, đuôi C nhưng tổng thể cũng gần như tương tự cách phânloại của Mladina
Bốn năm sau, vào năm 2003, Buyukertas phân loại dị hình vách ngănbằng cách phân tách vách ngăn mũi thành 10 phân đoạn với mục đích để khutrú hoá tốt hơn các biến dạng
Trang 4Sau đó, vào năm 2007, Baumanns công bố một phân loại mới của độlệch vách ngăn, phân loại của ông có nhiều điểm tương đồng với các nghiêncứu trước đó tuy nhiên, phân loại của Baumanns không bao gồm dị dạng váchngăn "hình chữ S" hay " hình chữ S đảo ngược ", tức là Mladina của loại 4.Một số nghiên cứu về tỷ lệ mắc dị hình vách ngăn, dựa trên việc phânloại Mladina và Rhinoscopy cho thấy tỷ lệ mắc các dị tật vách ngăn tăngchậm từ trẻ em đến tuổi trưởng thành, cuối cùng trở nên rất cao, đạt gần 90%dân số trên thế giới , và cho thấy rõ ràng rằng làm thế nào một loại dị hìnhvách ngăn có thể ảnh hưởng đến mũi của bệnh nhân Phân loại Mladina đãđược sử dụng từ năm 1987 và đã nhận ra mối quan hệ chặt chẽ giữa một sốloại dị hình và các bệnh lý liên quan.
1.1.2 Việt Nam
Tại Việt Nam đã có một số tác giả nghiên cứu về dị hình vách ngăn như: Năm 1998 Nguyễn Tấn Phong đã mô tả rất chi tiết về giải phẫu váchngăn mũi và các dị hình có thể gặp, các phương pháp phẫu thuật nội soi mũixoang điều trị các dị hình trong “ phẫu thuật chỉnh hình vách ngăn mũi vàtháp mũi ”
Năm 2004 Nguyễn Tư Thế nghiên cứu dịch tễ và đặc điểm lâm sàngbệnh lý vẹo vách ngăn mũi vào khám và điểu trị tại khoa Tai Mũi Họng bệnhviện Trung ương Huế
Năm 2006 Huỳnh Khắc Cường và cộng sự nghiên cứu Vẹo vách ngănmũi Cập nhật chẩn đoán và điều trị bệnh lý mũi xoang
Năm 2007 Nguyễn Kim Tôn nghiên cứu đặc điểm dị hình vách ngăn
và đánh giá kết quả phẫu thuật Nguyễn Thị Tuyết nghiên cứu dị hình hốcmũi trên bệnh nhân viêm xoang tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương
Trang 5Năm 2008 tác giả Nguyễn Tấn Phong đã mô tả rất kỹ các hình ảnh váchngăn mũi và các dị hình trong “ Điện quang trong chẩn đoán TMH”
1.2 Những đặc điểm giải phẫu, sinh lý vách ngăn mũi
1.2.1 Giải phẫu vách ngăn mũi
* Thành trong hay vách ngăn mũi Thành này được tạo bởi các phầnchính là xương lưỡi cày ở phía trước và dưới, ở phía trên và sau là mảnh đứngsàng, p hía ngoài là sụn tứ giác Thành này thường mỏng nằm theo chiềuđứng dọc và phẳng, đôi khi vách này ngả về một bên Thành này được mô tả
kỹ từ trước ra sau gồm:
Hình 1.1 Thành trong của hốc mũi
+ Tiểu trụ: Chiều cao của tiểu trụ bắt đầu từ trên của nhân trung lên tớiđỉnh mũi Tiểu trụ là phần vách ngăn đôi sàn mũi và chia làm 2 lỗ mũi trước
Trang 6được bao bọc 2 mặt da, mà lớp giữa là một vách sụn thuộc cánh mũi, bờ trướcnày thường vượt quá bờ sụn cánh mũi một vài mm
Góc mũi- môi được tạo thành bởi môi trên và bờ trước tiểu trụ một góc
+ Vách sụn: Vách sụn được cấu tạo bởi sụn tứ giác Đây là một trong ba
bộ phận cấu tạo nên phần cốt lõi của vách ngăn
Hình 1.2 Vách ngăn mũi
Trang 7Sụn tứ giác nằm trong cái ngăn gọi là ổ vách ngăn được bao bọc bởimàng sụn Giữa sụn và bốn bờ liên quan của nó với các xương cấu thành váchngăn có một bình diện bóc tách rất hữu ích trong phẫu thuật vách ngăn
Các đường khớp giữa sụn và vách ngăn xương được bao bọc bởi màngsụn Màng sụn bọc sụn tứ giác còn kéo dài tới các phần sau:
Hình 1.3 Màng xương và màng sụn
- Ở phần trên: Màng sụn lên đến vòm sụn (tạo bởi hai sụn tam giác còngọi là sụn bên), đồng thời bọc cả mặt dưới của 2 sụn tam giác Vùng màngsụn liên tiếp với nhau có thể phẫu tích được Toàn bộ sụn tứ giác và sụn tamgiác tạo nên một thể thống nhất về hình dạng và chức năng
Trang 8- Ở phần dưới: Màng sụn vách hòa nhập với màng xương lá mía.
Những lớp sợi xuất phát từ màng sụn và màng xương đan chéo nhau vàtạo thành một dây chằng giữa gai và sụn Dây chằng này rất dai khi phẫu tíchbóc tách bờ dưới của sụn tứ giác và gai mũi trước Vì thế nên xương và sụnvùng dây chằng này khó bị trật khớp
Sụn tứ giác dày không đồng nhất, phần trước 2 mm, phần sau 4 mm Bờsau sụn có 1 điểm dày lên khớp với mảnh đứng xương sàng tạo nên “củ” củavách ngăn Củ này đóng vai trò quan trọng đối với chức năng phân luồng khíqua mũi Cần bảo vệ “củ” này nếu không đi cùng với dị hình của vách ngăn.+ Sụn tứ giác gồm 4 bờ:
- Bờ trước trên: Gắn với sống mũi đóng một vai trò trọng yếu đối vớihướng và hình dạng sụn sống mũi Ở 2/3 trên bờ này sụn vách ngăn kéo dàisang hai bên để rồi hợp lại ở phần trên, ngang tầm bờ dưới của xương chínhmũi Chỗ gặp nhau giữa sụn tứ giác và xương chính mũi tạo nên một góc chậthẹp là một vùng trọng yếu trên bình diện kiến trúc của mũi được gọi là vùng
“K” của Cottle Nó là chìa khóa của vòm mũi hội tụ những lực khác nhauđảm bảo việc nâng đỡ tháp mũi Phải tôn trọng vùng “K” trong tất cả cácphẫu thuật mũi Ở 1/3 dưới bở trước trên sụn vách kéo dài xuống dưới tạothành một góc tròn gọi là bờ đuôi hay góc của sụn vách
- Bờ đuôi của sụn vách: Đi từ góc sụn vách xuống đến gai mũi trước.Phần trên bờ đuôi được giữ bởi một mô sợi của tiểu trụ
Phần ba giữa bờ đuôi nằm vào khe giữa hai cánh trong của sụn cánhmũi, ngăn cách với 2 cánh này bởi vách ngăn màng
Phần ba dưới bờ đuôi sụn vách gắn liền với gai mũi trước đây là phầnsụn dễ bị chấn thương nhất, vùng này bờ sụn rất mỏng thường bị rạn nứt, vỡ
và lệch sang hai bên do những đường vỡ dọc
Trang 9- Bờ sau dưới hay vùng chân sụn vách, bờ sụn dày là trung tâm của đa
số các biến dạng sụn mà nguyên nhân do sự phát triển quá lớn của sụn Sụn
vỡ theo đường nằm ngang hay do trật khỏi đế xương hoặc vừa vỡ vừa trật liênquan để tạo thành chân đế gây nên dị hình từ trước ra sau bao gồm:
Gai mũi trước là phần lồi lên của vùng trước hàm nằm chính giữasàn lỗ lệ, cân xứng chính giữa, kéo dài ra phía trước bằng hai cánhnhỏ trước hàm Trong những trường hợp lệch vách ngăn thì sụnvách bị chệch khỏi sườn của gai mũi trước
Vùng xương trước hàm hay vùng xương nhọn: Là vùng nhô ra củatháp mũi và phần trên của khối xương mặt Được cấu tạo từ 2 cánhxương dính vào nhau, hai cánh này vươn lên mào mũi của xươnghàm tạo nên một đường ray cho đến sụn vách đứng Ở vùng nàythường thấy lệch vách ngăn phì đại 1 trong 2 cánh nhỏ trước hàm
Xương lá mía nằm ở phía sau khu trước hàm ở bờ trước củaxương lá mía cũng tạo nên 1 đường ray Thường gặp dị hình mào
và gai vách ngăn
- Bờ sau trên của sụn vách nối với mảnh đứng xương sàng, bờ này khôngthẳng mà gập góc Góc này kéo dài tới xương bướm, nó chạy giữa mảnh đứngxương sàng ở trên và xương lá mía ở dưới Ở bờ sau trên này của sụn vách là nơithực hiện các thủ thuật cắt sụn trong dị hình vách ngăn mũi
+ Vùng trung tâm sụn vách:
Vùng này thường gắn với màng sụn một cách lỏng lẻo hơn và dễ bóctách màng sụn ra khỏi sụn, là nơi tập trung những nứt rạn sụn theo chiều dọckiểu Chevallet hoặc theo chiều ngang kiểu Jarjaway và đôi khi gặp hiện tượngthủng vách
Trang 10- Vách xương: là phần nằm sau vách ngăn sụn có mảnh đứng xươngsàng ở trên và xương lá mía ở dưới Mảnh đứng xương sàng là trung tâm củanhững biến dạng cong đều có bán kính lớn, nó ảnh hưởng lớn tới sụn vách.
- Xương lá mía: Nằm ở khoảng giữa vòm khẩu cái ở bên dưới và mảnhđứng xương sàng ở trên và sụn vách ở phía trước Xương này có 4 bờ: Bờtrên, bờ sau, bờ dưới và bờ trước trên Bờ trước trên chạy xiên từ trên xuốngdưới, từ sau ra trước Bờ này có dạng lõm lòng máng để tiếp khớp với mảnhđứng xương sàng ở phần sau và trên, với sụn vách ở phần trước dưới Bờ nàythường xảy ra những biến dạng của xương Chính gai xương lá mía là thủphạm gây cản trở luồng không khí qua mũi
+ Biểu mô vách ngăn
Vùng tiền đình mũi là biểu mô biểu bì có lông mũi mọc
Vùng chuyển tiếp nằm giữa tiền đình mũi cho đến đầu xương cuốn mũigiữa và dưới là vùng giao thoa của biểu mô da và biểu mô hô hấp
Vùng niêm mạc hô hấp phủ toàn bộ phần còn lại của vách ngăn, vùngnày có màu đỏ dày độ 2- 3 mm ngang tầm lỗ lệ Chiều dày niêm mạc đạt tối
đa ở vùng củ vách ngăn và tối thiểu ở mảnh đứng xương sàng và sụn vách
Niêm mạc khứu giác: Là vùng niêm mạc mỏng, nghèo tuyến với diệntích khoảng 1 cm2 đối diện với bờ tự do của cuốn trên Vùng này tập trungdày đặc các tế bào giác quan cảm nhận mùi, gần như không có tế bào giốngnhư tế bào biểu mô hô hấp Vùng này không có sự chuyển tiếp từ biểu mô hôhấp sang biểu mô khứu giác
+ Mạch máu và bạch mạch
Trang 12 Động mạch dưới vách là một nhánh động mạch mặt (thuôc hệcảnh ngoài) cấp máu cho lỗ mũi và tiền đình
Các động mạch nối với nhau tạo thành một đám rối mạch máu ở tronglớp đệm, chúng tham gia vào sự cấu thành điểm mạch (Kisselbach) nằm trênvách ngăn mũi vùng sụn, nằm sau gai mũi trước 1 cm
- Các tính mạch tạo thành những đám rối nằm trong lớp đệm nông dướiniêm mạc, các đám rối này tập trung về phía sau đổ về tĩnh mạch khẩu cáihoặc đổ về tĩnh mạch góc Đám rối sâu đổ vào tĩnh mạch đi song hành vớiđộng mạch đến
Sự tiếp nối giữa động mạch và tĩnh mạch ở mũi đóng một vai trò quantrọng trong việc điều hòa lưu lượng máu ở mũi
+ Mạch bạch huyết: Được xếp thành 2 lớp
Lớp nông hay còn gọi là lớp dưới biểu mô
Lớp sâu hay là lớp sát xương
Trang 13Hình 1.5 Thần kinh mũi
1.2.2 Sinh lý mũi
Hốc mũi có hai chức năng cơ bản nhưng lại khác nhau:
- Chức năng dẫn khí đưa không khí thở qua mũi họng, vào phổi
- Chức năng ngửi đưa những phân tử mùi đến cơ quan khứu giác
Không khí đi qua cửa mũi trước, qua tiền đình mũi qua phần hốc mũitrung gian rồi chia thành hai luồng Luồng thứ nhất quan trọng hơn hướng vềcửa mũi sau, chiếm tầng dưới hốc mũi hay còn gọi là tầng hô hấp, tầng này
Trang 14chiếm toàn bộ phần xoay của luồng không khí, luồng thứ hai đi lên đến tầngtrên của hốc mũi hay là tầng khứu (Hình 1.2)
Hình 1.6 Đường đi của luồng không khí qua tầng dưới luồng khứu giác
và đi lên tầng trên
Phần lồi của xương cuốn giữa và phần lồi của niêm mạc vách ngăn (củvách ngăn) ở đối diện xương cuốn giữa phần chia luồng không khí cho haitầng Tầng khứu giác và tầng hô hấp thông với nhau từ trên xuống dướinhưng lại khác nhau về hình thái, tính chất niêm mạc sự phân bố mạch máu
và sự phân bố thần kinh đối với từng chức năng riêng của mũi
1.3 Dị hình vách ngăn
1.3.1 Các cách phân loại dị hình vách ngăn
- Những vị trí, hình thái dị hình vách ngăn của hốc mũi gồm: Vẹo, lệchmào, dày, gai hoặc phối hợp với nhau Ảnh hưởng của dị hình vách ngăn đốivới chức năng của mũi rất khác nhau và phụ thuộc vào vị trí của nó
Trang 151.3.1.1 Phân loại dị hình vách ngăn theo Maurice Cottle
Theo Maurice Cottle chia dị hình vách ngăn thành 5 khu vực từ trước rasau
Hình 1.7 Năm vùng của Cottle
- Vùng 1 hay còn gọi là vùng tiền đình: Ở vùng này thường gặp sự lệchkhớp của bờ dưới sụn vách ngăn khỏi rãnh xương của nó Trong trường hợpnày nó tạo ra một đường gờ ở sàn mũi, đồng thời gây hẹp hốc mũi một bên
Dị hình loại này chỉ gây trở ngại đối với luồng khí thở ở múc độ vừa phải, vớiđiều kiện là lỗ mũi bên đối diện được thông suốt
- Vùng 2: Là vùng van, dị hình vùng này nó có chung ảnh hưởng nghiêmtrọng đến chức năng thông khí mũi
- Vùng 3: Vùng trần hốc mũi, vùng này ít liên quan đến chu trình thôngkhí của mũi vì nó không có tổ chức cương, tuy nhiên đây là vùng xoáy củaluồng khí, tại vùng này có sự xoay đổi hướng của luồng khí thở Vì vậynhững dị hình mũi ở vùng này thường làm lệch hướng của dòng khí
Trang 16- Vùng 4 hay còn gọi là vùng các cuốn: Dị hình vùng này thường gây nêncác triệu chứng ngạt mũi, đau đầu và các chứng như viêm xoang, viêm họng
- Vùng 5: Vùng bướm khẩu cái Dị hình ở vùng này có nguy cơ gây đauđầu ở sâu và lan toả kèm theo viêm vòi nhĩ và biến chứng viêm tai giữa
1.3.1.2 Phân loại dị hình vách ngăn theo Donald
Phân loại theo Donald (1994) Phân loại vẹo vách ngăn theo hình dạngcủa vách ngăn: Vẹo vách ngăn hình chữ C, vẹo vách ngăn hình chữ S, gaivách ngăn mũi, mào vách ngăn mũi
1.3.1.3 Phân loại dị hình vách ngăn theo Mladina (vào năm 1987):
- Loại 1: Dị hình vách ngăn một bên, trong vùng van mũi, không chạmđến van mũi, nó không làm thay đổi góc van sinh lý (150) và vì vậy có vai tròkhông đáng kể trong sinh lý bệnh học của mũi
Hình 1.8 Dị hình vách ngăn loại 1
- Loại 2: Dị hình vách ngăn một bên, trong vùng van mũi mà chạm đếnvan mũi, vì vậy đã làm giảm bớt góc van sinh lý (< 150)
Trang 17Hình 1.9 Dị hình vách ngăn loại 2
- Loại 3: Dị hình vách ngăn một bên ở sâu hơn trong hốc mũi, ngang vớiđầu cuốn mũi giữa
Hình 1.10 Dị hình vách ngăn loại 3
Trang 18- Loại 4: Dị hình vách ngăn cả hai bên, bao gồm loại 2 ở một bên và loại 3
ở một bên khác Loại này cũng được biết như vẹo vách ngăn hình chữ S
Hình 1.11 Dị hình vách ngăn loại 4
- Loại 5: Mào vách ngăn nằm trong hốc mũi Vách ngăn bên đối diện thìluôn luôn thẳng
Hình 1.12 Dị hình vách ngăn loại 5
Trang 19- Loại 6: Một bên vách ngăn có một cái rãnh giữa xương khẩu cái vàmảnh đứng xương sàng, bên kia vách ngăn có mào
Trang 20nội soi, tác giả cũng ghi nhận các hình ảnh vẹo vách ngăn có thể chia làm 7loại như trên.
1.3.1.4 Phân loại dị hình vách ngăn theo M.Buyukertan
Phân loại vẹo vách ngăn dựa trên CT (năm 2002) của M.Buyukertan :chụp CT theo 2 mặt phẳng trán và ngang với mỗi lát cắt dầy 3mm để khảo sátvách ngăn và ông đã chia vẹo vách ngăn thành 10 vùng đó là: AS: vùng trướctrên, AM: vùng trước giữa, AI: vùng trước dưới, MS: vùng giữa trên, MM:vùng giữa giữa, MI: vùng giữa dưới, PS: vùng sau đuôi, PM: vùng sau giữa,PI: vùng sau dưới, CE: vùng đầu vách ngăn
Trong nghiên cứu này dị hình vách ngăn được phân chia theo:
- Số lượng: Dị hình vách ngăn đơn, dị hình vách ngăn kép
- Vị trí: Dị hình vách ngăn ở sụn và dị hình vách ngăn ở xương
- Dị hình vách ngăn phối hợp
1.3.2 Triệu chứng thường gặp trong DHVN
Các loại DHVN đều liên quan đến bệnh lý mũi xoang , bao gồm
- Ngạt tắc mũi: Triệu chứng ngạt là cảm giác chủ quan của người bệnhcảm nhận về độ khó khi thở qua mũi, mức độ ngạt phụ thuộc vào loại dị hìnhvách ngăn Ngạt có thể một bên hoặc hai bên Dị hình phần cao thường gâyngạt hơn dị hình phần thấp Trường hợp người bệnh bị nghẹt mũi nghiêmtrọng, khứu giác suy giảm
Đánh giá độ ngạt mũi bằng gương Glatzel
Gương Glatzel cổ điển do giáo sư Jan Glatzel (1888 – 1954) sáng kiếnnăm 1904, sau đó được cải tiến và sử dụng rộng rãi, cho đến nay vẫn là mộtphương tiện hữu hiệu để đánh giá độ thông thoáng mũi ở nhiều cơ sở y tế:
Trang 21Gương glatzel cải tiến (Modified-Glatzel): do Silvnava brescovici, Renato
roithmann thuộc Brazilian Lutheran University, cải tiến lại 2008 được báo cáo vàđăng tải trên tạp chí Brazillian journal of otorhinolaryngology 4/2008
Cách đo gương Glatzel: Dù bất cứ loại gương nào cổ điển hay cải tiến
thì kỹ thuật đo như nhau: Cách để gương giống như hình dưới, để gương sátcửa mũi và song song với hai lỗ mũi trước, bảo bệnh nhân thở đều ra hai mũi
và ghi nhận kết quả theo kích thước đã có trên gương
Trang 22Hình 1.16 Cách đo gương
- Đánh giá số đo trên gương glatzel:
• Thở quá thông - vệt mờ gương : ≥ 9 cm
• Thở thông bình thường - vệt mờ gương : ≥ 6 → 9 cm
• Ngạt nhẹ - vệt mờ gương : ≥ 3 → 6 cm
• Ngạt nặng - vệt mờ gương : < 3 cm
- Đau đầu: Dị hình vách ngăn nhất là gai vách ngăn hoặc mào vách ngănchạm với thành bên của mũi gây đau đầu ngày càng tiến triển, đau đầu mangtính phản xạ vẹo vách ngăn nằm ở cuốn mũi giữa hoặc cuốn mũi dưới, thườngdẫn đến đau đầu ở bên cùng bên vách bị vẹo
- Viêm xoang: Dị hình vách ngăn gây tắc lỗ dẫn lưu xoang làm giảmthông khí các xoang và đó là nguyên nhân quan trọng gấy ứ dịch ở trongxoang và gây nhiễm trùng xoang
- Chảy máu mũi: Phần lồi của vẹo vách ngăn gây nên hiện tượng niêmmạc ở khu vực vách ngăn bị vẹo rất mỏng, nên khi chịu kích thích của khôngkhí và bụi bẩn sẽ gây khô niêm mạc (do thiếu khả năng làm ẩm), dễ bị ăn mòn
Trang 23từ đó phát sinh chảy máu mũi Hơn nữa chảy máu mũi cũng có thể do mạchmáu phủ trên phần gai và phần mào vách ngăn bị căng kéo nên dễ chảy máu.Một số trường hợp hiếm có thể gây chảy máu mũi ở mặt lõm của đường vẹo.
- Mũi tiết dịch quá nhiều: Bệnh kích thích các tuyến khiến dịch mũi tiết
ra nhiều Nếu kèm theo bệnh viêm mũi sẽ khiến tình trạng chảy dịch này nặnghơn, có cả mủ
- Dị hình vách ngăn có thể gây nhiễm trùng tai giữa chủ yếu là do tắc vòinhĩ bởi dịch dẫn lưu vùng mũi xoang
Trang 24CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Nghiên cứu được tiến hành tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương
- Thời gian: nghiên cứu được tiến hành từ tháng 11 năm 2016 đến tháng
9 năm 2017
2.2 Đối tượng nghiên cứu
- Gồm các bệnh nhân ≥ 15 tuổi có bệnh lý mũi xoang được khám và chẩnđoán dị hình vách ngăn từ tháng 11 năm 2016 đến tháng 9 năm 2017
2.2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
- Có DHVN đơn thuần hay phối hợp
- Có các triệu chứng bệnh lý mũi xoang liên quan đến dị hình
- Bệnh nhân được khám nội soi, chụp ảnh
- Bệnh nhân được chụp CLVT với DHVN phối hợp
- Có bệnh án mẫu (Phụ lục)
- Đồng ý tham gia nghiên cứu
2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân không có đầy đủ tiêu chuẩn lựa chọn trên
- Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu
Trang 252.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Đây là thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang mô tả từng trường hợp
2.3.2 Phương tiện nghiên cứu
Bộ nội soi tai mũi họng Karl-stortz, gồm có:
+ Camera Stortz Telecam DX II, với dây truyền hình ảnh,
+ Nguồn sáng Stortz Halogen 250 twin, với dây dẫn sáng,
+ Ống nội soi: optic 0° và 70° dùng để thăm khám nội soi tai mũing n i soi: optic 0 v 70 dùng ội soi: optic 0° và 70° dùng để thăm khám nội soi tai mũi ° và 70° dùng để thăm khám nội soi tai mũi à 70° dùng để thăm khám nội soi tai mũi ° và 70° dùng để thăm khám nội soi tai mũi để thăm khám nội soi tai mũi th m khám n i soi tai m iăm khám nội soi tai mũi ội soi: optic 0° và 70° dùng để thăm khám nội soi tai mũi ũi
h ng.ọng
Hình 2.1 Bộ nội soi Karl Stortz tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương
Trang 26Chụp phim Coupe Coronal:
Các coupe cắt trong tư thế coronal cách nhau 3mm
Các coupe đặt vuông góc với đường ống tai ổ mắt
Chiều dầy mỗi lát cắt là 4mm
Chụp phim coupe axial
Diện cắt từ mào huyệt răng, đáy xoang hàm lên đến trần của xoang tránCác coupe cách nhau 3- 4 mm
Trang 272.3.3 Tiến trình nghiên cứu.
1 Thăm khám lâm sàng (Bệnh án mẫu)
Đánh giá các rối loạn chức năng như:
- Nội soi đánh giá tổn thương giải phẫu vách ngăn, cuốn mũi
- CT: Đánh giá những dị hình sâu không thể quan sát được bằng nội soi
3 Đối chiếu
- Nội soi với CLVT
- Nội soi với lâm sàng
- Nội soi với lâm sàng và chụp CLVT
2.3.4 Thu thập thông tin
Thông tin được ghi lại theo mẫu hồ sơ nghiên cứu (Phục lục 1)
2.3.5 Xử lý và phân tích số liệu nghiên cứu
Số liệu thu được được nhập vào cơ sở dữ liệu và xử lý dựa trên bằngchương trình SPSS v.20
Trang 282.4 Đạo đức nghiên cứu
- Tất cả các đối tượng tham gia nghiên cứu đều được giải thích rõ ràng vềmục đích của nghiên cứu, quy trình và tính an toàn của phương pháp thăm khám
- Trong quá trình nghiên cứu, nếu có bất cứ nguy cơ nào có thể gây nguyhiểm cho đối tượng nghiên cứu thì đều phải dừng nghiên cứu ngay
- Nếu phát hiện có vấn đề sức khỏe liên quan, nghiên cứu viên sẵn sàng
tư vấn sức khỏe cho đối tượng nghiên cứu
- Các kết quả nghiên cứu chỉ được dùng với mục đích nghiên cứu khoa học
- Đối tượng tự nguyện tham gia nghiên cứu
Trang 29CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ
Qua thăm khám làm bệnh án của 135 bệnh nhân có bệnh lý mũi xoangđược khám và chẩn đoán dị hình vách ngăn tại Bệnh Viện Tai Mũi Họng TrungƯơng từ tháng 11 năm 2016 đến tháng 9 năm 2017 Đối chiếu với tiêu chuẩnchọn bệnh nhân ở phần đối tượng và phương pháp nghiên cứu, chúng tôi thấy
135 bệnh nhân đạt tiêu chuẩn nghiên cứu, sau khi xử lý thông tin chúng tôi thuđược một số kết quả sau:
Nhận xét: Qua bảng chúng tôi thấy
- Bệnh nhân vào khám và điều trị tập trung ở nhóm tuổi 30- 40 gặp57/135 trường hợp trong đó 31/57 trường hợp ở nam và 26/57 trườnghợp ở nữ
- Nhóm tuổi từ 15- 30 gặp 48/135 trường hợp trong đó 29/48 trườnghợp ở nam và 19/48 trường hợp ở nữ
- Nhóm tuổi 45- 60 gặp 21/135 trường hợp trong đó 9/21 trường hợp ởnam và 12/21 trường hợp ở nữ
- Nhóm >60 tuổi ít gặp nhất có 9/135 trường hợp với 6/9 trường hợp ởnam và 3/9 trường hợp ở nữ
Trang 30- Đối tượng nghiên cứu nằm trong độ tuổi từ 15- 45 gặp 105 /135trường hợp chiếm 77.8 %, nhóm trên 45 tuổi ít gặp hơn.
Biểu đồ 3.1 Đặc điểm phân bố bệnh nhân theo giới Nhận xét: Bênh nhân dị hình vách ngăn nam giới gặp 75 bệnh nhân
chiếm tỉ lệ 56 %, nữ gặp 60 trường hợp chiếm tỷ lệ 44 %, tỷ lệ giữa nam
và nữ khác biệt không lớn, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kêvới p > 0,05
3.1.2 Lý do vào viện và tiền sử
Nhận xét: Lý do vào viện chủ yếu là do ngạt mũi 100/135 và chảy mũi
86/135, các nguyên nhân còn lại như đau đầu mất ngửi thì có tỷ lệ tươngđương nhau, nhiều bệnh nhân vào viện với nhiều lý do kế hợp cả ngạt mũi,chảy mui, đau đầu
Bảng 3.3 Lý do vào viện
Trang 31Nhận xét: Qua bảng cho thấy tỷ lệ bệnh nhân có tiền sử chấn thương
39/135 (28.9%) đây là một điều đáng chú ý về mối liên quan giữa dị hìnhvách ngăn và tiền sử chấn thương Tiền sử bệnh lý thường gặp khác là hộichứng trào ngược 40/135 (29,6%) và tiền sử phơi nhiễm với thuốc lá và rượuchiếm khoảng (30%), có nhiều bệnh nhân có cả tiền sử chấn thương và HCtrào ngược
3.2 Đặc điểm lâm sàng
3.2.1 Triệu chứng cơ năng
Các triệu chứng cơ năng thông thường, thường gặp trong dị hình váchngăn như ngạt mũi, chảy mũi, đau đầu… Được xác định bằng hỏi bệnh, thămkhám bệnh, Sau đây chúng tôi xin phân tích từng triệu chứng cơ năng:
3.2.1.Triệu chứng ngạt tắc mũi
Bảng 3.4 Phân bố tỷ lệ về đặc điểm của triệu chứng ngạt tắc mũi của đối
tượng nghiên cứu
Nhận xét: Ngạt mũi gặp 116/135 trường hợp chiếm tỷ lệ cao nhất chiếm
tỷ lệ 85,9 %, triệu chứng này được xác định qua sự kết hợp giữa hỏi bệnh vàthăm khám bệnh Qua bảng 3.4 cho thấy:
- Thường gặp bệnh nhân có ngạt mũi một bên gặp 83/116 trường hợpchiếm (71,6%)
- Ngạt mũi hai bên gặp 33/116 trường hợp chiếm (28,4%)
Trang 32Từng lúc 68%
Liên tục 32%
Biểu đồ 3.2 Đặc điểm về tần xuất ngạt mũi Nhận xét: Trong số 116 bệnh nhân ngạt mũi
- Chủ yếu thấy ngạt từng lúc 79/116 trường hợp chiếm (68%)
- Ngạt hoàn toàn gặp 37/116 trường hợp chiếm (32%)
Bảng 3.5 Phân bố tỷ lệ về tính chất của triệu chứng ngạt tắc mũi
Nhận xét: Trong số 116 bệnh nhân ngạt mũi
- Ngạt mũi không hoàn toàn gặp 94/116 trường hợp chiếm (81,0%)
- Ngạt mũi hoàn toàn ít gặp hơn 22/116 trường hợp chiếm (81%)
Bảng 3.6 Phân loại ngạt theo đo gương Glatzel
Vệt mờ gương (cm) Mũi phải Mũi trái Chung
Trang 33- Tỷ lệ phân độ ngạt nhẹ gặp 116/135 trường hợp chiếm tỷ lệ cao nhấtchiếm (85,9%).
- Phân độ ngạt nặng gặp 8/135 trường hợp chiếm (5,9%)
- Phân độ thở thông bình thường gặp 11/135 trường hợp chiếm(8,2%)
- Phân chia tỷ lệ giữa hai mũi phải và trái không có sự khác nhau ởmức độ ngạt nặng (vệt mờ gương < 3) cùng gặp 4 trường hợp
- Ở mức độ ngạt nhẹ (vệt mờ gương ≥ 3 → 6) ở nam gặp 65/135trường hợp thấp hơn nữ gặp 76/135 trường hợp
- Ở mức độ thở thông bình thường (vệt mờ gương > 6) ở nam gặp66/135 trường hợp cao hơn ở nữ gặp 55/135 trường hợp
Bảng 3.7 Liên quan giữa cảm nhận chủ quan của đối tượng với kết quả đo
Nhận xét: Qua bảng 3.6 phân loại đo gương càng nặng thì càng nhận rõ ngạt
trên lâm sàng gặp 8 trường hợp chiếm 100%
Nhóm ngạt nhẹ có 105/ 116 trường hợp có cảm nhận đúng chiếm tỷ lệ(90,5%), chỉ có 11/ 116 trường hợp cảm nhận sai chiếm (9,5%)
Nhóm thở thông bình thường chỉ có 3/11 bệnh nhân có cảm nhận ngạtcòn 8/11 bệnh nhân không có cảm nhận ngạt trên lâm sàng Tỷ lệ có cảmnhận thấy triệu chứng ngạt cơ năng trên lâm sàng của nhóm phân loại ngạt
Trang 34nhẹ cao gấp 25,5 lần so với nhóm phân loại thở thông bình thường (p<0,05).
Trang 35Nhận xét: Trong 95 đối tượng nghiên cứu thấy chảy mũi cả 2 bên gặp 85/95
bệnh nhân chiếm (89,5%), chảy mũi 1 bên chỉ có 10/95 trường hợp chiếm(10,5%)
59
34
2 0
mũi có tính chất dịch mũi là dịch loãng trong gặp 59/95 bệnh nhân chiếm
Trang 36(62%) và mủ nhầy đục gặp 34/95 bệnh nhân chiếm (35,8%).Rất ít trường hợp
có dịch mũi vàng xanh và mùi hôi cùng gặp 2/95 bệnh nhân chiếm (2,2%)
Bảng 3.9 Phân bố tỷ lệ về vị trí chảy mũi
Nhận xét: Trong 95 đối tượng nghiên cứu thấy:
- Chảy mũi cả 2 vị trí trước và sau gặp 52/95 bệnh nhân chiếm (61,2%),
- Chỉ chảy mũi trước gặp 32/95 bệnh nhân chiếm (33,7%), và chỉ chảymũi sau gặp 11/9 bệnh nhân chiếm (11,6%)
3.2.1.3 Đặc điểm của triệu chứng đau nhức sọ mặt
Bảng 3.10 Phân bố tỷ lệ triệu chứng đau đầu
Nhận xét: Trong 135 đối tượng nghiên cứu đau đầu gặp 34/135 đối
tượng chiếm (25,2%), không đau đầu gặp 101/135 trường hợp chiếm (74,8%)
Trang 3717 17
3
0 0
Biểu đồ 3.5 Vị trí đau đầu
Nhận xét: Trong 34 trường hợp đau đầu chủ yếu là ở vị trí má 21/ 34trường hợp (61,8%), trán và góc mắt mũi cùng gặp 17/ 34 trường hợp(50,0%), rất ít các trường hợp đau ở vị trí đỉnh chẩm và thái dương 3/ 34trường hợp (8,8%)
3.2.1.4 Ngứa mũi, hắt hơi
78.5
21.5
ngạt mũi không ngạt mũi
Biểu đồ 3.6 Phân bố tỷ lệ ngứa mũi, hắt hơi
Trang 38Nhận xét: Trong 135 đối tượng nghiên cứu, ngứa mũi hắt hơi gặp
106/135 trường hợp chiếm (78,5%) , không ngứa mũi hắt hơi chỉ gặp 29/135đối tượng chiếm (21,5%)
3.2.1.5 Giảm và mất ngửi
Bảng 3.11 Phân bố tỷ lệ triệu chứng giảm và mất ngửi
Nhận xét: Trong 135 đối tượng nghiên cứu thấy:
- Triệu chứng giảm ngửi và mất ngửi gặp 50/ 135 bệnh nhân chiếm (37%)
- Không có triệu chứng giảm ngửi và mất ngửi gặp 85/ 135 đối tượngchiếm (63%)
Biểu đồ 3.7 Phân bố tỷ lệ ngứa mũi, hắt hơi Nhận xét: Trong 50 bệnh nhân có triệu chứng giảm và mất ngửi:
- Chủ yếu gặp mất ngửi một bên 32/50 đối tượng chiếm (64%)
- Mất ngửi 2 bên gặp 18/50 đối tượng chiếm (36%)
Bảng 3.12 Phân bố tỷ lệ tính chất giảm và mất ngửi
Trang 39Tính chất giảm và mất ngửi n %
- Mất ngửi không hoàn toàn 44/50 đối tượng chiếm (88%)
- Mất ngửi hoàn toàn chỉ thấy 6/50 đối tượng chiếm (12%)
3.2.1.6 Tỷ lệ triệu chứng cơ năng
Bảng 3.13 Phân bố tỷ lệ triệu chứng cơ năng
- Ngạt tắc mũi gặp 116/135 trường hợp chiếm tỷ lệ 85,9%
- Hắt hơi gặp 106/135 trường hợp chiếm tỷ lệ 78,5 %
- Chảy mũi gặp 95/ 135 trường hợp chiếm tỷ lệ 70,4%
- Ngửi kém gặp 50/135 trường hợp chiếm tỷ lệ 37 %
- Đau đầu gặp 34/135 trường hợp chiếm tỷ lệ 25,2 %
Như vậy triệu chứng ngạt tắc mũi, hắt hơi và chảy mũi là các triệu chứngthường thấy trên bệnh nhân bị bệnh mũi xoang, chiếm tỷ lệ cao
Trang 40Biểu đồ 3.8 Phân bố tỷ lệ các loại dị hình vách ngăn qua nội soi Nhận xét: Qua nội soi chúng tôi quan sát thấy chủ yếu 4 loại dị hình
vách ngăn chính, tỷ lệ dị hình vách ngăn trên 135 đối tượng :
- Dị hình vách ngăn dạng mào gặp 64 / 135 đối tượng nghiên cứu chiếm(47,4%)
- Dị hình vách ngăn dạng vẹo gặp 35 / 135 đối tượng nghiên cứu chiếm (25,9 %)
- Dị hình vách ngăn dạng gai gặp 22 / 135 đối tượng nghiên cứu chiếm (16,3 %)
- Dị hình vách ngăn dạng phối hợp gặp 14 / 135 đối tượng nghiên cứuchiếm (10,4 %)
Như vậy ta thấy trên nội soi chủ yếu là dạng mào (47,4%) và rất ít cáctrường hợp có dạng tổn thương phối hợp (10,4%)