1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT số mô HÌNH và GIẢI PHÁP CAN THIỆP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG tác y tế TRƯỜNG học

38 167 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 236,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở Việt Nam, các nghiên cứu đánh giá về công tác y tế trường học chođến nay chủ yếu dừng lại ở việc mô tả kết quả của hoạt động chuyên môn về y tế trường học, mô hình bệnh tật và đề cập m

Trang 2

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Lê Thị Thanh Xuân

2 PGS.TS Chu Văn Thăng

Cho đề tài: Thực trạng y tế trường học ở các trường tiểu học, trung học cơ sở của tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2007 – 2017

và kết quả một số giải pháp can thiệp

Trang 3

CSSKBĐ : Chăm sóc sức khỏe ban đầuCSSKHS : Chăm sóc sức khỏe học sinhCVCS : Cong vẹo cột sống

YTTH : Y tế trường học

Trang 5

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm qua, thực hiện Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân, LuậtGiáo dục, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, ngành Giáo dục đã phốihợp với ngành Y tế và các ngành khác thực hiện công tác y tế trường học(YTTH) đã thu được một số kết quả nhất định Một số văn bản qui phạm phápluật về công tác YTTH được ban hành Mạng lưới YTTH từng bước đượccủng cố Nhiều Trung tâm y tế dự phòng đã và đang có cán bộ theo dõi côngtác y tế trong trường học Một số chương trình phòng chống bệnh tật trongnhà trường đang được đưa vào một số trường học nhằm bảo vệ và nâng caosức khỏe cho học sinh, sinh viên

Tuy nhiên, công tác y tế trong các trường học vẫn còn tồn tại nhiều khókhăn, bất cập Trong đó có những vấn đề nổi cộm liên quan đến nguồn lực củacông tác y tế trong các trường học Mạng lưới cán bộ y tế trong các trườnghọc thiếu về số lượng, chưa đảm bảo chất lượng

Ở Việt Nam, các nghiên cứu đánh giá về công tác y tế trường học chođến nay chủ yếu dừng lại ở việc mô tả kết quả của hoạt động chuyên môn về

y tế trường học, mô hình bệnh tật và đề cập một số bất cập trong triển khaichính sách chứ chưa đi sâu đánh giá, tìm hiểu về những bất cập và vướng mắctrong triển khai thực hiện các chính sách, quy định về y tế trường học mộtcách có hệ thống Các báo cáo cũng chưa chỉ ra được nguyên nhân khôngtriển khai được các quy định trong hệ thống văn bản chính sách về y tế trườnghọc cũng như vai trò trách nhiệm của các bên liên quan trong phối hợp hoạtđộng Các nghiên cứu cũng chưa đưa ra được các thông tin về nhu cầu đầu tư

cụ thể cho mạng lưới y tế học đường về nhân lực, cơ sở vật chất trang thiết bị,kinh phí hoạt động thường xuyên của y tế trường học với cơ chế phù hợp

Thực tế từ năm 2007 đến nay, công tác YTTH còn gặp nhiều khó khăn,bất cập Mạng lưới cán bộ YTTH thiếu về số lượng và chưa đảm bảo về chất

Trang 6

lượng, trên 80% số trường học trong cả nước chưa có cán bộ y tế (CBYT)chuyên trách [1] Số đông cán bộ YTTH là giáo viên kiêm nhiệm, chưa đượcđào tạo về chuyên môn YTTH Các hoạt động YTTH chủ yếu tập trung vàoviệc phát thuốc thông thường, truyền thông giáo dục sức khỏe (TTGDSK) vàmột số trường kết hợp với y tế địa phương tổ chức khám sức khỏe định kỳcho học sinh Ở những vùng nông thôn khó khăn, vùng sâu, vùng xa thì rất íttrường có cán bộ YTTH chuyên trách

Mục tiêu của chuyên đề:

1. Tổng quan một số mô hình nhằm nâng cao hiệu quả công tác y tế trường học.

2. Tổng quan một số nhóm giải pháp can thiệp nhằm nâng cao hiệu quả công tác y tế trường học.

Trang 7

NỘI DUNG

1.1 Khái niệm về YTTH

1.1.1 Khái niệm YTTH ở trên Thế giới

Hiện nay có một số khác biệt về định nghĩa của chương trình YTTH.Theo Tổ chức y tế thế giới, YTTH hay trường học nâng cao sức khỏe là

“trường học trong đó cả lời nói và việc làm đều có những hoạt động hỗ trợ vàcam kết thúc đẩy sức khỏe toàn diện cho tất cả mọi thành viên trong cộngđồng nhà trường từ tình cảm, xã hội, thể chất đến các vấn đề đạo đức” [2],[3], [4]

Theo định nghĩa của viện thuộc ủy ban y tế về các chương trình YTTH

từ lớp mẫu giáo tới lớp 12 của Hoa Kỳ: Một chương trình y tế trường học tạicác trường là việc hợp nhất về kế hoạch, tính liên tục, sự phối hợp trong việcxây dựng các hoạt động và các dịch vụ nhằm nâng cao thể chất, tinh thần,hiệu quả học tập cùng khả năng hòa nhập xã hội tốt nhất cho các học sinh.Chương trình hoạt động phải thu hút được sự ủng hộ từ gia đình, cộng đồng.Các mục tiêu hoạt động được đặt ra dựa trên các nhu cầu, đòi hỏi, các tiêu chí

và nguồn lực từ cộng đồng của địa phương [5]

Trên thế giới, thuật ngữ trường học nâng cao sức khỏe (NCSK) được sửdụng ở các nước châu Âu, châu Á khu vực Thái Bình Dương và châu MỹLatinh Thuật ngữ này được sử dụng có nghĩa tương tự như các thuật ngữ:Chương trình y tế trường học (school health progaram) [6], , chương trình Y

tế trường học phối hợp (coordinated school health programs) [7], trường họckhỏe mạnh (healthy schools) , nâng cao sức khỏe trường học (school healthpromotion), trường học nâng cao sức khỏe (health promoting schools) [8],[9], [10], [11], [12] và y tế trường học toàn diện (comprehensive schoolhealth) Khái niệm này mô tả cách tiếp cận toàn diện (comprehensive

Trang 8

approach) có sự phối hợp liên ngành nhằm nâng cao sức khỏe, phát triển xãhội và giáo dục thông qua trường học [13], [7], [14], [15].

1.1.2 Khái niệm YTTH ở Việt Nam

Tại Việt Nam, có nhiều thuật ngữ về YTTH được sử dụng như y tế họcđường, vệ sinh trường học, sức khỏe học đường, sức khỏe trường học [16], [17],[3] và trường học nâng cao sức khỏe [18], [19], Tuy nhiên, văn bản chính thứcthống nhất về tên gọi y tế trường học để dễ sử dụng còn chưa đầy đủ

Tại Việt Nam, Bộ y tế đưa ra khái niệm về YTTH học như sau:

- YTTH là một hệ thống các phương pháp, biện pháp can thiệp nhằm bảo vệ,nâng cao sức khoẻ học sinh, biến các kiến thức khoa học thành các kỹ năngthực hành trong mọi hoạt động sống của lứa tuổi học đường [5]

- YTTH là một lĩnh vực thuộc chuyên ngành y học dự phòng nghiên cứu tácđộng của điều kiện sống, sinh hoạt và học tập trên cơ thể học sinh, trên cơ sở

đó xây dựng và triển khai các biện pháp can thiệp phù hợp nhằm bảo vệ vànâng cao sức khoẻ, đảm bảo các điều kiện thuận lợi cho các em học sinh pháttriển một cách toàn diện [5]

1.2 Một số mô hình nhằm nâng cao hiệu quả công tác y tế trường học

1.2.1 Trên Thế giới

Từ thế kỉ thứ 19 nhiều nước ở châu Âu đã có những chủ trương vàphương pháp thực hiện YTTH Các nhà nghiên cứu tập trung vào việcthống kê xây dựng trường sở và bắt đầu đưa ra những tiêu chuẩn vệsinh trong lĩnh vực này

Trong những năm cuối thế kỉ thứ 19 hệ thống YTTH đã phát triển

và các bác sĩ, y tá học đường với nhiệm vụ khám sức khỏe định kỳ vàkhám chuyên khoa Trọng tâm công tác YTTH là phòng chống bệnhdịch và tổ chức quản lí công tác tiêm chủng

Trang 9

Đến thế kỉ 20 đã có sự cộng tác chặt chẽ giữa các bác sĩ họcđường với các cơ sở phòng lao và đã đánh dấu một bước tiến bộ theođường lối dự phòng.

Từ năm 1995 đến năm 2011, các Tổ chức quốc tế trên thế giới đãsáng kiến những mô hình hoạt động YTTH nhằm giải quyết nhữngthách thức về sức khỏe thông qua trường học bằng cách áp dụng mộtcách tiếp cận toàn diện và đa yếu tố, tóm tắt các mô hình như sau:

Trang 10

Bảng 1.1 Tóm lược các mô hình hoạt động YTTH Chương trình Năm Đối tác Mục tiêu hành động Nội dung thực hiện

Trường học thân

thiện (CFS)

1995 UNICEF Giáo dục dựa trên

nền tảng chất lượng

và quyền được hưởng

Quyền TE, bình đẳng Giới, Chất lượnghọc tập, Thực tiễn, Đa dạng, SK thể chất

và tinh thần, Chi phí, Giáo viên, Gia đình

và cộng đồngTập trung vào

YTTH (FRESH)

2000 WHO, WB,

UNICEF,UNESCO

Cải thiện chất lượng

và công bằng tronggiáo dục

4 thành phần: Chính sách trường học;Nước, môi trường trường học lành mạnh;GDSK; Dịch vụ sức khỏe và DD

3 chiến lược: Mối liên hệ GV và CBYTTH; Mối liên hệ với cộng đồng; sựtham gia của HS

Gói thiết yếu (EP) 2002 UNICEF,

WFP

Cải thiện học tậpthông qua SK, tậptrung vào dinh dưỡng

Các can thiệp hiệu quả cải thiện SK và DDcủa trẻ em độ tuoi đi học bao gồm giáodục cơ bản, thực phẩm, nước và vệsinh,GDSK, tẩy giun , bổ sung vi chất dinhdưỡng

5 thành phân chính với: 22 tiêu chí liênquan đến chính sách trường học thân thiệnvới DD, nâng cao năng lực nhà trường,môi trường trường học hỗ trợ, dinh dưỡng

và dịch vụ YTTHChương trình SHPPS 2006 CDC Giới thiệu thông tin

hành lang pháp lý đểcung cấp các dịch vụ

y tế cơ bản cho học

Cung cấp các thông tin chính sách cấp tiểubang, cấp quận và cấp trường liên quanđược việc giải quyết tình các vấn đề liênquan đến học đường

Trang 11

sinhTrường học thân

thiện (CFS)

2009 UNICEF Hướng các trường

học và hệ thống giáodục theo tiêu chuẩnchất lượng

Bình đẳng giới, cách nhập học, xây dựngtrường học an toàn, tôn trọng quyền trẻ

em, sự tập trung học tập, tham gia các hoạtđộng và sự chấp nhận phương pháp giảngdạy của GV đối với trẻ em, dịch vụ hỗ trợsẵn có tại các trường học

Thực hiện ở trườnghọc các quận ở BắcCaliforni: cung cấpmạng lưới tổ chức hỗtrợ thực hành cáchoạt động YTTH

Kết hợp giáo dục sức khỏe, nâng cao sứckhỏe, phòng chống dịch bệnh và tiếp cậnvới các dịch vụ y tế chung

Thành phần tham gia:(a) hội đồng tư vấnsức khỏe trường học, (b) điều phối viênsức khỏe trường học, (c) nhóm, CLB sứckhỏe tại trường họ và (d) hội đồng chínhsách nhà trường

Chương trình phù

hợp địa phương

2011 GIZ,AUSAID Thực hiện chương

trình YTTH tập trungvào các bệnh truyềnnhiễm

Dựa vào 03 can thiệp dựa trên bằng chứng:rửa tay hàng ngày bằng xà phòng, đánhrăng với kem đánh răng có chất fluoride,tẩy giun hai lần hàng năm

Trang 12

Các mô hình trên đây cũng chỉ tập trung giải quyết một vấn đề hoặc mộtvài vấn đề sức khỏe ưu tiên nào đó mà chưa giải quyết một cách tổng thế, hệthống các vấn đề YTTH

Tuy vậy, mô hình FRESH đã thể hiện khá đầy đủ các yếu tố của YTTH

Ở một số nước trong khu vực, thực hiện hoạt động NCSK trường học vẫnđang là vấn đề quan tâm của các nhà hoạch định chính sách khi vấn đề nàyđòi hỏi không chỉ sự nỗ lực của một ngành y tế hay giáo dục mà cần có sựphối hợp đồng bộ liên ngành

Nhằm đẩy mạnh công tác YTTH, vào năm 1995, TCYTTG đã xây dựngsáng kiến y tế trường học toàn cầu nhằm tăng số lượng các “Trường học Nângcao sức khỏe” [21], [15], [2] Sáng kiến này nhằm mục đích nâng cao sứckhỏe cho học sinh, giáo viên, gia đình và thành viên của cộng đồng thông quanhà trường Mục tiêu của sáng kiến này là phối hợp sự nỗ lực của hai ngành y

tế và giáo dục trong việc nâng cao sức khỏe cho học sinh dựa vào trường học.Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau tùy thuộc vào nhu cầu và hoàn cảnhcủa mỗi nước Một Trường học NCSK được hiểu là trường học có môi trườngkhỏe mạnh để sinh hoạt, học tập và làm việc cũng như thực hiện các hoạtđộng tập luyện, vui chơi Mô hình Trường học NCSK và sáng kiến YTTHtoàn cầu được xây dựng dựa trên cách tiếp cận toàn diện Cơ sở để TCYTGxây dựng ra sáng kiến này là dựa vào tuyên ngôn Ottawa [22] về nâng cao sứckhỏe năm 1986, tuyên bố Jakarta tại Hội nghị quốc tế lần thứ 4 về nâng caosức khỏe năm 1996 và đề xuất của nhóm chuyên gia TCYTTG về giáo dục vànâng cao sức khỏe trường học toàn diện năm 1995 [15] Mô hình Trường họcNâng cao sức khỏe đã được chấp nhận trên toàn thế giới, đã và đang được ápdụng từ những năm 1990 ở nhiều nước trên thế giới như Úc (1997), Mỹ(2005), Hồng Kông (2001) và Việt Nam (2001) [10]

Trang 13

Các nghiên cứu cũng gợi ý rằng các hoạt động YTTH nên được lồngghép với các hoạt động giáo dục trong nhà trường và khi đánh giá mô hìnhYTTH không chỉ dừng ở việc đo lường các kết quả về sức khỏe mà cần phải

đo lường cả các kết quả về học tập của học sinh Mối quan hệ giữa trường học

- cộng đồng, xã hội và trường học - gia đình cũng được tăng cường nhờ thựchiện mô hình y tế trường học [23], [11], [10]

Năm 2001, Tổ chức PAHO tiến hành một nghiên cứu trên 19 nước MỹLatin đã đánh giá thực trạng và xu hướng mô hình trường học nâng cao sứckhỏe trong khu vực nhằm xây dựng các chương trình hoạt động giáo dục vànâng cao sức khỏe ở các cấp độ khác nhau (cấp vùng, cụm, quốc gia) Kết quảnghiên cứu này đã cung cấp các thông tin về lập kế hoạch quốc gia và xâydựng chính sách, cơ chế điều phối liên quan ngành để hỗ trợ nâng cao sứckhỏe tại trường học, cách thành lập và sự tham gia các mạng lưới quốc gia vàquốc tế về YTTH cùng mức độ chia sẻ thông tin chiến lược này [10]

1.2.2 Mô hình Trường học Nâng cao sức khỏe của Tổ chức Y tế Thế giới

1.2.2.1 Cơ sở khoa học của Trường học Nâng cao sức khỏe

Cơ sở của Trường học Nâng cao sức khỏe là dựa trên Hiến chươngOttawa về nâng cao sức khỏe (WHO, 1986), đã làm thay đoi bối cảnh

để nâng cao sức khỏe Hiến chương Ottawa nâng cao sức khỏe là mộtquá trình cho phép mọi người, có nghĩa là người dân phải chủ độngnhận lại khả năng nhằm “tăng cường kiểm soát đối với sức khỏe củachính mình và môi trường sống của họ

Liên quan đến quá trình giáo dục, phương pháp truyền thống quyđịnh một phong cách hướng dẫn sư phạm nhằm thay đổi hành vi đểphòng tránh bệnh tật

Trường học NCSK với phương pháp tiếp cận phòng bệnh nhiềuhơn là chỉ nhằm vào điều trị Đó cũng là một quá trình nhằm phát triểnnăng lực hiểu biết của học sinh và có ảnh hưởng tích cực đến lối sống

Trang 14

cũng như điều kiện sinh hoạt Phương pháp tiếp cận Trường học NCSKgiúp Nhà trường kết nối được nhiều hơn với gia đình, cộng đồng, xãhội trong việc NCSK cho các em học sinh.

1.2.2.2 Phân biệt cách tiếp cận về YTTH trước đây và hiện nay

Khái niệm Trường học NCSK thể hiện sự thay đổi từ mô hìnhtruyền thống hướng tới một cách tiếp cận toàn diện hơn đối với sứckhỏe trong trường học Để hiểu được nội dung Trường học NCSK theocách tiếp cận mới, WHO đã có phân biệt sự khác nhau giữa mô hình

hiện đại và co điển như sau:

Bảng 1.2 So sánh cách tiếp cận giữa mô hình YTTH cổ điển và hiện đại Cách tiếp cận truyền thống Cách tiếp cận Trường học

NCSK

Khái niệm sức khỏe

Giới hạn (không có sinh học

Vai trò của Nhà trường

tự xây dựng kế hoạch hoạtđộng

Lãnh đạo

Ngành y tế chủ động việc thực

hiện các chương trình NCSK

Cán bộ nhà trường chủ độngviệc thực hiện các chươngtrình NCSK, được hỗ trợ từchuyên gia y tế và các to chức

Trang 15

đủ điều kiện để tham gia vào

NCSK và rằng đây không phải

là một phần của vai trò của họ

hay tiêu cực đến sức khỏe vàtinh thần của học sinh

- Cán bộ nhà trường chấpnhận NCSK là một phầnkhông thể thiếu vai trò của họ

và không phải là một nhiệm

vụ phụ, nhiệm vụ mang tínhchất hỗ trợ

Độ bao phủ

Một chiều

Xem xét hoặc giáo dục sức

khỏe hoặc cung cấp dịch vụ vệ

sinh môi trường

Phức hợp và nhiều yêu tố Kếhoạch hoạt động trong một sốlĩnh vực: chính sách củatrường, GDSK, thể chất, tinhthần và cung cấp dịch vụVSMT

Sự phối hợp liên ngành

- CBYT làm việc "trong" các

trường nhưng không được

xem là cấu phần quan trọng tại

tế và GV tạo điều kiện thuận

lợi cho phát triển các hành

động

- Ngành y tế đào tạo các bênliên quan và xây dựng nănglực để giải quyết các vấn đềsức khỏe

- Nhà trường và các bên liênquan phối hợp với các ngànhkhác, xác định các ưu tiên sứckhỏe của họ

- Thành viên trường học thựchiện các dự án y tế và cácchuyên gia SK cộng tác và hỗtrợ họ theo nhu cầu của họ.Với mô hình theo cách tiếp cận mới này, những thách thức về sứckhỏe có thể được giải quyết ngày trong chính trong trường học Tùythuộc vào bối cảnh địa lý, kinh tế và văn hóa xã hội, trường học có thểphải đối mặt với một số vấn đề sức khỏe như: suy dinh dưỡng, béo phì,

Trang 16

bệnh răng miệng, sốt xuất huyết, sốt rét, sâu răng, nhiễm trùng đường

hô hấp, bạo lực, nghiện (rượu, thuốc lá và các loại thuốc), HIV/AIDS Tất cả các vấn đề này đều có thể được giải quyết bằng cách áp dụng cácphương pháp tiếp cận Trường học NCSK Trường học NCSK thànhcông khi giải quyết được các vấn đề có liên quan và có sự chung taycủa mọi thành viên, mọi nguồn lực Bên cạnh đó, mỗi trường cũng đềucần phải xác định được các vấn đề sức khỏe có tầm quan trọng lớn nhấtcủa chính mình để từ đó có thể xây dựng kế hoạch thực hiện [15], [2]

1.2.2.3 Cấu trúc của Trường học Nâng cao sức khỏe

Trường học NCSK có thể được hình dung như một cây nuôidưỡng Các nhánh tương ứng với 6 yếu tố chìa khóa là cơ sở của môitrường học tập tích cực và lành mạnh cho học sinh và cộng đồng trườnghọc, đó là:

Chính sách trường học lành mạnh:

Các chính sách trường học cần được liên hệ và chứng minh quathực tiễn tác động tới hoạt động của nhà trường trong việc NCSK thểchất và tinh thần của học sinh, nhân viên, gia đình và cộng đồng

Môi trường, cơ sở vật chất của nhà trường

Một trường học nên cung cấp một môi trường an toàn, bảo vệ,sạch sẽ, ổn định, có lợi và lành mạnh cho việc học tập

Môi trường xã hội trong trường học

Môi trường xã hội trong trường học cần tạo điều kiện là nền tảngnuôi dưỡng những mối quan hệ tốt giữa các học sinh, nhân viên hỗ trợ,giáo viên, phụ huynh và cộng đồng xung quanh. 

Các liên kết cộng đồng

Cần thiết phải xây dựng mối liên quan và cộng tác giữa trườnghọc, gia đình, cộng đồng, các tổ chức và những thành phần khác

Chương trình hành động vì lối sống lành mạnh

Nên có chương trình chính thức và không chính thức cho học sinh

để các em có thể học được những kiến thức và thực hành được những

kỹ năng sống phù hợp với lứa tuổi của mình

Trang 17

Các dịch vụ chăm sóc và nâng cao sức khỏe trường học

Nhà trường có tiếp cận và cung cấp các dịch vụ chăm sóc vàNCSK

1.2.2.4 Uu điểm của Trường học Nâng cao sức khỏe

Theo WHO, Trường học Nâng cao sức khỏe có những ưu điểmsau [15], [2]:

Có thể thay đoi nhận thức và hành vi của học sinh theo hướng hoạtđộng tích cực nâng cao cuộc sống

Thừa nhận ý nghĩa của môi trường vật chất trong việc góp phầnvào sức khỏe của trẻ em Thừa nhận tầm quan trọng của đặc tính xã hộicủa trường học trong việc hỗ trợ môi trường học tập tích cực, tăngcường mối quan hệ lành mạnh và tinh thần thoải mái của học sinh

Liên kết các dịch vụ y tế địa phương với nhà trường để cùng giảiquyết những vấn đề về sức khỏe đặc biệt là các bệnh học đường

Khuyến khích, thúc đẩy sự tham gia tích cực của học sinh trongcác kỹ năng bảo vệ sức khỏe

Cho phép nhà trường, cộng đồng và ngành y tế phối hợp trong cácsáng kiến sức khỏe có lợi cho học sinh, gia đình và các thành viên kháctrong cộng đồng

Thu hút các gia đình bằng việc khích lệ họ tham gia giáo dục pháttriển các kỹ năng, hiểu biết và thực hành của con em họ

1.3 Nhóm giải pháp mô hình tổ chức thực hiện và phối hợp liên ngành trong hoạt động YTTH

1.3.1 Đề xuất một số mô hình tổ chức hoạt động YTTH

Mô hình tổ chức hoạt động YTTH như hiện nay, cán bộ y tế trường học

là viên chức sự nghiệp của ngành giáo dục, nhưng lại công tác trong một lĩnhvực đặc thù là y tế Tuy nhiên do trình độ cũng như số lượng cán bộ, riêng cán

bộ y ế khó đảm nhận được những nhiệm vụ chung nên theo quy định cáctrường đều có ban chỉ đạo ban chăm sóc sức khỏe ban đầu và do hiệu trưởnglàm trưởng ban, các phó ban có thể là Lãnh đạo hoặc nhân viên trạm y tế, ban

Trang 18

này có trách nhiệm thực hiện các công việc chung trong công tác chỉ đạo củatrường về lĩnh vực y tế Với mô hình này hoạt động y tế trường học sẽ cónhiều thuận lợi.

Thứ nhất: Hiệu trưởng là trưởng ban chăm sóc sức khỏe, sẽ thuận lợicông công tác chỉ đạo điều hành, cũng như huy động được sự hỗ trợ về nhânlực, tài lực, vì hiện nay ngoài việc giữ lại 20% kinh phí từ việc mua bảo hiểm

tự nguyện của học sinh để trả lương và mua sắm trang thiết bị, thuốc thiết yếuphụ trách công tác y tế trường học, tùy điều kiện nhà trường có thể lấy sửdụng nguồn kinh phí chi thường xuyên để hỗ trợ thêm cho hoạt động Do vậyhiệu trưởng đứng tên trong ban chỉ đạo này theo tôi là tương đối phù hợp

Thứ hai: Ban chăm sóc có lãnh đạo trạm y tế hoặc nhân viên y tế là phóban hoặc thành viên giúp nâng cao vai trò của công tác y tế trường học, ngoài

ra việc phân công này gắn trách nhiệm của trạm trong việc hỗ trợ cho côngtác YTTH của nhà trường

Tuy nhiên, với mô hình như hiện nay cán bộ y tế trường học đang chịutrách nhiệm và quản lý bởi 2 đơn vị là ngành giáo dục và ngành y tế

Về góc độ Phòng Giáo dục: Cán bộ y tế trường học là định biên củangành giáo dục do đó việc quản lý về định biên, con người, tất cả vấn đề lênlương, phụ cấp và điều chuyển thuộc quyền tham mưu và quản lý của ngànhgiáo dục do nhà trường và phòng giáo dục quản lý trực tiếp

Về góc độ chuyên môn y tế: Hiện nay trung tâm y tế huyện là đơn vị y

tế có trách nhiệm kiểm tra, đánh giá hoạt động y tế của các trường Việc kiểmtra này, trung tâm y tế có thể phối hợp cùng phòng giáo dục, hoặc đi kiểm tra,giám sát độc lập Với sự đan xen thế sẽ rất khó khăn trong công tác chỉ đạo,điều hành nếu không có sự phối hợp tốt giữa hai ngành

Trên cơ sở thực trạng hiện nay chúng tôi có thể thể đề xuất 3 mô hình:

Trang 19

Mô hình thứ nhất, nên đưa cán bộ y tế, phòng y tế về trung tâm y tếquản lý trực tiếp, mô hình này có ưu và nhược điểm:

- Ưu điểm: Vì công tác y tế là công tác đặc thù có chuyên môn sâu, nếuđưa cán bộ y tế trường học, phòng y tế nhà trường về trung tâm y tế quản lý,như thế công tác chăm sóc sức khỏe cho học sinh sẽ chuyên nghiệp hơn, nhậnđược sự hỗ trợ tốt hơn về chuyên môn, nghiệp vụ cũng như trang thiết bị củangành Hơn nữa, nếu thực hiện theo mô hình này lương của cán bộ y tế sẽ caohơn, vì lúc đó cán bộ y tế trường học là viên chức sự nghiệp thuộc ngành y tế

- Nhược điểm: Nếu trung tâm y tế quản lý cán bộ YTTH thì việc quản

lý, điều hành của nhà trường lại gặp khó khăn, nhất và việc chỉ đạo điều hànhnhân sự

Mô hình thứ 2: Nên đưa cán bộ y tế về làm biên chế tại trạm y tế chuyênphụ trách công tác y tế trường học, mô hình này cũng có ưu và nhược điểm:

- Ưu điểm: tranh thủ được sự ủng hộ, tham gia, ủng hộ của trạm y tếkhác, tận dụng được cơ sở vật chất trang thiết bị của trạm, như thế ngoài việc

sơ cấp cứu ban đầu việc chăm sóc điều trị học sinh bị ốm cũng sẽ dễ dàng vàhiệu quả hơn, việc khám sức khỏe định kỳ, lưu và theo dõi hồ sơ bệnh án củahọc sinh cũng sẽ chuyên nghiệp hơn Hơn thế nữa, nếu đưa cán bộ y tế trườnghọc về trạm quản lý nhưng chuyên trách về mảng này còn có thể huy độngđược sự vào cuộc và hỗ trợ của cấp trên về chuyên môn cũng như các hoạtđộng khác

- Hạn chế: Nếu trạm y tế quản lý cán bộ YTTH thì việc, điều hành củanhà trường sẽ bị động, nhà trường sẽ không quan tâm, không tạo điều kiện vềđịa điểm, kinh phí cho hoạt động này

Mô hình thứ 3 là nâng cấp phòng y tế trường học thành tuyến y tế cơ

sở, mô hình này tương đối toàn diện, nếu phòng y tế trường học là tuyến y tế

cơ sở thì về quy mô cán bộ, số trang thiết bị và trình độ chuyên môn của cán

Ngày đăng: 05/08/2019, 20:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Lee A (2009), "Health-promoting schools: evidence for a holistic approach to promoting health and improving health literacy", Appl Health Econ Health Policy, 7(1), tr. 11-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Health-promoting schools: evidence for a holisticapproach to promoting health and improving health literacy
Tác giả: Lee A
Năm: 2009
12. Lee A, Wong MC, Keung VM và các cộng sự. (2008), "Can the concept of Health Promoting Schools help to improve students' health knowledge and practices to combat the challenge of communicable diseases: Case study in Hong Kong?", BMC Public Health, 8, tr. 42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Can the conceptof Health Promoting Schools help to improve students' healthknowledge and practices to combat the challenge of communicablediseases: Case study in Hong Kong
Tác giả: Lee A, Wong MC, Keung VM và các cộng sự
Năm: 2008
14. McCall DS, Rootman I và Bayley D (2005), "International School Health Network: an informal network for advocacy and knowledge exchange", Promot Educ, 12(3-4), tr. 173-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International SchoolHealth Network: an informal network for advocacy and knowledgeexchange
Tác giả: McCall DS, Rootman I và Bayley D
Năm: 2005
15. World Health Organization (1995), "Global School Health Initiative", tr. 1-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global School Health Initiative
Tác giả: World Health Organization
Năm: 1995
19. Viện Y học lao động và vệ sinh môi trường (2002), Thường quy kỹ thuật y học lao động, vệ sinh môi trường và sức khỏe trường học , Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thường quy kỹthuật y học lao động, vệ sinh môi trường và sức khỏe trường học
Tác giả: Viện Y học lao động và vệ sinh môi trường
Nhà XB: Nhàxuất bản Y học
Năm: 2002
21. WHO (1986), "Health promotion. A discussion document on the concept and principles", Public Health Rev, 14(3-4), tr. 245-54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Health promotion. A discussion document on theconcept and principles
Tác giả: WHO
Năm: 1986
22. WHO (1986), "The Ottawa Charter for Health Promotion", Health Promotion International, 1(4), tr. 3-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Ottawa Charter for Health Promotion
Tác giả: WHO
Năm: 1986
23. Cameron R, Manske St, Brown St và các cộng sự. (2007), "Integrating Public Health Policy, Practice, Evaluation, Surveillance, and Research:The School Health Action Planning and Evaluation System ", American Journal of Public Health, 97(4), tr. 648-654 Sách, tạp chí
Tiêu đề: IntegratingPublic Health Policy, Practice, Evaluation, Surveillance, and Research:The School Health Action Planning and Evaluation System
Tác giả: Cameron R, Manske St, Brown St và các cộng sự
Năm: 2007
24. Nguyễn Thị Hồng Diễm (2016), Nghiên cứu thực trạng ba bệnh lứa tuổi học đường phổ biến ở học sinh tiểu học và đề xuất giải pháp can thiệp, Luận án Tiến sĩ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng ba bệnh lứatuổi học đường phổ biến ở học sinh tiểu học và đề xuất giải pháp canthiệp
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Diễm
Năm: 2016
13. The World Bank, UNICEF và Water and Sanitation Progarm (2005), Toolkit on Hygiene, Sanitation & Water in Schools Khác
16. Bộ Y tế và Bộ Giáo dục và đào tạo (2002), "Nâng cao hiệu quả giáo dục sức khỏe trong trường học&#34 Khác
17. Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo và WHO (2002), "Hướng dẫn thực hiện nâng cao sức khoẻ trường học&#34 Khác
18. Viện Y học lao động và vệ sinh môi trường (2004), "Một số vấn đề cơ bản trong sức khoẻ trường học&#34 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w