1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VẬN DỤNG mô HÌNH KIM CƯƠNG của MICHAEL PORTER để PHÂN TÍCH NĂNG lực CẠNH TRANH của NGÀNH dệt MAY VIỆT NAM

73 1,6K 21

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo đó, cạnh tranh có thể được tóm tắt nhưlà: “Một mối quan hệ kinh tế được sinh ra trong nền kinh tế thị trường mà tại đócác chủ thể kinh tế áp dụng mọi phương thức, thủ đoạn để tranh

Trang 1

BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM

CAO KHẢI TÚ NGUYỄN ĐỨC TÂM NGUYỄN ANH TUẤN

Trang 2

BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM

CAO KHẢI TÚ NGUYỄN ĐỨC TÂM NGUYỄN ANH TUẤN

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

VẬN DỤNG MÔ HÌNH KIM CƯƠNG CỦA MICHAEL PORTER ĐỂ PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH

CỦA NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM

NGÀNH: KINH DOANH QUỐC TẾ ; MÃ SỐ: 7340120

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NGOẠI THƯƠNGNgười hướng dẫn: Th.s Đoàn Thị Thu Hằng

HẢI PHÒNG – 2019

Trang 3

Trong quá trình làm bài luận văn này, dù đã cố gắng hết sức nhưng chúng

em chắc hẳn vẫn mắc một số sai sót nhất định Chúng em mong muốn các thầy

cô có thể giúp chúng em đưa ra những đóng góp, ý kiến để bài luận văn nàyđược hoàn thiện hơn

Chúng em xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Chúng em xin cam kết rằng, tất cả những nghiên cứu và số liệu có trong bài

là chính xác, trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một bài học vị nào.Mọi thông tin trong đồ án đều có ghi rõ nguồn gốc

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 3

1.1 Cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 3

1.1.1 Tổng quan về cạnh tranh 3

1.1.1.1 Khái niệm 3

1.1.1.2 Các loại cạnh tranh 3

1.1.2 Tổng quan về năng lực cạnh tranh 5

1.1.2.1 Khái niệm 5

1.1.2.2 Các loại năng lực cạnh tranh 6

1.2 Mô hình kim cương Michael Porter 8

1.2.1 Các điều kiện về yếu tố sản xuất đầu vào 10

1.2.2 Các điều kiện về cầu trong nước 11

1.2.2.1 Kết cấu cầu trong nước 11

1.2.2.2 Quy mô và tốc độ tăng trưởng của cầu trong nước 12

1.2.3 Các ngành phụ trợ liên quan 12

1.2.4 Chiến lược, cơ cấu và môi trường cạnh tranh 13

1.2.4.1 Chiến lược, cơ cấu của các doanh nghiệp trong nội địa 13

1.2.4.2 Môi trường cạnh tranh trong một quốc gia 14

1.2.5 Vai trò của Chính phủ 16

1.2.6 Vai trò của cơ hội 17

CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP DỆT MAY VIỆT NAM THÔNG QUA MÔ HÌNH KIM CƯƠNG CỦA MICHAEL PORTER 19

2.1 Một số nét tiêu biểu về ngành công nghiệp dệt may Việt Nam 19

2.1.1 Khái quát về lịch sử ngành dệt may Việt Nam 19

Trang 6

2.1.2 Tổng quan về thị trường nội địa 20

2.1.3 Tình hình xuất nhập khẩu hàng dệt may tại Việt Nam 20

2.1.3.1 Về xuất khẩu 20

2.1.3.2 Về nhập khẩu 24

2.1.4 Chất lượng của các mặt hàng dệt may nước ta 25

2.1.5 Vai trò của ngành may mặc nước ta 26

2.2 Đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp dệt may thông qua mô hình kim cương của Michael Porter 27

2.2.1 Các yếu tố sản xuất 27

2.2.1.1 Lao động 27

2.2.1.2 Vốn đầu tư 29

2.2.1.3 Công nghệ, trang thiết bị 31

2.2.2 Nhu cầu tiêu dùng trong nước 32

2.2.3 Các ngành hỗ trợ và liên quan 35

2.2.3.1 Ngành nguyên liệu 35

2.2.3.2 Ngành thời trang 38

2.2.3.3 Cung ứng máy móc - thiết bị dệt may 38

2.2.3.4 Ngành hóa chất 39

2.2.4 Cơ cấu, chiến lược và môi trường cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành 39

2.2.4.1 Cơ cấu, chiến lược các doanh nghiệp trong ngành dệt may Việt Nam 40

2.2.4.2 Môi trường cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành 42

2.2.5 Chính sách của Chính phủ 44

2.2.6 Cơ hội đối với ngành dệt may Việt Nam 47

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP DỆT MAY TẠI VIỆT NAM 51

3.1 Giải pháp cho các yếu tố sản xuất đầu vào 51

3.1.1 Về nguồn lao động 51

3.1.2 Về công nghệ, trang thiết bị 53

3.1.3 Về thu hút nguồn vốn 54

3.2 Giải pháp về chiến lược, cơ cấu các doanh nghiệp trong ngành 55

Trang 7

3.3 Giải pháp về cầu trong nước 56

3.4 Giải pháp cho các ngành hỗ trợ và liên quan 57

3.4.1 Ngành nguyên liệu 57

3.4.2 Ngành thời trang 58

3.4.3 Ngành cung ứng máy móc thiết bị 58

3.4.4 Ngành hóa chất 58

3.5 Giải pháp đối với Chính phủ trong vấn đề phát triển ngành công nghiệp dệt may 59

KẾT LUẬN 61

TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.1 Xuất khẩu ngành dệt may từ Việt Nam sang các thị

trường năm 2016 - 2017 222.2 Tổng quan ngành dệt may Việt Nam năm 2018 40

2.3 Mục tiêu cụ thể của ngành dệt may Việt Nam đến năm

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

1.1 Mô hình kim cương của Michael Porter 92.1 Tổng kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may Việt Nam 212.2 Thị trường xuất khẩu chủ lực hàng dệt may Việt Nam năm 2018 212.3 Cơ cấu nhập khẩu đầu vào các loại nguyên liệu dệt may năm 2018 242.4 Tháp chi tiêu cá nhân của người Việt Nam 332.5 Doanh thu cung cấp đồng phục của Vinatex năm 2016 – 2018 34

Trang 11

LỜI MỞ ĐẦU

Trong thời đại hiện nay, thông qua công cuộc đẩy mạnh việc hội nhập vớithị trường quốc tế, qua đó thúc đẩy nền kinh tế trong nước, hợp tác cùng có lợivới nền kinh tế nước ngoài Bằng những nỗ lực đó, Việt Nam đang không ngừng

cố gắng, mong muốn đưa đất nước phát triển trong tương lai Năm 2007, ViệtNam gia nhập vào diễn đàn WTO là một bước tiến lớn cho sự hội nhập của đấtnước, tuy nhiên đây cũng là một thách thức lớn đối với chúng ta Điều này đòihỏi đất nước ta phải nỗ lực và cố gắng hơn nữa trong từng khía cạnh, từng ngành

và cả từng lĩnh vực

Trong số các ngành công nghiệp thế mạnh hàng đầu của nước ta, dệt may

là ngành đặc biệt quan trọng Trong năm 2018, tổng giá trị kim ngạch xuất khẩungành may mặc Việt Nam sang EU là 4,17 tỷ USD, thị trường Hoa Kỳ đạt 12,7

tỷ USD, thị trường Nhật Bản đạt 3,7 tỷ USD Ngành công nghiệp này không chỉthỏa mãn được những thị hiếu tiêu dùng của người Việt mà còn đóng góp vào sựtăng trưởng của nền kinh tế và các hoạt động liên quan đến xuất nhập khẩu vớinước ngoài, thu về một khoản ngoại tệ không nhỏ cho quốc gia Tính đến thờiđiểm hiện tại, nước ta đã có các chính sách và ưu đãi khác nhau, với mong muốncải thiện tình hình xuất nhập khẩu của ngành hàng này

Trước tình hình đó, chúng ta phải đưa ra những nhận định chính xác vềnăng lực cạnh tranh của ngành nhằm có được những đề xuất cần thiết cho việckhắc phục những điểm yếu còn tồn đọng và phát huy được thế mạnh vốn có,đồng thời tận dụng được những chính sách ưu đãi để nâng cao hiệu quả hoạtđộng kinh tế Qua đó, giúp cho doanh nghiệp trong nước cải thiện được khảnăng cạnh tranh của mình

Mô hình kim cương là mô hình kinh tế do Michael Porter thiết kế nhằm tìmhiểu về khả năng cạnh tranh của một quốc gia hoặc các nhóm lợi thế cạnh tranh

Trang 12

do các yếu tố có sẵn Mô hình này được ứng dụng rộng rãi trên nhiều quốc gianhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh của mình Đây còn là mô hình được sử dụng

để phân tích cụ thể lợi thế cạnh tranh của từng mặt hàng, từng ngành Do vậy,tên đề tài đồ án của chúng em là:

“Vận dụng mô hình kim cương của Michael Porter để phân tích năng

lực cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam.”

Bài luận văn được chia làm 3 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận về cạnh tranh

Chương II: Phân tích năng lực cạnh tranh của ngành dệt may tại Việt Namthông qua mô hình kim cương của Michael Porter

Chương III: Đề xuất giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của ngànhcông nghiệp dệt may tại Việt Nam

Trang 13

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh

1.1.1 Tổng quan về cạnh tranh

1.1.1.1 Khái niệm

Hiện nay, trong mọi mặt của đời sống hiện đại, các học thuyết về “cạnhtranh” đang được nhắc đến và sử dụng trong hầu như tất cả các lĩnh vực màchúng ta quan tâm Có thể thấy chính vì vậy, các nhà khoa học và học giả nổitiếng trên thế giới đã và đang hiểu, nhìn nhận các học thuyết này từ các góc độ,quan điểm khác nhau Cho đến nay, chính họ cũng chưa thỏa mãn bất cứ kháiniệm thống nhất nào về cạnh tranh Theo đó, cạnh tranh có thể được tóm tắt nhưlà: “Một mối quan hệ kinh tế được sinh ra trong nền kinh tế thị trường mà tại đócác chủ thể kinh tế áp dụng mọi phương thức, thủ đoạn để tranh đua với nhauvới mục đích nhằm giành lấy lợi thế tốt nhất về yếu tố sản xuất cũng như kháchhàng và thị phần cho mình.”

1.1.1.2 Các loại cạnh tranh

- Theo phạm vi ngành kinh tế: cạnh tranh trong cùng một ngành, cạnh tranh

của ngành này với ngành khác

 Cạnh tranh trong cùng một ngành: là sự cạnh tranh của các đối thủ trongcùng một ngành nghề hoạt động Các đối thủ sẽ luôn phải tìm cách chiếm lĩnhthị phần, khách hàng, thậm chí là cả thôn tính, sáp nhập lẫn nhau

 Cạnh tranh của ngành này với ngành khác: là sự cạnh tranh giữa các đốithủ hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau nhằm mục đích mở rộng các ngànhđầu tư, gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp một cách chắc chắn và an toàn hơn.Trong hình thức này, các doanh nghiệp thường chuyển một số nguồn tài chínhđược đầu tư từ ngành thu được ít lợi nhuận sang ngành khác thu được lợi nhuậncao hơn với một sự phân phối hợp lí vốn đầu tư giữa các ngành

Trang 14

- Theo trạng thái cạnh tranh: cạnh trạnh trạng thái không hoàn hảo, cạnhtranh trạng thái hoàn hảo và cạnh tranh độc quyền.

 Cạnh tranh trạng thái hoàn hảo: Trong thị trường này bao gồm nhiềungười bán loại hàng hóa tương tự như nhau Giá cả của từng loại sản phẩm sẽđược quyết định dựa trên yếu tố duy nhất là cung – cầu trong thị trường Tuynhiên, đây chỉ là thị trường cạnh tranh lý tưởng chỉ có trên lí thuyết

 Cạnh tranh trạng thái không hoàn hảo: Đây là thị trường cạnh tranh trênthực tế và phổ biến nhất trên thế giới hiện nay Theo đó sự khác biệt giữa cácdoanh nghiệp nắm giữ thị trường đối với các đối thủ khác không chỉ ở các loạihàng hóa, dịch vụ đa dạng, cùng với chất lượng vượt trội đi kèm ở các sản phẩm

do mình tạo ra mà còn ở tên tuổi của doanh nghiệp sản xuất cũng như nhãn hiệusản phẩm Những người bán thường đem đến các hoạt động tiếp thị tới kháchhàng như khuyến mãi, quảng cáo, đưa ra các chính sách ưu đãi giảm giá muasản phẩm,

 Cạnh tranh độc quyền: Trong thị trường này, cùng một loại sản phẩm sẽ

có số ít người có khả năng cung ứng, kiểm soát số lượng sản phẩm hàng hóa,thậm chí là giá cả của loại hàng hóa đó khi bán ra thị trường Thông thường ở thịtrường này thường chỉ xảy ra sự cạnh tranh giữa các nhà độc quyền với nhau

- Theo chủ thể của thị trường:

 Cạnh tranh giữa hai bên mua và bán: do sự khác nhau về mục đích củahai bên mua, bán khi tham gia giao dịch, đây là sự canh tranh của cả hai bênmang tính chất mua rẻ bán đắt Tính cạnh tranh giữa 2 bên được thể hiện rõ ràngnhất trong quá trình mặc cả Giá cả của sản phẩm được hình thành sau quyếtđịnh thống nhất của cả 2 bên khi kết thúc sự mặc cả đó, dẫn đến việc mua bán

 Cạnh tranh trong nội bộ bên mua: Cuộc cạnh tranh này dựa trên định luậtcung – cầu, cụ thể hơn là khi nhu cầu của một loại hàng hóa có chất lượng caonào đó vượt quá lượng cung của chúng trên thị trường Khi đó, sự cạnh tranh

Trang 15

trong nội bộ bên mua sẽ dần trở nên khốc liệt hơn bao giờ hết nhằm mục đíchmua được hàng hóa mà mình cần

 Cạnh tranh trong nội bộ bên bán: Cuộc cạnh tranh trong nội bộ bên bándiễn ra khi số lượng người bán một loại sản phẩm nào đó tăng nhanh dẫn đếnviệc các doanh nghiệp phải cạnh tranh khốc liệt với nhau nhằm tăng doanh sốbán hàng, gia tăng lợi nhuận và tồn tại trên thị trường

1.1.2 Tổng quan về năng lực cạnh tranh

1.1.2.1 Khái niệm

Giống như với thuật ngữ cạnh tranh, khái niệm về năng lực cạnh tranh cũngđang được sử dụng rất phổ biến trên thế giới Dù cho đã có nhiều khái niệm docác học giả và các tổ chức đưa ra nhằm cố gắng định nghĩa thuật ngữ này tuynhiên chưa có khái niệm thống nhất nào được công nhận

Mặc dù những định nghĩa về cạnh tranh đã được nghiên cứu từ buổi sơ khaicủa nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thì định nghĩa về năng lực cạnh tranh lại chỉđược bắt đầu xem xét và nghiên cứu lần đầu từ những năm 1980 Khái niệm nàylần đầu tiên được đề cập đến trong cuốn sách nghiên cứu về thương mại quốc tếđược xuất bản năm 1985 ở Mỹ của Aldington Report Theo đó: “Một doanhnghiệp có năng lực cạnh tranh là doanh nghiệp có thể cung cấp các sản phẩm,hàng hóa vượt trội đi kèm với giá cả hợp lý hơn một cách tương đối so với cácđối thủ cạnh tranh trong nước cũng như quốc tế Năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp đảm bảo cho doanh nghiệp đạt được lợi ích lâu dài về mọi mặt cũng nhưđảm bảo và làm tăng thu nhập của chủ doanh nghiệp và người lao động.”

Tại Mỹ, Hội đồng Năng lực cạnh tranh thì lại cho rằng: “Năng lực cạnhtranh là năng lực của một quốc gia, doanh nghiệp hay một ngành nghề có thể tạo

ra các sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được các nhu cầu trong nướccũng như quốc tế, trong điều kiện thị trường tự do.”

Trang 16

Theo UNCTAD: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng củadoanh nghiệp trong việc đảm bảo và gia tăng thị phần của mình một cách chắcchắn.”

Tóm lại, có thể thấy các định nghĩa trên đều là các định nghĩa nói về khảnăng duy trì, đảm bảo và nâng cao sức ảnh hưởng của mình trên thị trường củacác chủ thể (như doanh nghiệp, quốc gia, ngành nghề) nhằm đạt được các lợi íchkinh tế - xã hội cao và bền vững

1.1.2.2 Các loại năng lực cạnh tranh

a) Năng lực cạnh tranh quốc gia

Định nghĩa về năng lực cạnh tranh quốc gia cũng có thể được tiếp cận theonhiều cách khác nhau Dựa trên các định nghĩa do các tổ chức kinh tế, tài chínhquốc tế nêu ra, có thể hiểu rằng: “Năng lực cạnh tranh của một quốc gia là khảnăng của nước đó trong việc đạt được những thành quả nhanh chóng và vữngchắc về kinh tế cũng như mức sống của người dân trong điều kiện các chínhsách của Chính phủ, thể chế nhà nước ổn định và bền vững”

Do đó, có thể hiểu năng lực cạnh tranh là việc nâng cao năng lực kinh tếcũng như làm cho người dân có đời sống cao hơn một cách nhanh chóng, vữngchắc Năng lực cạnh tranh quốc gia có thể được tính đến và xem xét thông quanhiều yếu tố, có thể kể đến như: mức độ và sự tăng trưởng của mức sống ngườidân cũng như năng suất lao động, khả năng thâm nhập các thị trường quốc tếcủa các doanh nghiệp trong nước qua việc xuất khẩu sản phẩm và các khoản đầu

tư đến từ nước ngoài

b) Năng lực cạnh tranh trong ngành

Trong một ngành nghề nhất định, năng lực cạnh tranh ngành là việc đạtđược những thành tựu ổn định của các công ty (thuộc quốc gia nào đó) hoạtđộng trong ngành so với các đối thủ khác trong một điều kiện công bằng cho tất

cả các bên

Trang 17

Theo UNCTAD thuộc Liên Hiệp Quốc, năng lực cạnh tranh ngành của mộtquốc gia có thể được đo lường và đánh giá qua các chỉ tiêu khác nhau: “Khảnăng kinh doanh cũng như sinh lời của các doanh nghiệp hoạt động trong ngành,cán cân ngoại thương và đầu tư nước ngoài trong ngành, những đánh giá trựctiếp về chất lượng ngành nghề trong nước” Các nhân tố thông thường quyếtđịnh đến năng lực cạnh tranh của ngành bao gồm: Điều kiện tự nhiên, tài nguyêntrong nước, khoa học kĩ thuật, thể chế chính trị - kinh tế - xã hội, thể chế quản lýngành,…

c) Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là lợi thế trong việc cung ứng cácdịch vụ, hàng hóa hiệu quả hơn đối thủ cạnh tranh nhằm đem đến sự hài lòngcho khách hàng Từ đó đem lại sự phát triển nhanh chóng, bền vững cho doanhnghiệp và thu về lợi nhuận cao nhất có thể

Đối với các doanh nghiệp có tham gia các hoạt động liên quan đến ngoạithương, năng lực cạnh tranh có thể được đánh giá thông qua các chỉ tiêu khácnhư tỷ suất lợi nhuận, tỷ lệ doanh thu xuất khẩu, thị phần trong khu vực và trênthế giới, thậm chí là vị thế của doanh nghiệp trên thị trường trong nước cũngnhư quốc tế

Năng lực cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp thường được xem xét từ cáctiêu chí bên trong doanh nghiệp đó như về nguồn nhân lực, khả năng quản lí,khả năng tài chính và công nghệ Bên cạnh đó, cũng cần thiết phải bắt buộc sosánh, đối chiếu các tiêu chí này với các doanh nghiệp cạnh tranh khác trongcùng một ngành nghề, cùng một thị trường nhằm tìm ra những điểm mạnh, điểmyếu của mình

d) Năng lực cạnh tranh của sản phẩm

Năng lực cạnh tranh của một loại sản phẩm là sự thể hiện ưu thế tương đốicủa nó đối với nhiều mặt so với với các loại các hàng hóa, dịch vụ tương tự khác

Trang 18

của đối thủ cạnh tranh Sự tiếp nhận sản phẩm của người tiêu dùng đóng một vaitrò lớn, thể hiện qua việc quyết định mua hay không mua hàng hóa đó

Một số các tiêu chí có thể dùng để nhận biết năng lực cạnh tranh của sảnphẩm như: sự đánh giá trực tiếp từ phía thị trường (thể hiện ở các con số vềdoanh thu, lợi nhuận, thị phần, ), sự đánh giá trực tiếp về sản phẩm (công dụng,mẫu mã, kiểu dáng, chất lượng, ) và phản hồi trực tiếp từ phía khách hàng(mức độ nhu cầu được thỏa mãn, độ phổ biến của sản phẩm, các đánh giá vềphía nhãn hiệu, )

1.2 Mô hình kim cương Michael Porter

Lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia được Michael Porter đưa ra vào năm

1990 trong cuốn sách “Lợi thế cạnh tranh quốc gia” Theo M.Porter: “Khôngmột quốc gia nào có lợi thế cạnh tranh ở tất cả các ngành hoặc hầu hết cácngành Các quốc gia chỉ trong hoạt động kinh doanh quốc tế khi họ có lợi thếcạnh tranh bền vững trong một số ngành nào đó” Ông không đồng tình vớiquan điểm tiến hành hoạt động kinh doanh chỉ dựa vào lợi thế cạnh tranh tuyệtđối và lợi thế so sánh Đồng thời, ông cũng cho rằng: “Lợi thế cạnh tranh lànhững nguồn lực, lợi thế của ngành, quốc gia mà nhờ có chúng các doanhnghiệp kinh doanh trên thương trường quốc tế tạo ra một số ưu thế vượt trội sovới đối thủ cạnh tranh trực tiếp khác” Để làm rõ hơn về lợi thế cạnh tranh quốcgia, ông đưa ra mô hình kim cương với các nhân tố có tác động trực tiếp đếnviệc tạo ra lợi thế cạnh tranh Mô hình đưa ra 4 nhân tố tác động và quyết địnhlợi thế cạnh tranh của một quốc gia

Bốn nhân tố được đưa ra trong mô hình kim cương bao gồm:

Trang 19

Thứ nhất, các điều kiện về yếu tố sản xuất đầu vào Các yếu tố đầu vàođược nêu ra như lao động, vốn, điều kiện tự nhiên, hay nguyên vật liệu đầu vàophục vụ sản xuất…

Thứ hai, cầu trong nước Là nhu cầu của thị trường trong nước tác độngđến lợi thế cạnh tranh quốc gia

Thứ ba, các ngành công nghiệp phụ trợ có liên quan Để tạo ra lợi thế cạnhtranh của một ngành nghề của một quốc gia cần có sự hỗ trợ của nhiều ngànhnghề hỗ trợ khác có liên quan

Thứ tư, chiến lược, cấu trúc và cạnh tranh trong nước của công ty Là cáchoạt động với mục đích nhằm đưa ra phương hướng, đường lối đối với công ty,qua đó giúp cho công ty tạo ra những bước đột phá mới, từ đó cải tạo được cơchế và hệ thống quản lý giám sát hoạt động trong công ty

Ngoài bốn yếu tố chính ảnh hưởng trực tiếp đến lợi thế cạnh tranh quốc giacủa một ngành nghề cụ thể thì còn hai yếu tố khác có tác động đến lợi thế cạnh

Trang 20

tranh là Chính phủ và cơ hội Yếu tố cơ hội tác động là các sự kiện phát sinhnằm ngoài tầm kiểm soát như sự phát triển của khoa học công nghệ, biến độnggiá… Yếu tố Chính phủ là các tác động trực tiếp hay gián tiếp đến lợi thế cạnhtranh thông qua các chính sách của Chính phủ.

1.2.1 Các điều kiện về yếu tố sản xuất đầu vào

Đối với vai trò của yếu tố sản xuất đầu vào thì chúng ta có thể chia thành 2yếu tố phụ là yếu tố sản xuất cơ bản: điều kiện về khí hậu, tài nguyên tự nhiên,lao động, nguồn tài chính,…và yếu tố sản xuất cấp cao: cơ sở hạ tầng – nhàxưởng, hệ thống công nghệ thông tin, máy móc – thiết bị, đội ngũ lao động,…Trong đó các yếu tố sản xuất cơ bản thường là các điều kiện sẵn có của mộtquốc gia hoặc là các yếu tố mà quá trình tạo ra chúng không đòi hỏi phài đầu tưquá lớn, các yếu tố sản xuất cơ bản có vai trò rất quan trọng đối với các ngànhkhai khoáng, nông lâm ngư nghiệp Bên cạnh đó, yếu tố sản xuất cấp cao làđiểm quyết định xem khả năng cạnh trạnh vượt trội của một ngành nghề sảnxuất Đây cũng chính là các yếu tố có sự ảnh hưởng trực tiếp để qua đó giúpgiảm các nguồn chi phí, nâng cao năng suất chất lượng lao động Không chỉ vậy,

để sản phẩm sản xuất ra có tính chất riêng biệt thu hút người tiêu dùng thì cầncần phải tận dụng và phát huy tối đa được các yếu tố cấp cao đó

Bên cạnh vai trò của yếu tố thì chúng ta có thể xét về khía cạnh đặc trưngcủa yếu tố sản xuất để chia thành 2 yếu tố riêng biệt là yếu tố phổ thông: hệthống giao thông, tín dụng, lao động lành nghề,…và yếu tố chuyên môn hóa:trang thiết bị hạ tầng đặc biệt, kĩ sư - lao động có chuyên môn tay nghề cao,…Nếu nói, bước đầu để tạo nên lợi thế về cạnh tranh cho sản phẩm cần phải dựavào yếu tố phổ thông thì yếu tố chuyên môn hóa chính là nền tảng và là đòn bảy

để quyết định khả năng cạnh tranh của chính loại sản phẩm đó

Nói tóm lại, 2 yếu tố sản xuất đầu vào là yếu tố sản xuất cơ bản và phổthông sẽ quyết định tới việc hình thành nên lợi thế cạnh tranh vốn có có một

Trang 21

quốc gia như thế nào, còn muốn tạo dựng nên sự bền vững trong khả năng cạnhtranh thì cần phải có sự tìm hiểu, đầu tư và đột phá vào các yếu tố sản xuất cấpcao và chuyên môn hóa Tuy vậy, không tồn tại một quốc gia nào có thể đầu tưvào toàn bộ các yếu tố sản xuất đầu vào do những nguồn tài nguyên sẵn có đóchỉ có hạn và ngược lại việc chọn lựa đầu tư vào yếu tố nào sẽ phụ thuộc vàochính điều kiện tự nhiên trong nước cũng như chính sách phát triển của Chínhphủ tại quốc gia đó.

1.2.2 Các điều kiện về cầu trong nước

1.2.2.1 Kết cấu cầu trong nước

Nếu nguồn tài nguyên của một quốc gia là có hạn, thì quốc gia đó sẽ cầnphải nghiên cứu sao cho nguồn tài nguyên đó được sử dụng một cách phù hợp

Do vậy, công tác tìm hiểu thị hiếu của người tiêu dùng, điều kiện về nhu cầutrong nước là vô cùng quan trọng, để làm sao có thể sản xuất ra lượng sản phẩmvừa đủ, đảm bảo chất lượng tới tay người tiêu dùng, qua đó cũng phản ánh đượclợi thế cạnh tranh quốc gia Cụ thể, những quốc gia nào có thể nắm bắt được nhucầu của người tiêu dùng một cách chính xác thì quốc gia đó sẽ có lợi thế cạnhtranh hơn so với những quốc gia còn lại

Cấu trúc của cung cầu, các đòi hỏi khắt khe từ khách hàng hay những dựbáo về nhu cầu của khách hàng trong tương lai là ba đặc tính một nước cần có

để tác động đến việc tạo ra lợi thế cạnh tranh quốc gia

Cấu trúc của cầu trong nước là sự phân đoạn của thị trường đối với từngmặt hàng Qua đó các doanh nghiệp có những chính sách thích hợp với từngphân đoạn thị trường Ví dụ các doanh nghiệp thường có xu hướng tập trung vàocác thị trường có khu vực trung bình và lớn và ít quan tâm hoặc bỏ qua các thịtrường khu vực nhỏ

Sự khắt khe của khách hàng trong yếu tố cầu thị trường tác động làm cácdoanh nghiệp sản xuất bắt buộc phải thay đổi Nó đòi hỏi các doanh nghiệp bên

Trang 22

cạnh việc cung ứng đủ lượng hàng hóa thì cần phải làm thỏa mãn và hải lòngmong muốn của người tiêu dùng Điều này giúp các doanh nghiệp có động lựcthay đổi về chất lượng và dịch vụ theo nhu cầu của thị trường từ đó tạo ra lợi thếcạnh tranh cho các doanh nghiệp

Đặc điểm cuối cùng của nhu cầu trong nước là tính dự báo trong nhu cầucủa khách hàng Theo yêu cầu của đặc điểm này, các doanh nghiệp sẽ cần phảiđổi mới sản phẩm của mình theo xu thế mới của thị trường và cả khách hàng saocho sản phẩm của chính doanh nghiệp đó không được lỗi thời Như vậy, khảnăng cạnh tranh của doanh nghiệp mới có thể được phát huy một cách tối đa

1.2.2.2 Quy mô và tốc độ tăng trưởng của cầu trong nước

Ngoài kết cấu của cầu trong nước thì quy mô và tốc độ tăng trưởng của cầutrong nước cũng có vai trò quan trọng trong việc tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia.Quy mô của cầu trong nước lớn có thể tạo lợi thế cạnh tranh trong các ngànhđào tạo và các ngành có lợi thế nhờ quy mô Tuy nhiên, việc lượng cầu trongnước quá lớn có thể tạo cản trở với doanh nghiệp do các doanh nghiệp quá tậptrung vào thị trường trong nước mà không quan tâm đến thị trường nước ngoài.Việc nguồn cầu trong nước có tốc độ tăng trưởng nhanh cũng ảnh hưởng ítnhiều đến lợi thế cạnh tranh do những đòi hỏi tới các doanh nghiệp cần phải sảnxuất liên tục nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất Thông qua đó, việc tiếp cận tớicác công nghệ mới cũng được tiến hành và thích ứng một cách nhanh chóng và

dễ dàng hơn

1.2.3 Các ngành phụ trợ liên quan

Ngoài các yếu tố nội tại của doanh nghiệp và ngành nghề một yếu tố bênngoài khác có sự tác động rất lớn tới việc tạo lợi thế cạnh tranh của một ngànhnghề là yếu tố về các ngành công nghiệp phụ trợ liên quan Các ngành côngnghiệp phụ trợ chịu trách nhiệm cung ứng đầu vào cho chuỗi sản xuất và đóngvai trò quan trọng đối với mọi ngành nghề sản xuất của một quốc gia Một

Trang 23

ngành sản xuất sẽ có khả năng cạnh tranh cao hơn nếu các ngành phụ trợ chongành sản xuất đó phát triển Ngoài ra, sự hỗ trợ từ nước ngoài cũng tạo tiền đề

để các ngành công nghiệp phụ trợ lớn mạnh hơn Bên cạnh các ngành phụ trợ,các ngành sản xuất liên quan cũng có tác động rất lớn tới việc tạo ra lợi thế cạnhtranh cho một ngành sản xuất Có các ngành sản xuất liên quan phát triển sẽ tạođiều kiện cho sự đổi mới do sự phát triển của công nghệ, thông tin, dịch vụ…liên quan đến ngành sản xuất cụ thể Ví dụ một doanh nghiệp sản xuất trongnước sẽ có lợi thế lớn nếu các nhà cung cấp của họ là các công ty toàn cầu, nhưvậy doanh nghiệp sẽ nắm bắt tin tức thị trường và đối thủ cạnh tranh trực tiếpkhác

Một quốc gia không nhất định phải có lợi thế trong tất cả các ngành phụ trợliên quan để có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh của một ngành nghề nhất định Cácngành sản xuất có thể tự tạo ra lợi thế cạnh tranh cho mình bằng các đầu vàonhập khẩu hay tạo lợi thế tuyệt đối nhờ kiến thức chuyên sâu hay sản xuất cácsản phẩm có tính độc quyền về kỹ thuật… nhưng nhìn chung các ngành sản xuất

sẽ dễ dàng tạo ra lợi thế cạnh tranh hơn nếu có hệ thống các ngành phụ trợ liênquan phát triển và gắn bó chặt chẽ

Trong một nước, một ngành nghề nhất định muốn lớn mạnh không nhấtthiết phải có sự tham gia từ các ngành phụ trợ khác nhau Các ngành nghề đó cóthể tự tạo ra lợi thế cạnh tranh cho riêng mình bằng nhiều phương thức khácnhau như các lợi thế tuyệt đối nhờ kiến thức chuyên sâu hay sản xuất ra nhữngsản phẩm mới mang tính chất độc quyền về kiểu dáng và kỹ thuật….Nhưng nhìnchung, các ngành sản xuất sẽ dễ dàng tạo ra lợi thế cạnh tranh hơn nếu hệ thốngcác ngành phụ trợ liên quan có sự gắn bó khăng khít với nhau, hỗ trợ cho nhaucùng phát triển

1.2.4 Chiến lược, cơ cấu và môi trường cạnh tranh

1.2.4.1 Chiến lược, cơ cấu của các doanh nghiệp trong nội địa

Trang 24

Theo quan niệm của các nước trên thế giới thì mục tiêu, cách thức quản lý

và chiến lược quản lý của các công ty là không giống nhau, nó có sự khác biệt rõrệt do tùy vào từng đặc tính, sự phát triển của mỗi quốc gia Bằng cách diễn đạtkhác, không tồn tại một cơ chế quản lý nào được coi là hoản thiện hay phù hợpnhất Để có thể dẫn đến sự thành công về cơ chế giữa các công ty trong thịtrường nội địa cần phải tìm được điểm mấu chốt giữa mô hình, các cách thứcquản lý giữa các công ty và sự gắn liền của các mô hình đó với điều kiện môitrường xem có phù hợp hay không

Điều kiện vốn có của mỗi nước sẽ có những sự tác động không nhỏ đến cáccách thức tổ chức quản lý và chiến lược quản lý của các doanh nghiệp, công tytrong đất nước đó Tuy nhiên, điểm khác biệt quan trọng giữa các nước trongviệc tiếp cận tới các cách thức đó ở từng lĩnh vực khác nhau như đào tạo, tổchức định hướng, những ý kiến, sáng tạo của mỗi con người hay tập thể, phongcách làm việc độc lập hay hay nhóm, mối quan hệ giữa lao động và quản lý,…

đã cấu thành nên được những thuận lợi và hạn chế nhất định trong các ngànhcông nghiệp khác nhau Những yếu tố đó đặc biệt quan trọng trong các ngànhcông nghiệp vì chúng tạo ra được sự sáng tạo và thay đổi trong các doanhnghiệp nội địa

Giữa các ngành trong một đất nước, đặc biệt là những ngành công nghiệpnắm vai trò chủ chốt của một quốc gia thì đều đòi hỏi phải có nhu cầu về tàichính, vốn, lao động, mức độ rủi ro hay những khoảng thời hạn đầu tư, mức độthu nhập bình quân khác nhau Do vậy, mục tiêu của các doanh nghiệp sẽ đượcxác định dựa trên các yếu tố như cơ cấu sở hữu, kế hoạch định hướng phát triển,đặc tính quản lý và các chương trình khuyến khích nhằm tạo ra động lực cho cácnhà quản trị

1.2.4.2 Môi trường cạnh tranh trong một quốc gia

Trang 25

Các công ty, xí nghiệp trong một đất nước muốn có sự đột phá thì họ cầnphải duy trì được sự đổi mới không ngừng nghỉ để có thể theo kịp được nhịp độcủa thị trường Trong toàn bộ quá trình đó, các công ty cần không ngừng cạnhtranh lẫn nhau, đồng thời gây áp lực lẫn nhau để có thể tạo ra được những bướcđột phá và nâng cao được chất lương của sản phẩm – dịch vụ mà họ đã cungcấp Việc cạnh tranh gay gắt đã hình thành nên một môi trường cạnh tranh hoànhảo dành cho các doanh nghiệp.

Để có thể nâng cao được hiệu quả của các hoạt động sản xuất và tăng đượcnăng suất lao động thì các công ty, doanh nghiệp trong nước cần phải khôngngừng tìm tòi, đưa ra, đóng góp các ý kiến, phát huy tính sáng tạo của mình, tìmcách cải tiến và áp dụng được các trang máy móc thiết bị hiện đại Đây chính làđiểm lợi của môi trường cạnh tranh nội địa, buộc các công ty trong nước có thểđột phá nhằm đương đầu với các đối thủ cạnh tranh trên trường quốc tế Chẳnghạn, một công ty khi sản phẩm của họ đã đến giai đoạn suy giảm thì công ty đócần phải tìm cách để cải tiến sản phẩm đó hoặc phải thay thế bằng một sản phẩmmới hoàn toàn để có thể phù hợp với thị trường nhằm duy trì khả năng cạnhtranh của mình Có nhiều phương thức cạnh tranh khác nhau: hoạt động ưu đãi,hoạt động Marketing,… Ngoài ra còn có các hình thức cạnh tranh khác nhưkhoa học công nghệ Thành công trong quá trình đổi mới là dấu hiệu và minhchứng sự phát triển của một ngành, thu hút thêm sự gia nhập của các doanhnghiệp mới

Trong điều kiện sản xuất giữa các nước trên thế giới là như nhau, thì việccạnh tranh nội địa sẽ làm mất đi tính ỷ lại của các doanh nghiệp dựa vào cácđiều kiện đó Việc các doanh nghiệp trong nước ganh đua với nhau sẽ giúp chocác doanh nghiệp đó không chỉ có nền tảng bền vững và kinh nghiệm sẵn có khiđối đầu với các đối thủ quốc tế mà đồng thời còn có thể khai thác và phát huy tối

đa hiệu quả của các nguồn tài nguyên Ngược lại, nếu không có sự tồn tại của

Trang 26

cạnh tranh nội địa, các doanh nghiệp đó chỉ có thể hoạt động và tồn tại một cáchtrì trệ dựa trên những nguồn tài nguyên mà quốc gia đem lại.

Tóm lại, cạnh tranh nội địa là yếu tố thiết yếu đối với sự phát triển của cácdoanh nghiệp, cũng như đối với các ngành nghề của một quốc gia Nếu không

có môi trường cạnh tranh, chỉ tồn tại biểu hiện độc quyền sản phẩm thì cácdoanh nghiệp, các ngành và quốc gia đó sẽ trì trệ, kém phát triển Ngoài ra, tất

cả các quốc gia cũng cần chủ trọng đến các lợi thế các trong mô hình, nếu không

sẽ không thể phát huy và đạt được hiệu quả một cách tối đa

1.2.5 Vai trò của Chính phủ

Vai trò chủ yếu của Chính phủ thực chất chỉ là tác động, ảnh hưởng tới 4yếu tố chính của mô hình bao gồm: Điều kiện sản xuất đầu vào; các điều kiệnnhu cầu trong nước; các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan; chiến lược,

cơ cấu và sự cạnh tranh giữa các công ty

Sự tác động của Chính phủ đến các điều kiện, yếu tố sản xuất đầu vàothông qua các trang thiết bị trợ cấp, chính sách trợ cấp vốn cho các doanhnghiệp, chính sách y tế,…

Việc xác định ảnh hưởng của Chính phủ đến nhóm các yếu tố nhu cầutrong nước khó khăn hơn, tác động tích cực hay tiêu cực tới lợi thế cạnh tranhcủa các doanh nghiệp trong nước, của toàn ngành Chính phủ có thể tác động tớinhu cầu thông qua việc điều chỉnh các chính sách sản xuất hàng hóa, kích cầucủa loại mặt hàng này thông qua các mặt hàng khác hay tác động trực tiếp đếnnhu cầu của người dân trong nước Tuy nhiên, Chính phủ có thể mua sắm hay

hỗ trợ, đặt mua các thiết bị, sản phẩm của các doanh nghiệp đó như các thiết bịđiện tử radio, thiết bị an ninh, thiết bị lắp ráp máy bay cho hãng hàng khôngquốc gia,…

Chính phủ cũng có thể thúc đẩy lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệpthông qua các ngành phụ trợ liên quan bằng nhiều phương thức khác nhau như

Trang 27

xây dựng các cơ sở hạ tầng hay liên kết giữa các công ty, doanh nghiệp, tàichính Đối với yếu tố về chiến lược, cơ cầu và sự cạnh tranh giữa các công ty thìChính phủ lại có những tác động thông qua các chính sách kinh tế như chínhsách điều chỉnh, điều tiết kinh doanh, thể chế hay những chính sách về thuế vàluật chống độc quyền, thị trường về vốn.

Chính phủ còn tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệpthông qua việc tạo môi trường pháp lý và kinh tế Ngoài ra, việc tăng trưởngkinh tế không phải vì mục địch tự thân phát triển mà là cách thức sao cho đờisống của nhân dân có thể tốt hơn, do vậy điều tiết các hoạt động xã hội và phânphối lại lợi ích là một phần không thể thiếu trong vai trò của Chính phủ Tuynhiên, những chính sách mà Chính phủ đã đề ra cũng có thể chịu tác động từ cácnhân tố quyết định

Nói tóm lại, những chính sách hay tác động của Chính phủ sẽ đem lại hiệuquả tích cực đối với nền kinh tế cũng như nâng cao khả năng về lợi thế cạnhtranh cho các ngành nghề nếu chúng được áp dụng một cách thích đáng, đúnggiai đoạn, đúng thời điểm và áp dụng cho các nhân tố ảnh hưởng tới lợi thế cạnhtranh Ngược lại, những chính sách đó sẽ thất bại nếu chúng chỉ có thể duy trìhay phát triển cho nhân tố ảnh hưởng tới lợi thế cạnh tranh duy nhất

1.2.6 Vai trò của cơ hội

Michael Porter cũng chỉ ra rằng, ở hầu hết tất cả các thị trường, cơ hội luônđóng vai trò vô cùng quan trọng Điều này đã tạo ra cơ hội cho các công ty,doanh nghiệp sáng tạo không ngại tìm cách để bắt đầu và phát huy các hoạtđộng mới Các doanh nghiệp có thể bắt đầu cơ hội của họ tại ngay chính quênhà, hay tìm những khởi đầu từ nước ngoài để có thể tận dụng thêm được nhiều

cơ hội hơn Nếu có thể tận dụng một cách triệt để được cơ hội thì các doanhnghiệp trong quốc gia có thể đạt được lợi ích, thành công to lớn và tạo ra nhữngbước nhảy vọt trong lợi thế cạnh tranh Tuy nhiên, cơ hội lại là những yếu tố

Trang 28

không thể nắm bắt được, nó có những tác động nằm ngoài sự kiểm soát của cácdoanh nghiệp và không có liên quan gì đến hoàn cảnh của quốc gia Ví dụ như:

- Sự ra đời của những phát minh, công nghệ

- Sự thay đổi về giá cả trên thị trường thế giới thúc đẩy nguồn cung cầutrong nước

- Những khủng hoảng, biến động hay những mong muốn thay đổi đột biến

từ người tiêu dùng trong nước hay nước ngoài

Các cơ hội thông qua các yếu tố có trong mô hình để thực hiện vai trò,nhiệm vụ của mình, ví dụ như sự đầu tư đến từ các nước, cùng với đó là sự rađời của những phát minh công nghệ sẽ ảnh hưởng đến điều kiện sản xuất, từ đótạo ra sự thúc đẩy mạnh mẽ trong quá trình sản xuất của các doanh nghiệp nóiriêng và các ngành nói chung Theo quan điểm này sẽ giúp cho lợi thế cạnhtranh đẩy mạnh được hiệu quả khả năng, cấp độ và tính cấp thiết của toàn bộ cáchạng mục có sự đầu tư trong quốc gia và làm biến đổi về mối quan hệ giữa cácđối tác

Tuy vậy, nếu xét theo tổng thể chung, ta cần xác định được thuộc tính củamột quốc gia mới là yếu tố tất yếu, giữ vai trò to lớn trong quá trình quyết địnhxem quốc gia đó sẽ khai thác và mở rộng ra các cơ hội như thế nào Do vậy mà

mô hình kim cương của quốc gia nào càng thuận lợi thì khả năng chuyển hóanhững cơ hội ngẫu nhiên thành nguồn lợi thế sẽ càng đạt được hiệu quả cao vàcũng nhờ đó mà các doanh nghiệp trong quốc gia đó sẽ dễ dàng hơn trong việctiếp cận và nắm bắt được những nguồn lợi thế

Trang 29

CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP DỆT MAY VIỆT NAM THÔNG QUA MÔ HÌNH KIM

CƯƠNG CỦA MICHAEL PORTER 2.1 Một số nét tiêu biểu về ngành công nghiệp dệt may Việt Nam

2.1.1 Khái quát về lịch sử ngành dệt may Việt Nam

Ngành công nghiệp may mặc có thể coi là ngành nghề ra đời và được phổbiến sớm nhất trên đất nước Điều đó đã được minh chứng bằng việc Cụm nhàmáy may mặc tổng hợp được khởi công và khánh thành tại Nam Định vào năm

1889 Tuy nhiên, ngành dệt may chỉ đặc biệt phát triển vào thập niên 1950 với

sự xuất hiện của nhiều hãng dệt may nổi tiếng thế giới ở miền Nam cũng nhưcác công ty may mặc trực thuộc Nhà nước ở miền Bắc Sau giai đoạn hơn 10năm bị đình trệ do chiến tranh, ngành dệt may đã dần đạt được sự ổn định trở lại

và công tác xuất khẩu quần áo, hàng may mặc đã được bắt đầu từ cuối nhữngnăm 1960 nhưng chỉ thật sự được chú trọng và đẩy mạnh vào những năm 90, khinền kinh tế đất nước đổi mới Bước vào thế kỉ XX, nó đã thực sự trở thànhngành nghề đóng góp nhiều nhất vào sự phát triển về mọi mặt đất nước, nhất làsau khi Việt Nam được trở thành thành viên của tổ chức WTO Tốc độ tăng củadoanh thu toàn ngành luôn đạt mức tăng 2 con số, vào khoảng từ 11% cho đếntrên 20%

Như vậy có thể thấy, trải qua 130 năm hình thành và lớn mạnh, ngành côngnghiệp này luôn luôn chứng tỏ được sự mạnh mẽ cũng như vị thế của mình, đemlại hàng tỉ đồng nguồn thu ngoại tệ cho Chính phủ Chính vì những vai trò cầnthiết của ngành đem lại cho quốc gia, nhà nước cần có sự nghiên cứu, chú trọnghơn tới ngành cũng như có những sự hỗ trợ hợp lí nhằm thúc đẩy các công ty, xínghiệp may mặc đang hoạt động trong nước được thể hiện hết các năng lực, khảnăng sẵn có trong cuộc cạnh tranh khốc liệt với các doanh nghiệp nước ngoài.Qua đó, giúp cho nền kinh tế đất nước đạt được những thành tựu mới vững chắchơn nữa

Trang 30

2.1.2 Tổng quan về thị trường nội địa

Dễ thấy tuy thị trường nội địa đang có sự gia nhập của nhiều đối thủ đến từphía các quốc gia khác khiến cho tình hình thị trường trong nước ngày một khốcliệt nhưng các doanh nghiệp Việt Nam vẫn đang phát huy rất tốt các thế mạnhcủa mình Tính cho đến hết năm 2018, các hệ thống phân phối sản phẩm maymặc đã xuất hiện rộng khắp trên 63 tỉnh, thành phố với hơn 17.000 cửa hàngtrên cả nước Doanh số trong nước tính đến hết năm 2018 đạt con số ước tínhvào khoảng 5 tỷ USD (trên 110.000 tỷ đồng), một con số khá khiêm tốn so vớithị trường nước ngoài tuy nhiên cũng rất đáng khích lệ Dẫn đầu trong số cáccông ty, tập đoàn Việt Nam phải kể đến Vinatex với doanh thu nội địa năm 2018lên đến 33.000 tỷ đồng, chiếm hơn 30% tổng doanh thu của các công ty trên cảnước, tăng đến 18.5% so với năm 2017 Tuy tình hình thị trường nội địa đangngày một khởi sắc và có nhiều dấu hiệu khả quan nhưng các doanh nghiệp nộiđịa vẫn gặp rất nhiều khó khăn bởi vấn nạn hàng không rõ xuất xứ, nhái cácnhãn hiệu nổi tiếng của Việt Nam đi kèm với chất lượng thấp đang ngang nhiênđược bày bán một cách công khai trên thị trường với việc được gắn mác là hàngViệt Nam chất lượng cao với giá thành rẻ nên đã dành được sự ủng hộ của ngườimua hơn các sản phẩm chính hãng từ các công ty may mặc Việt Nam chính gốc

2.1.3 Tình hình xuất nhập khẩu hàng dệt may tại Việt Nam

2.1.3.1 Về xuất khẩu

Bên cạnh việc tiêu dùng mặt hàng quần áo, may mặc tại thị trường ViệtNam thì không thể không kể đến tình hình xuất – nhập khẩu ra thị trường thếgiới, một trong những nhân tố cần thiết đóng góp rất lớn, làm nên sự phát triểnkinh tế đất nước Theo các số liệu được công bố bởi Tổng cục Hải quan trongnăm 2018, Việt Nam thuộc 3 nước có sản lượng xuất khẩu hàng quần áo, maymặc đứng đầu trên thế giới với tổng doanh thu thu về ước tính đạt 36,2 tỷ USD,tăng 16,2% nếu so với năm 2017

Trang 31

Biểu đồ 2.1: Tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam.

Nguồn: Tổng cục Hải quan

Ước tính trong năm 2018, việc xuất khẩu hàng may mặc ra thị trường quốc

tế đã đem lại doanh thu đạt 28,79 tỷ USD, tăng 14,45% so với năm 2017; đốivới vải đạt 1,66 tỷ USD, tăng 25,5% so với năm 2017; với riêng vải chưa quadệt đạt 530 triệu USD, tăng 16,5% so với năm 2017; xơ sợi đạt con số 3,96 tỷUSD, vượt 9,8% so với năm 2017 và đối với các loại nguyên phụ liệu dệt may là

Biểu đồ 2.2: Thị trường xuất khẩu chủ lực hàng dệt may Việt Nam năm 2018.

Nguồn: Tổng cục Hải quan

Trang 32

1,24 tỷ USD, tăng tới 14,56% so với năm 2017 Trong đó, Mỹ là thị trường nướcngoài chính lớn nhất, lần lượt theo sau thị trường Mỹ là các thị trường EU, NhậtBản và Trung Quốc.

Bảng 2.1: Xuất khẩu ngành dệt may từ Việt Nam sang các thị trường năm 2016 – 2017.

Nguồn: Tổng cục Hải quan

Ngành may mặc của đất nước ta đang dần phát huy các thế mạnh của mình

và ngày một trở nên phát triển hơn Kể từ khi ký kết Hiệp định BTA với Mỹ vàonăm 2000, thì thị trường này luôn là thị trường xuất khẩu chính của ngành maymặc nước ta Trong năm 2017, doanh thu thu được từ xuất khẩu của ngành đạt12,5 tỷ USD, tăng 7,2% so với năm 2016, chiếm tỷ trọng hơn 40% Tiếp theo đó

là thị trường EU với doanh thu từ việc xuất khẩu đạt con số trên 4 tỷ USD, tăng9,22% so với năm 2016, chiểm tỷ trọng 15% Ngoài ra, sự tham vào các FTA

Trang 33

cũng thúc đẩy việc xuất nhập khẩu mặt hàng dệt may của Việt Nam ngày càngphát triển, doanh thu xuất khẩu sang hai nước châu Á khác là Hàn Quốc và NhậtBản lần lượt tăng là 11,8% và 6,12% so với năm 2016 Tuy nhiên trong năm

2018, sự đột biến rõ rệt được thể hiện ở kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ tăng13,7% cùng với EU tăng 10,5%

Nhân tố vô cùng quan trọng làm nên sự phát triển của ngành may mặc nước

ta là sự chuyển dịch từ khu vực lớn (Trung Quốc) sang các vùng nhỏ hơn (ViệtNam) Trung Quốc nắm giữ tổng lượng hàng xuất khẩu rất lớn các loại sảnphẩm may mặc (khoảng hơn 50%) sang các quốc gia có nhu cầu lớn nhất thếgiới, do vậy sự dịch chuyển khu vực sản xuất này có sức tác động vô cùng lớnvới ngành dệt may của nước ta

Ngoài ra, trong năm 2018, các doanh nghiệp Việt Nam nhận được nhiềuđơn đặt hàng hơn từ các đối tác quốc tế do năng suất cùng mẫu mã của các sảnphẩm dệt may ngày càng có sự cải thiện lớn, có sự cải tiến về công nghệ sảnxuất đồng thời giá thành nhiều loại sản phẩm cũng rẻ hơn so với các quốc giađối thủ mạnh khác Thậm chí, đã có những doanh nghiệp nhận đủ được đơn đặthàng trong nửa đầu năm 2019 Điều này đã góp phần lớn giúp cho doanh thu củangành dệt may tăng lên

Hơn nữa, ngành dệt may của chúng ta đã khắc phục được tình hình làmthêm giờ, theo xu hướng công nhân chỉ cho phép làm từ 44 tiếng – 48 tiếng Đặcbiệt, lương trung bình của công nhân cũng tăng mà ngày làm công không đổi, cóthêm ngày nghỉ, phụ cấp, đãi ngộ Chính sự hấp dẫn đó đã thu hút đông đảonguồn lao động trong nước

Tuy nhiên, song song các thành tựu đã đạt được, vẫn còn những thách thứclớn khác Ví dụ như vấn đề về giá các mặt hàng Việt Nam vẫn đắt hơn TrungQuốc (khoảng 6%) và Ấn Độ (12%) Với những đòi hỏi rất khắt khe của ngườimua Việt Nam và quốc tế, thêm vào đó là những khó khăn gặp phải thì ngành

Trang 34

may mặc còn phải cố gắng không ngừng để có thể khẳng định rõ vai trò củamình đối với nền kinh tế Việt Nam.

2.1.3.2 Về nhập khẩu

Đối lập với những tín hiệu khởi sắc tới từ tình hình xuất khẩu hàng hóamay mặc đến các quốc gia lớn trên toàn thế giới là tình hình nhập khẩu, nhất lànguyên phụ liệu Theo các số liệu được công bố mới nhất bởi Tổng cục Hảiquan, ước tính cho đến hết năm 2018, tổng giá trị nhập khẩu mặt hàng này của

cả nước lên đến hơn 21,8 tỷ USD, tăng so với năm 2017 là 15% Cơ cấu các loạinguyên liệu nhập khẩu được đưa ra thông qua biểu đồ sau:

Biểu đồ 2.3: Cơ cấu nhập khẩu đầu vào các loại nguyên liệu dệt may năm 2018.

Nguồn: VITAS, HBBS

Dựa theo số liệu được đưa ra bởi biểu đồ nêu trên, dễ dàng thấy được, sảnphẩm nhập khẩu nhiều nhất là vải, với kim ngạch đạt 12,94 tỷ USD, chiếm59,32% tổng kim ngạch nhập khẩu Sở dĩ giá trị nhập khẩu các loại vải của ViệtNam đạt con số lớn như vậy là do chủng loại vải Việt Nam chưa nhiều cũng nhưphẩm chất chưa thỏa mãn được các Công ty dệt may hoạt động trong nước vàđặc biệt là các khách hàng, đối tác nước khác Không những vậy, do các công tymay mặc nước ta hoạt động nhiều nhất ở lĩnh vực gia công sản phẩm theo đòihỏi từ phía khách hàng (với tỉ lệ chiếm đến 87%) nên họ buộc phải nhập nguyên

Trang 35

liệu phẩm chất tốt hơn từ nước ngoài do bên khách hàng yêu cầu Đứng sau vải

là các loại nguyên phụ liệu dệt may, ước tính đạt 3,76 tỉ USD, chiếm 17,26%tổng giá trị Hai vị trí cuối cùng thuộc về xơ sợi các loại và bông các loại vớitổng kim ngạch nhập khẩu tính đến hết năm 2018 ước đạt khoảng 3,02 và 2.08 tỉUSD, chiếm tỉ trọng lần lượt là 13,88% và 9,53% tổng kim ngạch nhập khẩu cácloại nguyên liệu dệt may đầu vào Về xuất xứ, Việt Nam nhập khẩu nguyên liệumay mặc chủ yếu từ Trung Quốc, chiếm hơn 40% số lượng các nguyên liệunhập khẩu, theo sau là các nước châu Á khác như Nhật Bản, Những con số từcác tài liệu thống kê nêu trên đã đặt ra các vấn đề lớn về nguồn nguyên liệu dệtmay mà các công ty, doanh nghiệp cũng như nhà nước cần phải giải quyết nhằmgiảm sự phụ thuộc, cũng như hạn chế tình trạng nhập siêu các loại nguyên phụliệu từ nước khác, qua đó nhằm nâng cao doanh thu trong nước cũng như giá trịxuất khẩu các hàng hóa may mặc ra thị trường quốc tế

2.1.4 Chất lượng của các mặt hàng dệt may nước ta

Ngành may mặc luôn nằm trong top những ngành xuất nhập khẩu lớn nhấtcủa Việt Nam gần 10 năm nay Bên cạnh sự nâng cao, đầu tư về nhà xưởng,công nghệ dệt may, trình độ tay nghề và kinh nghiệm của đội ngũ lao động ngàycàng cao, theo đó là những ưu đãi, hỗ trợ đến từ những quy định, trợ cấp từ nhànước, ngành đã và đang đạt được những thành tích đáng tự hào, tạo ra những sảnphẩm quần áo đảm bảo chất lượng cho người dân sử dụng và đồng thời duy trìxuất khẩu ra nước ngoài

Để có khả năng nhằm cạnh tranh với các quốc gia trên thị trường thế giớithì việc cải thiện chất lượng là yếu tố tất yếu, nó sẽ quyết định xem sản phẩmnào sẽ là lựa chọn trước tiên của người tiêu dùng Cải thiện chất lượng tức là sựcải thiện về công nghệ, khoa học hay sự tính toán trong việc lựa chọn chất liệusao cho đảm bảo và nâng cao hiệu quả của hàng hóa, tức là việc cải thiện chấtlượng hàng hóa để chúng có chủng loại, kiểu dáng đa dạng và phong phú hơn.Việc này nhằm đáp ứng được nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng, giúp cho

Trang 36

doanh nghiệp chiếm được niềm tin và sự trung thành của khách hàng TrungQuốc luôn dẫn đầu trong các nước xuất khẩu mặt hàng may mặc, cung ứng 53%lượng vải trên toàn thế giới Không chỉ lợi thế về lực lượng lao động đông đảo,các sản phẩm dệt may của Trung Quốc luôn có mẫu mã, chủng loại, đa dạng,phù hợp với tất cả mọi người Hơn nữa, khả năng, phương thức kỹ thuật của họcho phép họ dễ dàng làm ra nhiều hàng hóa đa dạng Điều này cũng tác độngnhiều tới giá thành của sản phẩm khi giá bán sản phẩm dệt may của nước ta lớnhơn giá của các đối thủ cạnh tranh, do sự giống nhau về chất lượng nhưng giáthành cao hơn bởi các công ty Việt Nam muốn tạo ra sản phẩm sẽ khó khăn hơn

do không có trình độ kỹ thuật hay phương thức nhuộm vải cao như Ấn Độ,Trung Quốc Hơn nữa, Việt Nam cũng phụ thuộc phụ liệu vải đến 50% từ TrungQuốc nên việc lệ thuộc nguồn cung khiến cho ngành dệt may kém đi thế chủđộng và khả năng để cạnh tranh so với ngành dệt may nước bạn Vậy nhưng,trong 5 năm gần nhất, việc các doanh nghiệp đón nhận nhiều đơn hàng hơn,lượng hàng hóa, quần áo dệt may xuất tới các nước khác nhiều hơn cho thấybước đầu rất khả quan, thể hiện được niềm tin của các đối tác nước bạn về chấtlượng sản phẩm của các doanh nghiệp nước ta

2.1.5 Vai trò của ngành may mặc nước ta

- Đóng góp tạo nên sự tăng trưởng kinh tế: Đầu tiên, dễ dàng thấy rằng, sự

ra đời và tăng trưởng của ngành may mặc nước ta đã đem lại những bước tiếnđáng kể, tác động không nhỏ đến việc hội nhập và phát triển kinh tế đất nước.Khác với nhiều ngành công nghiệp quan trọng khác ở Việt Nam, đây là ngành

có thể tận dụng triệt để nguồn cung lao động của đất nước, đòi hỏi ít vốn đầu tưsản xuất nhưng đem lại nguồn lợi nhuận khủng lồ và có tỉ lệ sinh lời thuộc mứckhá cao Điều này đã được thể hiện vô cùng rõ nét qua những số liệu được thống

kê một cách thường xuyên, doanh thu nó đem lại cũng như chiếm tỉ trọng rất lớntrong nguồn doanh thu xuất khẩu của đất nước thu được qua các năm

Ngày đăng: 04/08/2019, 17:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w