1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về thuế giá trị gia tăng đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng

113 127 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 8,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những điểm tích cực của pháp luật về thuế giá trị gia tăng đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng và kết quả đạt được trong thực tiễn thi hành ...

Trang 1

ĐỖ ĐỨC HUY

PHÁP LUẬT VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI CHỦ THỂ NỘP THUẾ BẰNG PHƯƠNG PHÁP TÍNH TRỰC TIẾP TRÊN GIÁ TRỊ GIA TĂNG

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi

Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn theo đúng quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trang 3

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DN Doanh nghiệp GTGT Giá trị gia tăng HKD Hộ kinh doanh NSNN Ngân sách nhà nước TNCN Thu nhập cá nhân TNDN Thu nhập doanh nghiệp

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU 1 PHẦN NỘI DUNG 7 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI CHỦ THỂ NỘP THUẾ BẰNG PHƯƠNG PHÁP TÍNH TRỰC TIẾP TRÊN GIÁ TRỊ GIA TĂNG 7 1.1 Khái quát về thuế giá trị gia tăng đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng 7

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của thuế giá trị gia tăng 7 1.1.2 Điều kiện áp dụng thuế giá trị gia tăng 14 1.1.3 Phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng và sự cần thiết phải áp dụng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng ở Việt Nam 17 1.1.4 Chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng 21

1.2 Khái quát pháp luật về thuế giá trị gia tăng đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng 24

1.2.1 Khái niệm pháp luật về thuế giá trị gia tăng đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng 24 1.2.2 Cấu trúc pháp luật về thuế giá trị gia tăng đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng 26 1.2.3 Những yếu tố chi phối đến nội dung điều chỉnh của pháp luật về thuế giá trị gia tăng đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng 27

Kết luận chương 1

Trang 5

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI CHỦ THỂ NỘP THUẾ BẰNG PHƯƠNG PHÁP TÍNH TRỰC TIẾP

TRÊN GIÁ TRỊ GIA TĂNG Ở VIỆT NAM 34

2.1 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về thuế giá trị gia tăng đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng 34

2.2 Đánh giá pháp luật về thuế giá trị gia tăng đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng ở Việt Nam 38

2.2.1 Những nội dung chủ yếu của pháp luật hiện hành 38

2.2.2 Những điểm tích cực của pháp luật về thuế giá trị gia tăng đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng và kết quả đạt được trong thực tiễn thi hành 43

2.2.2.1 Pháp luật về nội dung thuế giá trị gia tăng 43

2.2.2.2 Pháp luật về quản lý thuế giá trị gia tăng 45

2.2.3 Những điểm bất cập của pháp luật về thuế giá trị gia tăng đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng và hạn chế trong thực tiễn thi hành 49

2.2.3.1 Pháp luật về nội dung thuế giá trị gia tăng 50

2.2.3.2 Pháp luật về quản lý thuế giá trị gia tăng 55

Kết luận chương 2 62

Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI CHỦ THỂ NỘP THUẾ BẰNG PHƯƠNG PHÁP TÍNH TRỰC TIẾP TRÊN GIÁ TRỊ GIA TĂNG Ở VIỆT NAM 64

3.1 Những định hướng cơ bản trong hoàn thiện pháp luật về thuế giá trị gia tăng đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng 64

Trang 6

3.1.1 Những yêu cầu đặt ra cho việc hoàn thiện pháp luật về thuế giá trị gia tăng đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng 64 3.1.2 Những định hướng trong nội dung cần hoàn thiện của pháp luật về thuế giá trị gia tăng đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên giá

trị gia tăng 66

3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thuế giá trị gia tăng đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng 68

3.2.1 Sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật thuế giá trị gia tăng về chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng 68

3.2.2 Sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật quản lý thuế và văn bản hướng dẫn thi hành 74

3.3 Các giải pháp bảo đảm thực hiện hiệu quả pháp luật về thuế giá trị gia tăng đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng 77

3.3.1 Tăng cường sự phối hợp giữa cơ quan thuế với chính quyền địa phương và phát triển nguồn nhân lực cho ngành thuế 78

3.3.2 Đẩy nhanh quá trình triển khai áp dụng hóa đơn điện tử 81

3.3.3 Công tác tuyên truyền pháp luật và hỗ trợ người nộp thuế 84

Kết luận chương 3 86

PHẦN KẾT LUẬN 87

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thuế giá trị gia tăng (thuế GTGT) là một sắc thuế tiến bộ và được rất nhiều quốc gia áp dụng Một trong những ưu điểm nổi bật của loại thuế này là số thuế phải nộp được xác định trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT sau mỗi công đoạn từ sản xuất, nhập khẩu, lưu thông đến tiêu dùng trên thị trường Tuy nhiên, cùng tồn tại với ưu điểm nổi bật này là những đặc điểm rất riêng của thuế GTGT, đó là độ bao phủ rộng lớn của sắc thuế này từ hàng hóa, dịch vụ chịu thuế cho đến người nộp thuế và việc quản lý, sử dụng hóa đơn, chứng từ khá phức tạp Do vậy, một yêu cầu đặt ra khi áp dụng thuế GTGT vào hệ thống thuế của một quốc gia là xác định phương pháp tính thuế phù hợp với từng loại đối tượng nộp thuế để việc quản lý thuế đạt hiệu quả nhất Khi tiến hành nộp thuế GTGT, chủ thể nộp thuế của loại thuế này sử dụng phương pháp khấu trừ thuế GTGT đầu vào

để tính thuế và đây là phương pháp tính thuế được hầu hết các quốc gia áp dụng thuế GTGT sử dụng để tính thuế Tuy nhiên, tại Việt Nam, do đặc thù của điều kiện kinh tế - xã hội mà ngay từ những ngày đầu tiên áp dụng thuế GTGT cho đến thời điểm hiện tại, pháp luật thuế GTGT của Việt Nam vẫn quy định 2 phương pháp tính thuế: phương pháp khấu trừ thuế GTGT và phương pháp tính trực tiếp trên GTGT Trong quá trình áp dụng ở Việt Nam, phương pháp tính thuế trực tiếp GTGT cũng cho thấy một số điểm phù hợp của mình với đặc thù điều kiện kinh tế - xã hội Tuy nhiên bên cạnh đó, những quy định của pháp luật về chủ thể nộp thuế của phương pháp tính trực tiếp trên GTGT và bản thân phương pháp tính thuế này đã bộc lộ một

số điểm chưa thực sự phù hợp với tình hình hiện tại Những quy định của pháp luật thuế GTGT hiện hành về phương pháp tính trực tiếp trên GTGT tạo nên nhiều điểm bất cập cả về chính sách thuế cũng như quản lý thuế Điều này sẽ gây ra những ảnh hưởng tiêu cực, không chỉ làm sai lệch trong nhận thức của người dân về thuế GTGT mà còn là vấn đề số thuế GTGT thu về cho NSNN không được đảm bảo Kể

từ khi áp dụng, thuế GTGT luôn chiếm một tỉ trọng lớn trong cơ cấu thu NSNN, tạo

ra một nguồn thu ổn định, vững chắc Vì vậy, việc nguồn thu từ loại thuế này không được đảm bảo sẽ gây ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến sự thịnh vượng của quốc gia

Trang 8

mà điều dễ nhận thấy nhất là kìm hãm sự phát triển của kinh tế nước nhà cũng như vấn đề an sinh - xã hội của người dân

Đứng trước những yêu cầu cấp thiết đặt ra của nền tài chính quốc gia, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số: 07/NQ-TW ngày 18/11/2016 để đưa ra giải pháp cho việc cơ cấu lại NSNN và quản lý nợ công mà trong đó nhiệm vụ hoàn thiện chính sách, pháp luật của các loại thuế gián thu nội địa cần được chú trọng thực hiện Bên cạnh đó, theo chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020 tại Quyết định số: 732/QĐ-TTg ngày 17/05/2011 thì một trong những nội dung cải cách đối với thuế GTGT là tiến tới cơ bản áp dụng thống nhất một phương pháp tính thuế là phương pháp khấu trừ thuế GTGT đầu vào Như vậy, thời gian để hoàn thành những nhiệm vụ đặt ra với chiến lược này không còn nhiều Hơn nữa, mới đây Bộ Tài Chính đã đưa ra tờ trình Đề nghị xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật thuế GTGT với rất nhiều thay đổi trong chính sách đối với loại thuế này Tuy nhiên, phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT vẫn được duy trì và không

có sự sửa đổi, bổ sung nào khác

Trong xu thế hội nhập kinh tế, yêu cầu thu hút đầu tư, yêu cầu về cải cách hệ thống thuế thì Việt Nam cũng đang theo xu thế giảm bớt gánh nặng về thuế nhập khẩu, thuế TNDN mà “nhường lại” nhiệm vụ thu NSNN cho các loại thuế gián thu như: Thuế GTGT, Thuế tiêu thụ đặc biệt, Thuế tài nguyên… Thực trạng này lại càng cho thấy vai trò quan trọng của thuế GTGT và với những điểm chưa thực sự phù hợp của pháp luật thuế GTGT hiện hành đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới hiệu quả thu thuế

về NSNN

Từ những phân tích trên, cả về phương diện khoa học, thực trạng của pháp luật, quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước cho đến sự thay đổi của điều kiện kinh tế - xã hội đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nghiên cứu nhiều khía cạnh về pháp luật thuế GTGT đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT và tìm ra giải pháp khắc phục những hạn chế còn tồn tại để đảm bảo cho mục đích cuối cùng của việc thu thuế Chính vì vậy, luận văn này nghiên cứu về đề

Trang 9

tài: “Pháp luật về thuế giá trị gia tăng đối với chủ thể nộp thuế bằng phương

pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng”

2 Tình hình nghiên cứu

Thời điểm hiện tại, thuế GTGT không còn là một đề tài nghiên cứu mới, đặc biệt là trong lĩnh vực khoa học pháp lý Đến nay đã có một số công trình khoa học pháp lý nghiên cứu về vấn đề này như: Luận án tiến sĩ luật học: “Những vấn đề pháp lý về việc áp dụng thuế GTGT ở Việt Nam” của TS Nguyễn Thị Thương Huyền, năm 2002; Luận án tiến sĩ luật học: “Pháp luật về quản lý thuế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam - những vấn đề lý luận và thực tiễn” của TS Vũ Văn Cương, năm 2012; Luận văn thạc sĩ luật học: “Các biện pháp đảm bảo hiệu quả chế

độ thuế GTGT ở nước ta” của ThS Trần Trọng Hùng, năm 2001; … Tuy nhiên, những công trình khoa học trên đây với phạm vi nghiên cứu rộng, bao quát nhiều khía cạnh của nội dung pháp luật thuế GTGT nhưng chưa đề cập nhiều đến vấn đề chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT Hơn nữa, những công trình khoa học này đã được thực hiện từ khá lâu Những vấn đề về lý luận của những công trình trên vẫn còn giá trị nhưng tính phù hợp với thực tiễn không còn nhiều Chính sách và pháp luật về thuế GTGT hiện hành cũng đã có nhiều thay đổi đáng kể trong đó có nội dung pháp luật về chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT Tình hình trên đã đặt ra nhiều vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu

Bên cạnh các luận văn, luận án, còn có một số bài viết mang tính nghiên cứu, trao đổi, đưa lại nhiều góc nhìn khác nhau về vấn đề mà đề tài lựa chọn, thực sự hữu ích cho công tác hoàn thiện pháp luật về thuế GTGT như: “Luật thuế GTGT nên sửa đổi theo hướng nào?”, của tác giả Lê Thị Thu Thủy (2011), đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp; “Một số bất cập trong quá trình thực hiện luật thuế GTGT”, của tác giả Nghiêm Thị Thà (2012), đăng tại tạp chí Thanh tra;

Một điểm chung của các nhóm công trình nghiên cứu kể trên, đó là phần lớn các tác giả thường thiên về phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật thuế GTGT, hoàn thuế GTGT; phân tích rất sâu một số vấn đề liên quan đến thuế GTGT được quy định trong Luật Thuế GTGT

Trang 10

Ở phạm vi của Luận văn này, tác giả muốn đi sâu phân tích các quy định của pháp luật thuế GTGT đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi pháp luật về thuế GTGT đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT, từ đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về thuế GTGT nói chung và pháp luật thuế đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT nói riêng ở Việt Nam hiện nay

3 Phạm vi, đối tƣợng nghiên cứu đề tài luận văn

Phạm vi nghiên cứu của luận văn:

Luận văn xác định phạm vi nghiên cứu gồm:

- Những vấn đề lý luận về thuế GTGT và pháp luật thuế GTGT đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT như: Khái niệm, đặc điểm của thuế GTGT, Điều kiện áp dụng thuế giá trị gia tăng; Phương pháp tính thuế, sự cần thiết phải áp dụng phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT ở Việt Nam và Chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT Bên cạnh đó là những vấn đề mang tính lý luận về pháp luật thuế GTGT đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT

- Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thuế GTGT đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT dựa trên cơ sở khoa học, thực tiễn vận hành

- Phân tích xu hướng phát triển của hệ thống pháp luật về thuế GTGT ở Việt Nam; các yêu cầu trong việc hoàn thiện pháp luật về thuế GTGT nói chung và thuế GTGT đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT nói riêng trên cơ sở đó đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về về thuế GTGT nói chung và thuế GTGT đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT nói riêng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Đối tượng nghiên cứu của luận văn:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn được xác định là các quan điểm khoa học, các quy định của pháp luật Việt Nam về thuế GTGT đối với chủ thể nộp thuế

Trang 11

bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT, các số liệu thực tiễn thi hành pháp luật

về thuế GTGT đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT

ở Việt Nam trong những năm gần đây nhằm đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về thuế GTGT đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên

GTGT trong luận văn

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu đề tài

Những vấn đề lý luận về bản chất của thuế GTGT, về phương pháp tính thuế GTGT, chủ thể nộp thuế GTGT theo phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT và thực trạng pháp luật về thuế GTGT đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT ở Việt Nam hiện nay, Luận văn hướng đến mục đích kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật về thuế GTGT nói chung và pháp luật về thuế GTGT đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật đối với thuế GTGT ở Việt Nam

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Để đạt được mục đích trên, đề tài nghiên cứu cần thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau:

- Làm rõ một số vấn đề lý luận về thuế GTGT, pháp luật về thuế GTGT đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT

- Từ việc phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, thực tiễn thi hành pháp luật về thuế GTGT đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT ở Việt Nam hiện nay, luận văn chỉ ra những bất cập, hạn chế trong các quy định của pháp luật, những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện pháp luật

về thuế GTGT đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT

và nguyên nhân của thực trạng đó

- Trên cơ sở lý luận và thực trạng pháp luật về thuế GTGT đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT ở Việt Nam, Luận văn đưa ra những định hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả

Trang 12

pháp luật về thuế GTGT nói chung và thuế GTGT đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT nói riêng

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp được sử dụng chủ yếu để nghiên cứu trong đề tài bao gồm các phương pháp nghiên cứu khoa học nói chung và phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý nói riêng như phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, hệ thống hóa pháp luật, suy luận logic, quy nạp, diễn dịch, kế thừa thành quả nghiên cứu trước đó, khảo sát tình hình thực tiễn thực hiện pháp luật về thuế GTGT đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT ở Việt Nam nhằm đưa ra những kiến nghị và giải pháp phù hợp Các phương pháp được sử dụng phù hợp với từng nội dung của các phần trong luận văn, trong đó, phương pháp phân tích và tổng hợp là phương pháp được sử dụng nhiều nhất trong luận văn nhằm đảm bảo các kết quả nghiên cứu là khách quan và có độ tin cậy cao

6 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương với nội dung chính sau đây:

Chương 1 Những vấn đề lý luận cơ bản về thuế giá trị gia tăng và pháp luật

về thuế giá trị gia tăng đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng

Chương 2 Thực trạng pháp luật về thuế giá trị gia tăng đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng tại Việt Nam

Chương 3 Phương hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về thuế giá trị gia tăng đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng tại Việt Nam

Trang 13

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI CHỦ THỂ NỘP THUẾ BẰNG PHƯƠNG PHÁP TÍNH TRỰC TIẾP TRÊN GIÁ TRỊ GIA

TĂNG 1.1 Khái quát về thuế giá trị gia tăng đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của thuế giá trị gia tăng

Trước đây, để thu thuế đối với hàng hóa, dịch vụ hay nói cách khác là thu thuế đối với hành vi tiêu dùng, Chính phủ của nhiều quốc gia đã ban hành ra thuế doanh thu để thu thuế đối với những hoạt động này Tuy nhiên, thuế doanh thu sau một quá trình áp dụng đã cho thấy một số điểm không phù hợp, đặc biệt là hiện tượng đánh trùng thuế khiến cho áp lực thuế đè nặng lên người chịu thuế, qua đó không khuyến khích được kinh tế phát triển Chính vì vậy mà đòi hỏi cần có một

sắc thuế tương tự nhưng ưu việt hơn Thuế giá trị gia tăng (GTGT) được ra đời và

áp dụng lần đầu tiên tại Pháp vào năm 19541 Khắc phục được những hạn chế của thuế doanh thu trước kia và đi cùng với đó là những ưu điểm nổi trội hơn, thuế GTGT đã được rất nhiều quốc gia áp dụng Vậy thuế GTGT là gì?

Khái niệm về thuế GTGT được các nhà khoa học đưa ra dưới nhiều góc độ khác nhau

Dưới góc độ pháp lý, thuế GTGT được hiểu: Là loại thuế gián thu tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng 2

Dựa trên khái niệm về thuế GTGT nêu trên, có thể rút ra những đặc điểm của thuế GTGT như sau:

Thứ nhất, Thuế GTGT là một loại thuế gián thu

Trang 14

Thuế GTGT là một loại thuế tiêu dùng, nó không đánh trực tiếp vào thu nhập của người nộp thuế mà đánh vào người tiêu dùng (người mua hàng hóa, dịch vụ) tiền thuế là một yếu tố được cộng vào trong giá bán của hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng phải trả khi mua hàng Khi có hành vi mua bán hàng hóa, sử dụng dịch vụ

mà những hàng hóa, dịch vụ đó thuộc diện chịu thuế GTGT thì thuế GTGT sẽ tác động Đối với thuế GTGT thì người nộp thuế và người chịu thuế về cơ bản là khác nhau (không phải là một) Người mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ là người chịu thuế

và có nghĩa vụ trả một khoản tiền bao gồm cả số tiền thuế GTGT cho chủ thể bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ Chủ thể này sẽ có nghĩa vụ nộp vào NSNN số thuế GTGT đó thay người mua Mối quan hệ này xảy ra chủ yếu giữa người tiêu dùng và các cơ sở sản xuất, DN Chính vì khoản tiền thuế GTGT mà người tiêu dùng phải trả đã ẩn trong số tiền thanh toán và họ cũng không phải đi nộp số tiền thuế này nên người tiêu dùng không cảm nhận được áp lực về thuế và đây cũng là một ưu điểm của thuế gián thu Tuy nhiên, không phải lúc nào trong thuế GTGT người nộp thuế

và người chịu thuế cũng là hai chủ thể khác nhau Trong trường hợp, một cơ sở sản xuất hay một DN mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ của một chủ thể khác nhưng lại không tiếp tục bán hàng hóa hay cung ứng dịch vụ này thì lúc này chính DN hay cơ

sở sản xuất đó là chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế GTGT nhưng cũng đồng thời là chủ thể chịu số thuế GTGT đó3

Thứ hai, thuế GTGT có phạm vi áp dụng rộng (diện đánh thuế rất rộng)

Thuế GTGT đánh vào hầu hết hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng trong phạm vi quốc gia Sự bao trùm của sắc thuế này không chỉ

ở phạm vi hàng hóa, dịch vụ chịu thuế mà còn ở người nộp thuế và người chịu thuế

Với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT: xuất phát từ việc thuế GTGT đánh vào hầu hết các hàng hóa, dịch vụ ở các khâu của quá trình từ sản xuất, kinh doanh đến tiêu dùng chỉ trừ một số ít hàng hóa dịch vụ không thuộc diện chịu thuế gồm những hàng hóa, dịch vụ thuộc diện cấm kinh doanh hoặc hàng hóa, dịch vụ thiết

3

Trần Trọng Hùng (2001), Các biện pháp đảm bảo hiệu quả chế độ thuế GTGT ở nước ta, Luận văn thạc sỹ luật học, Đại học luật Hà Nội, Hà Nội, tr 7

Trang 15

yếu nhà nước cần khuyến khích hỗ trợ dựa trên tình hình kinh tế - xã hội và mục tiêu phát triển mà quốc gia đó theo đuổi

Với người nộp thuế: trong cơ chế vận hành của thuế GTGT, người nộp thuế

là chủ thể có nghĩa vụ tính số thuế GTGT phải nộp của người tiêu dùng và nộp số thuế đó vào NSNN Từ đây xuất hiện mối quan hệ 3 bên Nhà nước, người nộp thuế

và người chịu thuế Người nộp thuế đóng vai trò trung gian, tiếp nhận số thuế GTGT của người tiêu dùng và có nghĩa vụ nộp số thuế đó cho Nhà nước Điều này cho thấy vai trò quan trọng của người nộp thuế cũng như trách nhiệm trong việc nộp thuế GTGT vào NSNN Về cơ bản, người nộp thuế là những cơ sở sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT Có thể thấy rằng diện người nộp thuế của thuế GTGT rất rộng Bên cạnh đó, số lượng các cơ sở sản xuất, kinh doanh được thành lập ngày càng tăng lên tạo nên một số lượng người nộp thuế lớn

và đa dạng Với một số lượng người nộp thuế quá lớn, nhiều quốc gia đã phải đặt ra quy định về ngưỡng chịu thuế GTGT để tăng hiệu quả của việc thu thuế cũng như giảm bớt chi phí quản lý4 Những chủ thể kinh doanh khi doanh thu không đạt ngưỡng chịu thuế sẽ không phải nộp thuế GTGT

Về người chịu thuế: người chịu thuế hầu hết là người tiêu dùng, người tiếp nhận hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT cuối cùng Những chủ thể này mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ không phải để tiếp tục sản xuất, kinh doanh hay có những tác động làm cho những hàng hóa, dịch vụ mà họ đã mua phát sinh GTGT mà mục đích chính là việc tiêu dùng và việc này làm cho hàng hóa, dịch vụ thoát khỏi quá trình lưu thông Như vậy, người tiêu dùng có thể là bất kỳ ai, mọi chủ thể trong xã hội và thậm chí người nộp thuế cũng có trường hợp là người chịu thuế Khi họ có hành vi mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ chịu thuế GTGT thì sẽ trở thành người chịu thuế Khi mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ, người chịu thuế cũng chỉ phải chuyển số thuế GTGT mình phải nộp cho người nộp thuế để họ nộp vào NSNN Vì vậy mà người chịu thuế gần như không bị ràng buộc nhiều về mặt pháp lý như người nộp thuế5

4 Beyer, Vicki and Ishimura, Koji (1993), The progress of the Japanese National Consumption Tax, Revenue Law Journal, Vol 3, page 7

5

Nguyễn Thị Thương Huyền (2002), Những vấn đề pháp lý về việc áp dụng thuế GTGT tại Việt Nam, Luận

án tiến sỹ luật học, Đại học Luật Hà Nội, tr 19

Trang 16

Thứ ba, thuế GTGT chỉ đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch

vụ qua các khâu từ sản xuất, nhập khẩu, lưu thông đến tiêu dùng

Việc chỉ đánh trên phần giá trị tăng thêm đã đem lại mặt tích cực là không gây ra những đột biến về giá cả cho người tiêu dùng Đây là đặc điểm nổi bật của thuế GTGT và làm nên ưu điểm của loại thuế này Điểm cốt lõi ở đây là phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ Làm rõ phần giá trị tăng thêm một mặt lý giải cho

cơ sở xác định số thuế GTGT phải nộp trong pháp luật thuế GTGT, mặt khác đưa ra phương án khả thi để xác định phần giá trị tăng thêm qua mỗi công đoạn Một số quan điểm được đưa ra để xác định phần giá trị tăng thêm:

- Quan điểm thứ nhất: “giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ là giá trị cộng thêm ở mỗi giai đoạn của diễn tiến kỹ nghệ hay thương mại mà sản phẩm đó đã trải qua kể từ khi còn là nguyên liệu cho tới tay người tiêu thụ Giá trị của sản phẩm mỗi khi qua một giai đoạn trong diễn tiến kỹ nghệ hay thương mại tăng lên Chính cái sự tăng giá trị này phải chịu thuế (10%) Thuế 10% này đánh vào giá trị cộng thêm Do đó ta gọi nó là: thuế đánh vào giá trị cộng thêm”

- Quan điểm thứ hai: “giá trị gia tăng được hiểu là giá trị tăng thêm của sản phẩm hàng hóa hoặc hoạt động dịch vụ do cơ sở sản xuất, chế biến, gia công, dịch

vụ tác động vào nguyên vật liệu thô bán thành phẩm hoặc sản phẩm hàng hóa mua vào làm cho giá trị chúng tăng thêm Hay nói cách khác, giá trị tăng thêm là khoản chênh lệch giữa giá trị đầu ra và đầu vào của một số sản phẩm hàng hóa và mỗi sản phẩm hàng hóa trước khi được phân phối đến tay người tiêu dùng thường phải trải qua nhiều công đoạn như sản xuất, bán buôn, bán lẻ Giá trị hàng hóa, dịch vụ ngày càng tăng lên qua mỗi công đoạn Thông thường ở giai đoạn đầu tiên cơ sở sản xuất phải dùng nguyên, nhiên, vật liệu là chủ yếu, còn đối với các giai đoạn sau, giá trị tăng thêm chủ yếu do sức lao động và lợi nhuận tạo nên”6

Bên cạnh những quan điểm trên còn rất nhiều quan điểm khác đề cập tới khái niệm và cách xác định phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ Tuy có sự khác biệt nhưng những quan điểm trên đây đều được đưa ra dựa trên cơ sở những công

6

Nguyễn Thị Thương Huyền (2002), Những vấn đề pháp lý về việc áp dụng thuế GTGT tại Việt Nam, Luận

án tiến sỹ luật học, Đại học Luật Hà Nội, tr 24

Trang 17

trình nghiên cứu khoa học pháp lý đã được tiến hành Nhưng dù tiếp cận theo quan điểm nào cũng đều có điểm chung của “phần giá trị tăng thêm” là sự chênh lệch giá trị giữa giá đầu ra và đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sau mỗi giai đoạn Mà căn nguyên của sự gia tăng về giá trị đó là do những tác động của nhà sản xuất, nhà kinh doanh tới hàng hóa, dịch vụ…

Khi nghiên cứu về phần giá trị tăng thêm này, có những quan điểm cho rằng phần giá trị tăng thêm này bao gồm: nguyên, nhiên, vật liệu, sức lao động và lợi nhuận Theo quan điểm của chúng tôi, nếu đề cập đến giá trị của hàng hóa thì tổng hợp của nguyên, nhiên, vật liệu và sức lao động, lợi nhuận sẽ hợp lý hơn Tổng hợp của tất cả những thành tố này mới làm nên giá trị của một sản phẩm Còn nói đến GTGT cần được hiểu là sự chênh lệch mà cụ thể ở đây là sự tăng lên về giá trị của sản phẩm giữa giai đoạn sau so với giai đoạn trước Nguyên, nhiên, vật liệu chỉ là tiền đề, làm nền tảng để nhà sản xuất qua đó bỏ sức lao động vào làm cho những nguyên, nhiên liệu vật ấy từ ít giá trị sử dụng trở nên nhiều giá trị sử dụng hơn Chính phần lao động sống đó đã kết tinh vào sản phẩm để giá trị thực của nó tăng lên so với những giai đoạn trước Sau khi tiến hành xong các công đoạn sản xuất, chế biến, nhà sản xuất sẽ bán những sản phẩm đó ra thị trường và tất nhiên phải kèm theo một khoản lợi nhuận nằm trong giá bán của sản phẩm Giá bán tới tay người tiêu dùng là tổng hợp của nguyên, nhiên, vật liệu, sức lao động và lợi nhuận nhưng giá trị tăng thêm để tính thuế GTGT là sức lao động và lợi nhuận Vì vậy, hai yếu tố sức lao động và lợi nhuận được xem là phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ

Nhưng trên thực tế để xác định chính xác được phần giá trị tăng thêm này là rất khó khăn Để biết chính xác lượng giá trị tăng thêm đó thì một yếu tố cần xác định là sức lao động đã bỏ ra Thông thường thì sẽ xác định dựa trên thời gian làm việc như: số giờ, số ngày làm việc Bởi việc khó xác định được chính xác phần giá trị tăng thêm này mà người ta căn cứ dựa trên giá trị trao đổi của hàng hóa, dịch vụ Tuy nhiên, giá trị trao đổi và GTGT không phải là một Giá trị trao đổi chỉ có thể phản ánh được phần nào yếu tố GTGT vì trong nhiều trường hợp giá trị thực của hàng hóa, dịch vụ không tăng, tức là không có phần giá trị tăng thêm nhưng giá trị

Trang 18

trao đổi vẫn có thể tăng và ngược lại Bởi vì giá trị trao đổi còn phụ thuộc vào những yếu tố bên ngoài như: cung, cầu của thị trường hay thị hiếu của người tiêu dùng

Thuế GTGT là thuế đánh vào tiêu dùng nên về nguyên tắc chỉ cần đánh vào khâu tiêu dùng cuối cùng Tuy nhiên, việc xác định khâu tiêu dùng nào là cuối cùng

là điều không đơn giản Vì vậy, kết thúc mỗi khâu hàng hóa, dịch vụ tồn tại trên thị trường mà có phát sinh giá trị tăng thêm thì sẽ phải đánh thuế ngay để bảo đảm số thuế GTGT thu về ngân sách Về cơ bản, quá trình này có thể được nhìn nhận từ khi các nhà sản xuất mua nguyên, nhiên, vật liệu sau đó qua quá trình sản xuất, chế biến tạo GTGT để bán cho các nhà bán buôn; sau đó các nhà bán buôn phân phối đến các nhà bán lẻ và cuối cùng các nhà bán lẻ phân phối đến người tiêu dùng Sau mỗi một công đoạn đó, từ sản xuất, chế biến cho đến lưu thông và tới tay người tiêu dùng nếu hàng hóa, dịch vụ phát sinh giá trị tăng thêm khi kết thúc công đoạn nào thì sẽ

bị đánh thuế GTGT ngay của công đoạn đó

Thứ tư, thuế GTGT mang bản chất liên hoàn và tính trung lập kinh tế

Trong cơ chế vận hành của thuế GTGT luôn tồn tại một nét đặc thù là bản chất liên hoàn Điều này được nhận thấy khi một cơ sở kinh doanh mua hàng hóa,

sử dụng dịch vụ của cơ sở kinh doanh khác làm nguyên liệu đầu vào để sản xuất, chế biến sau đó bán ra cho cơ sở kinh doanh khác Cơ sở kinh doanh này khi mua sản phẩm đầu ra của cơ sở kinh doanh trước lại tiếp tục sản xuất, chế biến hàng hóa, dịch vụ đó để tạo GTGT và bán cho cơ sở kinh doanh khác hoặc người tiêu dùng Với cơ chế vận hành như vậy, khi kết thúc mỗi một công đoạn chủ thể mua hàng hóa hay sử dụng dịch vụ chịu thuế GTGT sẽ phải chuyển giao một khoản thuế GTGT (thuế GTGT đầu vào) đã bao gồm trong giá mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ

và chủ thể bán hàng sẽ tiếp nhận số thuế GTGT đó (thuế GTGT đầu ra) để nộp vào NSNN Điều này có nghĩa, số thuế GTGT đầu vào của cơ sở kinh doanh này sẽ là

số thuế GTGT đầu ra của cơ sở kinh doanh khác Như vậy, nhìn vào quá trình mỗi hàng hóa, dịch vụ lưu thông trên thị trường, sản phẩm đầu ra của cơ sở kinh doanh này là sản phẩm đầu vào của cơ sở kinh doanh khác và quá trình này cứ vận hành lặp đi lặp lại như vậy cho tới khi sản phẩm được tiêu dùng

Trang 19

Trong quá trình nộp thuế, với bản chất liên hoàn và cơ chế khấu trừ, số thuế GTGT phải nộp không chỉ phụ thuộc vào giá tính thuế và thuế suất thuế GTGT mà còn phụ thuộc vào số thuế GTGT đầu vào Tuy nhiên, bản chất liên hoàn đặc trưng của thuế GTGT có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng nếu xảy ra việc miễn thuế ở một công đoạn Cơ chế khấu trừ thuế GTGT xác định số thuế GTGT phải nộp bằng số thuế GTGT đầu ra trừ số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ, như vậy việc không phải nộp số thuế GTGT đầu ra sẽ làm đứt đoạn, phá vỡ tính liên hoàn trong quá trình vận hành của thuế GTGT Vì vậy, vấn đề miễn thuế trong thuế GTGT phải hạn chế được đặt ra và phải được nghiên cứu một cách cẩn trọng Pháp luật thuế GTGT của một số quốc gia cũng có những quy định đối với số thuế GTGT đầu ra như quy định hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT hay quy định mức thuế suất 0% đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu để khuyến khích xuất khẩu hoặc thực hiện một số chính sách về kinh tế - xã hội Tuy nhiên điều này cần hết sức hạn chế để tránh làm ảnh hưởng tới tính liên hoàn của thuế GTGT cũng như quyền lợi của các cơ sở sản xuất, kinh doanh trong việc khấu trừ, hoàn thuế GTGT

Thuế GTGT là một đại lượng vật chất mà chủ thể mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ chuyển giao cho chủ thể bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ Khoản thuế này

đi kèm với giá bán hàng hóa và nó không phải là một khoản chi phí của cơ sở kinh doanh Thuế GTGT không bị ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức và phân chia chu trình, công đoạn kinh tế của cơ sở kinh doanh bởi tổng số thuế GTGT ở các giai đoạn khớp với số thuế GTGT ở giai đoạn cuối cùng Điều này làm nên tính trung lập kinh tế cho thuế GTGT7

Từ các đặc điểm trên có thể thấy ưu điểm của thuế GTGT là: khắc phục được tình trạng đánh trùng thuế bằng việc chỉ đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ cùng với cơ chế khấu trừ; diện đánh thuế rộng từ hàng hóa, dịch vụ chịu thuế cho đến người nộp thuế và người chịu thuế nên tạo điều kiện thuận lợi để Nhà nước thực hiện các chính sách về kinh tế - xã hội; thuế GTGT là thuế gián thu,

số thuế GTGT phải nộp đã nằm ẩn bên trong giá mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ và

7

Nguyễn Kim Thái Linh (2010), Hoàn thiện pháp luật thuế GTGT của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Luận vặn Thạc sĩ luật học, trường Đại học luật Hà Nội, tr 12

Trang 20

người tiêu dùng cũng không phải đi nộp thuế nên không tạo ra áp lực về thuế tới người chịu thuế

Tuy nhiên tính lũy thoái là nhược điểm cố hữu của loại thuế này Tính lũy thoái được thể hiện khi mua cùng một loại hàng hóa, sử dụng cùng một loại dịch vụ chịu thuế GTGT thì người tiêu dùng sẽ phải trả một khoản tiền như nhau Dù là người có thu nhập cao hay thu nhập thấp thì đều phải trả một khoản thuế GTGT như nhau khi mua hàng hóa hoặc sử dụng dịch vụ chịu thuế GTGT Như vậy với những hàng hóa, dịch vụ chịu mức thuế suất thuế GTGT cao thì người có thu nhập thấp sẽ

bị ảnh hưởng về thu nhập nhiều hơn so với người có thu nhập cao

1.1.2 Điều kiện áp dụng thuế giá trị gia tăng

Việc khắc phục được những hạn chế của thuế doanh thu trước kia làm cho thuế GTGT được rất nhiều quốc gia áp dụng Tuy nhiên đây là một sắc thuế khá phức tạp, để áp dụng loại thuế này vào thực tiễn có hiệu quả đòi hỏi cần phải có những điều kiện nhất định:

Thứ nhất, các cơ sở kinh doanh (là đối tượng nộp thuế) phải thực hiện đầy

đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ đảm bảo được việc tính thuế chính xác, tránh việc thất thu thuế

Về nguyên tắc, thuế GTGT được tính trên phần giá trị tăng thêm Tuy nhiên, trong thực tiễn việc xác định GTGT là khó khăn Chẳng hạn, cơ sở kinh doanh khi mua 1 lô hàng với giá trị mua vào được phản ánh trên hóa đơn, chứng từ khi mua Nhưng khi cơ sở kinh doanh bán ra thì không bán hết được cả lô hàng đã mua trong một thời điểm nào đó mà bán ở nhiều thời điểm khác với giá bán có thể khác nhau, việc theo dõi để tính toán GTGT đối với mỗi số lượng hàng bán ra trong từng kỳ tính thuế là việc làm khó khả thi, mất nhiều thời gian, công sức cho cả cơ sở kinh doanh và cho cả cơ quan quản lý thuế đặc biệt là là cơ sở kinh doanh có sản xuất kinh doanh nhiều loại hàng hóa, dịch vụ và giá cả hàng hóa, dịch vụ mua vào, bán

ra lại thường xuyên biến động Để đơn giản hóa cho tính, quản lý thu nộp thuế thì pháp luật thuế GTGT quy định cách tính thuế là: Số thuế GTGT mà cơ sở kinh doanh phải nộp trong kỳ tính thuế = Tổng số thuế GTGT đầu ra phát sinh trong kỳ

Trang 21

tính thuế – Tổng số thuế GTGT đầu vào phát sinh trong kỳ tính thuế mà không phân biệt số hàng hóa, dịch vụ mua vào đã sử dụng, bán hay để còn tồn kho Như vậy, việc tính thuế GTGT dựa trên hoá đơn mua vào, bán ra và phương pháp tính thuế được sử dụng chủ yếu là phương pháp khấu trừ Trong cơ chế vận hành của thuế GTGT thì một yếu tố tối quan trọng để thực hiện đó là hóa đơn, chứng từ Đây

là những cơ sở rõ ràng và chính xác nhất để có thể tính toán số thuế GTGT phải thu

và nộp

Tuy nhiên trong thực tế quản lý, sử dụng hóa đơn để tính thuế GTGT cũng không đơn giản Đối với những DN tính thuế theo phương pháp khấu trừ đã phải thanh toán khoản thuế GTGT khi mua hàng hoá đầu vào cho nhà cung cấp rồi lại nộp tiếp khoản thuế GTGT đầu ra do người tiêu dùng chi trả Do đó, phần thuế GTGT đầu vào phải được khấu trừ hoặc hoàn lại để phản ánh DN chỉ phải nộp khoản thuế ròng dựa trên phần GTGT phát sinh Một DN muốn được khấu trừ thuế GTGT đầu vào cần phải có hóa đơn GTGT mua hàng hóa, dịch vụ, hoặc chứng từ nộp thuế GTGT ở khâu nhập khẩu Đứng ở góc độ các DN, để được khấu trừ và hoàn thuế GTGT thì DN phải có đầy đủ hoá đơn GTGT đầu vào hợp lệ Do vậy, khi mua hàng thì DN sẽ luôn đòi hỏi hoá đơn của nhà cung cấp để có thể được hoàn thuế Nhà cung cấp không thể không cấp hoá đơn để trốn thuế và cũng không thể ghi giảm giá trị hàng bán để giảm số thuế phải nộp trong trường hợp này Nếu làm như vậy thì DN mua hàng sẽ chịu thiệt tương ứng mà Nhà nước thì hầu như không

bị thiệt hại gì xét trên bình diện tổng thể Tuy nhiên, đối với khoản thuế GTGT đầu

ra thì DN gần như không quan tâm về việc xuất hoá đơn GTGT cho người tiêu dùng Trong khi đó, do người tiêu dùng không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào nên họ cũng không có động cơ đòi hỏi và nhận hoá đơn GTGT

Thứ hai, quản lý thuế GTGT khá phức tạp, yêu cầu trình độ quản lý cao

Thuế GTGT là một sắc thuế có cơ chế vận hành khá phức tạp, nếu như trước đây với thuế doanh thu thì cơ quan quản lý thuế và người nộp thuế chỉ cần lấy doanh thu nhân với thuế suất là xác định được số thuế phải nộp Tuy nhiên, đối với thuế GTGT, để xác định số thuế phải nộp thì cần xác định được số thuế GTGT đầu vào, thuế GTGT đầu ra, số thuế được khấu trừ, số thuế không được khấu trừ Sự

Trang 22

phức tạp của thuế GTGT được thể hiện với quy định về hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT; hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT, sự xuất hiện nhiều mức thuế suất của thuế GTGT; việc sử dụng hóa đơn trong hạch toán, kế toán8

Do cách tính thuế GTGT chủ yếu dựa vào hóa đơn nên vấn đề kiểm soát hóa đơn, kiểm tra chéo hóa đơn mua vào, bán ra là nhiệm vụ quan trọng của cơ quan quản lý thuế Nếu không làm tốt công việc này sẽ xảy ra tình trạng gian lận, trốn lậu thuế GTGT gây thất thu cho NSNN

Trước sự phức tạp trong việc quản lý thuế GTGT cũng như sự thay đổi nhanh chóng về chính sách, pháp luật thuế trong cơ chế thị trường cùng với những hành vi vi phạm pháp luật thuế ngày càng tinh vi thì việc nâng cao trình độ quản lý của cơ quan thuế và cán bộ thuế là một điều kiện tất yếu đặt ra Trình độ, năng lực của cơ quan quản lý thuế được thể hiện thông qua việc phân công, phân cấp quản lý,

bố trí lực lượng và điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị quản lý Trình độ, năng lực của cán bộ, công chức thuế thể hiện ở trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trong đó một điểm quan trọng là khả năng sử dụng công nghệ trong quản lý thuế cùng với đó

là tính chuyên nghiệp và thái độ, phong cách làm việc Đây là những yêu cầu đặt ra cho cơ quan quản lý và đội ngũ cán bộ, công chức thuế phải hoàn thiện để việc quản

lý thuế GTGT đạt hiệu quả

Thứ ba, về ý thức chấp hành pháp luật thuế của mọi chủ thể trong xã hội

Ý thức pháp luật là một yếu tố, điều kiện cần thiết trong mọi quan hệ xã hội Đòi hỏi ở đây là việc mọi chủ thể trong xã hội phải có kiến thức về thuế GTGT, nắm bắt được pháp luật về thuế GTGT và tuân thủ, chấp hành pháp luật Nếu có ý thức pháp luật tốt, việc tự kiểm soát của thương trường sẽ diễn ra một cách tự giác, các chủ thể kinh doanh kiểm soát lẫn nhau, người tiêu dùng kiểm soát các cơ sở kinh doanh Và với sự kiểm soát lẫn nhau như vậy sẽ hạn chế tối đa được những gian lận, những hành vi vi phạm pháp luật thuế Vì vậy cần có những biện pháp để nâng cao nhận thức, ý thức của cộng đồng từ những cơ sở sản xuất, kinh doanh cho đến người tiêu dùng Một trong những văn hóa pháp luật cần thực hiện trong thuế

8

Trần Trọng Hùng (2001), Các biện pháp đảm bảo hiệu quả chế độ thuế GTGT ở nước ta, Luận văn thạc sỹ luật học, Đại học luật Hà Nội, tr 20

Trang 23

GTGT là việc khi mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ, người tiêu dùng phải yêu cầu các

cơ sở sản xuất, kinh doanh xuất hóa đơn và hạn chế việc thanh toán bằng tiền mặt

Thứ tư, điều kiện về môi trường pháp lý

Yếu tố pháp luật cũng nắm giữ một vai trò hết sức quan trọng trong việc áp dụng hiệu quả thuế GTGT Pháp luật thuế GTGT được ban hành phải đảm bảo các tiêu chí: Đầy đủ, thống nhất, đồng bộ, bảo đảm tính bình đẳng công bằng, phù hợp, khả thi Các quy định của pháp luật cần rõ ràng, công khai, minh bạch, đơn giản, dễ thực hiện, dễ kiểm tra, không có mâu thuẫn, chồng chéo… Xây dựng một môi trường pháp lý tốt là để thuế GTGT thể hiện được đúng vai trò, phát huy hiệu quả của nó trong thực tiễn

1.1.3 Phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng và sự cần thiết phải

áp dụng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng ở Việt Nam

Phương pháp tính thuế là cách thức mà pháp luật quy định để người nộp thuế, cơ quan quản lý thuế dựa vào các căn cứ tính thuế được quy định để xác định được số thuế phải nộp, phải thu trong mỗi loại thuế

Thuế GTGT được áp dụng với hầu hết hàng hóa, dịch vụ đi cùng với đó là điểm đặc thù “chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ tại mỗi công đoạn” Điều này đòi hỏi phương pháp tính thuế GTGT phải đảm bảo phản ánh đúng được bản chất khoa học của thuế GTGT cũng như đảm bảo được quyền lợi của người nộp thuế và khuyến khích được sản xuất, kinh doanh phát triển

Một số quốc gia trên thế giới khi áp dụng thuế GTGT có sử dụng hai phương pháp tính thuế là: Phương pháp khấu trừ thuế GTGT và phương pháp tính trực tiếp trên GTGT9 Trong đó phương pháp khấu trừ thuế GTGT đầu vào được sử dụng phổ biến hơn nhưng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT cũng là một sự bổ sung để lấp những khoảng trống mà phương pháp khấu trừ thuế GTGT đầu vào

Trang 24

Phương pháp tính trực tiếp trên GTGT khi vận hành cũng dựa trên những quy định chung như phương pháp khấu trừ thuế GTGT Đó là: diện hàng hóa, dịch

vụ chịu thuế, thuế suất thuế GTGT và cả quy định về việc quản lý thuế như: đăng

ký, kê khai, nộp thuế

Theo đúng nguyên lý về thuế GTGT, việc tính thuế theo bất kỳ phương pháp nào thì tổng số thuế nhà nước thu được đều như nhau Nếu giá bán ra và giá mua vào làm căn cứ xác định thuế GTGT ở phương pháp trực tiếp là giá chưa bao gồm thuế GTGT thì hai công thức tính thuế thực chất có thể biến đổi để trở về một Tuy nhiên, ở Việt Nam pháp luật quy định giá bán ra và giá mua vào hoặc doanh thu ở phương pháp trực tiếp theo hướng dẫn của Bộ Tài chính là giá đã bao gồm thuế GTGT nên hai phương pháp tính thuế nêu trên không có kết quả như nhau Nói cách khác, phương pháp tính thuế trực tiếp này có khả năng tạo ra hiện tượng đánh trùng thuế Hơn nữa, do Luật thuế quy định nhiều mức thuế suất khác nhau, cộng với các chính sách ưu đãi thuế, thì không nhất thiết tổng số thuế thu được sẽ như nhau theo hai cách tính thuế này

Tuy nhiên, điểm khác biệt giữa hai phương pháp tính thuế là chủ thể áp dụng

và cơ chế vận hành (cách xác định số thuế GTGT phải nộp)

Khi áp dụng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT đòi hỏi phải xác định được chính xác phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ Như đã phân tích ở mục 1.1 điều này là khá khó khăn khi không có cơ sở chính xác Vì vậy mà người ta xác định phần giá trị tăng thêm này dựa trên giá trị trao đổi của hàng hóa mà cụ thể

là sự chênh lệch giữa giá bán ra, giá cung ứng so với giá mua vào Để xác định được giá bán ra và giá mua vào thì hóa đơn, chứng từ được sử dụng làm căn cứ Một cách đơn thuần, khi xác định số thuế GTGT phải nộp theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT thì pháp luật của một số quốc gia đều quy định một cách ước chừng là lấy giá thanh toán của hàng hóa bán ra trừ đi giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ mua vào tương ứng và lấy hiệu số đó nhân với thuế suất thuế GTGT Tùy vào điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia mà quy định mức thuế suất này khác nhau

Phương pháp tính trực tiếp trên GTGT được sử dụng song hành bên cạnh phương pháp khấu trừ thuế GTGT đầu vào để đưa ra nhiều sự lựa chọn hơn cho các

Trang 25

chủ thể nộp thuế Phương pháp khấu trừ thuế GTGT đầu vào với cơ chế khấu trừ thuế mang lại rất nhiều hiệu quả trong quá trình thu thuế nhưng đòi hỏi của phương pháp này là phải thực hiện tốt chế độ hóa đơn, chứng từ và việc quản lý chặt chẽ của Nhà nước trong việc tạo, lập, sử dụng hóa đơn Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp người nộp thuế không đáp ứng được những yêu cầu về kế toán, sử dụng hóa đơn, chứng từ nên việc quản lý những chủ thể này sẽ tốn kém rất nhiều chi phí từ đó dẫn đến việc số tiền bỏ ra để thu thuế lớn hơn số thuế GTGT được thu về10 Điều này làm ảnh hưởng lớn đến hiệu quả thu thuế Ngoài ra, với nhiều cơ sở kinh doanh với quy mô nhỏ, doanh thu không lớn, nếu áp dụng thu thuế bằng phương pháp khấu trừ thuế GTGT đầu vào thì hiệu quả thu thuế cũng rất khó đảm bảo vì những chủ thể này cũng khó có thể thực hiện được đầy đủ chế độ hóa đơn, chứng từ

Phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT có ưu điểm là việc tính thuế đơn giản, nhanh gọn Các chủ thể thực hiện phương pháp tính thuế này cũng không phải thực hiện nhiều những nghiệp vụ kế toán, hóa đơn như phương pháp khấu trừ thuế GTGT Ngoài ra việc thực hiện những thủ tục hành chính trong phương pháp tính trực tiếp trên GTGT cũng đơn giản và ít hơn nhiều so với phương pháp khấu trừ thuế GTGT đầu vào

Về cơ bản, phương pháp tính thuế này được xem là phù hợp với những cơ sở kinh doanh mới thành lập khi chưa thực hiện tốt được chế độ hóa đơn, chứng từ và các cơ sở kinh doanh với quy mô nhỏ như các hộ, cá nhân kinh doanh Tuy nhiên, khi thực hiện tính thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT có một điểm cần lưu ý là tính liên hoàn của thuế GTGT không được đảm bảo vì phương pháp này không vận hành theo cơ chế khấu trừ từ đó kéo theo là việc không có quy định về khấu trừ thuế và hoàn thuế đối với phương pháp tính trực tiếp trên GTGT Thực chất phương pháp tính trực tiếp trên GTGT không phải là một phương pháp tính thuế đúng với bản chất của thuế GTGT mà chỉ là một cách tiếp cận khoa học để làm

rõ bản chất của loại thuế này11

10 Võ Đình Toàn (2010), Tìm hiểu luật tài chính, Nxb Tư pháp, tr 115

11

https://vi.wikipedia.org/wiki/Thu%E1%BA%BF_gi%C3%A1_tr%E1%BB%8B_gia_t%C4%83

Trang 26

Tính trực tiếp trên GTGT cũng là phương pháp tính thuế được áp dụng tại Việt Nam Sự cần thiết áp dụng phương pháp tính thuế này tại Việt Nam được nhìn nhận dưới những khía cạnh:

Thứ nhất, nền kinh tế của Việt Nam chưa mang tính chuyên nghiệp, còn xuất

hiện nhiều các thành phần kinh doanh nhỏ, lẻ

Bên cạnh những DN với quy mô lớn, hoạt động bài bản thì còn sự hiện diện của rất nhiều các hộ, cá nhân kinh doanh và thường là với quy mô nhỏ hoặc các DN nhỏ Một nét đặc thù vẫn còn gắn bó với Việt Nam là nền kinh tế nông nghiệp, sản xuất vẫn còn mang tính nhỏ lẻ, manh mún mà không mang tính chuyên nghiệp Nhiều hộ, cá nhân thực hiện việc kinh doanh của mình không thực sự với mục đích

để làm giàu mà chỉ để trang trải cuộc sống Đối với những chủ thể này nếu áp dụng phương pháp khấu trừ thuế GTGT đầu vào với họ sẽ là không hợp lý và hiệu quả thu thuế GTGT cũng không được đảm bảo Điều này được lý giải bởi những cơ sở kinh doanh với quy mô nhỏ với doanh thu hằng năm thấp thì rất khó để họ có kinh phí xây dựng một bộ máy kế toán như những DN lớn, bên cạnh đó là chi phí cho hóa đơn, chứng từ và chi phí cho việc thực hiện những thủ tục hành chính luật định Không những vậy, phương pháp tính trực tiếp trên GTGT còn giúp Nhà nước quản

lý thuế hiệu quả, tiết kiệm đối với những chủ thể này

Thứ hai, đảm bảo công bằng về nghĩa vụ thuế của các chủ thể kinh doanh đối

với Nhà nước và chống thất thu thuế GTGT

Đối với những DN lớn, những cơ sở kinh doanh có tổ chức thì áp dụng phương pháp khấu trừ thuế GTGT đầu vào để nộp thuế GTGT Nhưng với vấn đề của các cơ sở kinh doanh nhỏ, lẻ thì việc áp dụng phương pháp khấu trừ thuế GTGT đầu vào là khó thực hiện mà không đem lại hiệu quả và trong nhiều trường hợp chi phí bỏ ra để thu thuế GTGT sẽ lớn hơn số thuế GTGT thu về Tuy nhiên nếu không thu thuế GTGT với những cơ sở kinh doanh nhỏ, lẻ thì sẽ tạo ra bất bình đẳng về nghĩa vụ thuế GTGT đối với Nhà nước Bởi thuế là nghĩa vụ của mọi chủ thể đối với Nhà nước khi phát sinh những sự kiện pháp lý nhất định Như vậy, những chủ thể có cùng sự kiện pháp lý về thuế thì có nghĩa vụ nộp thuế như nhau Nghĩa vụ nộp thuế như nhau hay sự công bằng ở đây không phải là nộp cùng một số thuế như

Trang 27

nhau mà là có cùng nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước khi có cùng một sự kiện pháp

lý luật định Các DN lớn tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch

vụ chịu thuế GTGT có nghĩa vụ nộp thuế GTGT cho Nhà nước thì những cơ sở kinh doanh nhỏ như: hộ, cá nhân kinh doanh hay các DN nhỏ tiến hành những hoạt động như vậy cũng có nghĩa vụ nộp thuế GTGT Mặt khác, nếu không thu thuế GTGT của những cơ sở kinh doanh nhỏ này sẽ làm thất thu đáng kể cho NSNN

1.1.4 Chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng

Chủ thể nộp thuế hay người nộp thuế là một vấn đề quan trọng không thể thiếu trong nội dung của một sắc thuế Chủ thể nộp thuế của mỗi sắc thuế cho biết ai

là người có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước Việc xác định rõ ràng chủ thể này là điều vô cùng quan trọng vì liên quan tới trách nhiệm nộp thuế vào NSNN Chủ thể nộp thuế của mỗi loại thuế là khác nhau do bản chất của loại thuế đó quy định

Trong thuế GTGT, sắc thuế này đánh vào hành vi tiêu dùng, người tiêu dùng

là người chịu thuế và chuyển số thuế GTGT phải nộp cho nhà sản xuất để các nhà sản xuất nộp thay số thuế này vào NSNN Tuy nhiên, để một chủ thể trở thành người nộp thuế của thuế GTGT thì chủ thể này cần đạt những điều kiện nhất định

Thứ nhất, những chủ thể là tổ chức, cá nhân có hành vi sản xuất, kinh doanh

hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT hoặc nhập khẩu hàng hóa chịu thuế GTGT

Điều kiện này được hiểu là những chủ thể kể trên phải thực hiện những thủ tục luật định để tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu Đó là việc đăng ký kinh doanh, đăng ký thành lập DN, thực hiện thủ tục đầu tư; Đối với hành

vi nhập khẩu hàng hóa thì phải đáp ứng đầy đủ điều kiện kinh doanh về nhập khẩu Ngoài ra những chủ thể này còn phải làm thủ tục đăng ký thuế để được cấp mã số thuế Bên cạnh đó, hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu của những chủ thể này tác động lên hàng hóa, dịch vụ mà theo quy định của pháp luật thuế GTGT là hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT12

12 Trường Đại học Luật Hà Nội (2014), Giáo trình Luật Tài Chính, Nxb Công an nhân dân, tr 142

Trang 28

Một điểm cần lưu ý là trong pháp luật thuế GTGT của mỗi quốc gia có những quy định về hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT Những hàng hóa, dịch vụ này tùy thuộc vào chính sách cũng như điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia mà được quy định không chịu thuế GTGT Vì vậy những chủ thể sản xuất, kinh doanh hay nhập khẩu những hàng hóa này sẽ không phải là người nộp thuế GTGT Nhưng một vấn đề đặt ra, nếu một chủ thể sản xuất, kinh doanh hoặc nhập khẩu cả hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT và hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT thì chủ thể này có phải là người nộp thuế GTGT hay không? Trong pháp luật của một số quốc gia quy định người nộp thuế phải là chủ thể sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT hoặc nhập khẩu hàng hóa chịu thuế GTGT Vì vậy, một chủ thể sản xuất, kinh doanh hoặc nhập khẩu vừa hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT và hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT thì vẫn là người nộp thuế GTGT Còn những chủ thể chỉ sản xuất, kinh doanh hay nhập khẩu toàn bộ hàng hóa, dịch vụ là hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT theo quy định của pháp luật mới không phải là người nộp thuế GTGT

Thứ hai, có giá trị gia tăng phát sinh trên lãnh thổ quốc gia

Bản chất của thuế GTGT là đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ Xét trong mối quan hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước và chủ thể nộp thuế thì phần giá trị tăng thêm này chính là đối tượng mà hai bên chủ thể hướng đến Vì giá trị tăng thêm là cơ sở để tính số thuế GTGT phải nộp và cũng là khách thể trong mối quan hệ giữa Nhà nước và người nộp thuế Phạm vi tác động của thuế GTGT chỉ áp dụng trong lãnh thổ quốc gia vì vậy mà chỉ phần giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong lãnh thổ quốc gia thì mới chịu sự điều chỉnh của thuế GTGT Điều này lý giải cho việc pháp luật các quốc gia đều quy định thuế suất đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu là 0% để chuyển quyền đánh thuế GTGT cho quốc gia nhập khẩu và tính thuế GTGT trên toàn bộ giá trị của hàng hóa nhập khẩu

Một chủ thể khi đáp ứng cả hai điều kiện cần và đủ trên mới trở thành chủ thể nộp thuế của thuế GTGT Tuy nhiên đây là chủ thể nộp thuế nói chung của thuế GTGT, trong nội dung của thuế GTGT tồn tại hai phương pháp tính thuế: phương

Trang 29

pháp khấu trừ thuế GTGT và phương pháp tính trực tiếp trên GTGT Tuy nhiên, hai phương pháp này có những nét khác biệt về chủ thể nộp thuế

Chủ thể nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT được nhận diện với một số dấu hiệu: quy mô kinh doanh nhỏ; hoặc không thực hiện được đầy đủ chế độ hóa đơn, chứng từ Những chủ thể này có thể là những cơ sở sản xuất với quy mô nhỏ như: Hộ, cá nhân kinh doanh hoặc DN nhỏ nhưng cũng có thể là những

DN mới thành lập Tuy nhiên điểm mấu chốt của vấn đề là việc thực hiện được đầy

đủ chế độ hóa đơn, chứng từ để quản lý đầu ra, đầu vào của quá trình kinh doanh Khác với những chủ thể nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế GTGT, những chủ thể nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT do không thực hiện được đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ Nếu thực hiện được thì chỉ đối với đầu ra để xác định doanh thu, còn đối với những chủ thể với quy mô sản xuất kinh doanh quá nhỏ thì không thực hiện được chế độ hóa đơn cả đầu vào và đầu ra Vì vậy, chủ thể nộp thuế của phương pháp tính trực tiếp trên GTGT mang những đặc điểm chung của chủ thể nộp thuế GTGT là chủ thể có hành vi sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT và có nghĩa vụ nộp thuế GTGT vào NSNN thay người tiêu dùng Bên cạnh đó, các chủ thể này còn mang những đặc điểm riêng đó là những chủ thể có quy mô sản xuất, kinh doanh nhỏ hoặc chưa thực hiện được đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ

Ngoài ra, khi nói đến chủ thể nộp thuế thì không thể không đề cập tới quyền

và nghĩa vụ của chủ thể nộp thuế trong quan hệ với Nhà nước Chính vì quan hệ thuế là một quan hệ không mang tính bình đẳng nên cần phải xác định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ để một mặt đảm bảo được nguồn thu cho NSNN nhưng mặt khác cũng đảm bảo quyền lợi cho chủ thể yếu thế hơn là người nộp thuế Quyền và nghĩa vụ của chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT được thể hiện trong 2 giai đoạn

Giai đoạn trước khi thực hiện quan hệ thu, nộp thuế: trong giai đoạn này, chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT có nghĩa vụ đăng ký thuế, cung cấp tài liệu cho cơ quan quản lý thuế, sử dụng mã số thuế đúng quy định của

Trang 30

pháp luật Bên cạnh đó, chủ thể này có quyền được cơ quan thuế hướng dẫn thực hiện nộp thuế, được giữ bí mật về thông tin,

Giai đoạn trong khi thực hiện quan hệ thu, nộp thuế: thực hiện đầy đủ chế độ hóa đơn, kê khai thuế trung thực, nộp thuế đúng thời hạn, yêu cầu cơ quan thuế giải thích về việc ấn định thuế, ghi chép trung thực những nghiệp vụ phát sinh trong hóa đơn, cung cấp chính xác, kịp thời những thông tin mà cơ quan thuế yêu cầu,

1.2 Khái quát pháp luật về thuế giá trị gia tăng đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng

1.2.1 Khái niệm pháp luật về thuế giá trị gia tăng đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính thuế trực tiếp trên giá trị gia tăng

Theo cách hiểu chung nhất, pháp luật thuế GTGT được định nghĩa: Là hệ thống các quy phạm pháp luật được Nhà nước đặt ra và đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thu, nộp thuế GTGT

Pháp luật về mỗi sắc thuế bao giờ cũng tồn tại 2 bộ phận là: Pháp luật về nội dung của sắc thuế đó và pháp luật quản lý thuế (hay còn gọi là pháp luật hình thức) Pháp luật nội dung bao gồm các quy định điều chỉnh trực tiếp những vấn đề của một sắc thuế như: Đối tượng chịu thuế, đối tượng không chịu thuế, người nộp thuế, căn cứ tính thuế, phương pháp tính thuế, khấu trừ thuế, hoàn thuế,

Pháp luật quản lý thuế quy định về trình tự, thủ tục của hoạt động quản lý thuế như: Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế và các quy định về giám sát, đảm bảo việc thu thuế như: thanh tra, kiểm tra thuế, cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế, xử phạt vi phạm pháp luật về thuế

Trong pháp luật thuế GTGT cũng tồn tại hai bộ phận này Vì vậy khái niệm pháp luật thuế GTGT không chỉ hiểu là những quy phạm điều chỉnh các quan hệ giữa Nhà nước và người nộp thuế trong quá trình thu, nộp thuế mà cần được hiểu rộng hơn là những quy định pháp luật về từng vấn đề của bản thân thuế GTGT (pháp luật nội dung) làm nền tảng và trên cơ sở những quy định này thì những quy định về quản lý thuế (pháp luật hình thức) mới áp dụng để làm khuôn mẫu cho việc

Trang 31

thu, nộp thuế và sự kết hợp của hai thành phần pháp luật này mới tạo nên tổng thể pháp luật thuế GTGT13 Vì vậy, có thể hiểu pháp luật thuế GTGT đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT là: Hệ thống quy phạm pháp luật do Nhà nước đặt ra và đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước nhằm điều chỉnh mối quan hệ giữa Nhà nước và chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT trong quá trình thu, nộp thuế GTGT

Nếu dựa vào chủ thể nộp thuế theo phương pháp tính thuế thì pháp luật thuế GTGT được hợp thành bởi 2 bộ phận: i) Pháp luật thuế GTGT đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp khấu trừ thuế và ii) Pháp luật thuế GTGT đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT

Pháp luật thuế GTGT đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT sẽ gồm: Các quy định áp dụng chung cho tất cả các chủ thể nộp thuế GTGT như: hàng hóa, dịch vụ chịu thuế; hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế; thuế suất; nghĩa vụ đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế và có cả quy định riêng áp dụng cho chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT như: Quy định điều kiện để chủ thể phải áp dụng phương pháp tính thuế trực tiếp, cách tính thuế trực tiếp đối với từng trường hợp cụ thể, tỷ lệ % áp dụng đối với từng ngành nghề kinh doanh; hóa đơn sử dụng và các quy định riêng trong quản lý thuế đối với loại chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT

Pháp luật thuế GTGT đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT là công cụ quản lý của Nhà nước đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT, là khuôn mẫu và cũng là thước đo cho những hành vi của Nhà nước và chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong việc thu, nộp thuế GTGT

1.2.2 Cấu trúc pháp luật về thuế giá trị gia tăng đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng

13

Vũ Văn Cương (2012), Pháp luật quản lý thuế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam - những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án tiến sỹ luật học, Đại học luật Hà Nội, tr 52

Trang 32

Cấu trúc pháp luật được hiểu là cách sắp xếp những quy phạm pháp luật của

bộ phận hay ngành luật theo những tiêu chí nhất định nhằm hướng đến mục đích nhất định nào đó Mỗi cách tiếp cận dựa vào tiêu chí khác nhau trong việc sắp xếp các quy phạm pháp luật của bộ phận pháp luật hay ngành luật sẽ đưa đến những cấu trúc pháp luật khác nhau Cấu trúc của pháp luật thuế GTGT đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT có thể được sắp xếp theo các tiêu chí sau đây:

- Căn cứ vào nguồn quy phạm pháp luật điều chỉnh thì pháp luật thuế GTGT

đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT được chia thành các bộ phận sau:

+ Nhóm các quy phạm pháp luật điều chỉnh về nội dung quan hệ thuế GTGT giữa Nhà nước với chủ nộp thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT, nhóm các quy phạm pháp luật này được tìm thấy trong Luật thuế GTGT và văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành;

+ Nhóm các phạm pháp luật điều chỉnh về hình thức quan hệ thuế GTGT giữa Nhà nước với chủ nộp thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp hay còn gọi là pháp luật quản lý thuế đối với chủ nộp thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT Nhóm các quy phạm pháp luật này được tìm thấy trong Luật Quản lý thuế và văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành;

+ Nhóm các phạm pháp luật điều chỉnh các vấn đề khác có liên quan đến chủ thể nộp thuế GTGT bằng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng như các quy định về kế toán, hóa đơn bán hàng và những vấn đề khác mà Luật thuế GTGT

và Luật quản lý thuế không quy định hoặc quy định không cụ thể

- Căn cứ vào phạm vi áp dụng của quy phạm pháp luật điều chỉnh thì pháp

luật thuế GTGT đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT được chia thành các nhóm sau:

+ Nhóm quy phạm pháp luật áp dụng chung cho tất cả các chủ thể nộp thuế GTGT như: Quy định về người nộp thuế, đối tượng chịu thuế, đối tượng không chịu thuế, quy định về các quyền và nghĩa vụ của chủ thể quản lý thuế, người nộp thuế,

Trang 33

quy định về quản lý thuế với người nộp thuế như: đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế, quản lý thông tin về người nộp thuế, thanh tra, kiểm tra thuế, xử phạt vi phạm hành chính về thuế

+ Nhóm quy phạm pháp luật chỉ áp dụng riêng cho chủ thể nộp thuế GTGT bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT như: Đối tượng áp dụng; cách tính thuế GTGT trên doanh thu; tỷ lệ % tính trên doanh thu; hóa đơn sử dụng; khoán thuế với những chủ thể không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế độ hóa đơn, chứng

từ

+ Nhóm quy phạm pháp luật về thuế GTGT chỉ áp dụng cho chủ thể nộp thuế GTGT bằng phương pháp khấu trừ thuế GTGT đầu vào như: khấu trừ, hoàn thuế GTGT

1.2.3 Những yếu tố chi phối đến nội dung điều chỉnh của pháp luật về thuế giá trị gia tăng đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng

Khi nghiên cứu về pháp luật thuế GTGT đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT thì không thể không xem xét những yếu tố chi phối đến nội dung điều chỉnh của pháp luật Vì vậy, nghiên cứu những yếu tố chi phối đến nội dung điều chỉnh của pháp luật là tìm ra những yếu tố tác động làm thay đổi pháp luật và khi nhận diện được những yếu tố chi phối đến pháp luật sẽ giúp xây dựng pháp luật hiệu quả hơn Những yếu tố chi phối đến pháp luật thuế GTGT đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT bao gồm:

Thứ nhất, điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia

Điều kiện kinh tế - xã hội phần nào phản ánh về tình hình kinh tế, sự phát triển kinh tế và đời sống xã hội của mỗi quốc gia Có những quốc gia có nền kinh tế vững mạnh với những DN quy mô lớn, hoạt động chuyên nghiệp và có tổ chức Tuy nhiên, bên cạnh đó có những quốc gia có nền kinh tế còn nhiều thành phần kinh doanh nhỏ, hoạt động thiếu tổ chức, thiếu tính chuyên nghiệp Pháp luật được ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong đời sống thực tế, những

Trang 34

quan hệ xã hội này tồn tại trên cơ sở điều kiện kinh tế - xã hội của quốc gia Pháp luật của quốc gia này có thể rất tiến bộ, khoa học hơn so với pháp luật của quốc gia khác nhưng không có cơ sở chắc chắn rằng nếu áp dụng pháp luật của một quốc gia tiến bộ hơn sẽ đem lại hiệu quả Điều này cho thấy rằng điều kiện kinh tế - xã hội là một yếu tố chi phối đáng kể đến pháp luật của mỗi quốc gia Vì vậy, để điều chỉnh những quan hệ xã hội thì pháp luật phải dựa trên những thực tế phát sinh trong đời sống Pháp luật cần phải xem xét, nghiên cứu kỹ lưỡng điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù làm cơ sở để có sự điều chỉnh phù hợp, tạo hiệu quả cao nhất Còn nếu pháp luật được ban hành mà không dựa trên những điều kiện kinh tế - xã hội thì rất khó

để những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống và những quy định đó sẽ mãi chỉ

là những quan điểm của các nhà lập pháp với nhau

Thực tiễn hiện nay ở nước ta cho thấy, chủ thể kinh doanh chiếm tỷ lệ lớn trong nền kinh tế là các DN vừa và nhỏ, các hộ kinh doanh, mà hầu hết các đối tượng này chưa quan tâm nhiều đến việc mở, ghi chép sổ sách kế toán, thực hiện đầy đủ chế độ hoá đơn, chứng từ trong mua bán hàng hoá, dịch vụ nên việc thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật thuế trong cơ chế tự khai, tự nộp sẽ gặp nhiều khó khăn Với đặc thù là nền kinh tế nông nghiệp gồm nhiều thành phần kinh

tế trong đó các hộ, cá nhân kinh doanh, DN nhỏ chiếm số lượng lớn, điều kiện kinh

tế - xã hội này đã có những chi phối nhất định đến pháp luật thuế GTGT đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT Phương pháp tính trực tiếp trên GTGT được quy định trong Luật thuế GTGT và Luật quản lý thuế để thực hiện việc quản lý đối với những chủ thể kinh doanh này Do đó, pháp luật thuế GTGT đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT luôn cần dựa trên điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù này để xây dựng các quy định pháp luật phù hợp

Thứ hai, mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật

Mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật ở đây là sự phù hợp, tương thích trong nội tại của những quy định pháp luật về thuế GTGT đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT và sự phù hợp giữa các quy định của

Trang 35

pháp luật có liên quan với pháp luật thuế GTGT đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT

Trong hệ thống pháp luật thuế GTGT đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT tồn tại hai thành phần là pháp luật nội dung và pháp luật hình thức Pháp luật nội dung quy định vấn đề về nội dung như: người nộp thuế, phương pháp tính thuế, tỉ lệ phần trăm trên doanh thu Pháp luật hình thức quy định về trình tự, thủ tục trong quản lý thuế như: đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế đối với từng chủ thể của phương pháp tính trực tiếp trên GTGT Hai thành phần pháp luật này có sự tác động qua lại lẫn nhau Nếu pháp luật nội dung làm nên đầy đủ thành phần, nội dung của một sắc thuế thì pháp luật hình thức giúp quản lý việc thu sắc thuế đó Pháp luật hình thức cần dựa trên nền tảng, những nét đặc thù của pháp luật về nội dung để có những quy định giúp quản lý thuế một cách phù hợp, hiệu quả Nếu chỉ có pháp luật nội dung mà không có pháp luật hình thức sẽ không có công cụ để quản lý thuế còn nếu không có pháp luật nội dung thì không thể xây dựng được pháp luật hình thức Thông thường thì sự thay đổi về pháp luật nội dung sẽ kéo theo những sự thay đổi về pháp luật hình thức để có sự điều chỉnh phù hợp

Ngoài ra, pháp luật có liên quan cũng có những tác động đáng kể đến sự điều chỉnh của pháp luật thuế GTGT đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT Pháp luật có liên quan khi có sự thay đổi trong các quy định

sẽ đưa đến sự thay đổi trong quy định của pháp luật thuế GTGT và luôn cần có sự thống nhất, tương thích giữa pháp luật thuế GTGT và pháp luật có liên quan để tạo

ra sự điều chỉnh hiệu quả nhất

Thứ ba, ý thức chấp hành pháp luật của người dân

Ý thức chấp hành pháp luật thuế của người dân là một yếu tố quan trọng trong việc xác định nội dung điều chỉnh của pháp luật Khi người dân có kiến thức, hiểu biết đầy đủ về pháp luật thuế, có ý thức pháp luật tốt thì khi đó mới đảm bảo rằng họ tự giác thực hiện được đúng, đầy đủ nghĩa vụ thuế của mình, họ thấy trách nhiệm của mình phải tham gia vào công tác quản lý thuế và mới giám sát quá trình thực hiện pháp luật thuế Trái lại, sự hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật thuế

Trang 36

của người dân còn thấp thì tình trạng trốn thuế còn diễn ra, những tiêu cực trong

quản lý thuế vẫn còn có “đất” để tồn tại Do vậy, việc quy định trong pháp luật thuế

phải tính đến yếu tố này Bởi vì ở nước ta hiện nay, ý thức trách nhiệm về nghĩa vụ thuế, sự hiểu biết về các luật thuế và quy trình thủ tục thực hiện các nghĩa vụ thuế của người nộp thuế nói riêng và người dân nói chung còn hạn chế

Một trong những điều kiện để áp dụng hiệu quả thuế GTGT là ý thức chấp hành pháp luật của người dân ở mức tốt Một biểu hiện của ý thức chấp hành tốt pháp luật thuế GTGT là việc sử dụng hóa đơn, chứng từ đúng quy định của pháp luật Pháp luật được ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội Nếu đến khi ý thức pháp luật của người dân tốt thì mới áp dụng thuế GTGT sẽ là một điều không hợp lý Lúc này, pháp luật phải được ban hành sao cho phù hợp với ý thức pháp luật của người dân Tức là, đối với những quốc gia mà ý thức chấp hành pháp luật của người dân chưa tốt thì pháp luật cần được xây dựng theo hướng chặt chẽ, chi tiết và nhiều chế tài mang tính răn đe nghiêm khắc Còn đối với những quốc gia mà ý thức tuân thủ pháp luật của người dân tốt thì pháp luật sẽ không cần thiết phải xây dựng theo hướng như vậy Tại Việt Nam, văn hóa lấy hóa đơn sau khi mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ của người tiêu dùng chưa được thực hiện Điều này phần nào tiếp tay cho việc sử dụng bất hợp pháp hóa đơn của các cơ sở kinh doanh Vì vậy, khi ban hành hoặc sửa đổi pháp luật thì pháp luật thuế GTGT đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT cần dựa trên yếu tố văn hóa pháp luật này để đảm bảo tính hiệu quả cho việc điều chỉnh của pháp luật

Thứ tư, trình độ, năng lực quản lý của cơ quan quản lý thuế và đội ngũ cán

bộ, công chức thuế

Cơ quan quản lý hay đội ngũ cán bộ, công chức thuế là những chủ thể thực thi quyền lực nhà nước trong quản lý thuế và pháp luật là công cụ hữu hiệu nhất để thực hiện việc quản lý này Trình độ, năng lực quản lý của cơ quan thuế thể hiện thông qua việc phân công, phân cấp quản lý, bố trí lực lượng và điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị quản lý Trình độ, năng lực của cán bộ, công chức thuế thể hiện ở trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trong đó một điểm quan trọng là khả năng sử dụng công nghệ trong quản lý thuế cùng với đó là tính chuyên nghiệp và thái độ, phong

Trang 37

cách làm việc14 Pháp luật thuế GTGT đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT ở Việt Nam thực chất đang quản lý những cơ sở kinh doanh với quy mô nhỏ và chưa thực hiện được đẩy đủ chế độ hóa đơn, chứng từ Điều này đặt ra nhiệm vụ cho sự điều chỉnh của pháp luật và việc quản lý của cơ quan nhà nước những điểm đặc thù Để pháp luật là công cụ quản lý của Nhà nước thì pháp luật cần phải phù hợp với trình độ, năng lực quản lý của cơ quan nhà nước cũng như đội ngũ cán bộ, công chức thuế Có như vậy, cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức thuế mới sử dụng được pháp luật để quản lý thuế đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT một cách hiệu quả Sự phù hợp ở đây là phù hợp với khả năng quản lý như: điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị quản lý thuế của Nhà nước, nguồn ngân sách cho việc quản lý thuế, sự phân cấp quản lý của các cơ quan quản lý thuế, trình độ chuyên môn và khả năng sử dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế của cán bộ thuế Tuy nhiên, cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức thuế cần luôn nâng cao năng lực, trình độ quản lý của mình để pháp luật thuế GTGT thay đổi theo hướng tích cực hơn nhằm quản lý thuế một cách tối ưu

Thứ năm, yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế

Để phát triển kinh tế, mỗi quốc gia đều thực hiện chính sách mở cửa thị trường nhằm hội nhập kinh tế Việc hội nhập không chỉ đem lại những sự thay đổi

về kinh tế, đời sống xã hội mà còn tạo nên những sự thay đổi về pháp luật Pháp luật mỗi quốc gia một mặt phải điều chỉnh để phù hợp, tương thích với những quy định của các hiệp định thương mại mà mình ký kết nhưng mặt khác cũng phải có những thay đổi để thu hút đầu tư nước ngoài khi hội nhập kinh tế Một trong những đích hướng tới của việc hội nhập kinh tế là thu hút được đầu tư nước ngoài và chính sách, pháp luật là công cụ hiệu quả để thực hiện mục tiêu này Chủ thể kinh doanh nếu có hành vi sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT, nhập khẩu hàng hóa chịu thuế GTGT và có GTGT phát sinh trên lãnh thổ Việt Nam sẽ phải nộp thuế GTGT Nộp thuế GTGT là nghĩa vụ của mọi chủ thể kinh doanh khi đáp

14

Vũ Văn Cương (2012), Pháp luật quản lý thuế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam - những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án tiến sỹ luật học, Đại học luật Hà Nội, tr 68

Trang 38

ứng những điều kiện luật định dù là chủ thể trong nước hay nước ngoài Vì vậy, những quy định về chủ thể nộp thuế đối với phương pháp tính trực tiếp trên GTGT của pháp luật thuế GTGT tại Việt Nam sẽ bị tác động bởi quá trình hội nhập kinh tế

và thay đổi để đảm bảo việc thu hút đầu tư nước ngoài Sự thay đổi về pháp luật sẽ được thực hiện theo hướng đảm bảo công bằng, bình đẳng về nghĩa vụ nộp thuế giữa hai phương pháp tính thuế GTGT Bên cạnh đó, quá trình hội nhập kinh tế cũng đặt ra yêu cầu cho pháp luật về thuế GTGT đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT phải có những thay đổi để cạnh tranh, có sức hấp dẫn hơn pháp luật của những quốc gia khác nhằm tạo sức hút đối với các nhà đầu tư

Kết luận chương 1

Qua nghiên cứu những vấn đề lý luận về pháp luật thuế GTGT đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT, luận văn đưa ra một số kết luận sau:

Thứ nhất, Thuế GTGT là loại thuế tiên tiến, khoa học và được nhiều nước áp

dụng Ưu điểm lớn nhất của thuế GTGT so với thuế doanh thu trước đây là: khắc phục được tình trạng đánh trùng thuế bằng việc chỉ đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ cùng với cơ chế khấu trừ Tuy nhiên để ban hành và áp dụng

có hiệu quả thuế GTGT trong mỗi quốc gia cần có những điều kiện nhất định Tuy nhiên, do điều kiện hoàn cảnh ở mỗi quốc gia có những nét đặc thù, pháp luật thuế GTGT ở mỗi quốc gia có quy định riêng cho phù hợp với điều kiện của quốc gia mình

Thứ hai, phương pháp tính trực tiếp trên GTGT là một phương pháp tính

thuế đặc thù ở một số nước trong đó có Việt Nam Phương pháp này được áp dụng chủ yếu để quản lý đối với những chủ thể kinh doanh với quy mô nhỏ, chưa thực hiện tốt chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ…Tuy nhiên, dù áp dụng phương pháp tính thuế nào thì vẫn phải bảo đảm bản chất của thuế GTGT và không tạo ra quá nhiều sự khác biệt giữa các phương pháp tính thuế

Trang 39

Thứ ba, pháp luật về thuế GTGT đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp

tính trực tiếp trên GTGT ở Việt Nam là một bộ phận pháp luật chịu sự phối của nhiều yếu tố, việc nghiên cứu cấu trúc và các yếu tố chi phối nhằm nhận diện, đánh giá và hướng đến việc hoàn thiện pháp luật để đạt được hiệu quả trong việc thu thuế GTGT

Trang 40

Chương 2

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI CHỦ THỂ NỘP THUẾ BẰNG PHƯƠNG PHÁP TÍNH TRỰC TIẾP TRÊN GIÁ TRỊ

GIA TĂNG Ở VIỆT NAM

2.1 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về thuế giá trị gia tăng đối với chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng

ở Việt Nam

Tại kỳ họp 11, Quốc hội khóa IX, đã thông qua Luật thuế GTGT ngày 10/05/1997 Đây là văn bản đầu tiên đặt nền móng cho thuế GTGT được áp dụng tại Việt Nam Sau một thời gian áp dụng, Luật thuế GTGT đã được sửa đổi, bổ sung vào năm 2002 và 2005 Đến ngày 03/06/2008, Quốc hội ban hành Luật thuế GTGT số: 13/2008/QH12 thay thế cho Luật thuế GTGT năm 1997 Sau một thời gian áp dụng, thực tiễn đã cho thấy nhiều vướng mắc cần khắc phục, Quốc hội đã ban hành Luật số: 31/2013/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều Luật thuế GTGT năm 2008; Luật số 71/2014/QH13 ngày 26/11/ 2014 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế; và Luật số 106/2016/QH13 ngày 06/04/2016 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật quản lý thuế

Là một bộ phận của pháp luật thuế GTGT, pháp luật về chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT cũng được hoàn thiện trong quá trình hoàn thiện của pháp luật thuế GTGT Quá trình hoàn thiện pháp luật về chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT ở nước ta có thể chia thành 3 giai đoạn sau:

Giai đoạn từ năm 1999 đến năm 2008 (giai đoạn Luật thuế GTGT năm 1997có hiệu lực thi hành)

Pháp luật về chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT đã được hình thành với những quy định chủ yếu sau:

- Về chủ thể nộp thuế bằng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT gồm 3 loại đối tượng là: Cá nhân sản xuất, kinh doanh; Tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh

Ngày đăng: 04/08/2019, 15:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w