1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý rủi ro trong công tác thanh tra thuế tại cục thuế tỉnh Đồng Nai. Thực trạng và giải pháp: luận văn thạc sĩ

132 65 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 1,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù cơ chế này chỉ làm thí điểm trong nội bộ ngành thuế thời gian qua mãi đến năm 2013 mới chính thức được luật hóa theo Luật sửa đổi bổ sung một số điều về Luật quản lý thuế năm 2012

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG

  

NGUYỄN QUỐC PHONG

QUẢN LÝ RỦI RO TRONG CÔNG TÁC THANH TRA THUẾ TẠI CỤC THUẾ TỈNH ĐỒNG NAI THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

ĐỒNG NAI, NĂM 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG

  

NGUYỄN QUỐC PHONG

QUẢN LÝ RỦI RO TRONG CÔNG TÁC THANH TRA THUẾ TẠI CỤC THUẾ TỈNH ĐỒNG NAI THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

MÃ SỐ: 834.0201

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS TRẦN NGỌC HOÀNG

ĐỒNG NAI, NĂM 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước hết em xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể Thầy Cô khoa Sau Đại học

trường Đại học Lạc Hồng đã nhiệt tình giảng dạy và truyền đạt những kiến thức

quý báu trong suốt quãng thời gian em theo học tại trường

Em xin chân thành cảm ơn Thầy TS Trần Ngọc Hoàng, người đã trực tiếp

giảng dạy và tận tâm giúp đỡ, hướng dẫn và giải đáp những vướng mắc để em

hoàn thành bài luận văn một cách tốt nhất và các thầy cô trong Khoa đã quan tâm,

giúp đỡ và hướng dẫn tận tình, giúp em hoàn thành một cách tốt nhất bài báo cáo

của mình trong thời gian qua

Bên cạnh đó, em xin gửi lời cảm ơn đến các các lãnh đạo Cục thuế tỉnh Đồng

Nai, các anh chị thuộc các Phòng thanh tra thuế thuộc Cục thuế tỉnh Đồng Nai đã

nhiệt tình giúp đỡ em thực hiện đề tài này, tạo những điều kiện tốt nhất để em được

học hỏi kinh nghiệm thực tế trong suốt quá trình làm đề tài nghiên cứu này, đã luôn

động viên và tạo điều kiện thuận lợi nhất về tinh thần, vật chất, thời gian, chia sẻ

cho em những kinh nghiệm và những thông tin cần thiết để em hoàn thành bài báo

cáo

Sau quá trình học tập và làm việc, em đã nghiên cứu và hoàn thành đề tài

“Quản lý rủi ro trong công tác thanh tra thuế tại cục thuế tỉnh Đồng Nai

Thực trạng và giải pháp”

Tuy nhiên, dù đã nhiều cố gắng trong nghiên cứu và trình bày, song do

hạn chế về thời gian và kiến thức còn hạn hẹp nên bài nghiên cứu sẽ không

tránh khỏi những sai sót, thiếu sót nhất định Em rất mong quý Thầy Cô, nhà

trường và quý ngân hàng thông cảm, đóng góp ý kiến để giúp bài luận văn

hoàn thiện hơn

Nguyễn Quốc Phong

Trang 4

Tôi xin cam đoan báo cáo luận văn nghiên cứu với đề tài “Quản lý rủi ro

trong công tác thanh tra thuế tại cục thuế tỉnh Đồng Nai Thực trạng và giải

pháp” là do tôi nghiên cứu, vận dụng các kiến thức đã học với sự hướng dẫn tận

tình của Thầy TS Trần Ngọc Hoàng kết hợp với sự thảo luận, nghiên cứu cùng với các anh/chị học viên cùng khóa và các cán bộ nhân viên đang công tác tại cục thuế Đồng Nai trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài này

Các số liệu tác giả sử dụng trong bài báo cáo đều được tác giả trích dẫn đúng nguồn, đúng quy định Kết quả nghiên cứu được trình bài trong luận văn này là trung thực

Tôi xin cam đoan và chịu trách nhiệm nếu có gì sai sót

Đồng Nai, ngày tháng năm 2018

Học viên thực hiện

Nguyễn Quốc Phong

Trang 5

Nội dung nghiên cứu và khảo sát của luận văn tốt nghiệp trình độ thạc sĩ với

đề tài “Quản lý rủi ro trong công tác thanh tra thuế tại cục thuế tỉnh Đồng Nai

Thực trạng và giải pháp” được thực hiện theo đúng yêu cầu đào tạo sau đại học tại

Trường Đại học Lạc Hồng, chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng

Từ năm 2006, cơ chế quản lý thuế đã thực hiện theo cơ chế người nộp thuế tự tính, tự khai, tự nộp thuế và tự chịu trách nhiệm về thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật đồng thời cơ quan thuế đã thực hiện quản lý thuế chủ yếu theo chức năng, khi đó, quản lý thuế nói chung và thanh tra thuế nói riêng phải chuyển sang cơ chế quản lý rủi ro là rất cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động ngành thuế Luận văn đã trình bày được các vấn đề cốt lõi sau:

- Hệ thống hóa những lý luận cơ bản nhất về quản lý rủi ro trong công tác thanh tra thuế

- Đánh giá đúng thực trạng quản lý rủi ro trong công tác thanh tra thuế tại Cục thuế tỉnh Đồng Nai Chỉ ra những kết quả đã đạt được, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân cần khắc phục

- Đề xuất được các giải pháp khả thi, thuyết phục góp phần nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro trong công tác thanh tra thuế tại Cục thuế tỉnh Đồng Nai nói riêng và cả nước nói chung

Qua luận văn này, tác giả hy vọng sẽ góp phần nhỏ bé trong việc hiến kế giúp Cục thuế tỉnh Đồng Nai nhận ra được những giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro trong công tác thanh tra thuế tại Cục thuế tỉnh Đồng Nai, đáp ứng được các yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới

Trang 6

Trang LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

TÓM TẮT LUẬN VĂN

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài đã công bố 2

3 Mục tiêu nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4.1 Đối tượng nghiên cứu: 4

4.2 Phạm vi nghiên cứu: 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5

7 Bố cục của đề tài nghiên cứu 6

Chương 1: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ QLRR TRONG CÔNG TÁC THANH TRA THUẾ 7

1.1 Những nội dung cơ bản về thanh tra thuế 7

1.1.1 Khái niệm thanh tra thuế 7

1.1.2 Đặc điểm của thanh tra thuế 8

1.1.3 Phân biệt kiểm tra thuế và thanh tra thuế 9

1.1.4 Nội dung thanh tra thuế 10

1.1.5 Quy trình thanh tra thuế 12

1.1.6 Phương pháp thanh tra thuế 13

1.2 QLRR trong công tác thanh tra thuế 14

Trang 7

1.2.2 Khái niệm rủi ro thuế và QLRR trong công tác thanh tra thuế 15

1.2.2.1 Khái niệm rủi ro thuế 15

1.2.2.2 Khái niệm QLRR trong công tác thanh tra thuế 16

1.2.3 Quy trình QLRR trong công tác thanh tra thuế đối với DN 17

1.2.4 Các tiêu chí, chỉ số đánh giá rủi ro trong thanh tra thuế đối với DN 21

1.2.4.1 Các tiêu chí định lượng 21

1.2.4.2 Các tiêu chí định tính 25

1.2.4.3 Các chỉ số đánh giá kết quả áp dụng QLRR trong công tác thanh tra thuế 27

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến qlrr thuế trong công tác thanh tra thuế 28

1.3.1 Hệ thống pháp luật có liên quan 29

1.3.2 Tổ chức bộ máy và số lượng, trình độ, năng lực của đội ngũ thanh tra thuế 29

1.3.3 Quy trình và phương pháp thanh tra thuế theo QLRR 30

1.3.4 Hệ thống thông tin phục vụ cho công tác thanh tra thuế theo QLRR 31

1.3.5 Tính độc lập và sự phối hợp của các cơ quan khác trong thanh tra thuế 32

1.3.6 Trình độ và ý thức tuân thủ pháp luật của người nộp thuế 33

1.4 Kinh nghiệm qlrr thuế trong công tác thanh tra thuế ở các nước 33

1.4.1 Những khía cạnh QLRR thuế trong công tác thanh tra thuế ở các nước 34

1.4.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 38

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 40

Chương 2: THỰC TRẠNG QLRR THUẾ TRONG CÔNG TÁCTHANH TRA THUẾ TẠI CỤC THUẾ ĐỒNG NAI THỜI GIAN QUA 41

2.1 Khái quát về cục thuế đồng nai 41

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 41

2.1.2 Cơ cấu tổ chức 43

2.1.3 Kết quả thu thuế trong những năm gần đây 44

2.2 Thực trạng qlrr thuế trong công tác thanh trathuế tại cục thuế đồng nai thời gian qua 45

2.2.1 Kết quả đạt được 45

Trang 8

2.2.1.2 Tổ chức bộ máy và số lượng, trình độ, năng lực đội ngũ thanh tra

thuế 47

2.2.1.3 Quy trình và phương pháp thanh tra thuế theo QLRR 50

2.2.1.4 Hệ thống thông tin phục vụ cho công tác thanh tra thuế theo QLRR 51 2.2.1.5 Tính độc lập và sự phối hợp của các cơ quan khác trong thanh tra thuế 53

2.2.1.6 Trình độ và ý thức tuân thủ pháp luật thuế của DN 53

2.2.1.7 Kết quả tổng hợp về QLRR trong công tác thanh tra thuế 54

2.2.2 Tồn tại, hạn chế về QLRR trong thanh tra thuế tại Cục thuế Đồng Nai 61

2.2.2.1 Hạn chế khi áp dụng QLRR trong lập kế hoạch thanh tra thuế 61

2.2.2.2 Hạn chế khi áp dụng QLRR trong quá trình chuẩn bị và thực hiện thanh tra thuế tại DN 64

2.2.3 Nguyên nhân của những tồn tại 66

2.2.3.1 Hệ thống pháp luật có liên quan đến QLRR trong thanh tra thuế 66

2.2.3.2 Tổ chức bộ máy và số lượng, trình độ, năng lực đội ngũ thanh tra thuế 67

2.2.3.3 Quy trình và phương pháp thanh tra thuế theo QLRR 70

2.2.3.4 Hệ thống thông tin phục vụ cho công tác thanh tra thuế 73

2.2.3.5 Tính độc lập và sự phối hợp của các cơ quan khác trong thanh tra thuế 76

2.2.3.6 Trình độ và ý thức tuân thủ pháp luật thuế của DN 77

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 79

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QLRR THUẾ TRONG CÔNG TÁC THANH TRA THUẾ TẠI CỤC THUẾ ĐỒNG NAI 80

3.1 Định hướng QLRR trong công tác thanh tra thuế đến năm 2025 80

3.1.1 Bối cảnh KTXH Việt Nam tác động đến QLRR thanh tra thuế thời gian tới 80

3.1.1.1 Những điều kiện thuận lợi 80

3.1.1.2 Những khó khăn - thách thức 81

3.1.1.3 Sự cần thiết phải cải cách hệ thống thuế trong thời gian tới 83

Trang 9

3.1.2 Định hướng cải cách và hiện đại hóa thanh tra thuế đến năm 2025 85

3.1.3 Yêu cầu hoàn thiện QLRR trong hoạt động thanh tra thuế thời gian tới 86

3.1.4 Định hướng QLRR trong công tác thanh tra thuế tại Cục thuế Đồng Nai 87 3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả QLRR thuế trong công tác thanh tra thuế 88

3.2.1 Hoàn thiện pháp luật có liên quan đến QLRR trong thanh tra thuế 88

3.2.2 Hoàn thiện tổ chức bộ máy, bổ sung và nâng cao năng lực cho CCTT thuế 89

3.2.3 Hoàn thiện quy trình và phương pháp thanh tra thuế theo QLRR 91

3.2.4 Hiện đại hóa hệ thống thông tin phục vụ cho công tác thanh tra thuế 92

3.2.5 Tăng tính độc lập và sự phối hợp của các cơ quan khác trong thanh tra thuế 94

3.2.6 Nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật thuế của DN 95

3.3 Một số kiến nghị 96

3.3.1 Đối với Quốc hội, Chính phủ và Bộ Tài chính 96

3.3.2 Đối với Tổng cục thuế 98

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 99

KẾT LUẬN 100 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 10

STT TỪ VIẾT TẮT THUẬT NGỮ ĐẦY ĐỦ

Trang 11

Trang

Bảng 1.1: Quy trình thanh tra thuế 12

Bảng 2.1: Kết quả thu thuế qua các năm ở Cục thuế Đồng Nai 44

Bảng 2.2: Kết quả truy thu thuế theo quyết định thanh tra 2014-2017 57

Bảng 2.3: Tình hình giảm lỗ sau thanh tra 2014-2017 60

Trang 12

Trang

Biểu đồ 2.1: Kết quả thu thuế qua các năm ở Cục thuế Đồng Nai 45

Biểu đồ 2.2: Số thuế truy thu sau thanh tra từ năm 2014-2017 58

Biểu đồ 2.3: Số thuế truy thu bình quân/cuộc thanh tra từ năm 2014-2017 58

Biểu đồ 2.4: Xác định về số lượng DN được lựa chọn thanh tra hàng năm 62

Biểu đồ 2.5: Mức độ nghiêm trọng của hành vi vi phạm được phát hiện qua thanh tra 63

Biểu đồ 2.6: Nguyên nhân của rủi ro khi ban hành biên bản, kết luận thanh tra thuế 65

Biểu đồ 2.7: Trình độ năng lực của CCTT thuế có đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra 69

Biểu đồ 2.8: Chất lượng bộ tiêu chí đánh giá rủi ro chấm điểm, xếp hạng DN 73

Biểu đồ 2.9: Sai lệch thông tin trên hệ thống cơ sở dữ liệu về DN với thực tế thanh tra 74

Biểu đồ 2.10: Mức độ cung cấp thông tin DN từ các cơ quan cho CQT 76

Biểu đồ 2.11: Ý thức tuân thủ pháp luật thuế của DN 77

Trang 13

Trang

Sơ đồ 1.1: Quy trình QLRR trong công tác thanh tra thuế 18

Sơ đồ 1.2: Các tiêu chí định lượng đánh giá rủi ro 22

Sơ đồ 1.3: Các tiêu chí định tính đánh giá rủi ro 26

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức Cục thuế tỉnh Đồng Nai 43

Sơ đồ 2.2: Tổ chức bộ máy thanh tra thuế tại Cục thuế Đồng Nai 47

Trang 14

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Từ năm 2000 đến nay, Việt Nam chúng ta cùng với chiến lược mở cửa nền kinh tế theo hướng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới như: nươc ta đã tham gia vào nhiều tổ chức kinh tế khu vực và thế giới như: WTO, ASEAN, APEC nước ta cũng đã thực hiện chiến lược cải cách thuế Việt Nam tương đối đồng bộ, phù hợp với các nguyên tắc quốc tế mà nước ta đã cam kết thực hiện, đáng chú ý là

từ năm 2006, cơ chế quản lý thuế đã thực hiện theo cơ chế người nộp thuế tự tính,

tự khai, tự nộp thuế và tự chịu trách nhiệm về thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật đồng thời cơ quan thuế đã thực hiện quản lý thuế chủ yếu theo chức năng, bao gồm các chức năng chính: Tuyên truyền, hỗ trợ; xử lý tờ khai và kế toán thuế; thu nợ và cưỡng chế nợ thuế; kiểm tra, thanh tra thuế Trong đó chức năng thanh tra thuế là một trong những chức năng trọng tâm của cơ quan thuế trong cơ chế quản lý thuế này Hơn nữa, từ năm 2010 tới nay số lượng DN, cá nhân người nộp thuế đang tăng lên và ngày càng lớn (hàng trăm ngàn DN, hàng chục triệu cá nhân), nếu quản lý thuế nói chung và thanh tra thuế nói riêng vẫn làm kiểu truyền thống là kiểm tra lần lượt NNT thì sẽ không đủ nguồn nhân lực và không hiệu quả,

do vậy, quản lý thuế nói chung và thanh tra thuế nói riêng phải chuyển sang cơ chế quản lý rủi ro là rất cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động ngành thuế

Thời gian qua, ngành thuế Việt Nam đã áp dụng cơ chế quản lý rui ro thuế trong công tác thanh tra thuế Mặc dù cơ chế này chỉ làm thí điểm trong nội bộ ngành thuế thời gian qua (mãi đến năm 2013 mới chính thức được luật hóa theo Luật sửa đổi bổ sung một số điều về Luật quản lý thuế năm 2012), nhưng kết quả đem lại từ cơ chế quản lý rui ro thuế trong công tác thanh tra thuế những năm qua là khá tích cực như: đã xác định phân loại được các doanh nghiệp có mức độ rủi ro thuế cao để đưa vào thực hiện kế hoạch thanh tra thuế hàng năm dẫn đến khi thực hiện thanh tra thuế tại cơ sở người nộp thuế đều có phát hiện ra gian lận, sai sót thuế, qua đó đã truy thu được một khoản thuế ngày càng lớn cho NSNN, áp dụng quản lý rui ro thuế trong công tác thanh tra thuế còn rút ngắn được thời gian thanh tra thuế, tạo hiệu ứng tuân thủ pháp luật thuế đối với mọi DN đã hoặc chưa được

Trang 15

thanh tra thuế Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được rất đáng khích lệ trên đây, trong quá trình triển khai công tác thanh tra thuế theo QLRR thời gian qua cũng còn bộc lộ một số mặt hạn chế như: bộ tiêu chí dùng để phân tích đánh giá rủi

ro về mức độ tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế chưa chuẩn, chưa sát thực

tế dẫn đến đánh giá rui ro chưa thực sự chính xác, bằng chứng là có trường hợp DN

bị xếp loại rủi ro cao nhưng khi thanh tra, kết quả số thuế truy thu có phát sinh nhưng không nhiều như dự kiến ban đầu, ngược lại có những DN không thuộc diện xếp loại có rui ro và được lựa chọn thanh tra thuế ngẫu nhiên thì vẫn phát hiện số thuế truy thu, thậm chí là khá lớn, tình trạng thanh tra thuế kéo dài tại một số DN cũng thường xuyên xảy ra dẫn đến gây phiền hà cho DN

Xuất phát từ vấn đề nêu trên, nhằm góp phần vào việc hoàn thiện cơ chế quản lý rủi ro trong công tác thanh tra thuế đang diễn ra hiện nay, qua đó nâng cao hiệu quả công tác thanh tra thuế (vì đây vẫn còn là vấn đề khá mới mẽ đối với ngành thuế Việt Nam nói chung và Cục thuế Đồng Nai nói riêng), với tư cách là một người đang công tác trong ngành thuế, tôi chọn đề tài “Quản lý rủi ro trong công tác thanh tra thuế tại cục thuế tỉnh Đồng Nai Thực trạng và giải pháp” để thực hiện luận văn cuối khoá

2 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài đã công bố

 Những nghiên cứu trong nước:

Tại Việt Nam cũng có một số đề tài nghiên cứu liên quan đến vấn đề quản lý rủi ro trong công tác thanh tra thuế trong thời gian qua như:

- Trần Huy Trường (2015) Quản lý rủi ro trong hoạt động thanh tra thuế

đối với doanh nghiệp ở Việt Nam Luận án tiến sĩ Học viện Tài chính

Luận án đã làm rõ cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn, kinh nghiệm trong nước và quốc tế về áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động thanh tra thuế

Đề xuất các giải pháp nhằm áp dụng có hiệu quả quản lý rủi ro trong thanh tra thuế đối với các DN ở Việt Nam trong thời gian tới

- Nguyễn Thị Thu Vân (2009), Áp dụng quản lý rủi ro trong thanh tra,

kiểm tra thuế Luận văn thạc sĩ Học viện Tài chính Luận văn đã trình bày

về quản lý rủi ro tiếp cận theo phương pháp truyền thống, tác giả đã nêu được một số vấn đề lý luận về rủi ro thuế, rủi ro trong thanh tra, kiểm tra

Trang 16

thuế, chỉ ra nguyên nhân gây ra rủi ro trong thanh tra, kiểm tra thuế Luận văn nêu rõ về quy trình, phương pháp phân tích, đánh giá rủi ro Bên cạnh

đó, đã tổng hợp được các kinh nghiệm quản lý rủi ro trong kiểm tra, thanh tra thuế của Mỹ, Ca-na-đa, Anh và rút ra bốn bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

- Nguyễn Thanh Tùng (2015) Kiểm soát rủi ro trong công tác thu thuế

TNDN tại Chi cục thuế quận Bình Tân – Thực trạng và giải pháp Luận

văn thạc sĩ Trường Đại học Tài chính – Marketing Luận văn đã tập trung nghiên cứu, phân tích sự ảnh hưởng của hệ thống kiểm soát rủi ro đến việc thu thuế tại Chi cục thuế Quận Bình Tân Qua đó, làm rõ khả năng ngăn chặn việc thất thu thuế thông qua hoàn thiện hệ thống kiểm soát rủi

ro từ các yếu tố bên trong cũng như những yếu tố bên ngoài

- Trương Thị Thanh hiền (2016) Giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra

thuế tại cục thuế tỉnh Bình Dương Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Lạc

Hồng Luận văn đã hệ thống hoá được một số vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động thanh tra thuế và tổng hợp được một số kinh nghiệm triển khai công tác thanh tra thuế của các nước trên thế giới, đã nghiên cứu về những nhân tố tác động đến hiệu quả công tác thanh tra thuế và đưa ra các giải

pháp hoàn thiện nâng cao hiệu quả công tác thanh tra thuế tại cục thuế tỉnh

Bình Dương

- Nguyễn Văn Hùng và Nguyễn Thế Anh Tuấn (2014) Nâng cao hiệu quả

công tác thanh tra, kiểm soát thuế trên địa bàn thành phố Đà Nẵng thông qua cơ chế quản lý rủi ro Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường Trường

Đại học Đà Nẵng, đề tài nghiên cứu những nội dung của cơ chế quản lý rủi ro để có thể áp dụng vào thực tiễn quản lý thu ngân sách trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, mang lại hiệu quả tốt hơn cho cả cơ quan quản lý thuế

và doanh nghiệp;

 Nghiên cứu ngoài nước:

Đã có một số nghiên cứu được xuất bản bàn về công tác quản trị rủi ro trong công tác thu thuế với mục tiêu giảm thiểu và kiểm soát rủi ro trong công tác thu

thuế Điển hình: trong cuốn sách “Tax Risk Management: From risk to opportunity”

Trang 17

tác giả đã bàn về vai trò của thuế; TCF - một hệ thống để nhận dạng rủi ro, giảm thiểu rủi ro về thuế, kiểm soát và báo cáo rủi ro về thuế với mục tiêu quan trọng của

hệ thống này là xây dựng hệ thống quản lý thuế hiệu quả & minh bạch, và một số kinh nghiệm quản trị rủi ro trong công tác thu thuế của nhiều nước trên thế giới như

Úc, Canada, Pháp, Ireland,

Các đề tài, nghiên cứu nêu trên đã đề cập được những vấn đề cơ bản, sâu rộng về quản lý rủi ro trong công tác thu thuế nói chung và trong hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế nói riêng, đã nêu được một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro, qua đó nâng cao hiệu quả thu thuế Tuy nhiên, theo chủ quan của tác giả, ở cấp độ luận văn thạc sĩ, đề tài mà tác giả thực hiện là đề tài mới, lần đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống, tập trung về quản lý rủi ro trong hoạt động thanh tra thuế tại Cục thuế tỉnh Đồng Nai Vì thế, luận văn có sự khác biệt nhất định so với các nghiên cứu đã đề cập trên đây

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống hóa những lý luận cơ bản nhất về quản lý rủi ro trong công tác thanh tra thuế

- Đánh giá thực trạng quản lý rủi ro trong công tác thanh tra thuế tại Cục thuế tỉnh Đồng Nai Chỉ ra những kết quả đã đạt được, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

- Từ những mặt tồn tại, hạn chế đã rút ra trong phần đánh giá thực trạng, luận văn đưa ra phương hướng và giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro trong công tác thanh tra thuế tại Cục thuế tỉnh Đồng Nai

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

- Các quy định pháp lý về thanh tra thuế, về quản lý rủi ro trong công tác thanh tra thuế tại Cục thuế tỉnh Đồng Nai

- Đối tượng khảo sát: các cán bộ công chức thuế thuộc các phòng, ban tại cục thuế tỉnh Đồng Nai và các Chi cục thuế trực thuộc, một số lãnh đạo doanh nghiệp do Cục thuế tỉnh Đồng Nai quản lý

Trang 18

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Về không gian: nghiên cứu về quản lý rủi ro trong công tác thanh tra thuế tại Cục thuế tỉnh Đồng Nai Tuy nhiên, để nêu bật được vấn đề và mục tiêu nghiên cứu, luận văn chỉ tập trung đánh giá, phân tích quản lý rủi ro

trong công tác thanh tra thuế tại các doanh nghiệp do Cục thuế tỉnh Đồng Nai quản lý trực tiếp, không nghiên cứu đánh giá các doanh nghiệp

khác

- Về thời gian: trong khoảng 4 năm trở lại đây (2014 – 2017)

5 Phương pháp nghiên cứu

 Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp diễn giải quy nạp, phân tích, so sánh, thống kê , phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với định lượng về các nhân tố có ảnh hưởng đến cơ chế quản lý rủi ro trong công tác thanh tra thuế Cụ thể:

- Ở chương 1, chủ yếu vận dụng phương pháp hệ thống hóa, tóm lược lý luận về công tác thanh tra thuế, áp dụng quản lý rủi ro trong công tác thanh tra thuế;

- Ở chương 2, khi nghiên cứu đánh giá thực trạng về quản lý rủi ro trong công tác thanh tra thuế tại Cục thuế tỉnh Đồng Nai, tác giả sử dụng bảng câu hỏi khảo sát, lấy ý kiến trả lời của một số lãnh đạo Cục thuế Đồng Nai, công chức thanh tra thuế, lảnh đạo và kế toán trưởng một số doanh nghiệp lớn do Cục thuế quản lý, kết hợp với thu thập các dữ liệu thứ cấp thông qua các quy định pháp luật, các báo cáo kết quả thuế hàng năm của Cục thuế tỉnh Đồng Nai làm cơ sở để thống kê, phân tích so sánh, quy nạp nhằm định lượng và định tính về các nhân tố có ảnh hưởng đến quản lý rủi

ro trong công tác thanh tra thuế;

- Ở chương 3, tác giả sử dụng phương pháp quy nạp suy diễn, hệ thống hóa nhằm đề ra các giải pháp hoàn thiện khả thi và thuyết phục

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Như đã trình bày ở trên, cho đến nay, tại Việt Nam, đã có không ít đề tài nghiên cứu về về quản lý rủi ro trong công tác thu thuế nói chung và trong hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế nói riêng Tuy nhiên, việc nghiên cứu quản lý rủi ro

Trang 19

trong công tác thanh tra thuế còn khá ít ỏi Riêng tại tỉnh Đồng Nai, có thể nói, đây

là đề tài mới, lần đầu tiên được thực hiện trên địa bàn, nên sẽ có nhiều ý nghĩa khoa

học và thực tiễn như sau:

- Hệ thống hóa những lý luận cơ bản nhất về quản lý rủi ro trong công tác thanh tra thuế

- Đánh giá đúng thực trạng quản lý rủi ro trong công tác thanh tra thuế tại Cục thuế tỉnh Đồng Nai Chỉ ra những kết quả đã đạt được, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân cần khắc phục

- Đề xuất một số giải pháp khả thi góp phần nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro trong công tác thanh tra thuế tại Cục thuế tỉnh Đồng Nai nói riêng và cả nước nói chung

7 Bố cục của đề tài nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu, mục lục, danh mục bảng biểu, sơ đồ, phụ lục và phần kết luận, đề tài chia làm ba chương:

- Chương 1: Những nội dung cơ bản về quản lý rủi ro thuế trong công tác thanh tra thuế

- Chương 2: Thực trạng quản lý rủi ro thuế trong công tác thanh tra thuế tại Cục thuế tỉnh Đồng Nai thời gian qua

- Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro thuế trong công tác thanh tra thuế tại Cục thuế tỉnh Đồng Nai

Trang 20

Chương 1:

NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ QLRR TRONG

CÔNG TÁC THANH TRA THUẾ

1.1 Những nội dung cơ bản về thanh tra thuế

1.1.1 Khái niệm thanh tra thuế

Trước tiên, chúng ta cùng tìm hiểu về khái niệm thanh tra:

- Thanh tra (động từ trong tiếng Anh là Inspect) xuất phát từ gốc Latinh (Inspectare) có nghĩa là “nhìn vào bên trong”, chỉ một sự kiểm tra, xem xét từ bên ngoài đối với hoạt động của một đối tượng nhất định

- Còn theo Từ điển pháp luật Anh -Việt, thanh tra là sự tác động của chủ thể đến đối tượng đã và đang thực hiện thẩm quyền được giao nhằm đạt được mục đích nhất định

- Khái niệm thanh tra ra đời từ khi có Nhà nước và sự tồn tại của nó luôn gắn liền với tồn tại của quản lý nhà nước Thanh tra luôn được coi là một loại hình, công cụ quản lý thể hiện quyền lực nhà nước ở bất kỳ chế độ Nhà nước nào

Ở Việt Nam, Luật Thanh tra số 56/2010/QH12 ngày 15/11/2010 đã xác định

có ba loại hình thanh tra cụ thể đó là: thanh tra nhà nước, thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành, trong đó, “Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức,

cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn - kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó”

“Cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành là cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực, bao gồm tổng cục, cục thuộc bộ, chi cục thuộc sở được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành” Tiếp đó, Nghị định số 07/2012/NĐ-CP ngày 09/02/2012 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra năm 2010 đã nêu rõ: Tổng cục Thuế, Cục Thuế, Chi cục Thuế được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực thuế (Điều 6, Điều 7, Điều 8)

Như vậy, thanh tra thuế là loại hình thanh tra chuyên ngành

Trang 21

Theo khái niệm được hầu hết các nước trên thế giới đồng thuận thì Thanh tra thuế (thuật ngữ trong tiếng Anh là “Tax auditing”) “là hoạt động do CQT tiến hành nhằm kiểm tra tài liệu của NNT để xác định sự tuân thủ pháp luật của NNT”

Còn theo Giáo trình nghiệp vụ thuế của Học viện Tài chính: “Thanh tra thuế là hoạt động kiểm tra của tổ chức chuyên trách làm công tác kiểm tra của CQT đối với đối tượng thanh tra nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý những hành vi trái pháp luật” [5, tr.491]

Qua các khái niệm trên, ta có thể hiểu thanh tra thuế: là một chức năng thiết yếu trong quản lý thuế, là hoạt động kiểm tra, xem xét việc tuân thủ pháp luật thuế của NNT được tổ chức chuyên trách làm công tác kiểm tra của CQT thực hiện theo trình tự thủ tục do pháp luật quy định nhằm kết luận đúng, sai, đánh giá ưu, khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý các vi phạm pháp luật về thuế, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý thuế, chính sách thuế, pháp luật thuế, qua đó, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền, lợi ích hợp pháp của NNT

1.1.2 Đặc điểm của thanh tra thuế

Thanh tra thuế là một lĩnh vực đặc thù với các đặc điểm sau:

- Thanh tra thuế có phạm vi rộng, đối tượng thanh tra là các tổ chức, cá nhân trong ngành Thuế và tổ chức, cá nhân phát sinh nghĩa vụ nộp thuế với NSNN, bao gồm mọi đối tượng, cá nhân trong xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của các luật thuế

- Thanh tra thuế là công tác rất khó khăn, phức tạp vì nó đụng chạm trực tiếp đến lợi ích kinh tế của NNT, nhất là trong trường hợp cố ý Để che dấu hành vi trốn thuế nhằm bảo vệ lợi ích vật chất của mình, các NNT thường tìm mọi biện pháp cản trở, gây khó khăn cho công tác thanh tra, kiểm tra của CQT

- Thanh tra thuế là công việc đòi hỏi cao về năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức của người cán bộ làm trong lĩnh vực này Để xác định đúng đắn nghĩa vụ thuế của đối tượng thanh tra đòi hỏi cán bộ thanh tra thuế không chỉ nắm chắc các luật thuế mà còn phải nắm bắt được bản chất các hoạt động kinh tế, phải có sự am hiểu sâu rộng về kinh tế, kế toán… Đồng thời cán bộ thanh tra thuế còn phải có phẩm chất đạo đức tốt, bản lĩnh

Trang 22

vững vàng vì thường xuyên phải làm việc trong môi trường có sự cám dỗ

về mặt vật chất

- Thanh tra thuế là hoạt động mang tính chất pháp lý cao, liên quan đến lợi ích của nhiều đối tượng trong xã hội, cho nên hoạt động thanh tra phải đáp ứng các yêu cầu: Chính xác, khách quan, trung thực Đảm bảo công khai, kịp thời Đảm bảo thực hiện đúng luật

1.1.3 Phân biệt kiểm tra thuế và thanh tra thuế

Thanh tra là hoạt động kiểm tra, nên giữa kiểm tra và thanh tra có những điểm giống nhau sau:

- Thanh tra và kiểm tra đều có cùng mục đích là ngăn ngừa, phát hiện và xử

lý các hành vi vi phạm về thuế…

- Đánh giá dựa trên các hoạt động thực tế của NNT, để từ đó thu thập thông tin, phân tích, đánh giá đúng thực trạng, tình hình thực tế NNT một cách chính xác, khách quan, trung thực, làm rõ đúng sai, chỉ ra nguyên nhân, từ

đó đưa ra biện pháp khắc phục, xử lý những sai phạm

Tuy vậy, giữa thanh tra và kiểm tra thuế có những điểm khác nhau rất cơ bản:

- Chủ thể thanh tra luôn khác biệt với đối tượng thanh tra Trong lĩnh vực thuế, chủ thể thanh tra là đơn vị có chức năng thanh tra của CQT, còn đối tượng thanh tra chủ yếu là NNT hay thậm chí là CQT (nhưng đơn vị thanh tra trong trường hợp này không phải là đơn vị tranh tra của chính CQT được thanh tra)

- Trong kiểm tra, chủ thể và đối tượng kiểm tra không nhất thiết phải khác biệt với đối tượng kiểm tra – ví dụ như trường hợp tự kiểm tra Trong kiểm tra thuế, chủ thể kiểm tra không nhất thiết phải là cơ quan nhà nước

- Tính chất của thanh tra là một hoạt động thuộc về quyền lực của cơ quan quản lý nhà nước; trong khi đó kiểm tra là hoạt động trung tính: có thể là hoạt động quyền lực quản lý nhà nước; có thể là hoạt động quản lý đơn thuần

- Mục đích của thanh tra là phát hiện, ngăn chặn những hành vi trái pháp luật, trong khi đó, mục đích của kiểm tra là phát hiện những sai lệch của đối tượng kiểm tra và tìm cách ngăn chặn những sai lệch ấy (sai lệch có

Trang 23

thể là vi phạm pháp luật, cũng có thể chỉ là không đúng kế hoạch, không đúng yêu cầu…)

- Hoạt động kiểm tra có phạm vi rộng hơn, diễn ra ở tất cả các hoạt động KTXH và được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục Hoạt động thanh tra có phạm vi hẹp hơn vì hoạt động thanh tra là kiểm tra ở giai đoạn sau khi các hoạt động KTXH đã phát sinh Hoạt động thanh tra giải quyết các “tồn đọng” trong quản lý, giải quyết các khiếu tố đối với các vi phạm của đối tượng kiểm tra

- Về hình thức tổ chức Để tiến hành hoạt động thanh tra phải thành lập đoàn thanh tra, trong khi kiểm tra thì không nhất thiết luôn luôn phải thành lập một đoàn như thế Trong nhiều trường hợp, kiểm tra được tiến hành theo yêu cầu của cấp trên và được tự tiến hành với những nội dung được yêu cầu, sau đó kết quả được báo cáo lên cấp trên bằng văn bản

Mặc dù giữa thanh tra và kiểm tra thuế có những điểm khác nhau song chúng đều là những hoạt động không thể thiếu trong công tác quản lý nhà nước Ở đây, sự phân biệt giữa thanh tra và kiểm tra có ý nghĩa thực tiễn cao trong việc tổ chức thực hiện: tránh sự chồng chéo, giảm bớt phiền hà cho đối tượng được thanh tra, kiểm tra

1.1.4 Nội dung thanh tra thuế

Các nội dung của thanh tra thuế chính là thanh tra việc chấp hành các qui định của pháp luật về thuế Theo đó, thông thường và chủ yếu là các nội dung sau:

- Một là, thanh tra những thông tin chung, hồ sơ pháp lý về DN (mã số DN,

địa điểm, ngành nghề kinh doanh chính, mã số thuế, vốn đầu tư ) nhằm xác định tính trung thực giữa hồ sơ pháp lý của DN với thực tế hoạt động của DN, qua đó, phát hiện những sai sót, gian lận trong kê khai đăng ký thuế Trong đó, qui mô và ngành nghề kinh doanh cần được coi trọng xem xét vì đây là khâu đầu tiên trong quy trình quản lý thu thuế để tránh bỏ sót NNT và là cơ sở để xem xét việc áp dụng kê khai các thuế suất

- Hai là, thanh tra việc chấp hành các qui định của pháp luật về kế toán,

thống kê như việc mở sổ sách kế toán, chế độ kế toán đang áp dụng, năm tài chính, quản lý lưu trữ hoá đơn, chứng từ kế toán

Trang 24

- Nội dung thanh tra này là “kiểm tra việc mở sổ sách kế toán; việc quản lý

và sử dụng các loại chứng từ, hóa đơn theo chế độ quy định; hình thức hạch toán, chế độ ghi chép cập nhật sổ sách…” [5, tr.502]

- Việc thực hiện chế độ kế toán, chuẩn mực kế toán, sổ kế toán, chứng từ kế toán có liên quan chặt chẽ đến việc khai thuế và nộp thuế của DN Do vậy, việc xem xét tính trung thực, hợp lý của các loại chứng từ kế toán (hóa đơn mua, bán hàng hóa, dịch vụ, chứng từ thu, chi, các phiếu kế toán, chứng

từ hạch toán…) nhằm xác định chính xác các căn cứ tính thuế, ngăn chặn việc hạch toán, báo cáo sai để trốn, tránh thuế Do đó, đây là một nội dung thanh tra quan trọng, thực hiện tốt nội dung thanh tra này sẽ tạo tiền đề cho nội dung thanh tra việc thực hiện kê khai thuế, tính thuế và nộp thuế

- Ba là, thanh tra việc thực hiện kê khai thuế và nộp thuế Nội dung thanh tra

này là “Kiểm tra căn cứ tính thuế thực hiện thông qua việc xem xét, đối chiếu các sổ sách kế toán, chứng từ hóa đơn và các tài liệu có liên quan: tờ khai, bảng kê mua vào bán ra, tờ khai tự quyết toán… DN tự tính so với các quy định hiện hành và thực tế SXKD để phát hiện số thuế đơn vị khai thiếu, số thuế ẩn lậu…” [6, tr.503]

Kết quả của nội dung thanh tra này nhằm làm rõ tính hợp lý của các tờ khai thuế, cách tính thuế có phù hợp với BCTC, các hợp đồng kinh tế gốc, sổ sách, chứng

từ, hóa đơn hay không… Đây là một nội dung rất quan trọng trong hoạt động thanh tra thuế, đòi hỏi cán bộ thuế phải nắm vững nội dung quy định của các sắc thuế, các văn bản hướng dẫn thực hiện, đồng thời thông thạo nghiệp vụ kế toán

Bước cuối cùng trong nội dung thanh tra này là xem xét việc kê khai và nộp thuế của DN có đảm bảo theo đúng các qui định hiện hành hay không, số tiền thuế

đã được nộp vào NSNN hay chưa? nếu nợ đọng thì xác định nguyên nhân nợ để đôn đốc thu nợ

Tóm lại, trên đây là một số nội dung trọng yếu, bắt buộc phải được thực hiện trong hoạt động thanh tra thuế tại DN Trong thực tế, tùy theo yêu cầu của từng cuộc thanh tra, khả năng về nguồn lực, về thời gian mà CQT có thể giới hạn, trọng tâm nội dung thanh tra cho phù hợp VD: Nội dung thanh tra có thể theo một chuyên

đề nhất định như: thanh tra nợ đọng thuế, chống chuyển giá; hoặc có thể chỉ tập trung

Trang 25

vào việc thực hiện một sắc thuế nào đó: Thuế GTGT, Thuế TNDN, Thuế Tiêu thụ đặc biệt, Thuế TNCN… Để có thể hoàn thành hiệu quả nhất cuộc thanh tra, thì tất cả phải dựa trên cơ sở phân tích, đánh giá rủi ro để xác định trọng tâm nội dung thanh tra thuế

1.1.5 Quy trình thanh tra thuế

Quy trình thanh tra thuế là trình tự các bước công việc cụ thể bắt buộc phải tuân thủ khi thực hiện một quyết định thanh tra thuế, một chương trình thanh tra hay một kế hoạch thanh tra cụ thể

Dưới đây là quy trình thanh tra thuế tại trụ sở NNT, bao gồm các bước logíc thể hiện ở bảng 1.1 sau:

Bảng 1.1: Quy trình thanh tra thuế

Bước 1:

Lập kế hoạch

thanh tra năm

1.1 Thu thập, khai thác thông tin, dữ liệu về NNT

1.2 Đánh giá, phân tích để lựa chọn đối tượng thanh tra 1.3 Trình, duyệt kế hoạch thanh tra năm

1.4 Điều chỉnh, bổ sung kế hoạch thanh tra năm 1.5 Tổng hợp, báo cáo kế hoạch thanh tra

2.5 Điều chỉnh nội dung thanh tra hoặc gia hạn thanh tra 2.6 Lập biên bản thanh tra

2.7 Công bố công khai biên bản thanh tra

Bước 3:

Xử lý kết quả

sau thanh tra

3.1 Báo cáo kết quả thanh tra 3.2 Kết luận thanh tra và các quyết định xử lý kết quả thanh tra

3.3 Ban hành kết luận thanh tra và các quyết định xử lý kết quả thanh tra

3.4 Nhập dữ liệu kết quả thanh tra vào cơ sở dữ liệu của ngành

Bước 4:

Tổng hợp báo cáo

và lưu giữ kết quả

sau thanh tra

4.1 Báo cáo kết quả thanh tra tháng 4.2 Báo cáo kết quả thanh tra quý 4.3 Báo cáo kết quả thanh tra năm 4.4 Lưu giữ hồ sơ thanh tra

(Nguồn: Tổng cục thuế)

Trang 26

1.1.6 Phương pháp thanh tra thuế

Phương pháp thanh tra đóng vai trò quan trọng trong việc phát huy hiệu quả của công tác thanh tra thuế Những phương pháp được sử dụng trong công tác thanh tra thuế bao gồm:

 Phương pháp vận dụng kỹ thuật QLRR

Phương pháp thanh tra thuế theo QLRR thực chất là việc phân loại, đánh giá NNT dựa trên nền tảng là hệ thống các tiêu chí, chỉ số phân tích, đánh giá rủi ro thuế nhằm lựa chọn ra những NNT có mức độ tuân thủ thuế thấp và khả năng gian lận thuế cao, từ đó, tập trung nguồn lực thanh tra theo nguyên tắc: ưu tiên nguồn lực thanh tra những NNT được đánh giá xếp hạng mức độ rủi ro thuế cao đồng thời áp dụng các biện pháp phù hợp đối với những trường hợp được đánh giá xếp hạng mức

độ rủi ro thuế thấp Đây là phương pháp tiên tiến, hiện đại mà hầu hết các nước phát triển đã áp dụng Riêng nước ta, chính thức áp dụng từ năm 2013 (theo Luật sửa đổi

bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế năm 2012)

 Phương pháp đối chiếu, so sánh

Phương pháp đối chiếu, so sánh là phương pháp nghiệp vụ được sử dụng chủ yếu trong suốt quá trình tiến hành một cuộc thanh tra, kiểm tra thuế

Cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế cần tiến hành đối chiếu, so sánh các nội dung cần thanh tra, kiểm tra để xác định tính hợp lý, khách quan, trung thực của nội dung cuộc kiểm tra: Đối chiếu tài liệu, số liệu của đơn vị đƣợc kiểm tra với các đơn vị khác; đối chiếu giữa báo cáo kế toán với sổ kế toán, giữa sổ tổng hợp với chi tiết, giữa số liệu và chứng từ, giữa số liệu báo cáo và thực tế, giữa nội dung tài liệu, báo cáo sổ sách, chứng từ với chuẩn mực…

 Phương pháp kiểm tra đi từ tổng hợp đến chi tiết

Phương pháp này gọi là phương pháp kiểm tra ngược chiều, khi kiểm tra từ tổng hợp đến chi tiết chứ không phải từ chi tiết tới tổng hợp như trình tự hạch toán

kế toán Kiểm tra từ tổng hợp tới chi tiết giúp cán bộ phát hiện những mâu thuẫn, những vấn đề chính, những bất thường để tiến hành thanh tra, kiểm tra, tránh dàn trải không trọng tâm Kiểm tra số liệu tổng hợp được tiến hành với các số liệu đã được tổng hợp theo nội dung kinh tế, phản ánh trên các báo cáo tổng hợp (Bảng tổng kết tài sản, báo cáo kết quả kinh doanh…), rút ra nhận xét tổng quát và vấn đề

Trang 27

cần đi sâu kiểm tra Kiểm tra số liệu chi tiết là kiểm tra số liệu của từng nghiệp vụ kinh tế phát sinh, thể hiện trên chứng từ gốc hoặc bảng kê chi tiết

 Phương pháp kiểm tra chứng từ gốc

Bao gồm: Kiểm tra chứng từ theo trình tự thời gian phát sinh; Kiểm tra theo loại hình nghiệp vụ: chứng từ thu, chi tiền mặt; chứng từ nhập, xuất vật tư…; Kiểm tra điển hình: là lựa chọn ngẫu nhiên một số chứng từ của một loại nghiệp vụ nào đó

để kiểm tra, xem xét và rút ra kết luận chung

 Phương pháp kiểm tra bổ trợ

Phương pháp kiểm tra bổ trợ bao gồm: Phương pháp quan sát; Phương pháp phỏng vấn; Phương pháp thẩm tra và xác nhận từng phần; Phương pháp toán học như số học, toán kinh tế…

1.2 QLRR trong công tác thanh tra thuế

1.2.1 Khái niệm rủi ro và QLRR

Rủi ro có thể được hiểu là một thuật ngữ dùng để chỉ khả năng xảy ra những biến cố bất thường và mang lại kết quả không mong đợi trong mọi lĩnh vực, hoạt động của đời sống KTXH Con người không thể biết chắc chắn rủi ro có xảy ra hay không, bởi rủi ro là sự kiện có thể xảy ra trong tương lai, không chắc chắn, không thể đoán trước được và không xác định trước được những thiệt hại hoặc lợi ích nào

đó

Từ đó, có thể khái quát khái niệm rủi ro như sau: Rủi ro là một sự kiện hoặc một điều kiện không chắc chắn mà nếu xảy ra sẽ làm ảnh hưởng tiêu cực hoặc tích cực (xảy ra ít hơn) đến mục tiêu hoạt động

Mỗi lĩnh vực hoạt động khác nhau đều có những rủi ro khác nhau Vì vậy, các nhà quản lý cần nghiên cứu nội dung cũng như tác động của rủi ro trong các lĩnh vực cụ thể để có các cách thức QLRR tương ứng Ở lĩnh vực kinh tế tài chính, mục tiêu hoạt động đặt ra mức độ an toàn, ổn định là trên hết như: tín dụng, thu thuế thì hệ quả rủi ro gây ra chỉ là tiêu cực, bất lợi

Ở đâu có rủi ro, ở đó tất yếu phải có QLRR nhằm đảm bảo mục tiêu hiệu quả

Đã có một số khái niệm về QLRR được các chuyên gia đưa ra nhưng tựu trung lại khái niệm QLRR sau đây cơ bản được các nhà quản trị chấp nhận, đó là: QLRR là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm

Trang 28

soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro đồng thời tìm cách biến rủi ro thành những cơ hội thành công

Từ đó, QLRR có thể được hiểu là quá trình lựa chọn và thực hiện các giải pháp trong bối cảnh nguồn lực có hạn so với yêu cầu nhiệm vụ, mục tiêu đặt ra ngày càng to lớn nhằm giảm thiểu nguy cơ, tổn thất đe dọa đến sự hoàn thành nhiệm vụ, mục tiêu của một tổ chức Như vậy, điều quan trọng trong QLRR là dành ưu tiên mọi nguồn lực vào quản lý những rủi ro có thể gây ra tổn thất lớn nhất và những rủi ro có nhiều khả năng xảy ra nhất, tiếp đến là quản lý những rủi ro có tổn thất thấp hơn và ít có khả năng xảy ra hơn

1.2.2 Khái niệm rủi ro thuế và QLRR trong công tác thanh tra thuế

1.2.2.1 Khái niệm rủi ro thuế

Từ khái niệm rủi ro, có thể suy ra khái niệm rủi ro thuế như sau:

- Rủi ro thuế là những sự kiện hoặc/và hành vi không tuân thủ cơ chế, chính sách và pháp luật về thuế của NNT xảy ra trên thực tế (trong môi trường hoặc hoàn cảnh nhất định nào đó) hoặc cán bộ thuế không làm đúng quy định… làm ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý thuế và số thu vào NSNN

- Còn Thông tư 204/2015/TT-BTC ngày 21/12/2015 của BTC Quy định về

áp dụng QLRR trong quản lý thuế đã đưa ra khái niệm này như sau: “Rủi

ro thuế” là nguy cơ không tuân thủ chính sách pháp luật thuế, phí, lệ phí

và các khoản thu khác thuộc NSNN của NNT dẫn đến thất thu NSNN trong quản lý thu thuế

Rủi ro thuế có thể xảy ra trên hai mặt:

- Xây dựng chính sách, pháp luật về thuế

- Trong quá trình thực thi pháp luật về thuế hay trong quá trình quản lý thuế của Nhà nước - đây là rủi ro chủ yếu và là nội dung nghiên cứu của luận văn

Rủi ro về thuế khi xảy ra sẽ luôn dẫn đến hệ quả bất lợi cho Nhà nước, đó là làm cho Nhà nước bị thất thu về thuế, vì vậy, QLRR trong quản lý thuế là rất cần thiết

Trang 29

1.2.2.2 Khái niệm QLRR trong công tác thanh tra thuế

Từ năm 2000 đến nay, cùng với chiến lược mở cửa nền kinh tế theo hướng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu, chiến lược cải cách thuế Việt Nam cũng không ngừng được triển khai, hoàn thiện Đặc biệt từ năm 2006, cơ chế quản lý thuế nước ta đã thực hiện theo cơ chế NNT tự tính, tự khai, tự nộp thuế và tự chịu trách nhiệm về thực hiện nghĩa vụ thuế đồng thời CQT cũng đã đổi mới quản lý thuế chủ yếu theo chức năng, bao gồm các chức năng chính: Tuyên truyền, hỗ trợ; xử lý tờ khai và kế toán thuế; thu nợ và cưỡng chế nợ thuế; kiểm tra, thanh tra thuế Trong

đó chức năng thanh tra thuế là chức năng trọng tâm của CQT trong cơ chế quản lý thuế này Hơn nữa, từ năm 2010 tới nay số lượng DN, cá nhân NNT đang tăng lên

và ngày càng lớn (hàng trăm ngàn DN, hàng chục triệu cá nhân), nếu quản lý thuế nói chung và thanh tra thuế nói riêng vẫn làm kiểu truyền thống là kiểm tra lần lượt NNT thì sẽ không đủ nguồn nhân lực và sẽ không đem lại hiệu quả cao Do vậy, quản lý thuế nói chung và thanh tra thuế nói riêng phải chuyển sang cơ chế QLRR

là rất cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động ngành thuế

 Vậy QLRR trong quản lý thuế là gì?

Luật số 21/2012/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế, đã xác định: “QLRR trong quản lý thuế là việc áp dụng có hệ thống các quy định pháp luật, các quy trình nghiệp vụ để xác định, đánh giá và phân loại các rủi ro có thể tác động tiêu cực đến hiệu quả, hiệu lực quản lý thuế, làm cơ sở để cơ quan quản lý thuế phân bổ nguồn lực hợp lý, áp dụng các biện pháp quản lý hiệu quả.”

Chúng ta cũng biết rằng, theo quy định mới nhất (thông tư BTC ngày 21/12/2015 của BTC), QLRR trong quản lý thuế áp dụng đối với 8 công việc, trong đó, QLRR trong công tác thanh tra thuế với nhiệm vụ trọng

204/2015/TT-tâm là xác định, lựa chọn NNT để thực hiện đưa vào kế hoạch thanh tra thuế theo quy định của pháp luật được coi là một nội dung quan trọng

Từ đó, có thể hiểu khái niệm về QLRR trong công tác thanh tra thuế như sau: QLRR trong công tác thanh tra thuế là việc CQT nhận diện, đánh giá rủi ro về thuế trên cơ sở thu thập và xử lý thông tin về NNT, từ đó xác định, lựa chọn NNT để thực hiện đưa vào kế hoạch thanh tra thuế theo quy định của pháp luật, ngay sau đó tiến hành hoạt động thanh tra thuế theo hướng ưu tiên dành nguồn lực cho việc

Trang 30

thanh tra những đối tượng có rủi ro cao về thuế và ngược lại nhằm nâng cao hiệu quả thanh tra thuế

1.2.3 Quy trình QLRR trong công tác thanh tra thuế đối với DN

Để việc QLRR có thể đạt được hiệu quả cao nhất, hạn chế được những rủi ro tiềm tàng trong quá trình thanh tra thuế đến mức thấp nhất, cần phải xây dựng và thực hiện một quy trình QLRR khoa học, thống nhất Theo các chuyên gia tài chính thuế, quy trình QLRR này bao gồm các bước như: (i) xác định loại rủi ro, (ii) phân tích rủi

ro, (iii) đánh giá rủi ro, (iv) lựa chọn lập danh sách các đối tượng NNT đã được đánh giá xếp hạng mức độ rủi ro cao để lập kế hoạch và thực hiện

Trong quy trình QLRR đó, ở bước phân tích rủi ro và đánh giá rủi ro đối với NNT, một yêu cầu cần thiết ở bước này là (i) xây dựng tiêu chí và chỉ số quản lý rủi ro và (ii) xây dựng tiêu chí và chỉ số đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật thuế của NNT để có cơ

sở so sánh, đánh giá hợp lý Việc quy định các tiêu chí, chỉ số làm cơ sở để đánh giá, cần dựa vào tiêu chí về nghiệp vụ, tài chính, pháp lý, xã hội và một loạt các tiêu chí khác Các tiêu chí, chỉ số này có thể thay đổi tuỳ theo từng thời kỳ, phụ thuộc vào mục tiêu, chính sách quản lý của CQT, phụ thuộc vào hoàn cảnh liên quan Tiêu chí này được xây dựng trên cơ sở mức độ rủi ro về thuế mà CQT có thể chấp nhận được Dựa trên những đặc trưng của rủi ro về thuế và quy trình thanh tra thuế (đã trình bày ở mục 1.1.7), có thể xây dựng một quy trình QLRR trong công tác thanh tra thuế với các bước theo thứ tự, thể hiện ở sơ đồ 1.1 bên dưới

(i) Bước 1: Xác định rủi ro về thuế: Xác định rủi ro bằng thực hiện hành

động rà soát mọi nguồn gốc của rủi ro và triển vọng đối với mọi đối tác có liên quan như: các Cục thuế địa phương, các ngành khác hoặc xác định rủi ro tiềm tàng có thể xảy ra từ tất cả các khía cạnh khác nhau, thu thập thông tin về DN

(ii) Bước 2: Phân tích rủi ro về thuế: Phân tích rủi ro được hiểu là việc sử

dụng các thông tin sẵn có một cách có hệ thống để xác định tần xuất xuất hiện của các rủi ro đã xác định và mức độ tác động có thể của các rủi ro đó Phân tích rủi ro thuế đã được xác định bằng cách đánh giá khả năng xảy ra và hậu quả của những rủi ro về thuế có thể chấp nhận được Đồng thời, sử dụng các phương pháp phân tích để so sánh giữa các chỉ tiêu xác định rủi ro Phân tích

Trang 31

rủi ro gắn với việc xem xét các nguyên nhân gây ra rủi ro như: ý thức của

DN hoặc sự thay đổi của chính sách thuế cũng như hậu quả và khả năng xảy

ra hậu quả đó Rủi ro được phân tích bằng cách kết hợp xác suất của rủi ro và mức độ tác động nếu rủi ro xảy ra Để áp dụng QLRR vào hoạt động thanh tra thuế, có nhiều nội dung cần phân tích, trong đó có hai nội dung quan trọng hàng đầu là (i) Phân tích báo cáo tài chính và (ii) Phân tích mức độ tuân thủ

về kê khai thuế, nộp thuế của NNT (nội dung này sẽ trình bày ở bước 3)

Sơ đồ 1.1: Quy trình QLRR trong công tác thanh tra thuế

(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp) Phân tích báo cáo tài chính được thực hiện qua 3 cách: là phân tích chiều dọc,

phân tích chiều ngang các BCTC và phân tích các tỷ suất tài chính của DN

Như vậy, trên cơ sở phân tích rủi ro, CQT có thể lựa chọn đối tượng thanh tra đúng đắn hơn, lựa chọn nội dung thanh tra và phạm vi thanh tra có trọng tâm, trọng điểm Tuy nhiên, khi phân tích cần lưu ý thêm các yếu tố đặc thù có thể gây ra rủi ro

Xác định rủi ro về thuế

Giám sát tình hình

QLRR

Nguồn dữ liệu phân tích rủi

ro, đánh giá rủi ro:

- Báo cáo Tài chính;

- Tình hình đăng ký, kê khai, nộp thuế;

- Tình hình nợ thuế, số thuế truy thu & phạt (nếu có);

- Các vi phạm pháp luật thuế đã phát hiện;

- Các kiến nghị, yêu cầu

Lập kế hoạch và thực hiện thanh tra thuế

Đánh giá xếp hạng mức độ rủi ro

Phân tích rủi ro về thuế

Đánh giá rủi ro thuế

Đánhgiá tuân thủ

pháp luật thuế

Trang 32

cao như: lĩnh vực hoạt động, kinh doanh của DN, địa bàn được ưu đãi thuế, dễ dàng tránh thuế hoặc các giao dịch tài chính phức tạp như bán, cho thuê tài sản, DN có giao dịch với các bên liên kết hoặc có sự chuyển đổi những lợi nhuận sang các tổ chức không bị đánh thuế, bán các tài sản và khoản đầu tư lớn, có điều chỉnh về thuế lớn so với các thông tin tài chính công bố ra bên ngoài và thuế thấp hoặc không có thuế, hoặc trong lịch sử đã có các hành vi vi phạm về thuế để xác định mức độ rủi ro đối với từng

DN

Bước 3: Đánh giá rủi ro thuế: Cán bộ thanh tra áp các rủi ro ở các mức độ

đã xác định được với các tiêu chí đã được xây dựng làm cơ sở để phân loại mức độ rủi ro, trong đó, xếp loại rủi ro thấp có thể chấp nhận và không cần thiết phải xử lý Sau đó, xếp loại các rủi ro còn lại để áp dụng mức độ ưu tiên cần tập trung xử lý và đưa ra các biện pháp xử lý cho phù hợp Đánh giá rủi ro

ở đây tập trung vào hai phương diện:

- Thứ nhất, đánh giá tuân thủ pháp luật thuế của NNT: Đây thực chất là

bước tập trung vào đánh giá, phân tích tình hình tuân thủ việc nộp tờ khai thuế, tờ khai quyết toán thuế có đầy đủ, đúng hạn? tỷ lệ nợ đọng trên tổng

số thuế phải nộp? mức độ chấp hành các quyết định của CQT về truy thu,

xử phạt thuế, lịch sử hành vi vi phạm về thuế… Ở đây, cán bộ thanh tra có

thể đánh giá được khả năng tuân thủ của DN đến đâu, theo mức từ NNT

tuân thủ tốt đến NNT tuân thủ thấp Theo quy định hiện hành, đánh giá

tuân thủ pháp luật thuế của NNT bao gồm 03 mức: NNT tuân thủ tốt; NNT tuân thủ trung bình và NNT tuân thủ kém dựa trên các chỉ số hay điều kiện để xếp loại vào từng mức cụ thể, từ đó xếp hạng mức độ tuân thủ thuế cao hay thấp của DN

- Thứ hai, đánh giá xếp hạng mức độ rủi ro của NNT: Trên cơ sở đánh giá

mức độ tuân thủ pháp luật thuế của NNT và dựa vào hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin nghiệp vụ thuế, trong đó có nghiệp vụ thanh tra thuế, mà CQT đã thu thập được, cán bộ thanh tra thuế tiến hành đánh giá, xếp hạng mức độ rủi ro của NNT theo các mức từ NNT có rủi ro rất thấp đến NNT

có rủi ro cao nhất Theo quy định hiện hành, đánh giá xếp hạng mức độ rủi

ro thuế của NNT bao gồm 06 mức: Hạng 1: Người nộp thuế rủi ro rất

Trang 33

thấp; Hạng 2: Người nộp thuế rủi ro thấp; Hạng 3: Người nộp thuế rủi ro trung bình; Hạng 4: Người nộp thuế rủi ro cao; Hạng 5: Người nộp thuế rủi ro rất cao; Hạng 6: Người nộp thuế có thời gian hoạt động dưới 12 tháng., làm cơ sở để lập kế hoạch thanh tra thuế

Bước 4: Lập kế hoạch và thực hiện thanh tra thuế: Đây là công đoạn bắt buộc,

thiết yếu trong quy trình QLRR trong công tác thanh tra thuế Có thể nói, đây chính

là quá trình biện pháp xử lý rủi ro thuế

(i) Khi lập kế hoạch QLRR trong công tác thanh tra thuế, cán bộ thanh tra phải căn cứ vào: Kết quả đánh giá xếp hạng mức độ rủi ro của NNT, đã làm ở bước 3 và Danh sách các trường hợp được lựa chọn để thanh tra thuế tại trụ sở NNT, danh sách này được lập ra căn cứ vào tiêu chí lựa chọn đối tượng NNT có dấu hiệu rủi ro thuế để xây dựng kế hoạch thanh tra tại trụ sở NNT

Theo quy định hiện hành, tiêu chí hay nguyên tắc lập danh sách các trường hợp được lựa chọn để thanh tra thuế là: số DN lập kế hoạch thanh tra thuế yêu cầu phải đạt tỷ lệ từ 1% đến 2% tổng số DN đang hoạt động và danh sách thanh tra do

Bộ trưởng BTC quyết định;

Còn tiêu chí lựa chọn trường hợp thanh tra tại trụ sở NNT là:

- Số trường hợp được lựa chọn qua phân tích, đánh giá xếp hạng mức độ rủi

ro không dưới 90% số lượng trường hợp được thanh tra theo kế hoạch hàng năm;

- Số trường hợp được lựa chọn ngẫu nhiên không quá tỷ lệ 10% số lượng trường hợp được thanh tra theo kế hoạch hàng năm Việc lựa chọn trường hợp thanh tra NNT do CQT quyết định

(ii) Trong quá trình thực hiện kế hoạch QLRR trong công tác thanh tra thuế tại trụ sở NNT, đoàn thanh tra thuế thực hiện các biện pháp, quy trình thanh tra theo quy định Cần phải chú ý sự thay đổi của rủi ro so với kế hoạch dự kiến để có bước

xử lý rủi ro thích hợp nhưng vẫn đảm bảo được mục tiêu thanh tra

Như vậy, qua phân tích các bước trong quy trình QLRR trong công tác thanh tra thuế, cho thấy: giữa các bước có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, bước trước là điều kiện cho bước sau Cụ thể: việc xác định rủi ro và đánh giá rủi ro sẽ quyết định khối lượng công việc thanh tra cần thực hiện Nếu đánh giá rủi ro đúng và đánh giá

Trang 34

tuân thủ pháp luật thuế của NNT chính xác thì việc thanh tra sẽ được thực hiện có trọng tâm, trọng điểm, từ đó giúp công tác thanh tra đạt hiệu quả cao Vì vậy, cần phải xem trọng tất cả các bước trong quy trình đó

1.2.4 Các tiêu chí, chỉ số đánh giá rủi ro trong thanh tra thuế đối với DN

Các tiêu chí, chỉ số áp dụng QLRR trong thanh tra thuế đối với DN là cơ sở, điều kiện để so sánh, phân tích tình hình tài chính của DN, tình hình thực hiện tuân thủ pháp luật thuế của DN, từ đó, đánh giá mức độ rủi ro thuế của DN Nếu các tiêu chí, chỉ số phân loại, đánh giá rủi ro xác định đúng đắn, đầy đủ, sát thực tế hoạt động SXKD và nộp thuế của DN thì việc xác định, đánh giá rủi ro thuế của DN sẽ đảm bảo tính khách quan, hợp lý và ngược lại

Tiêu chí phân tích đánh giá rủi ro trong thanh tra thuế có vai trò quan trọng đối với CQT trong việc phân loại, lựa chọn đối tượng thanh tra, từ đó, có cơ sở xây dựng

kế hoạch thanh tra, bố trí nhân lực, chuẩn bị điều kiện cần thiết để thực hiện thanh tra hiệu quả Mặt khác, quá trình thực hiện và đánh giá việc chấp hành nghĩa vụ thuế của NNT theo tiêu chí, chỉ số rủi ro sẽ góp phần nâng cao ý thức tuân thủ của NNT, đảm bảo công khai, minh bạch trong quản lý thuế, xây dựng môi trường xã hội tiến bộ hơn

Để đánh giá rủi ro được đầy đủ và toàn diện, cần đánh giá rủi ro theo cả tiêu chí định lượng và định tính Trước đây và kể cả khi có thông tư số 204/2015/TT-BTC ngày 21/12/2015 của BTC, ngành thuế đang áp dụng các bộ tiêu chí, chỉ số sau:

1.2.4.1 Các tiêu chí định lượng

Các tiêu chí định lượng đánh giá rủi ro của DN gồm (i) Tiêu chí rủi ro tĩnh là tiêu chí có tính ổn định tương đối, ít biến động giữa các kỳ tính thuế và (ii) Tiêu chí rủi ro động là tiêu chí có thể biến động theo thời gian gắn với hoạt động SXKD hoặc

sự thay đổi trong tính tuân thủ của NNT Cụ thể xem sơ đồ 1.2 sau:

Trang 35

Sơ đồ 1.2: Các tiêu chí định lượng đánh giá rủi ro

(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)

a Các tiêu chí rủi ro tĩnh

Thuộc hệ thống tiêu chí rủi ro định lượng tĩnh có tiêu chí sau: Mức vốn điều lệ hoặc vốn đầu tư; Tỷ trọng vốn nhà nước trong tổng vốn điều lệ Cụ thể:

(i) Mức vốn điều lệ hoặc vốn đầu tư:

Mức vốn điều lệ hoặc mức vốn đầu tư là mức vốn mà chủ sở hữu DN bỏ ra để đầu tư vào hoạt động SXKD và được ghi trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

Ý nghĩa của tiêu chí: Vốn điều lệ hoặc vốn đầu tư của DN lớn phản ánh khả năng tài chính vững vàng DN vốn lớn thường ít có rủi ro về thuế hơn DN vốn nhỏ Mặc dù DN có thể tăng/giảm vốn điều lệ hoặc vốn đầu tư nhưng thường chỉ thay đổi gắn với những quyết định dài hạn của chủ DN, không gắn với quá trình kinh doanh bình thường của DN

(ii) Tỷ trọng vốn nhà nước trong tổng vốn điều lệ:

CÁC TIÊU CHÍ ĐỊNH LƯỢNG

Nhóm tiêu chí về tài chính của DN

Nhóm tiêu chí tuân thủ pháp luật thuế

CÁC TIÊU CHÍ RỦI RO ĐỘNG

Trang 36

Ý nghĩa của tiêu chí: cho biết DN đó là DN nhà nước với cơ chế tài chính chặt chẽ Mức độ rủi ro của những DN này thường thấp hơn DN khác.Tỷ trọng vốn nhà nước trong tổng vốn điều lệ 100 %

b Các tiêu chí rủi ro động

Các tiêu chí rủi ro động là các tiêu chí phản ánh các rủi ro thường xuyên biến động, riêng biệt từng loại hình DN, được CQT áp dụng trong từng thời kỳ và yêu cầu quản lý Thuộc nhóm tiêu chí động, có thể thống kê 2 nhóm tiêu chí:

b1 Nhóm tiêu chí về tình hình tuân thủ pháp luật thuế

Thuộc nhóm tiêu chí này gồm có 4 tiêu chí sau:

(i) Số lần chậm nộp hồ sơ khai thuế trong một năm: Chỉ tiêu này cho biết mức

độ chấp hành về thời hạn nộp tờ khai thuế Chỉ tiêu này càng cao càng chứng tỏ ý thức tuân thủ của NNT thấp, mức độ rủi ro về thuế cao

(ii) Tỷ lệ thuế thu nhập DN phát sinh so với doanh thu thuần của DN:

Ý nghĩa của tiêu chí: Được sử dụng để so sánh giữa các năm nhằm thấy được mức độ nộp thuế TNDN so với doanh thu thuần của DN Nếu tỷ lệ này quá thấp

so với tỷ lệ chung của ngành thì có dấu hiệu rủi ro Tỷ lệ này biến động quá nhiều giữa các năm cũng có dấu hiệu rủi ro

(iii) Tỷ lệ thuế GTGT phát sinh so với doanh thu hàng hoá dịch vụ bán ra

Ý nghĩa của tiêu chí: Được sử dụng để so sánh giữa các năm nhằm thấy được mức độ nộp thuế GTGT so với doanh thu của DN Tương tự như tiêu chí tỷ lệ thuế thu nhập DN so với doanh thu thuần, nếu tỷ lệ này quá thấp so với tỷ lệ chung của ngành thì có dấu hiệu rủi ro Tỷ lệ này biến động quá nhiều giữa các năm cũng

có dấu hiệu rủi ro

Tỷ lệ thuế TNDN

so với doanh thu =

Số thuế TNDN phát sinh trong năm tính thuế

Doanh thu thuần của DN

Số thuế GTGT phát sinh trong năm tính thuế

Doanh thu hàng hóa, dịch vụ bán ra

X 100%

Trang 37

(iv) Số thuế truy thu trong lần thanh tra gần nhất:

Cách xác định: là Số thuế truy thu và phạt ghi trên Quyết định truy thu của kỳ thanh tra gần nhất

Ý nghĩa của tiêu chí: Tiêu chí số thuế truy thu trong lần thanh tra gần nhất một mặt cho biết khả năng phát hiện gian lận của CQT nhưng nó cũng phản ánh mức độ tuân thủ của DN DN có số thuế truy thu trong lần thanh tra gần nhất càng lớn thì rủi

ro về thuế càng cao

b2 Nhóm tiêu chí về tình hình tài chính của DN

Thuộc nhóm này có 16 tiêu chí, chi tiết như sau:

- Tỷ lệ lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh so với doanh thu thuần;

- Tỷ lệ lợi nhuận trước thuế so với doanh thu thuần;

- Tỷ lệ lợi nhuận sau thuế so với doanh thu thuần;

- Tỷ lệ lợi nhuận kế toán trước thuế so với vốn chủ sở hữu;

- Tỷ lệ giá vốn hàng bán so với doanh thu thuần;

- Tỷ lệ chi phí bán hàng so với doanh thu thuần;

- Tỷ lệ chi phí quản lý so với doanh thu thuần;

- Hệ số khả năng thanh toán tổng quát;

- Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn;

- Hệ số khả năng thanh toán nhanh;

- Tỷ lệ tổng dự phòng so với tổng chi phí SXKD;

- Tỷ lệ doanh thu thuần so với vốn chủ sở hữu;

- Tỷ lệ tổng doanh thu chịu thuế GTGT của hàng hoá dịch vụ bán ra so với tổng doanh thu thuần bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ và thu nhập khác;

- Tỷ lệ hàng tồn kho so với doanh thu thuần;

- Tỷ lệ lỗ lũy kế so với vốn chủ sở hữu;

- Tỷ lệ doanh thu với đơn vị có quan hệ liên kết trong tổng số doanh thu Cách xác định và ý nghĩa của từng chỉ tiêu xem chi tiết ở Phụ lục 1

b3 Nhóm tiêu chí phản ánh sự bất thường về hoạt động SXKD của DN

Nhóm tiêu chí này phản ánh khả năng xảy ra gian lận thuế do có những biến động bất thường về nghĩa vụ thuế, về tình hình SXKD, tình hình tài chính Có thể coi đây là những tiêu chí thể hiện những dấu hiệu cụ thể của rủi ro Cụ thể là:

Trang 38

- Các tiêu chí phản ánh sự bất thường về thuế phải nộp, quy mô kinh doanh của DN như: Doanh thu nhỏ hơn vốn chủ sở hữu; Số thuế TNDN được miễn giảm lớn; Có chênh lệch giữa doanh thu tính thuế GTGT và thuế TNDN; Tổng lợi nhuận trước thuế thấp; Không phân bổ thuế GTGT đầu vào cho doanh thu không chịu thuế GTGT…

- Các tiêu chí liên quan đến các tài khoản tiềm ẩn rủi ro, gồm: Khách hàng trả tiền trước lớn; Chi phí phải trả lớn; Các khoản giảm trừ doanh thu lớn; Hàng tồn kho ảo (tỷ lệ giữa hàng tồn kho và doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ); Tổng chi phí dự phòng lớn (Dự phòng phải thu lớn; Dự phòng giảm giá hàng tồn kho lớn); Lãi vay chưa vốn hóa; Dư có tài khoản Phải trả cho người bán lớn

- Các tiêu chí liên quan đến hoàn thuế, gồm: Số thuế GTGT đề nghị hoàn;

Có số thuế GTGT âm lớn nhưng không đề nghị hoàn thuế

Việc tính toán các tiêu chí rủi ro cần hết sức linh hoạt và không nên máy móc

áp dụng chung cho toàn bộ loại hình DN nhằm luôn có sự so sánh qua các năm, so sánh với DN có cùng đặc điểm, quy mô hoặc so sánh với mức bình quân chung của ngành để làm rõ mức độ rủi ro về thuế trong tương quan chung

1.2.4.2 Các tiêu chí định tính

Các tiêu chí rủi ro định tính là các tiêu chí không thể lượng hóa được cụ thể bằng con số tuyệt đối hoặc tương đối Có thể ước lượng các tiêu chí này thông qua các xu hướng hoặc những tác động của rủi ro đến hành vi tuân thủ các quy định về BCTC, sổ sách chứng từ, tuân thủ kê khai, tính thuế của DN Thuộc nhóm tiêu chí rủi ro định tính có các chỉ tiêu sau (xem sơ đồ 1.3 bên dưới)

a Nhân thân của chủ DN: Nhân thân của chủ DN có tác động trực tiếp đến

mức độ tuân thủ thuế nên ảnh hưởng trực tiếp đến rủi ro về thuế Nhân thân không tốt, chẳng hạn: chủ DN đã từng có tiền án, tiền sự, cho thấy có dấu hiệu có rủi ro về tuân thủ thuế Tuy nhiên, không thể đo lường cụ thể nhân thân tốt bằng con số cụ thể mặc dù khi tin học hóa để áp dụng QLRR có thể gán điểm cho yếu tố này Trong trường hợp này, việc gán điểm chỉ có ý nghĩa tương đối mà thôi

b Loại hình DN xếp theo tính chất sở hữu: Thực tế cho thấy DN nhà nước

thường có xu thế tuân thủ thuế tốt hơn DN dân doanh nhưng tốt hơn ở mức cụ thể

Trang 39

nào thì không thể đo lường bằng con số cụ thể mặc dù tương tự như điểm a, CQT có thể gán điểm để mặc định mức độ rủi ro về thuế

Sơ đồ 1.3: Các tiêu chí định tính đánh giá rủi ro

(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)

c Ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh của DN: Ngành nghề hoặc lĩnh vực kinh

doanh có ảnh hưởng đến rủi ro về thuế Thực tế cho thấy, phần lớn các DN “ma” thời gian qua là các DN kinh doanh trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ hoặc kinh doanh tổng hợp Do vậy, khi đánh giá rủi ro về thuế cần tính đến ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh của DN

d Mức độ hiểu biết pháp luật của chủ DN: Thông thường mức độ hiểu biết

pháp luật của chủ DN càng tốt thì rủi ro về thuế càng thấp Tất nhiên, vẫn có trường hợp chủ DN hiểu biết pháp luật tốt nhưng vận dụng hiểu biết đó để tránh thuế hoặc trốn thuế một cách tinh vi Dù sao, yếu tố này cũng cần được xem xét khi đánh giá rủi ro trong thanh tra thuế đối với DN

e Chất lượng hoạt động kiểm soát nội bộ của DN: Chất lượng hoạt động

kiểm soát nội bộ của DN tốt thì rủi ro tuân thủ thuế của DN thấp và ngược lại Tuy nhiên, chất lượng này cao đến mức độ nào thì lại không thể đo lường trực tiếp bằng con số được

f Chất lượng bộ máy kế toán của DN: Chất lượng của bộ máy kế toán DN

càng tốt thì rủi ro về thuế càng thấp, những sai sót không đáng có trong kê khai, tính thuế càng thấp và ngược lại

kiểm soát nội bộ của DN

Chất lượng bộ máy kế

toán của DN

Mức độ hiểu biết pháp luật của chủ của DN Loại DN xếp theo tính chất sở hữu

Trang 40

Các tiêu chí định tính đánh giá rủi ro trong thanh tra thuế đối với DN tuy không đo lường cụ thể bằng con số nhưng có thể yêu cầu DN cung cấp thông tin, thu thập thông tin qua công tác phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc điều tra xã hội học

1.2.4.3 Các chỉ số đánh giá kết quả áp dụng QLRR trong công tác thanh tra thuế

Trong trường hợp thanh tra thuế, ngoài việc sử dụng các tiêu chí để đánh giá, xếp hạng NNT theo QLRR đã trình bày ở trên CQT còn có thể áp dụng một số chỉ

số, bao gồm cả định lượng và định tính nhằm đánh giá việc thanh tra thuế trong cơ chế QLRR so với cơ chế lựa chọn ngẫu nhiên Cụ thể như sau:

a Các chỉ số định lượng:

Bao gồm các tiêu chí sau:

(i) Tỷ lệ số DN phát hiện có gian lận thuế so với tổng số DN được lựa chọn thanh tra theo QLRR Tỷ lệ này cho biết chất lượng lựa chọn đối tượng thanh tra

trên cơ sở áp dụng QLRR, có xác định đúng đối tượng gian lận hay không? Tỷ lệ này đạt 100% là tốt nhất, nó chứng tỏ việc lựa chọn DN để thanh tra trên cơ sở áp dụng QLRR là đúng đắn Nếu tỷ lệ này càng thấp thì càng chứng tỏ kết quả lựa chọn đối tượng thanh tra theo QLRR là kém, chưa phù hợp

(ii) Tỷ lệ số DN phát hiện có gian lận thuế khi lựa chọn thanh tra theo ngẫu nhiên, không lựa chọn trên cơ sở QLRR Tỷ lệ này đạt 0% là lý tưởng, nó chứng tỏ

việc không lựa chọn những DN này để thanh tra trên cơ sở áp dụng QLRR là đúng đắn, tuy nhiên khả năng này rất thấp Tỷ lệ này thấp thể hiện sự lựa chọn không thanh tra những DN này là đúng đắn, kết quả áp dụng QLRR tốt

(iii) Số thuế truy thu bình quân một DN qua thanh tra trên cơ sở lựa chọn theo QLRR Tiêu chí này phản ánh chất lượng lựa chọn đối tượng thanh tra trên cơ sở áp

dụng QLRR trên phương diện có xác định đúng đối tượng có gian lận lớn hay không Số thuế truy thu bình quân càng cao chứng tỏ lựa chọn DN để thanh tra theo QLRR là tốt Tất nhiên, nó cũng phản ánh kết quả công tác thanh tra tốt và cũng phản ánh mức độ tuân thủ ở những DN này thấp

(iv) Số thuế thuế truy thu bình quân một DN qua thanh tra khi lựa chọn ngẫu nhiên không theo QLRR Tiêu chí này phản ánh chất lượng lựa chọn đối tượng

Ngày đăng: 05/08/2019, 13:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4) Học viện Tài chính (2010), Giáo trình Quản lý thuế, NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lý thuế
Tác giả: Học viện Tài chính
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2010
5) Lê Quang Cường và Nguyễn Kim Quyên (2013), Giáo trình Thuế I, Đại học Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản kinh tế Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Thuế I
Tác giả: Lê Quang Cường và Nguyễn Kim Quyên
Nhà XB: Nhà xuất bản kinh tế Tp.HCM
Năm: 2013
6) Trần Ngọc Hoàng và Đỗ Hữu Tài đồng chủ biên (2015), Giáo trình tài chính tiền tệ, Nhà xuất bản Kinh Tế Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tài chính tiền tệ
Tác giả: Trần Ngọc Hoàng và Đỗ Hữu Tài đồng chủ biên
Nhà XB: Nhà xuất bản Kinh Tế Tp.HCM
Năm: 2015
7) Bùi Thái Quang - Tổng cục Hải quan (2015), Quản lý rủi ro trong quản lý thuế và kinh nghiệm cho Việt Nam, Tạp chí Tài chính số 10 kỳ 2-2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý rủi ro trong quản lý thuế và kinh nghiệm cho Việt Nam
Tác giả: Bùi Thái Quang - Tổng cục Hải quan
Năm: 2015
8) Trường Cán bộ thanh tra (2008), Giáo trình Nghiệp vụ công tác thanh tra, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Nghiệp vụ công tác thanh tra
Tác giả: Trường Cán bộ thanh tra
Nhà XB: NXB Giao thông vận tải
Năm: 2008
1) Bộ Tài chính (2011), Đề án tăng cường năng lực công tác thanh tra, kiểm tra NNT giai đoạn 2011-2020 ban hành kèm theo QĐ số 2162/QĐ-BTC ngày 08/09/2011 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, Hà Nội Khác
2) Bộ Tài chính (2015), Thông tư số 204/2015/TT-BTC ngày 21/12/2015 Quy định về áp dụng Quản lý rủi ro trong quản lý thuế, Hà Nội Khác
3) Học viện Tài chính (2009), Giáo trình Nghiệp vụ thuế, NXB Tài chính, Hà Nội Khác
9) Trần Huy Trường (2015), QLRR trong hoạt động thanh tra thuế đối với các DN ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Học Viện Tài chính, Hà Nội.- .Luật quản lý thuế (2006) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w