Con người và phát huy nhân tố con người đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, đúng như C.Mác đã dự báo, trong tương lai mọi khoa học đều gặp nhau ở một khoa học cao nhất – đó là khoa học về con người. Trong giai đoạn hiện nay, phát huy nhân tố con người đang trở thành một vấn đề thực tiễn sống động, có ảnh hưởng đến các nền tảng của nhân loại, đòi hỏi phải có chính sách xã hội hợp lý.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do và tớnh cấp thiết của đề tài
Vấn đề phỏt huy nhõn tố con người là vấn đề muụn thủa, một đề tài tưởngchừng đó cũ nhưng luụn luụn mới, một đối tượng nghiờn cứu của nhiều ngànhkhoa học, bởi lẽ thế giới xung quanh con người, và bản thõn con người luụn vậnđộng, biến đổi Xó hội ngày càng phỏt triển, nhận thức của con người ngày càngsõu rộng thỡ những vấn đề con người đặt ra cũng ngày càng phức tạp đa dạnghơn Con người và phỏt huy nhõn tố con người đó trở thành đối tượng nghiờncứu của nhiều ngành khoa học, đỳng như C.Mỏc đó dự bỏo, trong tương lai mọikhoa học đều gặp nhau ở một khoa học cao nhất – đú là khoa học về con người.Trong giai đoạn hiện nay, phỏt huy nhõn tố con người đang trở thành một vấn
đề thực tiễn sống động, cú ảnh hưởng đến cỏc nền tảng của nhõn loại, đũi hỏiphải cú chớnh sỏch xó hội hợp lý Vỡ vậy, việc tiếp tục nghiờn cứu vai trũ củachớnh sỏch xó hội đối với việc phỏt huy nhõn tố con người ở Việt Nam hiện nay
là một trong những nhiệm vụ cấp thiết đặt ra
2 Tình hình nghiên cứu đề tài.
Bàn về vai trũ của chớnh sỏch xó hội đối với việc phỏt huy nhõn tố conngười ở Việt Nam hiện nay , về một số yếu tố cần thiết để kíchthích tính tích cực của con ngời, khai thác tốt nhất nhõn tố conngười, có các bài viết:
- “Nguồn nhân lực trong CNH, HĐH đất nớc”- Tạp chí Triết
Trang 2- “Một số giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả nguồn lực con ngời” - Tạp chí Triết học, số 6- 1999, của TS Phạm Văn Đức
Về đặc điểm của trí tuệ, có bài:
“Trí tuệ - Nguồn lực vô tận của sự phát triển xã hội” - Tạp
chí Triết học, số 1- 1993, của PGS, TS Phạm Thị Ngọc Trầm
Bàn về định hớng phát triển con ngời, có bài
“Phát triển con ngời, tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH, HĐH nớc ta” - Tạp chí Cộng sản, số 19-1998, của GS, TSKH
Nguyễn Duy Quý
Về vai trò của giáo dục trong việc xây dựng nguồn nhânlực, về vị trí và vấn đề xây dựng lao động trí tuệ, về một
số điều kiện cần thiết để phát triển nguồn lực con ngời, có
các bài: “Phát triển giáo dục và đào tạo nhân tài để thực hiện CNH, HĐH đất nớc” - Tạp chí Cộng sản, số 1- 1997, của GS, VS
Thứ nhất, làm rõ cơ sở lý luận về chớnh sỏch xó hội, về nhõn tố
con người
Thứ hai, phân tích vai trũ của chớnh sỏch xó hội đối với việc phỏt
huy nhõn tố con người ở Việt Nam hiện nay
Trang 3Thứ ba, nêu ra sự vận dụng của Đảng ta trong việc phỏt huy nhõn tố
con người hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của tiểu luận là những quan điểm của C.Mác, Ph Ăngghen, V L.Lênin và Hồ Chí Minh; các văn kiện của
Đảng Cộng sản Việt Nam; t tởng của một số nhà khoa học cóliên quan đến nội dung đợc đề cập trong tiểu luận
Về mặt phơng pháp, tác giả sử dụng các phơng pháp:phân tích và tổng hợp, đối chiếu và so sánh, lôgic và lịch sửvới tinh thần lý luận kết hợp với thực tiễn, trên cơ sở phơngpháp luận biện chứng duy vật
5 Kết cấu của tiểu luận
Tiểu luận gồm phần mở đầu, 3 chơng , kết luận và
danh mục tài liệu tham khảo
Trang 4NỘI DUNG CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Khái niệm chính sách xã hội
Chính sách xã hội là một bộ phận cấu thành chính sách chung của mộtchính quyền nhà nước hướng tới lĩnh vực xã hội nhằm giải quyết vấn đề liênquan đến cuộc sống con người, đến lợi ích của các nhóm người, các giai cấp…trong xã hội Nó góp phần điều chỉnh các quan hệ xã hội cho phù hợp với mụctiêu giai cấp, chính đảng cầm quyền
Từ khi con người sinh sống thành cộng đồng thì các mối quan hệ giữacon người với con người, giữa con người với cộng đồng được hình thành vàphát triển ngày càng phức tạp và đa dạng Trong quá trình phát sinh và pháttriển các mối quan hệ xã hội này, làm nảy sinh các vấn đề xã hội cần được quantâm giải quyết Có những vấn đề phát sinh và phát triển theo từng chế độ chínhtrị xã hội, nhưng cũng có các vấn đề cần tồn tại ở các chế độ chính trị xã hộikhác nhau Có những vấn đề có tính chất riêng, có những vấn đề xã hội lại cótính toàn cầu, đòi hỏi toàn nhân loại phải giải quyết
Trang 5Mỗi chế độ, thời đại đều phải tiếp tục giải quyết các vấn đề xã hội củachế độ trước, của thời đại trước để lại, đồng thời phải đối phó với những vấn đềmới nảy sinh trong hiện tại cũng như sẽ phát sinh trong tương lai.
Để giải quyết những vấn đề xã hội, một trong những nhiệm vụ cơ bản củamột quốc gia là phải xây dựng những chính sách xã hội
Chính sách xã hội là vấn đề rất rộng lớn, do vậy có nhiều cách tiếp cậnkhác nhau:
Từ điển Bách khoa Toàn thư: CSXH là một bộ phận cấu thành chính sáchchung của một chính đảng hay chính quyền nhà nước trong việc giải quyết vàquản lí các vấn đề xã hội
Từ điển Tiếng Việt: Chính sách giải quyết các vấn đề xã hội nhằm tácđộng trực tiếp vào con người, điều chỉnh quan hệ lợi ích giữa con người với conngười, con người với xã hội
Một bộ phận cấu thành chính sách chung của một chính đảng hay chínhquyền nhà nước trong việc giải quyết và quản lí các vấn đề xã hội CSXH baotrùm mọi mặt của cuộc sống con người, điều kiện lao động và sinh hoạt, giáodục và văn hoá, quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp và quan hệ xã hội Một trongnhững đặc điểm cơ bản của CSXH là sự thống nhất biện chứng của nó vớichính sách kinh tế
Theo nhà xã hội học Xô Viết V.Z.Rogovin: “Với tính cách là một bộ mônkhoa học, chính sách xã hội là một lĩnh vực tri thức xã hội học, nghiên cứu hệthống về các quá trình xã hội quyết định hoạt động sống của con người trong xãhội, xét theo khả năng tác động quản lý đến các quá trình đó Có đầy đủ cơ sở
để coi chính sách xã hội như là sự hòa quyện của khoa học và thực tiễn, như là
sự phân tích phức hợp, dự báo về các quan hệ, các quá trình xã hội và sự vậndụng thực tiễn những tri thức thu thập được nhằm mục đích quản lý các quá
Trang 6trình và các quan hệ ấy” (V.Z.Rogovin – Chính sách xã hội trong XHCN pháttriển – Matxcova, 1980).
Theo giáo sư Bùi Đình Thanh, để hiểu được chính sách xã hội phải trả lờiđược 4 câu hỏi: Ai đặt ra chính sách xã hội? Đặt ra chính sách xã hội để cho ai?Nội dung mục đích gì? Từ đó ông đưa ra khái niệm về chính sách xã hội nhưsau: “Chính sách xã hội là cụ thể hóa và thể chế hóa bằng pháp luật nhữngđường lối, chủ trương, những biện pháp giải quyết những vấn đề xã hội dựa trênnhững tư tưởng, quan điểm của những chủ thể lãnh đạo, phù hợp với bản chấtcủa chế độ xã hội chính trị, phản ánh lợi ích và trách nhiệm của cộng đồng xãhội nói chung và từng nhóm xã hội nói riêng, nhằm mục đích cao nhất là thỏamãn những nhu cầu ngày càng tăng về đời sống, vật chất, văn hóa tinh thần củangười dân” (Bùi Đình Thanh – Chính sách xã hội: Một số vấn đề lý luận và thựctiễn, Hà Nội, 1993)
Chính sách xã hội luôn gắn với một chế độ chính trị – xã hội nhất định
Do đó, khái quát lại có thể hiểu chính sách xã hội như sau: Chính sách xã hội là
sự thể chế hóa và cụ thể hóa những đường lối, chủ trương giải quyết các vấn đề
xã hội, dựa trên những tư tưởng, quan điểm của những chủ thể lãnh đạo, phùhợp với bản chất của chế độ xã hội chính trị, phản ánh lợi ích và trách nhiệmcủa cộng đồng xã hội nói chung và từng nhóm xã hội nói riêng, nhằm tác độngtrực tiếp vào con người và điểu chỉnh các mối quan hệ lợi ích giữa con ngườivới con người, giữa con người với xã hội, hướng tới mục tiêu cao nhất là thỏamãn những nhu cầu ngày càng cao về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần củanhân dân
Người ta cũng có thể hiểu :”Chính sách xă hội” theo đuổi các mục tiêulàm hạn chế các rủi ro xă hội, ngăn ngừa việc xẩy ra những hậu quả xấu cũngnhư ổn định và cải thiện cơ sở thu nhập, các khoản trợ cấp cũng như đời sống
Trang 7của cỏc thành viờn trong xă hội Những biện phỏp của “chớnh sỏch xă hội” sẽđược vận động dựa trờn cơ sở cỏc chớnh sỏch kinh tế của nền kinh tế thị trường(Sozialpolitik und Soziale Lage in Deutschland 3 Auflage s.21)
Từ cỏc phõn tớch như trờn cú thể định nghĩa CSXH như sau:
Ngay từ Đại hội Đảng lần thứ VI (năm 1986) Đảng ta coi chớnh sỏch xóhội là chớnh sỏch bao trựm lờn mọi mặt cuộc sống của con người, điều kiện laođộng và sinh hoạt, giỏo dục và văn húa, quan hệ gia đỡnh, quan hệ giai cấp,quan hệ dõn tộc…
Với cỏch tiếp cận như vậy cú thể thấy chớnh sỏch xó hội thực chất là một
hệ thống cỏc chớnh sỏch Mỗi chớnh sỏch xó hội cú đối tượng, phạm vi, nội dungđiều chỉnh nhất định và nhằm vào một mục tiờu nhất định Chớnh sỏch xó hộiphổ biến là loại chớnh sỏch cú tỏc động, cú ảnh hưởng sõu rộng đến đời sốngcủa cỏc tầng lớp dõn cư, đến toàn thể cộng đồng
1.2 Khỏi niệm và đặc điểm của nhõn tố con người
Con người: thực thể sinh học- xó hội
Trong quan niệm của C Mác, con ngời trớc hết là phơngthức tồn tại đặc thù của con ngời, phơng thức sinh hoạt tộc loại
đặc thù của con ngời Bằng việc “sáng tạo ra một cách thựctiễn thế giới đối tợng”, bằng “việc cải tạo giới tự nhiên vô cơ”,con ngời trở thành một thực thể mang tính tộc loại, có ý thức,một thực thể đối xử với tộc loại nh với bản chất của chínhmình, hoặc đối xử với bản thân mình nh với một thực thể cótính chất tộc loại Khi so sánh và phân biệt với phơng thức hoạt
động của động vật, C Mác đã chỉ ra những đặc điểm cơbản trong hoạt động sản xuất của con ngời Theo C Mác, hoạt
động sản xuất của con ngời khác với hoạt động sinh tồn của
Trang 8động vật ở chỗ, hoạt động sản xuất của con ngời là hoạt độngphổ biến, hoạt động cả khi con ngời tự do thoát khỏi nhu cầuthể xác trực tiếp
Với quan niệm đó, C Mác cho rằng, quan hệ hiện thực,thực tiễn của con ngời đối với bản thân nó với t cách là thựcthể tộc loại và sự biểu hiện của con ngời trong thực tế với tcách là thực thể tộc loại- “thực thể con ngời”- chỉ có thể có đ-
ợc khi con ngời rút ra từ bản thân nó tất cả những lực lợng tộcloại của nó thông qua toàn bộ hoạt động của nhân loại với tcách là kết quả của lịch sử
Cũng với quan niệm đó, C Mác đã nói tới phơng thức tồntại của con ngời với t cách là toàn bộ hoạt động cải tạo thế giớivật chất của con ngời, hoạt động sản xuất của con ngời Hoạt
động này, theo Người, diễn ra một cách thờng xuyên, phổbiến và mang tính kế thừa, có tổ chức xã hội của con ngời
Trong quan niệm của C Mác, con ngời- đó là những conngời cụ thể, là những cá nhân hiện thực với hoạt động lao động
của họ Ông viết: “Con ngời là một cá nhân đặc thù nào đó
và chính tính đặc thù của nó làm cho nó thành ra một cá nhân và một thực thể xã hội cá thể hiện thực” Và do vậy,
trong điều kịên lao động bị tha hoá, theo C.Mác, con ngời cánhân ấy thờng xem xét ngời khác theo thớc đo và quan hệ màtrong đó, bản thân nó tồn tại với t cách là ngời lao động
Trong quan niệm của C.Mác, con ngời còn là một mẫuhình lý tởng về sự tồn tại và phát triển của chính nó, một mẫuhình mà khi đối chiếu với những hoạt động sinh hoạt hiện
Trang 9thực của con ngời sẽ cho thấy những hoạt động ấy có mangtính ngời hay không mang tính ngời Trong điều kiện của nềnsản xuất t bản chủ nghĩa, C.Mác nhận xét, ngời lao động chỉnhận đợc vừa đủ cái cần thiết để họ duy trì sự sống, songkhông phải sống nh một con ngời mà nh một ngời lao độnglàm thuê và để sinh đẻ ra không phải loài ngời, mà ra giai cấpnhững ngời nô lệ Sự tồn taị của những con ngời đó khôngphải là sự tồn tại của con ngời với đúng nghĩa của nó, mà là sựtồn tại của ngời lao động làm thuê Với nhận xét ấy, khi vạch ranhững mâu thuẫn của xã hội t bản, C.Mác đã phân biệt conngời với t cách con ngời và con ngời với t cách một thực thể bịbóp méo nào đó Ông cho rằng, cùng với quá trình gia tăng sựphong phú của sản phẩm vật chất trong xã hội t bản, con ngờingày càng trở thành nghèo khổ và bị bần cùng hoá.
Trong quan niệm của C.Mác, con ngời còn đợc xem xét với
t cách là con ngời tự nó- con ngời đợc trừu tợng hoá bởi các mốiquan hệ, các điều kiện, các hình thức và phơng tiện hoạt
động hiện thực của nó, là “sự tồn tại trừu tợng của con ngời với tính cách chỉ là con ngời lao động” và do vậy, hàng ngày nó
có thể “bị đẩy từ cái h không đầy đủ của mình vào cái h không tuyệt đối”, vào lĩnh vực “không tồn tại có tính chất xã hội” của nó
Qua đó, có thể nói, khi bắt đầu xây dựng quan niệmcủa mình về con ngời, thuật ngữ “con ngời” đã đợc C.Mác sửdụng với một nội dung phong phú: con ngời là phơng thức tồntại của con ngời trong thế giơí, là một cá nhân riêng biệt, là
Trang 10mẫu hình sinh hoạt của con ngời và cuối cùng là con ngời với tcách con ngời tự nó, là đại biểu điển hình cho nhân loại.Những nội dung ấy của thuật ngữ “con ngời” phản ánh tínhphức tạp, tính đa dạng trong quá trình sinh hoạt, hoạt độngcủa con ngời, xác định mối quan hệ giữa con ngời với con ng-
ời, giữa con ngời với tự nhiên, con ngời với xã hội và để xâydựng một quan điểm lý luận hoàn chỉnh, có lôgic, thấu đáo
về bản chất con ngời, về con ngời với t cách là chủ thể sáng tạolịch sử
Khi coi phơng thức tồn taị của con ngời trong thế giới làtoàn bộ hoạt động cải tạo thế giới vật chất của con ngời, C.Mác
đã đề cập đến con ngời với t cách là con ngời hoạt động, conngời hiện thực trong mối quan hệ qua lại, trong sự phát triểnlịch sử của họ
Trớc hết, C Mác cho rằng: con ngời- đó là một danh từchung để chỉ toàn thể các cá nhân con ngời Đó là tộc loạicon ngời theo nghĩa lôgic hình thức của từ đó, là giai cấp ng-
ời với t cách là những khách thể đặc biệt, đợc phân biệt theomột dấu hiệu xác định từ vô số khách thể tồn tại trên trái đất.Với quan niệm đó, C Mác xác định thuật ngữ “con ngời” làtính quy định tối thiểu về con ngời, là cái cho phép gạt bỏmọi khác biệt giữa ngời với ngời Mỗi con ngời cụ thể, theoC.Mác, luôn có điểm tơng đồng với con ngời thuộc mọi thời
đại, mọi quốc gia và mọi dân tộc, và xét về phơng diện đóthì con ngời là một thực thể phổ biến
Trang 11Quan điểm mácxít coi lịch sử nh là một quá trình tựsinh của con ngời, do con ngời thực hiện trong quá trình thựctiễn cải tạo thế giới Thực tiễn không chỉ là quá trình con ngờibiến đổi thế giới khách quan, mà còn là quá trình biến đổichính bản thân mình Điều đó cho thấy bản chất con ngờichỉ có thể hình thành trong thực tiễn cải tạo tự nhiên và xãhội Đa quan điểm thực tiễn vào nghiên cứu con ngời, lần đầutiên trong lịch sử, triết học macxít đã đặt ra và giải quyết vấn đềcon người trờn cơ sở vững chắc của đời sống thực tiễn xã hội.
Đứng vững trên quan điểm duy vật macxít, Hồ Chí Minhcũng khẳng định bản chất con ngời mang tính lịch sử- xã hội,coi con ngời vừa là sản phẩm vừa là chủ thể của lịch sử, conngời vừa là động lực, là mục tiêu của sự phát triển xã hội HồChí Minh cho rằng: con ngời ta muốn sống thì phải có ăn,mặc, ở, đi lại Muốn nh vậy thì phải lao động Tất cả của cảivật chất trong xã hội đều do những ngời lao động làm ra.Muốn lao động sản xuất thì con ngời phải liên kết với nhautrong tập thể, cộng đồng Sự phát triển của lịch sử là quy luậtkhông ngăn trở đợc Cách sản xuất và sức sản xuất phát triểnbiến đổi mãi, do đó mà t tởng của con ngời, chế độ xã hộicũng biến đổi và phát triển, ý thức và nhận thức của con ngờicũng vậy Do sự sản xuất vật chất mà ngời ta hiểu biết dần cáchiện tợng, các tính chất, các quy luật và mối quan hệ giữa ngờivới tự nhiên Lại do hoạt động sản xuất mà dần dần hiểu rõ mốiquan hệ giữa ngời này với ngời khác Tóm lại, xã hội có cơm ăn,
áo mặc là nhờ lao động, xây nên giàu có, tự do, dân chủ
Trang 12cũng là nhờ lao động, tri thức mở mang cũng nhờ lao động.Vì vậy, lao động là sức chính của tiến bộ loài ngời Con ngời
là sản phẩm lịch sử cụ thể, do đó muốn nhận thức đúng vềcon ngời thì phải nhận thức đúng những điều kiện xã hội mà
họ đang sống
Con ngời trong quan niệm Hồ Chí Minh là một chỉnh thểthống nhất về thể lực, tâm lực, trí lực và sự hoạt động Nóicách khác, con ngời bản thân nó là một hệ thống - cấu trúcbao gồm nhiều yếu tố: sức khoẻ, đời sống tâm linh, tinh thần
và vai trò chủ đạo của tri thức đợc thể hiện trong hoạt động.Các yếu tố này quan hệ chặt chẽ với nhau, làm điều kiện chonhau, ảnh hởng lẫn nhau tuy rằng vai trò của mỗi yếu tố làkhông ngang bằng nhau Một ngời khoẻ mạnh thì sẽ có một đờisống tinh thần khoẻ mạnh Hồ Chí Minh nhìn nhận con ngờitrong sự thống nhất của hai mặt đối lập: ngời đời không phải
là thánh thần, ai cũng có chỗ hay chỗ dở, ai cũng có tính tốttính xấu, có thiện có ác Các mặt đối lập đó không đơnthuần có nguồn gốc từ xã hội, nó còn có căn nguyên từ yếu tốsinh vật của con ngời Loại trừ yếu tố sinh vật của con ngờitrong việc đánh giá giá trị sẽ dẫn tới sự phiến diện, thiếu cơ sởkhoa học
Từ sự phân tích trên, có thể đa ra một định nghĩa về
con ngời theo t tởng Hồ Chí Minh: Con ngời là một chỉnh thể thống nhất về thể lực, tâm lực, trí lực và hoạt động, mang bản chất xã hội- lịch sử, là chủ thể sáng tạo và hởng thụ các giá trị vật chất tinh thần trong xã hội.
Trang 13- Nhân tố con người: là tổng thể các yếu tố đặc biệt có liên quan đến
con người; là sự thống nhất biện chứng giữa các yếu tố, các mặt vừa mang tínhkhách quan, vừa mang tính chủ quan để tạo ra các mặt như phẩm chất trí tuệ,năng lực thực tiễn và phẩm chất cá nhân… tham gia và trở thành động lực chủyếu thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi cộng đồng hay quốcgia."
* Đặc điểm nhân tố con người:
Tồn tại với tư cách là một chủ thể có khả năng lao động sáng tạo.
Là loại nhân tố đặc biệt được tạo bởi những con người có tính tự chủ, có
khả năng làm chủ trong mọi hành động, mọi mối quan hệ của mình của bảnthân con người với tư cách là chủ thể hành động của nguồn lực, được thể hiệntrong ba mối quan hệ chính: quan hệ với thiên nhiên, quan hệ với xã hội vàquan hệ với bản thân
Là nguồn sức mạnh được tạo bởi những con người có khả năng liên kết
thành một cộng đồng, thể hiện tính cộng đồng trong phương thức hoạt động củamình
Khi sử dụng và phát huy nhân tố con người với tư cách là một nguồn tài
nguyên đặc biệt - tài nguyên con người hay nguồn lực con người, hiệu quả sửdụng của nguồn lực phụ thuộc vào cả hai mặt: số lượng và chất lượng nguồnlực
Nhân tố "động" – có thể tạo ra thuận lợi hay khó khăn tùy vào chủ thể sửdụng, chủ thể phát huy
Có mối liên hệ chặt chẽ đến việc xây dựng và điều chính và áp dụng của
hệ thống chính sách xã hội
1.3 Sự cần thiết phải phát huy nhân tố con người trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa
Trang 14Để phát triển mỗi cộng đồng, địa phương, quốc gia đều cần rất nhiều nhân
tố khác nhau (vốn, tài nguyên thiên nhiên, khoa học, công nghệ, con người…),tuy nhiên nhân tố con người đang trở thành một nhân tố quan trọng nhất Bởivì:
+ Chủ nghĩa Mác –Lênin đã khẳng định rằng: con người không chỉ là sảnphẩm mà còn là chủ thể của mọi quá trình lịch sử; con người là yếu tố quantrọng nhất cấu thành nên lực lượng sản xuất mà lịch sử loài người phát triểnđược
+ Khi so sánh với các nhân tố khác thì nhân tố con người càng thể hiện vịtrí quan trọng của mình Con người là nhân tố duy nhất biết tác động vào cácnhân tố khác để thúc đẩy các nhân tố khác khởi động; đồng thời con ngươì biếtgắn kết chúng lại để tạo ra sức mạnh cho phát triển, nếu không có các nhân tốkhác thì nhân tố con người cũng rất khó thể hiện được vai trò của mình
+ Mặt khác, các nguồn lực khai thác nhiều sẽ cạn kiệt, nhưng con người,đặc biệt là trí tuệ của con người càng được khai thác thì càng sinh sản vì conngười có khả năng lao động sáng tạo, bộ não của con người chứa đựng hàng tỷnơron thần kinh, do đó, càng lao động, càng sang tạo thì trí óc của con ngườicàng phát triển
+ Trong thời đại kinh tế tri thức, sự cạnh tranh của các địa phương cácquốc gia không chỉ đơn thuần về kinh tế mà nghiêng về trí tuệ, về hàm lượngchất xám Do đó, trí tuệ con người đang là một trong những lợi thế so sánh quantrọng cho tiến trình phát triển nhanh chậm của mỗi địa phương, mỗi quốc gia.+ Chính vì lẽ đó, để có được nền kinh tế tri thức trong tương lai, việc pháthuy nhân tố con người đòi hỏi phát triển mạnh các nghành và sản phẩm kinh tế
có giá trị tăng cao dựa vào tri thức, kết hợp việc sử dụng nguồn vốn tri thức củacon người việt nam với tri thức mới nhất của nhân loại