Đo chức năng hô hấp là một công cụ đánh giá chính xác giaiđoạn BPTNMT tuy nhiên đối với những bệnh nhân nặng thì không thể đochức năng hô hấp được và nếu đo được thì kết quả không phản
Trang 1Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS NGÔ QUÝ CHÂU
Trang 3Chữ viết tắt Ý nghĩa
% FEV1 Phần trăm FEV1 so với trị số lí thuyết
BPTNMT Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
FEV1 Forced Expiratory Volume in the 1st second – Thể tích thở ra
gắng sức trong giây đầu tiên
FRC Dung tích khí cặn chức năng
FVC Forced Vital Capacity – Dung tích sống thở mạnh
Gaensler FEV1/ FVC
GOLD The Global Initiative for Chronic Obstructive Lung Disease
-Sáng kiến toàn cầu về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tínhGPN Giãn phế nang
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) là bệnh lý có thể phòngngừa và điều trị, được đặc trưng bởi sự hạn chế thông khí không hồi phục Sựhạn chế này thường tiến triển từ từ và liên quan với sự tăng phản ứng viêmmạn tính của đường dẫn khí và phổi với các phân tử nhỏ và khí độc hại [1]
BPTNMT đã thực sự trở thành gánh nặng bệnh tật toàn cầu vì tính chấtphổ biến, tiến triển kéo dài, chi phí điều trị cao và hậu quả gây tàn phế Tronghai thập kỷ qua, tình trạng tử vong và tàn tật do mắc BPTNMT tiếp tục tăngtrên toàn thế giới Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 1990, BPTNMT
là nguyên nhân gây tử vong thứ 6 và là nguyên nhân gây tàn phế đứng thứ 12trên toàn thế giới Dự đoán đến năm 2020 tỷ lệ tử vong do BPTNMT sẽ tănglên đứng thứ 3 và là nguyên nhân thứ 5 trong các bệnh gây tàn phế trên toànthế giới [2]
Chẩn đoán và đánh giá chính xác mức độ BPTNMT phải phổi hợp lâmsàng, đo chức năng hô hấp và hình ảnh học Mỗi biện pháp có những mặt ưukhuyết khác nhau Nếu chỉ dựa vào lâm sàng thì thiên về nhận định chủ quancủa thầy thuốc Đo chức năng hô hấp là một công cụ đánh giá chính xác giaiđoạn BPTNMT tuy nhiên đối với những bệnh nhân nặng thì không thể đochức năng hô hấp được và nếu đo được thì kết quả không phản ánh chính xác.Còn trên phim X quang phổi quy ước thì chỉ ghi nhận các hậu quả thương tổncác phế nang dưới dạng kén khí, khí phế thũng, không cung cấp nhiều thôngtin trong phân loại giai đoạn BPTNMT
Trong những năm gần đây nhờ sự phát triển của các máy CT Scan đadãy thế hệ mới, được ứng dụng trong chẩn đoán BPTNMT, đánh giá mức độthương tổn và vùng thương tổn Đây là kĩ thuật không xâm lấn, phù hợp vớibệnh nhân nặng, nhiễm trùng đường hô hấp trên, ho ra máu không rõ nguyên
Trang 8nhân, phình động mạch, sau phẫu thuật lồng ngực, bệnh nhân không thể hợptác mà phương pháp đo chức năng hô hấp không thực hiện được Đồng thời
CT định lượng rất hữu ích để phân tích hình ảnh ứ khí phế nang ở bệnh nhânBPTNMT trong phẫu thuật cắt phổi, cần phải xác định thể tích phổi còn lạiđảm bảo chức năng sau cắt phổi [3]
Cho đến nay trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về đặcđiểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân BPTNMT nhưng các đặc điểm vềchức năng thông khí phổi và nhất là CT định lượng còn chưa được mô tả đầy
đủ do phương pháp CT định lượng mới chỉ được áp dụng một vài năm trở lại
đây Trên cơ sở đó, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu đặc điểm lâm
sàng, chức năng thông khí và cắt lớp vi tính định lượng phổi ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính” tại Trung tâm hô hấp – Bệnh viện Bạch Mai
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Định nghĩa – Dịch tễ học BPTNMT
1.1.1 Định nghĩa
Theo GOLD 2016, BPTNMT là tình trạng bệnh lý được đặc trưng bởi
sự hạn chế luồng khí không hồi phục hoàn toàn Sự hạn chế luồng khí nàytiến triển từ từ và liên quan đến phản ứng viêm bất thường của phổi - phếquản gây nên bởi các khí hay các phân tử độc hại BPTNMT là bệnh có thểphòng ngừa và điều trị được [1]
1.1.2 Dịch tễ học BPTNMT
1.1.2.1 Vài nét về lịch sử BPTNMT
Năm 1964, thuật ngữ BPTNMT lần đầu tiên được sửdụng để mô tả tình trạng tắc nghẽn đường thở không hồi phục hoàn toàn Thuậtngữ BPTNMT đã dần dần thay thế cho cụm từ "Viêm phế quản mạn và Khíphế thũng"
Trong Hội nghị lần thứ 10 - 1992 của WHO bàn về sửa đổi phân loạibệnh tật đã nhất trí dùng thuật ngữ BPTNMT trong chẩn đoán và thống kêbệnh tật
Năm 1995, American Thoracic Society (ATS – Hội lồng ngực HoaKỳ), Euro Respiratory Socieaty (ERS - Hội Hô hấp Châu Âu), các Hội Lồngngực khác đồng loạt đưa ra các hướng dẫn chẩn đoán và điều trị BPTNMT
Năm 1997, National Heart, Lung, and Blood Institute (NHLBI - ViệnHuyết học, Tim mạch, Hô hấp Hoa Kỳ) phối hợp với WHO đề ra “GlobalInitative for Chronic Obstructive Pulmonary Disease”(GOLD - Sáng kiếntoàn cầu về BPTNMT) Từ năm 2001, GOLD đưa ra bản khuyến cáo về điềutrị và quản lý BPTNMT Từ đó đến nay hàng năm GOLD đưa ra bản cập
Trang 10nhật về chẩn đoán, điều trị và quản lý BPTNMT
1.1.2.2 Dịch tễ học BPTNMT
Theo WHO (1990), BPTNMT là nguyên nhân gây tử vong xếp hàngthứ 6 với 2,2 triệu người chết Tính đến năm 1997 có khoảng 600 triệu ngườimắc BPTNMT và là nguyên nhân tử vong thứ 4 Theo dự đoán của WHO sốngười mắc bệnh sẽ tăng 3-4 lần trong thập kỷ này, gây ra 2,9 triệu người chếtmỗi năm và ước tính đến năm 2020 BPTNMT sẽ là nguyên nhân gây tửvong đứng hàng thứ 3 trên toàn thế giới Tuỳ theo từng nước tỷ lệ tử vong từ
10 - 500/100.000 dân với khoảng 6% nam và 2- 4% nữ vì BPTNMT [4] Các nghiên cứu của WHO chỉ ra tỷ lệ mắc bệnh khác nhau giữa cáckhu vực trên thế giới Tỷ lệ mắc BPTNMT cao nhất ở những quốc gia màhút thuốc vẫn còn phổ biến, trong lúc đó tỷ lệ thấp ở quốc gia có mức tiêuthụ thuốc lá thấp Tỷ lệ bệnh thấp nhất trong nam giới là 2,96/1000 dân ởBắc Phi và Trung Đông và tỷ lệ bệnh thấp nhất ở nữ giới là 1,79/1000 dâncác quốc gia và vùng đảo ở Châu Á
Ở Mỹ tỷ lệ tử vong do BPTNMT tăng đều đặn trong vài thập kỷ qua.Trong giai đoạn từ năm 1965 - 1998 trong khi tỷ lệ tử vong do bệnh mạchvành ở nam giới giảm 59%, bệnh đột quỵ giảm 64%, các bệnh tim mạchkhác giảm 35% thì ngược lại tỷ lệ tử vong do BPTNMT tăng gần 163%.Trong năm 2000 tỷ lệ tử vong do BPTNMT ở nữ tăng nhiều hơn nam giớicũng như một số nước Nauy, Thuỵ điển, Niu di lân Và tại Mỹ, một cuộckhảo sát có tính quốc gia trên mẫu đại diện ở những người > 25 tuổi, dựavào dấu hiệu rối loạn thông khí tắc nghẽn cho thấy tỷ lệ mắc BPTNMT là8,8% [5]
Châu Âu: những nghiên cứu hiện nay cho thấy tỷ lệ mắc BPTNMT làkhoảng 9% ở người trưởng thành, chủ yếu ở người hút thuốc lá Theo WHO,
Trang 11BPTNMT gây tử vong ở 4,1% nam và 2,4% nữ ở châu Âu trong năm 1997
và tỷ lệ tử vong ở nữ đã tăng lên từ năm 1980- 1990 trong các nước vùngBắc Âu [5]
Ngô Quý Châu và cộng sự (2005) nghiên cứu dịch tễ học BPTNMT ởthành phố Hà Nội trên 2583 người tuổi ≥ 40 thuộc nội thành Hà Nội Kếtquả cho thấy: tỷ lệ mắc BPTNMT chung cho 2 giới là: 2,0%, nam là 3,4% và
nữ là 0,7% [6]
1.2 Biểu hiện lâm sàng của BPTNMT
1.2.1 Triệu chứng toàn thân
Các triệu chứng ho nhiều, khạc đờm, khó thở đã nhiều năm, trong tiền
sử hay có những đợt nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính rồi dẫn đến khả năng laođộng giảm sút dần, ở giai đoạn cuối bệnh nhân chán ăn, sút cân, mệt mỏi, rốiloạn giấc ngủ, trầm uất, khi bệnh nhân có rối loạn giấc ngủ, nhức đầu buổisáng, ngủ gật ban ngày thì gợi ý tới hội chứng ngừng thở khi ngủ ở bệnhnhân BPTNMT nhất là ở bệnh nhân béo phì, ngáy to khi ngủ Bệnh nhân cóthể bị rối loạn khả năng tập trung chú ý và mất trí nhớ do thiếu oxy máu Rốiloạn chức năng tình dục có liên quan đến mức độ tắc nghẽn phế quản Nóichung chất lượng cuộc sống của bệnh nhân giảm sút rõ rệt
1.2.2 Các triệu chứng cơ năng
Các triệu chứng cơ năng chủ yếu của bệnh nhân BPTNMT đó là: ho(thường kèm theo khạc đờm) và khó thở khi gắng sức Ho thường khôngđược bệnh nhân chú ý tới Khó thở lúc đầu xuất hiện khi gắng sức và là lý do
để họ tìm đến bác sỹ
- Ho khạc đờm 3 tháng trong một năm và liên tiếp trong 2 năm trở lên
Ho có đờm thường gặp ở 50% số đối tượng hút thuốc và có thể xuất hiệnngay trong 10 năm đầu tiên hút thuốc Ho khạc đờm mạn tính thường vào
Trang 12buổi sáng hoặc sau khi hút điếu thuốc đầu tiên Ho thường nặng lên trongnhững tháng mùa đông và đặc biệt là sau nhiễm khuẩn hô hấp Lúc đầu là hongắt quãng sau là ho hàng ngày và thường là ho cả ngày.
- Sự xuất hiện khó thở khi gắng sức làm cho tiên lượng bệnh tồihơn và chứng tỏ sự suy giảm CNHH nặng lên Khó thở tiến triển từ từ vàbệnh nhân cố gắng làm giảm cảm giác khó thở bằng cách tự giảm gắng sức,biến đổi kiểu thông khí để thích nghi do vậy làm cho sự phát hiện bị chậmtrễ Mức độ khó thở khi gắng sức có thể đánh giá rất dễ dàng dựa trên khảnăng hoạt động của bệnh nhân trong cuộc sống hàng ngày (leo cầu thang,khoảng cách đi bộ trên đường thẳng) và lượng giá theo thang khó thở
- Theo Maitre B và CS (1996) thì đau ngực không phải triệu chứng lâmsàng của BPTNMT, nhưng đau ngực lại gợi ý đến biến chứng của BPTNMT,
2 biến chứng hay gặp là tràn khí màng phổi và tắc động mạch phổi
1.2.3 Triệu chứng thực thể
- Lồng ngực thường bị biến dạng, tăng đường kính trước sau (lồngngực hình thùng), nếu bệnh nặng thì bệnh nhân thở ra phải mím môi lại, ngồithở, hai tay chống về phía trước
- Khe gian sườn thấp bị rút lõm khi hít vào (dấu hiệu Hoover), khí quản
co rút vào hõm ức khi hít vào (dấu hiệu Campbell), hai dấu hiệu này hay gặp
ở bệnh nhân BPTNMT mức độ nặng, có rối loạn thông khí rõ rệt
- Nghe phổi: Tiếng rì rào phế nang giảm tương tự với FEVı giảm; dấuhiệu Hoover và rì rào phế nang giảm là dấu hiệu của khí phế thũng nặng.Nghe thấy tiếng ran rít, ran ngáy là dấu hiệu của tắc nghẽn phế quản, cường
độ tăng lên và nghe rõ hơn khi thở ra gắng sức, ở bệnh nhân bị KPT chiếm
ưu thế thường chỉ phát hiện được ran rít ở cuối thì thở ra và có thể nghe thấykhi bệnh nhân thở ra mạnh
Trang 13- Triệu chứng tăng áp động mạch phổi và suy tim phải cũng thường gặp
ở bệnh nhân BPTNMT :
+ Nhịp tim nhanh, có thể loạn nhịp hoàn toàn
+ T2 đanh mạnh, tiếng click tống máu, rung tâm trương ở ổ van độngmạch phổi
+ Dấu hiệu Carvallo: thổi tâm thu ở dọc theo bờ trái xương ức tăng lên
ở thì hít vào
+ Tĩnh mạch cổ nổi, đập theo nhịp tim, tăng lên khi làm việc gắng sức.Đau hạ sườn phải lan ra sau lưng Phản hồi gan tĩnh mạch cổ dương tính.+ Phù chân và cổ chướng
1.2.4 Đánh giá mức độ nặng theo điểm CAT và mMRC
* Thang điểm MRC:
Bảng 1.1 Thang điểm khó thở theo mMRC
mMRC 0 Chỉ xuất hiện khó thở khi hoạt động gắng sức
mMRC 1 Xuất hiện khó thở khi đi nhanh hoặc leo dốc
mMRC 2 Đi chậm hơn do khó thở hoặc phải dừng lại để thở khi đi cạnh
người cùng tuổimMRC 3 Phải dừng lại để thở sau khi đi được 100 m
mMRC 4 Rất khó thở khi ra khỏi nhà hoặc thay đồ
- mMRC: 0-1: ít triệu chứng: Bệnh nhân thuộc nhóm A hoặc C
- mMRC: 2-4: Nhiều triệu chứng: Bệnh nhân thuộc nhóm B hoặc D
Trang 14* Bảng điểm CAT:
Được xây dựng bởi Jone PW và cộng sự vào năm 2009, đã được dịchsang tiếng Việt với sự đồng thuận của tác giả Đây cũng là thang đo chấtlượng cuộc sống chuyên biệt đã được áp dụng ở bệnh nhân BPTNMT cho kếtquả tốt
- CAT <10: ít triệu chứng, bệnh nhân thuộc nhóm A hoặc C
- CAT ≥10: nhiều triệu chứng, bệnh nhân thuộc nhóm B hoặc D
Tôi không có cảm giác
nặng ngực 0 1 2 3 4 5
Tôi rất nặng ngực
Không khó thở khi leo
dốc hoặc cầu thang 0 1 2 3 4 5
Rất khó thở khi leodốc hoặc cầu thangTôi không bị giới hạn
khi làm việc nhà 0 1 2 3 4 5
Tôi bị giới hạn khilàm việc nhà nhiềuTôi rất tự tin khi ra khỏi
nhà bất chấp bệnh phổi 0 1 2 3 4 5
Tôi không hề tự tinkhi ra khỏi nhà bấtchấp bệnh phổi
Tôi ngủ rất yên giấc 0 1 2 3 4 5 Tôi ngủ không yên
giấc vì bệnh phổiTôi cảm thấy rất khỏe 0 1 2 3 4 5 Tôi cảm thấy không
còn chút sức lực nào
1.3 Chức năng hô hấp trong BPTNMT
1.3.1 Hạn chế luồng khí
Trang 15Hạn chế luồng khí thở ra (expiratory airflow limitation) định nghĩa bởi
tỷ số FEV1/FVC (forced vital capacity: dung tích sống gắng sức) < giới hạndưới của bình thường hoặc bởi FEV1/FVC < 70% theo khuyến cáo GOLD.Hạn chế luồng khí thở ra được định nghĩa là có đáp ứng trắc nghiệmgiãn phế quản khi FEV1 +/- FVC tăng 200 ml và 12% sau 15 phút hít 400mcg thuốc kích thích giao cảm Hạn chế luồng khí thở ra được định nghĩa làkhông phục hồi hoàn toàn là khi FEV1/FVC < 70% sau trắc nghiệm giãnphế quản
Hạn chế luồng khí thở ra là hậu quả kết hợp của viêm tiểu phế quản vàkhí phế thũng mà mức độ đóng góp của từng phần thay đổi giữa các cá nhân.Viêm tiểu phế quản gây hẹp lòng đường thở, tăng kháng lực đường thở, cảntrở luồng khí đi ra khỏi phổi; khí phế thũng do giảm và/hoặc đứt gãy sợi đànhồi quanh phế nang làm giảm đàn hồi của phổi, giảm áp lực đẩy khí từ trongphế nang ra ngoài, hậu quả chung làm giảm lưu lượng khí thở ra
Hạn chế luồng khí thở ra được phân loại nặng nhẹ dựa trên tỷ lệ %FEV1 dự đoán, theo khuyến cáo của GOLD 2016:
Bảng 1.3 Phân loại mức độ nặng hạn chế luồng khí theo GOLD 2016
Kháng lực đường thở Raw (airway resistance) được định nghĩa bởi tỷ
số chênh lệch áp suất P (pressure) giữa phế nang và miệng trên lưu lượng khí
Trang 16∆F (flow) đi qua miệng: Raw = ∆P/∆F Đơn vị của Raw là cmH2O/L/s Rawvới thể tích phổi có tương quan nghịch theo đường cong: Raw thấp nhất khithể tích phổi ở mức tổng dung lượng phổi TLC (total lung capacity) và Rawcao nhất khi thể tích phổi ở mức thể tích khí cặn RV (residual volume) [7].Suất dẫn đường thở Gaw (airway conductance) được định nghĩa bởi lưulượng khí ∆F tạo ra khi có thay đổi một đơn vị áp suất qua đường thở Đơn
vị của Gaw là L/s/cmH2O Gaw là nghịch đảo của Raw: Gaw = 1/Raw Gawvới thể tích phổi có tương quan thuận theo đường thẳng (tuyến tính) nênđược ưa chuộng hơn Raw trong đánh giá kháng lực đường thở ở nhiều mứcthể tích phổi tại cùng thời điểm hoặc ở bệnh hô hấp mà thể tích phổi thay đổitheo thời gian
Do Raw và Gaw thay đổi theo thể tích phổi, kháng lực đường thở đặchiệu sRaw (specific airway resistance) và suất dẫn đường thở đặc hiệu sGaw(specific airway conductance) được dùng để hiệu chỉnh theo thể tích phổi.Trong đó, sRaw = Raw x V, sGaw = Gaw/V với V là thể tích phổi tương ứng.Đơn vị của sRaw là L.cmH2O/L/s (rút gọn là cmH2O/s), đơn vị của sGaw làL/s/cmH2O/L (rút gọn là s/cmH2O) sGaw độc lập với thể tích phổi và biếnthiên thấp < 10% nên tin cậy để đánh giá kháng lực đường thở [7]
Trị số bình thường trên người trưởng thành của Raw là 0,6 – 2,4cmH2O/L/s; của Gaw là 0,42 – 1,67 L/s/cmH2O và của sGaw là 0,15 – 0,20L/s/cmH2O/L
Tăng kháng lực đường thở là hậu quả trực tiếp của viêm mạn tính gâyhẹp lòng đường thở Trước đây, hẹp đường thở ngoài lồng ngực và đường thởtrung tâm trong lồng ngực được xem là cơ chế chính gây tăng kháng lựcđường thở Gần đây, các nghiên cứu cho thấy hẹp đường thở ngoại biên cũng
là cơ chế quan trọng gây tăng kháng lực đường thở [7]
Kháng lực đường thở được biểu diễn qua tỷ lệ % sGaw so với dự đoán
và chưa có phân loại thống nhất về mức độ nặng tăng kháng lực đường thở
Trang 171.3.3 Ứ khí phế nang
Thể tích phổi cuối thì hít vào gắng sức là tổng dung lượng phổi TLC(total lung capacity) TLC được cấu thành từ các thể tích phổi và dung tíchphổi thành phần, trong đó dung tích phổi là tổng của ít nhất hai thể tích phổi:
Từ viết tắt
IRV Thể tích dự trữ hít vào
VT Thể tích khí lưu thôngERV Thể tích dự trữ thở ra
RV Thể tích khí cặn
IC Dung tích hít vàoFRC Dung tích khí cặn chức
năngFVC Dung tích sống gắng sứcTLC Tổng dung lượng phổiTLC = IRV + VT + ERV + RV
TLC = (IRV + VT) + (ERV + RV) = IC + FRC
TLC = [(IRV + VT) + ERV] + RV = [IC + ERV] + RV = FVC + RV
Hình 1.1: Các thể tích và dung tích phổi “Nguồn: Matthew J, 2010”
Ứ khí phế nang là thuật ngữ sinh lý bệnh để chỉ tình trạng khí ứ lại ở phếnang nhiều hơn bình thường: TLC > 120% dự đoán
TLC tăng thường kèm tăng thể tích khí cặn RV (residual volume), dungtích khí cặn chức năng FRC (functional residual capacity) BPNTMT giaiđoạn nhẹ, RV và FRC đã tăng nhưng TLC có thể vẫn còn trong giới hạn bìnhthường BPTNMT giai đoạn nặng, viêm tiểu phế quản và khí phế thũng làmkhí bị bẫy lại trong phế nang, RV và FRC có thể tăng rất nhiều so với TLC.Bình thường, RV chiếm 30% TLC và FRC chiếm 55% TLC Ứ khí phế nang
có ý nghĩa lâm sàng khi FRC và/hoặc RV > 120 – 130% dự đoán, RV/TLC >35% [8]
Hiện nay chưa có phân loại thống nhất về mức độ nặng ứ khí phế nang
Trang 18Mức độ nặng ứ khí phế nang được biểu diễn qua tỷ lệ % RV, FRC, TLC dựđoán [8].
Khí phế thũng (emphysema) là thuật ngữ giải phẫu bệnh chỉ tình trạng giãnlớn thường trực khoảng không khí nằm ở phần xa của phế quản tận cùng kèmphá hủy thành vách phế nang mà không xơ hóa Khí phế thủng là cơ chế chínhgây ứ khí phế nang bên cạnh cơ chế phụ là tăng kháng lực đường thở gây cản trởkhí thoát ra khỏi phế nang Khí phế thũng có liên quan rất mật thiết với ứ khí phếnang, nhưng vẫn không phải là ứ khí phế nang
1.4 Phế thân ký
1.4.1 Lịch sử
Phế thân ký (plethysmography) là phương pháp thăm dò chức năng hô hấp
cổ điển, ra đời từ thế kỷ 19 bởi các tác giả Bert (1878), Gad (1881) và được cáctác giả Dubois, Matthys đưa vào sử dụng trên lâm sàng từ thập niên 1950
Phế thân ký ngày càng được hiện đại hóa với trang bị tinh tế và qui trình
đo hoàn hảo Phế thân ký cung cấp nhiều thông tin hơn so với hô hấp ký, vốnvẫn được xem là tiêu chuẩn vàng trong thăm dò chức năng hô hấp Chỉ số hô hấp
ký chỉ đơn thuần là các chỉ số hạn chế luồng khí, trong khi đó, chỉ số phế thân ký(plethysmographic parameters) bao gồm các chỉ số hạn chế luồng khí tương tự
hô hấp ký, kèm thêm các chỉ số tăng kháng lực đường thở và ứ khí phế nang [9].Phế thân ký được thăm dò qua phế thân kế (plethysmograph) bao gồmmột buồng đo và các cảm biến phù hợp Có nhiều loại phế thân ký, trong đóphế thân ký áp suất là loại thường được nhắc đến nhiều nhất:
Cấu tạo phế thân ký áp suất:
(A) (B) Buồng đo kín cho phép người đo
ngồi bên trong, có ba bộ phận chính:
(A) Hô hấp kế phát hiện lưu lượng khí ra
– vào phổi giúp đo hô hấp ký
Trang 19(B) Cảm biến áp suất tại miệng phát hiện
thay đổi áp suất (∆P) của khối
(C) Cảm biến áp suất tại thành buồng đo
phát hiện thay đổi áp suất (∆P) khối
không khí trong buồng đo.
Hình 1.2: Phế thân kế áp suất “Nguồn: Coates, 1997”
1.4.2 Đo lường các chỉ số phế thân ký trong BPTNMT
Kết quả đo hạn chế luồng khí thể hiện qua biểu đồ lưu lượng – thể tích
và biểu đồ thể tích – thời gian Tiêu chuẩn chấp nhận được và lập lại được củabiểu đồ được qui định bởi khuyến cáo của ERS/ATS 2005 [10]
FVC
Trang 20Hình 1.3: Biểu đồ lưu lượng – thể tích (trái) và thể tích – thời gian (phải)
“Nguồn: Matthew J, 2010”
1.4.2.2 Tăng kháng lực đường thở:
Phế thân ký cho phép đo trực tiếp Raw, Gaw cùng thời điểm đo thể tíchphổi Do đó cung cấp được chỉ số Raw và Gaw được hiệu chỉnh theo thể tíchphổi tại thời điểm đo thành hai chỉ số sRaw và sGaw
1.4.2.3 Ứ khí phế nang
Trên lâm sàng, bốn kỹ thuật đánh giá ứ khí phế nang là phế thân ký, kỹthuật hòa loãng He (Helium dilution technique), kỹ thuật rửa trôi N2(Nitrogen washout) và hình ảnh học
Trong bốn kỹ thuật này, phế thân ký là tiêu chuẩn vàng đánh giá ứ khíphế nang với ba chỉ số là RV, FRC và TLC
Kết quả đo ứ khí phế nang bằng phế thân ký cũng chính là kết quả đoFRC, thể hiện qua biểu đồ áp suất tại miệng – áp suất buồng đo
1.5 Chụp cắt lớp vi tính định lượng (CT định lượng)
1.5.1 Chụp cắt lớp vi tính (CLVT)
Năm 1972 Hounsfield đã phát minh ra phương pháp chụp cắt lớp vi tính(Computed Tomography), phương pháp này giúp khảo sát chi tiết các cấu trúctrong cơ thể, là một trong những phát minh lớn nhất trong kĩ thuật chẩn đoánhình ảnh CLVT là phương pháp dùng chùm tia X, độ dày 1mm đến 10mmquét quanh một bộ phận của cơ thể, ở nhiều góc độ khác nhau, theo trụcngang Phần tia X còn lại sau khi đã được cơ thể hấp thu sẽ được thu lại bởi
hệ thống cảm biến Hệ thống này chuyển các dữ liệu đến một hệ thống máy vitính Dữ liệu được xử lí bằng các phương trình toán học phức tạp và cho rahình ảnh Hình ảnh này được hiển thị trên màn hình, sao chụp lên phim và lưutrữ trong hệ thống
Trị số đậm độ:
Các dữ liệu hấp thu tia X của các khối mô trên lớp cắt được chuyển đến
Trang 21một hệ thống vi tính xử lý chuyển giá trị số thành giá trị hình tương tự và hìnhảnh đó được tái tạo với các độ xám khác nhau trên ma trận hình Những giá trịbiểu hiện cho lượng phóng xạ hấp thu tại một phần tử thể tích của vật thể gọi
là trị số đậm độ và được đo bằng đơn vị Hounsfield (HU) Những con số nàyđược đo từ những tín hiệu của bộ phận cảm biến
Theo quy ước của máy, các đậm độ cơ bản là:
1.5.2 CT định lượng và vai trò trong chẩn đoán BPTNMT
Phương pháp CT định lượng cho phép đánh giá vùng có đậm độ thấp ởphổi (ứ khí phế nang) Vùng này được gọi là LAV (Low Attenuation Volume).LAV được dùng để tính toán thể tích và vùng của phế trường Và dựa vàonhững hình ảnh hoặc một chuỗi hình ảnh CT Scan phổi, máy có thể tính tỉ lệphần trăm vùng phế trường có đậm độ thấp
Nhu mô phổi bình thường là -850HU, khí phế thũng thường có tỉ trọnggần với -1000HU Hiện nay người ta áp dụng kĩ thuật “Mặt nạ tỉ trọng”(Density Mask): các vùng có tỉ trọng thấp hơn một mức định trước sẽ đượccoi là vùng khí phế thũng, giá trị tỉ trọng có tương quan nhất với tổn thương
mô học của khí phế thũng là từ -960 tới -970 HU, nhưng hiện nay thườngdùng ngưỡng < -950 HU để đánh giá thể tích vùng giảm tỉ trọng Các máy CTđịnh lượng hiện đại có thể đánh giá thể tích khí phế thũng theo từng thùy,
Trang 22phân thùy phổi [11].
Đánh giá vùng đậm độ thấp do ứ khí phế nang ở phổi bằng phương pháp
CT định lượng là một phương pháp chẩn đoán mới được đưa vào ứng dụngtrên lâm sàng để chẩn đoán BPTNMT Phương pháp này có thể đo được tỉ lệphần trăm diện tích vùng phế nang bị tổn thương cùng mức độ tổn thương Đây
là kĩ thuật không xâm lấn phù hợp với bệnh nhân nặng không thể đo chức năng
hô hấp được, bị nhiễm trùng hô hấp trên, ho ra máu không rõ nguyên nhân, sauphẫu thuật lồng ngực, bệnh nhân không hợp tác Đồng thời CT định lượng rấthữu ích để phân tích hình ảnh ứ khí phế nang ở bệnh nhân BPTNMT trong phẫuthuật cắt phổi, cần xác định thể tích phổi còn lại sau cắt phổi
HRCT đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện sự có mặt của giãn phếquản ở bệnh nhân BPTNMT mà đo chức năng hô hấp không đánh giá được Các bất thường cấu trúc điển hình được thấy trên HRCT bao gồm các tổnthương đường dẫn khí, các tổn thương ngoại vi khu trú hoặc lan tỏa của câyphế quản và nhu mô phổi- tất cả có thể cùng xuất hiện trong BPTNMT
HRCT là công cụ hữu ích không chỉ trong việc phát hiện bệnh KPT vàcác phân nhóm khác nhau của nó mà còn có vai trò trong việc dự đoán mức
độ nghiêm trọng của bệnh BPTNMT Sự phân phối KPT trên HRCT cũng làmột yếu tố dự báo tỷ lệ tử vong của BPTNMT Nghiên cứu của Martinez vàcộng sự (2006) báo cáo tỷ lệ tử vong ở những bệnh nhân BPTNMT có KPT ởthùy dưới phổi cao hơn so với KPT ở thùy trên; các tác giả suy đoán rằng,KPT ở thùy dưới có thể là một dấu hiệu của tăng mức độ nghiêm trọng bệnh Hai phương pháp điều trị phẫu thuật: cắt bóng kén khí và giảm thể tíchphổi đôi khi được khuyến cáo ở những bệnh nhân BPTNMT X quang ngực
có thể thấy được các bóng khí, nhưng sự tồn tại chính xác và mức độ tổnthương chỉ có thể được đánh giá bằng CT scan ngực Tương tự như vậy, sựhiện diện, mức độ, và phân phối KPT có thể xác định chính xác được trên CTscan ngực Cooper và cs (1995) cho thấy phương pháp phẫu thuật giảm thể
Trang 23tích phổi nhiều lợi ích hơn ở những bệnh nhân với KPT ở thùy trên.
- Có 3 typ giải phẫu của KPT riêng biệt hoặc kết hợp nhau:
+ KPT trung tâm tiểu thùy:
Là KPT quanh động mạch trung tâm thùy phổi thứ cấp, liên quan đến sựhủy và dãn các tiểu phế quản hô hấp Ống phế nang, các túi phế nang và phếnang ít bị ảnh hưởng Các vùng trên của phổi thường gặp nhiều hơn vùng đáyphổi Bệnh hay gặp ở bệnh nhân hút thuốc lá và thường kết hợp với viêm phếquản mạn tính Trên CT, KPT có hình ảnh các lỗ nhỏ, giảm đậm độ nằm ởtrung tâm tiểu thùy
Hình 1.4 KPT trung tâm tiểu thùy trên CLVT [12]
+ KPT toàn bộ tiểu thùy:
Hình ảnh KPT lan tỏa, đồng nhất Tổn thương hủy hoại tất cả các cấutrúc phổi phía xa của tiểu phế quản Tổn thương phổi có thể khu trú hoặc lantỏa nhưng phân bố trên phổi thường không đồng nhất, mặc dù có ưu thế ởvùng đáy phổi Thường kết hợp với KPT trung tâm tiểu thùy và gặp ở cácbệnh nhân giảm alpha 1- antitrypsin, viêm phế quản mạn tính
Trang 24Hình 1.5 KPT toàn bộ tiểu thùy trên CLVT [12]
+ KPT cạnh vách:
Các vùng KPT nằm ở ngoại biên, cạnh vách liên tiểu thùy, cạnh lá tạngmàng phổi, rãnh liên thùy Đôi khi kết hợp với KPT toàn bộ hay KPT trungtâm tiểu thùy và đôi lúc tạo ra các bóng khí ở phổi
Trang 25Là sự giãn khu trú, không hồi phục các phế quản vừa và nhỏ Giãn phếquản có thể biểu hiện dưới dạng khu trú khi tổn thương liên quan một thùy,phân thùy của phổi hoặc dạng lan tỏa khi liên quan cả hai bên phổi.
Theo Reid (1950), giãn phế quản chia thành 3 loại:
+ Giãn phế quản hình ống: phế quản dãn đều, tạo hình ống, hai thành gầnnhư song song, không giảm khẩu kính ở đầu xa
+ Giãn phế quản hình tràng hạt: phế quản dãn các đoạn không đều, đoạndãn xen lẫn đoạn chít hẹp, tạo hình tràng hạt
+ Giãn phế quản hình nang hay túi: phế quản tận cùng có cấu trúc dạngnang, khi nhiều cho hình ảnh “tổ ong”
Chụp cắt lớp vi tính lồng ngực lớp mỏng, độ phân giải cao: là tiêu chuẩnvàng trong chẩn đoán xác định giãn phế quản Các dấu hiệu có thể gặp là:+ Đường kính trong phế quản lớn hơn đường kính động mạch đi kèm
+ Các phế quản không nhỏ dần được quy định là khi 1 phế quản trên mộtđoạn dài 2 cm có đường kính tương tự phế quản đã phân chia ra phế quản đó.+ Thấy phế quản ở cách màng phổi thành ngực dưới 1 cm
+ Thấy phế quản đi sát vào màng phổi trung thất
- Dày thành phế quản trên chụp cắt lớp vi tính mỏng độ phân giải cao(HRCT) được đánh giá một cách chủ quan
1.5.3 Các loại kiểu hình BPTNMT trên cắt lớp vi tính
Từ khi KPT được xem như là một tiêu chuẩn bệnh học của BPTNMT, cónhiều phương pháp nghiên cứu về chẩn đoán và định lượng KPT có giá trị bởichúng có sự so sánh với đặc điểm mô bệnh học [13]
Theo nghiên cứu của Fujimoto và CS (2006) dựa vào các dấu hiệu CLVT
để phân loại BPTNMT thành các kiểu hình [14]:
+ Kiểu hình A: không có hoặc có rất ít KPT có thể kèm hoặc không kèmtheo bệnh đường dẫn khí Cụ thể là thể tích KPT <5% có thể kèm hoặc khôngkèm theo dày thành phế quản trên toàn bộ trường phổi
Trang 26+ Kiểu hình E: KPT và không kèm theo bệnh đường dẫn khí tức là thểtích KPT ≥5% và không kèm theo dày thành phế quản.
+ Kiểu hình M: Kết hợp cả KPT và bệnh đường dẫn khí tức là có tổnthương KPT kèm theo dày thành phế quản mức độ vừa và nặng (độ dày thànhphế quản ≥50% đường kính động mạch kế cận)
Kiểu hình A Kiểu hình E
Kiểu hình M
Hình 1.7 Các loại kiểu hình BPTNMT trên cắt lớp vi tính [14]
Một nghiên cứu tương tự được thưc hiện bởi Han và CS (2010) cho rằngCLVT có thể được sử dụng để phân biệt kiểu hình giữa các bệnh nhân có chỉ
số chức năng hô hấp giống nhau [15] Nhiều nghiên cứu cho thấy mối tươngquan giữa định lượng KPT và giai đoạn lâm sàng theo GOLD [16], [17] Tuynhiên cũng có rất nhiều nhà nghiên cứu đã thất bại trong việc tìm mối tươngquan giữa chỉ số KPT và giai đoạn lâm sàng của bệnh nhân Mối tương quanchặt chẽ được tìm thấy khi nghiên cứu chọn lọc những bệnh nhân có kiểuhình E Nghiên cứu của Mohamed Hoesein F.A và CS cho thấy: Sự phân bốKPT cũng cho thấy mối tương quan khác nhau với chức năng hô hấp, nhữngbệnh nhân có KPT chủ yếu thùy trên có chỉ số FEV1, FEV1/FVC và FVCthấp hơn so với những bệnh nhân có KPT chủ yếu thùy dưới [18] Do đó kiểuhình của BPTNMT cũng ảnh hưởng lớn đến chức năng hô hấp Việc phân loạikiểu hình bệnh nhân BPTNMT có ý nghĩa lâm sàng trong việc lựa chọn
Trang 27phương pháp điều trị đặc hiệu, liệu pháp điều trị can thiệp chống viêm nhiễmđường dẫn khí có hiệu quả ở kiểu hình A (tổn thương đường dẫn khí chủ yếu),tuy nhiên liệu pháp này có thể không hiệu quả, thậm chí có hại đối với kiểuhình E (KPT chủ yếu) [19].
1.6 Mối liên quan giữa CT định lượng và đo chức năng hô hấp trên bệnh nhân BPTNMT
1.6.1 So sánh kết quả đo dung tích phổi toàn phần giữa hai phương pháp
Nghiên cứu của Garfield và cộng sự (2012) đã chỉ ra sự tương quan chặtchẽ giữa TLC đo bởi phế thân ký và TLC đo bởi CT định lượng (r=0.92, p<0.01) Trong đó TLC đo bằng phế thân ký có giá trị lớn hơn TLC đo bằng CTđịnh lượng ở hầu hết bệnh nhân Các chỉ số RV% và FRC% có thể dự đoán sựkhác biệt giữa TLC đo bởi hai phương pháp này [20]
Nghiên cứu của Zaporozhan và cộng sự (2005) cũng cho kết quả tương
tự Nghiên cứu này còn đề cập đến các giá trị dung tích phổi toàn phần, thểtích khí phế thũng đo được bằng CT định lượng theo từng thì hô hấp: hít vào
và thở ra Theo đó TLC đo bởi CT định lượng thì hít vào có tương quan chặtchẽ với TLC đo bằng phế thân ký (r = 0.9), trong khi TLC đo bởi CT địnhlượng cuối thì thở ra có tương quan chặt chẽ với RV (r = 0.83) [21]
1.6.2 Tương quan giữa thể tích khí phế thũng đo bằng CT định lượng với các chỉ số đo chức năng hô hấp
Cũng trong nghiên cứu của Zaporozhan, ông ghi nhận có sự khác biệt vềphần trăm thể tích khí phế thũng giữa nhóm bệnh nhân được phân loại GOLD
II và III (lần lượt là 27% và 55%), nhưng không có sự khác biệt giữa hainhóm GOLD III và GOLD IV (55% và 57%) [21]
Nghiên cứu của Dransfiel (2007) ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê về giới ở mức độ khí phế thũng ở bệnh nhân BPTNMT trên CT địnhlượng Trong tất cả các giai đoạn trầm trọng của BPTNMT, nam giới bị khí
Trang 28phế thũng nhiều hơn nữ giới (giai đoạn I: 7% và 3,7%; giai đoạn II: 7,8% và5,5% và giai đoạn III/IV: 15,8% và 8,7%) [22].
Nghiên cứu của Kinsella và cộng sự (1990) ghi nhận phần trăm thể tíchkhí phế thũng có tương quan nghịch biến với chỉ số FEV1/FVC, FEV1% [23],thể tích khí phế thũng tương quan đồng biến với RV
Trang 29CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thiết kế nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả cắt ngang, tiến cứu
2.2 Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu
- Các bệnh nhân khi có các yếu tố nguy cơ và triệu chứng lâm sàng gợi ýBPTNMT (Hút thuốc lá, thuốc lào, ho khạc đờm nhiều năm, khó thở tăng dầnhay có nhiễm khuẩn hô hấp tái diễn…) được chẩn đoán xác định BPTNMTtheo GOLD 2016: rối loạn thông khí tắc nghẽn không hồi phục hoàn toàn sautest hồi phục phế quản (FEV1/FVC < 70% sau test hồi phục phế quản)
- Bệnh nhân có kết quả đo chức năng hô hấp
- Bệnh nhân có kết quả chụp CT định lượng
- Địa điểm: Trung tâm hô hấp – Bệnh viện Bạch Mai
- Thời gian: 10/2016 tới 9/2017
2.3 Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng nghiên cứu
- Bệnh nhân suy hô hấp nặng
- Bệnh nhân mắc bệnh tim hoặc thận nặng gây tràn dịch màng phổi
- Có khối, đám tổn thương đông đặc có kích thước lớn (>3cm) ở phổi
- Áp xe phổi hay xẹp phổi kích thước lớn (>3cm)
- Bất thường màng phổi, khoang màng phổi gây ảnh hưởng nhiều đến thểtích toàn phổi
- Bệnh nhân không đo được phế thân ký (quá già yếu, không thực hiện đượcđúng kĩ thuật đo hoặc chống chỉ định đo chức năng hô hấp như tràn khímàng phổi, kén khí lớn ở phổi, )
2.4 Cỡ mẫu: chọn mẫu thuận tiện
Trang 30- Qui trình định chuẩn máy tuân thủ hướng dẫn ERS/ATS 2005
Chẩn đoán xác định BPTNMT theo GOLD 2016:
- Chỉ số Gaensler (FEV1/FVC) < 70%
- Sau test phục hồi phế quản Tiffeneau và/hoặc Gaensler < 70%
- Phân chia giai đoạn BPTNMT theo GOLD 2016: Dựa vào FEV1% so với dựđoán (số dự đoán của FEV1 theo tiêu chuẩn của người Việt Nam)
Bảng 2.1 Phân loại rối loạn thông khí tắc nghẽn theo GOLD 2016
Giai đoạn FEV1 so với giá trị dự đoán FEV1/FVC
Trang 31- Chụp xoắn ốc từ đỉnh phổi đến tuyến thượng thận
- Không tiêm thuốc cản quang với độ dày lát cắt 5mm, tái tạo 1mm
- Chụp cuối thì hít vào và cuối thì thở ra
Xử lý hình ảnh
- Đánh giá bằng mắt thường
- Sử dụng phần mềm PULMO 3D với giá trị ngưỡng của khu vực tỷ trọng thấpthay đổi từ -900 ->-970HU theo từng thì hô hấp
2.5.4 Các biến số nghiên cứu
Bảng 2.2 Các biến số nghiên cứu
6 Tiền sử các bệnh lý hô hấp Số lần Hỏi
7 Tiền sử chấn thương vùng ngực Số lần Hỏi
8 Tiền sử gia đình liên quan bệnh hô hấp Hỏi
10 Hút thuốc lá Bao năm Hỏi
20 TLC (thể tích toàn phổi) Lít CT định lượng
21 LAV (Thể tích khí phế thũng) toàn phổi và từng thùy phổi Lít CT định lượng
23 MLD (tỉ trọng trung bình của phổi) HU CT định lượng
Trang 322.6 Các bước tổ chức nghiên cứu
2.7 Phương pháp xử lý số liệu
- Thiết kế và nhập và phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 22.0
- Tính tỷ lệ, tần số, các test kiểm định, so sánh, mối liên quan giữa cácbiến định tính, định lượng
2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
- Tên và các mục tiêu nghiên cứu của đề tài đã được thông qua hội đồngbảo vệ đề cương trước đó
- Đảm bảo các số liệu trong nghiên cứu là trung thực
- Các thông tin về bệnh nhân được đảm bảo bí mật
- Có trách nhiệm gìn giữ hồ sơ bệnh án trong quá trình nghiên cứu
CHƯƠNG 3
Trang 33KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân BPTNMT
Sau khi nghiên cứu (N=47) bệnh nhân BPTNMT, chúng tôi thu đượckết quả như sau:
3.1.1 Phân loại đối tượng theo giới
Biểu đồ 3.1 Phân bố bệnh nhân theo giới (N=47)
Nhận xét:
Nghiên cứu của chúng tôi có 47 bệnh nhân BPTNMT Trong đó namgiới chiếm tỷ lệ 87,2% (41 bệnh nhân), nhiều hơn nữ giới 12,8% (6 bệnhnhân) Tỷ lệ nam/nữ ≈ 6,8/1
Trang 343.1.2 Phân loại đối tượng theo tuổi
Biểu đồ 3.2: Phân bố nhóm tuổi (N=47)
Nhận xét:
- Tuổi trung bình là 63,85± 10,5
- Trong nghiên cứu, hầu hết bệnh nhân có độ tuổi > 50 tuổi, trong đó nhómtuổi hay gặp nhất là 70 – 79 tuổi, chiếm tỷ lệ 34,0%; tiếp đến là nhóm tuổi 50 – 59tuổi, chiếm tỷ lệ 27,7% Nhóm tuổi chiếm tỷ lệ ít nhất là từ 80 tuổi (4,3%)
- Tuổi thấp nhất là 38 tuổi và cao nhất là 83 tuổi
3.1.3 Phân bố tình trạng hút thuốc lá
Bảng 3.1: Phân bố tình trạng hút thuốc lá (N=47)
Không hút thuốc 5 12,2
Không hút thuốc 3 50,0
Số bao- năm trung bình 17,15± 11,6
Trang 35- Thời gian mắc bệnh trung bình của nhóm nghiên cứu là 3,92± 3,8.
- Trong số bệnh nhân nghiên cứu có 6 bệnh nhân chưa từng được chẩnđoán BPTNMT chiếm tỷ lệ 12,8% Số bệnh nhân có thời gian mắc BPTNMT
≤ 5 năm chiếm tỷ lệ cao nhất (61,7%); bệnh nhân có thời gian mắc bệnh nhiều
nhất là 15 năm
Trang 36- Số đợt cấp trung bình phải nhập viện trong 12 tháng trước là 1,89 ± 0,9
- 100% bệnh nhân có đợt cấp phải nhập viện trong 12 tháng trước
- Số BN có ≥ 2 đợt cấp phải nhập viện trong 12 tháng trước là 57,4%
3.1.6 Chỉ số BMI theo chiều cao và cân nặng
Biểu đồ 3.3: Phân bố bệnh nhân theo chỉ số khối cơ thể (N=47)
Trang 37Nhận xét:
- BMI trung bình là 20,24 ± 3,0 (kg/m²)
- Có 31 bệnh nhân thể trạng trung bình BMI 18,5 – 24 chiếm tỷ lệ caonhất (66,0%), 13 bệnh nhân thể trạng gầy BMI <18,5 chiếm 27,7%, 3 bệnh nhân
có thể trạng béo BMI ≥ 25 chiếm tỷ lệ thấp nhất (6,4%)
3.2 Đặc điểm lâm sàng nhóm bệnh nhân nghiên cứu
3.2.1 Triệu chứng cơ năng
3.2.1.1 Các triệu chứng cơ năng
Biểu đồ 3.4: Phân bố bệnh nhân theo triệu chứng cơ năng (N=47)
Nhận xét:
Triệu chứng hay gặp nhất là khó thở (95,7%), tiếp theo là ho (59,5%),khạc đờm (53,2%) Các triệu chứng khác có thể gặp là sốt chiếm 25,5%, đaungực 23,4%
Trang 383.2.1.2 Thời gian xuất hiện các triệu chứng cơ năng:
Biểu đồ 3.5: Phân bố thời gian xuất hiện triệu chứng cơ năng (N=47 )
Nhận xét:
Số ngày xuất hiện triệu chứng cơ năng trung bình là 9,21± 7,9
Thời gian xuất hiện các triệu chứng cơ năng khiến bệnh nhân phải nhập viện
≤ 7 ngày chiếm tỷ lệ cao nhất (61,7%), ≥ 15 ngày chiếm tỷ lệ thấp nhất 17,0%
3.2.1.3 Mức độ khó thở theo thang đo mMRC
Biểu đồ 3.6: Phân bố bệnh nhân theo mức độ khó thở mMRC (N = 47)
Nhận xét:
- Điểm mMRC trung bình của nhóm nghiên cứu là 2,66 ± 1,4
- Có 70,2% bệnh nhân có mức độ khó thở mMRC ≥ 2
3.2.1.4 Mức độ triệu chứng theo bảng điểm CAT
Bảng 3.4: Phân bố bệnh nhân theo điểm CAT (N = 47)
- Điểm CAT trung bình là 21,11 ± 8,5 (cao nhất là 34, thấp nhất là 6)
- Có 78,7% bệnh nhân có điểm CAT ≥ 10, trong đó số bệnh nhân cóđiểm CAT từ 20-29 chiếm tỷ lệ cao nhất (42,6%)
3.2.2 Triệu chứng thực thể
Biểu đồ 3.7: Phân bố bệnh nhân theo các triệu chứng thực thể (N=47)