1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động giám sát của đại biểu quốc hội, đoàn đại biểu quốc hội theo pháp luật lào và pháp luật việt nam dưới góc độ so sánh

109 89 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 7,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức về những nét tương đồng về chế độ chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội của nước CHDCND Lào và nước CHXHCN Việt Nam, đặc biệt là những nét tương đồng về vị trí, vai trò của Quố

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

PHAYSITH VONGSENGDEUANE

HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI, ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI THEO PHÁP LUẬT LÀO VÀ PHÁP

LUẬT VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ SO SÁNH

Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật hành chính

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi

Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn theo đúng quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

PHAYSITH VONGSENGDEUANE

Trang 3

CHDCND : Cộng hòa dân chủ nhân dân

VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trang 4

Trang

MỞ ĐẦU 1

BIỂU QUỐC HỘI VÀ ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI 7 1.1 Những vấn đề chung về hoạt động giám sát 7 1.2 Vị trí, vai trò của Đại biểu Quốc hội và Đoàn Đại biểu Quốc hội trong hoạt động giám sát 14 1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giám sát của Đại biểu Quốc hội và Đoàn Đại biểu Quốc hội 18 1.4 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội 20

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 21

VÀ ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI CỦA LÀO VÀ VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ SO SÁNH 22 2.1 Khái quát quá trình hình thành, phát triển của pháp luật về hoạt động giám sát của Đại biểu Quốc hội và Đoàn Đại biểu Quốc hội Lào và Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử 22 2.2 Điểm tương đồng và khác biệt trong quy định pháp luật Lào và Việt Nam về hoạt động giám sát của Đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội 28 2.3 Một số vấn đề rút ra từ việc so sánh pháp luật về hoạt động giám sát của Đại biểu Quốc hội và Đoàn Đại biểu Quốc hội của Lào và Việt Nam 56

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 67

Trang 5

CAO HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ

3.1 Phương hướng hoàn thiện và đảm bảo áp dụng hiệu quả pháp luật Lào hoạt

động giám sát của Đại biểu Quốc hội và Đoàn Đại biểu Quốc hội 69

3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động giám sát của Đại biểu Quốc hội và Đoàn Đại biểu Quốc hội 72

3.3 Các giải pháp nhằm đảm bảo áp dụng hiệu quả pháp luật Lào về hoạt động giám sát của Đại biểu Quốc hội và Đoàn Đại biểu Quốc hội 81

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 88

KẾT LUẬN 89

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chức năng giám sát là một trong những chức năng cơ bản của Quốc hội, giám sát

là việc Quốc hội sử dụng các phương tiện và công cụ của mình để tìm hiểu chính sách, pháp luật do Quốc hội ban hành được thực thi ra sao, các cơ quan Nhà nước thực hiện như thế nào, trên cơ sở đó để bảo vệ lợi ích của đất nước, của nhân dân và thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước, thể hiện vai trò của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, bảo đảm tôn trọng và phát huy quyền dân chủ của nhân dân Như vậy, có thể khẳng định vai trò hoạt động giám sát của Quốc hội là vô cùng to lớn, làm cho Quốc hội hoạt động có hiệu lực, hiệu quả Theo quy định của pháp luật, chủ thể hoạt động giám sát của Quốc hội bao gồm: Đại biểu Quốc hội (ĐBQH); Đoàn Đại biểu Quốc hội (Đoàn ĐBQH); Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội; Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH); Quốc hội

Thực tiễn từ khi triển khai thực hiện các quy định của pháp luật về hoạt động giám sát của Quốc hội ở hai nước thời gian qua cho thấy, hoạt động giám sát của Quốc hội nói chung, của ĐBQH, Đoàn ĐBQH nói riêng đã đạt được những kết quả tích cực,

đã tập trung vào những vấn đề mà cử tri quan tâm, do đó góp phần ổn định chính trị, kinh tế xã hội ngày càng phát triển Tuy nhiên, hoạt động giám sát của Quốc hội nói chung, của ĐBQH, Đoàn ĐBQH nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế, tồn tại, mang tính

“hình thức”, chưa thu được những hiệu quả thiết thực, chưa đáp ứng được yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến những hạn chế này là do hệ thống các quy định pháp luật của hai nước trong điều chỉnh hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội chưa thực sự hoàn thiện, còn bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế

Năm 2015, Hiến pháp mới của nước CHDCND Lào được ban hành đã khẳng định Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của nước CHDCND Lào, Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương Sự thay đổi này đã làm cho các quy định về hoạt động giám sát của Quốc hội nói chung của ĐBQH, đoàn ĐBQH nói riêng theo quy định của Luật về Hoạt động giám sát Quốc hội năm 2004 đã trở nên lỗi thời, không còn phù hợp và đặt ra yêu cầu về hoàn thiện các quy định pháp luật về hoạt động giám sát của Quốc hội của nước CHDCND Lào Luật về Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND tỉnh (sửa đổi) năm 2016 của nước CHDCND Lào ra đời, đáp ứng phần nào sự thay đổi trong bộ máy quyền lực nhà nước - với việc thêm Chương về Giám sát của HĐND Tuy nhiên, các quy định về giám sát ĐBQH, Đoàn ĐBQH thì hầu như không thay đổi, và vẫn bộc lộ rất nhiều hạn chế

Trang 7

Trong khi đó, tại Việt Nam, đáp ứng yêu cầu cụ thể hóa Luật Hiến pháp 2013, Luật Tổ chức Quốc hội 2014, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm

2015 được ban hành, với rất nhiều điểm mới về hoạt động giám sát của Quốc hội, của các cơ quan của Quốc hội, Đoàn ĐBQH, ĐBQH với mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội trong thời gian tới

Nhận thức về những nét tương đồng về chế độ chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội của nước CHDCND Lào và nước CHXHCN Việt Nam, đặc biệt là những nét tương đồng về vị trí, vai trò của Quốc hội, ĐBQH, Đoàn ĐBQH trong bộ máy nhà nước của hai quốc gia; cũng như nhận thức về vị trí, vai trò quan trọng của hoạt động giám sát của ĐBQH, Đoàn ĐBQH và thực trạng quy định pháp luật về hoạt động giám sát

ĐBQH, Đoàn ĐBQH của nước CHDCND Lào, tôi quyết định chọn đề tài: “Hoạt động

giám sát của Đại biểu Quốc hội, Đoàn Đại biểu Quốc hội theo pháp luật Lào và pháp luật Việt Nam dưới góc độ so sánh”, làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ luật

học, chuyên ngành Luật hiến pháp và Luật hành chính

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong những năm gần đây, vấn đề hoạt động của Quốc hội nói chung và hoạt động giám sát của Quốc hội nói riêng đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều cơ quan nghiên cứu khoa học, các nhà luật học, chính trị học, xã hội học trên thế giới cũng như cả hai nước Lào và Việt Nam dưới nhiều góc độ khác nhau Trong đó:

Trên thế giới, vấn đề giám sát của cơ quan đại diện quyền lực của nhân dân được

nghiên cứu dưới khía cạnh kiểm soát quyền lực nhà nước, trong đó có thể kể đến các

công trình tiêu biểu như: Mann M (1986), The Sources of Social Power - Cambridge

University Press; Roderick Bell, David V Edwards, R Harison Wagner (2000), Political power-reader in theory and research, Cornell University Press, New York;

Alvin Toffler (2002), Thăng trầm quyền lực, NXB Thanh niên, Hà Nội; Quốc hội Mỹ

hoạt động như thế nào (How congress works) (2003), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội;

J.J.Rousseau (2004), Bàn về khế ước xã hội, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội; McIntyr (2005), Power of Institutions, Journal of Law and Commerce, Vol 25; J Locke (2007),

Khảo luận thứ hai về chính quyền, NXB Tri thức, Hà Nội; Quốc hội trong nhà nước pháp quyền Cộng hòa Liên bang Đức (2008), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội;

Tại Việt Nam, cùng với lịch sử phát triển hơn 70 năm của Quốc hội, vấn đề giám

sát của Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội đã được đẩy mạnh nghiên cứu từ những

góc độ khác nhau, dưới các hình thức phong phú, đa dạng Trong đó có thể kể đến: (i)

Về các công trình là sách: Đào Trí Úc và Võ Khánh Vinh (đồng chủ biên, 2003),

Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay,

NXB Công an nhân dân, Hà Nội; Nguyễn Sĩ Dũng (2004), Quyền giám sát của Quốc

Trang 8

hội - Nội dung và thực tiễn từ góc nhìn tham chiếu, NXB Tư pháp, Hà Nội; Văn

phòng Quốc hội (2006), Cơ quan lập pháp và hoạt động giám sát, NXB Tư pháp; Thái Vĩnh Thắng (2011), Tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước, Sách chuyên khảo, NXB Tư pháp, Hà Nội; Nguyễn Đăng Dung (2011), Chức năng giám sát của Quốc hội

trong nhà nước pháp quyền, NXB Lao động, Hà Nội; Trần Ngọc Đường (2012), Phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực với việc sửa đổi Hiến pháp 1992, NXB Chính

trị Quốc gia, Hà Nội… (ii) Về các công trình là đề tài cấp nhà nước: Ban Công tác

lập pháp của UBTVQH (2005), Quy trình và thủ tục trong hoạt động của Quốc hội,

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước, Hà Nội; Đào Trí Úc (2006), Xây dựng cơ

chế pháp lý đảm bảo sự kiểm tra, giám sát của nhân dân đối với hoạt động của bộ máy Đảng, Nhà nước và các thiết chế tổ chức trong hệ thống chính trị, đề tài nghiên cứu

khoa học; Đào Trí Úc (2010), Xây dựng và hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát việc

thực hiện quyền lực chính trị, đảm bảo dân chủ và kỷ luật trong hệ thống chính trị, đề

tài nghiên cứu khoa học… (iii) Về các công trình là luận án, luận văn thạc sĩ: Phạm

Văn Hùng (2004), Quyền giám sát của Quốc hội đối với Tòa án nhân dân (TAND),

Viện kiểm sát nhân dân (VKSND), Luận án Tiến sĩ; Trần Tuyết Mai (2009), Cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam, Luận án Tiến sĩ; Trương Thị Hồng Hà (2009), Hoàn thiện cơ chế pháp lý đảm bảo chức năng giám sát của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, Luận án

tiến sĩ Luật học, Học viện chính trị quốc gia, Hà Nội; Vũ Thị Mỹ Hằng (2016), Thực

hiện chức năng giám sát quyền lực nhà nước của Quốc hội Việt Nam hiện nay, Luận án

Tiến sĩ Chính trị học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (iv) Về các công

trình là các bài viết đăng trên tạp chí, kỷ yếu hội thảo: Lê Hữu Thể (2001), “Một số

suy nghĩ về việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội”, Văn

phòng Quốc hội, Hà Nội; Bùi Ngọc Thanh (2009), “Đổi mới hoạt động giám sát tối

cao của Quốc hội”, Kỷ yếu Hội thảo “Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng,

hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội”; Trần Tuyết Mai (2016), “Một số

vấn đề về hoạt động giám sát của Quốc hội”, Bản tin Thông tin Khoa học lập pháp, số

01(24)…

Tại Lào, vấn đề giám sát tối cao của Quốc hội, hoạt động giám sát của các cơ quan của Quốc hội, Đoàn ĐBQH, ĐBQH trước hết được đề cập trong các Báo cáo tổng kết công tác, các đề cương giới thiệu văn bản pháp luật như: Văn phòng Quốc hội

Lào (2016), Bản tổng kết công tác của Quốc hội Lào năm 2015-2016, Viêng Chăn; Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật - Bộ Tư pháp (2017), Đề cương giới thiệu Quốc hội Lào,

Luật về Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND cấp tỉnh (sửa đổi) năm 2016 của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, Viêng Chăn… Tiếp đó, hoạt động giám sát tối

Trang 9

cao của Quốc hội, hoạt động giám sát của các cơ quan của Quốc hội, Đoàn ĐBQH, ĐBQH của Lào được nghiên cứu chủ yếu dưới hình thức các công trình luận văn, bài

viết đăng trên tạp chí, cụ thể như: Về luận văn: Nalan Thammatheva (2003), Bộ máy

Nhà nước CHDCND Lào theo Hiến pháp năm 1991, Luận văn Thạc sĩ luật học,

Trường Đại học Luật Hà Nội; Khamphanh Sophabmixay (2006), Vai trò của Quốc hội

trong việc bảo đảm thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân lao động ở nước CHDCND Lào hiện nay, Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội;

Yeexiong Xaykhuenhiatoua (2015), Tăng cường chức năng giám sát của Quốc hội

nước CHDCND Lào, Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội;

Bounlong Daly (2016), Tổ chức và hoạt động của Quốc hội theo pháp luật Lào và Việt

Nam dưới góc độ so sánh, Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội;

Khounxay Phommixay (2017), Hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội theo quy

định của pháp luật Lào và Việt Nam dưới góc độ so sánh, Luận văn Thạc sĩ luật học,

Trường Đại học Luật Hà Nội;… Về các công trình là các bài viết đăng trên các tạp

chí chuyên ngành: Phonesay Alounsavath (2004), “Quốc hội trong điều kiện phát

triển mới của đất nước”, Tạp chí Cộng sản, Đảng Cộng sản Việt Nam; Chanpeng

Silivan (2006), “Hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Quốc hội về kiểm tra và ban

hành pháp luật và văn bản quy phạm pháp luật trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí

Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội; Souknilanh Sengphachanh (2014), “Chức

năng giám sát tối cao của Quốc hội Lào trong Dự Thảo Hiến pháp (sửa đổi) năm

2015”, Tạp chí Nghiên cứu Quốc hội, số 10/2014; Soulichan Phetmany (2015), “Hoạt động giám sát của Quốc hội Lào trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí nghiên cứu Quốc

hội, số 02/2015…

Mặc dù các phương thức tiếp cận của các tác giả là không giống nhau nhưng nhìn chung, các tác giả đều khẳng định về vị trí pháp lý của Quốc hội trong hệ thống tổ chức bộ máy của nhà nước với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất được Hiến pháp quy định với 03 chức năng cơ bản là quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, lập pháp và giám sát Trong đó, chức năng giám sát của Quốc hội là một chức năng quan trọng nhưng trong thời gian vừa qua chưa đáp ứng được với yêu cầu đổi mới và kiện toàn bộ máy nhà nước hiện nay Do đó, cần thiết phải có những giải pháp đồng bộ và kịp thời để nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội Tuy nhiên, nếu nghiên cứu trên phương diện quy định pháp luật hiện hành của Lào và Việt Nam về hoạt động giám sát của ĐBQH, Đoàn ĐBQH dưới góc độ so sánh thì các công trình này chưa đề cập đến Chính vì vậy, việc nghiên cứu theo góc độ này cần phải được thực hiện, nhất là trong thời điểm Quốc hội Lào đang xem xét sửa đổi, bổ sung Luật về Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND cấp tỉnh (sửa đổi) năm 2016

Trang 10

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn

* Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận về hoạt động giám sát của ĐBQH, Đoàn ĐBQH, các quy định pháp luật hiện hành của Lào và Việt Nam

về hoạt động giám của ĐBQH, Đoàn ĐBQH

* Phạm vi nghiên cứu của luận văn:

Trong khuôn khổ một luận văn, Luận văn tập trung nghiên cứu về mặt không gian, thời gian chính là nội dung chính là các quy định của Hiến pháp, pháp luật hiện hành về hoạt động giám sát của ĐBQH, Đoàn ĐBQH

4 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn có mục đích nghiên cứu từ việc hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về hoạt động giám sát, vai trò của ĐBQH, Đoàn ĐBQH trong hoạt động giám sát của Quốc hội để tìm hiểu, so sánh các quy định pháp luật hiện hành của Lào và Việt Nam

về hoạt động giám sát của ĐBQH, Đoàn ĐBQH Việc tìm hiểu, so sánh quy định hai nước nhằm mục đích tìm hiểu kinh nghiệm của pháp luật Việt Nam để xây dựng phương hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật của nước CHDCND Lào về hoạt động giám sát của ĐBQH, Đoàn ĐBQH nói riêng, hoạt động giám sát của Quốc hội Lào trong thời gian tới

5 Các câu hỏi nghiên cứu

Trên cơ sở đối tượng, phạm vi và mục tiêu nghiên cứu, các câu hỏi nghiên cứu được xác định như sau:

(i) Hoạt động giám sát là gì, vị trí vai trò của ĐBQH, đoàn ĐBQH trong hoạt động giám sát của Quốc hội?

(ii) Quá trình hình thành, phát triển của pháp luật về hoạt động giám sát của ĐBQH, đoàn ĐBQH Lào và Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử?

(iii) Điểm tương đồng và khác biệt trong các quy định về hoạt động giám sát của ĐBQH, Đoàn ĐBQH theo pháp luật hiện hành của Lào và Việt Nam?

(iv) Một số vấn đề rút ra từ việc so sánh pháp luật về hoạt động giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH của Lào và Việt Nam?

(v) Thành tựu và một số bất cập, hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành của nước CHDCND Lào về hoạt động giám sát của ĐBQH, Đoàn ĐBQH?

(vi) Kinh nghiệm của Việt Nam trong xây dựng, hoàn thiện các quy định pháp luật về hoạt động giám sát của ĐBQH, Đoàn ĐBQH?

(vii) Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật của nước CHDCND Lào

về hoạt động giám sát của ĐBQH, Đoàn ĐBQH?

Trang 11

6 Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn

Cơ sở lý luận cho việc phân tích, đánh giá các vấn đề trong luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật nói chung, nhà nước và pháp luật XHCN nói riêng, các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam cũng như Đảng Nhân Dân cách mạng Lào (Đảng NDCM Lào) về Nhà nước, nhất là các quan điểm về đổi mới đất nước, về phát huy dân chủ, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, xây dựng bộ máy nhà nước, đặc biệt là xây dựng, hoàn thiện, nâng cao vị trí, vai trò, chức năng của Quốc hội; Tư tưởng Hồ Chí Minh về giành và giữ chính quyền, về quyền lực nhân dân Trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng của triết học Mác - Lênin, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp hệ thống hóa, phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, phương pháp lịch sử; phương pháp so sánh… để giải quyết các vấn đề đặt ra trong luận văn

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần bổ sung, phát triển những vấn đề lý luận về hoạt động giám sát của ĐBQH, Đoàn ĐBQH, cũng như đóng góp những ý kiến có cơ sở khoa học cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hoạt động giám sát của ĐBQH, Đoàn ĐBQH Quốc hội Lào, cũng như ở Việt Nam

Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu giảng dạy, nghiên cứu khoa học về hoạt động giám sát của ĐBQH, Đoàn ĐBQH ở các

cơ sở nghiên cứu, đào tạo có liên quan ở nước CHDCND Lào, cũng như ở Việt Nam

8 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm có 3 chương sau:

Chương 1 Một số vấn đề lí luận về hoạt động giám sát của Đại biểu Quốc hội và Đoàn Đại biểu Quốc hội

Chương 2 Pháp luật về hoạt động giám sát của Đại biểu Quốc hội và Đoàn Đại biểu Quốc hội của Lào và Việt Nam dưới góc độ so sánh

Chương 3 Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả của hoạt động giám sát của Đại biểu Quốc hội và Đoàn Đại biểu Quốc hội của Lào thông qua những kinh nghiệm Việt Nam

Trang 12

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA ĐẠI BIỂU

QUỐC HỘI VÀ ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI 1.1 Những vấn đề chung về hoạt động giám sát

1.1.1 Khái niệm hoạt động giám sát

Khái niệm “giám sát” được các nhà nghiên cứu tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau Trong đó, từ góc độ ngôn ngữ, “giám sát” nguyên gốc là một từ Hán -Việt1,

được hiểu theo các khía cạnh chủ yếu sau: (i) “Giám sát” được hiểu là việc “theo dõi,

chức để theo dõi người, việc nào đấy”3; (iii) “Giám sát” được hiểu là “sự bảo đảm cho công việc hoặc hoạt động được thực hiện đúng theo quy định”4 Như vậy, tuy cách diễn đạt và biểu hiện ý nghĩa của từ “giám sát” có khác nhau, nhưng các quan niệm

trên đều đề cập đến nội dung cơ bản: Việc theo dõi, xem xét, kiểm tra của chủ thể có

thẩm quyền đối với các chủ thể khác, để qua đó có được nhận định, đánh giá, kết luận

là, giám sát là việc theo dõi, xem xét, kiểm tra, đánh giá một chủ thể nào đó về một việc làm đã thực hiện đúng hoặc thực hiện chưa đúng những điều đã quy định để từ đó

có biện pháp điều chỉnh hoặc xử lý đối với việc làm sai, nhằm đạt được những mục đích hiệu quả xác định từ trước, bảo đảm cho các quyết định thực hiện đúng và đầy đủ Hoạt động giám sát nào cũng cần đến hai giai đoạn, giai đoạn theo dõi, xem xét, kiểm tra và giai đoạn đánh giá; theo dõi, xem xét, kiểm tra làm tốt thì đánh giá sẽ đúng đắn, chính xác, cuộc giám sát sẽ có kết quả tích cực và ngược lại

Giám sát có những đặc trưng sau:

Thứ nhất, giám sát dùng để chỉ hoạt động theo dõi, xem xét, kiểm tra đối tượng

chịu sự giám sát, qua đó đưa ra nhận định về một việc làm nào đó đã được thực hiện đúng hay sai so với các quy định hiện hành

Thứ hai, để tiến hành hoạt động theo dõi, xem xét, kiểm tra thì giám sát luôn phải

gắn với một hoặc một số đối tượng cụ thể Điều đó có nghĩa là, hoạt động giám sát phải trả lời được câu hỏi ai (người hoặc tổ chức nào) có quyền thực hiện việc theo dõi, xem xét, kiểm tra và đưa ra những đánh giá, nhận định về một việc làm nào đó đã được thực hiện đúng hay sai so với các quy định hiện hành;

1 Đào Duy Anh (2008), Hán - Việt Từ điển giản yếu, NXB Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội

2 Hoàng Phê (chủ biên) (2003), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, tr 108

3 Từ điển Tiếng Nga Nxb Moscow (2010), tr 204

4 Từ điển Tiếng Anh Nxb Leicester (2012), tr 536

5 Khounxay Phommixay (2017), Hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội theo quy định của pháp luật Lào và

Việt Nam dưới góc độ so sánh, Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.6

Trang 13

Thứ ba, giám sát bao giờ cũng cần 2 giai đoạn: Giai đoạn theo dõi, xem xét, kiểm

tra và giai đoạn đánh giá, đưa ra kiến nghị, kết luận Trong đó, giai đoạn thứ nhất là cơ

sở để thực hiện giai đoạn thứ hai Nếu giai đoạn theo dõi, xem xét, kiểm tra làm tốt thì việc đánh giá, kết luận sẽ đúng đắn, chính xác và cuộc giám sát sẽ có hiệu quả và ngược lại

Thứ tư, giám sát phải thể hiện được quan hệ giữa các chủ thể tham gia vào hoạt

động giám sát Nội dung của quan hệ này biểu hiện ở những quyền và nghĩa vụ của chủ thể giám sát và đối tượng chịu giám sát

Thứ năm, giám sát phải được tiến hành trên những căn cứ do pháp luật quy định

Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi vì: Nếu như thiếu những quy định này thì chủ thể giám sát không có cơ sở để thực hiện quyền giám sát và tiêu chí để đưa ra những nhận định về hoạt động của đối tượng chịu giám sát

Thứ sáu, giám sát là hoạt động có tính mục đích Trước hết, mục đích của giám

sát là đưa ra được những nhận định chính xác của chủ thể giám sát đối với hoạt động của đối tượng chịu giám sát, từ đó có các biện pháp xử lý đối với những việc làm sai trái nhằm bảo đảm cho những quy định của pháp luật được thực hiện đúng và có hiệu quả Như vậy, mục đích chung của giám sát nhà nước cũng như giám sát xã hội là bảo đảm cho sự hoạt động đúng đắn, minh bạch, liên tục của các cơ quan tổ chức, cá nhân

có chức vụ quyền hạn trong bộ máy nhà nước bộ máy nhà nước, trên cơ sở tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật về nghĩa vụ, chức năng và thẩm quyền của họ

Như vậy, thuật ngữ “giám sát” nếu hiểu theo nghĩa chung thì phạm vi áp dụng của nó rất rộng, muốn có một khái niệm cụ thể thì hoạt động giám sát phải gắn với một chủ thể xác định chẳng hạn như giám sát của Quốc hội, giám sát của HĐND, giám sát của nhân dân

Nhìn từ góc độ thực thi quyền lực nhà nước thì giám sát được hiểu là sự theo dõi, kiểm tra đối với việc thực thi quyền lực nhà nước của các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền theo quy định của pháp luật

Quyền lực của Nhà nước là thống nhất Quyền lực này xuất phát từ sự “ủy

quyền” của cử tri cả nước Mặt khác, nhằm bảo đảm tính chuyên trách và hiệu quả của

việc thực thi quyền lực nhà nước, một yêu cầu được đặt ra là phải có sự chuyên môn hóa trong việc thực thi các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Do đó, để đáp ứng yêu cầu trên, nguyên tắc quyền lực không phân chia trong việc thực thi quyền lực nhà nước ở Lào và Việt Nam được ứng dụng một cách uyển chuyển tuyệt vời thành

“Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp trong việc thực hiện

quyền lực nhà nước” Trong quá trình phân công thực thi quyền lực nhà nước, tất sẽ

Trang 14

nảy sinh những sai sót bởi các cá nhân, tổ chức thừa ủy quyền của Quốc hội Nhằm chấn chỉnh và ngăn ngừa những nguy cơ như vậy, cần thiết phải có cơ chế giám sát

Theo định nghĩa của các nhà nghiên cứu pháp luật của Pháp thì: “sự giám sát của

Quốc hội là tổ hợp các biện pháp cho phép nghị viện đưa ra nhận định về hoạt động của Chính phủ và hạ bệ nó trong trường hợp có sự bất đồng sâu sắc với chính sách đã

giám sát của Quốc hội là tổ hợp các biện pháp khác nhau do cơ quan lập pháp (đại diện) cao nhất của chính quyền nhà nước thực hiện để theo dõi thường xuyên và kiểm tra hoạt động của hệ thống, cũng như trừ bỏ những phát hiện từ sự kiểm tra đó và

Theo định nghĩa tại Khoản 1 Điều 2 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và

HĐND năm 2015 của Việt Nam thì: “Giám sát là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem

xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử

lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý” Trong khi

đó, Luật về Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND cấp tỉnh (sửa đổi) năm 2016 cũng như các văn bản pháp luật khác của nước CHDCND Lào không có quy định về khái niệm giám sát

Về bản chất, hoạt động giám sát của Quốc hội là việc Quốc hội thu thập các thông tin về hoạt động của các cơ quan nhà nước hữu quan và tiến hành xem xét, đánh giá, thu thập thông tin thu được để từ đó có các biện pháp xử lý sau giám sát Để tiến hành các hoạt động này, Quốc hội sử dụng những công cụ khác nhau để đạt những mục tiêu khác nhau Một số công cụ để giám sát về mặt nội dung, một số công cụ giám sát về mặt pháp lý, một số khác thì áp dụng ở mặt kinh tế Tùy theo mục tiêu, nội dung, đối tượng cần giám sát mà Quốc hội lựa chọn công cụ giám sát thích hợp (có thể

là chất vấn, điều trần, luận tội, xét báo cáo hoạt động, lập đoàn giám sát ) Kết quả của hoạt động giám sát thể hiện quyền lực tập trung của Quốc hội, thể hiện quyết định tập thể của Quốc hội nhằm thay đổi, sửa đổi, hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của các cơ quan hành pháp hoặc bãi nhiệm các chức vụ trong Chính phủ, bất tín nhiệm đối với Chính phủ8

Trên cơ sở khái niệm giám sát, căn cứ vào quy định của Hiến pháp, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật hoạt động giám sát của Quốc hội thì khái niệm giám sát của ĐBQH

6 Bộ ngoại giao pháp (1996), Quyền hành pháp, quyền lập pháp và quyền tư pháp ở Pháp, tr 96

7 M.M Utiasev và A.A.Kornilaeva (2002): “Các chức năng giám sát của Nghị viện cấp khu vực; phân tích có so

sánh”, Pháp luật và chính trị, Số 1, NXB Moscow, tr 2

8 Nguyễn Hữu Lộc (2010), Nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, hiệu quả hoạt động giám sát

của các cơ quan của Quốc hội, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr.18

Trang 15

và Đoàn ĐBQH được hiểu như sau9: Giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH là việc

ĐBQH chất vấn và tự mình giám sát hoặc cùng với Đoàn ĐBQH giám sát việc thi hành pháp luật của địa phương, giám sát văn bản quy phạm pháp luật, giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân nhằm đảm bảo cho Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị quyết của UBTVQH được thực hiện nghiêm chỉnh, thống nhất bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của tổ chức, cá nhân

Hoạt động giám sát của ĐBQH là hoạt động thực hiện một trong ba chức năng cơ bản của Quốc hội, đó là chức năng giám sát toàn bộ hoạt động của nhà nước ĐBQH

tự mình giám sát hoặc tham gia hoạt động giám sát cùng Đoàn ĐBQH, tham gia hoạt động giám sát của UBTVQH, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội tại địa phương khi có yêu cầu Thực hiện hoạt động giám sát ĐBQH phải đảm bảo nguyên tắc công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật; không làm cản trở hoạt động bình thường của cá nhân, tổ chức bị giám sát ĐBQH chịu trách nhiệm về quyết định, yêu cầu, kiến nghị, giám sát của mình và báo cáo cử tri địa phương về việc thực hiện nhiệm vụ giám sát

1.1.2 Phân biệt giám sát với hoạt động thanh tra, kiểm tra trong quản lý nhà nước

Theo Hiến pháp (sửa đổi) năm 2015 của Lào và Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam, để bảo đảm thực hiện một cách có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước, bảo đảm pháp chế XHCN, có thể nêu ra một số hình thức giám sát, kiểm tra của các cơ quan nhà nước như: Giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, ĐBQH, Đoàn ĐBQH; kiểm tra, thanh tra của Chính phủ, các cơ quan của Chính phủ và cơ quan thanh tra Chính phủ; kiểm tra, kiểm sát của VKSND các cấp; kiểm tra của TAND thông qua hoạt động giám đốc thẩm Ngoài ra, cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức nhà nước còn chịu sự kiểm tra, giám sát của công dân, các tổ chức

xã hội và đoàn thể quần chúng đối với hoạt động của mình Tuy nhiên, khác với các hoạt động giám sát, thanh tra, kiểm tra, kiểm sát trên, hoạt động kiểm tra, giám sát của nhân dân và các đoàn thể xã hội không mang tính quyền lực nhà nước mà nhằm thể hiện và bảo đảm tính chất dân chủ, công khai trong hoạt động của bộ máy nhà nước

Về cơ bản, giám sát, thanh tra và kiểm tra, kiểm sát trong quản lý nhà nước đều

là những hoạt động kiểm soát việc tuân thủ Hiến pháp, pháp luật của các cơ quan nhà nước có chức năng, nhiệm vụ quyền hạn nhất định Từ đặc thù tổ chức bộ máy của nhà nước Lào và Việt Nam, có thể cơ bản phân biệt các hình thức giám sát, thanh tra, kiểm tra, kiểm sát trên các khía cạnh ở thẩm quyền, đối tượng, phạm vi, nội dung, phương thức thực hiện và hậu quả pháp lý của nó Cụ thể:

9 Bùi Mạnh Khoa (2014), Hoạt động giám sát của Đại biểu Quốc hội và Đoàn Đại biểu Quốc hội ở Việt Nam hiện nay

– Qua thực tiễn tỉnh Thanh Hóa, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.13

Trang 16

1.2.2.1 Phân biệt hoạt động giám sát của Quốc hội với thanh tra, kiểm tra của

cơ quan thanh tra

Thanh tra, kiểm tra của cơ quan thanh tra là một chức năng quan trọng của cơ quan quản lý nhà nước, là phương thức bảo đảm pháp chế, tăng cường kỷ luật trong quản lý nhà nước, thực hiện quyền dân chủ XHCN Nhiệm vụ và quyền hạn của Thanh tra nhà nước được quy định tại Điều 3 Luật Thanh tra nhà nước (sửa đổi) năm 2017, cũng như Điều 2, Điều 3 của Luật Thanh tra sửa đổi 2010 Theo đó cơ quan thanh tra nhà nước tiến hành thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp Ban thanh tra nhân dân giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở của cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm ở xã, phường, thị trấn, cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước Hoạt động thanh tra nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi

vi phạm pháp luật; phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục; phát huy nhân

tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước; bảo

vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân

Từ khái niệm về hoạt động giám sát của Quốc hội, cũng như các quy định trên về hoạt động thanh tra, kiểm tra, có thể rút ra một số kết luận sau:

- Về chủ thể: Theo quy định tại Hiến pháp 2015 và Điều 3 Luật Thanh tra nhà nước (sửa đổi) năm 2017 của Lào, Hiến pháp năm 2013 và Điều 14 của Luật thanh tra sửa đổi năm 2010 của Việt Nam, quyền thanh tra thuộc về cơ quan hành chính (tức Thanh tra Chính phủ) hoặc trực thuộc cơ quan hành chính (Thanh tra bộ, Thanh tra cấp tỉnh, Thanh tra sở, Thanh tra cấp huyện) Đây là hoạt động tự kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước đối với việc thi hành Hiến pháp, pháp luật trong quá trình điều hành của Chính phủ Trong khi đó, chủ thể có quyền, trách nhiệm thực hiện hoạt động giám sát của Quốc hội bao gồm: Quốc hội thực hiện hoạt động giám sát tối cao, UBTVQH, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn ĐBQH và ĐBQH (đối với Việt Nam) thực hiện hoạt động giám sát Đây là các cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc nhánh quyền lập pháp Như vậy, chủ thể có quyền, trách nhiệm thanh tra, kiểm tra là cơ quan hành chính nhà nước hoặc trực thuộc cơ quan hành chính

- Về mặt đối tượng: Cả Luật Thanh tra nhà nước (sửa đổi) năm 2017 của Lào và Luật Thanh tra năm 2010 của Việt Nam đều không có quy định về đối tượng của thanh tra, kiểm tra nhưng từ quy định tại Mục I, Chương II của Luật Thanh tra năm 2010, có thể hiểu đối tượng của công tác thanh tra, kiểm tra là: là cơ quan, tổ chức, cá nhân thường là những cơ quan, tổ chức, cá nhân của khu vực hành chính Trong khi đó, đối

Trang 17

tượng chịu sự giám sát của Quốc hội, cơ quan của Quốc hội thường rất rộng, bao gồm

cơ quan tổ, chức, cá nhân có quyền lập pháp; cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền hành pháp; cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tư pháp

- Về phương thức thực hiện và hậu quả pháp lý: Phương thức thực hiện được tiến hành theo các quy định của Luật Thanh tra nhà nước (sửa đổi) năm 2017 của Lào và Luật Thanh tra của Việt Nam, chủ yếu là thông qua việc thành lập các đoàn thanh tra Kết quả của công tác thanh tra là xử lý các vi phạm pháp luật (chủ yếu là xử lý vi phạm hành chính) trong hoạt động quản lý của các cơ quan nhà nước, nếu có dấu hiệu

vi phạm pháp luật hình sự thì chuyển cho cơ quan điều tra để xem xét, giải quyết theo thẩm quyền mà không tự mình giải quyết Trong khi đó, phương thức thực hiện hoạt động giám sát của Quốc hội rất đa dạng từ xem xét báo cao, kiểm tra việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật, chất vấn, các đoàn đi giám sát ở địa phương, lấy phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm, xem xét báo cáo của UBTVQH,… Hậu quả pháp lý của hoạt động giám sát của Quốc hội rất đa dạng từ yêu cầu đối tượng chịu sự giám sát phải thực hiện đúng các quy định của Hiến pháp, pháp luật; Bãi bỏ một phần hoặc toàn

bộ văn bản quy phạm pháp luật do đối tượng bị giám sát ban hành; miễn nhiệm, bãi nhiệm những người do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn…

1.2.2.2 Phân biệt hoạt động giám sát của Quốc hội với hoạt động kiểm tra của Tòa án nhân dân tối cao

Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) có thẩm quyền giám đốc việc xét xử của Tòa án các cấp, bao gồm cả Tòa án quân sự Điều này được quy định trong Hiến pháp, Luật Tổ chức TAND của hai nước quy định Bản chất của thủ tục giám đốc xét xử là việc TANDTC kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp của hoạt động xét xử Do vậy, có thể phân biệt hoạt động kiểm tra trong thủ tục giám đốc xét xử của TANDTC với hoạt động giám sát của Quốc hội như sau:

- Về mặt chủ thể: Theo quy định tại Hiến pháp năm 2013 và Điều 2 Luật tổ chức TAND thì TANDTC là cơ quan xét xử cao nhất của Nhà nước CHXHCN Việt Nam, TANDTC có thẩm quyền giám đốc việc xét xử của các TAND địa phương và Toà án quân sự các cấp Như vậy, TANDTC là chủ thể của hoạt động xem xét, kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp trong hoạt động xét xử của ngành Toà án

- Về đối tượng chịu sự giám đốc: Căn cứ vào Hiến pháp năm 2013, đối tượng chịu sự giám đốc của TANDTC là hoạt động xét xử của TAND các cấp, các Toà án quân sự Đối tượng chịu sự giám sát của của Quốc hội bao gồm các cơ quan lập pháp,

cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp

- Về phương thức thực hiện: TANDTC thực hiện việc kiểm tra hoạt động xét xử trong thủ tục giám đốc hoạt động xét xử được quy định trong pháp luật về tố tụng (thủ

Trang 18

tục tố tụng) Trong khi đó, phương thức thực hiện hoạt động giám sát của Quốc hội được thực hiện theo pháp luật về hoạt động giám sát của Quốc hội

- Về hậu quả pháp lý: Khi phát hiện có sai phạm pháp luật trong hoạt động xét

xử, TANDTC có quyền sửa đổi hoặc huỷ bỏ bản án của TAND cấp dưới, Tòa án quân

sự các cấp (ra các quyết định kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm) Trong khi đó hậu quả pháp lý của hoạt động giám sát của Quốc hội đa dạng hơn nhiều như đã phân tích ở trên

1.2.2.3 Phân biệt hoạt động giám sát của Quốc hội với hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân các cấp

Hiến pháp và Luật Tổ chức VKSND của hai nước đều ghi nhận VKSND các cấp

có thẩm quyền kiểm sát các hoạt động tư pháp, nhằm bảo đảm cho pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất Do đó, có thể phân biệt hoạt động giám sát của Quốc hội với hoạt động kiểm sát của VKSND các cấp như sau:

- Về mặt chủ thể: Theo quy định tại Hiến pháp năm 2013, Điều 2 của Luật tổ chức VKSND, Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) có thẩm quyền kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh

và thống nhất Quyền giám sát của Quốc hội thuộc về Quốc hội với quyền giám sát tối cao và các cơ quan của Quốc hội có quyền giám sát

- Về đối tượng chịu sự giám sát: Đối tượng chịu sự giám sát của VKSNDTC là hoạt động của các cơ quan tư pháp bao gồm các cơ quan: Điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và các cơ quan thực hiện các hoạt động bổ trợ tư pháp theo pháp luật tố tụng Đây là mối quan hệ về trình tự tố tụng trong hoạt động giữa các cơ quan tư pháp Trong khi đó đối tượng của hoạt động giám của Quốc hội rất rộng bao gồm cơ quan, tổ chức cá nhân chịu sự giám sát trọng việc tuân theo Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội

- Về phương thức thực hiện: Viện kiểm sát nhân tối cao khi tiến hành hoạt động kiểm sát hoạt động của các cơ quan tư pháp phải tuân thủ các quy định của Luật tổ chức VKSND và các quy định của pháp luật tố tụng có liên quan Trong khi đó, phương thức thực hiện hoạt động giám sát của Quốc hội rất đa dạng và phong phú như

Trang 19

Như vậy, các hoạt động giám sát, kiểm sát, kiểm tra, thanh tra đều là những hoạt động kiểm sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật của các cơ quan nhà nước Sự khác nhau của hoạt động giám sát, kiểm tra giữa các cơ quan chính là ở thẩm quyền, đối tượng, phạm vi, nội dung, phương thức thực hiện và hậu quả pháp lý của nó Để hiểu đúng chức năng giám sát của Quốc hội cần phải thống nhất về mặt quan điểm là hoạt động giám sát khác với các hoạt kiểm tra, kiểm tra

1.2 Vị trí, vai trò của Đại biểu Quốc hội và Đoàn Đại biểu Quốc hội trong hoạt động giám sát

1.2.1 Vị trí, vai trò của Đại biểu Quốc hội

Quốc hội nước CHDCND Lào và Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam ra đời trong cuộc cách mạng giành độc lập dân tộc Ngay từ ngày đầu tiên của Quốc hội Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Các đại biểu trong Quốc hội này không phải đại diện cho đảng phái nào mà là đại biểu của toàn thể quốc dân Việt Nam Đó là một sự đoàn kết tỏ ra rằng lực lượng của toàn dân Việt Nam đã kết thành một khối10; Quốc hội là tiêu biểu ý chí thống nhất của dân tộc ta, một ý chí sắt đá không gì lay chuyển nổi11 Quan điểm này mang tính nguyên tắc, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình

tổ chức và hoạt động không chỉ của Quốc Hội Việt Nam mà còn của Quốc hội Lào Trên cơ sở các yếu tố đó, khái niệm ĐBQH được pháp luật quy định cụ thể tại

Điều 43 Luật Tổ chức Quốc Hội Lào sửa đổi năm 2006: “ĐBQH là đại diện cho ý chí

và nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước; là người thay mặt cho nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước của Quốc hội”, Điều 21 Luật Tổ chức Quốc hội 2014:

“ĐBQH là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân ở đơn vị bầu cử ra

mình và của Nhân dân cả nước; là người thay mặt Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội” Như vậy, ĐBQH là người được nhân dân bầu ra theo nguyên

tắc phổ thông, bình đẳng trực tiếp, bỏ phiếu kín Khác với Nghị sĩ Quốc hội của các nước tư sản, các ĐBQH của Lào và Việt Nam phải gắn liền với cử tri và đơn vị bầu cử

đã bầu ra họ Qua bầu cử nhân dân ủy nhiệm quyền lực của mình, để ĐBQH thay mặt nhân dân quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước Là thành viên của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, ĐBQH có những thẩm quyền đặc biệt mà các cá nhân khác trong bộ máy nhà nước không có Đó là quyền gắn với quyền lực của Quốc hội ĐBQH là những công dân ưu tú ở các lĩnh vực hoạt động của nhà nước và xã hội được nhân dân cả nước tín nhiệm bầu ra Đó là những đại biểu chính thức của nhân

10 Hồ Chí Minh (1995) Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.4, 189

11 Hồ Chí Minh (1995) Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.7, 497

Trang 20

dân Các ĐBQH theo tinh thần của Lênin là những người: “Tự mình công tác, tự mình

ĐBQH có địa vị pháp lý đặc biệt được quy định trong Hiến pháp (sửa đổi) năm

2015 của Lào, Luật Tổ chức Quốc hội Lào năm 2006, Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam, Luật Tổ chức Quốc hội Việt Nam năm 2014, Quy chế hoạt động của ĐBQH, bao gồm các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và hình thức hoạt động của ĐBQH Người đó là người đại diện của nhân dân đồng thời là đại biểu cấu thành cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ĐBQH là cầu nối quan trọng giữa chính quyền nhà nước với nhân dân ĐBQH vừa chịu trách nhiệm trước cử tri vừa chịu trách nhiệm trước cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ĐBQH là người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của quần chúng nhân dân, không chỉ đại diện cho dân ở đơn vị bầu cử ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước; là người thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong xã hội Vì vậy, trong khi làm nhiệm vụ, ĐBQH phải xuất phát từ lợi ích chung của cả nước đồng thời cũng quan tâm thích đáng đến lợi ích của địa phương đã bầu ra mình, phải căn cứ vào pháp luật của nhà nước và những quy định của Chính quyền địa phương

Địa vị pháp lý của ĐBQH có mối quan hệ logic và biện chứng chặt chẽ với quyền lực nhà nước, quyền lực Quốc hội Do có vị trí đặc biệt đó, ĐBQH có vai trò rất quan trọng trong xã hội

Vị trí pháp lý của ĐBQH được bắt đầu sau khi Quốc hội xác nhận tư cách ĐBQH

ở phiên họp đầu tiên của phiên họp thứ nhất mỗi khóa Quốc hội Nhiệm kỳ ĐBQH được tính từ kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa đó đến kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa sau Theo đó, ĐBQH mang đặc điểm:

- ĐBQH là người đại diện của nhân dân Họ có trách nhiệm phải thường xuyên gần gũi với cử tri để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và những yêu cầu của cử tri đối với nhà nước

- Là người thay mặt nhân dân thực hiện thẩm quyền Quốc hội, ĐBQH là thành viên của Bộ máy Nhà nước

Trên cơ sở quy định về địa vị pháp lý, ĐBQH thực hiện giám sát thông qua các hình thức sau:

- Hoạt động chất vấn của ĐBQH: Hoạt động chất vấn của ĐBQH có vai trò vô

cùng quan trọng trong việc phát huy tính dân chủ của Quốc hội, hoạt động chất vấn còn là cầu nối quan trọng giữa Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan nhà nước với nhân dân, thể hiện bằng các ý kiến của cử tri cả nước

12 Trường Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình luật Hiến pháp Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội

Trang 21

- Hoạt động giám sát văn bản quy phạm pháp luật: Pháp luật là yếu tố của kiến

trúc thượng tầng, có ý nghĩa lớn đối với vai trò quản lý nhà nước Ở nước CHDCND Lào và nước CHXHCN Việt Nam, Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp Các văn bản của Chính phủ và cơ quan khác trong bộ máy nhà nước không được trái với văn bản luật Chức năng giám sát của Quốc hội thông qua hoạt động giám sát của ĐBQH Qua hoạt động giám sát, ĐBQH thể hiện vai trò của mình trong việc phát hiện

và loại bỏ các văn bản quy phạm không đúng pháp luật nhằm đảm bảo pháp luật được đồng bộ, thống nhất và toàn diện Do đó Luật Hoạt động giám sát của Quốc Hội cả hai nước đã quy định về ĐBQH giám sát văn bản quy phạm pháp luật:

- Hoạt động giám sát thi hành pháp luật ở địa phương: Trong công cuộc đổi mới

tại Lào và Việt Nam hiện nay, vấn đề tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước bằng pháp luật là một trong những yêu cầu cấp bách Do đó đi đôi với việc hoàn thiện hệ thông pháp luật, nhà nước Lào và Việt Nam luôn chú trọng đưa pháp luật vào đời sống Với tính chất là cơ quan đại diện cao nhất, cơ quan quyền lực cao nhất, Quốc hội thực hiện chức năng giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước trong đó có hoạt động giám sát việc thực hiện pháp luật Để thực hiện quyền giám sát tối cao của mình, Quốc hội thông qua ĐBQH nhằm phát hiện xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong thực hiện pháp luật Đây cũng là một trong những hoạt động giám sát chủ yếu của ĐBQH khi thực hiện nhiệm vụ của mình tại địa phương được ghi nhận tại Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2004 của Lào và Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015 của Việt Nam

- Hoạt động giám sát đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân:

ĐBQH do nhân dân trực tiếp bầu ra, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân nên khi quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân bị xâm hại thì ĐBQH có trách nhiệm yêu cầu các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền xem xét giải quyết, giám sát việc giải quyết của người có thẩm quyền Với tính chất là người đại diện của nhân dân, ĐBQH

là cầu nối giữa nhân dân với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Hoạt động hiệu quả của ĐBQH đóng vai trò to lớn trong việc tạo ra cơ chế giám sát từ phía cơ quan quyền lực nhà nước đối với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo

1.2.2 Vị trí, vai trò của Đoàn Đại biểu Quốc hội

Các ĐBQH được bầu trong một tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung ương hợp thành Đoàn ĐBQH Đoàn ĐBQH có đại biểu hoạt động chuyên trách Có thể nói vị trí, vai trò của Đoàn ĐBQH có ý nghĩa vô cùng quan trọng, trên cơ sở các quy định của pháp luật tác giả xin đưa ra một số nội dung chính như sau:

Thứ nhất, tổ chức hoạt động cho ĐBQH: Tổ chức hoạt động cho ĐBQH trong và

ngoài kỳ họp là nhiệm vụ quan trọng của Đoàn ĐBQH, bởi ĐBQH hầu hết là không

Trang 22

chuyên trách, công tác và sinh sống tại địa phương nên trong kỳ họp, Đoàn ĐBQH là cầu nối để ĐBQH liên hệ với đoàn Chủ tịch kỳ họp và nơi tổ chức thảo luận về những vấn đề liên quan đến nội dung của kỳ họp Thực tiễn cho thấy hình thức thảo luận của ĐBQH tại tổ là quan trọng nhất và không thể thay thế được, là bước chuẩn bị hết sức cần thiết cho ĐBQH thảo luận và biểu quyết những vấn đề tại phiên họp toàn thể, việc ĐBQH thảo luận tại tổ là một trong những yêu cầu bắt buộc đối với ĐBQH Việc bảo đảm cho ĐBQH hoạt động hiệu quả trong kỳ họp thuộc trách nhiệm của nhiều cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhưng việc tổ chức cho ĐBQH trao đổi, thảo luận trước khi

đi đến quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ quyền hạn của Quốc hội là nhiệm vụ

mà không một cơ quan, tổ chức nào có thể thay thế được đó là Đoàn ĐBQH, Đoàn ĐBQH tổ chức cho đại biểu hoạt động nhưng không làm thay và làm hạn chế quyền của đại biểu Ngoài kỳ họp đại biểu thông qua Đoàn để giữ mối liên hệ với Chủ tịch Quốc hội, UBTVQH và liên hệ qua lại với cử tri

Tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của Đoàn, bao gồm: Tham gia công tác xây dựng pháp luật, pháp lệnh; tiếp dân theo dõi, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại,

tố cáo của công dân; tổ chức tiếp xúc cử tri trước và sau kỳ họp, tham gia công tác giám sát

Thứ hai, qua xem xét thực tiễn tại địa phương, Đoàn ĐBQH nhận thấy những

vấn đề bức xúc cần phải được tháo gỡ kịp thời hay chấn chỉnh, khắc phục ngay những hạn chế, yếu kém thì Đoàn tự thành lập đoàn giám sát để tổ chức cho các ĐBQH tiến hành giám sát nhằm giải quyết những khó khăn, bất cập trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền

Thứ ba, phối hợp với các cơ quan của Quốc hội như Hội đồng dân tộc và các Ủy

ban của Quốc hội để triển khai hoạt động giám sát tại địa phương trên cơ sở Chương trình giám sát giám sát của Quốc hội, UBTVQH nhằm cùng với Quốc hội thực hiện tốt các yêu cầu đặt ra

Hoạt động của Đoàn ĐBQH diễn ra trên rất nhiều lĩnh vực khác nhau, tuy nhiên việc Đoàn ĐBQH tổ chức cho ĐBQH giám sát tại địa phương có ý nghĩa vô cùng quan trọng Thực tiễn cho thấy, để một cuộc giám sát đạt hiệu quả đòi hỏi phải đảm bảo rất nhiều yếu tố, như Đoàn ĐBQH phải lựa chọn những ĐBQH có chuyên môn sâu trong lĩnh vực giám sát, sắp xếp, bố trí thời gian hợp lý cho các ĐBQH hay chỉ đạo Văn phòng cử cán bộ có chuyên môn, tiếp cận công việc tốt và chuẩn bị phương tiện các trang thiết bị phục vụ cho hoạt động giám sát thì cuộc giám sát mới đạt kết quả, vì vậy Đoàn ĐBQH có vai trò vô cùng quan trọng đối với hoạt động giám sát của ĐBQH nói riêng và đối với hoạt động giám sát của Quốc hội nói chung

Trang 23

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giám sát của Đại biểu Quốc hội và Đoàn Đại biểu Quốc hội

1.3.1 Cơ cấu và chất lượng của Đại biểu Quốc hội

Trên nguyên tắc, việc bầu cử ĐBQH luôn cân nhắc đến yếu tố cơ cấu Theo đó, trong các cuộc bầu cử phải bảo đảm tỉ lệ các đại biểu kiêm nhiệm và đại biểu chuyên trách Đại biểu chuyên trách hiểu một cách đơn giản là các đại biểu chỉ thực hiện nhiệm

vụ ĐBQH mà không kiêm nhiệm các chức danh quản lý nhà nước khác Như vậy, cơ cấu đại biểu hiểu một cách đơn giản nhất chính là tỉ trọng của đại biểu chuyên trách trong tương quan với các đại biểu kiêm nhiệm trong Quốc hội hoặc trong Đoàn ĐBQH Nhìn từ góc độ quỹ thời gian để thực hiện công việc, đại biểu chuyên trách có nhiều thời gian để thực hiện nhiệm vụ hơn so với các đại biểu kiêm nhiệm Như vậy rõ ràng là cơ cấu đại biểu chuyên trách và kiêm nhiệm trong một Đoàn đại biểu sẽ có ảnh hướng lớn đến chất lượng thực hiện các chức năng của Đoàn ĐBQH nói chung và chức năng giám sát nói riêng

Mặt khác, như trên đã trình bày hoạt động giám sát cho dù được tiến hành thông qua hoạt động trực tiếp của Đại biểu hay Đoàn ĐBQH thì về bản chất đều có sự tham gia của ĐBQH Sự am tường các kiến thức, kĩ năng của đại biểu trong lĩnh vực đang tiến hành giám sát sẽ là nhân tố quyết định chất lượng của việc giám sát Nói cách khác, chất lượng đại biểu được coi là nhân tố then chốt trong việc thực hiện chức năng giám sát

1.3.2 Các điều kiện hỗ trợ cho hoạt động giám sát

Hoạt động giám sát của Đại biểu và Đoàn ĐBQH trải dài trên tất cả các lĩnh vực của hoạt động quản lý nhà nước Nhằm bảo đảm nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện nhà nước, Quốc hội, cơ quan đại diện cho quyền lực tối cao phải có quyền giám sát

hoạt động “thừa ủy quyền” của các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước

Với phạm vi giám sát rộng lớn, để bảo đảm cho hoạt động này có hiệu quả cần phải có sự hỗ trợ của các phương tiện kĩ thuật và cả những chuyên gia trong các lĩnh vực giám sát

Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật cùng với sự chuyên môn hóa cao, trong các lĩnh vực mang tính đặc thù về kĩ thuật, muốn giám sát được các hoạt động này, tìm ra những điểm phù hợp hay bất cập, một yêu cầu mang tính tiên quyết là đại biểu phải có cái nhìn tổng quan và một sự am hiểu nhất định về lĩnh vực mà mình đang tiến hành hoạt động giám sát Chính điều này đã đặt ra một thách thực lớn cho ĐBQH Vì về nguyên tắc, các đại biểu cho dù luôn cố gắng trong việc học hỏi các

Trang 24

kiến thức mới, thì với phạm vi giám sát rộng như trên đã phân tích, thì việc đáp ứng được yêu cầu về mặt kiến thức là rất khó khăn, nếu không nói là không thể

Do đó, biện pháp hữu hiệu để giải quyết vấn đề chính là tham vấn chuyên gia hoặc tiếp nhận sự hỗ trợ của chuyên gia trong các lĩnh vực ngành nghề đang tiến hành hoạt động giám sát Kết lại, sự hỗ trợ của các phương tiện kĩ thuật cùng với sự tham gia của các chuyên gia là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng của hoạt động giám sát

1.3.3 Sự phối hợp của các cơ quan, đơn vị bị giám sát

Như trên đã phân tích, trong thời gian qua vẫn tồn tại một nhận thức sai lầm ở một vài cơ quan đơn vị bị giám sát khi cho rằng các cơ quan giám sát (như ĐBQH và Đoàn ĐBQH) là những cơ quan mang tính “thù nghịch” và đối kháng Cũng vì lẽ đó

mà trong quá trình đại biểu thực hiện hoạt động giám sát đã bị ảnh hưởng không ít khi

mà các cơ quan, đơn vị bị giám sát luôn tìm cách che giấu hoặc có các hành vi mang tính bất hợp tác

Việc che giấu, không hợp tác của cơ quan, đơn vị bị giám sát rõ ràng là một nhân

tố ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động giám sát và cả chất lượng giám sát của đại biểu Hiện tượng này đang đi ngược lại nguyên tắc phân công và phối hợp giữa các cơ quan trong quá trình thực hiện quyền lực nhà nước

Bằng việc che giấu, giả mạo, làm sai các tài liệu, hồ sơ hoặc thực hiện các hành

vi mang tính cản trở khác, đại biểu phải mất nhiều thời gian, công sức hơn trong việc thực hiện chức năng giám sát Cần phải nhận thức rõ, bản chất của việc thực hiện chức năng giám sát không phải là để nhằm quy kết, truy cứu trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị bị giám sát mà mục đích cao cả và lớn nhất của chức năng giám sát chính là ngăn ngừa và kịp thời phát hiện sớm các sai phạm (nếu có) để có những biện pháp ngăn ngừa, khắc phục các hậu quả thích hợp

1.3.4 Sự phối hợp liên ngành của các các cơ quan hữu quan

Quá trình thực hiện chức năng giám sát, đôi khi có những lĩnh vực giao thoa nhiều lĩnh vực khác nhau Do vậy, việc tham gia, phối hợp giữa các cơ quan, ban ngành giúp cho việc giám sát được tiến hành một cách dễ dàng, thuận lợi, bởi ĐBQH

và Đoàn ĐBQH không thể hiểu hết các lĩnh vực được giám sát, vì vậy việc phối hợp giữa các cơ quan chuyên môn sẽ cung cấp thông tin hay phát hiện những vấn đề bất cập trong quá trình thực hiện chức năng giám sát, qua đó giúp cho ĐBQH và Đoàn ĐBQH nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH

Trang 25

1.4 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội

Việc xác định các tiêu chí để đánh giá hiệu quả của hoạt động giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội cần được xem xét dưới những góc độ thích hợp Trong

đó, dựa vào việc nghiên cứu các quy định của pháp luật và hoạt động thực tiễn của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, có thể đưa ra một số tiêu chí sau:

Thứ nhất, theo chức năng, thẩm quyền: hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc

hội, các cơ quan của Quốc hội được xác định dựa trên việc thực hiện chức năng, thẩm quyền theo luật định Theo quy định của Hiến pháp, Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước Do đó, việc đánh giá hiệu quả hoạt động giám sát cần đánh giá ở 2 phương diện: Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất (thực hiện các quyền lực lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước) và Quốc hội có quyền giám sát tối cao (đánh giá hoạt động của các chủ thể thuộc phạm vi giám sát, phương thức, hậu quả giám sát tối cao)

Thứ hai, theo đối tượng chịu sự giám sát: hiệu quả hoạt động của Quốc hội, các

cơ quan của Quốc hội được đánh giá dựa trên hoạt động giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội trong việc theo dõi, đánh giá hoạt động của các đối tượng chịu sự giám sát trong việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH

Thứ ba, theo góc độ hoạt động: hiệu quả giám sát của hoạt động này được đánh

giá thông qua những hoạt động cụ thể như: xem xét các báo cáo công tác, xem xét văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, pháp luật; chất vấn; điều trần Các đánh giá từ góc độ này cho phép đánh giá hiệu quả của từng phương thức giám sát một cách cụ thể

Việc đánh giá hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội trong thời gian qua ngày càng được đẩy mạnh và được coi như tiêu chí để xác định thực quyền của Quốc hội Tuy nhiên, việc đánh giá một cách đầy đủ và chính xác hiệu quả hoạt động giám sát này là một việc khó vì đây là hoạt động chính trị ở tầm vĩ mô, khó định lượng Tuy nhiên, từ thực tiễn hoạt động của Quốc hội, có thể khái quát một số tiêu chí để đánh giá hiệu quả giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội như sau:

- Việc đạt được các yêu cầu đề ra: Mục đích của hoạt động giám sát là việc mà các chủ thể khi tiến hành giám sát hướng tới và mong muốn đạt được Sau giám sát, việc so sánh đối chiếu kết quả đạt được sau khi tiến hành giám sát và mục đích đặt ra trước khi tiến hành giám sát sẽ cho thấy hiệu quả của việc thực hiện quyền giám sát của Quốc hội

Trang 26

- Kết quả sau giám sát: Căn cứ xác định kết quả sau giám sát là mức độ thực hiện các chương trình, kế hoạch giám sát cũng như việc hoàn thành các nhiệm vụ giám sát

cụ thể Tuy nhiên, việc xác định kết quả sau giám sát là một công việc khó khăn, vì việc đánh giá mang yếu tố chính trị -xã hội ở tầm vĩ mô, khó định lượng

- Số lượng các hoạt động giám sát: Việc xác định các số lượng các hoạt động giám sát được thể hiện thông qua số lượng các báo cáo công tác, các chuyên đề giám sát trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến, số chất vấn của ĐBQH, số lượng các đoàn giám sát

Do đó, có thể khái quát rằng, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội được thể hiện thông qua việc thi hành và kết quả thực hiện những quyết định của Quốc hội trên thực tế, tác động lên các mặt của đời sống kinh tế, xã hội

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Có thể khẳng định, hoạt động giám sát là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước, mang tính tất yếu khách quan của tất cả các hình thái nhà nước và ở từng giai đoạn lịch sử Trong đó, Quốc hội luôn được coi là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, có quyền giám sát tối cao việc thực hiện pháp luật trong đời sống xã hội Giám sát của Quốc hội, mà cụ thể là giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH có những đặc điểm riêng, trong đó việc giám sát tối cao mang tính quyền lực nhà nước, chỉ riêng Quốc hội có và đối tượng chịu sự giám sát là tất cả việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước

Việc nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội cũng như của các cơ quan của Quốc hội trong thời kỳ xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN là một vấn đề cấp bách đang được đặt ra Do đó, việc so sánh hoạt động giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH giữa pháp luật Lào và Việt Nam có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc hoàn thiện pháp luật Lào hiện nay

Làm tiền đề cơ bản cho việc triển khai đề tài, trong chương 1 của luận văn, tác giả đã tìm hiểu khái quát về cơ sở lý luận về hoạt động giám sát, vị trí, vai trò của ĐBQH, Đoàn ĐBQH trong hoạt động giám sát cũng như hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội Những nội dung lý luận này sẽ là cơ sở cho việc so sánh hoạt động giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH giữa pháp luật Lào và Việt Nam trong Chương 2 dưới đây

Trang 27

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI

VÀ ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI CỦA LÀO VÀ VIỆT NAM

DƯỚI GÓC ĐỘ SO SÁNH 2.1 Khái quát quá trình hình thành, phát triển của pháp luật về hoạt động giám sát của Đại biểu Quốc hội và Đoàn Đại biểu Quốc hội Lào và Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử

2.1.1 Quá trình hình thành, phát triển của pháp luật về hoạt động giám sát của Đại biểu Quốc hội và Đoàn Đại biểu Quốc hội của Lào

Trước năm 1991, hoạt động giám sát của Quốc hội nói chung, của ĐBQH và Đoàn ĐBQH nói riêng, chưa có sự phát triển rõ ràng Bởi, đây là giai đoạn đặc biệt trong lịch sử Nhà nước và pháp luật của Lào Mãi đến năm 1973, theo tinh thần Hiệp ước Viêng – Chăn được ký kết ngày 21/02/1973 giữa Chính phủ Vương quốc Lào và Mặt trận yêu nước Lào, một cơ cấu chính quyền chung được thành lập13 Thời gian này, quản lý hành chính của Lào có sự manh mún, lẻ tẻ, do đó, một thiết chế về giám sát hoạt động cơ quan nhà nước chưa được chú trọng và chưa có điều kiện phát triển Sau khi đất nước được giải phóng, Nhà nước Nhà nước CHDCND Lào ra đời, bao gồm hệ thống cơ quan nhà nước từ Trung ương tới địa phương Tuy nhiên, để giải

quyết các vấn đề quan trọng của đất nước, các đạo luật về tổ chức nhà nước như Luật

tổ chức Hội đồng Bộ trưởng Lào năm 1978, Luật Tổ chức Quốc hội năm 1978 được

ban hành Vấn đề giám sát của Quốc hội lúc này cũng chưa được chú trọng nhiều, mới

được quy định manh mún trong Luật Tổ chức Quốc hội năm 1978 rằng “ĐBQH có

quyền kiến nghị với các cơ quan Nhà nước về việc thi hành pháp luật, chính sách của Nhà nước và những vấn đề thuộc lợi ích chung Các cơ quan Nhà nước và những người có trách nhiệm phải nghiên cứu và trả lời những kiến nghị đó của đại biểu”

Đồng thời, ĐBQH cần tiếp xúc và báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của Quốc hội, trả lời những kiến nghị của cử tri, giám sát tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân, có trách nhiệm gửi những yêu cầu, khiếu nại đó đến các cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết

Ngày 15/08/1991, Quốc hội nước CHDCND Lào đã thông qua Hiến pháp mới - bản Hiến pháp XHCN đầu tiên của Lào, đánh dấu bước phát triển mới trong công cuộc xây dựng nước Lào độc lập, thống nhất, dân chủ nhân dân và giàu mạnh Cũng từ khi Hiến pháp năm 1991 ra đời, cơ chế giám sát của Quốc hội được quy định một cách rõ ràng hơn Hiến pháp năm 1991 đã khẳng định quyền giám sát tối cao của Quốc hội đối

13 Khăm Tay - XiPhănĐon (1988), Sự nghiệp giải phóng và xây dựng phát triển đất nước, Ủy ban tuyên truyền

Trung ương Đảng, Nxb Quốc gia, Viêng Chăn, tr 408-409

Trang 28

với toàn bộ hoạt động của Nhà nước Để thực hiện tốt chức năng này, hoạt động của các ĐBQH đóng vai trò rất quan trọng Trên cơ sở Hiến pháp năm 1991, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2003 được ban hành, đã quy định một số điều về công tác giám sát và những chế tài kèm theo nhưng chưa thật thỏa đáng, chưa cụ thế, rõ ràng để Quốc hội

và các cơ quan của Quốc hội, ĐBQH và Đoàn ĐBQH thực thi

Do đó, trước yêu cầu bức thiết cần phải nâng cao chất lượng thực hiện chức năng giám sát tối cao của Quốc hội, của các cơ quan của Quốc hội, của ĐBQH và các Đoàn ĐBQH, tháng 11 năm 2004, Quốc hội Lào đã ban hành Luật về Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2004 Các quy định về thẩm quyền giám sát của ĐBQH, Đoàn ĐBQH được ghi nhận rất cụ thể trong Chương 4, Chương 5 Luật về Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2004 Trên cơ sở các quy định này, có thể thấy, nội dung các hoạt động giám sát của ĐBQH, Đoàn ĐBQH bao gồm các hoạt động: (i) Hoạt động chất vấn của ĐBQH; (ii) Giám sát văn bản quy phạm pháp luật; (iii) Giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương; (iv) Giám sát việc giải quyết khiếu nại, tô cáo, kiến nghị của công dân ĐBQH tự mình tiến hành hoạt động giám sát hoặc tham gia hoạt động giám sát của Đoàn ĐBQH; tham gia Đoàn giám sát của UBTVQH, Hội đồng dân tộc,

Uỷ ban của Quốc hội tại địa phương khi có yêu cầu Có thế nói với quy định này, vai trò giám sát của ĐBQH, Đoàn ĐBQH được chú ý và đặt đúng tầm của nó, nội dung các hoạt động giám sát đã được phân định rạch ròi làm cơ sở cho ĐBQH thực hiện đúng quyền hạn và trách nhiệm của mình khi tham gia giám sát

Có thể nói, từ khi Hiến pháp năm 1991 và Luật Tổ chức Quốc hội năm 2003 (sửa đổi năm 2006), Luật về Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2004 ra đời, cơ chế giám sát của Quốc hội nói chung, hoạt động giám sát cua ĐBQH, Đoàn ĐBQH nói riêng được nâng cao một cách rõ rệt Đưa giám sát lên một tầm cao mới, hoạt động giám sát của ĐBQH đã có những điểm tiến bộ đáng kể Các văn bản quy định về hoạt động giám sát được sửa đổi, bổ sung đàm bảo cho phù hợp với việc nâng cao hiệu quá giám sát tối cao của Quốc hội và chất lượng hoạt động của ĐBQH

Tuy nhiên, thực tiễn thi hành quy định về hoạt động giám sát của Quốc hội, HĐND cũng bộc lộ những mặt hạn chế, bất cập nhất định Hơn nữa, cùng với việc ban hành Hiến pháp Lào 2015, Luật Tổ chức Quốc hội (sửa đổi) năm 2015 và (sửa đổi bổ sung một số điều) năm 2016, cùng với cuộc bầu cử Quốc hội Lào khóa VIII và HĐND cấp tỉnh nhiệm kỳ 2016 - 2021 đã khiến cho bộ máy quyền lực nhà nước Lào có những thay đổi quan trọng: Theo Hiến pháp mới, HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên HĐND cấp tỉnh sẽ được thành lập để xem xét và thông qua các vấn đề lớn tại

Trang 29

địa phương, đồng thời giám sát hoạt động của các cơ quyền lực tại địa phương HĐND cấp tỉnh cũng sẽ thông qua các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách của địa phương cũng như việc bổ nhiệm và cách chức các tỉnh trưởng dựa trên đề xuất của Thường trực HĐND tỉnh… Điều này khiến cho những quy định về hoạt động giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH tại địa phương đã không còn phù hợp với tình hình thực

tế, bởi những quy định về hoạt động giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH tại địa phương hiện nay đang ôm đồm cả hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh Do đó, Luật về Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND cấp tỉnh (sửa đổi) năm 2016 được ban hành, thay thế cho Luật về Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2004 Tuy nhiên, Luật này chỉ bổ sung thêm Phần về Giám sát của HĐND, còn các quy định của Phần Giám sát của Quốc hội hầu như không thay đổi

Trong đó, hoạt động giám sát của ĐBQH, Đoàn ĐBQH tiếp tục được ghi nhận tại Chương 4, Chương 5 Luật về Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND cấp tỉnh (sửa đổi) năm 2016 của Lào như sau:

- Hoạt động giám sát của Đoàn ĐBQH được quy định từ Điều 34 đến Điều 40 của Luật, cụ thể là: Điều 34 Đối tượng giám sát; Điều 35 Lập kế hoạch giám sát; Điều 36 Kiểm tra báo cáo của các ngành khác nhau; Điều 37 Giám sát hành vi pháp lý; Điều 38 Giám sát việc giải quyết yêu cầu và khiếu nại của nhân dân; Điều 40 Kiểm tra và giải quyết phát hiện giám sát

- Hoạt động giám sát của ĐBQH được quy định từ Điều 41 đến Điều 47 Luật về Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND cấp tỉnh (sửa đổi) năm 2016 của Lào, cụ thể là: Điều 41 Đối tượng giám sát; Điều 42 Lập và thực hiện kế hoạch giám sát; Điều 43 Hoạt động giám sát; Điều 44 Chất vấn trong phiên họp Quốc hội; Điều 45 Giám sát hành vi pháp lý; Điều 46 Giám sát việc giải quyết yêu cầu và khiếu nại của nhân dân; Điều 47 Báo cáo kết quả giám sát

2.1.2 Quá trình hình thành, phát triển của pháp luật về hoạt động giám sát của Đại biểu Quốc hội và Đoàn Đại biểu Quốc hội của Việt Nam

Hoạt động giám sát của ĐBQH, Đoàn ĐBQH đã được chú trọng phát triển cùng với sự phát triển của nền lập pháp Việt Nam Trước khi Luật hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003 được ban hành, những quy định pháp luật về hoạt động giám sát của ĐBQH, Đoàn ĐBQH chủ yếu được thế hiện qua các bản Hiến pháp và Luật tổ chức Quốc hội tại thời điểm đó Trong đó:

Hiến pháp năm 1946 là bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, mặc dù trong Hiến pháp chưa có quy định nào trực tiếp đề cập tới hoạt động giám sát của ĐBQH, Đoàn ĐBQH, song các quy định gián tiếp đều cho thấy Nghị viện cũng

có quyền giám sát và phê bình Chính phủ, chăng hạn các quy định: “Khi Nghị viện

Trang 30

không họp, Ban thường vụ có quyền triệu tập Nghị viện; kiểm soát và phê bình Chính phủ” (Điều thứ 36); “Bộ trưởng nào không được Nghị viện tín nhiệm thì phái từ chức” (Điều thứ 54) Hoạt động giám sát chính của ĐBQH là chất vấn tại kỳ họp:

“Các Bộ trưởng phải trả lời bằng thư từ hoặc bằng lời nói những điều chất vấn của

Nghị viện hoặc của Ban thường vụ” (Điều thứ 55) Quy định này cho thấy chủ thế của

hoạt động chất vấn là tập thể Nghị viện và Ban thường vụ chứ không phải là cá nhân các nghị viên Do đó, nghị viên hay nói cách khác là các ĐBQH theo Hiến pháp năm

1946 chưa được coi là chủ thể độc lập của hoạt động giám sát mà phải thực hiện hoạt động của mình thông qua tập thể Nghị viện và Ban thường vụ Tuy nhiên, đây là những quy định đầu tiên về hoạt động giám sát của ĐBQH Do hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, toàn dân tộc tập trung vào việc giữ nước nên những quy định về giám sát chỉ được quy định khái quát

Hiến pháp năm 1959 ra đời, đã quy định cụ thể hơn về hoạt động giám sát của

Quốc hội và ĐBQH Theo đó, Quốc hội có quyền “giám sát việc thi hành Hiến pháp”

(khoản 3 - Điều 50) Quyền giám sát của ĐBQH đã được cụ thể tại một điều trong

Hiến pháp: “Các ĐBQH có quyền chất vấn Hội đồng Chính phủ và các cơ quan thuộc

Hội đồng Chính phủ Cơ quan bị chất vấn phải trả lời trong thời hạn năm ngày; trường hợp cần phải điều tra thì thời hạn trả lời là một tháng” (Điều 59) Như vậy,

theo Hiến pháp năm 1959 thì hoạt động giám sát của ĐBQH được thực hiện chủ yếu là thông qua hoạt động chất vấn Quyền chất vấn này được ghi nhận lại tại Điều 42, Luật

Tổ chức Quốc hội năm 1960 Theo đó, ĐBQH có quyền chất vấn trong kỳ họp Quốc hội hoặc trong thời gian Quốc hội không họp thì do UBTVQH chuyển cho cơ quan bị chất vấn để trả lời trước Quốc hội hoặc trước UBTVQH

Hiến pháp năm 1980 về hoạt động giám sát của ĐBQH đã hoàn thiện hơn so với Hiến pháp năm 1959 Lần đầu tiên chức năng giám sát tối cao của Quốc hội được

khẳng định làm cơ sở cho hoạt động giám sát của ĐBQH, đó là: “Quốc hội thực hiện

quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước” (Điều 82) ĐBQH đã

có nhiều quyền và nghĩa vụ hơn khi thực hiện hoạt động giám sát đó là: “ĐBQH phải

liên hệ chặt chẽ với cử tri, trả lời những yêu cầu và kiến nghị của cử tri, xem xét và giúp giải quyết những điều khiếu nại và tố cáo của nhân dân ĐBQH tuyên truyền, phổ biến pháp luật và chính sách của Nhà nước, động viên nhân dân tham gia quản lý Nhà nước” (Điều 94) Thông qua mối liên hệ với cử tri, ĐBQH giám sát tình hình thi hành

pháp luật tại địa phương (Điều 63 Luật Tổ chức Quốc hội năm 1981) Thực hiện chế

độ tiếp xúc và báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và cả Quốc hội, ĐBQH phải trả lời những kiến nghị của cử tri, giám sát tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân, có trách nhiệm gửi những yêu cầu, khiếu nại đó đến các cá nhân, cơ quan

Trang 31

nhà nước có thẩm quyền đó giải quyết (Điều 62 Luật Tổ chức Quốc hội năm 1981) Bên cạnh đó, đối tượng giám sát bằng hoạt động chất vấn của ĐBQH được mở rộng hơn, ĐBQH không chỉ có quyền chất vấn Hội đồng Bộ trưởng và các thành viên của Hội đồng Bộ trưởng mà còn chất vấn Chánh án TANDTC và Viện trưởng VKSNDTC

- những chức danh do Quốc hội bầu (Điều 95 Hiến pháp năm 1980) Hoạt động chất vấn của ĐBQH sẽ là tiền đề cho việc xác định trách nhiệm của các cơ quan hoặc người

bị chất vấn (Điều 60 Luật Tổ chức Quốc hội năm 1981)

Đến Hiến pháp năm 1992 ra đời, cơ chế giám sát của Quốc hội được nâng cao hơn một cách rõ rệt Hiến pháp năm 1992 tiếp tục khẳng định quyền giám sát tối cao của Quốc hội đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước Để thực hiện tốt chức năng này, hoạt động của các ĐBQH đóng vai trò rất quan trọng Trong đó, Điều 98 Hiến pháp 1992 đã quy định về hoạt động chất vấn của ĐBQH, theo đó, ĐBQH không chất vấn cơ quan nhà nước nói chung mà chất vấn những người đứng đầu các cơ quan nhà nước do Quốc hội bầu ra Trách nhiệm của người bị chất vấn cũng được nâng cao rõ rệt bởi nếu ĐBQH không đồng ý với nội dung trả lời thì có quyền đề nghị Chủ tịch

Quốc hội đưa ra thảo luận trước Quốc hội hoặc UBTVQH và “ĐBQH có quyền kiến

nghị với UBTVQH xem xét trình Quốc hội việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn” (theo Điều 49, Điều 50 Luật

Tổ chức Quốc hội năm 2001) Cùng với đó, vấn đề giám sát của ĐBQH đối với tình hình thực hiện pháp luật và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân đã được đặt ra tại Điều 52, Điều 53 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001

Trước yêu cầu bức thiết cần phải nâng cao chất lượng thực hiện chức năng giám sát tối cao của Quốc hội, của các cơ quan của Quốc hội, của ĐBQH và các Đoàn ĐBQH, năm 2003, Quốc hội đã ban hành Luật hoạt động giám sát của Quốc hội Luật một mặt hệ thống hóa và hoàn thiện các quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn giám sát của Quốc hội Đồng thời cùng xác định quyền và trách nhiệm của Quốc hội và các cơ quan, tổ chức và cá nhân chịu sự giám sát và các biện pháp bảo đảm cho hiệu quá của hoạt động giám sát Lần đầu tiên Luật đưa ra định nghĩa về hoạt động giám sát

Cùng với đó, thẩm quyền giám sát của ĐBQH được ghi nhận rất cụ thể: “ĐBQH chất

vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chỉnh phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC; trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát văn bản quy phạm pháp luật, giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương, giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân”

(điểm đ, khoản 1, Điều 3 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003)

Luật hoạt động giám sát năm 2003 đã dành một chương riêng quy định về hoạt động giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH Theo đó, nội dung các hoạt động giám sát

Trang 32

của ĐBQH được quy định tại Điều 37, hoạt động giám sát của Đoàn ĐBQH được quy định tại Điều 38 của Luật Có thế nói với những quy định này, vai trò giám sát của ĐBQH, Đoàn ĐBQH được chú trọng và đặt đúng tầm của nó, nội dung các hoạt động giám sát đã được phân định rạch ròi làm cơ sở cho ĐBQH, Đoàn ĐBQH thực hiện đúng quyền hạn và trách nhiệm của mình khi tham gia giám sát Cùng với đó, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003 cũng có các quy định cụ thể về các hoạt động giám sát của ĐBQH, Đoàn ĐBQH như hoạt động chất vấn được quy định tại Điều 40; việc giám sát văn bản pháp luật, giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương, giám sát đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo cũng được quy định cụ thể tại các Điều 41, Điều 42, Điều 43 Luật hoạt động giám sát năm 2003, đã tạo được hành lang pháp lý cho các đại biểu hoạt động Trong quá trình giám sát, ĐBQH có nhiều quyền hạn để thực hiện tốt hơn hoạt động của mình

Trên cơ sở hành lang pháp lý chặt chẽ này, quá trình thực hiện hoạt động giám sát của Quốc hội nói chung, của ĐBQH, Đoàn ĐBQH nói riêng đã đạt được nhiều kết quả quan trọng Tuy nhiên, bên cạnh đó, thực tiễn thi hành quy định về hoạt động giám sát của Quốc hội nói chung, của ĐBQH, Đoàn ĐBQH nói riêng cũng bộc lộ những mặt hạn chế, bất cập như: Một số quy định về nội dung, đối tượng, hình thức giám sát của Quốc hội, HĐND còn trùng lặp, chưa rõ ràng, cụ thể về trình tự, thủ tục thực hiện; phạm vi giám sát quá rộng với nhiều chủ thể, nhiều hình thức giám sát, nhưng lại chưa phân định rõ về thẩm quyền, trách nhiệm của mỗi chủ thể với từng đối tượng chịu sự giám sát cũng như sự phối hợp giữa các chủ thể giám sát dẫn tới sự chồng chéo trong thực hiện… Những bất cập này dẫn đến hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, HĐND vẫn còn hạn chế Vì vậy, để kịp thời thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, thể chế hóa các quy định liên quan đến hoạt động giám sát trong Hiến pháp, các văn bản luật mới và khắc phục những tồn tại, vướng mắc trong quá trình thực hiện nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong hoạt động giám sát của các cơ quan dân cử, ngày 20/11/2015 kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016

Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015 được bố cục thành 5 chương, 94 điều Ngoài các quy định chung tại Chương I (Điều 1- Điều 10) quy định

về phạm vi điều chỉnh, nguyên tắc hoạt động giám sát, thẩm quyền giám sát, trách nhiệm của chủ thể giám sát, quyền và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu

sự giám sát, việc tham gia giám sát của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và hiệu

quả của giám sát Hoạt động Giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH được quy định tại

Mục 4 Chương II: Giám sát của Quốc hội, từ Điều 47 đến Điều 56 như sau: Điều 47- Các hoạt động giám sát của ĐBQH; Điều 48- Các hoạt động giám sát của Đoàn

Trang 33

ĐBQH; Điều 49- Chương trình giám sát của ĐBQH, Đoàn ĐBQH; Điều 50- Chất vấn của ĐBQH; Điều 51- ĐBQH giám sát văn bản quy phạm pháp luật; Điều 52- Đoàn ĐBQH giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương; Điều 53- ĐBQH giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương; Điều 54- Giám sát của ĐBQH đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân; Điều 55- Quyền yêu cầu cung cấp thông tin; Điều 56- Thẩm quyền của ĐBQH, Đoàn ĐBQH trong việc xem xét kết quả giám sát Các quy định về hoạt động giám sát của ĐBQH, Đoàn ĐBQH trong Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015 có nhiều điểm tiến bộ hơn so với Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003 và là cơ sở để pháp luật Lào học tập, tham khảo trong quá trình sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện Luật về Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND cấp tỉnh (sửa đổi) năm 2016 của Lào

2.2 Điểm tương đồng và khác biệt trong quy định pháp luật Lào và Việt Nam về hoạt động giám sát của Đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội

2.2.1 Về mục đích giám sát của Đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội

Mục đích chung của hoạt động giám sát là theo dõi về tính hiệu quả, độ trung thực và tính minh bạch trong các hoạt động, quyết định trong đời sống xã hội Ở góc

độ giám sát quyền lực nhà nước, Quốc hội tiến hành hoạt động giám sát được pháp luật quy định để không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ của Quốc hội trong việc bảo đảm Hiến pháp, pháp luật, các quyết định quan trọng của Nhà nước được các cơ quan nhà nước thi hành một cách đúng đắn, hiệu quả và đây cũng chính là mục đích của việc giám sát của Quốc hội ở các quốc gia trên thế giới Từ mục đích của hoạt động giám sát của Quốc hội thì mục đích của hoạt động giám sát ĐBQH, Đoàn ĐBQH nói riêng, của Quốc hội Lào và Quốc hội Việt Nam nói chung đó là nhằm bảo đảm cho những quy định của Hiến pháp và pháp luật được thi hành triệt để, nghiêm chỉnh và thống nhất Việc Quốc hội Lào và Quốc hội Việt Nam giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, các cá nhân có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước là nhằm bảo đảm cho các cơ quan này thực hiện đúng thẩm quyền, trách nhiệm theo luật định, hạn chế

sự lạm quyền, tệ nạn quan liêu, tham nhũng14

Chính vì vậy mà Điều 3 Luật về Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND cấp

tỉnh (sửa đổi) năm 2016 của nước CHDCND Lào đã quy định: “Việc giám sát của

Quốc hội là cần thiết và quan trọng để tạo điều kiện để người dân tham gia giám sát, quản lý nhà nước và quản lý kinh tế, xã hội, bảo đảm Hiến pháp, pháp luật có hiệu quả và để ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật và các quy định, giải quyết các hiện tượng tiêu cực trong xã hội như quan liêu, tham nhũng, lạm dụng vị trí, quyền lực

và đề cao trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong thực hiện các nhiệm vụ” Giám sát

14 Trần Tuyết Mai (2016), “Một số vấn đề về hoạt động giám sát của Quốc hội”, Bản tin Thông tin Khoa học lập

pháp, số 01, tr 24

Trang 34

của ĐBQH, Đoàn ĐBQH Lào cũng bao gồm các mục đích như trên nhưng được ĐBQH, Đoàn ĐBQH Lào thực hiện thông qua các hoạt động: chất vấn; giám sát văn bản pháp luật và việc thi hành pháp luật tại địa phương; giám sát việc giải quyết tố cáo, khiếu nại, yêu cầu của nhân dân

Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015 của Việt Nam mặc

dù không có quy định riêng về mục đích của hoạt động giám sát do ĐBQH, Đoàn ĐBQH Việt Nam thực hiện nhưng từ nội hàm Giám sát tại Khoản 1 Điều 2, Giám sát của Quốc hội tại Khoản 5 Điều 2 và khái niệm về giám sát tối cao tại khoản 3 Điều 2 Luật này thì mục đích của hoạt động giám sát do ĐBQH, Đoàn ĐBQH Việt Nam thực hiện là nhằm mục đích phòng ngừa vi phạm pháp luật trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát của Quốc hội Việt Nam mà còn nhằm mục đích đưa ra các biện pháp, cách thức ngăn chặn và trực tiếp xử lý hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát của Quốc hội Việt Nam

2.2.2 Về đối tượng chịu sự giám sát của Đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội

2.2.2.1 Đối tượng chịu sự giám sát của Đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội

Ở nước CHDCND Lào, Hiến pháp (sửa đổi) năm 2015 của Lào quy định Quốc hội thực hiện chức năng giám sát tối cao đối với các cơ quan nhà nước và theo Điều 41 Luật về Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND cấp tỉnh (sửa đổi) năm 2016 về nội dung giám sát của ĐBQH, Điều 34 về nội dung giám sát của Đoàn ĐBQH Đối tượng chịu sự giám sát của ĐBQH Lào, Đoàn ĐBQH Lào bao gồm: ĐBQH có quyền chất vấn ngay tại các phiên họp với Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC, đây cũng

là những cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội Trong khi

đó, Đoàn ĐBQH có quyền giám sát đối với Chính quyền cấp tỉnh; người đứng đầu các

cơ quan chuyên môn cấp tỉnh; Trưởng huyện, Trưởng bản, Chánh án TAND cấp tỉnh, Chánh án TAND khu vực (tương đương với TAND cấp huyện của Việt Nam)15; Viện trưởng VKSND cấp tỉnh, Viện trưởng VKSND khu vực (tương đương với VKSND cấp huyện của Việt Nam)16

Ở nước CHXHCN Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam cũng quy định Quốc hội thực hiện chức năng giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước Cùng với đó, thẩm quyền giám sát của ĐBQH, Đoàn ĐBQH được ghi nhận cụ thể tại điểm

15 Theo quy định của Điều 29 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi) năm 2017 của Lào thì tùy vào tình hình

thực tế của tỉnh, thành phổ mà có thể gộp nhiều huyện vào với nhau để thành lập TAND khu vực

16 Theo quy định của Điều 25 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi) năm 2017 của Lào thì tùy vào tình hình thực tế của tỉnh, thành phố mà có thể gộp nhiều nhiều huyện vào với nhau để thành lập VKSND khu vực

Trang 35

d, đ khoản 1 Điều 4 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015, bao gồm: (i) Đoàn ĐBQH tổ chức hoạt động giám sát của Đoàn và tổ chức để ĐBQH trong Đoàn thực hiện nhiệm vụ giám sát tại địa phương; tham gia giám sát với Đoàn giám sát của Quốc hội, UBTVQH, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội tại địa phương; (ii) ĐBQH chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, thành viên khác của Chính phủ, Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC, Tổng Kiểm toán nhà nước; trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát văn bản quy phạm pháp luật, việc thi hành pháp luật; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân; tham gia Đoàn giám sát của Quốc hội, UBTVQH, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội tại các bộ, ngành, địa phương khi có yêu cầu Ngoài ra, Điều 52 và Điều 53 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm

2015 còn quy định về thẩm quyền giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương Điều

đó có nghĩa là, bên cạnh việc giám sát các tổ chức, cá nhân giữ các chức vụ cấp cao tại Trung ương, ĐBQH, Đoàn ĐBQH còn giám sát việc chấp hành pháp luật của các tổ chức, cá nhân ở địa phương

Như vậy, trong sự so sánh về đối tượng chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội theo pháp luật hiện hành của Lào và Việt Nam, có thể thấy rằng, đối tượng chịu sự giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH Lào và Quốc hội Việt Nam đều có một điểm chung là cơ quan nhà nước (về chủ thể), một số hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong cơ quan nhà nước (đối tượng) Hơn nữa, chủ thể chịu sự giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH không chỉ là các tổ chức, cá nhân giữ các chức vụ cấp cao tại Trung ương, mà còn bao gồm các chủ thể thực thi quyền lực Nhà nước tại địa phương Tuy nhiên đối tượng chịu sự giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH Lào và Quốc hội Việt Nam có sự khác biệt nhất định, cụ thể là ở việc phạm vi chủ thể chịu sự giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH là các tổ chức, cá nhân giữ các chức vụ cấp cao tại Trung ương theo pháp luật Việt Nam rộng hơn so với pháp luật Lào: Nếu như chủ thể

là các tổ chức, cá nhân giữ các chức vụ cấp cao tại Trung ương chịu sự giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH Lào bao gồm: Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, thành viên khác của Chính phủ, Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC, thì chủ thể là các tổ chức, cá nhân giữ các chức vụ cấp cao tại Trung ương chịu sự giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH Việt Nam không chỉ bao gồm các chủ thể đó, mà còn thêm cả Tổng Kiểm toán nhà nước17 Việc bổ sung chủ thể này, phù hợp với việc ghi nhận địa vị pháp lý của Kiểm toán Nhà nước tại Điều

118 Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam Theo đó, Kiểm toán nhà nước là cơ quan do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, thực hiện kiểm toán

17 Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật - Bộ Tư pháp, Vụ Thông tin - Văn phòng Quốc hội (2016), Đề cương giới

thiệu Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND, tr.14

Trang 36

việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công Tổng Kiểm toán nhà nước là người đứng đầu Kiểm toán nhà nước, do Quốc hội bầu Nhiệm kỳ của Tổng Kiểm toán nhà nước

do luật định Tổng Kiểm toán nhà nước chịu trách nhiệm và báo cáo kết quả kiểm toán, báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp, chịu trách nhiệm và báo cáo trước UBTVQH

2.2.2.2 Quyền, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát của Đại biểu Quốc hội và Đoàn Đại biểu Quốc hội

Việc quy định quyền, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát

là một vấn đề cần thiết nhằm bảo đảm hiệu quả giám sát tối cao của Quốc hội, tránh làm ảnh hưởng đến hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát và quan trọng nhất là bảo đảm tính dân chủ trong hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội, tránh việc Quốc hội lạm quyền khi thực hiện chức năng giám sát tối cao

- Ở nước CHDCND Lào, Hiến pháp (sửa đổi) năm 2015 và Luật về Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND cấp tỉnh (sửa đổi) năm 2016 chưa có quy định cụ thể

về trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát của ĐBQH

và Đoàn ĐBQH, mà dựa vào các hoạt động giám sát cụ thể của ĐBQH và Đoàn ĐBQH được quy định tại Chương 4, Chương 5 Phần 2 về giám sát tối cao của ĐBQH

và Đoàn ĐBQH Theo đó, cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH Lào có trách nhiệm và quyền sau:

+ Về trách nhiệm: (i) Trách nhiệm thực hiện kế hoạch, nội dung, yêu cầu giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH; cung cấp thông tin liên quan đến nhiệm vụ của mình (ii) Cá nhân người đứng đầu cơ quan, tổ chức chịu sự giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH là người trực tiếp hoặc ủy quyền bằng văn bản cho cấp phó của mình báo cáo, giải trình những vấn đề mà ĐBQH và Đoàn ĐBQH yêu cầu (iii) Cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH nếu có hành vi cản trở hoặc không thực hiện các nhiệm vụ nói trên sẽ phải chịu trách nhiệm xử lý của Đoàn ĐBQH hoặc của UBTVQH

+ Về quyền hạn: (i) Được thông báo trước kế hoạch, nội dung giám sát (ii) Được quyền giải trình nhằm bảo vệ tính hợp hiến, hợp pháp trong hoạt động của mình (iii) Được quyền yêu cầu Đoàn ĐBQH xem xét lại kết luận, yêu cầu, kiến nghị giám sát của Quốc hội đối với cơ quan, tổ chức của mình

Việc không có điều luật riêng quy định về nhiệm vụ, quyền của cơ quan, tổ chức,

cá nhân chịu sự giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH trong Luật về Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND cấp tỉnh (sửa đổi) năm 2016 đã gây ra rất nhiều khó khăn cho việc thực hiện hoạt động giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH bảo đảm hiệu lực, hiệu quả

Trang 37

- Ở nước CHXHCN Việt Nam, tại Điều 7 và Điều 8 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015 quy định về trách nhiệm, quyền của cơ quan, tổ chức,

cá nhân chịu sự giám sát, đồng thời Điều 55 Luật này cũng quy định về quyền yêu cầu cung cấp thông tin của ĐBQH, trong đó các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH có trách nhiệm, quyền hạn sau:

+ Về trách nhiệm: (i) Cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH phải thực hiện đầy đủ kế hoạch, nội dung, yêu cầu giám sát tối cao của ĐBQH và Đoàn ĐBQH; cung cấp thông tin liên quan đến nhiệm vụ của mình chậm nhất là 05 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, trừ thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước mà theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước thì ĐBQH và Đoàn ĐBQH không thuộc diện được tiếp cận; báo cáo trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời theo yêu cầu của Quốc hội; nghiêm chỉnh chấp hành nghị quyết giám sát của Đoàn ĐBQH (ii) Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC, Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ có trách nhiệm gửi văn bản quy phạm pháp luật mà mình đã ban hành đến UBTVQH, đồng thời gửi đến Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội có liên quan chậm nhất là

03 ngày kể từ ngày ký văn bản (iii) Cá nhân, người đứng đầu cơ quan, tổ chức chịu sự giám sát có trách nhiệm trực tiếp báo cáo, trình bày những vấn đề mà của ĐBQH và Đoàn ĐBQH yêu cầu; trường hợp không thể trực tiếp báo cáo, trình bày được thì ủy quyền cho cấp phó của mình (iv) Cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát có hành

vi cản trở hoặc không thực hiện nghị quyết, kết luận, yêu cầu, kiến nghị của ĐBQH và Đoàn ĐBQH thì ĐBQH và Đoàn ĐBQH yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân đó Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, ĐBQH và Đoàn ĐBQH yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật đối với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH và người có liên quan + Về quyền hạn: (i) Được thông báo trước về kế hoạch, nội dung giám sát, nội dung được yêu cầu báo cáo, trả lời về vấn đề liên quan đến hoạt động giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH (ii) Giải trình, bảo vệ tính đúng đắn trong việc thực hiện chính sách, pháp luật thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình liên quan đến nghị quyết, kết luận, yêu cầu, kiến nghị của ĐBQH và Đoàn ĐBQH (iii) Đề nghị ĐBQH và Đoàn ĐBQH xem xét lại kết luận, yêu cầu, kiến nghị giám sát liên quan đến hoạt động của

cơ quan, tổ chức, đơn vị mình; trường hợp không tán thành với kết luận, yêu cầu, kiến nghị giám sát thì tự mình hoặc báo cáo với người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền để đề nghị Quốc hội xem xét kết luận, yêu cầu, kiến nghị đó

Trang 38

Như vậy, trong sự so sánh về trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát ĐBQH và Đoàn ĐBQH theo pháp luật hiện hành của Lào và Việt Nam, có thể rút ra một số vấn đề sau:

Thứ nhất, trên bình diện chung thì pháp luật hiện hành của hai nước đều có

những quy định về trách nhiệm, quyền của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội ở mức độ chi tiết, cụ thể khác nhau

Thứ hai, có một vài điểm khác nhau trong quy định pháp luật của hai nước về

trách nhiệm, quyền của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH như sau:

- Nếu như Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015 của Việt Nam có hai điều quy định về trách nhiệm (Điều 7) và quyền của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát (Điều 8), cùng với Điều 55 về quyền yêu cầu cung cấp thông tin trong đó có trách nhiệm, quyền của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH Trong khi đó, Luật về Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND cấp tỉnh (sửa đổi) năm 2016 của Lào chưa có điều luật riêng quy định về trách nhiệm, quyền của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát nói chung và chịu sự giám sát ĐBQH và Đoàn ĐBQH nói riêng, mà chỉ được quy định trong các hoạt động giám sát ĐBQH và Đoàn ĐBQH trong Chương 4, Chương 5 Phần 2 của Luật này

- Về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH Pháp luật hiện hành của Lào chưa quy định về việc cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH có quyền từ chối cung cấp thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước cho ĐBQH và Đoàn ĐBQH; cũng như chưa quy định trách nhiệm báo cáo trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời theo yêu cầu của ĐBQH

và Đoàn ĐBQH và nghiêm chỉnh chấp hành nghị quyết giám sát của Đoàn ĐBQH Đặc biệt là, pháp luật Lào chưa quy định về việc cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH có trách nhiệm gửi văn bản quy phạm pháp luật

mà mình đã ban hành đến UBTVQH, trong khi một trong những nội dung giám sát quan trọng của Quốc hội Lào là được pháp luật quy định là giám sát pháp luật tại Điều

13 Luật về Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND cấp tỉnh (sửa đổi) năm 2016 Trong khi đó đây là trách nhiệm đầu tiên và quan trọng nhất của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH theo pháp luật Việt Nam hiện hành

- Về quyền của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH Pháp luật Việt Nam quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH có quyền được thông báo trước về yêu cầu báo cáo, trả lời về vấn đề liên quan đến hoạt động giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH Trong khi đó, đây là quyền của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát của Quốc hội chưa được

Trang 39

pháp luật hiện hành của Lào quy định Điều này đã hạn chế việc chuẩn bị các nội dung

để báo cáo, trả lời trước Quốc hội của các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát của Quốc hội Lào, làm giảm hiệu lực, hiệu quả của hoạt động giám sát của Quốc hội

2.2.3 Về nguyên tắc tiến hành giám sát của Đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội

Là một hình thức cụ thể để thực hiện quyền lực nhà nước của Quốc hội nên

giám sát của Quốc hội nói chung, giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH phải tuân theo những nguyên tắc hiến định, pháp định Những nguyên tắc này sẽ bảo đảm hiệu quả giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH; tránh lạm quyền của Quốc hội; xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp hoặc cản trở hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu

sự giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH

Ở nước CHDCND Lào, hoạt động giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH, cũng như hoạt động giám sát của các cơ quan, cá nhân của Quốc hội Lào đều phải tuân theo các nguyên tắc cơ bản như: (i) Tiến hành hoạt động giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH một cách công khai; (ii) Tiến hành hoạt động giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH một cách khách quan; (iii) Tiến hành hoạt động giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH phù hợp với tình hình thực tế; (iv) Tiến hành hoạt động giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH theo đúng thẩm quyền và thủ tục được pháp luật hiện hành quy định (đoạn 1 Điều 6 Luật về Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND cấp tỉnh (sửa đổi) năm 2016)

Ở nước CHXHCN Việt Nam, hoạt động giám sát ĐBQH và Đoàn ĐBQH Việt Nam, cũng như hoạt động giám sát của các cơ quan, cá nhân của Quốc hội Việt Nam phải tuân theo các nguyên tắc sau đây: (i) Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; (ii) Bảo đảm khách quan, công khai, minh bạch, hiệu quả; (iii) Không làm cản trở đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát (Điều 3 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015)

Như vậy, pháp luật hiện hành của Lào và Việt Nam đều ghi nhận hoạt động giám sát của cơ quan, cá nhân của Quốc hội và hoạt động giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH phải tuân thủ quy định của Hiến pháp, pháp luật (đúng thẩm quyền, thủ tục được pháp luật hiện hành quy định); phải công khai, khách quan, minh bạch Tuy nhiên, khác với Quốc hội Việt Nam, Quốc hội Lào tiến hành hoạt động giám sát phải phù hợp với tình hình thực tế Tình hình thực tế ở đây được hiểu là những điều kiện thực tế, những diễn biến của tình hình thực tế của đất nước tại một thời điểm nhất định

mà hoạt động giám sát ĐBQH và Đoàn ĐBQH phải tiến hành phù hợp Ngược lại, khi tiến hành hoạt động giám sát, ĐBQH và Đoàn ĐBQH Việt Nam không được làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát Tức là hoạt

Trang 40

động giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH Việt Nam không làm gián đoạn hoạt động, không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát Đây là nguyên tắc phải tuân thủ khi thực hiện hoạt động giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH mà phải luật hiện hành của Lào không quy định

2.2.4 Về chương trình giám sát của Đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội

- Điều 35 và Điều 42 Luật về Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND cấp

tỉnh (sửa đổi) năm 2016 của nước CHDCND Lào quy định về xây dựng kế hoạch giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH như sau:

+ Đoàn ĐBQH xây dựng kế hoạch giám sát của riêng mình theo định kỳ 6 tháng

và hàng năm dựa trên kế hoạch giám sát của kỳ họp Quốc hội, UBTVQH, các Uỷ ban của Quốc hội và tình hình thực tế trong địa phương theo đề nghị của Mặt trận Lào xây dựng Tổ quốc, đoàn thể, tổ chức xã hội ở cấp địa phương và theo ý kiến, kiến nghị của

cử tri tại địa phương Đồng thời, phải báo cáo về kế hoạch của mình cho UBTVQH và thông báo cho chính quyền cấp tỉnh

+ ĐBQH lập chương trình giám sát hằng năm của mình dựa trên kế hoạch giám sát của kỳ họp Quốc hội, UBTVQH, các Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn ĐBQH và gửi đến Đoàn ĐBQH

- Điều 49 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015 của Việt

Nam quy định về chương trình giám sát của của ĐBQH, Đoàn ĐBQH như sau:

“ĐBQH lập chương trình giám sát hằng năm của mình và gửi đến Đoàn ĐBQH Đoàn ĐBQH căn cứ vào chương trình giám sát của từng ĐBQH, chương trình giám sát của Quốc hội, UBTVQH, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, tình hình thực tế của địa phương, đề nghị của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh và ý kiến, kiến nghị của cử tri tại địa phương lập chương trình giám sát hằng năm của Đoàn ĐBQH và báo cáo UBTVQH Đoàn ĐBQH tổ chức thực hiện các hoạt động giám sát của Đoàn ĐBQH và tổ chức để ĐBQH trong Đoàn ĐBQH thực hiện chương trình giám sát của mình

Hằng năm, Đoàn ĐBQH có trách nhiệm báo cáo UBTVQH về việc thực hiện chương trình giám sát của Đoàn ĐBQH và của các ĐBQH trong Đoàn”

* Điểm tương đồng: (i) Pháp luật cả hai nước đều quy định về hai chủ thể lập

chương trình giám sát hằng năm là ĐBQH và Đoàn ĐBQH; (ii) Pháp luật cả hai nước đều quy định chương trình giám sát của Đoàn ĐBQH căn cứ vào chương trình giám sát của Quốc hội, UBTVQH, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, tình hình thực tế của địa phương, đề nghị của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh và ý kiến, kiến nghị

Ngày đăng: 04/08/2019, 15:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm