Tuy nhiên, thực tiễn thi hành BLTTHS đã bộc lộ những hạn chế trong các qui định của pháp luật, như: các quy định về trách nhiệm tiếp nhận thông tin về tội phạm, kiểm sát việc tiếp nhận,
Trang 1SOMEXAI KEOMANE
KIỂM SÁT VIỆC KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO PHÁP
LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ LÀO VÀ VIỆT NAM
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn theo đúng quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
SOMEXAI KEOMANE
Trang 3Từ viết tắt Tên đầy đủ
BLHS Bộ luật Hình sự BLTTHS Bộ luật Tố tụng hình sự CHDCND Cộng hòa dân chủ nhân dân CQĐT Cơ quan điều tra VKSND Viện kiểm sát nhân dân VKSNDTC Viện kiểm sát nhân nhân tối cao XHCN Xã hội chủ nghĩa
Trang 4
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KIỂM SÁT VIỆC KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 8
1.1 Khởi tố vụ án hình sự 8
1.1.1 Khái niệm khởi tố vụ án hình sự 8
1.1.2 Đặc điểm và ý nghĩa của khởi tố vụ án hình sự 11
1.2 Kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự 14
1.2.1 Hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân 14
1.2.2 Khái niệm kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự 16
1.2.3 Đặc điểm kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự 18
1.2.4 Ý nghĩa của kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự 19
1.3 Khái quát lịch sử quy định pháp luật tố tụng hình sự Lào và Việt Nam về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự 21
1.3.1 Khái quát lịch sử các quy định pháp luật tố tụng hình sự Lào trước năm 2012 về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự 21
1.3.2 Khái quát lịch sử các quy định pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trước năm 2015 về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự 24
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 29
CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ LÀO VÀ VIỆT NAM VỀ KIỂM SÁT VIỆC KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ DƯỚI GÓC ĐỘ SO SÁNH 31
2.1 Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự Lào (sửa đổi) năm 2012 về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự 31
2.2 Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam năm 2015 về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự 33
Trang 52.3.1 Những điểm tương đồng 38
2.3.2 Những điểm khác biệt 45
2.3.3 Nhận xét chung 53
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 57
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG KIỂM SÁT VIỆC KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ Ở LÀO 58
3.1 Thực trạng áp dụng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự ở Lào 58
3.1.1 Những kết quả đạt được 58
3.1.2 Những hạn chế, vướng mắc trong áp dụng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự ở Lào và nguyên nhân 61
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự ở Lào 66
3.2.1 Giải pháp về hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Lào về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự 66
3.2.2 Các giải pháp khác 71
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 79
KẾT LUẬN 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 6
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (CHDCND Lào) hiện nay, bộ máy Nhà nước đang trong quá trình cải cách nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung, các cơ quan tư pháp nói riêng Việc nghiên cứu để hoàn thiện các cơ chế bảo vệ pháp luật, trong đó có vấn đề thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự là một trong những nhiệm vụ cấp thiết vì nó không chỉ liên quan đến tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND)
mà còn liên quan đến tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung, trước hết
và đặc biệt là các cơ quan tư pháp
Là cơ quan thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật, những quyết định áp dụng pháp luật khách quan, nghiêm minh, thống nhất của VKSND đã đóng góp tích cực vào công cuộc đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN), giữ vững an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội Trong những năm qua, thực hiện chỉ đạo của Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) Lào, các VKSND địa phương trong cả nước đã thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của ngành, nâng cao tỉ lệ phát hiện tội phạm, hạn chế bỏ lọt tội phạm Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được vẫn còn có những hạn chế gây ra những hậu quả về danh dự, nhân phẩm cũng như vật chất đối với những người bị bắt, khởi tố, điều tra oan, sai, làm ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín của ngành Kiểm sát nói riêng và các cơ quan bảo vệ pháp luật nói chung trước quần chúng nhân dân và dư luận xã hội
Trong tố tụng hình sự, khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của hoạt động
tố tụng hình sự, có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định có hay không dấu hiệu tội phạm để quyết định đưa vụ việc giải quyết theo thủ tục tố tụng hình sự với nguyên tắc
"Mọi hình vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lí nhanh chóng, công minh,
theo đúng pháp luật"
Khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự, đây là giai đoạn đầu tiên, mở đầu cho các giai đoạn tiếp theo của tố tụng hình sự trong vụ án hình
Trang 7sự Giai đoạn này bắt đầu từ việc tiếp nhận và phát hiện các nguồn thông tin về tội phạm và kết thúc bằng việc cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự Khởi tố vụ án hình sự có căn cứ đúng pháp luật là cơ sở cho các hoạt động tiếp theo, ngược lại khởi tố không có căn cứ pháp luật sẽ dẫn đến tình trạng làm oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm Các qui định của Bộ luật tố tụng hình sự Lào năm 2004, được sửa đổi bổ sung năm 2012 (sau đây gọi tắt là BLTTHS Lào năm 2012) về khởi tố vụ án hình sự nói chung và căn cứ, cơ sở khởi tố vụ án hình sự nói riêng là cơ sở pháp lý để các cơ quan có thẩm quyền thực thi có hiệu quả quyết định đưa sự việc giải quyết bằng thủ tục tố tụng hình sự Đồng thời nó cũng là những công
cụ để bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự góp phần thực hiện đấu tranh phòng ngừa tội phạm có hiệu quả
Tuy nhiên, thực tiễn thi hành BLTTHS đã bộc lộ những hạn chế trong các qui định của pháp luật, như: các quy định về trách nhiệm tiếp nhận thông tin về tội phạm, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết thông tin về tội phạm; các quy định về trách nhiệm xác định dấu hiệu tội phạm, trách nhiệm quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định không khởi tố vụ án hình sự, công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra hoạt động khởi tố
vụ án hình sự và chế độ bảo mật và bảo vệ người cung cấp thông tin về tội phạm còn hạn chế Ngoài ra, trong hoạt động tố tụng hình sự vẫn còn tình trạng các cơ quan có thẩm quyền xác định không đúng căn cứ và cơ sở khởi tố vụ án hình sự nên dẫn đến tình trạng bỏ lọt tội phạm, bắt, giữ, giam, truy tố oan sai người vô tội Thực trạng đó làm ảnh hưởng đến uy tín của Nhà nước mà trước hết là uy tín của các cơ quan bảo vệ pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với nền tư pháp XHCN Mà một trong những nguyên nhân đó là việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong khởi tố vụ án hình sự còn nhiều bất cập, đòi hỏi phải được hoàn thiện trong thời gian sớm nhất
Nhận thức rằng, việc học tập, nghiên cứu pháp luật các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước láng giềng anh em có mối quan hệ truyền thống và những điểm tương đồng về lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, trong đó có Việt Nam, là điều
vô cùng cần thiết đối với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật tố tụng hình sự của Lào nói riêng trong giai đoạn hiện nay Chính vì vậy, trên khía cạnh
Trang 8nghiên cứu về hoạt động kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự, tôi đã lựa chọn đề tài
“Kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Lào và Việt
Nam dưới góc độ so sánh” làm đề tài luận văn Thạc sĩ Luật học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm vừa qua, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động VKS trong khởi tố
vụ án hình sự, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến lĩnh vực này
Ở Việt Nam, hoạt động kiểm sát của VKSND là một vấn đề quan trọng, vì vậy, hoàn thiện pháp luật về hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật nói chung, kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự được quan tâm từ rất sớm, trong đó:
(1) Về sách có thể kể đến các công trình tiêu biểu như: Lê Hữu Thể (chủ biên,
2008), Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn
điều tra, Sách chuyên khảo, NXB Tư pháp;…
(2) Về luận án, luận văn: Lê Thị Tuyết Hoa (2002), Quyền công tố ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội; Trần Công Hòa (2004), Kiểm
sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố -điều tra vụ án hình sự, Luận văn
thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội; Lê Lan Chi (2005), Kiểm sát
việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự -Một số vấn đề lý luận và thực tiễn,
Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội; Đặng Văn Thực
(2014), Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của VKS trong giai đoạn khởi tố vụ án
hình sự, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội; Nguyễn
Khắc Quang (2014), Vai trò của VKS trong khởi tố vụ án hình sự, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội;…
(3) Về tạp chí có thể kể đến: Trần Văn Độ (2004), “Một số vấn đề về hoạt động
tư pháp và kiểm sát hoạt động luật pháp ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Luật học, số
2/2004; Nguyễn Minh Đức (2006), “Về chức năng, nhiệm vụ của VKS theo tinh thần
cải cách tư pháp”, Tạp chí Kiểm sát, số 9/2006; Khuất Văn Nga (2005), “Những chủ
trương của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp tổ chức hoạt động của VKSND
trong thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Kiểm sát, số 15/2005; Đỗ Văn Đương (2006), “Cơ quan thực hành quyền công tố trong cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay”, Tạp chí
Kiểm sát, số 4/2006; Phạm Mạnh Hùng (2007), “Hoàn thiện các quy định của
Trang 9BLTTHS về quan hệ giữa VKS và CQĐT trong tố tụng hình sự”, Tạp chí Kiểm sát, số
2/2007; Phạm Mạnh Hùng (2007), “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc khởi tố
vụ án và kiểm sát việc khởi tổ vụ án”, Tạp chí Kiếm sát, số Tân Xuân, 2/01-2007;
Nguyễn Tiến Sơn (2009), “Phân biệt thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt
động tư pháp trong tố tụng hình sự”, Tạp chí Kiểm sát, số 09, tháng 5/2009; Lê Hữu
Thể (2012), “Một số đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định về VKS trong Hiến pháp
năm 1992”, Tạp chí Kiểm sát, Số Xuân tháng 01/2012; Vũ Gia Lâm (2013), “Hoàn
thiện một số quy định của BLTTHS nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động của
VKSND trong kiểm sát việc khởi tổ vụ án hình sự”, Tạp chí Kiểm sát, sô 07, tháng
4/2013; Nguyễn Như Hùng (2014), “Những quy định về kiểm sát hoạt động tư pháp
trong dự thảo Luật tổ chức VKSND (sửa đổi)”, Tạp chí Kiểm sát, số 04, tháng
02/2014;
Tại nước CHDCND Lào, dù hệ thống pháp luật mới hơn 40 năm xây dựng và phát triển, nhưng các vấn đề về hoạt động tư pháp, tổ chức, hoạt động của VKSND cũng như hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật đã được đặt trọng tâm nghiên cứu, để đảm bảo tính minh bạch, vững mạnh của nền tư pháp nước nhà Trong đó có
thể kể đến các công trình tiêu biểu như: Trường Đại học Quốc gia Lào (2014), Giáo
trình Luật tố tụng hình sự Lào, NXB Đại học Quốc gia Lào, Viêng Chăn; Khamkeo
Vongxi (2006), So sánh Pháp luật tố tụng hình sự Lào – Thái Lan về chức năng,
nhiệm vụ của VKS, Luận án tiến sĩ Luật học, Cao đẳng miền Bắc Lào; Cha Khăm
Bupha Livan (2005), Chức năng kiểm sát của VKSNDTC Lào, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Lào; Toong Kao Saynhachit (2008), Một số kiến
nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Lào về hoạt động kiểm sát của VKSND Lào,
NXB Tư pháp, Viêng Chăn; Xoom Khay Phumavong (2010), “Chức năng của VKS
trong tố tụng hình sự”, Tạp chí Kiểm sát, (2);…
Những công trình nghiên cứu khoa học, những bài viết trên đây đã tập trung nghiên cứu về tổ chức, hoạt động của VKSND nói chung, về chức năng chính của VKS trên một số hoạt động cụ thể Cũng đã có công trình nghiên cứu về chức năng, nhiệm vụ nói chung của VKS trong khởi tố vụ án hình sự Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu về vấn đề Kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự dưới
Trang 10góc độ so sánh giữa pháp luật tố tụng hình sự Lào và pháp luật tố tụng hình sự Việt
Nam Do vậy, có thể nói đề tài “Kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự theo pháp luật tố
tụng hình sự Lào và Việt Nam dưới góc độ so sánh” là đề tài hoàn toàn mới, và mang
tính cấp thiết trong bối cảnh yêu cầu sửa đổi, bổ sung các quy định tố tụng hình sự cho phù hợp với Hiến pháp Lào 2015, cải cách tư pháp cũng như bảo đảm quyền con người ở nước CHDCND Lào hiện nay
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật tố tụng hình
sự về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự của hai nước Lào và Việt Nam Thực tiễn áp dụng quy định của BLTTHS Lào năm 2012 cũng là đối tượng nghiên cứu của luận văn này, là cơ sở để tác giả đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự của VKSND Lào trong giai đoạn hiện nay
- Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu quy định pháp luật của Nhà nước Lào cũng như Nhà nước Việt Nam về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự mà cụ thể là BLTTHS Lào năm 2012 và BLTTHS Việt Nam năm 2015
Về thực tiễn, luận văn tập trung nghiên cứu thực tiễn áp dụng quy định của BLTTHS Lào năm 2012 được sửa đổi bổ sung năm 2012, trong giai đoạn 5 năm từ 2012-2017
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ khái niệm, cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thực hiện công tác kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự; những quy định của pháp luật tổ tụng hình sự
về kiểm sát việc khởi tổ vụ án hình sự của hai nước Lào và Việt Nam, qua đó đánh giá những điểm tương đồng và khác biệt trong các quy định của pháp luật tố tụng hình sự hai nước trong kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự, Từ đó rút ra được những bài học kinh nghiệm và một số kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật tổ tụng hình sự Lào cũng như giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kiểm sát việc khởi tổ án hình sự ở Lào trong thời gian tới
Trang 115 Các câu hỏi nghiên cứu
- Khởi tố vụ án hình sự là gì? Đặc điểm và ý nghĩa của khởi tố vụ án hình sự?
- Kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự là gì? Ý nghĩa của hoạt động kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự?
- Quá trình hình thành và phát triển các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Lào và Việt Nam về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự?
- Quy định pháp luật tố tụng hình sự Lào và Việt Nam hiện hành về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự?
- Những điểm tương đồng và khác biệt trong quy định pháp luật tố tụng hình sự Lào và Việt Nam hiện hành về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự? Các bài học kinh nghiệp rút ra từ việc so sánh pháp luật tố tụng hình sự Lào và Việt Nam hiện hành về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự?
- Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật tố tụng hình sự Lào về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự trong thời gian qua: Những kết quả đạt được, hạn chế còn tồn tại
và nguyên nhân?
- Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của BLTTHS về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự ở Lào?
6 Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật, các quan điểm và đường lối của Đảng, Nhà nước hai nước về cái cách tư pháp
Đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thề như: phân tích, thống kê, tổng hợp, so sánh, tổng kết thực tiễn nhằm giải quyết mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đê tài
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Trước yêu cầu của cải cách tư pháp cùng như đòi hỏi thực tế về tính chính xác, hiệu quả của khởi tố vụ án hình sự và mục đích bảo vệ pháp chế XHCN ở nước CHDCND Lào, luận văn đã tổng hợp, nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về kiểm sát việc khởi tô vụ án hình sự Thông qua việc so sánh, đánh giá những điểm tương đồng và khác biệt trong các quy định của pháp luật Lào và Việt
Trang 12Nam về vấn dề này, đề tài đã tổng hợp lại những bài học kinh nghiệm của pháp luật Việt Nam trong công tác kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự Từ đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự trên thực tế ở Lào hiện nay
8 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm có 3 chương sau:
Chương 1 Những vấn đề chung về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự
Chương 2 Pháp luật tố tụng hình sự Lào và Việt Nam về kiểm sát việc khởi tố
vụ án hình sự dưới góc độ so sánh
Chương 3 Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng kiểm sát việc khởi tố
vụ án hình sự ở Lào
Trang 13CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KIỂM SÁT VIỆC KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1 Khởi tố vụ án hình sự
1.1.1 Khái niệm khởi tố vụ án hình sự
Quan hệ pháp luật hình sự là quan hệ giữa Nhà nước và người phạm tội, trong
đó với tư cách là người bảo vệ lợi ích của toàn xã hội, Nhà nước có quyền khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với người phạm tội, buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm tương ứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm mà họ
đã gây ra
Khi tội phạm xảy ra, việc giải quyết vụ án phải trải qua nhiều giai đoạn và do nhiều cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện nhằm xác định chính xác, khách quan bản chất vụ án, áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Toàn bộ quá trình giải quyết vụ án được gọi là tố tụng hình sự
Tố tụng hình sự là một quá trình bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau, mặc dù có nhiệm vụ và ý nghĩa khác nhau nhưng đều nhằm một mục đích là kịp thời, nhanh chóng phát hiện và xử lý tội phạm Trong quá trình này, khởi tố vụ án hình sự (trong tiếng Lào là mở cuộc điều tra) là giai đoạn tố tụng đầu tiên, là giai đoạn tố tụng khởi động quá trình giải quyết vụ án hình sự
Về khái niệm khởi tố vụ án hình sự, cho đến nay, đã có nhiều khái niệm khởi tố
vụ án hình sự được đưa ra Theo Từ điển Luật học, “khởi tố vụ án hình sự là một giai
đoạn tố tụng độc lập, mở đầu các hoạt động điều tra Trong giai đoạn này, cơ quan có thẩm quyền khởi tố tiến hành các hoạt động để xác định dấu hiệu của tội phạm”1
Khái niệm này khẳng định khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng độc lập, có ý nghĩa
là giai đoạn mở đầu của quá trình tố tụng hình sự, xác định chủ thể tiến hành cũng như
nhiệm vụ của chủ thể trong giai đoạn này là “xác định dấu hiệu tội phạm” nhưng vẫn
chưa đưa đến mục đích cuối cùng của việc thực hiện nhiệm vụ này Mặt khác, khái niệm vẫn chưa khái quát được phạm vi của khởi tố vụ án hình sự, những cơ sở để thực hiện nhiệm vụ và những biện pháp thực hiện nhiệm vụ của chủ thể tiến hành
1
Bộ Tư pháp – Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb Tư pháp – Nxb Từ điển Bách khoa, Hà
Nội, tr 429
Trang 14Theo các tác giả Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội2
thì: Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu cửa tố tụng hình sự, trong
đó cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu vi phạm để ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án Trong khi đó, các tác giả Giáo trình
Luật tố tụng hình sự Lào của Khoa Luật - Trường Đại học Quốc gia Lào3 định nghĩa
về khởi tố vụ án hình sự (mở cuộc điều tra) như sau: “mở cuộc điều tra” là giai đoạn
mở đầu cửa tố tụng hình sự, trong đó cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không
có dấu hiệu vi phạm để ra quyết định mở cuộc điều tra hoặc quyết định không mở cuộc điều tra Hai khái niệm này đã khẳng định mở cuộc điều tra/ khởi tố vụ án hình
sự là giai đoạn mở đầu của tố tụng hình sự; do cơ quan có thẩm quyền tiến hành cũng như đưa ra được nhiệm vụ của các cơ quan đó trong giai đoạn này Mặc dù chưa thực
sự đầy đủ, nhưng nhìn chung khái niệm này đã phần nào khắc họa được những đặc điểm của khởi tố vụ án hình sự
Theo tác giả Lê Cảm thì giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng hình sự đầu tiên mà trong đó cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền căn 10cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, tiến hành việc xác định có (hau không) các dấu hiệu của tội phạm trong hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện, đồng thời ban hành quyết định về việc khởi tố vụ án (hoặc không khởi tố) vụ án hình sự liên quan đến hành vi đó4 Do vậy, khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của trình tự giải quyết vụ án, có nhiệm vụ xác định một sự việc xảy ra trong thực tế có hay không
có dấu hiệu của tội phạm để ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn được tiến hành trước các giai đoạn tố tụng tiếp theo như: điều tra, truy tố, xét xử Do đó giai đoạn này có ý nghĩa quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, xác lập cơ sở pháp lý cho hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm, người phạm tội, lập hồ sơ vụ
án, đề nghị truy tố người phạm tội ra trước Tòa án để xét xử
Nội, tr 233
Lào, Viêng Chăn, tr.150
Trang 15“Khởi tố vụ án hình sự” được Tiến sĩ Trần Quang Tiệp khắc họa khá chi tiết
như sau: khởi tố vụ án hình sự “là giai đoạn đầu tiên của tố tụng hình sự có nhiệm vụ
xác định sự việc có xảy ra dấu hiệu tội phạm hay không? Giai đoạn này bắt đầu từ khi
Cơ quan điêu tra, VKS, Tòa án, đơn vị Bộ đội Biên phòng, cơ quan Hải qua Viện Kiêm lâm và các cơ quan có thẩm quyền khác nhận được tin báo hoặc tố giác về tội phạm hoặc trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm và kết thúc bằng việc cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tổ vụ hình sự”5 Khái niệm đã vạch ra tương đối đầy đủ các đặc điểm của khởi vụ án hình sự: khẳng định là giai đoạn tố tụng hình sự đầu tiên, nêu đủ nhiệm vụ, chủ thể có thẩm quyền thực hiện, đối tượng tác động của chủ thể (những cơ sở)
Các quan điểm nêu trên tuy được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau nhưng đều thể hiện sự thống nhất đó là coi khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu của tố tụng hình sự, là giai đoạn khởi động quá trình tố tụng hình sự, có vai trò làm căn cứ pháp lý cho các giai đoạn tiếp theo Trong giai đoạn này, các cơ quan có thẩm quyền xác định
có hay không có dấu hiệu tội phạm để quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình
sự Là một giai đoạn tố tụng hình sự nên nó cũng có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc Do vậy, thời điểm bắt đầu của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự được xác định kể
từ khi các cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện hoặc tiếp nhận thông tin về tội phạm như: Tố giác của công dân; tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân; tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng; kiến nghị khởi tố của các cơ quan nhà nước; Cơ quan
có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm; người phạm tội tự thú Thời điểm kết thúc của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là khi các cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự
Như vậy, việc khởi tố vụ án hình sự là hoạt động nằm ở thời điểm kết thúc của
giai đoạn khởi tố vụ án hình sự Từ đó, có thể hiểu, Khởi tố vụ án hình sự là việc các
cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự, làm cơ sở cho các hoạt động tố tụng tiếp theo của quá trình giải quyết vụ án hình sự
5
Trần Quang Tiệp (2007), “Áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về việc quyết định khởi tố thay
đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can”, Tạp chí Kiểm sát, (2), tr 22
Trang 161.1.2 Đặc điểm và ý nghĩa của khởi tố vụ án hình sự
1.1.2.1 Đặc điểm
Từ khái niệm chung nhất về khởi tố vụ án hình sự cho thấy giai đoạn này có những đặc điểm chính sau đây6
:
Thứ nhất, về vị trí: Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng hình sự
đầu tiên, được bắt đầu với việc các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền tiếp nhận
tố giác, tin báo hoặc trực trực tiếp phát hiện về tội phạm và thời điểm kết thúc của giai đoạn này là việc cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vị án hình sự Việc khởi tố vụ án hình sự nằm ở thời điểm kết thúc của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự
Thứ hai, về chủ thể có quyền tiến hành việc khởi tố vụ án hình sự bao gồm:
CQĐT; VKS; Tòa án; các Cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra như Kiểm lâm, Hải quan… Những cơ quan này trên cơ sở kết quả kiểm tra, xác minh thông tin về tội phạm sẽ ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố
vụ án hình sự
Thứ ba, về phạm vi nhiệm vụ: trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, các cơ
quan có thẩm quyền chỉ có nhiệm vụ xác định có hay không có dấu hiệu của tội phạm
để ra quyết định khởi tố hay quyết định không khởi tố vụ án hình sự
Thứ tư, cơ sở của việc khởi tố vụ án hình sự là nguồn tin về tội phạm mà CQĐT
dựa vào đó, tiến hành xác minh, xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm Dấu hiệu tội phạm phải được xác định thông qua những nguồn túi về tội phạm mà pháp luật
đã quy định thì mới có giá trị pháp lý là căn cứ của việc khởi tố vụ án Theo quy định pháp luật thì những cơ sở để xác đinh dấu hiệu tội phạm bao gồm: tố giác của công dân; tin báo của cơ quan tổ chức, phương tiện thông tin đại chúng; CQĐT, VKS, Tòa
án, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm và nguồn tin từ chính người phạm tội tự thú
6
Phạm Văn Huân (2013), Những cơ sở và căn cứ khởi tố vụ án hình sự, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật –
Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr 6
Trang 17Thứ năm, các biện pháp mà các cơ quan có thẩm quyền được sử dụng trong giai
đoạn khởi tố vụ án hình sự bao gồm: Biện pháp yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội hoặc công dân cung cấp tài liệu cần thiết liên quan đến thông tin về tội phạm; yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội hoặc công dân có liên quan giải thích làm rõ sự việc; khám nghiệm hiện trường và tiến hành các biện pháp khác theo quy định của pháp luật để xác định dấu hiệu của tội phạm; nếu bắt người trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang thì lấy lời khai của người bị bắt ;
1.1.2.2 Ý nghĩa
Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng hình sự giải quyết một vụ án, có nhiệm vụ và ý nghĩa về mặt lý luận, ý nghĩa về mặt pháp lý và ý nghĩa về mặt chính trị - xã hội rất rõ ràng: Nhiệm vụ của giai đoạn khởi tố vụ án hình
sự là sự tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm; kiểm tra, xác minh nguồn thông tin đó để xác định có hay không có tội phạm xảy ra làm cơ sở cho việc ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự Giai đoạn này có nhiệm vụ làm rõ các tình tiết loại trừ tố tụng của vụ việc, đồng thời với việc giữ gìn, bảo quản những cơ sở và căn cứ khởi tố vụ án hình sự theo quy định của pháp luật Giai đoạn khởi tố vụ án hình
sự tạo ra những điều kiện cần thiết để xác định người phạm tội, tội phạm ở giai đoạn tiếp theo như: giai đoạn điều tra; truy tố; xét xử; Thi hành án hình sự theo quy định của pháp luật Trong đó:
Thứ nhất, ý nghĩa về mặt pháp lý
Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu cho các giai đoạn tố tụng hình sự tiếp theo để giải quyết vụ án hình sự Thực hiện việc khởi tố vụ án hình sự làm phát sinh quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng như CQĐT, VKS, Tòa án, Thi hành án hình
sự khi thực hiện các hành vi tố tụng để phát hiện nhanh chóng, chính xác và xử lý nghiêm minh tội phạm Thời điểm bắt đầu áp dụng các qui định của Bộ luật Hình sự (BLHS) và BLTTHS là khi các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền quyết định khởi tố vụ án hình sự, từ thời điểm này các quan hệ pháp luật hình sự được thực hiện7
7
Phạm Văn Huân (2013), Những cơ sở và căn cứ khởi tố vụ án hình sự, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật –
Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr 8
Trang 18Thứ hai, ý nghĩa về mặt chính trị - xã hội
Ngày nay đất nước Lào và Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều tội phạm nguy hiểm, tội phạm mang yếu tố quốc tế, có tổ chức, xuyên quốc gia và sử dụng công nghệ cao với thủ đoạn hoạt động tinh vi, phương thức hoạt động xảo quyệt, manh động, liều lĩnh Tội phạm hình sự có tổ chức, băng nhóm "xã hội đen"gây án nghiêm trọng, băng nhóm tội phạm ma túy có vũ trang ở khu vực biên giới, tội phạm tham nhũng và tội phạm kinh tế trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, đầu tư, quản lý, sử dụng đất đai và thương mại, tội phạm và vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường vẫn hết sức nhức nhối Mức độ hậu quả gây ra cho xã hội của các loại tội phạm ngày càng lớn, xâm phạm nghiêm trọng trật tự, kỷ cương pháp luật XHCN, lợi ích của Nhà nước và
xã hội, tài sản, tính mạng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, làm suy giảm niềm tin xã hội và cản trở công cuộc phát triển đất nước Công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm luôn là đòi hỏi sự quan tâm lãnh đạo và thực hiện nghiêm túc của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành các cấp, các tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức xã hội -nghề nghiệp và mọi công dân trong đó CQĐT, VKS, Tòa án, Thi hành án giữ vai trò nòng cốt Trên tinh thần đó, khởi tố vụ án hình sự có ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong đấu tranh phòng, ngừa và chống tội phạm, là công cụ hữu hiệu để bảo vệ lợi ích của nhà nước, xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Đồng thời cũng thể hiện sự trừng phạt đối với người thực hiện hành vi vi
phạm pháp luật góp phần bảo đảm nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật " không
phân biệt dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần và địa vị xã hội Bất kể người nào phạm tội đều bị xử lý trước pháp luật"8 Việc khởi tố vụ án chính xác, khách quan, công bằng sẽ tạo niềm tin cho nhân dân vào sự nghiêm minh của pháp luật, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm9
9
Vũ Thị Nhiên (2017), Kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự theo luật tố tụng hình
sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, tr 12-13
Trang 191.2 Kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự
1.2.1 Hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân
Viện kiểm sát nhân dân thực hiện kiểm sát là một hoạt động cơ bản, có tính truyền thống chuyên biệt và để thực hiện chức năng riêng của mình Việc thực hiện kiểm sát của Viện kiêm sát nhân dân vừa thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, vừa để hỗ trợ thực hiện chức năng thực hành quyền công tố của chính VKSND
Thuật ngữ "kiểm sát các hoạt động tư pháp" được xuất hiện trong các văn kiện
của Đảng như Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX, Nghị quyết số 08 ngày 02 /1/2002 của Bộ chính trị và đặc biệt được quy định tại Điều 107 Hiến pháp Việt Nam năm
2013 và Điều 4 Luật Tổ chức VKSND Việt Nam năm 2014, Điều 99 Hiến pháp Lào năm 2015 và Điều 5 Luật tổ chức VKSND Lào (sửa đổi) năm 2017 Theo đó, chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp có vai trò xuyên suốt toàn bộ hoạt động của hệ thống cơ quan VKS, đồng thời thể hiện bản chất trong hoạt động của VKSND của nhà nước pháp quyền XHCN
Luật tổ chức VKSND năm 2014 của Việt Nam lần đầu tiên đã đưa ra khái niệm kiểm sát hoạt động tư pháp:
Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của VKSND để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật.10
Khái niệm đã khái quát tương đối đầy đủ các thông tin cần phản ánh về kiểm sát hoạt động tư pháp như về chủ thể thực hiện; về phạm vi thực hiện, khái niệm cũng liệt kê các hoạt động tư pháp thường xuyên có sự tham gia kiểm sát của VKS; về nội dung của kiểm sát và đối tượng hướng đến của kiểm sát
10
Khoản 1 Điều 4 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trang 20Trong khi đó, các nhà lập pháp của Lào lại chưa đưa ra một định nghĩa pháp lý
chung nhất của khái niệm "kiểm sát các hoạt động tư pháp" nên dẫn đến nhiều quan
điểm nhận thức khác nhau về khái niệm này
Từ điển Luật học đã đưa ra khái niệm Kiểm sát hoạt động tư pháp là “kiểm tra,
giám sát, xem xét, theo dõi việc tuân theo pháp luật đối với hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, giam giữ, cải tạo của các cơ quan tiến hành tố tụng và giải quyết các hành vi phạm pháp, kiện tụng trong nhân dân nhằm đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và tốt nhất”11 Định nghĩa này cho rằng kiểm sát hoạt động tư pháp là một hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, là việc giám sát trực tiếp các hoạt động cụ thể của các cơ quan tư pháp và các cơ quan được giao một số thẩm quyền
tư pháp trong quá trình tố tụng
Các học giả Lào và Việt Nam cũng đưa ra các quan điểm khác nhau về “kiểm
sát các hoạt động tư pháp” Qua quá trình nghiên cứu, tham khảo các công trình cho
thấy, tựu chung lại có ba nhóm quan điểm sau:
(1) Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng, "kiểm sát các hoạt động tư pháp chỉ
bao gồm nội dung kiểm sát các hoạt động tố tụng như điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án"12
(2) Nhóm quan điểm thứ hai cho rằng, "kiểm sát các hoạt động tư pháp bao
gồm việc kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử (cả các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính) và phần "tư pháp" trong thi hành án"13
(3) Nhóm quan điểm thứ ba cho rằng, hoạt động tư pháp là một dạng hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước và cũng phải chịu sự giám sát từ bên ngoài cũng như từ bên trong hệ thống tư pháp, chịu sự giám sát Nhà nước và giám sát xã hội Theo nghĩa rộng, kiểm sát tư pháp cũng được hiểu là giám sát tư pháp, là một bộ phận, một lĩnh vực của hoạt động giám sát Nhà nước trong lĩnh vực tư pháp Còn theo nghĩa hẹp thì
Nội, tr 441
12
Nguyễn Tất Viễn (2003), "Hoạt động tư pháp và kiểm sát các hoạt động tư pháp", Kỷ yếu đề tài cấp bộ:
Những giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, Hà Nội, tr
49
Những giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, Hà Nội, tr
50
Trang 21kiểm sát tư pháp được hiểu là chức năng của VKS Phạm vi kiểm sát tư pháp là việc chấp hành pháp luật trong hoạt động điều tra, xét xử các vụ án hình sự, giải quyết các
vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật Mục đích của của kiểm sát tư pháp là bảo đảm cho pháp luật được áp dụng thống nhất trong giải quyết các vụ án trên cơ sở tuân thủ nghiêm chỉnh thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định14
Mỗi quan điểm trên đây đều có những lập luận đúng của mình về khái niệm
"kiểm sát các hoạt động tư pháp" Tuy nhiên, trước hết cần phải khẳng định kiểm sát
các hoạt động tư pháp là chức năng hiến định của VKS Kiểm sát các hoạt động tư pháp là một dạng giám sát Nhà nước về tư pháp, đây là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước Tuy nhiên, khác với hoạt động giám sát Nhà nước nói chung về tư pháp, kiểm sát các hoạt động tư pháp là sự giám sát trực tiếp các hoạt động cụ thể của các cơ quan tư pháp trong quá trình tố tụng với mục đích là nhằm đảm bảo cho pháp luật được áp dụng nghiêm chỉnh và thống nhất trong quá trình giải quyết các vụ án và bản chất pháp lý của chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự là kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp trong hành vi của các chủ thể bị kiểm sát Từ
đó, theo chúng tôi có thể đưa ra định nghĩa về khái niệm kiểm sát các hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự như sau:
Kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự là chức năng hiến định của VKSND, có nội dung là giám sát các hoạt động của các cơ quan tư pháp trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, nhằm bảo đảm cho pháp luật tố tụng hình sự được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, thống nhất
1.2.2 Khái niệm kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự
Là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng hình sự, có nhiệm vụ phát hiện kịp thời mọi tội phạm, giai đoạn khởi tố vụ án hình sự cũng là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng hình sự có sự tham gia của VKSND nhằm thực hiện các hoạt động kiểm tra tính có căn cứ, hợp pháp; giám sát việc tuân theo pháp luật của các chủ thể trong giai đoạn tố tụng hình sự đầu tiên này
nay", Kỷ yếu đề tài cấp bộ: Những giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt
động tư pháp, Hà Nội, tr 21-22
Trang 22Kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự đƣợc hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Theo cách hiểu tại quy định của Điều 161 BLTTHS Việt Nam năm 2015 và Điều 94 BLTTHS Lào năm 2012 thì: Kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự bao gồm: a/ Kiểm sát quyết định khởi tố vụ án hình sự; b/ Kiểm sát quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố; c/ Kiểm sát quyết định không khởi tố, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự
Theo cách hiểu phạm vi rộng hơn, thì kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự bao gồm kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự (theo quy định tại Điều 161 BLTTHS Việt Nam năm 2015, Điều 94 BLTTHS Lào năm 2012) và kiểm sát việc giải quyết nguồn tin tội phạm (tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố) (theo quy định tại Điều
160 BLTTHS Việt Nam năm 2015, Điều 87 BLTTHS Lào năm 2012)
Ngoài ra, còn một cách hiểu phạm vi rộng hơn, thì kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự bao gồm: a/ kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; và b/ Kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự
Với phạm vi nghiên cứu của luận văn đề cập đến chức năng kiểm sát việc khởi
tố vụ án hình sự, tức là chỉ bao gồm Kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại Điều 161 BLTTHS Việt Nam năm 2015 và Điều 94 BLTTHS Lào năm 2012
Chức năng kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự của VKS thực chất là kiểm sát việc tuân theo pháp luật các hoạt động tƣ pháp của CQĐT và các cơ quan khác đƣợc giao tiến hành một số hoạt động điều tra trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Hoạt động kiểm sát khởi tố với tính chất là một chức năng của VKS thì hoạt động đó có bản chất pháp lý là kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp các hoạt động tố tụng hình sự đƣợc thực hiện bởi CQĐT và các cơ quan khác đƣợc giao tiến hành một số hoạt động điều tra trong giai đoạn khởi tố các vụ án hình sự nhằm bảo đảm việc khởi tố vụ án đúng tội danh, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm
Từ những nội dung nêu trên, có thể đƣa ra định nghĩa về chức năng kiểm sát các hoạt động tƣ pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự nhƣ sau:
Kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự là chức năng hiến định của VKSND, là sự giám sát, đánh giá tính có căn cứ, hợp pháp của các quyết định, hành vi tố tụng hình sự; theo dõi sự tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp của các cơ quan, chủ
Trang 23thể có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự, đảm bảo cho việc khởi tố vụ án hình sự có căn cứ, đúng pháp luật, kịp thời, hiệu quả
1.2.3 Đặc điểm kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự
Xuất phát từ khái niệm đã nêu ở trên và trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động kiểm sát tƣ pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình
sự, có thể rút ra một số đặc điểm chung của nó nhƣ sau:
Thứ nhất, về đối tượng của kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự:
Đối tƣợng của kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự là các quyết định, hành vi, các hoạt động của cơ quan có thẩm quyền trong việc khởi tố vụ án hình sự Cụ thể là việc ban hành quyết định khởi tố hay quyết định không khởi tố vụ án hình sự của CQĐT, cơ quan có thẩm quyền trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự Trong quá trình tham gia thực hành quyền công tố, Kiểm sát viên đồng thời xem xét tính hợp pháp, tính có căn cứ của các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan có thẩm quyền trong giai đoạn này
Khi tiến hành hoạt động kiểm sát, VKS phải dựa trên các căn cứ pháp lý là Hiến pháp, Luật tổ chức VKSND, BLHS, BLTTHS và các văn bản pháp luật khác có liên quan để tiến hành kiểm sát bảo đảm sự tuân theo pháp luật, cũng nhƣ bảo đảm tính có căn cứ và hợp pháp của các hành vi tố tụng hình sự mà chủ thể bị kiểm sát thực hiện
Thứ hai, về phạm vi của kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự:
Phạm vi của kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự bắt đầu đƣợc xác định bắt đầu
từ khi có tội phạm xảy ra hoặc phát hiện đƣợc dấu hiệu của tội phạm cho tới khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự Việc xác định phạm vi nhƣ vậy là thể hiện tính đầy đủ, toàn diện của hoạt động kiểm sát khởi tố các vụ án hình sự của VKS, cũng nhƣ thể hiện đầy đủ bản chất pháp lý của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong khởi tố các vụ án hình
sự đó là kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp trong hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự
Thứ ba, về chủ thể thực hiện kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự:
Kiểm sát các hoạt động tƣ pháp nói chung, kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự
là chức năng hiến định của VKS Mục đích của kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự là
Trang 24nhằm phát hiện kịp thời những quyết định, hành vi không có căn cứ của cơ quan có thẩm quyền trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự đồng thời có những biện pháp hiệu quả nhằm khắc phục kịp thời, đảm bảo các quy định của pháp luật trong hoạt động nay được tuân thủ chặt chẽ, nghiêm ngặt
Thứ tư, về hình thức kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự:
Khác hẳn với việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, VKS ban
hành các quyết định, phê chuẩn, nhằm thực hiện quyền hạn tội của Nhà nước đảm bảo phát hiện, xử lý kịp thời, khách quan, không bỏ sót tội phạm Trong công tác kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự, VKS không trực tiếp ban hành các quyết định, phê chuẩn mà chính trong quá trình tham gia thực hành quyền công tố, giám sát tiến trình xác minh của CQĐT, VKS đồng thời thực hiện chức năng kiểm sát, kiểm tra tính có căn cứ cả về nội dung và hình thức của các quyết định, hành vi tố tụng, nếu phát hiện các vi phạm pháp luật của cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự thì yêu cầu bổ sung, khắc phục, hơn nữa thì áp dụng biện pháp kiến nghị, kháng nghị
Như vậy, kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự là hoạt động của VKS nhằm kiềm tra, giám sát, đánh giá có căn cứ, hợp pháp của các quyết định, hành vi tổ tụng hình sự; theo dõi sự tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp của các cơ quan, chủ thể
có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự, đảm bảo cho việc khởi tố vụ án hình sự có căn
cứ, đúng pháp luật, kịp thời, hiệu quả
1.2.4 Ý nghĩa của kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự
Là giai đoạn tố tụng đầu tiên, giai đoạn khởi đầu cho quá trình tố tụng hình sự, khởi tố vụ án hình sự có ý nghĩa quan trọng, quyết định đối với cả quá trình giải quyết
vụ án hình sự Do vậy, việc quy định VKS thực hiện kiểm sát ngay từ giai đoạn khởi
tố vụ án hình sự có ý nghĩa rất quan trọng cho cả quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét
xử vụ án hình sự
Thứ nhất, hoạt động kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự của VKSND là hoạt
động nhằm bảo vệ pháp chế XHCN Đảm bảo mọi hoạt động tiếp nhận, tiến hành xác minh của cơ quan có thẩm quyền trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự đều tuân thủ nghiêm chỉnh quy định của pháp luật Dựa trên những chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mà Nhà nước quy định cụ thể trong Hiến pháp, BLTTHS và Luật tổ chức
Trang 25VKSND, VKS tham gia ngay từ đầu khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, theo dõi sát sao việc Cơ quan có thẩm quyền ra quyết phân công xác minh tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố sao đúng thời hạn theo quy định và gửi cho VKS kịp thời; đảm bảo trường hợp tiến hành bắt khẩn cấp, tạm giữ, khám xét, khám xét khẩn cấp có căn cứ theo quy định pháp luật Thông qua kiểm sát việc khởi tố hình sự, VKS đã tuân thủ nghiêm chỉnh quy định của pháp luật, bảo nguyên tắc pháp chế XHCN và tương tự, thông qua việc giám sát chặt chẽ hoạt động của cơ quan có thẩm quyền trong khởi tố vụ án hình sự, hoạt động của VKS cũng góp phần đảm bảo nguyên tắc pháp chế XHCN của các cơ quan có thẩm quyền trong khởi tố vụ án hình sự
Thứ hai, hoạt động kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự của VKS đảm bảo mọi
quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan có thẩm quyền khởi tố đều khách quan, có căn
cứ, đúng pháp luật, đảm bảo hoạt động khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm từ thi đúng trình tự theo quy định, thu được nhiều dấu vết phục vụ cho quá trình xác minh một cách chuẩn xác nhất; hoạt động lấy lời khai ban đầu khách quan, trung thực nhất
từ những việc tuân thủ chặt chẽ quy định pháp luật trong quá trình xác minh, kết quả xác minh được đưa ra là khách quan, đúng pháp luật nhất Là giai đoạn tố tụng đầu tiên, kết quả xác minh là căn cứ để đưa ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự; có thể là sự khởi đầu của quá trình tô tụng hình sự tiếp theo Như vậy sự tham gia kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự có ý nghĩa trong việc đảm bảo mọi hành vi có dấu hiệu tội phạm đều bị phát hiện, xử lý kịp thời hiệu quả đúng quy định pháp luật
Thứ ba, hoạt động kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự của VKSND còn có ý
nghĩa đảm bảo quyền con người, quyền công dân được tôn trọng, bảo vệ Các biện pháp ngăn chặn như bắt, tạm giữ, biện pháp khám xét, khám xét khẩn cấp có thể được
áp dụng trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự Ở vị trí là cơ quan có chức năng giám sát, kiểm tra việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình
sự, VKS trong giai đoạn này có nhiệm vụ đánh giá tính có căn cứ của việc bắt người (bắt trong trường hợp khẩn cấp), đánh giá sự cần thiết phải áp dụng biện pháp tạm giữ, biện pháp khám xét Bởi lẽ, ngay ở biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ; biện pháp khám xét đã thể hiện tính giai cấp, tính quyền lực nhà nước, các biện pháp này được
áp đụng chính là xâm phạm vào quyền tự đo của con người, của công dân; xâm phạm
Trang 26đến quyền bất khả xâm phạm vê đời sống riêng tư, về nơi ở, thư tín được quy định trong Hiến pháp Chỉ trong trường hợp cần thiết, khí có căn cứ theo pháp luật quy định mới được áp dụng các biện pháp này Khi phát hiện việc bắt khẩn cấp không có căn cứ theo quy định, VKS không phê chuẩn bất khẩn cấp; phát hiện không có căn cứ để tạm giữ hình sự, VKS có thẩm quyền ra quyết định hủy bỏ quy định tạm giữ, trả tự do cho người bị tạm giữ
1.3 Khái quát lịch sử quy định pháp luật tố tụng hình sự Lào và Việt Nam
về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự
1.3.1 Khái quát lịch sử các quy định pháp luật tố tụng hình sự Lào trước năm 2012 về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự
CHDCND Lào ra đời là kết quả của cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của nhân dân yêu nước các bộ tộc Lào qua nhiều thập kỷ Nhà nước cách
mạng đầu tiên của chế độ CHDCND Lào được tổ chức hoạt động theo cơ chế: “Đảng
lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ”
Đáp ứng yêu cầu quản lý Nhà nước, xã hội có trật tự, kỷ cương và việc thực thi quyền làm chủ của nhân dân trong thời đại mới, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Thủ tướng Chính phủ) đã ban hành Pháp lệnh số 53 ngày 15/10/1976 về hệ thống tổ chức hoạt động của Tòa án, VKS và các quy trình, nguyên tắc thi hành án của nước CHDCND Lào15 Trong đó, VKSND có trách nhiệm phát hiện kịp thời những vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp16 Tuy nhiên, các quy định pháp luật về nhiệm vụ kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự chưa được cụ thể hóa và đi vào hoạt động Tuy nhiên, sự ra đời của Pháp lệnh là cơ sở tiền đề quan trọng để ban hành BLTTHS trong các giai đoạn tiếp theo
Thời điểm này, Nhà nước Lào chưa kịp ban hành BLTTHS để điều chỉnh thủ tục tố tụng, trong khi giai đoạn trước năm 1975, do hoàn cảnh cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, hầu như các tòa án quân sự được lập ra để xét xử tội phạm chiến tranh, thủ tục xét xử quân sự Do đó, để đáp ứng yêu cầu thực tế đất nước lúc bấy giờ, ngày 27/9/1977, Tòa án nhân dân tối cao nước CHDCND Lào đã ban hành Thông tư hướng
dân chủ nhân dân Lào, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr 20
16
Khamkeo Vongxi (2006), So sánh pháp luật tố tụng hình sự Lào - Thái Lan về chức năng, nhiệm vụ của Viện
kiểm sát, Luận án tiến sĩ Luật học, Cao đẳng Luật Miền Bắc Lào, tr.40
Trang 27dẫn về trình tự tố tụng, trong đó đã có những quy định đầu tiên, nền móng về hoạt động kiểm sát của VKS trong kiểm sát trình tự thủ tục tố tụng hình sự
Những năm 80 của thế kỷ XX, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Nhà nước CHDCND Lào đã tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện và đòi hỏi phải xây dựng các văn bản pháp luật để đảm bảo cho việc phát huy dân chủ và bình đẳng trong Nhà nước
và toàn xã hội Lào Năm 1989, BLTTHS Lào năm 1989 và Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự của Lào được ban hành trong đó có các quy định về điều tra vụ án hình sự và kiểm sát việc điều tra vụ án hình sự BLTTHS Lào năm 1989 quy định trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự Điều
31 BLTTHS Lào năm 1989 đã quy định chi tiết chức năng nhiệm vụ của VKSND như sau: VKS có nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, thực hành quyền công tố, đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất từ trung ương tới địa phương Trong các giai đoạn của tố tụng hình sự, VKS có trách nhiệm áp dụng những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của bất kỳ cá nhân hoặc tổ chức này Như vậy, đến năm 1989, lần đầu tiên chế định kiếm sát hoạt động điều tra vụ án hình sự được quy định trong một văn bản pháp luật Tuy nhiên, các quy định về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự còn chung chung, chỉ đề cập đến thẩm quyền của VKS trong việc kiểm sát hoạt động của CQĐT nói chung
Để khắc phục tình trạng trên, năm 1999, Nhà nước CHDCND Lào đã tiến hành sửa đổi BLTTHS Lào năm 1989 và Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 1989 Theo
đó, Điều BLTTHS Lào năm 1999 quy định: “VKSND kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án nhân dân, kiểm tra việc tuân theo pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù” (khoản 1 Điều 9) Đồng thời, Điều 31 BLTTHS Lào năm 1999 quy định: “VKS thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội” (Điều 31) Tại Nghị quyết
Trung ương khóa VII của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào cũng nêu rõ: “tăng cường
Trang 28trách nhiệm của VKSND đối với công tác bắt, giam giữ, góp phần vào việc đảm bảo thực hiện dân chủ, quyền bình đẳng tự do và thịnh vượng của công dân”17
Trước nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, bảo
vệ thành quả cách mạng cũng như đảm bảo các quyền và nghĩa vụ của công dân Lào dưới chế độ xã hội mới bảo đảm quyền con người, để hội nhập quốc tế, Hiến pháp mới của nước CHDCND Lào được ban hành vào ngày 06/05/2003, thay thế cho Hiến pháp đầu tiên của nước CHDCND Lào – Hiến pháp năm 1991 Trong đó, VKSND được quy định tại Chương 9 Hiến pháp Lào năm 2003 Theo đó, VKSND là cơ quan tư pháp, thực hiện quyền kiểm sát và công tố Quy định này được ghi nhận và cụ thể hóa tại Luật Tổ chức VKSND Lào năm 2004
Tiếp đó, BLTTHS Lào năm 2004 được ban hành, quy định về khởi tố điều tra
vụ án hình sự, đồng thời, cũng quy định cụ thể vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn, đối tượng, phạm vi và phương thức hoạt động của VKSND các cấp khi tiến hành kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, đơn vị và người có trách nhiệm trong việc khởi tố vụ án hình sự18 Để phù hợp với yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm và tình hình thực tiễn trong hoạt động tố tụng Lào, BLTTHS Lào đã được sửa đối năm
Năm 2015, Hiến pháp mới của nước CHDCND Lào được thông qua tại kỳ họp lần thứ 10 của Quốc hội Khóa VII, gồm 14 chương, 119 điều Các quy định về VKSND Lào được quy định trong Chương 10 Hiến pháp năm 2015 Nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND theo Hiến pháp năm 2015 đã được khẳng định ngay tại Điều 99 đó là
gia, Viêng Chăn, tr 25
18
Xoom Khay Phumavong (2010), “Chức năng của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự”, Tạp chí Kiểm sát, (2),
tr 3-7
Trang 29chức năng theo dõi, kiểm tra sự tuân theo Hiến pháp, pháp luật và chức năng công tố Điều này được cụ thể hóa tại Điều 4 Luật Tổ chức VKSND Lào (sửa đổi) năm 2017 Cùng với đó, yêu cầu cải cách tư pháp cũng đặt ra các yêu cầu nhất định cho việc sửa đổi, bổ sung các quy định của tố tụng hình sự, đảm bảo quyền con người, bảo đảm vững chắc nhà nước pháp quyền XHCN trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Do
đó, các quy định của pháp luật tố tụng hình sự nói chung, quy định về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự cũng phải được xem xét, hoàn thiện kịp thời
1.3.2 Khái quát lịch sử các quy định pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trước năm 2015 về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
ra đời Ngay từ khi ra đời, Nhà nước Việt Nam đã đứng trước những yêu cầu của quá trình xây dựng và củng cố đất nước, trong đó việc tuân thủ pháp luật của của các cơ quan nhà nước và mọi công dân là một trong những yêu cầu cấp bách cần thực hiện Muốn đáp ứng được yêu cầu đó cần tổ chức thành lập một cơ quan nhà nước có chức năng kiểm tra và giám sát các hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước và mọi công dân nhằm bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
Bối cảnh năm 1945, tình hình trong nước bọn phản cách mạng và tội phạm diễn
ra phức tạp Trước yêu cầu đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm xây dựng các cơ quan chuyên trách như cơ quan Công tố và Tòa án có nhiệm vụ trấn áp bọn phản cách mạng, trừng trị và phòng ngừa các tội phạm hình sự nhằm mục tiêu là bảo vệ chế độ Nhà nước của nhân dân, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân
Tiền thân của cơ quan VKS là cơ quan Công tố viện được thành lập theo sắc lệnh số 33/SL ngày 13/9/1945, vào giai đoạn đó Công tố viện là một bộ phận trong hệ thống cơ quan Tòa án, sau Nhà nước ban hành các Sắc lệnh số 13 ngày 24/1/1946; Sắc lệnh số 51 ngày 17/4/1946; Sắc lệnh số 51 ngày 20/7/1946 và sắc lệnh số 19 ngày 16/2/1947 quy định thành lập hệ thống Tòa án nhân dân (tòa án thường), trong đó Công tố viện là một tổ chức bên cạnh Tòa án và trực thuộc Bộ tư pháp quản lý Hệ thống Công tố ở Tòa thượng thẩm và Tòa án đệ nhị cấp do một Viện trưởng lý đứng đầu, lúc này Công tố viện chỉ có chức năng truy tố người phạm tội ra Tòa án để xét xử
Trang 30Cho nên trong giai đoạn lịch sử từ năm 1945 đến 1950 tổ chức Công tố nằm trong hệ thống Tòa án
Đến năm 1958 thực hiện Nghị quyết của Quốc hội thông qua ngày 29/4/1958, thực hiện việc cải cách tổ chức bộ máy cơ quan nhà nước nên Quốc hội đã quyết định thành lập cơ quan Viện công tố trung ương và hệ thống viện công tố Từ thời điểm này Viện công tố tách khỏi hệ thống Toà án và trực thuộc Hội đồng Chính phủ Sau đó Phủ Thủ tướng đã ban hành Nghị định 256/TTg ngày 1/7/1959 quy định về nhiệm vụ và tổ
chức của Viện công tố, trong đó có quy định: “Nhiệm vụ của Viện công tố là điều tra
và truy tố trước Tòa án những kẻ phạm pháp về hình sự; giám sát việc chấp hành pháp luật trong công tác điều tra của CQĐT ” Như vậy, ngoài chức năng truy tố theo luật
hình sự những kẻ phạm pháp, Viện công tố còn có chức năng trong việc giám sát chấp hành pháp luật trong điều tra vụ án hình sự Từ giai đoạn này trở đi, chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong khởi tố vụ án hình sự của Viện công tố bắt đầu được hình thành và thực hiện
Hiến pháp năm 1959 ra đời đã ghi nhận VKSND là một cơ quan trong hệ thống các cơ quan quyền lực nhà nước, với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại
Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 1960 đã ghi nhận VKSND có nhiệm vụ: "Điều tra
những việc phạm pháp về hình sự, truy tố trước Tòa án nhân dân những người phạm pháp về hình sự; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử của Tòa án nhân dân và trong việc chấp hành các bản án; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra của Cơ quan công an và của CQĐT khác; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giam, giữ của các trại giam " Điều này cho thấy, từ khi mới thành lập
VKSND đã có trách nhiệm quyết định việc truy tố người phạm tội ra trước Tòa án và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra, xét xử và thi hành án hình
sự của các cơ quan tiến hành tố tụng, đảm bảo cho pháp luật tố tụng hình sự được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Quốc hội đã ban hành Luật tổ chức VKSND năm 1960 để cụ thể hóa chức năng của VKS trong đó có chức năng kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự Cũng trong thời gian này VKSNDTC và Bộ Công an đã ban hành nhiều thông tư liên bộ quy định trách nhiệm của hai ngành trong công tác
Trang 31phối hợp phòng chống và đấu tranh tội phạm, cụ thể là Thông tư số 427-TTLN ngày 28/6/1963 đã quy định trách nhiệm của từng ngành đối với việc điều tra xử lý tội phạm, thông tư quy định: Cơ quan Công an điều tra đảm nhiệm việc điều tra tất cả các
vụ án phản cách mạng và những tội phạm phức tạp Còn VKS chủ yếu là làm nhiệm
vụ kiểm sát điều tra, đồng thời trong phạm vi điều kiện và khả năng của mình sẽ trực tiếp và điều tra một số loại phạm pháp kinh tế và hành vi phạm pháp đã tương đối rõ
Năm 1980, Hiến pháp 1980 ra đời, đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước trong
bối cảnh mới, trong đó quy định chức năng của VKS như sau: “VKSNDTC nước Cộng
hòa XHCN Việt Nam kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các bộ, các cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức xã hội và các đơn vị vũ trang nhân dân, các nhân viên nhà nước và công dân, thực hành quyền công
tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất” Các VKSND địa phương, các VKS quân sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công
tố trong phạm vi trách nhiệm của mình" (Điều 138) Trên cơ sở đó, Luật tổ chức
VKSND năm 1981 đã quy định cụ thể chức năng kiểm sát khởi tố tại Chương II Tuy nhiên, trong giai đoạn này chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào quy định một cách chặt chẽ, cụ thể về trình tự thủ tục hoạt động điều tra, cũng như hoạt động kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự, từ đó dẫn đến việc gặp nhiều khó khăn trong công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm19
Ngày 28/6/1988, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa VIII đã thông qua BLTTHS đầu tiên của Việt Nam, quy định chặt chẽ trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét
xử và thi hành án hình sự; chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, bên cạnh đó có quy định về hoạt động của VKS trong khởi tố với mục đích là nhằm xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội Điều
23 BLTTHS Việt Nam năm 1988 quy định: “VKS có nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo
pháp luật tố tụng hình sự, thực hiện quyền công tố bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Trong các giai đoạn của tố tụng hình sự, VKS có trách nhiệm áp dụng những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ việc vi
19
Nguyễn Khắc Quang (2014), Vai trò của Viện kiểm sát trong khởi tố vụ án hình sự, Luận văn Thạc sĩ Luật
học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr 32
Trang 32phạm pháp luật của bất kỳ cá nhân hoặc tổ chức nào” Với quy định đó VKS thực
hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với toàn bộ hoạt động tố tụng của CQĐT trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Như vậy, từ giai đoạn này trở đi, hoạt động của VKS trong việc kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự được thực hiện theo quy định của một văn bản quy phạm pháp luật
Năm 2001, tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa X đã tiến hành sửa đổi Hiến pháp năm 1992 Theo quy định tại Điều 137 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi), kiểm sát hoạt động tư pháp là một trong hai chức năng chính của VKS, điều đó thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước tiếp tục khẳng định chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp nói chung và trong khởi tố vụ án hình sự nói riêng là chức năng quan trọng và chỉ giao cho
cơ quan VKS thực hiện
Quy định này được cụ thể hóa tại Luật tổ chức VKSND năm 2002 Điều 3 Luật
tổ chức VKSND năm 2002 đã quy định: "VKSND thực hiện chức năng, nhiệm vụ bằng
những công tác sau đây: 1 Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của các CQĐT và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; 3 Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự; " Tại các Điều
12, 14 chương II quy định: “VKSND thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của các CQĐT và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra”
Tiếp đó, năm 2003, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XI đã tiến hành thảo luận và thông qua BLTTHS năm 2003 thay thế cho BLTTHS năm 1988, thể hiện những tư tưởng mới về cải cách tư pháp hình sự, trong đó tại Điều 2 của Chương II -Những
nguyên tắc cơ bản có quy định: “ VKS kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng
hình sự có trách nhiệm phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến hành
tố tụng, áp dụng những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân này VKS thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm
Trang 33oan người vô tội” Ngoài ra, còn có những quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của
VKS khi kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự như Điều 113, v.v
Để đáp ứng những yêu cầu trong công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm trong thời kỳ mới là nâng cao chất lượng hoạt động điều tra, hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, vừa bảo đảm chống để lọt tội phạm vừa bảo đảm các quyền tự do, dân chủ của công dân không bị vi phạm , đồng thời trải qua hơn 10 năm thực hiện BLTTHS năm 2003 đã nảy sinh những bất cập trong thực tiễn
áp dụng, đòi hỏi cần phải được sửa đổi, bổ sung Đồng thời, để thể chế Hiến pháp năm
2013, ngày 27/11/2015 tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII đã thông qua BLTTHS
số 101/2015/QH13 (BLTTHS Việt Nam năm 2015) Điều 9 BLTTHS Việt Nam năm
2015 khẳng định rằng: “VKS thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong tố tụng hình sự, quyết định việc buộc tội, phát hiện vi phạm pháp luật nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, pháp nhân phạm tội, vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, việc khởi tố, điều tra, truy
tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, pháp nhân phạm tội, không làm oan người vô tội” BLTTHS Việt
Nam năm 2015 đã thể chế hóa nhiều quy định trong Thông tư liên tịch 06/2013 hướng dẫn quy định của BLTTHS năm 2003 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, tạo ra sự đồng bộ giữa Hiến pháp, BLTTHS, Luật tổ chức VKSND năm 2014, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 và nhiều đạo luật khác, tạo ra sự thống nhất chung
Như vậy, qua việc nghiên cứu khái quát lịch sử quy định pháp luật tố tụng hình sự Lào và Việt Nam về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự, chúng tôi có thể đưa ra một vài đánh giá sau:
Thứ nhất, trong suốt quá trình hình thành và phát triển hệ thống cơ quan VKS
thì vai trò của VKS trong hoạt động khởi tố vụ án hình sự ngày càng được khẳng định
vị trí, vai trò quan trọng trong công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm, nhằm mục đích là sự tuân thủ nghiêm minh và thống nhất các quy định pháp luật tố tụng hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia
tố tụng trong khởi tố vụ án hình sự
Trang 34Thứ hai, trải qua một thời gian dài phát triển cho đến nay trong lĩnh vực tư pháp
hình sự VKS vẫn có trách nhiệm, quyền hạn là kiểm sát việc tuân theo pháp luật – đây
là một trong hai chức năng cơ bản của VKS và được thực hiện thông qua các khâu công tác cơ bản là: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra (kiểm sát điều tra); kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử (kiểm sát xét xử); kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong thi hành án (kiểm sát thi hành án) và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giam, giữ, cải tạo (kiểm sát giam giữ cải tạo)
Từ khi có BLHS và BLTTHS thì công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự được quy định một cách rõ ràng, cụ thể hơn để phù hợp với các giai đoạn của tố tụng hình sự Trong giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình sự thì toàn
bộ hoạt động tố tụng của CQĐT chịu sự kiểm sát của khâu công tác kiểm sát điều tra
và khâu kiểm sát giam, giữ Các khâu công tác này có quyền sử dụng các biện pháp nghiệp vụ đã được pháp luật quy định để tác động đến hoạt động của các chủ thể tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình điều tra vụ án hình sự
Từ những phân tích trên cho thấy khâu công tác kiểm sát là quá trình hoạt động nghiệp vụ của VKS trong các giai đoạn tố tụng hình sự, nhằm thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố của ngành kiểm sát
Thứ ba, xuất phát từ nhiệm vụ cụ thể đặt ra cho mỗi cấp kiểm sát khác nhau,
cũng như nhiệm vụ cụ thể đặt ra trong mỗi thời kỳ khác nhau, từ số lượng biên chế cán
bộ và trình độ của các cán bộ, kiểm sát viên ở mỗi cấp kiểm sát cụ thể khác nhau, nên việc tổ chức thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố
vụ án hình sự ở mỗi cấp kiểm sát tại từng thời kỳ không hoàn toàn giống nhau, nhưng được quy định theo hướng ngày càng phát triển với mục tiêu cao hơn
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong công cuộc giữ gìn an ninh trật tự cho xã hội, vai trò của những đơn vị trực tiếp đấu tranh chống tội phạm là vô cùng quan trọng VKS là cơ quan trực tiếp đấu tranh chống tội phạm Với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp hình sự mà Nhà nước giao phó, là đảm bảo cho mọi hành vi phạm tội đều được phát hiện xử lý, việc điều tra, truy tố, xét xử đúng người đúng tội, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan sai người vô tội, đảm bảo
Trang 35mọi hoạt động tư pháp hình sự được thực hiện đúng quy định của pháp luật Góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được pháp luật bảo hộ, nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm Trong khởi tố vụ án hình sự VKS thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hành vi xử sự của các
cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án
Nhằm tạo cơ sở tiền đề cho nội dung nghiên cứu, trong Chương 1, tác giả, trên
cơ sở kế thừa nội dung các công trình đi trước, đã hệ thống hóa lại và làm rõ một số vấn đề chung về giai đoạn khởi tố vụ án hình sự và chức năng kiểm sát việc khởi tố vụ
án hình sự của VKS trong tố tụng hình sự Cùng với đó, việc nghiên cứu khái quát lịch
sử quy định pháp luật tố tụng hình sự Lào và Việt Nam về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự cho thấy các quy định về hoạt động kiểm sát trong giai đoạn khởi tố - vụ án hình sự của VKS đã được BLTTHS hai nước quy định ngày càng cụ thể, với những dấu mốc khá tương đồng nhau Tuy nhiên, cũng chính quá trình phát triển pháp luật tố tụng hình sự Lào và Việt Nam cũng đưa đến những điểm khác biệt trong quy định về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự của hai nước Tất cả những luận cứ trên là cơ sở để đánh giá những điểm tương đồng và khác biệt trong quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong khởi tố vụ án hình sự theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Lào
và Việt Nam ở chương tiếp theo
Trang 36CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ LÀO VÀ VIỆT NAM VỀ KIỂM SÁT VIỆC KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ DƯỚI GÓC ĐỘ SO SÁNH
2.1 Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự Lào (sửa đổi) năm 2012 về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự
Kiểm sát điều tra vụ án hình sự nói chung, kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự nói riêng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của VKSND được quy định ngay tại Khoản 1 Điều 49 BLTTHS Lào năm 2012
Tiếp đó, tại Điều 94 BLTTHS Lào năm 2012 đã quy định về nhiệm vụ kiểm tra
và giám sát của VKSND đối với hoạt động điều tra, theo đó:
Kiểm sát viên có quyền và nhiệm vụ theo dõi và kiểm tra việc áp dụng pháp luật trong quá trình điều tra
Trong trường hợp người đứng đầu CQĐT ban hành quyết định mở cuộc điều tra mà không có bằng chứng pháp lý cụ thể, Kiểm sát viên phải ra lệnh hủy Quyết định mở cuộc điều tra của người đứng đầu CQĐT và ra lệnh đình chỉ vụ án
Trong trường hợp người đứng đầu CQĐT ban hành Quyết định không mở cuộc điều tra mà không có đủ căn cứ, Kiểm sát viên phải ra lệnh hủy Quyết định không mở cuộc điều tra và ra Quyết định mở cuộc điều tra
Cùng với đó, để tạo cơ sở pháp lý chặt chẽ cho hoạt động điều tra nói chung, hoạt động kiểm sát hoạt động điều tra, Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự được Viện trưởng VKSNDTC ban hành ngày 14/9/2013 tạo khung pháp lý cho hoạt động kiểm sát điều tra vụ án hình sự nói chung, kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự nói riêng của VKDND
Thông qua nghiên cứu các quy định của BLTTHS Lào về kiểm sát việc khởi tố
vụ án hình sự, cùng các quy định tại Điều 91 – Quyết định khởi tố vụ án hình sự và Điều 92- Các căn cứ không khởi tố vụ án hình sự, Điều 93- Quyết định không khởi tố
vụ án hình sự thì VKS có thẩm quyền kiểm sát những hoạt động sau:
Trang 37Thứ nhất, kiểm sát việc ra quyết định khởi tố vụ án hình sự (quyết định mở cuộc điều tra):
Theo Điều 11 Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự, trong thời hạn ba ngày làm việc,
kể từ khi nhận được quyết định khởi tố vụ án của CQĐT hoặc cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn
vị kiểm sát điều tra cử Kiểm sát viên tiến hành kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định khởi tố vụ án để xem xét, xử lý
Sau khi kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định khởi tố thì Kiểm sát viên được cử phải báo cáo kết quả nghiên cứu với Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra để xem xét xử lý như sau:
- Nếu thấy quyết định khởi tố vụ án có căn cứ và hợp pháp thì ra quyết định phân công Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án và thông báo bằng văn bản cho cơ quan đã khởi
tố biết; nếu chưa rõ căn cứ thì yêu cầu cơ quan đã khởi tố bổ sung tài liệu, chứng cứ làm rõ căn cứ khởi tố
- Nếu thấy quyết định khởi tố vụ án rõ ràng là không có căn cứ thì ra văn bản yêu cầu cơ quan đã khởi tố ra quyết định huỷ bỏ; nếu cơ quan đã khởi tố không nhất trí thì báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền ra quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố vụ án theo quy định Điều 94 BLTTHS Lào năm 2012
- Nếu thấy tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội hoặc còn có tội phạm khác chưa được khởi tố thì Kiểm sát viên thụ lý vụ án báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền yêu cầu cơ quan đã khởi tố ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự; nếu Cơ quan đã khởi tố không nhất trí thì báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi thay đổi hoặc bổ sung, Kiểm sát viên gửi các quyết định này cho cơ quan đã khởi tố để tiến hành điều tra theo quy định tại Điều 91 BLTTHS Lào năm 2012
Trang 38Thứ hai, kiểm sát việc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự (quyết định không mở cuộc điều tra):
Theo Điều 12 Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự, thì trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ khi nhận được quyết định không khởi tố vụ án hình sự và các tài liệu có liên quan của CQĐT hoặc các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra phân công Kiểm sát viên kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của các quyết định đó
Trên cơ sở kết quả kiểm tra các tài liệu, chứng cứ dùng làm cơ sở để ra quyết định không khởi tố vụ án, Kiểm sát viên báo cáo tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định đó với Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc lãnh đạo đơn vị và xử lý như sau:
- Nếu thấy quyết định không khởi tố vụ án hình sự của cơ quan đã khởi tố có căn cứ thì thông báo cho các cơ quan đó biết; nếu chưa rõ căn cứ thì yêu cầu các cơ quan này bổ sung tài liệu, chứng cứ để làm rõ
- Nếu thấy quyết định không khởi tố vụ án hình sự của CQĐT không có căn cứ thì yêu cầu CQĐT huỷ bỏ và ra quyết định khởi tố vụ án; hoặc Kiểm sát viên báo cáo người có thẩm quyền ra quyết định huỷ bỏ quyết định không khởi tố vụ án và ra quyết định khởi tố vụ án theo quy định tại Điều 94 BLTTHS Lào năm 2012 và gửi cho CQĐT để tiến hành điều tra
- Nếu thấy quyết định không khởi tố vụ án hình sự của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra không có căn cứ thì Kiểm sát viên báo cáo người có thẩm quyền ra quyết định huỷ bỏ quyết định này và ra quyết định khởi tố
vụ án hình sự; đồng thời, yêu cầu cơ quan đã ra quyết định không khởi tố vụ án chuyển toàn bộ tài liệu có liên quan cho CQĐT có thẩm quyền để tiến hành điều tra
2.2 Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam năm 2015 về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự
Đê thể chế hóa Hiến pháp năm 2013 cũng như hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật tố tụng hình sự, đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách luật pháp và phù hợp với tình hình thực tế hoạt động tố tụng ở Việt Nam, ngày 27/11/2015 tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII đã thông qua BLTTHS số 101/2015/QH13 BLTTHS Việt
Trang 39Nam năm 2015 đã có nhiều quy định mới về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự, tạo ra
sự đồng bộ giữa Hiến pháp, BLTTHS, Luật tổ chức VKSND năm 2014, Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2014 và nhiều đạo luật khác, tạo ra sự thống nhất chung
Cùng với đó, đáp ứng yêu cầu công tác kiểm sát trong giải quyết vụ án hình sự, Việt Nam đã ban hành một loạt văn bản hướng dẫn nghiệp vụ công tác kiểm sát trong giải quyết vụ án hình sự bao gồm các Quy chế thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm; kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi; kiểm sát việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự Trong đó, liên quan đến kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự, có thể kể Quyết định 03/QĐ-VKSTC ngày 29/12/2017 của Viện trưởng VKSNDTC về Quy chế tạm thời Công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố Qua việc nghiên cứu BLTTHS Việt Nam năm 2015 cùng các văn bản liên quan, có thể thấy các quy định của pháp luật Việt Nam về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự như sau:
Thứ nhất, về phạm vi kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự:
Điều 147 BLTTHS 2015 quy định, trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, CQĐT, cơ quan được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải kiểm tra, xác minh và ra một trong các quyết định: Quyết định khởi tố vụ án hình sự; Quyết định không khởi tố vụ án hình sự Như vậy, trong giai đoạn này, VKS kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự bao gồm:
Một là, kiểm sát việc ra quyết định khởi tố vụ án hình sự:
Điều 153 BLTTHS năm 2015 quy định “CQĐT quyết định khởi tố vụ án hình
sự đối với tất cả vụ việc có dấu hiệu tội phạm, trừ những vụ việc do cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử đang thụ
lý, giải quyết quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này” Khoản 2 và Khoản 3 Điều
154 BLTTHS Việt Nam năm 2015 quy định:
- Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải gửi quyết định đó kèm theo tài liệu liên quan đến VKS có thẩm quyền để kiểm sát việc khởi tố
Trang 40- Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải gửi quyết định đó kèm theo tài liệu liên quan đến Viện kiểm sát có thẩm quyền để kiểm sát việc khởi tố
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, Tòa án phải gửi quyết định đó kèm theo tài liệu liên quan đến Viện kiểm sát cùng cấp
Sau khi kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định khởi tố thì Kiểm sát viên được cử phải báo cáo kết quả nghiên cứu với Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra để xem xét xử lý theo quy định tại Điều 12 Quy chế tạm thời Công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố kèm theo Quyết định số 03/QĐ-VKSTC ngày 29/12/2017 Cụ thể:
- Sau khi nhận được quyết định khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan có thẩm quyền điều tra, lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện phân công Kiểm sát viên kiểm tra tính
có căn cứ và hợp pháp của quyết định khởi tố vụ án hình sự để xem xét, xử lý như sau:
+ Nếu thấy quyết định khởi tố vụ án hình sự có căn cứ và hợp pháp thì gửi quyết định phân công Kiểm sát viên, Kiểm tra viên thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố cho cơ quan ra quyết định
+ Nếu thấy chưa rõ căn cứ để khởi tố vụ án thì yêu cầu cơ quan đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự bổ sung tài liệu, chứng cứ để làm rõ
+ Nếu thấy quyết định khởi tố vụ án hình sự không có căn cứ thì báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra văn bản yêu cầu cơ quan đã ra quyết định khởi
tố vụ án hình sự hủy bỏ quyết định đó; nếu cơ quan đã ra quyết định không nhất trí thì báo cáo, đề xuất lãnh đạo Viện ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 161 BLTTHS Việt Nam năm 2015
- Nếu thấy tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội hoặc còn có tội phạm khác chưa được khởi tố thì Kiểm sát viên thụ lý giải quyết vụ án báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện yêu cầu cơ quan đã ra quyết định khởi tố ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự; nếu cơ quan đã ra quyết định khởi tố không nhất trí thì báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự Trong thời hạn 24 giờ, kể