1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quyền con người được sống trong môi trường trong lành theo hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam năm 2013

103 339 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 5,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ sự nhìn nhận chung đó, tác giả đã lựa chọn vấn đề ―Quyền con người được sống trong môi trường trong lành theo Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013‖ làm

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

VŨ TÚ LINH

QUYỀN CON NGƯỜI ĐƯỢC SỐNG TRONG MÔI TRƯỜNG TRONG LÀNH THEO HIẾN PHÁP NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI

CHỦ NGHĨA VIỆT NAM NĂM 2013

Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Trang 2

Để có thể hoàn thành luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh, bên cạnh sự

nỗ lực, cố gắng của bản thân còn có sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô Em

xin chân thành tỏ lòng biết ơn đến Thầy - TS Trần Thái Dương, người luôn

hết lòng hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành luận văn này Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể các thầy cô trong Khoa Pháp luật Hành chính - Nhà nước và Khoa Đào tạo Sau đại học Trường Đại học Luật Hà Nội đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho em trong suốt quá trình học tập nghiên cứu cho đến khi thực hiện đề tài

luận văn

Học viên thực hiện

Vũ Tú Linh

Trang 3

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Nội dung trong luận văn này là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn trực

tiếp của TS.Trần Thái Dương Các tài liệu tham khảo đã được trích dẫn và nêu

rõ nguồn trong phần danh mục tài liệu tham khảo

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn này

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Vũ Tú Linh

Trang 4

BVMT Bảo vệ môi trường

UNCED Hội nghị Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển ONMT Ô nhiễm môi trường

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3

3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 4

4 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn 5

5 Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn 6

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 6

7 Bố cục của luận văn 7

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN CON NGƯỜI ĐƯỢC SỐNG TRONG MÔI TRƯỜNG TRONG LÀNH 8

1.1.Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quyền con người được sống trong môi trường trong lành 8

1.1.1.Khái niệm quyền con người được sống trong môi trường trong lành 8 1.1.2 Đặc điểm quyền con người được sống trong môi trường trong lành17 1.1.3 Vai trò của quyền được sống trong môi trường trong lành 19

1.2 Nội dung, các yếu tố và cơ chế bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành 22

1.2.1 Nội dung quyền con người được sống trong môi trường trong lành22 1.2.2 Các yếu tố và cơ chế bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành 31

1.3 Quyền con người được sống trong môi trường trong lành theo sự ghi nhận của các văn bản pháp lí quốc tế và pháp luật một số quốc gia 41

Trang 6

1.3.2 Quyền con người được sống trong môi trường trong lành theo sự

ghi nhận trong pháp luật một số quốc gia 47

Kết luận Chương 1 50

CHƯƠNG 2 QUYỀN CON NGƯỜI ĐƯỢC SỐNG TRONG MÔI TRƯỜNG TRONG LÀNH THEO HIẾN PHÁP VIỆT NAM, NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ 51

2.1 Quyền con người được sống trong môi trường trong lành theo Hiến pháp Việt Nam 51

2.1.1 Quyền con người được sống trong môi trường trong lành theo các Hiến pháp trước Hiến pháp năm 2013 51

2.1.2 Quyền con người được sống trong môi trường trong lành theo Hiến pháp năm 2013 và các văn bản luật cụ thể hoá Hiến pháp 57

2.2 Nhận xét và kiến nghị về Quyền con người được sống trong môi trường trong lành theo Hiến pháp Việt Nam 67

2.2.1 Nhận xét về quyền con người được sống trong môi trường trong lành theo Hiến pháp Việt Nam 67

2.2.2 Kiến nghị về bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành theo Hiến pháp năm 2013 75

Kết luận chương 2 83

KẾT LUẬN 84

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, khi điều kiện sống của con người ngày càng được cải thiện, thì nhu cầu về cuộc sống cũng ngày một cao hơn, không chỉ là ăn no mặc ấm,

mà còn đặt ra nhiều yêu cầu khác như chất lượng sống đảm bảo, môi trường sống phải trong sạch về không khí, đất, nước… Ai cũng muốn được sống trong một môi trường tốt cho sức khỏe, sự phát triển bền vững cho những thế

hệ mai sau Đây đồng thời cũng là mục tiêu mà Đảng và Nhà nước ta luôn hướng tới, đề ra những đường lối chính sách, văn bản pháp luật để thực thi và bảo đảm một môi trường trong lành (MTTL) cho con người Tuy nhiên hiện nay, môi trường với những vấn đề như sự nóng lên của trái đất, băng tan, hiệu ứng nhà kính, ô nhiễm môi trường (ONMT) đang là vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và cuộc sống của con người

Ở Việt Nam hiện nay, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thu hút đầu tư một mặt tạo ra nhiều cơ hội hơn cho người lao động, tuy nhiên kéo theo đó là sự xuống cấp nghiêm trọng của môi trường Môi trường sống bị xâm hại là biểu hiện trực tiếp của việc QCN về môi trường đang bị vi phạm Hiến pháp 2013 khẳng định việc khuyến khích mọi hoạt động BVMT, phát triển, sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo, đồng thời thể hiện chủ trương áp dụng chế tài nghiêm khắc đối với các tổ chức, cá nhân gây ONMT, làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên, suy giảm đa dạng sinh học, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước ở hiện tại và tương lai, BVMT, bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, phòng chống thiên tai và ứng phó với vấn

đề biến đổi khí hậu Như vậy, theo Hiến pháp 2013, quyền được sống trong MTTL phải được xem là một trong các nguyên tắc trụ cột và cơ bản của pháp luật môi trường Việt Nam Tuy nhiên, nội dung, phạm vi của quyền này cũng

Trang 8

như việc thực thi quyền trên thực tế như thế nào để đạt được mục đích cải thiện môi trường sống trong lành cho tất cả mọi người lại là vấn đề khá mới

mẻ Trong bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dẫn lời bất hủ trong bản tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776: ―Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc" Quyền được sống trong MTTL chính là biểu hiện sinh động của quyền được sống và quyền mưu cầu hạnh phúc Tuy nhiên, ngày nay hơn bao giờ hết vấn đề bảo vệ MTTL đang bị đe doạ và đứng trước những nguy cơ, hiểm hoạ khó lường.Một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng ô nhiễm, suy thoái môi trường, biến đổi khí hậu là do sự tác động của chính bàn tay con người Vấn đề môi trường hiện đang trực tiếp ảnh hưởng đến cuộc sống,

sự tồn vong và phát triển của con người, tác động đến QCN được hưởng thụ một môi trường trong sạch, an toàn và hoà hợp với thiên nhiên

Xuất phát từ sự nhìn nhận chung đó, tác giả đã lựa chọn vấn đề ―Quyền con người được sống trong môi trường trong lành theo Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013‖ làm đề tài luận văn thạc sỹ luật học, chuyên ngành luật hiến pháp và luật hành chính với mong muốn được đóng góp một phần công sức của mình vào nỗ lực chung của giới nghiên cứu khoa học pháp lí nhằm nâng cao nhận thức về QCN được sống trong MTTL theo quy định của Hiến pháp, phục vụ xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, tuân thủ, thi hành nghiêm các quy định của pháp luật để bảo đảm tốt hơn cho QCN được sống trong MTTL ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay

Trang 9

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Môi trường và QCN là vấn đề không mới và đã được nhiều nhà khoa học quan tâm với những công trình nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau Tuy nhiên, hầu hết các đề tài khoa học, sách chuyên khảo, giáo trình, luận án, luận văn, khóa luận tốt nghiệp, các bài báo khoa học chủ yếu tập trung nghiên cứu về pháp luật bảo vệ môi trường Qua khảo sát tình hình nghiên cứu có thể thấy rằng, vấn đề QCN được sống trong MTTL vẫn còn là vấn đề còn khá mới mẻ ở Việt Nam Đến nay, chỉ có một số ít luận án, luận văn, bài viết, tham luậnkhoa học, tài liệu tập huấn tại một số hội thảo khoa học, tài liệu chung đề cập vấn đề này Trong đó có thể kể đến những công trình tiêu biểu sau đây:

Luận án, luận văn:

- QCN được sống trong MTTL ở Việt Nam, Phạm Thị Tính, Luận án

Tiến sĩ Luật học, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Học viện Khoa học xã hội, 2015

- QCN về môi trường và việc đảm bảo thực hiện ở Việt Nam, Dương

Thị Thanh Hà, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc Gia Hà Nội, Khoa Luật, 2014

- Bảo đảm quyền được sống trong MTTL theo Hiến pháp 2013, Nguyễn

Việt Hải, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc Gia Hà Nội, Khoa luật,

2016

Về các bài báo, tạp chí:

- Mấy góp ý về quyền được sống trong MTTL trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, ThS Bùi Đức Hiển, Tạp chí Nhà nước và pháp luật,

Viện Nhà nước và Pháp luật, số 6/2013, tr.12 - 18

- Tiếp cận quyền trong BVMT, TS Nguyễn Đức Thùy chủ biên, Tài

liệu tập huấn của IUCN Việt Nam, Hà Nội-2012

Trang 10

.- Môi trường với QCN và QCN trong BVMT ở Việt Nam, ThS Phạm

Thị Tính, Tạp chí nghiên cứu Lập pháp số 172, tr.18 - 25

- Quyền được sống trong môi trường trong lành theo Hiến Pháp và các quyền được sống trong môi trường hoàn thiện, thực thi pháp luật môi trường,

ThS Nguyễn Đức Long, Tạp chí Luật học, số 02/2014

Những công trình nêu trên đã đạt được những kết quả quan trọng, cung cấp những tri thức lí luận và thực tiễn cơ bản giúp cho việc tiếp tục nghiên cứu đề này luận văn Tuy nhiên, những công trình trên thường nghiên cứu riêng rẽ các vấn đề liên quan đến bảo đảm QCN được sống trong MTTL, hoặc tiếp cận vấn đề QCN được sống trong MTTL từ góc độ pháp luật BVMT, chưa tiếp cận vấn đề từ góc độ luật hiến pháp, trên cơ sở vai trò của hiến pháp trong việc ghi nhận, bảo đảm QCN được sống trong MTTL

Vì vậy, việc nghiên cứu về QCN được sống trong MTTL theo Hiến pháp và việc bảo đảm thực hiện quyền này ở Việt Nam cũng là một đề tài mang tính mới về nội dung, cách tiếp cận vấn đề và có ý nghĩa nhất định cả về

lý luận và thực tiễn

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn

Các vấn đề lý luận về quyền được sống trong MTTL, thực trạng thực

thi quyền nhằm bảo đảm quyền Hiến định này

3.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Luận văn nghiên cứu các quy định của hiến pháp, pháp luật, các cam kết chính trị, điều ước quốc tế liên quan đến bảo vệ QCN trong lĩnh vực môi trường, các quan điểm chính trị, cơ chế, luật pháp quốc gia, các chương trình mục tiêu quốc gia liên quan đến bảo vệ QCN trong lĩnh vực môi trường và các điều kiện thực thi ở Việt Nam

Trang 11

- Phạm vi không gian: Nghiên cứu tại Việt Nam

- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu chủ yếu trong khoảng thời gian từ khi Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực (từ ngày 01/01/2014) đến nay

- Phạm vi vấn đề (nội dung), góc độ tiếp cận: Tiếp cận theo chuyên ngành luật Hiến pháp, nghiên cứu các vấn đề lí luận về QCN được sống trong MTTL, thực tiễn thi hành Hiến pháp về QCN được sống trong MTTL

4 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

4.1 Mục đích của luận văn

Nghiên cứu góp phần nâng cao nhận thức về QCN được sống trong MTTL theo ghi nhận của Hiến pháp năm 2013, đưa ra một số kiến nghị nhằm bảo đảm QCN được sống trong MTTL đã được hiến định

4.2 Nhiệm vụ

Để đạt được mục tiêu nêu trên, luận văn có các mục nhiệm vụ cụ thể sau

- Phân tích, luận giải để làm rõ những vấn đề lí luận cơ bản về QCN được sống trong MTTL như: khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung, các yếu

tố và cơ chế bảo đảm QCN được sống trong MTTL;

- Nghiên cứu khái quát về QCN được sống trong MTTL theo sự ghi nhận của các văn bản pháp lí quốc tế và pháp luật một số quốc gia;

- Nghiên cứu quá trình hình thành QCN được sống trong MTTL theo lịch sử lập hiến Việt Nam; sự ghi nhận QCN được sống trong MTTL theo Hiến pháp năm 2013 và các đạo luật cụ thể hoá Hiến pháp;

- Đưa ra nhận xét chung và các kiến nghị nhằm bảo đảm QCN được sống trong MTTL đã được hiến định

Trang 12

5 Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin

và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta hiện nay về chính sách, pháp luật BVMT, bảo đảm quyền được sống trong MTTL, bám sát tình hình thực tế và điều kiện tự nhiên, xã hội của Việt Nam

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng, phương pháp thu thập thông tin, phân tích và tổng hợp, thống kê,

so sánh và điều tra tình hình thực tế để đánh giá đúng thực trạng và trên cơ sở

đó nêu ra các giải pháp về bảo đảm quyền được sống trong MTTL theo tinh thần Hiến pháp 2013:

- Phương pháp phân tích, diễn dịch, quy nạp, tổng hợp được sử dụng trong việc nghiên cứu các vấn đề lí luận về QCN được sống trong MTTL như khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung, các yếu tố và cơ chế bảo đảm QCN được sống trong MTTL

- Phương pháp khảo cứu, so sánh, khái quát hoá được sử dụng trong việc nghiên cứu QCN được sống trong MTTL theo sự ghi nhận của các văn bản pháp lí quốc tế và pháp luật một số quốc gia, quá trình hình thành, phát triển của QCN được sống trong MTTL theo lịch sử lập hiến Việt Nam;

- Phương pháp luận giải, phân tích, đánh giá được sử dụng trong việc nghiên cứu việc ghi nhận, bảo đảm QCN được sống trong MTTL trong Hiến pháp năm 2013 và các đạo luật cụ thể hoá Hiến pháp, đưa ra nhận xét và kiến nghị nhằm bảo đảm QCN được sống trong MTTL đã được hiến định ở Việt Nam

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa khoa học

Trang 13

Ý nghĩa khoa học của luận văn là góp phần làm phong phú thêm nhận thức cơ sở lí luận về quyền và bảo đảm thực thi QCN được sống trong MTTL theo Hiến pháp ở Việt Nam hiện nay.

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Ý nghĩa thực tiễn của luận văn là cung cấp các luận cứ khoa học giúp cho thực tiễn hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm bảo đảm QCN được sống trong MTTL ở Việt Nam hiện nay

Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho thực tiễn hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học hoặc hành nghề luật, trong thực tiễn hoạt động giám sát của nhân dân nhằm bảo đảm QCN được sống trong MTTL

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, cấu trúc luận văn bao gồm Chương 1: Những vấn đề chung về quyền được sống trong MTTL Chương 2: QCN được sống trong MTTL theo Hiến pháp Việt Nam, nhận xét

và kiến nghị

Trang 14

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN CON NGƯỜI ĐƯỢC SỐNG

TRONG MÔI TRƯỜNG TRONG LÀNH 1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quyền con người được sống trong môi trường trong lành

1.1.1 Khái niệm quyền con người được sống trong môi trường trong lành 1.1.1.1 Khái niệm môi trường trong lành

Môi trường là khái niệm có nội hàm vô cùng rộng lớn và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau Trong cuộc sống, người ta sử dụng nhiều khái niệm môi trường như môi trường sư phạm, môi trường giáo dục, môi trường

xã hội… Môi trường theo định nghĩa thông thường ―là toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên và xã hội trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong mối quan hệ với con người hay sinh vật ấy‖,1

là ―sự kết hợp toàn bộ hoàn cảnh hoặc điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới sự tồn tại, phát triển của một thực thể hữu cơ‖

Môi trường là nguồn cung cấp các yếu tố cơ bản cho hoạt động sống của con người như: không khí, nước, protein và khoáng chất, đồng thời là nơi tiếp nhận các sản phẩm từ quá trình trao đổi chất trực tiếp của con người Bên cạnh đó môi trường cũng cung cấp các nguồn lực kinh tế như đất, tài nguyên, nước, năng lượng để con người thực hiện các hoạt động sản xuất phục vụ cuộc sống, đồng thời là nơi tiếp nhận các phế thải kinh tế

Môi trường là nguồn thông tin và cảm hứng vô tận cho hoạt động nhận thức và sáng tạo nghệ thuật, đồng thời cũng là đối tượng của hoạt động nghiên cứu và thẩm mỹ của con người

1 Viện ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 1997, tr.618

Trang 15

Môi trường được tạo thành bởi vô số các yếu tố vật chất Trong số đó những yếu tố vật chất tự nhiên như đất, nước, không khí, ánh sáng, âm thanh, các hệ thực vật, hệ động vật có ý nghĩa đặc biệt và quan trọng hơn cả Những yếu tố này được coi là những thành phần cơ bản của môi trường Chúng hình thành và phát triển theo những quy luật tự nhiên vốn có và nằm ngoài khả năng quyết định của con người Con người chỉ có thể tác động tới chúng trong chừng mực nhất định

Môi trường tự nhiên là toàn bộ các điều kiện tự nhiên bao quanh con người và các cơ thể sống khác, giữa chúng có những mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại gắn bó và ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới đời sống cũng như sự phát triển kinh tế - xã hội Cấu trúc của môi trường tự nhiên bao gồm: đất, nước, không khí, hệ sinh thái động thực vật và những điều kiện tự nhiên khác có ảnh hưởng tới đời sống con người Môi trường tự nhiên có phạm vi rộng, khi nghiên cứu về môi trường tự nhiên của con người trong phạm vi trái đất, người ta dựa vào các thành phần để phân ra thành: môi trường đất, môi trường nước, môi trường không khí và môi trường sinh vật Môi trường xã hội

là tổng thể các quan hệ giữa người với người Đó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định ở các cấp khác nhau như: LHQ, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các

tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác nhưng cũng có thể gây cản trở cho sự phát triển của cá nhân hoặc cộng đồng con người Môi trường nhân tạo là toàn bộ các yếu tố do chính con người tạo ra, bao quanh con người, có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến

sự tồn tại và phát triển của con người như: làng mạc, các công trình văn hoá,

hệ thống sông ngòi… do con người tạo nên; là sự tương tác giữa con người

Trang 16

với con người trong đời sống và lao động sản xuất Môi trường nhân tạo có liên quan mật thiết gắn bó hữu cơ với môi trường tự nhiên, chịu sự tác động của môi trường tự nhiên Ba thành phần môi trường này cùng tồn tại, xen lẫn nhau và tương tác chặt chẽ với nhau Các thành phần môi trường luôn chuyển hóa và diễn ra theo chu kỳ Thông thường ở dạng cân bằng động Sự cân bằng này bảo đảm cho sự sống trên trái đất phát triển ổn định Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu về môi trường tự nhiên, do đó, thuật ngữ môi trường sử dụng trong luận văn sẽ được hiểu là môi trường tự nhiên

Bên cạnh những yếu tố vật chất tự nhiên, môi trường còn bao gồm cả những yếu tố nhân tạo Những yếu tố này do con người tạo ra nhằm tác động tới các yếu tố thiên nhiên để phục vụ cho như cầu của bản thân mình, như: hệ thống đê điều, các công trình nghệ thuật, công trình văn hóa kiến trúc mà con người từ thế hệ này sang thế hệ khác dựng nên

Một MTTL, trong sạch là một môi trường đáp ứng được những tiêu chí

cơ bản về nguồn nước, không khí, đất đai… không bị ô nhiễm, suy thoái, gây ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống của con người Theo quy định tại khoản

8 Điều 1 Luật BVMT năm 2014: "ONMT là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật" Trên thế giới, ONMT được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khoẻ con người, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường Các tác nhân ô nhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước thải), rắn (chất thải rắn) chứa hoá chất hoặc tác nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ

Trang 17

Tuy nhiên, môi trường bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước thải), cường độ các tác nhân trên đạt đến mức có khả năng tác động xấu đến con người, sinh vật và vật liệu.

Với những phân tích như trên, có thể rút ra được khái niệm về MTTL như sau: MTTL là môi trường sạch, không bị ô nhiễm, suy thoái, cung cấp điều kiện để con người và sinh vật sống khoẻ mạnh và hài hoà với thiên nhiên Hay nói cách khác đó là môi trường đáp ứng được các tiêu chuẩn môi trường theo quy định của pháp luật Theo khoản 6 Điều 3 Luật BVMT 2014

thì ―Tiêu chuẩn môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được các cơ quan nhà nước và các tổ chức công bố dưới dạng văn bản tự nguyện áp dụng để BVMT” Như vậy,

MTTL theo nguyên tắc đảm bảo QCN được sống trong MTTL được hiểu là môi trường không bị ô nhiễm, đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường theo quy định của pháp luật Có thể thấy, Hiến pháp một mặt ghi nhận quyền của con người được sống trong MTTL, nhưng cùng với đó đã tạo ra một nguyên tắc

có tính hiến định cho toàn bộ hệ thống pháp luật, trong đó có Luật BVMT

1.1.1.2 Định nghĩa khái niệm quyền con người được sống trong môi trường trong lành

Quyền con người (Human rights, Droits de L’Homme) là toàn bộ các quyền, tự do và đặc quyền được công nhận dành cho con người do tính chất nhân bản của nó, sinh ra từ bản chất con người chứ không phải được tạo ra bởi pháp luật hiện hành Đây là những quyền tự nhiên, thiêng liêng và bất khả xâm phạm do đấng tạo hóa ban cho con người như quyền sống, quyền tự do

và mưu cầu hạnh phúc, những quyền tối thiểu của con người mà bất kì chính phủ nào cũng phải bảo vệ nó QCN không những được nhìn nhận trên quan

Trang 18

điểm các quyền tự nhiên (natural rights) mà nó còn được nhìn nhận trên quan điểm các quyền pháp lý (legal rights) Theo đó, ―QCN được hiểu là những bảo đảm pháp lý toàn cầu (universal legal guarantees ) có tác dụng bảo vệ các

cá nhân và các nhóm chống lại những hành động (action) hoặc sự bỏ mặc (omission) mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và sự tự do

cơ bản (fundamental freedoms) của con người‖.2

Ngày nay, QCN được thừa nhận là một khái niệm toàn cầu, được ghi nhận trong tuyên bố của Hội nghị Thế giới về QCN tại Viên (Áo) năm 1993

và các nghị quyết của LHQ đã được thông qua nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày

ra đời của UDHR (năm 1998) Điểm bắt đầu của khái niệm QCN là khái niệm

về phẩm giá vốn có của tất cả các thành viên trong gia đình nhân loại như được ghi nhận trong Tuyên ngôn thế giới về QCN và các công ước quốc tế về QCN năm 1966 Các Công ước này cũng ghi nhận ý tưởng về con người tự do trong việc hưởng quyền tự do khỏi sự sợ hãi, tự do làm điều mong muốn và được hưởng các quyền bình đẳng và không thể chuyển nhượng, có nghĩa là chúng được áp dụng ở khắp nơi và không thể lấy đi

Năm 1977, một luật gia người Séc là Karel Vasak đã đưa ra ý tưởng chia QCN thành ba ―thế hệ‖ :

+ Thế hệ thứ nhất, QCN hướng vào hai vấn đề chính là tự do cá nhân

và tham gia vào đời sống chính trị, bao gồm : quyền dân sự, chính trị, quyền

tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, tự do báo chí, quyền được bầu

cử, ứng cử…

+ Thế hệ thứ hai, QCN được hiểu là quyền của nhóm, hay quyền tập thể, quyền mà liên quan đến hạnh phúc của con người trong toàn xã hội Quyền thế hệ thứ hai được tập trung và thực hiện bởi tất cả mọi người, quyền này bao gồm : quyền được học tập, quyền có việc làm, quyền an sinh xã hội,

2

Khoa Luật Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hỏi đáp về QCN, Nxb CAND, Hà Nội,2010,

Trang 19

quyền có mức sống thích đáng … những quyền này đã được quy định trong công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966 và trong UDHR năm 1948 (từ Điều 23 đến Điều 29)

+ Thế hệ thứ ba, bao gồm các quyền tiêu biểu như quyền tự quyết dân tộc, quyền phát triển, quyền được an toàn, quyền được sống trong MTTL, quyền với các nguồn tài nguyên thiên nhiên, quyền được bình đẳng giữa các thế hệ

Tuy nhiên, cách phân loại trên cũng chỉ là tương đối, chỉ nhằm mục đích nghiên cứu chứ không nhằm mục đích xếp loại ưu tiên hay tầm quan trọng của các QCN Các QCN có mối liên hệ với nhau, tác động lẫn nhau và không thể tách rời, phải được coi trọng như nhau và không có quyền nào quan trọng hơn quyền nào Các QCN có mối tương quan với nhau, quan hệ mật thiết với nhau Nếu một trong các quyền không được đảm bảo, điều đó cũng đồng nghĩa là sự vi phạm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp dây ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo đảm các quyền khác

Tính phù hợp của các định nghĩa hiện có về QCN phụ thuộc vào sự nhìn nhận chủ quan của mỗi cá nhân, tuy nhiên, ở cấp độ quốc tế, định nghĩa của Văn phòng Cao ủy LHQ về QCN thường được trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu

Điều 1 Tuyên ngôn thế giới về QCN (UDHR) đã được LHQ thông qua vào năm 1948 đề cập các trụ cột chính của hệ thống QCN, ví dụ: tự do, bình đẳng và đoàn kết Tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo cũng như tự do quan điểm và tự do biểu đạt đều được QCN bảo vệ Tương tự như vậy, QCN cũng bảo đảm sự bình đẳng, chẳng hạn như bảo vệ quyền bình đẳng chống lại mọi hình thức phân biệt đối xử trong hưởng thụ tất cả các QCN, bao gồm quyền bình đẳng đầy đủ giữa nam và nữ Sự đoàn kết thể hiện trong các

Trang 20

quyền về kinh tế - xã hội, như quyền được hưởng an ninh xã hội, được trả công và có một mức sống đủ, quyền về sức khỏe và tiếp cận giáo dục…3

“Tất cả mọi người sinh ra đều tự do và bình đẳng về phẩm giá và các quyền

Họ cần đối xử với nhau trong tình bác ái”

(Điều 1 Tuyên ngôn thế giới về QCN năm 1948)4

Tóm lại, QCN là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thoả thuận pháp lí quốc tế Theo đó, các quyền cơ bản của con người bao gồm quyền được sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc và quyền được bảo

vệ bình đẳng trước pháp luật

Quyền được sống trong MTTL đó là muốn đề cập quyền của mọi người trong thế hệ hiện tại và tương lai được sống trong MTTL, có lợi cho sức khỏe Quyền được sống trong MTTL đã được ghi nhận từ lâu trong nhiều văn kiện, công ước, điều ước quốc tế như: Tuyên ngôn thế giới về QCN năm 1948; các công ước quốc tế về quyền chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội năm 1966; Tuyên bố Stockholm về các vấn đề môi trường năm 1972; Tuyên ngôn

về môi trường và phát triển năm 1992; tuyên bố Johanesburg về phát triển bền vững năm 2002…

Có hai loại quan điểm về nguồn gốc QCN đối với môi trường Những học giả theo học thuyết về quyền tự nhiên cho rằng, QCN là những gì bẩm sinh, vốn có mà mọi cá nhân sinh ra đều được hưởng, do vậy QCN được sống trong MTTL được hiểu đó là những quyền tự nhiên vốn có của con người, mọi cá nhân đều được hưởng và được áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi người, không có sự phân biệt đối xử với bất kỳ lí do nào và QCN đối với môi

Trang 21

trường không thể được ban phát bởi bất cứ chính phủ nào Quan điểm thứ hai cho rằng, QCN đối với môi trường là các quyền pháp lý, do các nhà nước xác định và pháp điển hóa thành các quy phạm pháp luật Điều đó có nghĩa là phạm vi, giới hạn và thời hạn hiệu lực của các quyền về môi trường phụ thuộc vào ý chí của tầng lớp thống trị và các yếu tố như phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa của các xã hội.5

Tuy nhiên, có thể thấy rằng, quyền về môi trường là một trong những quyền của con người đã được khẳng định trong Tuyên ngôn toàn thế giới về QCN năm 1948 và một số văn kiện pháp luật ở một số quốc gia; Công ước về các dân tộc và bộ lạc bản địa ở các quốc gia độc lập năm 1989; Hiến chương châu Phi về QCN và quyền của các dân tộc và Nghị định thư San Lavador bổ sung Hiến chương châu Mỹ về QCN; Công ước châu Âu về tiếp cận thông tin, sự tham gia của công chúng trong việc ra quyết định và tiếp cận tư pháp

về các vấn đề môi trường năm 1998 (Công ước Aarhus); Tuyên bố Stockholm

về các vấn đề về môi trường năm 1972; Tuyên ngôn về môi trường và phát triển năm 1992… Đó là quyền tự nhiên của các cá nhân, là những gì bẩm sinh, vốn có mà mọi cá nhân sinh ra đều được hưởng, quyền đó không thể chuyển nhượng hay bị tước đoạt bởi bất cứ chủ thể nào

Ngày nay, sống trong MTTL là quyền quan trọng của con người QCN chứa đựng các giá trị chung được cả thế giới ghi nhận và bảo vệ, là quyền tự nhiên và mang tính lịch sử Cùng với sự phát triển của xã hội, các giá trị của QCN ngày càng được mở rộng và bảo vệ Ban đầu, QCN gồm những quyền

cơ bản như quyền được sống, quyền được tự do sau đó, nhiều quyền quan trọng khác cũng được coi là giá trị chung của nhân loại (QCN), trong đó có quyền được sống trong MTTL

5

Đại học Quốc Gia Hà Nội, Khoa Luật, Pháp luật quốc tế và Việt Nam về môi trường với việc bảo vệ QCN,

Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2015

Trang 22

Từ những phân tích trên có thể hiểu quyền được sống trong MTTL là nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được sống trong môi trường trong sạch, thuần khiết, bảo đảm chất lượng với hệ sinh thái cân bằng, không bị ô nhiễm, suy thoái hay sự cố môi trường ảnh hưởng xấu đến tính mạng, sức khỏe và hoạt động bình thường của con người, được pháp luật quốc gia cũng như pháp luật quốc tế ghi nhận và bảo vệ.” Ngoài

ra, khái niệm QCN được sống trong MTTL còn được hiểu là tổng hợp các quy định của Hiến pháp và pháp luật ghi nhận, bảo đảm thực hiện QCN được sống trong MTTL Quyền được sống trong MTTL là quyền tự nhiên của con người, nó sẽ không được đảm bảo nếu không được ghi nhận bằng pháp luật, thông qua pháp luật có nghĩa vụ tôn trọng và bảo đảm thực hiện thì quyền này mới trở thành các quy tắc xử sự bắt buộc chung đối với mọi chủ thể trong xã hội, thay vì chỉ là các quy phạm đạo đức ý thức về môi trường của từng cá nhân

Với ý nghĩa này cho phép chúng ta nhận thức được vai trò của việc ghi nhận quyền con người được sống trong MTTL trong hiến pháp: vừa ghi nhận quyền đồng thời xác định nghĩa vụ của nhà nước và xã hội, vừa tạo ra một nguyên tắc hiến định nhằm bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước

Từ góc độ luật quốc tế, QCN được sống trong MTTL còn là tổng hợp các quy phạm luật quốc tế (toàn cầu và khu vực) ghi nhận, bảo đảm quyền

CN được sống trong MTTL đây là tiêu chuẩn của cộng đồng quốc tế ràng buộc đối với các quốc gia là thành viên của các điều ước quốc tế Pháp luật quốc gia phải phù hợp với tiêu chuẩn pháp lí quốc tế như cam kết của các quốc gia Trong điều kiện hội nhập hiện nay, nhìn nhận QCN từ góc độ luật quốc tế có ý nghĩa hết sức quan trọng

Trang 23

1.1.2 Đặc điểm quyền con người được sống trong môi trường trong lành

Đặc điểm về chủ thể có quyền: Hiến pháp 2013 quy định ―Mọi người

có quyền được sống trong MTTL …‖ Quy định này cho thấy, chủ thể có

―quyền được sống trong MTTL‖ được xác định là mọi người Điều đó có nghĩa là không chỉ công dân Việt Nam mà còn tất cả những người khác (người nước ngoài: người có quốc tịch nước khác và người không có quốc tịch) ở Việt Nam đều ―có quyền được sống trong MTTL‖ Đó là quyền dành cho mọi người (QCN), không phải chỉ là quyền công dân

Đặc điểm về chủ thể có nghĩa vụ đảm bảo thực hiện: Hiến pháp 2013 không chỉ quy định quyền của mọi người ―được sống trong MTTL‖ mà đồng thời còn quy định mọi người ―có nghĩa vụ BVMT‖ Để góp phần đảm bảo MTTL thì việc quy định mọi người có nghĩa vụ BVMT là cần thiết vì phần lớn môi trường sống bị hủy hoại là do hoạt động của con người như khai thác tài nguyên thiên nhiên để sản xuất công nghiệp, đô thị hóa, chất thải công nghiệp, chất thải y tế, chất thải sinh hoạt…

Tuy nhiên, Điều 43 (và Chương II Hiến pháp năm 2013 quy định về QCN, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân), không quy định về chủ thể có nghĩa vụ đảm bảo cho mọi người thực hiện ―quyền được sống trong MTTL‖

Vì vậy, câu hỏi được đặt ra ở đây là: chủ thể nào có nghĩa vụ đảm bảo cho mọi người thực hiện ―quyền được sống trong MTTL

Ngoài quy định nêu trên, Hiến pháp năm 2013 còn có các quy định khác liên quan đến việc xác định chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm thực hiện quyền của mọi người được sống trong MTTL Cụ thể là Hiến pháp năm 2013 còn quy định Nhà nước ―có chính sách BVMT; quản lý, sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh

Trang 24

học; chủ động phòng chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu‖,6

―khuyến khích mọi hoạt động BVMT, phát triển sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo‖ 7

Ngoài Nhà nước, Hiến pháp 2013 còn quy định tổ chức, cá nhân

―gây ONMT, làm suy giảm đa dạng sinh học phải bị xử lý nghiêm và có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại‖.8

Đặc điểm về phạm vi nội dung quyền: Là một quyền thuộc thế hệ thứ

3, đặc điểm các quyền này là hướng đến từng nhóm xã hội có tính đặc thù như : quyền tự quyết dân tộc, quyền phát triển, quyền được sống trong hòa bình, quyền được sống trong MTTL… Việc thực hiện những quyền này đòi hỏi xây dựng một cộng đồng gắn bó, đoàn kết, hướng tới hợp tác dài lâu Trong việc hưởng thụ các quyền, mỗi cá nhân đều không thể sống thiếu các yếu tố của môi trường như nước sạch, bầu không khí hít thở, đất đai để cư trú và lương thực để duy trì cuộc sống Đây là nhu cầu cơ bản và thiết yếu của con người, không thể bị hạn chế hay tước đoạt bởi bất kỳ chủ thể nào và vì bất cứ

lý do gì Quyền con người được sống trong MTTL là một quyền có phạm vi rộng lớn, bao hàm nhiều nội dung liên quan đến các lĩnh vực khác nhau Quyền được sống trong MTTL không chỉ đơn thuần có một nội dung mang tính thụ động là được hưởng MTTL mà còn liên quan đến nhiều nội dung mang tính chủ động tích cực của các thành viên trong cộng đồng xã hội, chẳng hạn quyền tiếp cận thông tin về môi trường, quyền được tham gia xây dựng chính sách bảo vệ môi trường, quyền khiếu nại, tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, quyền giám sát các hoạt động bảo vệ môi trường, quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp về môi trường, quyền khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại về môi trường Vì vậy có thể thấy, QCN được sống trong MTTL vừa là quyền của một cá nhân, vừa là quyền của cả cộng

6 Khoản 1 Điều 63 Hiến pháp năm 2013

7 Khoản 2 Điều 63 Hiến pháp năm 2013

8 Khoản 3 Điều 63 Hiến pháp năm 2013

Trang 25

đồng xã hội, có sự liên kết liên ngành và đa ngành rộng lớn Với tính chất vừa

là quyền đồng thời vừa là nghĩa vụ thực hiện, con người được hưởng quyền sống trong MTTL, được Nhà nước đảm bảo các điều kiện tốt nhất về môi trường Tuy nhiên, việc được hưởng các quyền đó đồng thời gắn liền chặt chẽ với nghĩa vụ bảo vệ môi trường trong sạch, trong lành Mọi cá nhân hay tập thể đều có nghĩa vụ bảo vệ, có trách nhiệm ngăn ngừa sự phá hoại môi trường bởi các tác nhân xấu, sử dụng đúng mực các tài nguyên thiên nhiên môi trường, nâng cao chất lượng môi trường vì cuộc sống của thế hiện hiện tại và các thế hệ tương lai Việc bảo vệ môi trường là một trong những công cụ thiết yếu để bảo đản việc thực hiện QCN QCN không thể được bảo đảm trong một môi trường ô nhiễm và suy thoái, các quyền cơ bản cho cuộc sống con người

sẽ bị đe dọa bởi sự sói mòn đất đai, nạn phá hủy rừng bừa bãi, nguồn nước bị

ô nhiễm nặng nề… ONMT tác động trực tiếp đến việc hưởng thụ quyền của tất cả mọi người Mọi người đều phải chịu trách nhiệm đối với những hành động của mình gây hại đến thiên nhiên Con người cần phải tự ý thức được trách nhiệm bảo vệ môi trường Vì một MTTL là điều kiện sống của tất cả mọi người, không phải của riêng ai, dó đó bảo vệ cho môi trường trong lành sạch sẽ cũng chính là tự bảo vệ quyền hưởng thụ của chính mình

1.1.3 Vai trò của quyền được sống trong môi trường trong lành

Lịch sử cho thấy, con người và môi trường có mối quan hệ mật thiết, không thể tách rời Cách đây 4 triệu năm, loài người sống dựa vào việc hái lượm quả rừng, săn bắt thú để làm thức ăn, trú ẩn trong các hang động Trải qua quá trình tiến hóa, con người nhận thức được các quy luật của tự nhiên và tiến hành các hoạt động cải tạo để phù hợp với nhu cầu phát triển của mình

Chính vì thế, Ph Ăngghen đã từng nhận định rằng: ―Chúng ta hoàn toàn không thống trị được giới tự nhiên như một kẻ xâm lược thống trị một dân tộc

Trang 26

khác, như một người sống bên ngoài giới tự nhiên, mà trái lại, bản thân chúng ta, với cả xương thịt, máu mủ và đầu óc chúng ta là thuộc về giới tự nhiên, chúng ta, nằm trong lòng giới tự nhiên và tất cả sự thống trị của chúng

ta đối với giới tự nhiên là ở chỗ chúng ta, khác với tất cả các sinh vật khác, là chúng ta nhận thức được quy luật của giới tự nhiên và có thể sử dụng được những quy luật đó một cách chính xác‖.9

Tuy nhiên, xã hội hiện đại phát triển nhanh chóng, lợi nhuận và giá trị vật chất đã khiến cho mối quan hệ hài hòa giữa con người và tự nhiên bị thay đổi ONMT, suy thoái tài nguyên, sự cố môi trường… là những cụm từ được nhắc đến nhiều hơn trên các diễn đàn quốc tế với thái độ quan ngại sâu sắc từ các quốc gia Hơn bao giờ hết, quyền được sống trong MTTL, sạch đẹp, thuần khiết của con người là một yêu cầu cấp thiết và cần được quan tâm đúng mức trước khi quá muộn Do vậy, vấn đề sống trong MTTL đã thực sự được đặt ra cấp bách ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là Việt Nam khi đang tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Một trong những yếu tố chính thúc đẩy sự ra đời và thực thi luật môi trường, QCN được sống trong MTTL là báo động về ô nhiễm, suy thoái và khủng hoảng môi trường toàn cầu, có nguyên nhân chính từ hoạt động sống hiện nay của con người Đó là những thay đổi về khí hậu, suy giảm tầng ôzôn, phá rừng, suy giảm đa dạng sinh học, suy giảm và suy thoái nguồn nước, cạn kiệt tài nguyên do khai thác liên tục, a xít hóa, ô nhiễm và sa mạc hóa Ngược lại, con người chịu tác động trực tiếp của thay đổi đó đến đời sống văn hóa,

xã hội, kinh tế và chính trị Trong số những hậu quả ấy có: thiếu thốn về nguồn nước, lương thực, lụt lội, hạn hán; những nguy cơ về sức khỏe và những xung đột về tài nguyên nước, bất ổn xã hội do khai thác tài nguyên

9 Xem: C Mác và Ph Ăng-ghen: Toàn tập, Sđd, t 20, tr 654-655

Trang 27

thiên nhiên liên tục dẫn đến việc tước đoạt quyền của các cộng đồng dân cư đối với tài nguyên

Những tác động của ONMT và biến đổi khí hậu đến phát triển con người đang là vấn đề đặt ra cho các nhà hoạch định và thực thi chính sách của từng quốc gia về QCN đối với môi trường cũng như trên quy mô toàn cầu Trong khi đó, nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của con người là phải nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm quyền được sống trong MTTL, bảo đảm sức khỏe Do vậy, cộng đồng thế giới thừa nhận môi trường chính là vấn đề của QCN

Sự gắn kết giữa QCN được sống trong MTTL thể hiện khá rõ trong việc bảo đảm thực hiện các quyền, như: quyền đối với sức khỏe, thịnh vượng

và phát triển của mỗi cá nhân, quyền của nhóm và cộng đồng xã hội… Một thực tế là, các QCN không thể thực hiện được nếu môi trường không được bảo đảm Môi trường có liên quan và tác động trực tiếp tới việc hưởng thụ quyền của mỗi cá nhân và cộng đồng Việc bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường là nhu cầu thiết yếu để bảo vệ cuộc sống con người, là điều kiện tiên quyết bảo vệ nhân phẩm con người, tạo ra đặc tính thúc đẩy phúc lợi cho mỗi cá nhân, tập thể và cả cộng đồng Nếu môi trường sống bị ô nhiễm sẽ tác động trực tiếp đến sức khỏe, ảnh hưởng tới cuộc sống và chất lượng sống của mỗi cá nhân, cùng với đó là tác động xấu đến sự phát triển của các thế hệ tương lai

Có thể thấy, nỗ lực ghi nhận quyền được sống trong MTTL vào Hiến pháp hiện hành cho thấy sự thay đổi trong tư duy lập pháp, sự nhìn nhận vào thực tế trước khi quá muộn của cả hệ thống chính trị nước ta đối với vấn đề môi trường và duy trì chất lượng cuộc sống của con người Với tính cách là sự ghi nhận trong Hiến pháp, quyền con người được sống trong MTTL tạo ra nền tảng hiến định, một nguyên tắc có tính tối cao trong hệ thống pháp luật,

Trang 28

xác định mục đích, phương hướng phát triển của toàn bộ hệ thống pháp luật

về bảo đảm quyền con người và pháp luật bảo vệ môi trường Mặt khác, việc ghi nhận nội dung quyền này vào Hiến pháp được đánh giá là tiệm cận được với tư duy tiến bộ của pháp luật thế giới, thể hiện rõ quan điểm của Việt Nam trong việc tiếp tục thúc đẩy các hoạt động BVMT ngày càng có hiệu quả hơn

1.2 Nội dung, các yếu tố và cơ chế bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành

1.2.1 Nội dung quyền con người được sống trong môi trường trong lành

QCN được sống trong MTTL thực chất là một tập hợp các QCN liên quan đến quyền hưởng thụ và quyền tham gia BVMT (để bảo đảm quyền cho mình và mọi người) Được sống trong MTTL không chỉ có ý nghĩa là sự hưởng thụ một cách thụ động với những điều kiện tối thiểu mà quan trọng là sống với điều kiện phát triển tốt về mọi mặt (sống với niềm hạnh phúc và phát triển, tiến bộ), đối với môi trường, được tiếp cận thông tin môi trường, tham gia các chương trình, kế hoạch, biện pháp BVMT…

Trong bản Dự thảo Tuyên ngôn, các thành phần thiết yếu của QCN đối với môi trường đã được tuyên bố một cách toàn diện Đây là văn kiện quan trọng thiết lập các chuẩn mực quốc tế về QCN với môi trường và phản ánh sự phát triển hướng tới sự công nhận và bảo đảm quốc tế đối với các quyền về môi trường Dự thảo Tuyên ngôn gồm 27 điểm Lời nói đầu nhấn mạnh quyền

tự quyết và quyền phát triển và sự gắn kết giữa môi trường và QCN: ―sự vi phạm QCN dẫn tới sự xuống cấp của môi trường và sự xuống cấp của môi trường dẫn tới sự vi phạm QCN‖ 4 nguyên tắc QCN về môi trường bao gồm các khẳng định về sự phụ thuộc lẫn nhau và không chia cắt của QCN, môi trường phát sinh, phát triển bền vững và hòa bình; khẳng định quyền bình đẳng của con người đối với môi trường an toàn, sức khỏe và môi trường sinh

Trang 29

thái; Khẳng định quyền không phân biệt đối xử liên quan tới các hành động

và quyết định có tác động tới môi trường; nguyên tắc về tính công bằng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ hiện nay và mai sau10

Tuy Dự thảo chưa được thông qua chính thức nhưng có ý nghĩa định hướng tư tưởng rất lớn trong việc ghi nhận và bảo đảm QCN được sống trong MTTL ở các quốc gia

Trên cơ sở tham khảo Dự thảo Tuyên ngôn về nguyên tắc và các QCN với môi trường, căn cứ vào những điều kiện cụ thể của Việt Nam, tác giả đưa

ra nội dung của QCN được sống trong MTTL được quy định tại Điều 43 Hiến pháp gồm:

+ Quyền được sống trong môi trường không bị ô nhiễm với chất lượng phù hợp với cuộc sống của con người

Đây là quyền mang tính hạt nhân của quyền được sống trong MTTL Quyền được sống trong môi trường không bị ô nhiễm không chỉ bó hẹp trong phạm vi nơi ở mà còn trong cả những hoạt động khác của cuộc sống con người như hoạt động lao động, có được thực phẩm, nguồn nước bảo đảm vệ sinh, an toàn cho sức khoẻ con người… Từ đây, bảo đảm quyền được sống trong môi trường không bị ô nhiễm của người dân là trách nhiệm của Nhà nước, của mọi tổ chức và cá nhân Theo đó, Nhà nước có trách nhiệm xây dựng, hoàn thiện và thực thi pháp luật BVMT nhằm kiểm soát để hạn chế hoặc loại trừ nguyên nhân gây ONMT, gây ảnh hưởng tới đời sống của con người Trong trường hợp có hành vi xâm hại tới quyền được sống trong môi trường không bị ô nhiễm, Nhà nước cần có biện pháp thích hợp để loại trừ những hành vi này thông qua các quy định cấm hoặc xử lí vi phạm pháp luật

10 Nội dung các QCN đối với môi trường bao gồm: Các quyền thiết yếu (substantive rights) – Quyền của mọi người được sống trong môi trường không bị ô nhiễm; Quyền được bảo vệ và bảo tồn không khí, đất trồng, nước, biển, thực vật, động vật và sở hữu; Quyền thực phẩm, nước sạch vệ sinh, an toàn và sức khỏe từ môi trường; Quyền có môi trường lao động bảo đảm sức khỏe và an toàn; Quyền nhà ở tối thiểu, đất đai, điều kiện sống an toàn; Quyền được hưởng lợi một cách công bằng từ việc bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên

Đào Thị Minh Hương - Nghiên cứu con người, 2/2011, tr.15-23

Trang 30

+ Quyền được bảo vệ và bảo tồn không khí, đất trồng, nước, biển, thực vật, động vật, các quy trình thiết yếu và những khu vực cần thiết để duy trì sự

đa dạng sinh học và hệ sinh thái

Bầu không khí không bị ô nhiễm có thể hiểu là không khí sạch, đạt chuẩn, để con người và sinh vật có thể sống thoải mái, khỏe mạnh Quyền được sống trong bầu không khí không bị ô nhiễm cần được tôn trọng và bảo

vệ, vì ô nhiễm không khí không chỉ tổn thất cho phát triển kinh tế, phá hủy các thành tựu tăng trưởng, dẫn tới gia tăng nghèo đói, mà còn gây nhiều bệnh tật nguy hiểm, tổn hại sức khỏe và đe dọa tính mạng của con người Ô nhiễm không khí là tác nhân nguy hiểm nhất đối với sức khỏe con người Tháng 10/2013, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã xếp ô nhiễm không khí là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây bệnh ung thư ở người Quyền được sống trong một môi trường không bị ô nhiễm, có một bầu không khí đạt chuẩn và bảo đảm cho sức khỏe gắn bó chặt chẽ với trách nhiệm của nhà nước trong quản lý, sử dụng môi trường Nhà nước có nghĩa vụ quản lý (khai thác, sử dụng, bảo vệ và cải thiện) bầu không khí hiệu quả Cần có vai trò quản lý nhà nước để điều chỉnh hành vi của tất cả mọi thành viên, cá nhân và

tổ chức trong một cộng đồng Nhà nước bằng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, với việc nghiêm cấm các hành vi gây ô nhiêm không khí cũng như các chế tài

xử lý và với bộ máy thanh, kiểm tra của mình để buộc mọi cá nhân và tổ chức phải chấp hành pháp luật, có những hành động tôn trọng và BVMT khí quyển

Quyền tiếp cận nước sạch bảo đảm rằng mọi người có thể tiếp cận với nguồn cung cấp nước một cách đầy đủ, an toàn, có thể chấp nhận và chi trả được cho cuộc sống của cá nhân và gia đình Được cấp nước sạch một cách thích đáng là điều kiện cần thiết để chống lại nguy cơ tử vong do việc nhiễm trùng, giảm nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến nước và cung cấp nước cho việc tiêu thụ, nấu nướng, cũng như cho các nhu cầu vệ sinh cá nhân và các hộ

Trang 31

gia đình Ủy ban quyền kinh tế, xã hội cho rằng, khả năng cung cấp nước cho người dân là khác nhau, phụ thuộc vào điều kiện của mỗi quốc gia, tuy nhiên những tiêu chuẩn sau đây cần phải được áp dụng: Bảo đảm tính sẵn có: Việc cung cấp nước cho người dân phải liên tục và đủ cho nhu cầu sử dụng của cá nhân và mỗi gia đình Những nhu cầu này, trước hết bao gồm nước uống, nước dùng để vệ sinh cá nhân, giặt quần áo, nấu ăn, và vệ sinh cho gia đình Lượng nước cung cấp cho mỗi người phải phù hợp với các hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới Bảo đảm chất lượng: Nước dùng cho mỗi cá nhân và gia đình phải an toàn, không chứa các vi chất, hợp chất hóa học nguy hiểm đến sức khỏe con người Hơn nữa, nước dùng cho cá nhân và gia đình phải có màu, mùi, vị chấp nhận được Có thể tiếp cận được: Mọi người, không có bất

kỳ sự phân biệt đối xử nào, theo pháp luật của quốc gia thành viên, đều có thể tiếp cận với nước, các điều kiện và dịch vụ về nước

Đất đai là một nguồn lực tự nhiên quan trọng bậc nhất đối với sinh kế bền vững ở nông thôn Có một mối quan hệ mật thiết và trực tiếp giữa tiếp cận đất đai và sinh nhai sinh kế Nhưng thực tế cho thấy vẫn tồn tại sự bất bình đẳng trong tiếp cận đất đai Nguyên nhân xuất phát từ hoạt động quản lý,

sử dụng đất không hiệu quả, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Ở Việt Nam, đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân Từ đầu những năm 80, Việt Nam bắt đầu làm rõ các vấn đề sở hữu, quản lý và sử dụng đất đai trong hệ thống chính sách và pháp luật về đất đai Điểm nổi bật của cấu trúc đất đai mới là việc phân định ba loại quyền đất đai cơ bản do các thực thể khác nhau nắm giữ: quyền sở hữu thuộc về toàn dân, quyền quản lý của nhà nước và quyền

sử dụng được giao cho cá nhân, hộ gia đình, tổ chức và cộng đồng

Các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học và các hệ sinh thái cần phải được bảo đảm cho việc duy trì các điều kiện sống trong MTTL của người dân thế hệ hiện tại và tương lai Bởi vậy, bên cạnh việc chú trọng hoạch

Trang 32

định chính sách, pháp luật về khai thác tài nguyên, đa dạng sinh học, Nhà nước còn phải chú trọng một cách thích đáng tới việc bảo vệ và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học nhằm duy trì và cải thiện chất lượng môi trường sống của con người Ngoài ra, Nhà nước cũng cần bảo đảm cho người dân được hưởng lợi một cách công bằng từ việc bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học

+ Quyền được trợ giúp khắc phục hậu quả liên quan tới thảm hoạ tự nhiên hay thảm hoạ do con người gây ra

Các thảm hoạ tự nhiên và thảm hoạ do con người gây ra có thể tàn phá môi trường sống của con người, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới cuộc sống của người dân Những người bị ảnh hưởng bởi thảm hoạ tự nhiên hay thảm hoạ do con người gây ra là những người yếu thế trong xã hội Do đó, Nhà nước cần phải có những biện pháp trợ giúp thích đáng nhằm bảo đảm cuộc sống và môi trường sống trong lành cho họ

Khung pháp lý của nhà nước về chính sách hỗ trợ khắc phục thiệt hại

về thiên tai tương đối toàn diện Nhà nước có chính sách quy định cụ thể các đối tượng chịu thiệt hại được hỗ trợ, các biện pháp và mức độ hỗ trợ, hỗ trợ dân sinh, hỗ trợ khôi phục sản xuất và vận động cứu trợ nạn nhân bị thiên tai Cách hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai mang tính từ ―trên xuống‖, rõ ràng, theo cách này chính quyền đã ứng phó nhanh chóng và kịp thời, hạn chế tổn thất tối đa về người và tài sản, nhất là không để nạn đói xảy ra sau thiên tai

Thời gian qua, chính sách tài chính liên quan tới biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai được ban hành đã kịp thời như: Chính sách thuế và các khoản thu Ngân sách nhà nước đối với các hoạt động gây biến đổi khí hậu và

có nguy cơ gây ra các sự kiện thiên tai; Các chính sách hỗ trợ, đầu tư đối với các công trình phòng chống thiên tai để ứng phó giảm nhẹ thiệt hại thiên tai;

Trang 33

Chủ động hợp tác quốc tế để tranh thủ sự ủng hộ, tài trợ cũng như vận động các nguồn lực bên ngoài cho ứng phó với thiên tai

Những chính sách tài chính nhằm phòng, chống, khắc phục rủi ro thiên tai được thực hiện kịp thời, đúng chế độ, chính sách đã phần nào đáp ứng được việc hỗ trợ giảm thiểu rủi ro thiên tai, giảm thiểu tổn thất về tài sản cũng như đảm bảo sức khỏe và tính mạng cho người dân Từ đó cho thấy sự quan tâm sâu sắc của Nhà nước đến QCN về sức khỏe và tính mạng, cũng như quan tâm đến vấn đề môi trường không bị thiệt hại, đảm bảo một cuộc sống

ổn định cho người dân

+ Quyền tiếp cận thông tin liên quan tới môi trường

Quyền tiếp cận thông tin được Hội nghị LHQ về môi trường và phát triển năm 1992 xác định là một trong những điều kiện để bảo đảm QCN được sống trong MTTL Nguyên tắc 10 của Tuyên bố Rio de Janeiro năm 1992 ghi nhận: ―Vấn đề môi trường phải được giải quyết một cách tốt nhất với sự tham gia của tất cả các cá nhân liên quan, ở cấp độ thích hợp Cấp độ quốc gia, mỗi

cá nhân sẽ được tiếp cận thông tin thích hợp liên quan đến môi trường do các

cơ quan công quyền lưu giữ, bao gồm cả thông tin về các chất và hoạt động nguy hiểm trong cộng đồng của họ và có cơ hội được tham gia trong quá trình ban hành các quyết định…‖

Trong nhiều trường hợp, chất lượng thực sự của môi trường chỉ được phát hiện thông qua các điều tra, khảo sát mang tính khoa học chuyên ngành với chi phí tốn kém Vì người dân nhiều khi không phát hiện được nguy cơ ảnh hưởng xấu của môi trường đối với sức khoẻ và cuộc sống Do đó, đảm bảo quyền được tiếp cận thông tin môi trường một cách thuận lợi và minh bạch sẽ giúp người dân biết được mức độ đáp ứng của chất lượng môi trường đối với cuộc sống của con người và có những hành vi phù hợp nhằm buộc các chủ thể có liên quan (cơ quan nhà nước, đối tượng gây ONMT) phải giải

Trang 34

quyết tình trạng môi trường bị ô nhiễm Quyền tiếp cận thông tin được hiểu là người dân có quyền được cung cấp thông tin và được yêu cầu cung cấp thông tin Khi đó, cơ quan nhà nước và các chủ thể có liên quan có nghĩa vụ cung cấp thông tin theo quy định của pháp luật và theo yêu cầu của người dân

+ Quyền được tham gia trong việc lập kế hoạch và ban hành quyết định

có liên quan đến vấn đề phát triển kinh tế-xã hội và BVMT

Theo Tuyên bố Rio, sự tham gia của dân chúng bao gồm cả các quy định về sự tham gia của các thành phần dân cư khác nhau, như phụ nữ (Nguyên tắc 20), thanh niên (Nguyên tắc 21), người bản xứ và cộng đồng địa phương (Nguyên tắc 22) Sự tham gia của công chúng cũng được nhấn mạnh trong chương trình nghị sự 21 và khẳng định là một trong những điều kiện tiên quyết cơ bản để đạt được sự phát triển bền vững là sự tham gia rộng rãi của công chúng trong việc ban hành quyết định sự tham gia của công chúng trong các kế hoạch, các chương trình và chính sách liên quan đến môi trường (Điều 7); sự tham gia của công chúng trong quá trình chuẩn bị điều chỉnh các luật hoặc các văn bản quy phạm có tính ràng buộc pháp lý có thể áp dụng chung (Điều 8)

Quyền tiếp cận thông tin là một trong 3 quyền cơ bản được nhắc đến trong Nguyên tắc 10 của Tuyên bố Rio-92 và được khẳng định lại tại Hội nghị Thượng đỉnh về Phát triển bền vững tại Johanesburg năm 2002 Có bảo đảm được quyền tiếp cận thông tin của công chúng thì Nhà nước mới huy động được sự tham gia rộng rãi của nhân dân trong BVMT, mà sự tham gia của công chúng là một trong những yếu tố quyết định thành công của công tác BVMT và phát triển bền vững đất nước Nguyên tắc 10 đã nêu tầm quan trọng của các quyền của công chúng tiếp cận thông tin về môi trường, tham gia vào các quyết định về môi trường và tiếp cận tư pháp Năm 2002, các

Trang 35

nước trên thế giới đã tái khẳng định cam kết thực hiện nguyên tắc này tại Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về Phát triển bền vững tại Johannesburg

Việc tham gia của người dân vào quá trình lập và ra các quyết định, chính sách phát triển kinh tế-xã hội và BVMT bảo đảm cho người dân thể hiện nguyện vọng, quan điểm và nhu cầu về chất lượng môi trường sống của mình Bên cạnh đó, sự tham gia thực chất của người dân vào việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế-xã hội và BVMT cũng tránh được việc ban hành những quyết sách ―độc đoán‖, thiên vị đối với những nhóm lợi ích ―không chính đáng‖

Để quyền này được thực hiện, Nhà nước phải có những quy định nhằm bảo đảm sự tham gia thực chất của người dân, của tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp đại diện cho lợi ích môi trường của người dân trong quá trình hoạch định chính người dân nhiều khi không phát hiện được nguy

cơ ảnh hưởng xấu của môi trường đối với sức khoẻ và cuộc sống Do đó, đảm bảo quyền được tiếp cận thông tin môi trường một cách thuận lợi và minh bạch sẽ giúp người dân biết được mức độ đáp ứng của chất lượng môi trường đối với cuộc sống của con người và có những hành vi phù hợp nhằm buộc các chủ thể có liên quan (cơ quan nhà nước, đối tượng gây ONMT) phải giải quyết tình trạng môi trường bị ô nhiễm Quyền tiếp cận thông tin được hiểu là người dân có quyền được cung cấp thông tin và được yêu cầu cung cấp thông tin Khi đó, cơ quan nhà nước và các chủ thể có liên quan có nghĩa vụ cung cấp thông tin theo quy định của pháp luật và theo yêu cầu của người dân

Bảo đảm quyền tham gia của công chúng trong việc ban hành các quyết định về môi trường: Các quyết định có liên quan tới môi trường sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sức khỏe cộng đồng dân cư, trước hết là những người sinh sống xung quanh Vì vậy, sự tham gia của dân chúng, có tiếng nói của dân chúng sẽ làm cho các quyết định, chính sách về môi trường trước khi ban

Trang 36

hành giảm thiểu sai sót và được sự ủng hộ của dân chúng Có tiếng nói đồng thuận thì dân chúng dễ dàng tiếp nhận và thực hiện chính sách

Quyền tiếp cận thông tin là quyền quan trọng của con người được ghi nhận trong nhiều văn kiện quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập, như: UDHR ; Công ước quốc tế quyền con người về chính trị và dân sự; Công ước quốc tế về quyền trẻ em; Chương trình hành động chống tham nhũng dành cho châu Á và khu vực châu Á - Thái Bình Dương Là Nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa, Việt Nam cũng ghi nhận quyền được thông tin của công dân trong Hiến pháp 2013 và Luật Tiếp cận thông tin 2016

+ Quyền được tiếp cận tư pháp về môi trường

Quyền tiếp cận tư pháp được nêu trong Nguyên tắc 13 của Tuyên bố Rio-92: các nước cần soạn thảo luật quốc gia về trách nhiệm pháp lý và bồi thường cho những nạn nhân của sự ô nhiễm và tác hại môi trường khác Quyền tiếp cận tư pháp là thủ tục quan trọng giúp công dân tìm kiếm sự hỗ trợ của luật pháp khi quyền tiếp cận của họ bị từ chối hay trong trường hợp quyền và lợi ích của họ bị xâm phạm và cụ thể có thiệt hại do tác động của môi trường gây ra Việc thực hiện quyền tiếp cận tư pháp của công chúng rất quan trọng vì nó giúp cho công chúng được quyền có tiếng nói của mình trong quá trình xử lý các vi phạm hoặc đền bù thiệt hại về môi trường

Điều 63 Hiến pháp Việt Nam quy định: ―Tổ chức, cá nhân gây ONMT, làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên và suy giảm đa dạng sinh học phải bị xử lý nghiêm và có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại‖ Luật BVMT 2014

quy định trách nhiệm pháp lý đối với tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về

BVMT, ‖ (Điều 160) Hay: ―Tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại, khởi kiện

về hành vi vi phạm pháp luật BVMT theo quy định của pháp luật‖ (Điều 162)

khi: Quyền tiếp cận thông tin về môi trường bị từ chối hoặc bị vi phạm, Quyền tham gia vào hoạt động BVMT bị từ chối hoặc bị vi phạm hoặc trường

Trang 37

hợp đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường Có thể thấy, các quy định về quyền tiếp cận tư pháp đã được Hiến pháp và luật BVMT Việt Nam ghi nhận tương đối đầy đủ Tuy nhiên, các quy định mới ở dạng các nguyên tắc chung, khó triển khai thực hiện, giữa lý luận và thực hiện còn khoảng cách khá xa

+ Quyền được khiếu nại, tố cáo, bồi thường và đền bù thiệt hại liên quan tới môi trường

Thực hiện có hiệu quả quyền khiếu nại, tố cáo về môi trường của người dân sẽ buộc các chủ thể gây ONMT phải chấm dứt hành vi gây ô nhiễm và phải chịu trách nhiệm về tình trạng ONMT do họ gây ra Bên cạnh việc xác định trách nhiệm của Nhà nước phải bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo về môi trường của người dân, pháp luật cũng cần xác định trách nhiệm, nghĩa vụ của Nhà nước, của tổ chức, cá nhân gây ONMT phải khôi phục chất lượng môi trường bị ô nhiễm nhằm tạo lập lại chất lượng môi trường sống của con người

Quyền được bồi thường và đền bù thiệt hại mội cách có hiệu quả liên quan đến môi trường nhằm tạo lập sự bình đẳng, bảo đảm bù đắp một cách tương xứng những thiệt hại do hành vi của các tổ chức, cá nhân gây ra cho môi trường, cho tính mạng, sức khoẻ của người dân

1.2.2 Các yếu tố và cơ chế bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành

Bảo vệ và thúc đẩy QCN trước hết là trách nhiệm và nghĩa vụ của các nhà nước, song cũng là quyền và trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân Điều này đã được nêu trong Tuyên bố của LHQ về trách nhiệm bảo vệ QCN của mọi cá nhân, tổ chức Ngoài ra các văn kiện pháp lý quốc tế khác cũng đều ghi nhận nội dung này Hiện nay, bảo vệ và thúc đẩy QCN đã được ghi nhận trong Hiến pháp và được nội luật hóa trong các văn bản pháp luật chuyên

Trang 38

ngành của hầu hết các quốc gia trên thế giới Việc xác định các quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan là rất quan trọng để bảo đảm hiện thực hóa các QCN trên thực tế Tuy nhiên, ngay cả khi xác định được các quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của các chủ thể thì việc bảo vệ và thúc đẩy các QCN vẫn có thể chưa hiệu quả nếu không thiết lập được các cơ chế cho việc thực thi các quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ đó

1.2.2.1 Các yếu tố đảm bảo quyền được sống trong môi trường trong lành

Để đảm bảo QCN được sống trong MTTL được đi vào thực tiễn hoạt động, các quốc gia phải tuân thủ 3 nguyên tắc cơ bản là tôn trọng, bảo vệ và thực hiện Chính phủ phải tôn trọng và bảo đảm tất cả người dân đều được thụ hưởng quyền một cách công bằng và đầy đủ, không một ai bị hạn chế hoặc tước đoạt đi quyền được sống trong MTTL, bảo vệ quyền để không bị xâm phạm bởi bất kỳ một lí do nào, và Chính phủ cũng như Chính quyền địa phương các cấp các ngành phải có những hành động tích cực, biện pháp phù hợp đảm bảo thực hiện quyền cho công dân

Tuy nhiên, các quốc gia chỉ tuân thủ 3 nguyên tắc trên là chưa đủ, bên cạnh đó còn có các yếu tố then chốt khác để đảm bảo quyền được sống trong MTTL:

Yếu tố bảo đảm về chính trị: Một quốc gia có chế độ chính trị dân chủ

và văn minh sẽ luôn tôn trọng và đề cao các vấn đề về QCN làm đầu, tạo mọi điều kiện để các QCN được đảm bảo thực hiện bất kể ở lĩnh vực kinh tế - văn hóa – xã hội, quyền lợi của cá nhân, của tập thể hoặc của cộng đồng, không phân biệt sắc tộc, tôn giáo… Điều kiện chính trị thể hiện đường lối chính sách, chủ trương, chiến lược, chương trình phát triển… của Đảng cầm quyền trong việc bảo đảm và thúc đẩy QCN được sống trong MTTL

Yếu tố bảo đảm kinh tế: Nếu như điều kiện chính trị thể hiện chủ trương chính sách, làm tiền đề thể hiện sự quyết tâm thực hiện QCN được

Trang 39

sống trong MTTL thì yếu tố kinh tế chính là nền móng vững chắc quyết định đến việc thực hiện Một quốc gia đói nghèo và kém phát triển sẽ rất khó để có thể quan tâm sâu sắc và đúng mức đến việc đảm bảo QCN Một đất nước có nền kinh tế hùng mạnh và tiềm lực kinh tế lớn sẽ có điều kiện đảm bảo được việc thực hiện quyền và đảm bảo được sự bình đẳng trong việc tiếp cận các quyền cơ bản, nhu cầu thiết yếu của con người như chất lượng sống, về giáo dục, y tế cũng như môi trường sống trong sạch Quốc gia kinh tế phát triển thì

sự đầu tư cho môi trường, đảm bảo QCN sẽ được đề cao chú trọng, giải quyết được những bất cập còn tồn tại Kinh tế phát triển thì Nhà nước cũng như người dân hướng đến một cuộc sống có chất lượng tốt hơn về mọi mặt, bên cạnh đó ý thức của họ về môi trường sống trong lành ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng cuộc sống của chính bản thân họ, từ đó mỗi con người sẽ có ý thức BVMT cũng như bảo vệ quyền lợi chính đáng của bản thân Ngược lại, một quốc gia kém phát triển về kinh tế thì ngân sách thường được sử dụng cho vấn

đề kinh tế, xóa đói giảm nghèo, lương thực thực phẩm cho người dân, vấn đề môi trường sống và BVMT bị xem nhẹ đi rất nhiều Có thể nói, ý thức, trách nhiệm và nhận thức của người dân về BVMT cũng như bảo vệ và hưởng quyền lợi chính đáng của mỗi người về quyền được sống trong MTTL phụ thuộc rất lớn vào điều kiện kinh tế của mỗi quốc gia cũng như mỗi khu vực

Yếu tố bảo đảm bằng pháp luật: Đó là hệ thống các văn bản pháp luật

về BVMT, QCN với môi trường và QCN được sống trong MTTL được thể hiện trong Hiến pháp, Luật BVMT, Luật Đất đai… cũng như thể hiện trong các Công ước quốc tế và trong khu vực mà mỗi quốc gia tham gia ký kết Quy định rõ trách nhiệm và nghĩa vụ của từng loại chủ thể, đối với quyền được sống trong MTTL Hiến pháp 2013 có các quy định xác định các chủ thể khác

có nghĩa vụ bảo đảm thực hiện quyền của mọi người được sống trong MTTL

Đó là quy định tổ chức, cá nhân ―gây ONMT, làm suy kiệt tài nguyên thiên

Trang 40

nhiên và suy giảm đa dạng sinh học phải bị xử lý nghiêm và có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại‖ (khoản 3 Điều 63 Hiến pháp 2013) Như vậy, chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm thực hiện ―quyền được sống trong MTTL‖ được xác định bao gồm Nhà nước Việt Nam, nghĩa vụ của Nhà nước được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước khi thực hiện quyền lập pháp, quyền hành pháp và cả khi thực hiện quyền tư pháp và chủ thế thứ hai là tất cả mọi người,

kể cả các tổ chức ở Việt Nam đều phải có trách nhiệm nhất định trong việc BVMT

Không phải quốc gia nào cũng có đủ nguồn lực để đảm bảo các QCN cho tất cả mọi người ngay lập tức Để đạt được mục tiêu đó cần có thời gian

và nguồn lực, nguyên tắc hiện thực hóa dần dần - chính phủ các nước thực hiện dần từng bước, song cần nhanh chóng và phải có hiệu quả hết mức có thể, hướng tới hiện thực hóa quyền được sống trong MTTL Tất cả các nước cần có những bước đi cẩn trọng, cụ thể và có mục tiêu, sử dụng tối đa các nguồn lực hiện có, gồm cả biện pháp thông qua hợp tác quốc tế Về phía chủ thể quyền, mọi người có thể sử dụng quyền như một phương tiện, công cụ để làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn Tuy nhiên, việc sử dụng quyền còn phụ thuộc vào kiến thức và sự hiểu biết quyền của người dân, cũng như việc sẵn sàng sử dụng những kiến thức về quyền như một công cụ cho sự thay đổi mà quyền

có thể có được

Yếu tố bảo đảm về văn hóa – xã hội: Vấn đề nhận thức của người dân

về quyền cũng như nghĩa vụ của mỗi người; là nhận thức đúng đắn về QCN, quyền công dân, từ đó chấp hành và thực hiện trách nhiệm của mỗi cá nhân trong việc thực hiện quyền Bên cạnh đó, trách nhiệm của cán bộ, công chức trong việc đảm bảo và tôn trọng việc thực hiện quyền cho người dân

Vai trò của cán bộ công chức, cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn trong hoạt động BVMT: mặc dù đã được pháp luật quy định về trách nhiệm, thẩm

Ngày đăng: 04/08/2019, 15:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w