Giải quyết khiếu nại, tố cáo là một hoạt động bảo đảm pháp chế trong quản lý nhà nước, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức, bảo vệ lợi ích của nhà Nước, xã
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh, bên cạnh sự
nỗ lực, cố gắng của bản thân còn có sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô Em xin chân thành tỏ lòng biết ơn đến Thầy PGS TS Vũ Công Giao, người luôn hết lòng hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành luận văn này Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể các thầy cô trong Khoa Pháp luật Hành chính - Nhà nước và Khoa Đào tạo Sau đại học Trường Đại học Luật Hà Nội đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho em trong suốt quá trình học tập nghiên cứu cho đến khi thực hiện đề tài
luận văn
Học viên
Đào Thị Thanh Hương
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Nội dung trong luận văn này là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn trực tiếp của PGS TS Vũ Công Giao Các tài liệu tham khảo đã được trích dẫn và nêu rõ nguồn trong phần danh mục tài liệu tham khảo
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn này
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Đào Thị Thanh Hương
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN KHIỀU NẠI, QUYỀN TỐ CÁO 6
1.1 Khái niệm khiếu nại, tố cáo 6
1.1.1 Khái niệm khiếu nại 6
1.1.2 Khái niệm tố cáo 8
1.2 Khái niệm quyền khiếu nại, quyền tố cáo 10
1.2.1 Khái niệm quyền khiếu nại 10
1.2.2 Khái niệm quyền tố cáo 11
1.3 Chủ thể, nội dung và vai trò của quyền khiếu nại, quyền tố cáo 13
1.3.1 Chủ thể của quyền khiếu nại, quyền tố cáo 13
1.3.2 Nội dung của quyền khiếu nại, quyền tố cáo 17
1.3.3 Vai trò của quyền khiếu nại, quyền tố cáo 20
1.4 Những yếu tố tác động và cơ chế pháp lý bảo đảm quyền khiếu nại, quyền tố cáo 24
1.4.1 Những yếu tố tác động đến việc bảo đảm quyền khiếu nại, quyền
tố cáo 24
1.4.2 Cơ chế pháp lý bảo đảm quyền khiếu nại, quyền tố cáo 28
Kết luận chương 1 37
CHƯƠNG 2 HIẾN ĐỊNH VÀ KHUNG PHÁP LÝ HIỆN HÀNH BẢO ĐẢM THỰC HIỆN CÁC QUYỀN HIẾN ĐỊNH VỀ KHIẾU NẠI, TỐ CÁO Ở
VIỆT NAM 38
2.1 Hiến định các quyền khiếu nại, quyền tố cáo ở Việt Nam 38
2.1.1 Hiến pháp 1946 38
2.1.2 Hiến pháp 1959 39
2.1.3 Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 39
2.1.4 Hiến pháp 2013 42
Trang 62.2 Khung pháp lý hiện hành bảo đảm thực hiện quyền khiếu nại, quyền tố
cáo ở Việt Nam 43
2.2.1 Khái quát các văn bản pháp luật hiện hành về khiếu nại, tố cáo 43
2.2.2 Luật khiếu nại, Luật tố cáo với việc bảo đảm thực hiện quyền khiếu nại, quyền tố cáo 44
2.2.3 Pháp luật tố tụng trong việc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo 68
Kết luận chương 2 71
CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KHUNG PHÁP LÝ HIỆN HÀNH BẢO ĐẢM THỰC HIỆN CÁC QUYỀN HIẾN ĐỊNH VỀ KHIẾU NẠI, TỐ CÁO Ở VIỆT NAM 72
3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện khung pháp lý hiện hành bảo đảm thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo ở Việt Nam 72
3.2 Quan điểm hoàn thiện khung pháp lý hiện hành bảo đảm thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo ở Việt Nam 75
3.2.1 Pháp luật hiện hành bảo đảm thực hiện quyền khiếu nại, quyền tố cáo phải được hoàn thiện dựa trên cơ sở xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân 75
3.2.2 Pháp luật hiện hành bảo đảm thực hiện quyền khiếu nại, quyền tố cáo phải được hoàn thiện dựa trên cơ sở tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân 77
3.2.3 Pháp luật hiện hành bảo đảm thực hiện quyền khiếu nại, quyền tố cáo phải được hoàn thiện dựa trên cơ sở tổng kết thực tiễn thi hành pháp luật về khiếu nại, tố cáo 79
3.3 Giải pháp hoàn thiện khung pháp lý hiện hành bảo đảm thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo ở Việt Nam 80
3.3.1 Về chủ thể, đối tượng và phạm vi quyền khiếu nại, quyền tố cáo 80
3.3.2 Về giải quyết khiếu nại 81
3.3.3 Về hình thức tố cáo và vấn đề tố cáo nặc danh 82
Trang 73.3.4 Về giải quyết tố cáo 83
3.3.5 Về bảo vệ người tố cáo 84
3.3.6 Về chế tài xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực khiếu nại, tố cáo 86
3.3.7 Về các vấn đề trong pháp luật tố tụng về khiếu nại, tố cáo 86
Kết luận chương 3 87
KẾT LUẬN 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Khiếu nại, tố cáo là quyền con người, quyền cơ bản của công dân, có vị trí rất quan trọng trong hệ thống các quyền chính trị của con người, của công dân Quyền khiếu nại, quyền tố cáo là biểu hiện của quyền dân chủ trực tiếp; nói cách khác, khiếu nại, tố cáo là một trong những hình thức đặc biệt quan trọng để nhân dân trực tiếp tham gia vào hoạt động quản lý nhà nước và quản lý xã hội Một mặt, quyền khiếu nại, quyền tố cáo là quyền phản kháng, tự vệ của các chủ thể trước các hành vi vi phạm pháp luật xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ, của Nhà nước, xã hội hay của các chủ thể khác; mặt khác, việc công dân thực hiện quyền khiếu nại, quyền tố cáo chính là tham gia vào quá trình giám sát xã hội cũng như kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước Giải quyết khiếu nại, tố cáo là một hoạt động bảo đảm pháp chế trong quản lý nhà nước, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức, bảo vệ lợi ích của nhà Nước, xã hội, bảo vệ trật tự kỷ cương, trật tự pháp luật, xử lý những hành vi vi phạm pháp luật Vì vậy, hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo của các
cơ quan nhà nước trước hết phải tuân theo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa Thông qua hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo, cơ quan hành chính nhà nước cấp trên có thể kiểm tra, giám sát, đánh giá hoạt động của cấp dưới Để từ đó đưa
ra các giải pháp khắc phục những hạn chế, yếu kém và xử lý hành vi vi phạm pháp luật để xây dựng một nền hành chính vững mạnh, trong sạch, chuyên nghiệp, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả Mặc dù vậy, khi thực hiện các quyền này, các cá nhân, tổ chức luôn phải đối mặt với những thách thức về quyền, lợi ích bị ràng buộc bởi các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền Do đó, có thể thấy rằng quyền khiếu nại, quyền tố cáo chỉ có thể được bảo đảm thực sự trong những điều kiện chính trị - pháp lý, kinh tế - xã hội nhất định
Để bảo đảm quyền khiếu nại, quyền tố cáo đã được Hiến pháp ghi nhận, pháp luật về khiếu nại, tố cáo cần quán triệt và cụ thể hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, đảm bảo phù hợp với tiến trình cải cách hành chính nhà nước và cải cách công tác tư
Trang 9pháp hiện nay Các quy định cần tạo điều kiện thuận lợi cho công dân, cơ quan,
tổ chức thực hiện quyền khiếu nại, quyền tố cáo và đề cao trách nhiệm của các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo để góp phần nâng cao hiệu quả công tác này và hiệu lực công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực đời sống kinh tế, xã hội
Tầm quan trọng của quyền khiếu nại, tố cáo và những yêu cầu đối với pháp luật khiếu nại, tố cáo đã và đang đặt ra cho các nhà nghiên cứu và hoạt động thực tiễn nhu cầu bức thiết phải giải đáp những vấn đề lý luận và thực tiễn nhằm bảo đảm quyền khiếu nại, quyền tố cáo của các cá nhân, tố chức, phù hợp với những yêu cầu của tiến trình xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền
XHCN ở Việt Nam Do vậy, việc nghiên cứu đề tài “Quyền khiếu nại, tố cáo theo Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” là đòi hỏi có
tính khách quan, cấp thiết hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Những vấn đề liên quan đến khiếu nại, tố cáo luôn được nhiều nhà nghiên cứu về khoa học pháp lý và các nhà hoạt động thực tiễn quan tâm Trong thời gian trở lại đây, từ khi Luật khiếu nại và Luật tố cáo ra đời, trước quan điểm mới về quyền khiếu nại, quyền tố cáo của Hiến pháp 2013, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, bài viết đề cập đến vấn đề này, trong đó phải kể tới:
Các công trình được xuất bản thành sách: “Cơ chế pháp lý bảo đảm
quyền khiếu nại hành chính của công dân” của Nguyễn Tuấn Khanh (2014);
“Hoàn thiện pháp luật về khiếu nại, tố cáo ở nước ta hiện nay” của Khoa Luật,
Đại học Quốc gia Hà Nội - Phạm Hồng Thái, Vũ Công Giao, Đặng Minh Tuấn,
Nguyễn Minh Tuấn (Đồng chủ biên) (2017); “Bảo vệ người tố cáo trong pháp
luật Việt Nam” của Nguyễn Quốc Văn, Vũ Công Giao (2017);
Các công trình là luận án, luận văn: “Phân định thẩm quyền giải quyết
khiếu nại hành chính và thẩm quyền xét xử hành chính ở Việt Nam”, luận án tiến
sĩ luật học của Nguyễn Mạnh Hùng (2013), “Nguyên tắc công bằng trong thủ tục
giải quyết khiếu nại hành chính”, luận văn thạc sĩ luật học của Nguyễn Thị Bích
Ngọc (2012); “Pháp luật về giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai và thực
Trang 10tiễn thi hành tại tỉnh Sơn La” của Phạm Quốc Cảnh (2016); “Pháp luật về giải quyết khiếu nại hành chính - Thực trạng và giải pháp”, luận văn thạc sĩ luật học
của Phương Trung Kiên (2017);…
Các bài viết đăng trên tạp chí: “Bảo đảm quyền con người, quyền công
dân trong giải quyết khiếu nại, tố cáo” của Tạ Thị Tài đăng trên tạp chí Dân chủ
và Pháp luật, số chuyên đề: Bảo đảm quyền con người, quyền công dân bằng
thiết chế tư pháp, 2014; “Bàn về quyền khiếu nại theo tinh thần Hiến pháp 2013”
của Trần Minh Đức đăng trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 08/2015; “Hoàn
thiện pháp luật về thủ tục giải quyết khiếu nại hành chính” của Mai Văn Duẩn và
Lê Minh Tùng đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 13/2014; “Giải pháp
hoàn thiện cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo hiện nay” của Trần Văn Duy đăng
trên tạp chí Thanh tra, số 03/2017;… Ngoài ra, có thể kể đến một số bài viết tiêu biểu trong Kỷ yếu Hội thảo “Hoàn thiện pháp luật về khiếu nại, tố cáo phù hợp với Hiến pháp năm 2013” tổ chức ngày 19/7/2016 tại Khoa Luật, Đại học Quốc
gia Hà Nội: “Các quy định mới của Hiến pháp năm 2013 về khiếu nại, tố cáo và
những yêu cầu đặt ra trong việc hoàn thiện pháp luật về khiếu nại, tố cáo” của
GS.TS Nguyễn Đăng Dung; “Thẩm quyền, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo:
những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện pháp luật” của TS Trần Nho Thìn
Nhìn chung, các nghiên cứu trên đã đề cập khá đầy đủ các vấn đề về khiếu nại, tố cáo, trong đó chủ yếu bàn tới các quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo Tuy nhiên, từ khi Hiến pháp 2013 ra đời cho đến nay, chưa có công trình nào ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu tổng thể vấn đề lý luận về quyền khiếu nại, tố cáo và khung pháp lý bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo Do vậy, việc lựa chọn đề tài “Quyền khiếu nại, tố cáo theo Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” là cấp thiết, không trùng lặp với các công trình
nghiên cứu đã được công bố
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ cở nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản
về quyền khiếu nại, quyền tố cáo và các quy định của hệ thống pháp luật về
Trang 11quyền khiếu nại, quyền tố cáo, luận văn luận giải các quan điểm và đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật bảo đảm quyền khiếu nại, quyền tố cáo, góp phần thúc đẩy tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về quyền khiếu nại, quyền tố cáo, như: khái niệm, nội dung, vai trò của quyền; các yếu tố tác động và cơ chế pháp
lý bảo đảm quyền
- Tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của quyền khiếu nại, quyền
tố cáo qua các bản Hiến pháp Việt Nam
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật bảo đảm thực hiện quyền khiếu nại, quyền tố cáo
- Đưa ra quan điểm và đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm thực hiện quyền khiếu nại, quyền tố cáo
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận về quyền khiếu nại, quyền tố cáo và các quy định pháp luật bảo đảm thực hiện quyền khiếu nại, quyền tố cáo
Trong hầu hết các văn bản pháp luật chuyên ngành đều có các quy định về quyền khiếu nại, quyền tố cáo Do vậy, trong quá trình nghiên cứu, luận văn tập trung xem xét các quy định của Luật khiếu nại và Luật tố cáo cũng như một số quy định trong các văn bản pháp luật tố tụng hiện hành về chủ thể quyền khiếu nại, quyền tố cáo; về thẩm quyền, trách nhiệm và trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng các nguyên tắc, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; những quan điểm
cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam
về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo
Trang 125.2 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và các phương pháp hệ thống hóa, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu thông qua các văn bản pháp luật, các công trình, bài viết nghiên cứu khoa học và thông tin trên các trang web điện tử,…
Quyền con người nói chung và quyền khiếu nại, tố cáo nói riêng là một phạm trù đa diện, liên quan đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Do đó, tác giả còn nghiên cứu dựa trên cách tiếp cận đa ngành và liên ngành khoa học xã hội Cách tiếp cận này được sử dụng tại phần 1.4.1 Những yếu tố tác động đến việc bảo đảm quyền khiếu nại, quyền tố cáo trong chương 1 của luận văn
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa khoa học: Luận văn góp phần hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về quyền khiếu nại, quyền tố cáo, cụ thể: làm rõ các khái niệm khiếu nại, tố cáo, quyền khiếu nại, quyền tố cáo; nội dung và vai trò của quyền khiếu nại, quyền tố cáo; cơ chế pháp lý bảo đảm quyền khiếu nại, quyền tố cáo Luận văn
đã phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật bảo đảm thực hiện quyền khiếu nại, quyền tố cáo, chỉ ra những hạn chế, bất cập trong các quy định pháp luật, làm cơ
sở đề xuất các giải pháp cụ thể có tính khoa học và thực tiễn nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền khiếu nại, quyền tố cáo
Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy các chuyên đề pháp luật có liên quan đến quyền khiếu nại, tố cáo tại các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật
7 Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm ba chương:
Chương 1 Một số vấn đề lý luận về quyền khiếu nại, quyền tố cáo
Chương 2 Hiến định và khung pháp lý hiện hành bảo đảm thực hiện các
quyền hiến định về khiếu nại, tố cáo ở Việt Nam
Chương 3 Quan điểm, giải pháp hoàn thiện khung pháp lý hiện hành bảo
đảm thực hiện các quyền hiến định về khiếu nại, tố cáo ở Việt Nam
Trang 13CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN KHIỀU NẠI, QUYỀN TỐ CÁO
1.1 Khái niệm khiếu nại, tố cáo
1.1.1 Khái niệm khiếu nại
Khiếu nại theo tiếng La tinh - “complain”, có thể hiểu là than phiền, phàn nàn, kêu ca, kêu nài; oán trách Theo nghĩa này thì đối tượng, phạm vi của khiếu nại là rất rộng và khó xác định cụ thể về nội dung
Theo Đại từ điển tiếng Việt, khiếu nại có nghĩa là “thắc mắc, đề nghị xem
Quan niệm này về cơ bản là đúng, nhưng chưa đầy đủ vì người khiếu nại không chỉ thắc mắc, đề nghị xem xét lại đối với kết luận, quyết định mà còn đối với hành
vi của người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan, tổ chức; mặt khác người ta chỉ thắc mắc khi cho rằng kết luận, hay quyết định đó không đúng, không phù hợp, xâm phạm tới quyền và lợi ích của mình
Tiếp cận dưới góc độ pháp lý, khiếu nại được định nghĩa là “việc công
dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn
cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi
khiếu nại ở đây được hiểu chỉ là khiếu nại hành chính, theo cách hiểu này thì nghĩa của khiếu nại vô hình trung bị thu hẹp so với bản chất của nó - là một hiện tượng phát sinh trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, của quản lý nhà nước
Về mặt lý luận và thực tiễn, hiện nay tồn tại rất nhiều loại khiếu nại, do vậy để có cái nhìn toàn diện nhất về khiếu nại, có thể phân loại các khiếu nại theo những tiêu chí khác nhau như sau:
- Căn cứ vào chủ thể khiếu nại, có: khiếu nại cá nhân; khiếu nại của cơ
1 Bộ Giáo dục và Đào tạọ (1998), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, tr.904
2
Khoản 1 Điều 2 Luật khiếu nại năm 2011
Trang 14quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế,…
- Căn cứ vào chủ thể giải quyết khiếu nại, có: khiếu nại trong cơ quan nhà nước; khiếu nại trong các đơn vị sự nghiệp, DNNN; khiếu nại của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp,
- Căn cứ vào hình thức khiếu nại, có: khiếu nại bằng văn bản và khiếu nại bằng lời nói
- Căn cứ vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, có: khiếu nại trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, y tế, giáo dục,…
- Căn cứ vào đối tượng khiếu nại, có: khiếu nại hành chính (khiếu nại đối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính) và khiếu nại tư pháp (khiếu nại đối với quyết định tư pháp hành vi tư pháp) Trong đó, khiếu nại tư pháp được hiểu là
“việc công dân hay tổ chức đề nghị cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án, cơ
quan thi hành án xem xét, sửa chữa một việc làm hay thay đổi một quyết định trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án mà họ cho rằng việc làm hay quyết định đó là không đúng pháp luật, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt
Nếu như “khiếu nại hành chính” là hướng đến các quyết định hành chính, hành vi hành chính và quyết định kỉ luật đối với cán bộ, công chức, là những sự việc phát sinh trong trong hoạt động quản lý hành chính; theo đó, cơ quan hành chính nhà nước giải quyết khiếu nại theo thủ tục hành chính nhất định thì “khiếu nại tư pháp” hướng đến các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án ở các lĩnh vực hình sự, dân sự, lao động, kinh tế, hành chính; và theo quy định của pháp luật tố tụng (Bộ luật Tố tụng hình
sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính), giải quyết khiếu nại tư pháp được thực hiện theo thủ tục rõ ràng, chặt chẽ hơn
- Căn cứ vào tính chất pháp lý, có: khiếu nại có tính pháp lý và khiếu nại không có tính pháp lý
Khiếu nại có tính pháp lý là khiếu nại được pháp luật điều chỉnh, là sự
3 Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam (2002), Từ điển bách khoa Việt Nam 2,
Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội, tr.507
Trang 15kiện pháp lý làm phát sinh các quan hệ pháp luật về khiếu nại nên việc khiếu nại
và giải quyết khiếu nại được thực hiện theo một trình tự, thủ tục nhất định do
pháp luật quy định Còn khiếu nại không có tính pháp lý là khiếu nại không được
pháp luật điều chỉnh, việc thực hiện chúng không làm phát sinh các quan hệ pháp luật về khiếu nại, do đó việc giải quyết khiếu nại không căn cứ vào quy định pháp luật mà căn cứ vào các quy phạm xã hội khác (của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp,…)
Như vậy, khiếu nại là hiện tượng phát sinh trong mọi lĩnh vực của đời
sống và có thể hiểu khiếu nại là hành vi của cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu
cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại các quyết định, hành vi của
họ khi cho rằng quyết định, hành vi đó trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình Mục đích của khiếu nại là nhằm bảo vệ và
khôi phục lại quyền và lợi ích hợp pháp của người bị khiếu nại đã bị quyết định, hành vi của các chủ thể có thẩm quyền xâm hại Do đó, khiếu nại luôn được thể hiện dưới dạng hành vi chủ động, mang tính tích cực của công dân, cơ quan, tổ chức trong quá trình tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội
1.1.2 Khái niệm tố cáo
Tố cáo là khái niệm được sử dụng rộng rãi trong đời sống xã hội Về phương diện xã hội, tố cáo là sự phản ứng tự nhiên của con người trước các tác động của hoàn cảnh sống, thể hiện sự bất bình đối với các hành vi tiêu cực, trái
pháp luật trong cuộc sống Theo Đại từ điển tiếng Việt, tố cáo có nghĩa là “vạch
tố cáo ở đây được hiểu là hành vi thông báo cho cơ quan có thẩm quyền hoặc mọi người biết về hành động phạm pháp nào đó
Theo cách phổ biến nhất, khoa học pháp lý hiện nay phân chia tố cáo thành hai dạng, đó là tố cáo có tính pháp lý và tố cáo không có tính pháp lý5:
Tố cáo có tính pháp lý được hiểu là tố cáo những hành vi xâm phạm
quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, của nhà nước, của tập thể và cộng
4 Bộ Giáo dục và Đào tạọ (1998), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, tr.1663
5 Phạm Hồng Thái (Chủ biên) (2003), Pháp luật về khiếu nại, tố cáo, Nxb Tp Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí
Minh, tr.26
Trang 16đồng mà được pháp luật bảo vệ Việc tố cáo và giải quyết tố cáo dạng này được thực hiện theo quy định của pháp luật Ở góc độ này, tố cáo được định nghĩa là
“việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước,
Khác với khiếu nại, người tố cáo có thể bị ảnh hưởng hoặc không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi hành vi vi phạm pháp luật, nhưng khi phát hiện có dấu hiệu của vi phạm pháp luật xảy ra trong đời sống xã hội, người đó có thể thực hiện hành vi tố cáo đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo trình tự, thủ tục luật định
Mục đích của tố cáo không chỉ để bảo vệ quyền và lợi ích của người tố cáo mà còn để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, xã hội, tập thể và của cá nhân khác Mặt khác, tố cáo có thể ngăn chặn các mối nguy hại sẽ xảy ra, hoặc nhằm trừng phạt người có hành vi vi phạm để loại trừ các hành vi trái pháp luật xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, của tập thể, của cá nhân cũng như khắc phục hậu quả của những vi phạm đó
Tố cáo không có tính pháp lý được hiểu là tố cáo những hành vi vô đạo
đức; vi phạm quy tắc, điều lệ của tập thể, tổ chức, nhóm xã hội Việc tố cáo và giải quyết tố cáo dạng này được thực hiện theo điều lệ, quy tắc hay quy định của tập thể, tổ chức, đơn vị Hậu quả của việc tố cáo là người bị tố cáo có thể bị cộng đồng, tổ chức và tập thể lên án, xa lánh
Như vậy, tố cáo là một hiện tượng xảy ra trong đời sống xã hội thể hiện sự quan tâm của con người trước một hành vi, việc làm của người khác Nhìn một cách khái quát, tố cáo là hành vi hết sức đa dạng và phức tạp, có phạm vi rộng, hướng tới bất kỳ vi phạm nào
Hành vi bị tố cáo có thể là hành vi vi phạm pháp luật; vi phạm các quy tắc đạo đức hay vi phạm nội quy, quy chế của tập thể hoặc các hành vi khác không phải là vi phạm pháp luật như quản lý yếu kém, lãng phí ngân sách, lạm dụng
6
Khoản 1 Điều 2 Luật tố cáo 2011
Trang 17quyền lực và vi phạm quyền con người7
Một trong những đặc điểm quan trọng của tố cáo là người tố cáo tin rằng hoặc có cơ sở cho rằng hành vi bị tố cáo là sai phạm hoặc có biểu hiện sai phạm
Dù có hay không bằng chứng xác thực chứng minh cho sự tồn tại của những sai phạm đó, thì việc thực hiện hành vi tố cáo đều xuất phát từ tư tưởng đấu tranh vì công lý Tuy nhiên, nếu ai đó cố tình đưa ra những thông tin sai sự thật, nhằm hạ thấp danh dự, uy tín của cá nhân, tổ chức khác thì đó được coi là hành vi lợi dụng quyền tố cáo, và người đó phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vu khống
1.2 Khái niệm quyền khiếu nại, quyền tố cáo
1.2.1 Khái niệm quyền khiếu nại
Khiếu nại là một quyền cơ bản của công dân, chính thức là quyền hiến định từ Hiến pháp 19598, và đến Hiến pháp 2013, lần đầu tiên quyền khiếu nại được ghi nhận là quyền con người9
Có thể hiểu “quyền khiếu nại” là khả năng
của các cá nhân, cơ quan, tổ chức được Nhà nước bảo đảm thực hiện những hành vi nhất định theo quy định của pháp luật nhằm phản ứng lại những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền để bảo vệ các quyền, lợi ích của mình bị xâm phạm bởi những việc làm trái pháp luật đó
Chủ thể của quyền khiếu nại là các cá nhân, cơ quan, tổ chức bị xâm phạm
về quyền và lợi ích hợp pháp Đối tượng của quyền khiếu nại là những quyết định, hành vi trái pháp luật của cơ quan nhà nước, các tổ chức có thẩm quyền, của các cá nhân làm việc trong các cơ quan, tổ chức đó xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích của người khiếu nại Do vậy, quyền khiếu nại là quyền có tính
tự vệ, tự bảo vệ, gắn với đời sống chính trị xã hội Ngoài ra, quyền khiếu nại còn thể hiện tính tích cực chính trị của công dân, tùy thuộc vào nhiều nhân tố khách quan và chủ quan khác nhau, phản ánh trình độ văn minh pháp luật của xã hội10;
7 Nguyễn Quốc Văn - Vũ Công Giao (2017), Bảo vệ người tố cáo trong pháp luật Việt Nam, Nxb Hồng Đức,
Hà Nội, tr.21
8 Xem Điều 29 Hiến pháp 1959
9 Xem Khoản 1 Điều 30 Hiến pháp 2013
10 Phạm Hồng Thái (chủ biên) (2003), Pháp luật về khiếu nại, tố cáo, Nxb Tp Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí
Minh, tr.25
Trang 18phản ánh bản chất dân chủ trong mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân trong hoạt động quản lý nhà nước
Như vậy, quyền khiếu nại là một quyền chính trị cơ bản của con người, của công dân Với tư cách là quyền công dân, quyền khiếu nại luôn gắn liền với bản chất của Nhà nước và pháp luật, vì pháp luật là công cụ hữu hiệu nhất trong việc thực hiện quyền khiếu nại của công dân Với triết lý dùng quyền để bảo vệ quyền, khiếu nại được coi là một trong những phương thức bảo vệ quyền chủ thể Nói cách khác, khi công dân thực hiện quyền khiếu nại là công dân thực hiện “quyền bảo vệ quyền”, vì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, công dân có thể sử dụng nhiều biện pháp khác nhau, nhưng khi công dân thực hiện quyền khiếu nại nghĩa là công dân đã yêu cầu Nhà nước bảo vệ quyền chủ thể của cá nhân mình hoặc của người do mình bảo hộ trước sự xâm hại từ các quyết định, hành vi của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền Cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền có thể là cơ quan nhà nước, cơ quan của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội,… và người có thẩm quyền có thể là cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan, tổ chức đó
1.2.2 Khái niệm quyền tố cáo
Tố cáo cũng là một trong những quyền cơ bản của con người, của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp 2013 Dưới góc độ quyền con người, giống như quyền khiếu nại, quyền tố cáo được hiểu là biểu hiện của quyền tự do ngôn
luận Khi đó, có thể hiểu “quyền tố cáo” là khả năng của cá nhân, cơ quan, tổ
chức thực hiện các hành vi phát hiện và thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về mọi việc làm, hành vi vi phạm pháp luật
Về chủ thể của quyền tố cáo, bất kỳ ai biết được hành vi vi phạm pháp luật đều có quyền báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về hành vi vi phạm đó Người tố cáo ở đây có thể là cá nhân riêng lẻ hoặc nhóm người có cùng lợi ích bị xâm phạm bởi hành vi vi phạm pháp luật Tuy nhiên, thực tế cho thấy trong trường hợp một nhóm người tố cáo, có thể chỉ có một người biết về hành vi sai phạm, những người còn lại không biết nhưng bị lôi kéo tham gia nhằm tăng áp lực cho cơ quan công quyền hay dư luận.Trong một số trường hợp,
Trang 19người tố cáo có nét tương đồng với người làm chứng trong tố tụng hình sự, đó là việc cả người tố cáo và người làm chứng đều biết những thông tin liên quan trực tiếp đến vi phạm pháp luật và có nghĩa vụ khai trung thực những tình tiết mà mình biết11
Về đối tượng của quyền tố cáo, bao hàm một phạm vi rất rộng, bất kỳ một
vi phạm pháp luật nào (hình sự, hành chính, kỷ luật,…), hay bất kỳ một sai phạm nào trong tất cả các lĩnh vực của đời sống đều có thể bị tố cáo
Pháp luật Việt Nam ghi nhận tố cáo là một trong các quyền cơ bản của công dân, ngoài ra trong một số trường hợp tố cáo là nghĩa vụ của công dân Ở khía cạnh này, quyền tố cáo của công dân đôi khi gắn liền với nghĩa vụ phải tố giác tội phạm của họ Theo quy định của Luật tố cáo, công dân có thể thực hiện quyền tố cáo của mình khi phát hiện thấy hành vi vi phạm pháp luật mà theo quan điểm chủ quan của họ là sẽ gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại lợi ích và quyền của các chủ thể khác Tuy nhiên, nếu họ không thực hiện quyền tố cáo của mình mà hành vi vi phạm pháp luật đó gây hậu quả nghiêm trọng đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự khi bị phát giác, rất có thể công dân không thực hiện quyền tố cáo của mình sẽ bị truy cứu về tội không tố giác tội phạm theo quy định của Bộ luật hình sự12
Đây là điểm đáng lưu ý khi công dân không thực hiện quyền tố cáo, đây cũng là điểm khác biệt lớn của quyền khiếu nại so với với quyền khiếu nại
Như vậy, tố cáo không chỉ là quyền, mà còn là nghĩa vụ của công dân đối với nhà nước và cộng đồng xã hội Thông qua tố cáo, nhà nước có được một nguồn thông tin rất quan trọng về vi phạm pháp luật, từ đó đưa ra các biện pháp
xử lý nhằm lập lại trật tự pháp luật, đảm bảo trật tự an ninh, an toàn xã hội Quyền
tố cáo giống như quyền khiếu nại thể hiện rõ nét tính tích cực chính trị của công dân Bên cạnh đó, quyền tố cáo là biểu hiện của ý thức, trách nhiệm của mỗi cá nhân trong đấu tranh, phòng chống và loại trừ vi phạm pháp luật Cùng với khiếu
11 Khoản 1 Điều 66 BLTTHS 2015 quy định: “Người làm chứng là người biết được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án ….” và khoản 1 Điều 304 Bộ luật này quy định: “… chủ tọa phiên tòa yêu cầu người làm chứng phải cam đoan khai trung thực”
12
Xem Điều 19 và Điều 390 Bộ luật hình sự 2015
Trang 20nại, tố cáo phản ánh hiệu lực, hiệu quả của pháp luật, sự vững chắc của pháp chế
và trình độ văn minh pháp luật của chế độ chính trị - xã hội13
1.3 Chủ thể, nội dung và vai trò của quyền khiếu nại, quyền tố cáo
1.3.1 Chủ thể của quyền khiếu nại, quyền tố cáo
Chủ thể quyền khiếu nại, quyền tố cáo là yếu tố xác định địa vị pháp lý giữa công dân, cá nhân, cơ quan, tổ chức với cơ quan nhà nước hoặc với cá nhân, cơ quan, tổ chức khác trong quan hệ pháp luật khiếu nại, tố cáo Qua các bản Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992, quyền khiếu nại, quyền
tố cáo đều được ghi nhận là quyền cơ bản của công dân14 Tuy nhiên, quy định
về khiếu nại, tố cáo trong Hiến pháp 2013 có sự thay đổi rõ nét về chủ thể thực hiện quyền, đó là quyền khiếu nại, quyền tố cáo không chỉ của công dân mà là của “mọi người”15 Hiểu theo quy định này, “mọi người” ở đây có thể là cá nhân (bao gồm công dân Việt Nam, người nước ngoài và người không quốc tịch16) hoặc tổ chức Điểm mới này đã thể hiện sự tôn trọng, mở rộng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế hiện nay
* Về chủ thể của quyền khiếu nại
Luật khiếu nại 2011 quy định chủ thể có quyền khiếu nại, gồm: công dân,
cơ quan, tổ chức
Với chủ thể là cá nhân công dân: Như đã đề cập, quyền khiếu nại là
quyền cơ bản của công dân Theo quy định tại Điều 2 Luật quốc tịch 2008 thì ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mỗi cá nhân đều có quốc tịch trừ khi
bị tước quốc tịch theo quy định của Luật này Như vậy, mọi công dân đều có quyền thực hiện quyền khiếu nại, ngay cả đối với những người bị hạn chế một số quyền công dân (bị hạn chế quyền bầu cử, quyền đi lại,…) trừ những trường hợp người đó bị tước quốc tịch
13 Phạm Hồng Thái-Vũ Công Giao-Đặng Minh Tuấn-Nguyễn Minh Tuấn (Đồng chủ biên) (2017), Hoàn thiện pháp luật về khiếu nại, tố cáo ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia - sự thật, Hà Nội, tr.18
14
Xem Điều 74 Hiến pháp 1992, Điều 73 Hiến pháp 1980, Điều 29 Hiến pháp 1959
15 Khoản 1 Điều 30 Hiến pháp 2013 quy định: “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân”
16 Theo khoản 2 Điều 3 Luật quốc tịch 2008, người không quốc tịch là người không có quốc tịch Việt Nam
và cũng không có quốc tịch nước ngoài
Trang 21Với chủ thể là cơ quan, tổ chức Việt Nam: Theo quy định tại khoản 4 Điều
2 Luật khiếu nại 2011, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại bao gồm: cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân Ở đây, cần lưu ý rằng việc thực hiện quyền khiếu nại của cơ quan, tổ chức không đồng nghĩa với việc tụ tập đông người đi khiếu nại, mọi hình thức tụ tập đông người khiếu nại không phải là khiếu nại của cơ quan, tổ chức và không được pháp luật thừa nhận
Đối chiếu với quy định của Hiến pháp 2013 về chủ thể có quyền khiếu nại, có thể thấy quy định của Luật khiếu nại 2011 chưa phù hợp với tinh thần của Hiến pháp Trong thực tế cuộc sống, có rất nhiều chủ thể đặt trong các mối quan
hệ khác nhau cần được ghi nhận quyền khiếu nại và phải được bảo đảm thực hiện tương xứng với quyền hiến định của họ Chẳng hạn như, các cá nhân, tổ chức nước ngoài sinh sống và làm việc tại Việt Nam; các cơ quan, tổ chức như: đơn vị sự nghiệp; cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát, các cơ quan nhà nước khác,… Tuy nhiên, Luật khiếu nại 2011 đã đưa các đối tượng nêu trên vào quy định tại Điều 3 về áp dụng về pháp luật khiếu nại và giải quyết khiếu nại như sau:
“1 Khiếu nại của cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam và việc giải quyết khiếu nại được áp dụng theo quy định của Luật này, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác
2 Khiếu nại và giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành
vi hành chính trong ĐVSNCL, DNNN được áp dụng theo quy định của Luật này
Chính phủ quy định chi tiết khoản này
3 Căn cứ vào Luật này, cơ quan có thẩm quyền của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp hướng dẫn việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại trong cơ quan, tổ chức mình
4 Căn cứ vào Luật này, TAND tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước và các cơ quan khác của Nhà nước quy định việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại trong
cơ quan mình…”
Trang 22Có ý kiến cho rằng việc quy định khiếu nại và giải quyết khiếu nại của cơ quan, cá nhân, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam và trong ĐVSNCL, DNNN như trên là không hợp lý, bởi áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật đặc thù Đây là quyền và trách nhiệm của Nhà nước, trong đó Nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể có quyền thực hiện quy định của pháp luật Như vậy, dưới góc độ quyền sử dụng pháp luật của cá nhân,
tổ chức thì họ đang ở thế bị động và có thể bị hạn chế nếu cơ quan nhà nước không làm tròn trách nhiệm áp dụng pháp luật của mình
* Về chủ thể của quyền tố cáo
Hiện nay, nói đến chủ thể của quyền tố cáo vẫn còn nhiều điều cần phải xem xét Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật tố cáo 2011, chủ thể của quyền
tố cáo chỉ là “công dân” Điều này chưa thực sự phù hợp vì cũng giống như quyền khiếu nại, những người nước ngoài sinh sống, làm việc hợp pháp tại Việt Nam cũng cần được bảo đảm quyền tố cáo Ngoài ra, công dân có quyền tố cáo khi cho rằng hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức Nghĩa là công dân có quyền tố cáo ngay cả khi hành vi vi phạm pháp luật
đó không xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích của cá nhân
Mặt khác, quy định trên về chủ thể quyền đã tạo nên trở ngại đối với các
cơ quan, tổ chức nếu phát hiện thấy những vi phạm pháp luật cũng không được nhân danh cơ quan, tổ chức mình để thực hiện hành vi tố cáo đến cơ quan, tổ chức có thẩm quyền Trong trường hợp đó, các cơ quan, tổ chức phải cử một cá nhân trong cơ quan, tổ chức đại diện cho mình, nhân danh bản thân họ thực hiện quyền tố cáo Trên thực tế, có nhiều trường hợp tổ chức, pháp nhân muốn đứng
ra tố cáo nhằm phát huy sức mạnh của tập thể nhưng không thể thực hiện được
do hạn chế từ quy định này Mặt khác, xét về mặt lý luận, việc quy định chỉ công dân mới có quyền thực hiện hành vi tố cáo là không hợp lý và phần nào làm giảm tính tích cực, tính hiệu quả trong phát hiện, xem xét, giải quyết cũng như đấu tranh phòng ngừa vi phạm pháp luật trong hoạt động hành pháp và tư pháp hiện nay Ví dụ trường hợp như sau: Công ty TNHH X hoạt động kinh doanh
Trang 23thương mại là nguyên đơn trong một bản án dân sự đã có hiệu lực pháp luật và phải được thi hành án theo quy định của pháp luật song vì những lý do cá nhân hoặc tư lợi riêng, một số cán bộ thi hành án có trách nhiệm tổ chức thi hành bản
án đó đã có hành vi gây cản trở việc thi hành bản án Trong trường hợp này công
ty X không có quyền nhân danh công ty viết đơn tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của một số cán bộ thi hành án nói trên, tại sao pháp luật lại hạn chế chủ thể này thực hiện hành vi tố cáo nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ?
Việc Luật tố cáo 2011 quy định chủ thể của quyền tố cáo chỉ là cá nhân (công dân), không bao gồm cơ quan, tổ chức là nhằm cá thể hóa trách nhiệm của người tố cáo, nhất là trách nhiệm của người tố cáo sai sự thật Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng không quy định quyền tố cáo của tổ chức vì không có căn cứ để xác định trách nhiệm của tổ chức là không thuyết phục, bởi ngay trong luật hành chính và luật hình sự đều xác định được trách nhiệm của pháp nhân thì không có
lý do gì không xử lý được trường hợp tổ chức tố cáo sai17 Trường hợp tổ chức tố cáo, khi ký đơn tố cáo phải có người ký là người đứng đầu tổ chức hoặc cấp phó được ủy quyền, vì thế không thể cho rằng là tổ chức thì không có quyền tố cáo
và không nhận đơn tố cáo của tổ chức
Như vậy, Luật khiếu nại và Luật tố cáo hiện hành cần có sự sửa đổi quy định về chủ thể của quyền khiếu nại, quyền tố cáo để đảm bảo phù hợp với tinh thần Hiến pháp 2013 cũng như bảo đảm quyền dân chủ, bình đẳng của các chủ thể trước pháp luật
Bên cạnh Luật khiếu nại, Luật tố cáo, pháp luật tố tụng cũng quy định về chủ thể của quyền khiếu nại, quyền tố cáo trong từng lĩnh vực Cụ thể: Điều 32
BLTTHS 2015 quy định: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại, cá
nhân có quyền tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan đó”; Điều 25 BLTTDS 2015 quy định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại, cá nhân có quyền tố cáo những hành vi, quyết định trái pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc
17
Xem tại: https://baomoi.com/phap-nhan-cung-phai-co-quyen-to-cao/c/23868181.epi
Trang 24của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào trong hoạt động tố tụng dân sự”; Điều
28 Luật TTHC 2015 quy định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại;
cá nhân có quyền tố cáo hành vi, quyết định trái pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào trong hoạt động tố tụng hành chính”
Theo quy định của pháp luật tố tụng, chủ thể của quyền khiếu nại giống với quy định của Luật khiếu nại, đó là cá nhân, cơ quan và tổ chức Còn chủ thể của quyền tố cáo được mở rộng hơn so với Luật tố cáo, đó là cá nhân (bao gồm
cả công dân, người nước ngoài và người không quốc tịch)
1.3.2 Nội dung của quyền khiếu nại, quyền tố cáo
* Về điều kiện thực hiện quyền khiếu nại
Để thực hiện quyền khiếu nại, các chủ thể phải đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
- Người khiếu nại phải là người có quyền, lợi ích hợp pháp chịu tác động trực tiếp bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính mà mình khiếu nại
- Đối với chủ thể khiếu nại là cá nhân thì người đó phải là người có năng lực hành vi đầy đủ theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 hoặc là người chưa có năng lực hành vi dân sự đầy đủ nhưng theo quy định của pháp luật có quyền khiếu nại, được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật Đối với chủ thể khiếu nại là cơ quan, tổ chức thì cơ quan, tổ chức thực hiện quyền khiếu nại của mình cần phải thông qua người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó Theo đó, cơ quan thực hiện quyền khiếu nại thông qua người đại diện là thủ trưởng cơ quan Thủ trưởng cơ quan có thể ủy quyền cho người đại diện theo quy định của pháp luật để thực hiện quyền khiếu nại Tổ chức, pháp nhân thực hiện quyền khiếu nại thông qua người đại diện là người đứng đầu tổ chức, pháp nhân được quy định trong quyết định thành lập tổ chức hoặc trong điều lệ của tổ chức, pháp nhân đó Người đứng đầu tổ chức, pháp nhân có thể ủy quyền cho người đại diện theo quy định của pháp luật để thực hiện quyền khiếu nại Hơn nữa, Luật khiếu nại 2011 quy định trường hợp khiếu nại được thực hiện thông qua người đại diện thì người đại diện phải là một trong những người khiếu nại,
Trang 25có giấy tờ chứng minh tính hợp pháp của việc đại diện và thực hiện khiếu nại theo quy định của Luật này
- Người khiếu nại phải làm đơn khiếu nại và gửi đến đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết trong thời hiệu, thời hạn theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo Đây là một điều kiện quan trọng mà người khiếu nại phải thực hiện
để khiếu nại của mình được tiếp nhận và giải quyết, bởi lẽ trong hoạt động quản
lý nhà nước có sự phân công nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể rõ ràng giữa các cơ quan, mỗi cơ quan có phạm vi trách nhiệm khác nhau Do đó, một vụ việc khiếu nại chỉ có thể thuộc thẩm quyền giải quyết của một cơ quan nhất định Nếu người khiếu nại gửi đơn đến nhiều cơ quan không có thẩm quyền giải quyết dẫn đến lãng phí nhiều thời gian, tiền của cho cả người khiếu nại và các cơ quan phải
xử lý đơn khiếu nại đó mà vụ việc vẫn không được giải quyết Chính vì thế, trước khi gửi đơn khiếu nại, người khiếu nại phải tìm hiểu xem cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết vụ việc của mình để thực hiện cho đúng, chỉ có như vậy thì khiếu nại mới được giải quyết nhanh chóng, quyền và lợi ích hợp pháp của người đi khiếu nại mới được khôi phục và bảo vệ một cách kịp thời, đúng theo quy định của pháp luật
* Về hình thức khiếu nại, tố cáo
Hình thức khiếu nại, tố cáo là cách thức thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của cá nhân, cơ quan, tổ chức để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác Theo quy định tại Điều 8 Luật khiếu nại 2011 và Điều 19 Luật tố cáo 2011 thì người khiếu nại, người tố cáo có thể khiếu nại, tố cáo bằng hai hình thức là thông qua đơn hoặc trực tiếp đến khiếu nại, tố cáo
Đối với hình thức tố cáo, ngoài hai hình thức tố cáo bằng đơn và tố cáo trực tiếp, có nhiều quan điểm cho rằng cần bổ sung quy định về việc tiếp nhận,
xử lý tố cáo qua thư điện tử, fax, điện thoại để tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân thực hiện quyền tố cáo, cung cấp, phản ánh thông tin về hành vi vi phạm pháp luật, tránh bỏ sót, bỏ lọt hành vi vi phạm, phù hợp với thực tiễn phát triển công nghệ thông tin
Trang 26* Về đối tượng của quyền khiếu nại, quyền tố cáo
Từ các khái niệm về khiếu nại, tố cáo cho thấy khiếu nại, tố cáo đều hướng vào xem xét các quyết định trái pháp luật hoặc hành vi trái pháp luật Những vi phạm pháp luật trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, thể hiện là tính trái pháp luật của các quyết định quản lý hoặc các hành vi quản lý cần được nhận thức đúng, phát hiện sớm, ngăn chặn và xử lý kịp thời nhằm bảo đảm sự tuân thủ pháp chế Trong phạm vi hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, đối tượng của quyền khiếu nại, quyền tố cáo bao gồm quyết định hành chính trái pháp luật và hành vi hành chính trái pháp luật Cũng như những hiện tượng xã hội khác, vi phạm pháp luật trong hoạt động của các cơ quan nhà nước diễn ra trên nhiều lĩnh vực khác nhau với mức độ phức tạp khác nhau
Theo quy định của Hiến pháp 2013, mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo
về việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân
Luật khiếu nại 2011 quy định đối tượng bị khiếu nại gồm có: quyết định
hành chính, hành vi hành chính trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp
pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức So với quy định của Hiến pháp là “việc làm” thì quy định của Luật khiếu nại như vậy là quá hẹp về đối tượng của quyền khiếu nại Hơn nữa, Luật chỉ quy định đối tượng là quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước là chưa đầy đủ, bởi các cơ quan nhà nước khác như TAND, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm toán nhà nước, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước, trong quá trình tổ chức và hoạt động của mình cũng ban hành các quyết định hành chính, thực hiện hành vi hành chính; thậm chí hiện nay ĐVSNCL hay DNNN cũng có những quyết định hành chính Về cơ bản, các quyết định hành chính, hành vi hành chính do nhiều chủ thể khác nhau ban hành nhưng đều diễn ra trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước
Theo quy định của Luật khiếu nại hiện hành, công dân chỉ có quyền khiếu nại một quyết định hành chính mang tính cá biệt mà không có quyền khiếu nại quyết định mang tính quy phạm của cơ quan nhà nước Đây là một hạn chế đối với quyền khiếu nại của công dân vì trên thực tế, chính những quyết định này
Trang 27mới gây nhiều bức xúc trong nhân dân và thậm chí dẫn đến những khiếu nại đông người, vượt cấp
Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật tố cáo 2011, đối tượng của quyền
tố cáo là hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây
thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức Đồng thời, khoản 2 và 3 Điều 2 Luật này xác định có hai loại hành vi vi phạm pháp luật bị tố cáo, đó là hành vi vi phạm pháp
luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ và
hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực
Như vậy, cũng giống như Luật khiếu nại, quy định về đối tượng trong Luật tố cáo chưa tương thích với Hiến pháp, “hành vi vi phạm pháp luật” có phần hạn hẹp hơn “việc làm trái pháp luật” Việc làm có thể là việc ban hành một quyết định pháp luật hay một hành vi cụ thể Vấn đề này cũng cần được giải thích rõ, không đồng nhất việc làm trái pháp luật với hành vi vi phạm pháp luật
* Về phạm vi thực hiện quyền
Luật khiếu nại và Luật tố cáo quy định về phạm vi của quyền khiếu nại, quyền tố cáo tương đối hẹp Quyền khiếu nại được thực hiện bởi một đối tượng trong một hoàn cảnh cụ thể và xảy ra trong tất cả các lĩnh vực của quản lý hành chính nhà nước Trong khi đó, quyền tố cáo hướng đến tất cả các hành vi vi phạm, những thiệt hại xảy ra hoặc có thể xảy ra trong các lĩnh vực của quản lý nhà nước Có thể thấy, phạm vi của quyền tố cáo tuy rộng hơn so với quyền khiếu nại nhưng vẫn chưa bao quát hết, ngoài ra còn tố cáo trong các lĩnh vực khác như: lập pháp, tư pháp và tố cáo trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị -
xã hội,…
1.3.3 Vai trò của quyền khiếu nại, quyền tố cáo
Quyền khiếu nại, quyền tố cáo là quyền chính trị - pháp lý của con người, của công dân; nó tồn tại trong mối quan hệ với các quyền và nghĩa vụ khác của công dân Việc ghi nhận quyền khiếu nại, quyền tố cáo trong Hiến pháp đã tạo
cơ sở pháp lý cho công dân thực hiện quyền cơ bản của mình Và thông qua việc thực hiện các quyền này, công dân đã góp phần tích cực vào hoạt động quản lý
Trang 28nhà nước và xã hội, đồng thời bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình cũng như thể hiện trách nhiệm của mình trong việc xây dựng bộ máy nhà nước của dân, do dân, vì dân, xây dựng đội ngũ cán bộ nhà nước trong sạch, có năng lực
Thứ nhất, các chủ thể bảo vệ và khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp
của mình bằng quyền khiếu nại, quyền tố cáo
Quyền khiếu nại, quyền tố cáo là quyền hiến định, quyền này được sử dụng mỗi khi các chủ thể nhận thấy rằng có quyền, lợi ích của mình, lợi ích của Nhà nước, của các chủ thể khác bị xâm hại Mỗi đạo luật với đối tượng, phạm vi điều chỉnh cụ thể đều ghi nhận quyền khiếu nại, quyền tố cáo đi kèm như một chế định bảo đảm cho quyền, lợi ích của các chủ thể khi họ tham gia vào quan hệ pháp luật mà đạo luật đó điều chỉnh Do vậy, mỗi khi có hành vi vi phạm các quyền, lợi ích ở từng lĩnh vực cụ thể nào đó thì pháp luật cũng dự liệu cho các bên dùng quyền khiếu nại, quyền tố cáo để tự vệ Bản thân quyền khiếu nại, quyền tố cáo không có nội dung cụ thể, chỉ khi có vi phạm pháp luật liên quan đến quyền, lợi ích về lĩnh vực nào thì quyền khiếu nại, quyền tố cáo được sử dụng ở lĩnh vực đó Tính cụ thể, trực tiếp của nó được thể hiện thông qua trình
tự, thủ tục thực hiện quyền này theo từng lĩnh vực mà các văn bản pháp luật điều chỉnh
Xét về quan hệ pháp luật hành chính, đây là quan hệ “quyền lực - phục tùng”, quan hệ bất bình đẳng về ý chí giữa các bên tham gia Chủ thể đặc biệt (cơ quan, tổ chức, cá nhân được nhân danh và sử dụng quyền lực nhà nước) tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính trên cơ sở sử dụng quyền lực nhà nước còn chủ thể thường (công dân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại, tố cáo)
có nghĩa vụ chấp hành việc sử dụng quyền lực nhà nước của chủ thể đặc biệt Vì vậy, quy định về quyền khiếu nại, quyền tố cáo chính là Nhà nước trao quyền cho người dân có hay không việc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm hại bởi việc làm trái pháp luật
cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền nói chung và quyết định hành chính, hành vi hành chính trái pháp luật trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước nói riêng
Trang 29Hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo giúp bảo đảm và thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại, người tố cáo mà pháp luật đã quy định Theo đó, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền cần nhận thức và quán triệt đầy đủ các nguyên tắc giải quyết khiếu nại, tố cáo; đồng thời đảm bảo trách nhiệm thực hiện các hoạt động như: tiếp công dân; xử lý vi phạm pháp luật khiếu nại, tố cáo; giám sát công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo; tuân thủ đúng thẩm quyền trong các giai đoạn giải quyết khiếu nại, tố cáo, Hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan hành chính nhà nước thể hiện sự minh bạch, công khai tạo tiền đề quan trọng để người có thẩm quyền giải quyết đúng pháp luật, xử lý vi phạm trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, đảm bảo sự công bằng, khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể
Thứ hai, quyền khiếu nại, quyền tố cáo là phương thức kiểm soát
quyền lực nhà nước, đảm bảo quyền dân chủ
Dân chủ với ý nghĩa là nội dung của quyền con người, được coi là một tiêu chí để xem xét những tiến bộ của thời đại, của các thể chế chính trị Quan hệ giữa Nhà nước và công dân hiện nay hầu hết được nhìn nhận trong các giá trị về bảo đảm dân chủ, cụ thể là việc xem xét đến giới hạn can thiệp của Nhà nước đối với các quyền cơ bản của công dân, giới hạn các quyền tự do của công dân trong mối quan hệ với quản lý nhà nước cùng với việc bảo đảm các điều kiện cho công dân thực hiện các quyền cơ bản của mình18 Trong nhà nước dân chủ, thông qua hai hình thức dân chủ: dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp, quyền lực nhân dân được trao cho Nhà nước, rồi cũng từ đó chính nhân dân lại thực hiện quyền hiến định kiểm soát trở lại việc tổ chức thực hiện quyền lực của mình Quyền khiếu nại, quyền tố cáo là biểu hiện của dân chủ trực tiếp, bởi dân chủ trực tiếp là hình thức thể hiện trực tiếp ý chí, nguyện vọng của bản thân mỗi chủ thể Thực hiện quyền khiếu nại, quyền tố cáo chính là công dân trực tiếp kiểm tra, giám sát, các hoạt động của Nhà nước; trực tiếp góp ý, phản ánh với Nhà nước về các vấn đề quan tâm Qua đó, công dân trực tiếp tham gia vào việc quản lý nhà nước, quản
18 Ngô Mạnh Toan (2007), Hoàn thiện pháp luật khiếu nại, tố cáo trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr.28
Trang 30lý xã hội, tạo nên tính tích cực chính trị, tính trách nhiệm đối với xã hội, nhà nước của mỗi công dân
Quyền khiếu nại, quyền tố cáo là quyền dân chủ, tính dân chủ được biểu hiện thông qua việc thực hiện quyền giám sát của nhân dân đối với bộ máy nhà nước Xuất phát từ tư tưởng “lấy dân là gốc”, từ bản chất chính trị của chế độ dân chủ nhân dân, ngay từ khi mới thành lập chính thể mới, cùng với việc thiết lập chính quyền các cấp, Đảng, Bác Hồ và Chính phủ đã khẳng định quyền làm chủ của nhân dân, quan tâm đến việc kiểm soát hoạt động của bộ máy nhà nước, việc giải quyết khiếu kiện của dân, chống phiền hà, nhũng nhiễu dân Tính chất giám sát của nhân dân đối với Nhà nước được thể hiện ở chỗ, khi khiếu nại, tố cáo, nhân dân đã chuyển đến cho cơ quan nhà nước những thông tin, phát hiện
về những việc làm vi phạm pháp luật, xâm hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức Trên cơ sở đó, Nhà nước kiểm tra lại hoạt động, hành vi của các cơ quan và các cán bộ của mình, kịp thời chấn chỉnh, xử lý sai phạm, làm cho bộ máy nhà nước ngày càng trong sạch, vững mạnh Như vậy, khiếu nại và tố cáo có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo quyền dân chủ Vì thế, việc thực hiện quyền khiếu nại, quyền tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo có vai trò chủ chốt trong việc mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, góp phần tích cực vào tăng cường
và bảo đảm pháp chế
Thứ ba, việc thực thi quyền lực của bộ máy nhà nước và tình hình thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức được phản ánh thông qua quyền khiếu nại, quyền tố cáo
Khiếu nại, tố cáo là những kênh thông tin có giá trị chân thực, khách quan phản ánh hoạt động tiêu cực, bất ổn của bộ máy nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức, nhân viên nhà nước, là nguồn thông tin quan trọng được cơ quan nhà nước tiếp nhận, xử lý Thông qua khiếu nại, tố cáo mà nhiều hành vi tham nhũng, lãng phí, vi phạm dân chủ được làm sáng tỏ, phát hiện những cán bộ, công chức không đủ tư cách thoái hóa biến chất trong đội ngũ cán bộ, công chức của bộ máy nhà nước góp phần làm cho bộ máy nhà nước thêm trong sạch, củng
Trang 31cố lòng tin của nhân đối với Đảng và Nhà nước Vì vậy, thông qua hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo, cơ quan nhà nước cấp trên kiểm tra, giám sát, đánh giá hoạt động của cấp dưới, từ đó có biện pháp chấn chỉnh, khắc phục những tồn tại, yếu kém và xử lý hành vi vi phạm pháp luật nhằm xây dựng một nền hành chính vững mạnh, trong sạch, chuyên nghiệp, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả Hơn nữa, hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo còn khiến các cơ quan nhà nước
và những người có thẩm quyền giải quyết phải tự giác nghiêm chỉnh thực hiện đầy đủ, đúng đắn các quy định của pháp luật khiếu nại, tố cáo, từ đó góp phần đảm bảo thực hiện pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý nhà nước
Thứ tư, khiếu nại, tố cáo là hình thức kiểm tra tính đúng đắn, phù hợp của đường lối, chính sách, pháp luật đã ban hành
Thông qua khiếu nại, tố cáo, Nhà nước kiểm định được tính đúng đắn, phù hợp và khả thi của chính sách, pháp luật do mình ban hành, đồng thời kiểm tra việc chấp hành pháp luật của cơ quan, tổ chức và cá nhân thông qua việc đánh giá tính hợp pháp của các quyết định hành chính, hành vi hành chính, qua đó giúp Nhà nước hoàn thiện cơ chế quản lý xã hội bằng pháp luật, Khiếu nại, tố cáo không chỉ giúp phát hiện hành vi sai phạm, cán bộ mắc khuyết điểm để xử
lý, mà còn giúp các cấp lãnh đạo, các cơ quan, đơn vị… có cái nhìn đầy đủ, khách quan và chính xác hơn về những yếu kém trong công tác quản lý, kịp thời
đề ra giải pháp chấn chỉnh, uốn nắn cho phù hợp, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của xã hội và của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.4 Những yếu tố tác động và cơ chế pháp lý bảo đảm quyền khiếu nại, quyền tố cáo
1.4.1 Những yếu tố tác động đến việc bảo đảm quyền khiếu nại, quyền
tố cáo
Bảo đảm các quyền con người, quyền công dân là việc tạo ra các tiền đề, điều kiện về chính trị, kinh tế, pháp lý, văn hóa để các cá nhân, tổ chức thực hiện được các quyền, tự do, lợi ích chính đáng của mình đã được pháp luật ghi nhận Như vậy, các điều kiện về chính trị, pháp lý, kinh tế, văn hóa được coi là bốn yếu
Trang 32tố cơ bản tác động đến việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân nói chung và quyền khiếu nại, quyền tố cáo nói riêng
1.4.1.1 Điều kiện chính trị
Điều kiện chính trị là điều kiện tiên quyết bảo đảm quyền khiếu nại, quyền tố cáo của cá nhân, tổ chức cũng như tất cả các quyền con người Quan niệm về bảo đảm quyền con người, quyền công dân là các chủ thể có trách nhiệm bảo đảm quyền con người, trước hết và chủ yếu là Nhà nước, thực hiện các biện pháp về thể chế lập pháp, hành pháp, tư pháp, và về quản lý chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa để hiện thực hóa các nguyên tắc, tiêu chuẩn về quyền con người trong hoạt động của nhà nước và các hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp, đặc biệt trong các chương trình phát triển kinh
tế - xã hội, nhằm thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm thực hiện và thúc đẩy quyền con người trên thực tế Thiết chế trung tâm của hệ thống chính trị là Nhà nước; do đó, điều kiện chính trị chính là các điều kiện về tổ chức, vận hành quyền lực nhà nước trong mỗi quốc gia Để bảo đảm thực hiện quyền khiếu nại,
tố cáo thì điều kiện chính trị với cách thức tổ chức, vận hành quyền lực nhà nước cần được thiết lập thành một cơ chế hợp lý, chặt chẽ để Nhà nước - chủ thể chính mang nghĩa vụ phải bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo được thực hiện, bảo vệ trên thực tế và để kiểm soát quyền lực nhà nước nhằm kiềm chế tối đa sự vi phạm quyền con người, quyền công dân của Nhà nước, trong đó có quyền khiếu nại, tố cáo Có thể nói, để quyền khiếu nại, quyền tố cáo được bảo đảm thực hiện, trước hết Nhà nước cần đề cao yếu tố pháp luật, đồng thời hoạt động thực thi quyền lực nhà nước của các cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước phải được tổ chức chặt chẽ, minh bạch, công khai, bảo đảm quyền và lợi ích hợp ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức
1.4.1.2 Điều kiện pháp lý
Quyền khiếu nại, quyền tố cáo và tất cả các quyền con người là những đặc quyền tự nhiên vốn có của mỗi người, nhưng chỉ khi được pháp luật ghi nhận, bảo đảm thì các quyền con người mới thể hiện được ra bên ngoài đầy đủ những thuộc tính căn bản của mình Trong Nhà nước pháp quyền, để bảo đảm quyền
Trang 33con người, quyền công dân thì trách nhiệm trước tiên thuộc về Nhà nước, cụ thể
là các cơ quan trong bộ máy nhà nước và cán bộ, công chức nhà nước Nhà nước
và pháp luật là hai phạm trù có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, vì vậy, bảo đảm quyền con người, quyền công dân phải gắn liền với sự điều chỉnh của pháp luật Trước hết, phải được Hiến pháp ghi nhận và được pháp luật quy định; thông qua pháp luật, trách nhiệm của Nhà nước trong bảo đảm quyền mới được xác lập Bằng hệ thống pháp luật, Nhà nước quy định cụ thể các biện pháp bảo đảm để công dân được bảo vệ và thực hiện các quyền của mình, đồng thời có các quy định về chế tài trừng phạt đối với các chủ thể có hành vi xâm phạm quyền Như vậy, pháp luật là cơ sở pháp lý quy định các quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm cho mọi chủ thể trong các quan hệ xã hội và phải dựa trên pháp luật thì quyền khiếu nại, quyền tố cáo mới được bảo vệ, bảo đảm thực hiện trên thực tế
Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân ở nước ta, các bảo đảm pháp lý có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và mang tính quyết định, là cốt lõi, là sự thể chế hóa các bảo đảm chính trị, kinh tế, xã hội thành các chuẩn mực có tính bắt buộc mà nhà nước
và xã hội phải thực hiện để bảo đảm các quyền con người, quyền công dân Các điều kiện về chính trị, kinh tế, nhận thức đều phải thông qua pháp luật, thể hiện dưới hình thức pháp luật mới trở thành giá trị xã hội ổn định, được hiện thực hóa trên quy mô toàn xã hội và phát huy được vai trò của mình trong việc bảo đảm thực thi quyền con người19 Điều kiện pháp lý cho công tác bảo đảm quyền con người nói chung, quyền khiếu nại, quyền tố cáo nói riêng ở Việt Nam hiện nay,
cơ bản tùy thuộc vào việc tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với những đặc trưng cơ bản sau: Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp hành pháp và tư pháp; Thượng tôn Hiến pháp và pháp luật; Sự bình đẳng của mọi người trong thụ hưởng và phát triển quyền, trước tiên và chủ yếu trong việc tham gia vào công tác quản lý nhà nước và xã
19 Viện khoa học xã hội Việt Nam (2010), Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài cấp bộ- tên đề tài
“Quyền con người ở Việt Nam từ nhận thức lý luận đến hành động thực tiễn”, tr.105,106
Trang 34hội; Sự cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; Bảo vệ công lý, quyền con người và quyền công dân20
1.4.1.3 Điều kiện kinh tế
Hiện nay, sự tác động của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đến việc bảo đảm quyền con người diễn biến theo hướng tích cực, đó là: cải thiện các điều kiện kinh tế, xã hội để thúc đẩy công tác bảo đảm và giải quyết vấn đề quyền con người; phát triển theo hướng đa dạng nhu cầu về quyền con người và thách thức mới đối với bảo đảm quyền con người; tạo ra những cơ hội thuận lợi để Việt Nam phát triển kinh tế nhanh và bền vững - điều kiện cần thiết
để bảo đảm quyền con người; góp phần làm thay đổi tư duy pháp lý về quyền con người; thúc đẩy công tác bảo đảm quyền con người tiệm cận ngày càng toàn diện, sâu sắc hơn luật pháp, chuẩn mực và tập quán quốc tế
Điều kiện kinh tế bảo đảm quyền con người bao gồm nhiều yêu cầu, trong
đó, biểu hiện rõ nét nhất là trình độ phát triển của nền kinh tế bộc lộ qua các chỉ
số đánh giá mức độ tăng trưởng, mức độ thu hẹp sự chênh lệch giàu nghèo, mức
độ ổn định của chu kỳ tăng trưởng, mức độ an toàn của môi trường kinh tế đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững,… Các yêu cầu này càng đạt được ở trình độ cao thì càng tạo ra cơ sở vật chất thuận lợi cho việc bảo đảm thực thi quyền con người trên thực tế Để bảo đảm quyền khiếu nại, quyền tố cáo, ngoài các điều kiện về chính trị, pháp lý thuận lợi thì Nhà nước luôn cần chú trọng xây dựng, duy trì nguồn lực kinh tế, tài chính để bảo đảm các quyền này được thực hiện tích cực và hiệu quả
1.4.1.4 Điều kiện văn hóa
Trong mọi xã hội, ở các cấp độ quốc tế, khu vực, quốc gia thì văn hóa là hiện tượng luôn tồn tại, vận động, phát triển không ngừng trong đời sống Điều kiện văn hóa có mối liên hệ và tác động qua lại với tất cả các điều kiện khác, đặc biệt là điều kiện chính trị và pháp lý Chính trị và pháp lý tác động tới văn hóa,
có thể làm thay đổi văn hóa Văn hóa cũng tác động tới chính trị và pháp lý, văn
20 Nguyễn Thanh Tuấn, “Bảo đảm quyền con người trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay”, http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-
Traodoi/2016/38318/Bao-dam-quyen-con-nguoi-trong-nen-kinh-te-thi-truong-dinh.aspx, đăng ngày 12/4/2016
Trang 35hóa thấm sâu vào đời sống chính trị và tác động vào từng quy định pháp luật điều chỉnh vấn đề quyền con người, quyền công dân21
Như vậy, sự phát triển của văn hóa gắn liền với sự phát triển của con người và quyền con người
Điều kiện văn hóa là yếu tố quan trọng tác động đến việc bảo đảm quyền con người Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo đảm quyền con người thì điều kiện văn hóa phải ngày càng phát triển theo hướng tích cực Đồng thời hạn chế những tác động tiêu cực của văn hóa, biến đổi nó theo chiều hướng tích cực bằng cách loại bỏ đi những giá trị đã lạc hậu, không phù hợp và đưa vào nó những giá trị mới, phù hợp hơn Cùng với đó, phải phát huy các tác động tích cực của văn hóa và làm cho nó trở nên phù hợp với các mục tiêu vì con người, với việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân
1.4.2 Cơ chế pháp lý bảo đảm quyền khiếu nại, quyền tố cáo
1.4.2.1 Khái niệm cơ chế pháp lý bảo đảm quyền khiếu nại, quyền tố cáo Trong tiếng Việt, cơ chế được hiểu là “cách thức theo đó một quá trình
thực hiện”22; còn bảo đảm được hiểu là “làm cho chắc chắn thực hiện được, giữ
gìn được, hoặc có đầy đủ những gì cần thiết”23
Như vậy, có thể hiểu cơ chế pháp lý bảo đảm quyền khiếu nại, quyền tố cáo là cách thức tổ chức, hoạt động của các chủ thể cùng với hệ thống công cụ, phương tiện pháp lý nhằm làm cho quyền khiếu nại, quyền tố cáo được thực hiện và bảo vệ trên thực tế
Dựa trên quan niệm này, cơ chế pháp lý bảo đảm quyền khiếu nại, quyền tố cáo có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, cơ chế pháp lý bảo đảm quyền khiếu nại, quyền tố cáo được xác
lập trên cơ sở hệ thống pháp luật
Hệ thống pháp luật gồm nhiều văn bản có giá trị pháp lý khác nhau, cao nhất là Hiến pháp, tiếp đó là các luật và văn bản dưới luật Quyền khiếu nại, quyền tố cáo là các quyền cơ bản của công dân phải được ghi nhận trong Hiến pháp và được cụ thể hóa trong các văn bản luật, khi đó giá trị của các quyền này
21 Viện khoa học xã hội Việt Nam (2010), Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài cấp bộ- tên đề tài
“Quyền con người ở Việt Nam từ nhận thức lý luận đến hành động thực tiễn”, tr.109
22 Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng, tr.214
23
Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng, tr.38
Trang 36mới được thể hiện và kèm theo đó là giá trị thực hiện góp phần bảo đảm tính hiện thực của quyền Nói cách khác, Hiến pháp là văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất trong bảo vệ quyền con người, quyền công dân, do đó bảo đảm quyền khiếu nại, quyền tố cáo bằng Hiến pháp là bảo đảm ở mức độ cao nhất Mặt khác, khiếu nại, tố cáo phát sinh trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nên quy định pháp luật về việc thực hiện quyền khiếu nại, quyền tố cáo không chỉ được thể hiện trong một văn bản mà được thể hiện trong nhiều văn bản trên các lĩnh vực khác nhau Do vậy, khi nói đến cơ chế pháp lý bảo đảm thực hiện quyền khiếu nại, quyền tố cáo thì đồng thời cũng được hiểu là những nội dung cơ bản của pháp luật cụ thể hóa quyền này trên các lĩnh vực gắn liền với cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo cũng như các vấn đề thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về khiếu nại, tố cáo
Thứ hai, cơ chế pháp lý bảo đảm quyền khiếu nại, quyền tố cáo thể hiện
trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền khiếu nại, quyền tố cáo
Quyền khiếu nại và quyền tố cáo phản ánh bản chất dân chủ trong thực
hiện quyền lực nhà nước và thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trong mối quan hệ nhà nước - công dân Trách nhiệm của Nhà nước được hiểu trên hai phương diện, là bảo đảm thực hiện và bảo đảm bảo vệ Bảo đảm thực hiện là Nhà nước tạo ra các điều kiện để công dân thực hiện quyền thông qua hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo Bảo đảm bảo vệ là việc Nhà nước xử lý vi phạm trong quá trình bảo đảm thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo Vì vậy, trách nhiệm bảo đảm quyền khiếu nại, quyền tố cáo đòi hỏi Nhà nước phải ghi nhận các quyền này trong Hiến pháp và quy định việc thực hiện quyền trong hệ thống pháp luật Đó là cơ sở quan trọng để thiết lập các thủ tục pháp lý gắn với những quy trình cụ thể trong việc thực hiện quyền; kiểm tra, giám sát và
xử lý vi phạm pháp luật trong quá trình thực hiện quyền cũng như tạo điều kiện để các chủ thể khác tham gia, hỗ trợ trong việc bảo đảm quyền khiếu nại,
quyền tố cáo
Trang 37Thứ ba, giá trị thực tế của cơ chế pháp lý bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo
phụ thuộc vào nhận thức, khả năng của mỗi cá nhân; trình độ, năng lực của cán
bộ, công chức và sự tôn trọng, hỗ trợ từ phía cộng đồng xã hội
Quyền khiếu nại, quyền tố cáo là nhu cầu và khả năng của cá nhân, cơ quan, tổ chức được Nhà nước thừa nhận nên cơ chế pháp lý bảo đảm quyền luôn gắn liền với khả năng và nhận thức của họ Mỗi cá nhân có những đặc điểm riêng về thể chất và tinh thần, với nhu cầu rất đa dạng Do đó, sự phản ứng đối với các việc làm, hành vi trái pháp luật cũng được thực hiện bằng các hình thức với mức độ khác nhau tùy thuộc vào ý chí chủ quan và sự lựa chọn của họ Bên cạnh đó, việc thực hiện quyền khiếu nại, quyền tố cáo còn phụ thuộc vào trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước là những người có thẩm quyền xem xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo Bảo đảm pháp lý thực hiện quyền khiếu nại, quyền tố cáo của công dân chịu sự tác động không nhỏ bởi các điều kiện xã hội, đó là ý thức, trách nhiệm, văn hóa pháp lý của cộng đồng nói chung, là sự tham gia trực tiếp của các chế định xã hội trong việc hỗ trợ, thúc đẩy hoặc thậm chí cản trở việc thực hiện quyền
1.4.2.2 Các yếu tố cấu thành cơ chế pháp lý bảo đảm quyền khiếu nại, quyền tố cáo
Các yếu tố cấu thành cơ chế pháp lý bảo đảm quyền khiếu nại, quyền tố cáo có tính chất như công cụ pháp lý được chủ thể có quyền và chủ thể bảo đảm quyền sử dụng trong quá trình thực hiện và bảo vệ quyền khiếu nại, quyền tố cáo Cơ chế pháp lý bảo đảm quyền khiếu nại, quyền tố cáo gồm ba yếu tố cấu thành cơ bản sau: các nguyên tắc pháp lý trong khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo; các thủ tục pháp lý bảo đảm quyền khiếu nại, quyền tố cáo và các quy định pháp luật về khiếu nại, tố cáo
Yếu tố thứ nhất, nguyên tắc pháp lý
Trong cơ chế pháp lý bảo đảm quyền khiếu nại, quyền tố cáo, các nguyên tắc pháp lý cơ bản vừa đóng vai trò định hướng tư duy, vừa có giá trị trực tiếp điều chỉnh hoạt động khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo Việc xác định một cách đúng đắn và đầy đủ các nguyên tắc pháp lý cơ bản chính là hình
Trang 38thành nên cơ sở pháp lý vững chắc cho sự vận động của cơ chế pháp lý bảo đảm quyền Nguyên tắc pháp lý cơ bản trong khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại,
tố cáo bao gồm nguyên tắc chung và nguyên tắc đặc thù Cụ thể, những nguyên tắc chung bao gồm: nguyên tắc tuân thủ pháp luật; nguyên tắc công bằng, dân chủ, công khai; nguyên tắc giải quyết kịp thời, chính xác, khách quan Một số nguyên tắc đặc thù trong giải quyết tố cáo, đó là: nguyên tắc bảo đảm an toàn cho người tố cáo; nguyên tắc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo
Nguyên tắc tuân thủ pháp luật
Tuân thủ pháp luật là nguyên tắc cơ bản chi phối trong toàn bộ tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta Trong khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo, nguyên tắc này được thể hiện qua các nội dung sau:
- Các bên trong quan hệ pháp luật khiếu nại, tố cáo và các chủ thể có liên quan phải tuân thủ pháp luật trong quá trình khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo
Đối với người khiếu nại, tố cáo; người bị khiếu nại, tố cáo và người có quyền, nghĩa vụ liên quan: đây là nhóm chủ thể có quyền lợi, nghĩa vụ ảnh hưởng trực tiếp từ việc khiếu nại, tố cáo đến giải quyết khiếu nại, tố cáo nên hoạt động của nhóm chủ thể này có thể làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật khiếu nại, tố cáo Sự tuân thủ quy định pháp luật của các chủ thể này sẽ góp phần làm cho quá trình giải quyết khiếu nại được tiến hành nhanh chóng, thuận lợi, hiệu quả Sự tuân theo pháp luật ở đây thể hiện ở việc các chủ thể thực thi đúng quy định pháp luật về quyền, nghĩa vụ của mình
Đối với người giải quyết khiếu nại, tố cáo: đây là chủ thể nhân danh quyền lực nhà nước thực hiện hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo Do đó, sự tuân thủ pháp luật của người giải quyết khiếu nại, tố cáo là yêu cầu tuyệt đối nhằm bảo đảm hiệu quả, hiệu lực của hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo Nguyên tắc này được thể hiện ở việc người giải quyết khiếu nại, tố cáo thực hiện đúng pháp luật về thẩm quyền, quy trình, thời hạn giải quyết,… Các hành vi không giải quyết, thiếu trách nhiệm, làm sai lệch thông tin, tài liệu, hồ sơ vụ việc
Trang 39khiếu nại, tố cáo hay cố ý giải quyết trái pháp luật,… đều bị coi là vi phạm và bị
xử lý theo quy định của pháp luật
Đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có liên quan: đây là nhóm chủ thể
có trách nhiệm hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể khác trong quá trình khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo Sự tuân theo pháp luật ở đây thể hiện ở việc cung cấp kịp thời các thông tin, tài liệu có liên quan đến việc khiếu nại, tố cáo theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức hữu quan; phối hợp với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc tổ chức thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật khi được yêu cầu,…
- Tất cả các hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo đều phải bị xử lý nghiêm minh theo quy định pháp luật Thông qua các chế tài cụ thể xử lý những hành vi vi phạm, các quy định pháp luật về khiếu nại, tố cáo mới được bảo đảm tuân thủ nghiêm chỉnh Hiện nay, theo quy định của Luật khiếu nại và Luật tố cáo hiện hành, người nào có hành vi vi phạm pháp luật về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật24
Nguyên tắc công bằng, dân chủ, công khai
Cơ sở của nguyên tắc này xuất phát từ bản chất tốt đẹp của nhà nước là
nhà nước của dân, do dân và vì dân Mọi hoạt động của cơ quan nhà nước phải công khai, minh bạch để nhân dân có thể thực hiện quyền giám sát của mình đối với bộ máy nhà nước Nội dung của nguyên tắc như sau:
- Các bên trong quan hệ khiếu nại, tố cáo phải tuân theo những quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ Việc này có ý nghĩa rất lớn bởi vì trong mối quan hệ với cơ quan nhà nước, các chủ thể xã hội thường ở thế yếu bởi các cơ quan nhà nước được nhân danh quyền lực nhà nước thi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình
24
Xem Điều 67, 68 Luật khiếu nại 2011, Điều 46, 47,48 Luật tố cáo 2011
Trang 40- Trong quy trình giải quyết khiếu nại, tố cáo, người có thẩm quyền giải quyết phải tạo điều kiện cho người khiếu nại, tố cáo và người bị khiếu nại, tố cáo
có điều kiện trình bày ý kiến và đưa ra chứng cứ của họ Ngoài ra, việc quy định
về đối thoại là một hình thức thể hiện tính dân chủ trong hoạt động giải quyết khiếu nại
- Quyết định giải quyết khiếu nại, kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử
lý hành vi vi phạm bị tố cáo phải được công bố công khai (công bố tại cuộc họp
cơ quan, tổ chức nơi người bị khiếu nại, tố cáo công tác; niêm yết tại trụ sở làm việc hoặc nơi tiếp công dân của cơ quan, tổ chức đã giải quyết khiếu nại, tố cáo; thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng)
Nguyên tắc giải quyết kịp thời, khách quan
Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo kịp thời, khách quan có ý nghĩa bảo đảm khôi phục nhanh chóng quyền, lợi ích của cá nhân, cơ quan, tổ chức khi bị xâm phạm từ hoạt động quản lý nhà nước, vừa duy trì hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước Tính kịp thời ở đây đòi hỏi các quy định pháp luật về thời hạn, thời hiệu phải cụ thể, chặt chẽ, rõ ràng, hợp lý bảo đảm quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo được tiến hành nhanh chóng Các hoạt động thụ lý, giải quyết, thi hành quyết định giải quyết, quyết định xử lý hành vi vi phạm phải được thực hiện nhanh chóng, đúng thời hạn luật định Đảm bảo tính khách quan là xem xét, nhìn nhận, đánh giá và kết luận sự việc không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan, phiến diện của mỗi người, không cảm tình nể nang hoặc thành kiến cá nhân, phản ánh sự việc phải đúng với bản chất vốn có của nó Do vậy, giải quyết khiếu nại, tố cáo phải dựa trên tính xác thực của vụ việc thông qua những chứng cứ chính xác, khách quan thì chủ thể có thẩm quyền mới đủ cơ sở để xem xét, kết luận và có biện pháp xử lý đúng đắn
Nguyên tắc bảo đảm an toàn cho người tố cáo
Người tố cáo thực hiện quyền tố cáo là để phát hiện những hành vi trái pháp luật, thể hiện trách nhiệm của công dân với lợi ích chung Vì vậy, các cơ quan có thẩm quyền phải tạo điều kiện thuận lợi để người tố cáo cung cấp tài liệu và trình bày rõ những thông tin cần thiết có liên quan đến nội dung mà họ tố