Hải Phòng là vùng đất có nhiều ngành nghề thủ công nổi tiếng trong cả nước, đãgiao lưu với quốc tế và Gỗ Mộc Kha Lâm cũng không nằm ngoại lệ trong đó các làngnghề truyền thống đóng một v
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI CẢM ƠN 5
MỞ ĐẦU 6
1 Tính cấp thiết của đề tài 6
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 7
2.1 Mục đích của luận văn 7
2.2 Nhiệm vụ 7
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
3.1 Đối tượng nghiên cứu 7
3.2 Phạm vi nghiên cứu 8
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Lịch sử nghiên cứu đề tài 8
6 Đóng góp của đề tài 9
7 Kết cấu đề tài 9
NỘI DUNG 11
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn phát triển làng nghề truyền thống 11
1.1 Khái niệm và phân loại làng nghề 11
1.2 Vai trò làng nghề đối với phát triển kinh tế xã hội làng nghề truyền thống gỗ mộc Kha Lâm 15
Chương 2 Thực trạng phát triển làng nghề truyền thống 26
2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển làng nghề gỗ Kha Lâm 26
2.2 Tình hình phát triển của làng nghề Kha Lâm 32
2.2.1 Quy mô làng nghề ……….……….……32
2.2.2 Cơ cấu sản phẩm của làng nghề 32
2.2.3 Doanh thu một số cơ sở trên địa bàn 37
1
Trang 22.2.4 Thị trường 39 2.2.5 Hoạt động sản xuất đồ gỗ gây ô nhiễm môi trường địa phương 40Chương 3 Đề xuất các giải pháp phát triển làng nghề truyền thống Gỗ mộc Kha Lâm –Nam Sơn 44
3.1 Quan điểm định hướng phát triển làng nghề truyền thống 44 3.2 Các giải pháp phát triển bền vững làng nghề truyền thống gỗ mộc Kha Lâm 44
KẾT LUẬN 52 TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
2
Trang 3DANH MỤC HÌ
Hình1.1: Gỗ Okal (Ván dăm) 24
Hình 1.2: Gỗ thịt (gỗ tự nhiên) 24
Hình 1.3: Tủ kệ, bàn ghế gỗ okal 26
Hình 1.4 : Nội thất văn phòng 26
Hình 1.5 Các sản phẩm được khảm trai tinh xảo 27
Hình 2.1: Lược đồ Quận Kiến An 30
Hình 2.1: Biểu đồ thể hiện cơ cấu sản phẩm đồ gỗ Làng nghề truyền thống Kha Lâm 37
Hình 2.2 : Đồ nội thất được sản xuất từ gỗ ván dăm – okal 38
Hình 2.3 : Đồ nội thất được sản xuất từ gỗ tự nhiên 38
Hình 2.4 : Đồ gỗ Đồng Kỵ 39
Hình 2.5 : Hoạt động sản xuất đồ gỗ nội thất tại xưởng của doanh nghiệp Sơn Hà 42
Hình 2.6 Các hộp, lọ hóa chất ……….………42
Hình 2.7 Khói bụi mất tầm nhìn……….……….……… 42
Hình 2.8 : Công đoạn phun sơn bóng cho sản phẩm gỗ mộc Hình 2.9: Bụi , mùn cưa bắt bụi kín khu vực làm việc 46
Hình 2.10 : Khí thải từ hoạt động sản xuất của làng nghề 46
3
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Y
Bảng 1: Phân bố làng nghề các vùng trong cả nước( năm 2004) [4] 20 Bảng 2 Phân bố các làng nghề chế biến gỗ năm 2009 [4] 22 Bảng 3 Vốn đầu tư làng nghề qua các năm (Tỷ đồng) [7] 38
4
Trang 5Và đặc biệt tác giả muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới Thầy giáo – Thạc sỹNguyễn Xuân Hiệp Thầy đã không quản thời gian, công sức tận tình hướng dẫn vàhướng dẫn tác giả trong suốt thời gian thực hiện khoá luận.
Với kiến thức, khả năng còn hạn chế và điều kiện thời gian không cho phép, nên
đề tài nghiên cứu sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong các thầy cô giúp đỡtác giả sửa chữa, bổ sung những thiếu sót đó để nội dung khóa luận của tác giả đượchoàn thiện hơn
Tác giả xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Hương
5
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Làng nghề truyền thống Việt Nam đã có từ hàng trăm năm, gắn liền với bản sắc vănhóa dân tộc và góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế xã hội của đất nước
Các làng nghề tại Việt Nam hiện nay đã góp phần giúp kinh tế tại các làng quêngày một phát triển hơn, giúp giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho nông dân tronglúc nông nhàn
Hải Phòng là vùng đất có nhiều ngành nghề thủ công nổi tiếng trong cả nước, đãgiao lưu với quốc tế và Gỗ Mộc Kha Lâm cũng không nằm ngoại lệ trong đó các làngnghề truyền thống đóng một vai trò rất lớn trong việc nâng cao đời sống người dân vàphát triển kinh tế địa phương
Tuy nhiên vấn đề phát triển các làng nghề ở Hải Phòng nói riêng cũng giống nhưnhững vấn đề về phát triển làng nghề của nước ta nói chung đều vẫn còn những hạn chếcần được quan tâm nghiên cứu
Giai đoạn những năm 1980-2008 làng nghề gỗ Kha Lâm nổi lên nhanh chóng,phát triển vượt bậc đây làng nghề tạo được tiếng vang trong nước, đời sống nhân dân địaphương cũng ngày được nâng cao một cách đáng kể Tuy vậy kinh tế làng nghề Kha Lâmvẫn mang đậm nét của nông thôn Việt Nam Chính vì vậy làng nghề tuy phát triểnnhưng chưa có định hướng lâu dài và ổn định Đến giai đoạn 2008 tới nay tình hình làngnghề đã không còn phát triển như trước thị trường gỗ mộc Kha Lâm đã trầm lắng, số hộkinh doanh giảm xuống mạnh do khủng hoảng kinh tế giai đoạn năm 2008- 2009 Làngnghề gỗ mộc Kha Lâm đang đứng trước nguy cơ thất truyền
Và vấn đề đáng chú ý nữa là song song với việc phát triển kinh tế xã hội địaphương cần gắn liền với việc bảo vệ môi trường Làng nghề gỗ mộc Kha Lâm hoạt độngkhí thải trong quá trình sán xuất sản phẩm làng nghề đã gây ảnh hưởng tới môi trườngsinh sống của người dân
Trang 7Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Kha Lâm với lịch sử bề dày kinh nghiệm về sảnxuất đồ gỗ mộc, okan Kha Lâm nổi tiếng, tác giả rất tự hào về người dân nơi đây Nhữngcon người chân chất, chăm chỉ, tỉ mỉ từng chi tiết nhỏ trong từng khâu sản xuất để sản xuất rađược những sản phẩm với sự tinh tế cao, chất lượng tốt và với cả tấm lòng yêu nghề củangười thợ mộc Kha Lâm Nhưng song song đó vấn đề tác giả băn khoăn rất nhiều đó là làmsao để hồi phục lại làng nghề truyền thống đã hơn trăm năm lịch sử quê hương
Do đó Tôi chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp phát triển làng nghề truyền thống
Gỗ mộc Kha Lâm – Kiến An Hải Phòng” làm chuyên đề luận văn tốt nghiệp
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
2.1 Mục đích của luận văn
- Làm rõ cơ sở thực tiễn về việc phát triển làng nghề truyền thống Gỗ mộc Kha Lâm
- Phản ánh tình hình phát triển của làng nghề truyền thống
- Xây dựng giải pháp để phát triển làng nghề truyền thống gỗ mộc Kha Lâm
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu về tình hình hoạt động và phát triển tạilàng nghề truyền thống Gỗ mộc Kha Lâm, các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển làng nghề,quy mô, cơ cấu, quy trình sản xuất và một số vấn đề khác
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian nghiên cứu: Tìm hiểu, nghiên cứu tại Làng nghề gGỗ mộcKha Lâm, Phường Nam Sơn- Kiến An- Hải Phòng
Trang 8- Phạm vi thời gian nghiên cứu: Thời gian nghiên cứu và thu thập số liệu từ năm2005- 2015.
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra, phỏng vấn: Từ việc chuẩn bị câu hỏi phỏng vấn liên quan đến
đề tài tiến hành phỏng vấn trực tiếp các hộ kinh doanh và sản xuất tại làng nghề Kha Lâm đểđưa ra ý kiến chung về thực trạng phát triển tại làng nghề
- Phương pháp thu thập, tổng hợp và xử lí số liệu: Thu thập số liệu về cơ cấu kinh
tế địa phương cụ thể ở đây là Phường Nam Sơn, làng nghề gỗ mộc Kha Lâm Thu thập sốliệu thống kê từ các hộ và cơ sở sản xuất Nghiên cứu thông tin cơ bản và xử lí số liệu do
cơ quan nhà nước, các nghiên cứu cá nhân, tổ chức về phát triển làng nghề truyền thống ởnông thôn
- Phương pháp kế thừa các kết quả nghiên cứu: tìm hiểu các kết quả nghiên cứu đitrước để vận dụng vào bài nghiên cứu của cá nhân, chọn lọc đúng ý, không sao chép, từnhững nghiên cứu đi trước mà rút ra những kinh nghiệm cho bản thân
- Phương pháp thực địa: Trên cơ sở khảo sát thực tế tại làng nghề Kha Lâm, đượctiếp cận đối tượng một cách trực tiếp, tiến hành tìm hiểu, phân tích tình hình phát triển,quá trình sản xuất của các hộ các cơ sở sản xuất và kinh doanh tại làng nghề một cáchchính xác và đưa ra biện pháp hữu hiệu nhất để làng nghề ngày càng phát triển và vươn
xa hơn mang lại nguồn lợi kinh tế lớn hơn cho người dân địa phương cũng như lao độngnông thôn
- Phương pháp so sánh: Phương pháp được sử dụng để so sánh số liệu giữa các năm
từ đó đánh giá được tình hình phát triển kinh tế xã hội tại làng nghề
5 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Các công trình nghiên cứu về thủ công nghiệp, nghề truyền thống và vấn đề môitrường gắn bó với làng nghề Các công trình nghiên cứu về tình hình sản xuất và kinhdoanh của làng nghề và làng nghề truyền thống như:
- Công trình “Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình CNH, HĐH ở vùngven thủ đô Hà Nội”, Luận án tiến sỹ kinh tế của Mai Thế Hởn, Hà Nội, năm 2000
Trang 9- Công trình “Xây dựng thương hiệu sản phẩm làng nghề truyền thống ở đồng bằngsông Hồng hiện nay”, Đề tài khoa học cấp Bộ, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chi Minh, do
TS Nguyễn Vĩnh Thanh làm chủ nhiệm, Hà Nội, 2006
- Công trình “Những giải pháp nhằm phát triển làng nghề ở một số tỉnh đồng bằng sôngHồng”, Đề tài khoa học cấp Bộ của Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, do GS,
TS Nguyễn Trí Dũng làm chủ nhiệm, Hà Nội, 2005
- Công trình “Xây dựng và phát triển mô hình làng nghề du lịch sinh thái tại một
số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ”, Đề tài khoa học cấp Bộ của Bộ giáo dục và đào tạo, doGS.TS Hoàng Văn Châu làm chủ nhiệm, Hà Nội, 2006
- Công trình “Làng nghề truyền thống đồng bằng sông Hồng sau Khi Việt Nam gianhập tổ chức thương mại Thế giới”, Đề tài khoa học của Viện Kinh tế - Học viện Chính trị -Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2009 Do TS Vũ Thị Thoa làm chủ nhiệm
Các công trình nêu trên đều tiến hành ngiên cứu về Làng nghề truyền thống trênnhiều khía cạnh khác nhau, có liên quan mật thiết tới đề tài của các tác giả
6 Đóng góp của đề tài
- Nghiên cứu lí thuyết làng nghề truyền thống gắn với một điểm, lãnh thổ cụ thể,
đề xuất một số giải pháp cụ thể
- Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển kinh tế làng nghề địa phương, từ
đó xác định được vai trò quan trọng của làng nghề đối với địa phương Từ đó xác địnhđược vai trò quan trọng của làng nghề đối với địa phương nói riêng và cả nước nói chung
- Phân tích được hiện trạng phát triển của làng nghề truyền thống gỗ mộc Kha Lâm
- Xây dựng biện pháp phát triển phù hợp, xác thực tới đời sống nhân dân, sát vớimục tiêu và định hướng phát triển của địa phương
- Là tư liệu giáo dục địa lí địa phương ở trường phổ thông
Trang 10Chương 2 Thực trạng phát triển làng nghề truyền thống Gỗ mộc Kha LâmChương 3 Đề xuất các giải pháp phát triển làng nghề truyền thống Gỗ mộcKết luận, đề xuất giải pháp
Trang 11NỘI DUNG Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn phát triển làng nghề truyền thống
Gỗ mộc Kha Lâm- Kiến An 1.1 Khái niệm và phân loại làng nghề
1.1.1 Khái niệm làng nghề truyền trống
Cho đến nay vẫn chưa có khái niệm chính thống về “Làng nghề” Lâu nay kháiniệm làng nghề thường được hiểu theo nhiều cách khác nhau Có nhà nghiên cứu chorằng “Làng nghề là một thiết chế kinh tế- xã hội ở nông thôn, được cấu thành bởi hai yếu
tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định, trong đó bao gồm nhiều hộgia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết về kinh tế, xã hội
và văn hóa” [1]
Có nhà nghiên cứu định nghĩa“Làng nghề truyền thống là làng nghề cổ truyền làmnghề thủ công Ở đây không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công Ngườithợ thủ công nhiều trường hợp cũng đồng thời làm nghề nông Nhưng yêu cầu chuyênmôn hóa cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng truyền thống ngay tại làngquê mình” [2]
Theo giáo sư Trần Quốc Vượng thì “Làng nghề là một làng tuy vẫn còn trồng trọttheo lối tiểu nông và chăn nuôi nhưng cũng có một số nghề phụ khác như đan lát, gốm
sứ, làm hương…song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủcông chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường( cơ cấu tổ chức ), có ông cả, cótrưởng nghề… cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhấtđịnh “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “ nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, sống chủ yếu được bằngnghề đó và sản xuất ra những mặt hàng thủ công, những mặt hàng này đã có tính mỹnghệ, đã trở thành sản phẩm hàng hóa và có quan hệ tiếp thị với một thị trường là vùngrộng xung quanh và với thị trường đô thị và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuấtkhẩu ra cả nước ngài” [3] Định nghĩa này hàm ý về các làng nghề truyền thống, đó lànhững làng nghề nổi tiếng từ hàng nghìn năm
Trang 12Các làng nghề phải đáp ứng các tiêu chí sau mới được gọi là làng nghề truyền thống.Làng nghề truyền thống đạt 03 tiêu chí sau được quy định tại Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiệnmột số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ về pháttriển ngành nghề nông thôn.
- Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghịcông nhận
- Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc
- Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề
1.1.2 Phân loại
1.1.2.1 Phân loại
Cũng đã có những cách phân loại làng nghề khác nhau Nhiều nhà nghiên cứu nhấttrí hai cách phân loại như sau:
- Phân loại theo số lượng làng nghề:
+ Làng nghề một nghề là những làng ngoài nghề nông ra, chỉ có thêm một nghềthủ công duy nhất
+ Làng nghiều nghề, là những làng ngoài nghề nông ra còn có thêm một số hoặcnhiều nghề khác
- Phân loại theo tính chất nghề:
+ Làng nghề truyền thống là làng nghề xuất hiện từ lâu đời trong lịch sử và còntồn tại đến ngày nay
+ Làng nghề mới là những làng nghề xuất hiện do sự phát triển lan tỏa của cáclàng nghề truyền thống du nhập từ các địa phương khác Một số làng mới được hìnhthành do chủ trương của một số địa phương cho người đi học nghề ở nơi khác về dạy chodân địa phương nhằm đào tạo việc làm cho người dân địa phương của mình
1.1.2.2 Các nhóm làng nghề
Theo thống kê năm 2004, cả nước có 2017 làng nghề , trong đó có khoảng 300làng nghề truyền thống, bao gồm 1,4 triệu cơ sở sản xuất với nhiều loại hình tổ chức sản
Trang 13xuất từ hộ gia đình đến tổ sản xuất, tổ hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân và các loại hìnhcông ty.
Số làng nghề được phân bố như bảng sau(số liệu năm 2004)
Trang 14Bảng 1: Phân bố làng nghề các vùng trong cả nước( năm 2004) [4]
Như vậy, có thể thấy làng nghề tập trung chủ yếu ở Đồng bằng sông Hồng, nơiđây có đến 866 làng nghề, có đến 80% hộ nông dân tham gia làm hàng thủ công Riêngtỉnh Hà Tây cũ có đến 258 làng nghề được coi là “đất trăm nghề” Nơi có những làngnghề nổi tiếng từ lâu đời như lụa Vạn Phúc, Mây tre đan Phú Vinh, khảm ChuyênMỹ,v.v…
Đáng chú ý từ năm 2004 đến nay, tình hình làng nghề ở các địa phương khác đã cónhiều thay đổi, nhiều làng nghề đã hình thành, có các làng nghề được địa phương côngnhận chính thức bằng văn bản, có làng chưa được công nhận chính thức Song cho đếnnay, chưa có thống kê chính thức cập nhật về số lượng làng nghề hiện có trong cả nước,
do đó : số liệu hiện đang dùng (2017 làng) có thể thấp so với thực tế (ví dụ theo số liệunăm 2004, Thừa Thiên Huế chỉ có 04 làng nghề, nhưng thực tế đã có đến 88 làng nghề
Làng nghề có thể chia thành 14 nhóm Việc phân nhóm trên đây chỉ là quy ước, vìcho đến nay, chúng ta chưa có nghiên cứu đầy đủ về phương pháp luận phân nhóm làngnghề Năm 2004, dự án của cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) hợp tác với BộNông nghiệp và phát triển nông thôn chỉ phân 11 nhóm thuộc ngành nghề thủ côngnghiệp không đề cập đến các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm, cây cảnh…có thểthấy: do nhu cầu của thị trường, có những ngành nghề mới đã xuất hiện và hình thànhlàng, làm phong phú thêm danh mục các làng nghề
Trong các làng nghề hiện nay, đang có nhiều tổ chức sản xuất, kinh doanh rất đadạng, đó là các loại doanh nghiệp (các loại công ty, doanh nghiệp tư nhân) hợp tác xã, tổsản xuất, hộ gia đình thuộc các lĩnh vực sản xuất buôn bán, dịch vụ, du lịch Hoạt động
Trang 15của các tổ chức kinh doanh này (gọi chung là doanh nghiệp) đang trong bước phát triển,năng động, đa dạng, giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong các cuộc khôi phục và phát triểnlàng nghề Trong các doanh nghiệp đó, cơ cấu như sau: thủ công nghiệp, xây dựng chiếm33% Chế biến chiếm 27% dịch vụ chiếm 40% (chủ yếu là cửa hàng bán lẻ).
Về thành phần kinh tế, trong các nghành nghề nông thôn hiện nay, kinh tế tư nhânchiếm 71,8 %, kinh tế hợp tác xã chiếm 18,2%, kinh tế nhà nước chiếm 10% Khu vựckinh tế tư nhân đang có nhiều triển vọng, do suất đầu tư thấp, kinh doanh năng động, hiệuquả cao Thời gian gần đây, nhiều tổ chức xã hội dân sự trong các làng nghề đã được tổchức dưới nhiều hình thức, như hội ngành nghề, hiệp hội (Hiệp Hội làng nghề ViệtNam) kể cả câu lạc bộ
1.1.2.3 Tổng quan về làng nghề gỗ của Việt Nam
Đến năm 2010 cả nước có trên 300 làng nghề gỗ, dự kiến đến năm 2015 sẽ pháttriển trên 350 làng nghề chủ yếu các làng nghề tập trung ở vùng Đồng Bằng sông Hồng(Bảng 2 mô tả phân bố của các làng nghề) So sánh với các làng nghề khác, làng nghề gỗ
có vai trò quan trọng về kinh tế, theo HRPC năm 2009 cho thấy, mặc dù số lượng làngnghề gỗ chỉ chiếm dưới 10% trong tổng số làng nghề của cả nước, giá trị sản xuất tổngdoanh thu của các làng nghề cao Nhiều làng nghề gỗ có sản phẩm xuất khẩu Năm 2009,kim ngạch xuất khẩu của các làng nghề gỗ và lâm sản ngoài gỗ đạt 200 triệu USD, tươngđương với 25% tổng số kim ngạch của tất cả làng nghề Việt Nam [4]
Hiện các làng nghề gỗ cung cấp tới 80% đồ gỗ nội thất và đồ gỗ xây dựng cho thịtrường nội địa Với lượng lao động rồi dào (trên 300.000 lao động), làng nghề gỗ đã tạo
ra công ăn việc làm cho rất nhiều lao động địa phương
Trang 16Bảng 2 Phân bố các làng nghề chế biến gỗ năm 2009 [4]
cơ cấu kinh tế, góp phần quan trọng phát triển kinh tế, ổn định xã hội, đồng thời có ý nghĩa tolớn về bảo tồn các giá trị văn hóa của dân tộc và góp phần quan trọng việc phát triển du lịch
1.2.1 Tạo việc làm cho người lao động và giảm thời gian nông nhàn ở địa phương
Làng nghề phát triển kéo theo sự phát triển của nhiều ngành nghề khác, dịch vụkhác, qua đó tạo thêm việc làm, thêm thu nhập cho dân cư nhiều vùng nông thôn Số laođộng làm nghề mộc tại làng nghề Kha Lâm hiện nay khoảng 1283 lao động, nghề mộcgóp phần giải quyết 16 % số lao động trên địa bàn phường Nam Sơn
Mức lương thu nhập của mỗi lao động khoảng 5-7 triệu đồng/tháng Số hộ làm giàu từkinh doanh sản xuất gỗ mộc tính đến thời điểm này là 168 hộ kinh doanh
Những năm 1980 - 2008 là giai đoạn phát triển thịnh vượng của làng nghề gỗ mộcKha Lâm Làng nghề Kha Lâm có đến 100 cơ sở sản xuất mộc lớn nhỏ, giải quyết việc làm
Trang 17cho khoảng 15 - 20 lao động trên một cơ sở vừa, các cơ sở quy mô nhỏ chỉ sử dụng 4 - 6 laođộng và cơ sở quy mô lớn từ 15 - vài chục lao động.
Làng nghề đóng góp tích cực về việc tạo việc làm ở Phường Nam Sơn Vì đặcđiểm chủ yếu của làng nghề là sản xuất thủ công và sử dụng nhiều sức lao động Sốlượng lao động của mỗi cơ sở sản xuất rất đa dạng, tùy theo quy mô của cơ sở sản xuất vàngành nghề cảu làng nghề gỗ mộc Các cơ sở sản xuất có quy mô nhỏ dử dụng lao độngthường xuyên từ 4- 6 người Tuy nhiên, các cơ sở sản xuất với quy mô lớn ở Kha Lâm sửdụng lao động lên đến hàng chục người
Số lượng lao động tham gia sản xuất phi nông nghiệp còn nhiều hơn nếu tính cả laođộng thời vụ Trung bình mỗi hộ sản xuất thu hút thêm 3 - 6 lao động, còn mỗi cơ sở sảnxuất thu hút từ 8 - 10 lao động thời vụ (làm việc ngắn hạn)
Làng nghề gỗ so với các làng nghề chế biến nông sản về việc thu hút nhân côngthì thấp hơn Làng nghề sản xuất chế biến nông sản do tính chất thời vụ nên số lao độngthời vụ rất lớn, thậm chí gấp từ 4 - 7 lần số lao động thường xuyên [5]
Làng nghề còn có nhiều đóng góp ý nghĩa khác, tạo việc làm cho lao động lớntuổi, lao động trình độ văn hóa thấp hay lao động có hoàn cảnh khó khăn Những laođộng này nếu không tham gia sản xuất phi nông nghiệp sẽ khó tìm được việc làm ở cáckhu công nghiệp hay những công việc khác Các cơ sở sản xuất thu nhận những lao độngcao tuổi vào làm trong những công đoạn sản xuất sản phẩm nhẹ như gắn các mảnh hoavăn trang trí lên sản phẩm, công đoạn đánh bóng sản phẩm, tạo thêm công việc cho người
có tuổi và lao động nông nhàn ở địa phương và tăng thu nhập cho họ
Bên cạnh đó làng nghề gỗ mộc Kha Lâm không chỉ tạo việc làm cho lao động địaphương mình mà còn tạo việc làm cho các lao động phổ thông các địa bàn lân cận khác Mỗinăm làng nghề thu nhận khoảng 150- 200 lao động ở địa phương khác tới làm việc như laođộng các phường Văn Đẩu, Đẩu Phượng, Lệ Tảo…
1.2.2 Tăng thu nhập và cải thiện đời sống và bộ mặt địa phương
Cùng với vai trò tạo việc làm cho người lao động, các làng nghề còn góp phầntăng thu nhập cho cơ sở sản xuất và người lao động, làng nghề rất linh hoạt, tạo việc làm
Trang 18mang lại thu nhập cho nhiều đối tượng lao động khác nhau, như lao động lớn tuổi, laođộng trình độ thấp, lao động có tay nghề, đặc biệt là lao động nông nhàn không thể rời bỏnông nghiệp ở nông thôn Nếu so sánh với thu nhập của lao động nông nghiệp thì thunhập của lao động ngành nghề phi nông nghiệp cao hơn khoảng 2-4 lần, đặc biệt là chiphí về lao động và diện tích sử dụng đất thấp hơn nhiều so với sản xuất nông nghiệp [6].
Nếu dân cư ở khu vực phường Nam Sơn chỉ sống dựa vào thu nhập từ nghề nôngthì thu nhập không ổn định, dư thừa một số lượng lớn lao động và cuộc sống dân cưnhiều vất vả, khổ cực Chỉ có làng nghề mới giúp dân cư địa phương nơi đây có việc làm
và thu nhập để ổn định đời sống
Làng nghề tạo thu nhập ổn định cho người dân nơi đây Với mức thu nhập khá caobình quan là 5 - 6 triệu đồng/tháng cho các lao động phổ thông, còn đối với lao động cótay nghề làm trong các cơ sở sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ tinh xảo mức lương trung bình từ 7
- 8 triệu đồng/tháng Với mức thu nhập cao mức sống của người dân địa phương nơi đâyngười dân khá là ổn định Đã có rất nhiều hộ lao động thoát nghèo nhờ việc mạnh dạnđầu tư sản xuất và kinh doanh đồ gỗ mộc Kha Lâm
Điển hình như các xưởng, hộ kinh doanh phát triển, các cơ sở sản xuất như:
+ Cơ sơ sản xuất Vân Hiền (391/ Trần Nhân Tông, Kha Lâm)
+ Cơ sở sản xuất Lý Lực (381/ Trần Nhân Tông, Kha Lâm)
+ Cơ sở sản xuất Thành Đoài (337/ Trần Nhân Tông, Kha Lâm)
Làng nghề gỗ mộc Kha Lâm còn tạo ra cơ hội phát triển cho nhiều ngành nghề có liênquan khác như: cung ứng nguyên vật liệu sản xuất hay tiêu thụ sản phẩm làng nghề Khảo sáttại phường Nam Sơn đã cho thấy nhiều doanh nghiệp, hộ gia đình có nguồn thu nhập chính
từ cung ứng nguyên vật liệu, tiêu thụ sản phẩm gỗ như doanh nghiệp: Sơn Hà (Trụ sở Sơn
Hà tại 129-131 Chợ Hàng) vừa sản xuất và cũng là nhà cung ứng nguyên vật liệu, phân phốisản phẩm ra thị trường
Các hộ kinh doanh các nguyên vật liệu sản xuất nhỏ và vừa khác toàn làng nghềgồm có 5 hộ Điển hình là hộ Thành Loan 576 Trần Nhân Tông – Kha Lâm, Nam Sơn
Cơ Sở bán buôn bán lẻ vật liệu sản xuất Khuyên Ngọc số 9/Nguyễn Mẫn, Kha Lâm
Trang 19Rõ ràng, làng nghề gỗ Kha Lâm không chỉ mang lại thu nhập cho lao động trựctiếp tham gia sản xuất mà còn tạo ra thu nhập cho lao động làm việc trong ngành nghềliên quan với làng nghề gỗ.
Làng nghề gỗ Kha Lâm còn góp phần cải thiện đời sống của dân cư ở làng nghề,thúc đẩy quá trình hiện đại hóa nông thôn và xây dựng nông thôn mới Theo tìm hiểu chothấy mức sống của dân cư ở làng nghề thường cao hơn dân cư ở làng thuần nông Nhiều
hộ gia đình ở Kha Lâm có nhà cửa khang trang, mua sắm các vật dụng gia đình đầy đủ vàtiện nghi hơn các hộ gia đình thuần nông Hầu hết các hộ gia đình sản xuất đồ gỗ ở KhaLâm đều có nhà mặt tiền ở ngoài đường rất tiện lợi bày bán sản phẩm sản xuất và 1 cơ sởchuyên sản xuất sản phẩm để chuyển đến cửa hàng cung cấp cho thị trường, rất tiện lợi
Tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực có nghề phi nông nghiệp phát triển (trên cả nước) là 3,7%thấp hơn nhiều so với tỷ lệ hộ nghèo bình quân trên cả nước là 10,4%
Tỷ lệ hộ nghèo ở Kha Lâm- Nam Sơn giảm đáng kể, năm 2015 toàn xã chỉ còn 14
hộ nghèo (neo đơn) Đời sống các hộ đã đi lên đáng kể nhờ nghề mộc truyền thống củađịa phương
Hệ thống cơ sở hạ tầng gồm đường xá, điện ,nước và cầu cống ở làng nghề KhaLâm được đầu tư kiên cố hiện đại hơn so với các làng khác trong khu vực Cửa hàng bàybán và cơ sở sản xuất đồ gỗ được đặt cách riêng biệt Cửa hàng được đặt ngay ngoài mặtđường chính (đường Trần Nhân Tông), để tiện bán sản phẩm còn sơ sở sản xuất được đặtcách không xa với cửa hàng khoảng 1 km – 2 km để đảm bảo về qúa trình vận chuyển sảnphẩm nhanh gọn
1.2.3 Khai thác các nguồn lực và nguyên vật liệu tại địa phương
1.2.3.1 Khai thác các nguồn lực và nguyên vật liệu tại địa phương
Với dân sô 10.991 (năm 2015) cung cấp nguồn lao động dồi dào cho làng nghề mộc.Làng nghề truyền thống gỗ mộc Kha Lâm hàng năm còn thu hút hàng trăm nhân công laođộng tham gia sản xuất đồ gỗ mộc đem lại hiệu quả kinh tế cao cho địa phương, tận dụngnguồn lao động nhàn dỗi cũng như lao động trình độ thấp, không có tay nghề và lao động cótuổi vào các cơ sở sản xuất
Trang 20Vốn kinh doanh của cơ sở sản xuất ở các làng nghề gỗ khá là cao Tùy thuộc vàohướng kinh doanh và quy mô cơ sở sản xuất nhưng đa số các ngành nghề kinh doanh sảnxuất và quy mô, vốn đầu tư của ngành gỗ rất lớn
Chẳng hạn như trung bình để hình thành nên 1 cơ sở sản xuất đồ gỗ mộc Kha Lâmcần phải có vốn từ 300- 500 triệu đồng để đầu tư cơ sở, mua máy móc, nguyên liệu
Còn đối với cơ sở sản xuất vừa có bác Phạm Tiến Thịnh, ở tổ 3, phường Nam Sơn,Kiến An, đã gắn bó với nghề mộc truyền thống gần 20 năm nay Để phát triển nghề mộctruyền thống, bác đã mạnh dạn đầu tư trên 1 tỷ đồng xây xưởng, mua máy móc, nguyênliệu gỗ để sản xuất đồ gỗ nội thất okal Hiện nay hàng năm cơ sở đem lại nguồn thu nhậpkhá cao cho gia đình
Làng nghề gỗ Kha Lâm sử dụng nhiều sản phẩm gỗ đầu vào khác nhau, chủ yếunguồn nguyên liệu gỗ được cung cấp từ trong nước bao gồm gỗ thịt, gỗ dăm côngnghiệp, gỗ tròn, gỗ ván nhân tạo…
Trước kia, người làng Kha Lâm chủ yếu sản xuất các sản phẩm gỗ từ gỗ thịt như:cột kèo nhà, giường, sập gụ, bàn ghế, hoành phi, câu đối…
Tuy nhiên, thời gian gần đây do nạn khai thác rừng bừa bãi, gỗ thịt khan hiếm, các
cơ sở sản xuất phải đi tìm nguồn nguyên liệu mới Phần lớn các xưởng mộc chuyển sangsản xuất đồ gỗ ép hay còn gọi là gỗ okal Đồ gỗ ván dăm hay đồ gỗ okal là sản phẩmcông nghệ “thân thiện với môi trường” của làng nghề Kha Lâm với đa dạng kiểu dáng,chủng loại, kiểu dáng đẹp bền, phù hợp với nhiều loại đối tượng khách hàng đã đem lạichỗ đứng cho sản phẩm gỗ mộc Kha Lâm trên thị trường đồ gỗ
1.2.3.2 Các loại gỗ chính trong sản xuất đồ gỗ Kha Lâm
Gỗ dùng trong sản xuất thường là gỗ công nghiệp dung để sản xuất đồ nội thất vănphòng, tủ quầy, mặt hậu nội thất, hộc tủ, ngăn tủ Vách ngăn, ván nội thất và xâydựng,ván sàn, cửa, thùng loa…
Chúng ta tìm hiểu về các loại gỗ cơ bản được sử dụng trong làng nghề sau :
Trang 21- Gỗ Okal hay còn gọi là Ván dăm là gỗ nhân tạo được sản xuất từ nguyên liệu gỗrừng trồng (bạch đàn, keo, cao su ), có độ bền cơ lý cao, kích thước bề mặt rộng, phongphú về chủng loại Ván dăm được sản xuất bằng quá trình ép dăm gỗ đã trộn keo, tương
tự như MDF nhưng gỗ được xay thành dăm, nên chúng có chất lượng kém hơn ván sợi
Hình1.1: Gỗ Okal (Ván dăm)
Gỗ thịt là các loại gỗ tự nhiên như gỗ xoan, gỗ đào, hương,…với độ bền cao, chấtlượng gỗ tốt Gỗ thịt hay là gỗ tự nhiên có vân tự nhiên rất đẹp, màu sắc đa dạng, ít thấmnước Gỗ tự nhiên thì độ to nhỏ khác nhau, và độ dẻo bền rất tốt nên những họa tiết điêukhắc, trạm trổ được thực hiện dễ dàng hơn so với gỗ ván dăm
Hình 1.2: Gỗ thịt (gỗ tự nhiên)
Song song với phát triển làng nghề truyền thống thì các ngành kinh doanh có lợigián tiếp từ nghề gỗ nội thất cũng rất phát triển Các ngành dịch vụ như sửa chữa tủ, lắpráp nội thất, vận chuyển đồ gỗ cũng rất thịnh hành và đang có xu hướng mở rộng Hiệntại trên địa bàn có khoảng 11 cơ sở chuyên lắp ráp đồ nội thất như cơ sở Thành Đoài (335
Trang 22Trần Nhân Tông), Phú Lệ, Huệ Toản,Vân Trang… các cơ sở đều nằm trên tuyến đườngchính Trần Nhân Tông.
1.2.4 Bảo tồn các giá trị văn hóa địa phương
Lịch sử phát triển làng nghề luôn gắn liền với quá trình phát triển kinh tế- xã hộicủa Việt Nam Làng nghề là phương thức sản xuất truyền thống, có bề dày lịch sử lâuđời, là nơi hội tụ, kết tinh những tinh hoa văn hóa truyền thống đặc trưng của Việt Nam.Mỗi làng nghề có lịch sử về nguồn gốc hình thành khác nhau phát triển và tạo nên bảnsác riêng biệt cho mỗi làng nghề
Trong làng nghề, đã tồn tại từ lâu đời các ngành nghề truyền thống rất đặc biệtgắn với trí thông minh, bàn tay khéo léo và kỹ thuật tinh xảo của các nghệ nhân được lưutruyền từ hàng trăm năm nay được gìn giữ, kế thừa và khôi phục phát triển Có những sảnphẩm còn mang dấu ấn thời đại, đặc điểm làng nghề, phong cách nghệ nhân khá đậm nét
Cũng là làng nghề về gỗ, như làng nghề truyền thống gỗ mộc okan Kha Lâm Kiến An khác với làng nghề gỗ Đồng Kỵ, làng nghề Vạn Điềm, La Xuyên Trong đóLàng nghề truyền thống gỗ mộc Kha Lâm với hơn trăm năm bề dày lịch sử, làng nghềMộc Kha Lâm sản xuất với mẫu mã chỉ riêng đồ gỗ Kha Lâm mới có, làm từ nhiều loại
-gỗ đa dạng về mẫu mã, có giá trị nổi bật độc đáo mang bản sắc riêng của làng nghề Mỗilàng nghề có lịch sử phát triển, có sản phẩm phi vật thể và vật thể truyền thống có nhữngnghệ nhân tiêu biểu tạo nên giá trị văn hóa riêng biệt cho làng nghề Kha Lâm
Làng nghề có khoảng 50 thợ tay nghề cao, với kinh nghiệm 20-30 năm trong nghềmộc như: Ông Đỗ Doãn Vân (Kha Lâm 1, Nam Sơn, Kiến An), ông cũng là chủ của cơ
sở Vân Hiền, là một trong các hộ sản xuất đi đầu về cải tiến chất lượng mẫu mã sản phẩm
gỗ mộc Kha Lâm Ông Phạm Văn Bôn, ông Nguyễn Văn Toản
Làng nghề gỗ Kha Lâm đã có lịch sử hơn trăm năm nay, với các sản phẩm đa dạngđược phổ biến rộng dãi trên khắp đất nước và cả sang nước bạn Dưới đây là hình ảnh củacác sản phẩm đồ gỗ làng nghề truyền trống gỗ mộc Kha Lâm
Trang 23Hình 1.3: Tủ kệ, bàn ghế gỗ okal
Hình 1.4 : Nội thất văn phòng
Không chỉ mẫu mã đa dạng đẹp mắt mà sản phẩm làng nghề gỗ mộc Kha Lâm cònphản ánh sự tỉ mỉ công phu từng chi tiết trong sản phẩm nội thất khảm trai, tinh tế mang đậm nét riêng chỉ có làng nghề gỗ mộc Kha Lâm mới có
Khảm trai xuất hiện từ rất lâu đời, các thế hệ đời sau luôn học hỏi và phát huynhững giá trị truyền thống xưa
Trang 24Hình 1.5 Các sản phẩm được khảm trai tinh xảo
Một số sản phẩm khảm trai, không chỉ có các đồ nội thất như tủ, kệ, sập gụ ….được khảm trai mà các sản phẩm nhỏ như bình gỗ, lọ tăm nhỏ nhắn đều được các côngnhân tỉ mỉ thêm chi tiết vào khiến sản phẩm độc đáo, sinh động hơn, thu hút thị hiếukhách hàng hơn
Nhiều nước ưa chuộng hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam vì những kiểu dáng độcđáo, từ hàng thủ công mỹ nghệ như đồ sứ, hàng thổ cẩm, mây tre đan trau truốt tinh tếbằng bàn tay khéo léo của nghệ nhân đến những sản phẩm nội thất bằng gỗ, đá mỹ nghệlàm đẹp thêm những ngôi nhà và những tượng đá tôn thêm những vẻ đẹp của những côngviên Mỗi sản phẩm thủ công mỹ nghệ đều mạng vẻ đẹp văn hóa dân tộc, chứa đựngnhững quan niệm, tư tưởng đặc điểm nhân văn, trình độ khoa học kỹ thuật rất độc đáocủa dân tộc Việt Nam Hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu mang trong mỗi sản phẩm tinhhoa văn hóa của dân tộc ta, đóng góp vào kho tàng văn hóa nhân loại, làm phong phúthêm văn hóa thế giới Chúng ta đang cố gắng vừa giới thiệu với bạn bè thế giới nhữngsản phẩm độc đáo mang tính truyền thông dân tộc, vừa sáng tạo thêm những mẫu mã mớitheo thị hiếu thị trường của khách hàng từng châu lục, từng nước, kể cả theo từng thời vụ
Như vậy làng nghề góp phần vào việc bảo tồn giá trị văn hóa riêng biệt củađịa phương
1.2.5 Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và quá tŕnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nông thôn
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nước ta từ nông nghiệp là chủ yếu chuyển sang cơ cấu mới: tỷ trọng của khu vực công
Trang 25nghiệp và xây dựng tăng dần lên, nhất là tỷ trọng của khu vực dịch vụ tăng nhanh, tỷtrọng của nông nghiệp giảm dần Trong nội bộ kinh tế nông thôn cũng vậy, tỷ trọng củacông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ sẽ tăng lên, tỷ trọng của nông nghiệp sẽgiảm xuống Phát triển ngành nghề nông thôn, làng nghề chính là con đường chủ yếu đểchuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng đó, chuyển từ lao động nông nghiệpnăng suất thấp, thu nhập thấp sang lao động năng suất và chất lượng cao với thu nhập caohơn Mục tiêu nâng cao đời sống của dân cư lao động nông thôn một cách toàn diện cả vềkinh tế văn hóa cũng chỉ có thể đạt được nếu trong nông thôn, có cơ cấu hợp lý của nôngthôn mới, có nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ có nông thôn vận động và phát triểnthanh bình với hệ thống làng nghề tiếp nối truyền thống văn hóa làng nghề với chuỗi đôthị nhỏ văn minh, lành mạnh.
Làng nghề cũng góp phần thay đổi cơ cấu thu nhập ở địa phương Nhờ có làngnghề mà nhiều hộ gia đình và lao động ở làng nghề Kha Lâm có việc làm và thu nhập để
ổn định đời sống Làng nghề mộc truyền thống Kha Lâm phát triển, giúp cho số hộ khá,giàu tăng nhanh, chiếm trên 75% Từ địa phương có trên 80% số hộ thu nhập trông vàosản xuất nông nghiệp, Kha Lâm bứt phá đi lên, nâng tỷ trộng công nghiệp – tiểu thủ côngnghiệp, thương mại, dịch vụ chiếm hơn 80%, tỷ trọng nông nghiệp chỉ chiếm dưới 20%
Doanh thu từ nghề mộc hằng năm đạt trên 50- 60 tỷ đồng, chiếm 70% giá trị tổngthu nhập của địa phương
Làng nghề còn thay đổi cơ cấu sản xuất hàng hóa của địa phương theo hướng tănggiá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp và giảm tỷ trọng giá trị nông nghiệp Bộ NN&PTNTtổng kết: “giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn củanhiều địa phương đã tăng lên rõ rệt đạt trên 20% năm.”
Ở làng nghề gỗ Kha Lâm đã xuất hiện các cơ sở sản xuất đầu tư vốn, máy móc vàthuê số lượng lớn lao động để sản xuất với quy mô lớn Trong đó, một số cơ sở sản xuất
đã phát triển lên thành hộ doanh nghệp tư nhân :
+ Cơ sơ sản xuất : Vân Hiền, Lý Lực, Thành Đoài
Các công ty, xưởng kinh doanh phát triển như :
Trang 26+ Công ty TNHH xây dựng Quyết Huyền, Công ty cổ phần thương mại KimPhát, Doanh nghiệp tư nhân Minh Ngọc, Kha Lâm, Nam Sơn.
+ Xưởng chế biến và sấy gỗ Thắng Lợi, Xưởng chế biến và sấy gỗ Tân Hà
Hình 1.6: Cơ sở hạ tầng xưởng sản xuất gỗ công ty Tân Hà
Với mặt bằng rộng, không gian thoáng, xưởng sản xuất được xây dựng kiên cố, đầu
tư trang thiết bị máy móc hiện đại Xưởng chế biến và sấy gỗ Tân Hà là một trong nhữngdoanh nghiệp tiêu biểu đi đầu trong việc đầu tư vốn, khoa học kỹ thuật vào sản xuất
Như vậy làng nghề Kha Lâm góp phần thay đổi cơ cấu sản xuất, lao động, việclàm, giá trị sản xuất và thu nhập của dân cư theo hướng tăng dần tỷ trọng sản xuất tiểuthủ công nghiệp, chuyển bớt lao động từ sản xuất nông nghiệp sang các ngành nghề phinông nghiệp có thu nhập cao hơn
Doanh thu từ nghề mộc hằng năm đạt trên 50- 60 tỷ đồng, chiếm 70% giá trị tổngthu nhập của địa phương Năm 2009, lô hàng đồ gỗ mộc Kha Lâm đầu tiên được xuấtkhẩu sang nước Lào với tổng giá trị là 800 triệu đồng
Tuy lượng hàng xuất khẩu còn chưa cao, lợi nhận còn hạn chế nhưng sản phẩmcủa làng nghề được xuất khẩu sang nước bạn đã là một kết quả rất ý nghĩa, cần được thúcđẩy và phát huy Sản phẩm gỗ mộc Kha Lâm được xuất khẩu sang nước bạn: Lào,Cambuchia, Trung Quốc, Mianma
Trang 27Chương 2 Thực trạng phát triển làng nghề truyền thống
Gỗ mộc Kha Lâm 2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển làng nghề gỗ Kha Lâm
2.1.1 Điều kiện tự nhiên của làng nghề Kha Lâm
- Vị trí địa lý
Hình 2.1: Lược đồ Quận Kiến An
Làng nghề mộc Kha Lâm thuộc phường Nam Sơn, Quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.Phường Nam Sơn có diện tích 3,78 km² Phường cách trung tâm thành phố khoảng10km Phường có vị trí: phía Bắc giáp Phường Quán Trữ, phía Đông giáp với xã Lệ Tảo,
Trang 28phía Tây giáp với Phường Bắc Sơn và phía Nam giáp với Phường Đẩu Vũ Nằm ở gầncác khu vực dân cư đông đúc, gần các địa bàn kinh tế phát triển đây chính là lợi thế về thịtrường lớn Xuyên suốt làng là con đường Trần Nhân Tông, là nút giao thông giao chính
để đi từ trung tâm Thành phố sang các Huyện Vĩnh Bảo, Tiên Lãng bằng con đường này
và ngược lại Con đường có vai trò quan trọng trong việc đi lại, vận chuyển hàng hóa vàbuôn bán của làng nghề Nên dọc tuyến đường này, các cơ sở kinh doanh đồ gỗ làng nghềrất tấp nập đông đúc Làng nghề Kha Lâm là 1 trong 2 làng nghề duy nhất tại Quận Kiến
An, thành phố Hải Phòng với nghề chính là sản xuất đồ gỗ mang thương hiệu và nét đặcsắc riêng của làng nghề
- Địa hình
Địa hình bằng phẳng thuận lợi cho việc giao thông, buôn bán, xây dựng cơ sở hạtầng dễ dàng Điều kiện tự nhiên không thuận lợi để tạo ra nguyên liệu tại chỗ mà chủyếu làng nghề nhập nguồn nguyên liệu từ bên ngoài vào
- Khí hậu
Nằm trong phạm vi của Thành phố Hải phòng, ven biển Thời tiết Phường Nam Sơnmang tính chất khí hậu của Hải Pḥng đó là cận nhiệt đới ẩm ấm đặc trưng của thời tiết miềnBắc Việt Nam: mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều, mùa đông khô và lạnh Nhiệt độ trung bình vàomùa hè vào tháng 7 là 28,3°C, tháng lạnh nhất là tháng 1: 16,3°C Số giờ nắng trong năm caonhất là các tháng mùa hè và thấp nhất vào tháng 2 Thời tiết nắng nóng cũng tác động tớichất lượng sản phẩm của làng nghề Như các mặt gỗ bị bong tróc, nứt vỡ gây thiệt hại cho sơ
sở sản xuất
Độ ẩm trung bình trên 80%, lượng mưa 1600–1800 mm/năm Với độ ẩm và lượngmưa như vậy nó đã ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sản xuất của làng nghề Độ ẩm khácao, nhất là vào những tháng 2 mưa phùn, dẫn tới đồ gỗ bị ẩm, mốc ảnh hưởng tới chấtlượng của đồ gỗ nhất là đối với sản phẩm gỗ okal Sản phẩm okal có tính hút nước rất caodẫn đến bị mục nát, tuổi thọ thấp đi Thời tiết mưa ảnh hưởng tới quá trình sản xuất vàvận chuyển hàng hóa, vào mùa mưa bão hoạt động sản xuất của làng nghề thường đóngcửa không hoạt động