1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MÔ HÌNH tổ CHỨC, QUẢN lý HOẠT ĐỘNG y tế TRƯỜNG học TRÊN THẾ GIỚI và tại VIỆT NAM

46 381 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 317,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NỘI DUNG1.1 Khái niệm về YTTH 1.1.1 Khái niệm YTTH ở trên Thế giới Hiện nay có một số khác biệt về định nghĩa của chương trình YTTH.Theo Tổ chức y tế thế giới, YTTH hay trường học nâng c

Trang 2

MẠC ĐĂNG TUẤN

MÔ HÌNH TỔ CHỨC, QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG Y TẾ TRƯỜNG HỌC: TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Lê Thị Thanh Xuân

2 PGS.TS Chu Văn Thăng

Cho đề tài: Thực trạng y tế trường học ở các trường tiểu học, trung học cơ sở của tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2007 – 2017

và kết quả một số giải pháp can thiệp.

Chuyên ngành: Y tế công cộng

Mã số : 62720301

TIỂU LUẬN TỔNG QUAN

Hà Nội – 2018

Trang 3

CSSKHS : Chăm sóc sức khỏe học sinhCVCS : Cong vẹo cột sống

YTTH : Y tế trường học

Trang 4

NỘI DUNG 3

1.1 Khái niệm về YTTH 3

1.1.1 Khái niệm YTTH ở trên Thế giới 3

1.1.2 Khái niệm YTTH ở Việt Nam 4

1.2 Tóm lược lịch sự phát triển YTTH 4

1.2.1 Trên thế giới 4

1.2.2 Tại Việt Nam 6

1.3 Mô hình tổ chức, quản lý hoạt động y tế trường học 13

1.3.1 Trên thế giới 13

1.3.2 Tại Việt Nam 22

KẾT LUẬN 33 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

Sơ đồ 1.1 Sơ đồ quản lý hoạt động YTTH tại Việt Nam 28

Sơ đồ 1.2 Thành phần, nhiệm vụ của Ban SKTH và YTTH 32

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ

Y tế trường học (YTTH) là một nhiệm vụ quan trọng trong công tácchăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho học sinh Cho tới nay đã có rấtnhiều văn bản, chỉ thị, quyết định do Thủ tướng Chính phủ, hai Bộ Y tế và BộGiáo dục Đào tạo ban hành, chỉ đạo hướng dẫn thực hiện nhằm tăng cườngcông tác y tế tại các trường học Đặc biệt bên cạnh đó, nhiều tổ chức quan tâm

đã và đang có các chương trình, dự án nhằm nâng cao sức khỏe học đườngnhư Quĩ Nhi đồng liên hợp quốc (UNICEF), Tổ chức Y tế thế giới (WHO),Ngân hàng Thế giới (WB), tổ chức Plan tại Việt Nam,…[1]

Hiện nay, Việt Nam có trên 36.000 trường học thuộc các cấp học khácnhau với gần 25 triệu học sinh, sinh viên, chiếm khoảng 26% dân số [2], đó làthế hệ trẻ, là tương lai của đất nước Việc chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sứckhoẻ cho học sinh, sinh viên đóng góp một phần rất quan trọng vào sự pháttriển toàn diện của thế hệ trẻ, cải thiện giống nòi của dân tộc mai sau

Trường học là nơi hàng ngày các em học sinh được học tập, rèn luyện,vui chơi, giải trí Trường học không chỉ là nơi dạy chữ, dạy nghề mà còn lànơi giáo dục, chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ cho học sinh Tuy nhiêntrường học cũng là nơi tập trung đông trẻ em, đó là môi trường thuận lợi chodịch bệnh phát sinh và lây lan Với tính hiếu động, tập thể học sinh trong cáctrường học cũng là cộng đồng dễ xảy ra các tai nạn, thương tích Đường lốigiáo dục của Đảng, Nhà nước là giáo dục toàn diện bao gồm cả “Đức - Trí -Thể - Mỹ - Lao động”, làm tốt công tác YTTH để chăm sóc tốt sức khoẻ chohọc sinh cũng có nghĩa đã góp phần thực hiện tốt quan điểm, đường lối giáodục toàn diện của Đảng và Nhà nước YTTH có tầm quan trọng như các nộidung hoạt động giáo dục khác trong nhà trường

Trang 7

Thực tế từ năm 2007 đến nay, công tác YTTH còn gặp nhiều khó khăn,bất cập Mạng lưới cán bộ YTTH thiếu về số lượng và chưa đảm bảo về chấtlượng, trên 80% số trường học trong cả nước chưa có cán bộ y tế (CBYT)chuyên trách [3] Số đông cán bộ YTTH là giáo viên kiêm nhiệm, chưa đượcđào tạo về chuyên môn YTTH Các hoạt động YTTH chủ yếu tập trung vàoviệc phát thuốc thông thường, truyền thông giáo dục sức khỏe (TTGDSK) vàmột số trường kết hợp với y tế địa phương tổ chức khám sức khỏe định kỳcho học sinh Ở những vùng nông thôn khó khăn, vùng sâu, vùng xa thì rất íttrường có cán bộ YTTH chuyên trách

Thời gian qua, các tỉnh thành đã rất tích cực củng cố, kiện toàn hệthống tổ chức YTTH tại các trường, trước hết là việc tuyển dụng bổ sungCBYT cho các trường học Nhiều mô hình YTTH đã được áp dụng, tuy nhiêntrong quá trình triển khai thực hiện các mô hình này, các trường đã gặp khánhiều khó khăn và cho đến nay vì nhiều lý do khách quan cũng như chủ quan,hoạt động YTTH vẫn chưa thu được kết quả như mong muốn

Mục tiêu tổng quan:

1 Mô hình tổ chức, quản lý hoạt động y tế trường học trên Thế giới.

2 Mô hình tổ chức, quản lý hoạt động y tế trường học tại Việt Nam

Trang 8

NỘI DUNG

1.1 Khái niệm về YTTH

1.1.1 Khái niệm YTTH ở trên Thế giới

Hiện nay có một số khác biệt về định nghĩa của chương trình YTTH.Theo Tổ chức y tế thế giới, YTTH hay trường học nâng cao sức khỏe là

“trường học trong đó cả lời nói và việc làm đều có những hoạt động hỗ trợ và camkết thúc đẩy sức khỏe toàn diện cho tất cả mọi thành viên trong cộng đồng nhàtrường từ tình cảm, xã hội, thể chất đến các vấn đề đạo đức” [4], [5]

Theo định nghĩa của viện thuộc ủy ban y tế về các chương trình YTTH

từ lớp mẫu giáo tới lớp 12 của Hoa Kỳ: Một chương trình y tế trường học tạicác trường là việc hợp nhất về kế hoạch, tính liên tục, sự phối hợp trong việcxây dựng các hoạt động và các dịch vụ nhằm nâng cao thể chất, tinh thần,hiệu quả học tập cùng khả năng hòa nhập xã hội tốt nhất cho các học sinh.Chương trình hoạt động phải thu hút được sự ủng hộ từ gia đình, cộng đồng.Các mục tiêu hoạt động được đặt ra dựa trên các nhu cầu, đòi hỏi, các tiêu chí

và nguồn lực từ cộng đồng của địa phương [6]

Trên thế giới, thuật ngữ trường học nâng cao sức khỏe (NCSK) được sửdụng ở các nước châu Âu, châu Á khu vực Thái Bình Dương và châu MỹLatinh Thuật ngữ này được sử dụng có nghĩa tương tự như các thuật ngữ:Chương trình y tế trường học (school health progaram) [7], , chương trình Y

tế trường học phối hợp (coordinated school health programs) [8], trường họckhỏe mạnh (healthy schools) , nâng cao sức khỏe trường học (school healthpromotion), trường học nâng cao sức khỏe (health promoting schools) [9],[10], [11], [12], [13] và y tế trường học toàn diện (comprehensive schoolhealth) Khái niệm này mô tả cách tiếp cận toàn diện (comprehensive

Trang 9

approach) có sự phối hợp liên ngành nhằm nâng cao sức khỏe, phát triển xãhội và giáo dục thông qua trường học [14], [8], [15], [16].

1.1.2 Khái niệm YTTH ở Việt Nam

Tại Việt Nam, có nhiều thuật ngữ về YTTH được sử dụng như y tế họcđường, vệ sinh trường học, sức khỏe học đường, sức khỏe trường học [17], [18],[5] và trường học nâng cao sức khỏe [19], [20], Tuy nhiên, văn bản chính thứcthống nhất về tên gọi y tế trường học để dễ sử dụng còn chưa đầy đủ

Tại Việt Nam, Bộ y tế đưa ra khái niệm về YTTH học như sau:

- YTTH là một hệ thống các phương pháp, biện pháp can thiệp nhằm bảo

vệ, nâng cao sức khoẻ học sinh, biến các kiến thức khoa học thành các kỹnăng thực hành trong mọi hoạt động sống của lứa tuổi học đường [6]

- YTTH là một lĩnh vực thuộc chuyên ngành y học dự phòng nghiên cứutác động của điều kiện sống, sinh hoạt và học tập trên cơ thể học sinh, trên cơ

sở đó xây dựng và triển khai các biện pháp can thiệp phù hợp nhằm bảo vệ vànâng cao sức khoẻ, đảm bảo các điều kiện thuận lợi cho các em học sinh pháttriển một cách toàn diện [6]

1.2 Tóm lược lịch sự phát triển YTTH

1.2.1 Trên thế giới

Từ thế kỷ thứ 19, tại nhiều nước Châu Âu đã có chủ trương và cácphương pháp thực hiện YTTH Các nhà nghiên cứu đã bắt đầu đưa ra nhữngtiêu chuẩn vệ sinh về YTTH và chú ý tập trung vào phạm vi thiết kế xây dựngtrường sở phải đảm bảo các điều kiện này

Năm 1864 Giáo sư Herman Cohn đã nghiên cứu về sự tăng nhanh bệnhcận thị trong trường học có liên quan đến chiếu sáng Năm 1877 Giáo sưBabinski đã cho xuất bản cuốn sách về vệ sinh học đường [1]

Những năm cuối thế kỷ 19 hệ thống YTTH đã được hình thành, phát triển

ở các nước Châu Âu, các trường học đã có bác sỹ hoặc y tá học đường và được

Trang 10

giao nhiệm vụ tổ chức khám sức khoẻ định kỳ, khám chuyên khoa, phòng chốngdịch bệnh trong nhà trường và tổ chức quản lý công tác tiêm phòng.

Đến đầu thế kỷ 20 sự cộng tác chặt chẽ giữa bác sỹ học đường và các

cơ sở YTTH đã đánh dấu một bước phát triển tiến bộ theo đường lối dựphòng, mục đích là cải tạo những điều kiện không thuận lợi ảnh hưởng xấuđến sức khoẻ học sinh, phòng bệnh tích cực thông qua việc cải thiện môitrường học tập có lợi cho sức khoẻ

Nhiều nghiên cứu về vấn đề sức khoẻ trẻ em gắn với môi trường họcđường đã được các nhà nghiên cứu quan tâm triển khai Năm 1960 các nhàkhoa học đã phát hiện hiện tượng "Gia tốc" phát triển cơ thể trẻ em lứa tuổihọc đường về chiều cao và cân nặng so với trẻ cùng lứa tuổi ở các thập kỷtrước đó, một loạt các giả thuyết của các nhà khoa học được đưa ra nghiêncứu để giải thích hiện tượng này như: Thuyết phát quang của Kock cho là trẻ

em được tiếp xúc với ánh sáng và thiên nhiên nhiều hơn; thuyết dinh dưỡngcủa Lenz; thuyết bức xạ của Treiber; thuyết chọn lọc của Bennhold Thomson;thuyết thành thị hoá của Rudder

Nhiều công trình nghiên cứu về tiêu chuẩn xây dựng trường lớp, tiêuchuẩn chiếu sang và trang thiết bị đồ dùng học tập giảng dạy sao cho có lợicho sức khoẻ học sinh Những nghiên cứu về sự mệt mỏi của trẻ em trong họctập như nghiên cứu của Edith Ockel năm 1973 về gánh nặng của trẻ em tronghọc tập đã được chú ý [1]

Năm 1981 tác giả Verner Kneist thuộc Viện vệ sinh xã hội Cộng hoàdân chủ Đức đã công bố mô hình xây dựng YTTH với việc xác định rõ nhiệm

vụ của thầy thuốc học đường và mối liên quan với các tổ chức xã hội [1] Các mô hình trường học cùng với mô hình YTTH cũng đã được thiết lậptuy nhiên cũng chỉ tập trung giải quyết một vấn đề hoặc một vài vấn đề sức

Trang 11

khỏe ưu tiên nào đó mà chưa giải quyết một cách tổng thế, hệ thống các vấn

đề YTTH

Cho đến năm 1995, nhằm đẩy mạnh công tác YTTH, TCYTTG đã xâydựng sáng kiến y tế trường học toàn cầu nhằm tăng số lượng các “Trường họcNâng cao sức khỏe” [21], [16], [22] Sáng kiến này nhằm mục đích nâng caosức khỏe cho học sinh, giáo viên, gia đình và thành viên của cộng đồng thôngqua nhà trường Mục tiêu của sáng kiến này là phối hợp sự nỗ lực của haingành y tế và giáo dục trong việc nâng cao sức khỏe cho học sinh dựa vàotrường học Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau tùy thuộc vào nhu cầu vàhoàn cảnh của mỗi nước Một Trường học NCSK được hiểu là trường học cómôi trường khỏe mạnh để sinh hoạt, học tập và làm việc cũng như thực hiệncác hoạt động tập luyện, vui chơi Mô hình Trường học NCSK và sáng kiếnYTTH toàn cầu được xây dựng dựa trên cách tiếp cận toàn diện Cơ sở đểTCYTG xây dựng ra sáng kiến này là dựa vào tuyên ngôn Ottawa [23] vềnâng cao sức khỏe năm 1986, tuyên bố Jakarta tại Hội nghị quốc tế lần thứ 4

về nâng cao sức khỏe năm 1996 và đề xuất của nhóm chuyên gia TCYTTG vềgiáo dục và nâng cao sức khỏe trường học toàn diện năm 1995 [16] Mô hìnhTrường học Nâng cao sức khỏe đã được chấp nhận trên toàn thế giới, đã vàđang được áp dụng từ những năm 1990 ở nhiều nước trên thế giới như Úc(1997), Mỹ (2005), Hồng Kông (2001) và Việt Nam (2001) [11]

1.2.2 Tại Việt Nam

Ngay từ những năm 1960 của thế kỷ 20 mặc dù trong điều kiện khókhăn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, YTTH đã được sự quan tâmchỉ đạo của Đảng, Chính phủ và các Bộ Y tế, Bộ Giáo dục, đã có nhiều vănbản được ban hành và khá nhiều các nghiên cứu về sức khoẻ học sinh đã đượcthực hiện

Trang 12

- Ngày 27/2/1964 Liên Bộ y tế - Giáo dục có thông tư số 32/TTLB quiđịnh về vệ sinh trường học, hướng dẫn tổ chức y tế trong các trường nội trú vàqui định nhiệm vụ cho y tế xã chăm lo sức khoẻ học sinh trong trường học ở

xã, Liên Bộ cũng xây dựng mô hình điểm về phong trào thể dục vệ sinh tạitrường Tán Thuật (Thái Bình) Năm 1964 cũng lần đầu tiên "Điều lệ vệ sinhbảo vệ sức khoẻ" đã được ban hành, trong đó có tiêu chuẩn xây dựng, tiêuchuẩn chiếu sáng, bàn ghế với 6 loại kích thước từ loại I đến loại VI trong cácloại trường học đã được qui định [24]

- Năm 1965 Bộ Y tế đã tổ chức điều tra sức khoẻ, bệnh tật của trên20.000 học sinh ở 13 tỉnh, thành phố Kết quả so với năm 1962, chiều caotrung bình của học sinh giảm 2 cm, cân nặng trung bình của học sinh giảm1,5kg Tình hình dinh dưỡng không những thiếu về lượng mà còn mất cânđối, Glucid cao tới 81-85% (yêu cầu không quá 70%); Đạm và chất béo thấp,đạm chỉ đạt 11% (yêu cầu 14%), chất béo 3-9% (yêu cầu 16%) Bệnh tai -mũi - họng ở học sinh chiếm 40-50%; bệnh ngoài da của học sinh nơi sơ tántới 40%, các bệnh có chiều hướng gia tăng là bệnh răng miệng; bệnh cận thị;bệnh cong vẹo cột sống, giun sán, [24]

- Ngày 2/6/1969 Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số 46/TTg về việcphối hợp thực hiện, giữ gìn và nâng cao sức khoẻ học sinh [25]

- Năm 1973 liên Bộ Y tế - Bộ Giáo dục ban hành Thông tư liên bộ số09/LB/YT-GD ngày 7/6/1973 hướng dẫn y tế trường học [26], trong đó phâncấp việc khám chữa bệnh và quản lý sức khoẻ học sinh từ y tế tuyến xã đếnbệnh viện tuyến tỉnh, thành phố

Sau khi thống nhất đất nước, công tác YTTH tiếp tục được Nhà nướcquan tâm Năm 1982 Liên Bộ Y tế, Bộ Giáo dục lại có thông tư số 13/LB-GD-YT ngày 9/6/1982 về việc đẩy mạnh công tác vệ sinh trường học trongnhững năm 1980 [24] Một số các nghiên cứu về sức khoẻ học sinh cũng đã

Trang 13

được thực hiện như công trình điều tra sức khoẻ thế hệ trẻ Việt Nam do GSPhạm Song - Bộ trưởng Bộ Y tế chủ trì, Bộ GD&ĐT có tuyển tập nghiên cứukhoa học giáo dục thể chất sức khoẻ trong trường học các cấp và một số cuộcđiều tra về phát triển thể lực của học sinh ở qui mô nhỏ hơn.

Bắt đầu từ năm 1998 Bộ Y tế đã phối hợp với Bộ GD&ĐT chủ trươngkhôi phục lại và phát triển YTTH và gắn nội dung này vào chiến lược bảo vệsức khoẻ trẻ em, bảo vệ sức khoẻ cộng đồng Bộ Y tế đã có tổ chức nghiêncứu đề tài "Nghiên cứu xây dựng mô hình YTTH" có mã số KHCN 11 - 06,

từ cơ sở khoa học này đã giúp việc đề xuất về tổ chức mạng lưới YTTH [27]

và các nội dung hoạt động có liên quan trong giai đoạn đổi mới của đất nước

Từ năm học 2001-2002, Tổ chức y tế thế giới cùng hai Bộ Y tế và BộGD&ĐT đã triển khai dự án thí điểm mô hình "Trường học nâng cao sứckhoẻ" ở 6 trường tiểu học thuộc thành phố Hải Phòng và 10 trường tiểu họctại huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh, kết quả sau 3 năm học từ 2001-2004

Theo đánh giá của Ban quản lý dự án và hai Bộ Y tế, Bộ GD&ĐT

"Những gì dự án trường học nâng cao sức khoẻ đã thực hiện trong 3 năm họctại 16 trường TH của Hà Tĩnh và Hải Phòng đã đi đúng đường lối chiến lượcquốc gia" [24], hy vọng mô hình trường học nâng cao sức khoẻ sẽ được nhânrộng trong nhiều trường học của cả nước và sẽ đóng góp quan trọng trongviệc thực hiện chiến lược quốc gia về bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân nóichung và trẻ em Việt Nam nói riêng

Những năm gần đây, với chủ trương coi Giáo dục đào tạo là “Quốc sáchhàng đầu”, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm đến vấn đề “Giáo dục toàndiện”, trong đó công tác YTTH đóng một vai trò quan trọng, một loạt các vănbản chỉ đạo, hướng dẫn, qui định về hoạt động YTTH đã được ban hành như:

Trang 14

- Thông tư liên tịch số 40/1998/TTLT-BGDĐT-BYT ngày 14/7/1998của Liên Bộ GD&ĐT - Bộ Y tế "Hướng dẫn thực hiện bảo hiểm y tế họcsinh" [28]

- Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT-BYT-BGD&ĐT ngày 01/3/2000của Liên bộ Bộ Y tế - Bộ GD&ĐT “Hướng dẫn thực hiện công tác y tế trườnghọc” [29]

- Quyết định số 14/2001/QĐ-BGD&ĐT ngày 03/5/2001 của BộGD&ĐT “Ban hành Quy chế giáo dục thể chất và y tế trường học” [30]

- Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23/2/2005 của Bộ chính trị về công tácbảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới [31]

- Chỉ thị số 23/2006/CT-TTg ngày 12/07/2006 của Thủ tướng Chính phủ

“Về việc tăng cường công tác y tế trong các trường học” [32]

- Thông tư liên tịch số 35/2006/TTLT-BGD&ĐT-BNV ngày 23/8/2006của Liên bộ Bộ GD&ĐT - Bộ Nội vụ “Hướng dẫn định mức biên chế viênchức ở các cơ sở giáo dục phổ thông công lập” [33]

- Thông tư số 14/2007/TT-BTC ngày 08/3/2007 của Bộ Tài chính

“Hướng dẫn sử dụng kinh phí thực hiện công tác y tế trường học” [34]

- Quyết định số 4458/QĐ- BGD&ĐT ngày 22/8/2007 của Bộ Giáo dục

và Đào tạo ban hành quy định về xây dựng trường học an toàn, phòng chốngtai nạn thương tích trong trường phổ thông [35]

- Quyết định số 50/2007/QĐ- BGD&ĐT ngày 23/8/2007 của Bộ Giáodục và Đào tạo ban hành quy định về công tác giáo dục chính trị, đạo đức, lốisống cho học sinh sinh viên [36]

- Chỉ thị số 56/2007/CT- BGD&ĐT ngày 2/10/2007 về tăng cường côngtác phòng, chống tác hại của thuốc lá trong ngành giáo dục [37]

- Thông tư liên tịch số 93/2007/TTLT/BNN-BYT- BGD&ĐT ngày22/11/2007 hướng dẫn phối hợp giữa ba ngành Nông nghiệp và Phát triển

Trang 15

nông thôn, Y tế, Giáo dục và Đào tạo trong việc thực hiện Chương trình mụctiêu Quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2006-

2010 [38]

- Quyết định số 73/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày 04/12/2007 của BộGD&ĐT ban hành “Qui định hoạt động y tế trong các trường tiểu học, trunghọc cơ sở, trung học phổ thông, trường phổ thông có nhiều cấp học” [27]

- Quyết định số 1220/2008/QĐ-BYT ngày 07/4/2008 của Bộ Y tế vềviệc ban hành “Danh mục trang thiết bị, thuốc thiết yếu dùng trong Trạm y tếcủa các các trường Đại học, Học viện, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp,

Cơ sở dạy nghề” [39]

- Quyết định số 1221/2008/QĐ-BYT ngày 07/4/2008 của Bộ Y tế vềviệc ban hành “Danh mục trang thiết bị, thuốc thiết yếu dùng trong phòng y tếhọc đường của các trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông,trường phổ thông có nhiều cấp học” [40]

- Thông tư liên tịch số 08/2008/TTLT-BYT-BGD&ĐT ngày 08/7/2008của Liên bộ Bộ Y tế - Bộ GD&ĐT “Hướng dẫn công tác bảo đảm vệ sinh antoàn thực phẩm trong các cơ sở giáo dục” [41]

Ngoài ra còn nhiều các chỉ thị, nghị quyết, văn bản của Đảng, Nhà nước

và các Bộ chỉ đạo, hướng dẫn và tạo điều kiện cho công tác YTTH phát triển

Nhiều nghiên cứu, dự án thí điểm về mô hình trường học có lợi cho sứckhoẻ của Bộ Y tế, Bộ GD&ĐT và các địa phương tiếp tục được triển khaithực hiện, năm học 2004-2005 Bộ Y tế đã xây dựng thí điểm mô hình “trườnghọc không thuốc lá” ở 85 trường THCS, Bộ GD&ĐT phát triển mô hình

“Trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong đó có nhiều nội dung thựchiện về YTTH

Trong những năm qua, công tác YTTH luôn nhận được sự quan tâmcủa Đảng và Nhà nước Luật giáo dục, Luật bảo vệ sức khoẻ nhân dân, Luật

Trang 16

bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em và nhiều văn bản pháp quy khác củaĐảng, Nhà nước về công tác YTTH đã được ban hành và đi vào cuộc sống,trong các văn kiện này đều có nội dung quy định về bảo vệ, chăm sóc sứckhoẻ cho học sinh và YTTH Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23/02/2005 của

Bộ chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dântrong tình hình mới đã chỉ rõ, nhiệm vụ trong thời gian tới phải “củng cố vàphát triển y tế học đường” [31] Chỉ thị số 23/2006/CT-TTg ngày 12/7/2006của Thủ tướng Chính phủ cũng nêu cụ thể “cần tập trung thực hiện tốt côngtác y tế trong các trường học Củng cố, phát triển cơ sở y tế trong các trườnghọc trong cả nước; bố trí đầy đủ và nâng cao năng lực chuyên môn cho cán bộ

y tế trong các trường học; cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường học tập,đồng thời bảo đảm cơ bản nguồn lực cho các hoạt động y tế trong trường học”[32] Quyết định số 255/2006/QĐ-TTg ngày 09/11/2006 của Thủ tướng Chínhphủ về việc phê duyệt Chiến lược quốc gia y tế dự phòng Việt Nam đến năm

2010 và định hướng đến năm 2020 nêu rõ giải pháp phải “Đẩy mạnh các hoạtđộng và kiện toàn mạng lưới y tế trong các trường học; khám sức khoẻ định

kỳ hàng năm cho học sinh, giảm tỷ lệ mắc các bệnh răng, miệng, cong vẹo cộtsống và cận thị tuổi học sinh ” [42, 43] Chiến lược đã đặt ra chỉ tiêu “100%trường học có tổ chức các hoạt động về y tế trường học 100% học sinh đượckhám sức khoẻ định kỳ hàng năm Giảm 10% các bệnh răng miệng và cận thịhọc đường” [42, 43]

Ngày 27/3/2009 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số401/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình phòng, chống bệnh, tật trong các cơ sởgiáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân” với mục tiêu cụ thể đến năm

2015 như sau [44]:

- Xây dựng cơ chế, chính sách về công tác y tế trong các cơ sở giáodục trình cấp có thẩm quyền phê duyệt

Trang 17

- Củng cố, kiện toàn tổ chức, cán bộ làm công tác y tế trường họctrong các cơ sở giáo dục tại tất cả các tuyến để đạt các chỉ tiêu:

- Nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ về y tế trường học chocán bộ làm công tác y tế của các cơ sở giáo dục nhằm thực hiện tốtcác hoạt động phòng, chống bệnh, tật cho học sinh, sinh viên

- Xây dựng hệ thống quản lý sức khỏe học sinh, sinh viên trong các

Chương trình hiện nay đang được Bộ GD&ĐT cùng với Bộ Y tế triểnkhai thực hiện ở 16 tỉnh, thành phố, chương trình này sẽ dần được mở rộng ratoàn quốc Trên cơ sở đó, công tác YTTH đã được Chính quyền, ngành Y tế,ngành GD&ĐT các địa phương chú trọng triển khai thực hiện, nhất là về môhình hoạt động của YTTH, vì nó có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng,hiệu quả hoạt động của YTTH Nếu có được mô hình vận hành tốt sẽ mang lạihiệu quả cao và ngược lại Bộ Y tế, Bộ GD&ĐT đã có nhiều văn bản chỉ đạo

và hướng dẫn về vấn đề này, tuy nhiên điều này phụ thuộc vào nhận thức vàđiều kiện cụ thể của từng trường học, nơi nào tổ chức hợp lý, phù hợp sẽ dễdàng phát huy được hiệu quả, nơi nào tổ chức chưa hợp lý, chưa phù hợp,chắc chắn sẽ làm hạn chế đến hiệu quả hoạt động YTTH

Đặc biệt, từ năm 2016 việc đánh giá công tác YTTH được thực hiệntheo thông tư 13/2016/TTLT-BYT-BGDĐT thay thế cho thông tư cũ 8/2011/TTLT-BGDĐT-BYT

Trang 18

Hiện nay công tác quản lý YTTH đang được 2 Bộ Y tế và Bộ GĐ&ĐTtăng cường phối hợp triển khai thực hiện, mô hình quản lý hoạt động YTTHngày càng được củng cố và hoàn thiện hơn từ Trung ương đến cơ sở.

1.3 Mô hình tổ chức, quản lý hoạt động y tế trường học

1.3.1 Trên thế giới

Từ thế kỷ thứ 19, tại nhiều nước Châu Âu đã có chủ trương và cácphương pháp thực hiện YTTH Các nhà nghiên cứu đã bắt đầu đưa ra nhữngtiêu chuẩn vệ sinh về YTTH và chú ý tập trung vào phạm vi thiết kế xây dựngtrường sở phải đảm bảo các điều kiện này

Năm 1864 Giáo sư Herman Cohn đã nghiên cứu về sự tăng nhanh bệnhcận thị trong trường học có liên quan đến chiếu sáng Năm 1877 Giáo sưBabinski đã cho xuất bản cuốn sách về vệ sinh học đường [1]

Những năm cuối thế kỷ 19 hệ thống YTTH đã được hình thành, phát triển

ở các nước Châu Âu, các trường học đã có bác sỹ hoặc y tá học đường và đượcgiao nhiệm vụ tổ chức khám sức khoẻ định kỳ, khám chuyên khoa, phòng chốngdịch bệnh trong nhà trường và tổ chức quản lý công tác tiêm phòng

Đến đầu thế kỷ 20 sự cộng tác chặt chẽ giữa bác sỹ học đường và các

cơ sở YTTH đã đánh dấu một bước phát triển tiến bộ theo đường lối dựphòng, mục đích là cải tạo những điều kiện không thuận lợi ảnh hưởng xấuđến sức khoẻ học sinh, phòng bệnh tích cực thông qua việc cải thiện môitrường học tập có lợi cho sức khoẻ

Nhiều nghiên cứu về vấn đề sức khoẻ trẻ em gắn với môi trường họcđường đã được các nhà nghiên cứu quan tâm triển khai Năm 1960 các nhàkhoa học đã phát hiện hiện tượng "Gia tốc" phát triển cơ thể trẻ em lứa tuổihọc đường về chiều cao và cân nặng so với trẻ cùng lứa tuổi ở các thập kỷtrước đó, một loạt các giả thuyết của các nhà khoa học được đưa ra nghiêncứu để giải thích hiện tượng này như: Thuyết phát quang của Kock cho là trẻ

Trang 19

em được tiếp xúc với ánh sáng và thiên nhiên nhiều hơn; thuyết dinh dưỡngcủa Lenz; thuyết bức xạ của Treiber; thuyết chọn lọc của Bennhold Thomson;thuyết thành thị hoá của Rudder

Nhiều công trình nghiên cứu về tiêu chuẩn xây dựng trường lớp, tiêuchuẩn chiếu sang và trang thiết bị đồ dùng học tập giảng dạy sao cho có lợicho sức khoẻ học sinh Những nghiên cứu về sự mệt mỏi của trẻ em trong họctập như nghiên cứu của Edith Ockel năm 1973 về gánh nặng của trẻ em tronghọc tập đã được chú ý [1]

Năm 1981 tác giả Verner Kneist thuộc Viện vệ sinh xã hội Cộng hoàdân chủ Đức đã công bố mô hình xây dựng YTTH với việc xác định rõ nhiệm

vụ của thầy thuốc học đường và mối liên quan với các tổ chức xã hội [1]

Năm 1995 Tổ chức y tế thế giới đã tổ chức hội thảo quốc tế về YTTHvới các nội dung đã được trình bầy như: Giáo dục vệ sinh trong nhà trường;dịch vụ y tế trong trường học, các loại hình dịch vụ y tế cần thiết nhất; cơquan hỗ trợ cho YTTH tốt nhất là vai trò của Bộ Y tế và Bộ Giáo dục [24]

Trên thế giới hiện nay, công tác YTTH được thực hiện dựa trên môhình trường học cung cấp đầy đủ các dịch vụ Cộng đồng có vai trò xây dựngnhững dịch vụ này bên trong nhà trường, bao gồm chăm sóc sức khỏe thểchất, tinh thần, tuyên truyền giáo dục, tuyển dụng nhân sự y tế, các hoạt độngthể thao văn hóa, các hoạt động xã hội [19, 45]

Trong mô hình này, mỗi cá nhân thành viên của cộng đồng và nhàtrường đều cùng thực hiện theo một mục tiêu chung thông qua các kế hoạchhoạt động đã được đặt ra Qua đó, tính hiệu quả của công tác YTTH được nângcao về chất lượng cũng như khả năng đáp ứng những nhu cầu phát sinh [46]

Theo nội dung hoạt động YTTH tại các nhà trường, ở Hoa Kỳ mô hìnhYTTH được chia làm 3 loại:

Mô hình 3 nội dung;

Trang 20

Mô hình 8 nội dung

Mô hình các trường có đầy đủ dịch vụ, cụ thể như sau:

Mô hình với 3 nội dung [47]

Đây là mô hình được khởi nguồn vào đầu những năm 1900 và kéo dàitới những năm 1980, mô hình với 3 phần được xem như là mô hình truyềnthống của chương trình y tế học đường Theo mô hình này, chương trình y tếtrường học gồm có 3 nội dung chính sau:

+ Tuyên truyền sức khỏe

+ Các dịch vụ sức khỏe

+ Môi trường trường học lành mạnh

Mô hình với 8 nội dung [47]

Trung tâm phòng chống và kiểm soát bệnh tật Hoa kỳ đưa ra mô hìnhYTTH với 8 nội dung gồm các nội dung cùng tương tác với nhau sau

+ Giáo dục sức khỏe

+ Giáo dục thể chất

+ Các dịch vụ y tế

+ Các dịch vụ dinh dưỡng

+ Nâng cao sức khỏe cho các cán bộ nhà trường

+ Các dịch vụ tư vấn, tâm lý và xã hội

+ Môi trường trường học lành mạnh

+ Thu hút cộng đồng và cha mẹ học sinh

Mô hình các trường học với đầy đủ các dịch vụ [47]

Mô hình YTTH hiện nay trên thế giới là mô hình YTTH với đầy đủ cácdịch vụ Trong mô hình này, vai trò của cộng đồng là tạo ra nhiều loại dịch vụtrong trường, gồm các dịch vụ tuyển dụng, dịch vụ y tế, sức khỏe tâm thần,chăm sóc trẻ em, giáo dục tuyên truyền, giáo dục cho cha mẹ, các hoạt động giảitrí, thể thao văn hóa, phúc lợi xã hội, tổ chức cộng đồng Kết quả là mô hình đã

Trang 21

mang lại hệ sinh thái đa dạng các hoạt động và có sự tham gia của mọi thànhphần (Nhà trường, gia đình và xã hội)

Theo Ủy ban y tế Hoa Kỳ về chương trình y tế trường học toàn diện ởcác lớp từ mẫu giáo đến lớp 12, trường học với đầy đủ dịch vụ cung cấp giáodục có chất lượng cho học sinh, chương trình này bao gồm sự giảng dạy đượcđặc thù hóa, giảng theo nhóm, học tập với sự hợp tác cao, môi trường trườnghọc lành mạnh, lựa chọn khả năng lôi cuốn cha mẹ, việc giám sát và phươngpháp hiệu quả Các cơ sở cộng đồng và/hoặc trường học cùng nhau hợp tác đểcung cấp kiến thức sức khỏe toàn diện, tăng cường sức khỏe, đào tạo kỹ năng

xã hội, và chuẩn bị cho các công việc sau này

Ngoài ra, theo ủy ban y tế Hoa Kỳ, việc cung cấp liên tục các dịch vụcủa các đơn vị tại cộng đồng cho trường học với các dịch vụ toàn diện gồm dịch

vụ sức khỏe (như chương trình sức khỏe và tâm thần), tư vấn dinh dưỡng vàquản lý việc thừa cân, các dịch vụ sức khỏe tâm thần (như tư vấn cá nhân, canthiệp những bất ổn tâm lý, xử trí các trường hợp lạm dụng thuốc và các dịch vụtheo dõi), chăm sóc sức khỏe gia đình, các dịch vụ xã hội (như chăm sóc trẻ, xóa

mù chữ ở cha mẹ, đào tạo nghề, các dịch vụ về luật, các hoạt động giải trí và vănhóa, các dịch vụ cơ bản về nhà ở, thực phẩm và may mặc)

Tại Hoa Kỳ, các trường cũng đều có Hội đồng tư vấn sức khỏe trườnghọc (School Health Advisory Councils) Hội đồng này được thành lập nhằmđảm bảo rằng mỗi trường, quận huyện, tiểu bang có một nhóm bao gồm cácnhân việc thuộc các lĩnh vực khác nhau (giáo dục, y tế, chính sách, các tác tổchức cộng đồng khác có liên quan) để tham gia vào công tác chăm sóc sứckhỏe trẻ em nói chung và công tác YTTH nói riêng Vai trò của Hội đồng này

là hết sức quan trọng trong việc thúc đẩy các hoạt động YTTH Cụ thể:

o Hỗ trợ, phát triển đánh giá nhu cầu chăm sóc sức khỏe của trường;

o Quản lý số liệu sức khỏe học sinh;

Trang 22

o Vận động toàn diện chương trình GDSK, NCSK;

o Xem xét, tham khảo và phổ biến các hướng dẫn chính sách thuộc lĩnh

vực sức khỏe môi trường, dinh dưỡng, khí hậu trường học, và sức khỏehành vi của địa phương, tiểu bang và liên bang cho các thanh viên trongtrường học;

o Thực hiện hướng dẫn về dịch vụ y tế hoặc biên chế đủ số lượng y tá

học dựa trên sự thay đổi và nhu cầu số lượng sinh viên, học sinh;

o Đưa ra các giải pháp đề xuất cho Hội đồng, Ban Giám hiệu Nhà trường

trong việc tăng cường trường chương trình GDSK, NCSK;

o Xác định và phát triển các nguồn lực cho hoạt động YTTH.

Một số nghiên cứu về chính sách YTTH

Năm 2001, tác giả Small ML và cs đã thực hiện nghiên cứu “Môitrường và Nội quy trường học: Kết quả từ chính sách và chương trình họcđường năm 2000 – SHPPS 2000” [48] Chương trình SHPPS trên được thựchiện lần đầu tiên vào năm 1994 bởi Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịchbệnh Hoa Kỳ (CDC), lần thứ hai vào năm 1997 bởi Bộ Giáo dục Hoa Kỳ vàlần thứ 3 vào năm 1998 Chương trình đã cung cấp các thông tin chính sáchcấp tiểu bang, cấp quận và cấp trường liên quan được việc giải quyết tìnhtrạng bạo lực học đường, sử dụng thuốc lấ, rượu bia, ma túy bất hợp pháp.Tác giả đã kết luận rằng nhờ có chính sách hợp lý ở các cấp tiểu bảng, cấpquận, cũng như nội quy rõ rang của các cấp trường thì các hành vi về sử dụngrượu bia, ma túy trái phép, tình trạng bạo lực học đường và đặc biết là tỉ lệmang vũ khí tới trường cũng đã giảm rõ rệt qua chương trình SHPSS Tuyvậy tác giả cũng nhấn mạnh vẫn có tỉ lệ phần trăm nhỏ học sinh mang vũ khítới trường, đây là một vấn đề cần được quản lý chặt chẽ hơn nữa khi mà Hoa

Kỳ ngày càng có nhiều diễn biến phức tạp về tình trạng an ninh xã hội [48]

Trang 23

Đến năm 2006, chương trình SHPPS được thực hiện bởi CDC, kết quảnghiên cứu cho thấy hầu hết các trường ở Hoa Kỳ đều cung cấp các dịch vụ y

tế cơ bản cho học sinh Tuy nhiên có rất ít các trường cung cấp dịch vụ phòngngừa hoặc các dịch vụ y tế chuyên sâu hơn Mặc dù chính sách của Chính phủHoa Kỳ, chính sách cấp huyện đã yêu cầu, quy định trường phải có y tá họcđường hoặc chỉ định tỷ lệ tối thiểu [49] y tá/học sinh (1/750) nhưng chỉ có86,3% trường học có ít nhất một y tá làm việc bán thời gian; có 45,1% cáctrường có tỷ lệ y tá/học sinh tối thiểu là 1/750 [50] Tác giả kết luận rằng việctăng tỷ lệ trường học có đủ y tá học đường là một bước quan trọng để giúpcác trường cung cấp thêm các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho học sinh [50]

Ngoài ra khi nghiên cứu về các chính sách YTTH, các tác giả kháccũng đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lồng ghép các chính sách YTTHnày với các hoạt động, giám sát, đánh giá và thực hiện của các chính sách sứckhỏe cộng đồng chung [51], [12], [11]

Để tìm hiểu các chính sách hay mô hình hoạt động YTTH của các nướcCộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết (SSR), Stone EJ đã thực hiện nghiên cứu

“Sức khỏe trường học: Vấn đề chính sách quốc gia ở Liên Xô - SchoolHealth: A National Policy Issue In The Soviet Union” [52] Tác giả đã mô tảlại mô hình hoạt động, các chính sách và vai trò của các nhân viên YTHHtrong hoạt động này Theo đó có 15 nước Cộng hoa XHCN Xô viết sẽ có 15

Bộ trường BYT, mỗi BYT bao gồm nhiều phòng ban khác nhau Các hoạtđộng chẩn đoán và điều trị ban đầu được thực hiện tại Phòng khám đa khoacủa BVĐK cấp huyện Phòng khám đa khoa này là tuyến cơ sở đầu tiên trongviệc cung cấp các dịch vụ phòng bệnh và dịch vụ chẩn đoán, điều trị trực tiếptrước khi một bệnh nhân được chuyển đến cơ sở y tế cấp cao hơn Việnnghiên cứu Khoa học sức khỏe Trung ương được thành lập năm 1929 và có

Ngày đăng: 05/08/2019, 20:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Lee A (2009), "Health-promoting schools: evidence for a holistic approach to promoting health and improving health literacy", Appl Health Econ Health Policy, 7(1), tr. 11-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Health-promoting schools: evidence for a holisticapproach to promoting health and improving health literacy
Tác giả: Lee A
Năm: 2009
13. Lee A, Wong MC, Keung VM và các cộng sự. (2008), "Can the concept of Health Promoting Schools help to improve students' health knowledge and practices to combat the challenge of communicable diseases: Case study in Hong Kong?", BMC Public Health, 8, tr. 42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Can the conceptof Health Promoting Schools help to improve students' healthknowledge and practices to combat the challenge of communicablediseases: Case study in Hong Kong
Tác giả: Lee A, Wong MC, Keung VM và các cộng sự
Năm: 2008
15. McCall DS, Rootman I và Bayley D (2005), "International School Health Network: an informal network for advocacy and knowledge exchange", Promot Educ, 12(3-4), tr. 173-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International SchoolHealth Network: an informal network for advocacy and knowledgeexchange
Tác giả: McCall DS, Rootman I và Bayley D
Năm: 2005
16. World Health Organization (1995), "Global School Health Initiative", tr. 1-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global School Health Initiative
Tác giả: World Health Organization
Năm: 1995
20. Viện Y học lao động và vệ sinh môi trường (2002), Thường quy kỹ thuật y học lao động, vệ sinh môi trường và sức khỏe trường học , Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thường quy kỹthuật y học lao động, vệ sinh môi trường và sức khỏe trường học
Tác giả: Viện Y học lao động và vệ sinh môi trường
Nhà XB: Nhàxuất bản Y học
Năm: 2002
22. World Health Organization (1997), Promoting Health Through School, Report of a WHO Expert Committe on Comprehensive School Health Education and Promotion, Geneva, Swizerland Sách, tạp chí
Tiêu đề: Promoting Health Through School
Tác giả: World Health Organization
Năm: 1997
23. WHO (1986), "The Ottawa Charter for Health Promotion", Health Promotion International, 1(4), tr. 3-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Ottawa Charter for Health Promotion
Tác giả: WHO
Năm: 1986
24. Nguyễn Ngọc Oánh (2003), "Quá trình phát triển y tế trường học", Chăm sóc sức khỏe học sinh, Nhà xuất bản y học, tr. 5-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình phát triển y tế trường học
Tác giả: Nguyễn Ngọc Oánh
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 2003
48. Small L, Jones SE, Barrios LC và các cộng sự. (2001), "School Policy and Environment: Results from the School Health Policies and Programs Study 2000", Journal of School Health, 71(7), tr. 325-334 Sách, tạp chí
Tiêu đề: School Policyand Environment: Results from the School Health Policies andPrograms Study 2000
Tác giả: Small L, Jones SE, Barrios LC và các cộng sự
Năm: 2001
49. US Department of Health and Human Services (2010), Healthy people 2020, truy cập ngày 2018-28 August, tại trang web http://www.healthypeople.gov/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Healthy people2020
Tác giả: US Department of Health and Human Services
Năm: 2010
51. Cameron R, Manske St, Brown St và các cộng sự. (2007), "Integrating Public Health Policy, Practice, Evaluation, Surveillance, and Research:The School Health Action Planning and Evaluation System ", American Journal of Public Health, 97(4), tr. 648-654 Sách, tạp chí
Tiêu đề: IntegratingPublic Health Policy, Practice, Evaluation, Surveillance, and Research:The School Health Action Planning and Evaluation System
Tác giả: Cameron R, Manske St, Brown St và các cộng sự
Năm: 2007
52. Stone EJ (1983), "School Health: A National Policy Issue In The Soviet Union", The Journal of School Health, February 1983(3), tr. 92 -84 Sách, tạp chí
Tiêu đề: School Health: A National Policy Issue In The SovietUnion
Tác giả: Stone EJ
Năm: 1983
53. Green TB và Georgia (2011), "Embracing Technology to Improve School Health Services", National Association of School Nurses, tr.139-140 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Embracing Technology to ImproveSchool Health Services
Tác giả: Green TB và Georgia
Năm: 2011
54. Swanson MA và Ornelas D (2001), "Health Jeopardy: A Game to Market School Health Services", The Journal of School Nursing, 17(3), tr. 166-169 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Health Jeopardy: A Game toMarket School Health Services
Tác giả: Swanson MA và Ornelas D
Năm: 2001
55. Li Yan Wang, Mary Vernon-Smiley, Mary Ann Gapinski và các cộng sự. (2014), "Cost-Benefit Study of School Nursing Services", JAMA Pediatr, 168(7), tr. 642-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cost-Benefit Study of School Nursing Services
Tác giả: Li Yan Wang, Mary Vernon-Smiley, Mary Ann Gapinski và các cộng sự
Năm: 2014
56. Sakou K (2011), "School health activities of yogo-teachers and functions of school health offices in Niigataken Chuetsu-oki earthquake. Qualitative analysis of interview data for yogo-teachers", Nihon Koshu Eisei Zasshi, 58(4), tr. 274-81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: School health activities of yogo-teachers andfunctions of school health offices in Niigataken Chuetsu-okiearthquake. Qualitative analysis of interview data for yogo-teachers
Tác giả: Sakou K
Năm: 2011
57. Sakou K, Nakashita T, Izu A và các cộng sự. (2011), "he Role of School Health Rooms during Disasters and their Facility’s Medical Resources- A Post-Quake Survey Report by Yogo Teachers in Niigata Prefecture", School Heath, 7, tr. 44-54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: he Role of SchoolHealth Rooms during Disasters and their Facility’s Medical Resources-A Post-Quake Survey Report by Yogo Teachers in Niigata Prefecture
Tác giả: Sakou K, Nakashita T, Izu A và các cộng sự
Năm: 2011
14. The World Bank, UNICEF và Water and Sanitation Progarm (2005), Toolkit on Hygiene, Sanitation & Water in Schools Khác
17. Bộ Y tế và Bộ Giáo dục và đào tạo (2002), "Nâng cao hiệu quả giáo dục sức khỏe trong trường học&#34 Khác
18. Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo và WHO (2002), "Hướng dẫn thực hiện nâng cao sức khoẻ trường học&#34 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w