Do đó việc nghiên cứu các vấn đề pháp luật về bồi thường thiệt hại trong lao động ở nước ta hiện nay đòi hỏi các nhà nghiên cứu cần đặt trong mối tương quan so sánh với nội dung có liên
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC (Định hướng nghiên cứu)
Hà Nội - 2018
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC (Định hướng nghiên cứu)
Chuyên ngành: Luật Kinh Tế
Mã số: 8380107
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đào Thị Hằng
Hà Nội - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sỹ kinh tế của mình, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân
và tập thể
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy,
cô giáo trong khoa Kinh tế, khoa Sau đại học – Trường Đại học Luật Hà Nội; đặc biệt là sự quan tâm chỉ dẫn tận tình của PGS.TS Đào Thị Hằng, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Qua đây, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu
Trang 6MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 7
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI VÀ PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI 7
.1 Khái niệm bồi thường thiệt hại trong pháp luật lao động 7
1 1.1.1 Định nghĩa bồi thường thiệt hại 7
1.1.2 Định nghĩa bồi thường thiệt hại trong pháp luật lao động 9
1.1.3 Căn cứ để áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong pháp luật lao động 11
1.2 Sự khác biệt giữa chế độ bồi thường thiệt hại trong luật lao động với chế độ bồi thường thiệt hại trong luật dân sự 17
1.2.1 Phạm vi điều chỉnh 17
1.2.2 Đối tượng điều chỉnh 18
1.2.3 Chế độ bồi thường thiệt hại 18
1.3 Pháp luật lao động về bồi thường thiệt hại 21
1.2.1 Vai trò của pháp luật lao động về bồi thường thiệt hại 21
1.2.2 Nội dung của pháp luật lao động về bồi thường thiệt hại 22
CHƯƠNG 2 28
SO SÁNH PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG HIỆN HÀNH VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CỦA VIỆT NAM VÀ LIÊN BANG NGA 28
2.1 Bồi thường thiệt hại về tài sản 28
2.1.1 Bồi thường thiệt hại về tài sản trong pháp luật lao động Việt Nam 28
2.1.2 Bồi thường thiệt hại về tài sản trong pháp luật lao động Liên bang Nga 35 2.1.3 Nhận xét 40
2.2 Bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tính mạng 44
2.2.1 Bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tính mạng trong pháp luật lao động Việt Nam 45
2.2.2 Bồi thường thiệt hại sức khỏe, tính mạng của pháp luật lao động Liên bang Nga 52
2.2.3 Nhận xét 55
2.3 Bồi thường thiệt hại do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật 57
Trang 72.3.1 Bồi thường thiệt hại do NSDLĐ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động 57
2.3.2 Bồi thường thiệt hại do NLĐ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động trái pháp luật 62
2.4 Bồi thường thiệt hại trong một số trường hợp khác 65
2.4.1 Bồi thường thiệt hại về tiền lương 65
2.4.2 Bồi thường thiệt hại khi đình công bất hợp pháp 67
2.4.3 Bồi thường thiệt hại khi vi phạm hợp đồng đào tạo 71
2.5.4 Một số trường hợp bồi thường thiệt hại đặc thù của pháp luật lao động Việt Nam và pháp luật cộng hòa Liên bang Nga 74
CHƯƠNG 3 79
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI 79
3.1 Yêu cầu hoàn thiện pháp luật lao động Việt Nam về bồi thường thiệt hại 79 3.1.1 Hoàn thiện pháp luật lao động về bồi thường thiệt hại cần phải khắc phục những yếu tố bất cập, tồn tại trong quy định pháp luật hiện hành 79
3.1.2 Hoàn thiện pháp luật lao động về bồi thường thiệt hại nhằm mục đích bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ lao động 79
3.1.3 Hoàn thiện pháp luật lao động về bồi thường thiệt hại nhằm đưa pháp luật Việt Nam tiến gần hơn với pháp luật của các quốc gia khác trên thế giới. 80
3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật lao động Việt Nam về bồi thường thiệt hại 81
3.2.1 Hoàn thiện các quy định của pháp luật 81
3.2.2 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bồi thường thiệt hại 86
KẾT LUẬN CHUNG 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 8LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và những chuyển biến trong đời sống xã hội ngày nay, các quan hệ xã hội cũng ngày càng trở nên phức tạp, phát sinh nhiều mâu thuẫn tranh chấp, đòi hỏi sự điều chỉnh kịp thời của pháp luật để giải quyết Trong số đó phải kể đến quan hệ lao động, là một nội dung quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của hoạt động sản xuất và nền kinh tế Việc điều hòa và giải quyết các vấn đề trong pháp luật lao động là một yêu cầu quan trọng trong pháp luật hiện nay Đối với quan hệ pháp luật nói chung và trong quan hệ pháp luật lao động nói riêng, một trong số các vấn
đề được quan tâm chính là việc đảm bảo quyền lợi của các chủ thể tham gia quan hệ lao động Đặc biệt trong lao động sản xuất, các chủ thể luôn có khả năng gặp phải những thiệt hại về thân thể, vật chất và tinh thần do nhiều nguyên nhân Do đó pháp luật lao động đã có nhiều quy định về vấn đề bồi thường cho những thiệt hại đã phát sinh này, như bồi thường thiệt hại do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, bồi thường thiệt hại liên quan đến tài sản, bồi thường thiệt hại do vi phạm HĐLĐ Các quy định này đã góp phần giải quyết những vấn đề mâu thuẫn trong quan hệ lao động Tuy nhiên cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, quan hệ lao động cũng ngày càng trở nên phức tạp, dẫn đến những thiệt hại trong lao động cũng ngày càng đa dạng, phức tạp, khó xác định được trách nhiệm của các bên liên quan Điều đó gây khó khăn cho nhà quản lý cũng như ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể Do đó pháp luật cần không ngừng hoàn chỉnh và bổ sung các quy định về bồi thường thiệt hại để đảm bảo tính công bằng của xã hội, sự nghiêm minh của pháp luật và quyền lợi của các bên liên quan trong quan hệ lao động
Nghiên cứu về bồi thường thiệt hại trong pháp luật lao động không phải
là một vấn đề mới trong hoạt động nghiên cứu pháp luật ngày nay Thực tế cho thấy cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhiều quốc gia trên thế giới
Trang 9cũng luôn phải có sự điều chỉnh và bổ sung các nội dung về bồi thường thiệt hại trong lao động Do đó việc nghiên cứu các vấn đề pháp luật về bồi thường thiệt hại trong lao động ở nước ta hiện nay đòi hỏi các nhà nghiên cứu cần đặt trong mối tương quan so sánh với nội dung có liên quan trong pháp luật nước ngoài, nhằm lựa chọn những nội dung thích hợp từ đó xây dựng một hệ thống các quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại theo pháp luật lao động phù hợp với tình hình phát triển và các đặc trưng của Việt Nam
Nước Cộng hòa Liên bang Nga là một quốc gia có mối quan hệ tốt đẹp với Việt Nam từ lâu Trong giai đoạn cuối những năm 80 đầu những năm 90 của thế kỷ 20, cùng với sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới, Liên bang Nga đã lâm vào một thời kỳ kinh tế - xã hội gặp nhiều khó khăn Trước tình hình đó chính phủ Nga đã thực hiện nhiều cải cách đối với đất nước nói chung và đối với pháp luật nói riêng Kết quả là sau gần 30 năm, Liên bang Nga hiện nay đã trở lại vai trò là một cường quốc kinh tế trên thế giới, có mức tăng trưởng kinh tế và GDP ở mức cao Góp phần trong sự phát triển đó, chính là Liên bang Nga có một nền pháp luật nghiêm minh và hiệu quả Trong pháp luật về lao động ở Liên bang Nga, các quy định về bồi thường thiệt hại được quy định chặt chẽ, rõ ràng, qua đó bảo đảm tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật cũng như quyền lợi của các chủ thể tham gia Các quy định này có tác dụng so sánh, tham khảo rất tốt đối với hoạt động nghiên cứu pháp luật lao động về bồi thường thiệt hại ở Việt Nam hiện nay
Theo định hướng phát triển kinh tế hội nhập với quốc tế tầm nhìn 2030
và bắt kịp với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 trên thế giới, đòi hỏi cần nghiên cứu các nội dung quan trọng trong pháp luật lao động, trong đó có vấn
đề bồi thường thiệt hại Trong bối cảnh đó, tác giả xin được lựa chọn đề tài
nghiên cứu “Bồi thường thiệt hại theo pháp luật lao động Việt Nam và pháp luật cộng hòa Liên bang Nga dưới góc độ so sánh” làm đề tài luận văn Thạc
sĩ Luật học của mình, với mục đích góp phần nâng cao hiểu biết pháp luật lao
Trang 10động về bồi thường thiệt hại, cũng như bổ sung cho hệ thống các nghiên cứu pháp luật về bồi thường thiệt hại ở Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1 Các nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến đề tài
Hiện nay mới chỉ có một số nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến bồi thường thiệt hại trong pháp luật lao động, bao gồm:
- Nguyễn Hữu Chí (chủ biên), Đỗ Gia Thắng (2006), Chế độ bồi thường trong luật lao động Việt Nam, Nxb Tư pháp
- Nguyễn Thị Bích Nga, 2014, Luận văn Thạc sĩ Luật học chuyên ngành
Luật Kinh tế “Bồi thường thiệt hại trong pháp luật lao động Việt Nam và thực tiễn áp dụng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội
- Nguyễn Thị Lan Phương, 2015, Luận văn Thạc sĩ Luật học chuyên
ngành Luật Kinh tế “Bồi thường thiệt hại theo pháp luật lao động Việt Nam”,
Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Các nghiên cứu này đều có nghiên cứu trực tiếp về bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực pháp luật lao động Việt Nam, và đã có ý nghĩa trong việc nghiên cứu và hoàn thiện các quy định về bồi thường thiệt hại trong pháp luật lao động ở Việt Nam Tuy nhiên các nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc xem xét đánh giá các quy định pháp luật của riêng từng quốc gia, chứ chưa đặt vấn đề so sánh với quy định về bồi thường thiệt hại trong pháp luật lao động giữa Việt Nam với quốc gia khác Trong bối cảnh hiện nay, khi Nhà nước đặt mục tiêu phát triển nền kinh tế hội nhập với thế giới, việc nghiên cứu pháp luật cũng cần đặt trong sự so sánh, học hỏi các quy định tương tự trong pháp luật của các nước có nền pháp luật phát triển Đây là cơ sở để củng
cố và phát triển hệ thống chế định về bồi thường thiệt hại trong pháp luật lao động, từ đó tạo đà để phát triển kinh tế, củng cố các quan hệ xã hội
2.2 Các nghiên cứu có liên quan gián tiếp đến đề tài
Trang 11Bồi thường thiệt hại là một nội dung quan trọng nhằm bảo vệ quyền lợi của các chủ thể trong các loại quan hệ xã hội Hiện nay, đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến bồi thường thiệt hại trên nhiều góc độ của pháp luật Việt Nam, trong đó gần đây phải kể đến một số đề tài tiêu biểu như:
- Hà Thu Hương, 2013, Luận văn Thạc sĩ Luật học chuyên ngành Pháp
luật về quyền con người “Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước gắn liền với quyền con người: lý luận và thực tiễn”, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
- Phạm Thị Hương, 2014, Luận văn Thạc sĩ Luật học chuyên ngành Luật
dân sự và tố tụng dân sự “Bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe trong pháp luật Việt Nam”, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
- Đào Thảo Ly, 2014, Luận văn Thạc sĩ Luật học chuyên ngành Luật dân
sự và tố tụng dân sự “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của người khác gây ra theo pháp luật Việt Nam”, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
- Hoàng Thị Thu Thủy, 2017, Luận văn Thạc sĩ Luật học chuyên ngành
Luật Kinh tế “Chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp luật thương mại Việt Nam”, Học viện Khoa học
xã hội Việt Nam
- Kulya A.V, 1999, Các quy định chung về bồi thường thiệt hại do tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho NLĐ, Đại học Saint-Petersburg
- Ngoài ra còn có nhiều bài báo, nghiên cứu khác có liên quan đến bồi thường thiệt hại ở Việt Nam
Tất cả các nghiên cứu trên dù không liên quan trực tiếp đến bồi thường thiệt hại trong pháp luật lao động, nhưng cũng là những tài liệu có tác dụng tham khảo cần thiết nhằm bổ sung cho những hiểu biết về bồi thường thiệt hại trong quan hệ pháp luật, góp phần trong xây dựng, nghiên cứu và so sánh hệ thống chế định pháp luật về bồi thường thiệt hại ở Việt Nam và Cộng hòa liên bang Nga
3 Mục đích nghiên cứu, đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Trang 12Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận về bồi thường thiệt hại nói chung, bồi thường thiệt hại trong pháp luật lao động nói riêng Đồng thời so sánh pháp luật lao động về bồi thường thiệt hại của Việt Nam và Liên bang Nga để đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật của Việt Nam
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quy định pháp luật lao động bồi thường thiệt hại của Việt Nam và Liên bang Nga
Pháp luật về bồi thường thiệt hại cần được nghiên cứu trên nhiều phương diện như bồi thường thiệt hại về tài sản, bồi thường thiệt hại về tính mạng sức khỏe, bồi thường thiệt hại về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, một số trường hợp bồi thường khác cũng như giải quyết tranh chấp
về bồi thường thiệt hại Tuy nhiên, trên cơ sở dung lượng của một luận văn thạc sĩ luật học định hướng nghiên cứu, tác giả không thể trình bày hết những vấn đề nói trên
Do đó, trong phạm vi luận văn này, tác giả xin phép chỉ tập trung nghiên cứu, tìm hiểu và làm sáng tỏ bốn loại bồi thường thiệt hại về tài sản, bồi thường thiệt hại về tính mạng sức khỏe bồi thường thiệt hại do đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật và bồi thường thiệt hại trong một số trường hợp khác theo quy định của pháp luật lao động hiện hành của Việt Nam và Liên bang Nga từ đó so sánh giữa hai hệ thống pháp luật về vấn đề này
4 Phương pháp nghiên cứu luận văn
Trong khuôn khổ đề tài, tác giả đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp hệ thống hóa: Là phương pháp giúp tác giả tập hợp các tài liệu và hệ thống hóa những vấn đề lý luận về bồi thường thiệt hại trong pháp luật lao động ở Việt Nam Phương pháp này nhằm giúp tiếp cận với cơ
sở lý luận của bội thường thiệt hại trong pháp luật lao động, nhằm nghiên cứu các quy định hiện hành của pháp luật lao động về bồi thường thiệt hại dưới góc độ so sánh với các quy định pháp luật của Liên bang Nga
Trang 13- Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh là phương pháp nhằm phân tích các nội dung pháp luật lao động hiện hành về bồi thường thiệt hại của Việt Nam và Liên bang Nga Phương pháp này nhằm tập hợp các nội dung pháp luật lao động về bồi thường thiệt hại ở Việt Nam và Liên bang Nga
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
- Kết quả nghiên cứu có thể đóng góp nhất định vào việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật lao động Việt Nam về bồi thường thiệt hại
- Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng làm tài liệu nghiên cứu và học tạp ở các cơ sở đào tạo luật
- Kết quả nghiên cứu có thể là tài liệu tham khảo cho NLĐ, NSDLĐ và những người quan tâm đến vấn đề bồi thường thiệt hại trong pháp luật lao động
6 Bố cục của luận văn
Không tính lời cam đoan, danh mục từ viết tắt, Mở đầu, Danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn được kết cấu làm 3 chương:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bồi thường thiệt hại và pháp luật lao động về bồi thường thiệt hại
- Chương 2: So sánh pháp luật lao động hiện hành về bồi thường thiệt hại của Việt Nam và Liên bang Nga
- Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật lao động Việt Nam về bồi thường thiệt hại
Trang 14CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI VÀ PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
.1 Khái niệm bồi thường thiệt hại trong pháp luật lao động
1
1.1.1 Định nghĩa bồi thường thiệt hại
Theo Từ điển tiếng Việt thì thiệt hại là "bị mất mát về của cải, vật chất hoặc tinh thần"1 Cũng theo từ điển tiếng Việt, bồi thường được hiểu là “trả lại cho người khác cái có giá trị (thường bằng tiền) tương xứng với những thiệt hại mà mình đã gây ra”
Như vậy, dưới góc độ chung nhất, bồi thường thiệt hại là việc người gây thiệt hại trả lại cho người bị thiệt hại một vật có giá trị (thường là tiền) tương đương với những mất mát về vật chất hoặc tinh thần mà người đó gây ra cho người bị thiệt hại Hành vi này nhằm điều hòa và giải quyết các mối quan hệ trong xã hội, củng cố sự phát triển hài hòa của cộng đồng
Dưới góc độ kinh tế, bồi thường thiệt hại là một công cụ quan trọng để giải quyết các hậu quả mà thiệt hại đem lại Theo đó bên bị thiệt hại sẽ được bên gây thiệt hại đền bù một khoản tiền Đối với bên bị thiệt hại, khoản tiền này có thể sử dụng để giải quyết hoặc phục hồi phần nào những rủi ro, thiệt hại về vật chất, tinh thần, thậm chí là thiệt hại về sức khỏe, tính mạng Còn bên gây thiệt hại qua đó bù đắp cho hành vi gây thiệt hại của mình Thông thường, khi xảy ra thiệt hại, những câu hỏi được đặt ra về vấn đề bồi thường
sẽ thường bao gồm chủ thể nào bị thiệt hại cần được bồi thường, chủ thể nào
có trách nhiệm bồi thường, mức bồi thường thiệt hại, phương thức bồi thường thiệt hại Hơn nữa, bồi thường thiệt hại cũng là một cơ chế để mỗi người trong xã hội có ý thức tự giác chấp hành các quy tắc, hạn chế gây thiệt hại cho người khác để tránh nghĩa vụ bồi thường thiệt hại
Trong khoa học pháp lý, thuật ngữ thiệt hại được hiểu là "tổn thất về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, tài sản của cá nhân, tổ chức được pháp luật
1
Viện Ngôn ngữ học (2006), Từ điển tiếng Việt, trang 943, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng
Trang 15bảo vệ"2 Như vậy, thiệt hại có thể phân làm hai loại là thiệt hại về tài sản (gồm những tài sản bị mất, bị hủy hoại, bị hư hỏng, chi phí phải bỏ ra để khắc phục, ngăn chặn thiệt hại cùng hoa lợi, lợi tức không thu được mà đáng lẽ phải thu được) và những tổn thất về tinh thần (như danh dự, uy tín, tên tuổi, nhân thân… là những yếu tố có vai trò trong việc tạo lập, duy trì và phát triển các mối quan hệ cá nhân và cộng đồng của chủ thể bị xâm hại) Thuật ngữ bồi thường thể hiện sự đền bù bằng tiền đối với những thiệt hại về vật chất và tinh thần mà người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm3
Như vậy, dưới góc độ pháp lý, bồi thường thiệt hại có thể hiểu là sự đền
bù bằng vật chất đối với những thiệt hại về vật chất và tinh thần mà chủ thể gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chủ thể bị thiệt hại Những quyền và lợi ích hợp pháp này có thể bao gồm quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt,
tư liệu sản xuất, vốn góp trong doanh nghiệp, Quyền và lợi ích hợp pháp cũng có thể bao gồm quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự Những quyền này được bảo vệ thông qua các quy định của nhiều ngành luật khác nhau như: luật dân sự, luật hình sự, luật lao động, luật thương mại,… Thông qua các quy định này, nhà nước đảm bảo rằng các chủ thể có hành vi gây thiệt hại có nghĩa vụ bồi thường, khắc phục hậu quả của những hành vi mình gây ra đối với chủ thể bị thiệt hại
Tóm lại, nghiên cứu về bồi thường thiệt hại từ những góc độ khác nhau,
có thể đưa ra một khái niệm chung nhất về bồi thường thiệt hại như sau: bồi thường thiệt hại là một trách nhiệm dân sự nhằm buộc người vi phạm nghĩa
vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác phải khắc phục hậu quả bằng cách đền bù các tổn thất mà mình đã gây ra
Trang 161.1.2 Định nghĩa bồi thường thiệt hại trong pháp luật lao động
Trong quá trình thực hiện các quan hệ được luật lao động điều chỉnh có thể xảy ra những hành vi xâm phạm đến quyền, lợi ích của các bên trong quan
hệ đó, bởi vì khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, NLĐ khó có thể tránh khỏi những sơ suất, vô ý gây thiệt hại cho NSDLĐ hoặc NSDLĐ vì lợi nhuận hoặc do những hoàn cảnh nào đó mà vi phạm nghĩa vụ của mình, gây thiệt hại cho NLĐ Để ngăn chặn và khắc phục hậu quả của những hành vi vi phạm gây thiệt hại, Nhà nước sử dụng nhiều biện pháp khác nhau Trong đó, bồi thường thiệt hại có thể được coi là một phương tiện pháp lý quan trọng để bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ lao động
Về khái niệm bồi thường thiệt hại trong pháp luật lao động, cũng đã có một số công trình nghiên cứu đề cập về vấn đề này Theo như PGS.TS
Nguyễn Hữu Chí “bồi thường thiệt hại trong luật lao động là một loại trách nhiệm pháp lý phát sinh khi một bên trong quan hệ lao động có hành vi vi phạm nghĩa vụ, gây thiệt hại cho bên kia nhằm khôi phục tình trạng tài sản,
bù đắp tổn thất về tinh thần, sức khỏe cho người bị thiệt hại”4
Một ý kiến khác tương tự cũng đề cập cụ thể Theo đó, bồi thường thiệt hại trong QHLĐ
“là một loại trách nhiệm pháp lý phát sinh khi một bên trong quan hệ lao động có hành vi vi phạm pháp luật lao động, gây thiệt hại cho bên kia nhằm khôi phục tình trạng tài sản, bù đắp tổn thất về tinh thần, sức khỏe cho người
bị thiệt hại” 5 Cách định nghĩa này có nhiều điểm tương đồng với định nghĩa
về bồi thường thiệt hại trong quan hệ lao động của PGS.TS Nguyễn Hữu Chí Tuy nhiên, trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả Nguyễn Thị Bích Nga đưa ra quan điểm bồi thường thiệt hại trong quan hệ lao động chỉ phát sinh khi có vi phạm pháp luật lao động
Trang 17Theo cách hiểu trên, bồi thường thiệt hại theo luật lao động là một loại trách nhiệm pháp lý phát sinh khi một chủ thể trong quan hệ pháp luật lao động có hành vi trực tiếp hay gián tiếp gây thiệt hại cho chủ thể phía bên kia Tuy nhiên, cách hiểu này chưa bao hàm được hết các trường hợp bồi thường thiệt hại trong luật lao động trên thực tế, bởi trách nhiệm bồi thường thiệt hại, không phải chỉ xuất phát từ các chủ thể trong quan hệ lao động, mà trong một
số trường hợp còn xuất phát từ các chủ thể của quan hệ liên quan đến quan hệ lao động, chẳng hạn như quan hệ pháp luật về học nghề, việc làm, hay quan
hệ pháp luật về đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Còn trong luật lao động của cộng hòa Liên bang Nga, định nghĩa bồi
thường được quy định cụ thể tại Điều 164 “Bồi thường là các khoản thanh toán bằng tiền, được thiết lập để bù đắp chi phí của nhân viên liên quan đến quá trình lao động của mình và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật liên bang” Quan điểm này cũng có điểm tương đồng với khái niệm về
bồi thường thiệt hại mà PGS.TS Nguyễn Hữu Chí đưa ra
Như vậy, bồi thường thiệt hại trong pháp luật lao động có thể hiểu như sau:
Bồi thường thiệt hại trong pháp luật lao động là trách nhiệm pháp lý phát sinh khi một bên chủ thể trong quan hệ lao động hoặc quan hệ liên quan đến quan hệ lao động có hành vi trực tiếp hay gián tiếp gây thiệt hại cho chủ thể bên kia, nhằm bù đắp những tổn thất về vật chất, sức khỏe, tinh thần cho bên bị thiệt hại
Mục đích của việc bồi thường thiệt hại là nhằm bù đắp những tổn thất
về vật chất, tinh thần hay tính mạng, sức khỏe do hành vi gây thiệt hại gây ra Việc xác định mức bồi thường thường căn cứ vào mức độ thiệt hại, hình thức lỗi của người gây thiệt hại trong từng trường hợp cụ thể và được trả bằng tiền
để bên bị thiệt hại dễ dàng sử dụng nhằm bù đắp những thiệt hại xảy ra Chế định bồi thường thiệt hại trong luật lao động có vai trò quan trọng trong việc
Trang 18đảm bảo củng cố kỷ luật lao động, cũng như đảm bảo lợi ích của các bên tham gia vào quan hệ lao động và quan hệ liên quan đến quan hệ lao động Trong lĩnh vực pháp luật lao động cũng có thể có các loại bồi thường thiệt hại khác nhau Cụ thể, có các loại bồi thường thiệt hại cơ bản sau đây:
- Bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe: Trong quá trình lao động,
là người trực tiếp thực hiện các thao tác nghiệp vụ trong sản xuất nên khi gặp
sự cố tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp thì NLĐ sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe của họ Trong trường hợp đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trước hết thuộc về NSDLĐ nếu họ có lỗi để xảy ra tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp
- Bồi thường thiệt hại về tài sản: Trong quá trình lao động phải sử dụng
tư liệu sản xuất và công cụ sản xuất Khi xảy ra hỏng hóc, mất mát về mặt tài sản, bên có hành vi vi phạm, gây tổn hại về tài sản cho bên kia phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại Thông thường thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại thường chỉ áp dụng đối với NLĐ, nhưng trong một số trường hợp trách nhiệm này còn áp dụng cho cả NSDLĐ hoặc người thứ ba có liên quan đến quan hệ lao động
- Bồi thường thiệt hại do đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật: Khi giao kết HĐLĐ, các bên có quyền tự do thỏa thuận theo ý chí của mình trong khuôn khổ pháp luật cho phép Sau khi hợp đồng đã có hiệu lực, NLĐ
và NSDLĐ phải tuân theo những quy định của luật lao động và những thỏa thuận trong hợp đồng Vì vậy, khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật, trách nhiệm bồi thường có thể thuộc về bất cứ chủ thể nào tham gia quan
hệ pháp luật lao động đã có hành vi gây thiệt hại đối với chủ thể phía bên kia Ngoài ra, còn có thể có trách nhiệm bồi thường thiệt hại của một số chủ thể trong các trường hợp khác
1.1.3 Căn cứ để áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong pháp luật lao động
Chế độ bồi thường thiệt hại trong luật lao động là tổng hợp các quy định về căn cứ, mức độ, phạm vi, cách thức, biện pháp thực hiện bồi thường
Trang 19thiệt hại mà căn cứ vào đó các bên có liên quan thực hiện nghĩa vụ bồi thườngkhi xảy ra những điều kiện thỏa mãn quy định của pháp luật hoặc sự thỏa thuận của các bên trong quan hệ lao động
Khi đề cập tới một loại chế độ về một vấn đề nào đó là ta đề cập đến tổng hợp những quy định về vấn đề đó, những quy định này có thể do pháp luật quy định hay do các bên thỏa thuận Trong luật lao động, chế độ bồi thường cũng là tổng hợp những quy định của pháp luật và thỏa thuận của các bên trong hợp đồng lao động, hợp đồng học nghề hay hợp đồng trách nhiệm
về trách nhiệm bồi thường khi có hành vi gây thiệt hại Nếu như không có những quy định này thì không thể áp dụng trách nhiệm bồi thường đối với người vi phạm
Phạm vi áp dụng của chế độ là áp dụng đối với toàn bộ thiệt hại phát sinh trong quan hệ lao động và các quan hệ có liên quan đến quan hệ lao động
Điều đặc biệt là mặc dù quan hệ lao động là quan hệ song phương giữa NLĐ và NSDLĐ song chế độ bồi thường thiệt hại trong luật lao động không chỉ áp dụng đối với những chủ thể của quan hệ lao động mà còn áp dụng với người thứ ba có liên quan Đó có thể là cha mẹ, người đại diện hợp pháp của người lao động trong những trường hợp NLĐ chưa thành niên
Mục đích của việc truy cứu trách nhiệm bồi thường thiệt hại là buộc chủ thể vi phạm phải gánh chịu hậu quả bất lợi về tài sản, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bên bị vi phạm trong quan hệ lao động Do đó việc qui định bồi thường thiệt hại do gây thiệt hại cho một người không thể xác định một cách tùy tiện, vô căn cứ, nhất là trong quan hệ lao động thì NLĐ là đối tượng chủ yếu phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại Vì vậy, chế độ bồi thường trong luật lao động nói riêng và pháp luật nói chung đã quy định việc giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra phải căn cứ trên các dấu hiệu có tính điều kiện Theo pháp luật lao động Việt Nam, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đủ bốn điều kiện sau đây
Trang 201.1.3.1 Có hành vi vi phạm gây thiệt hại
Từ góc độ pháp lý, một hành vi không thể thể bị coi là trái pháp luật
và chủ thể thực hiện hành vi đó không phải gánh chịu trách nhiệm nếu có thiệt hại xảy ra khi hành vi đó không bị pháp luật cấm, cho dù nó có trái đạo đức hay bị dư luận xã hội lên án Hành vi trái pháp luật thường được biểu hiện ở hành động vi phạm những quy định của pháp luật hoặc cũng có thể được biểu hiện dưới dạng không hành động (không thực hiện nghĩa vụ mà pháp luật quy định phải thực hiện hoặc thực hiện không đúng với các yêu cầu của pháp luật) nên gây thiệt hại cho xã hội
Hành vi vi phạm pháp luật lao động là hành vi trái pháp luật lao động
do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp luật lao động thực hiện một cách cố
ý hoặc vô ý xâm phạm tới quan hệ lao động và các quan hệ liên quan đến quan hệ lao động được pháp luật bảo vệ và phải chịu trách nhiệm pháp lý thích hợp Đối với NLĐ thì hành vi vi phạm được thể hiện bằng hành vi vi phạm kỷ luật lao động, không hoàn thành nghĩa vụ lao động được giao hoặc thực hiện không đúng những nghĩa vụ đó, vi phạm hợp đồng lao động Đối với NSDLĐ là hành vi vi phạm các quy định về an toàn, vệ sinh lao động, vi phạm hợp đồng lao động
Vi phạm pháp luật lao động được thể hiện ở dạng không hành động hoặc hành động.
Vi phạm pháp luật lao động có thể chia thành hai loại là vi phạm trực tiếp và vi phạm gián tiếp Vi phạm trực tiếp pháp luật lao động là những hành
vi trái với quy định của Nhà nước về quan hệ lao động, về an toàn, vệ sinh lao động và những quy định trong lĩnh vực quản lý lao động Vi phạm gián tiếp các quy định của pháp luật lao động là những hành vi vi phạm các qui định khác có tính chất thỏa thuận trong quan hệ lao động như vi phạm thỏa ước lao động tập thể, vi phạm hợp đồng lao động, vi phạm nội quy lao động Tuy có
sự phân biệt này song xét đến cùng thì những vi phạm trên đều là vi phạm quy định của luật lao động, vì mặc dù vi phạm gián tiếp chỉ là vi phạm sự
Trang 21thỏa thuận nhưng các thỏa thuận đó vẫn phải dựa trên cơ sở các quy định của BLLĐ và các văn bản hướng dẫn thi hành về các vấn đề như tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hộ lao động, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, kỷ luật lao động và khi có sự vi phạm sẽ xử lý bằng pháp luật
1.1.3.2 Có thiệt hại xảy ra
Là một yếu tố cấu thành cơ bản của trách nhiệm bồi thường thiệt hại, đây là một điều kiện được coi là bắt buộc và quyết định việc có phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại hay không Thiệt hại xảy ra trong quan hệ pháp luật lao động khác với thiệt hại trong quan hệ pháp luật hình sự vì trách nhiệm hình sự được đặt ra do tính chất nguy hiểm của hành vi gây ra hoặc có khả năng gây ra hậu quả mà phải chịu trách nhiệm hình sự, còn đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong quan hệ lao động phải phát sinh thiệt hại dù
là thiệt hại không nghiêm trọng thì người gây thiệt hại mới phải bồi thường NLĐ khi tham gia vào quan hệ lao động cần được bảo đảm về tính mạng, sức khỏe, cần được bảo đảm nguồn thu nhập ổn định do bán sức lao động Còn NSDLĐ khi bỏ vốn ra đầu tư không những mong muốn bảo toàn tài sản mà còn muốn thu được lợi nhuận
Do đó, thiệt hại trong quan hệ lao động chính là sự giảm sút về số lượng cũng như chất lượng của hàng hóa sức lao động, là thiệt hại về tài sản và thu nhập đáng lẽ ra các bên có được hoặc là những thiệt hại về danh dự, uy tín của các bên Tuy nhiên, tính chất của thiệt hại phải như thế nào mới đặt ra vấn
đề bồi thường thiệt hại Yêu cầu đối với những nhà làm luật và những người
áp dụng pháp luật khi đánh giá một thiệt hại làm cơ sở cho việc quy trách nhiệm bồi thường thiệt hại là phải nhìn nhận thiệt hại một cách khách quan
Có thiệt hại xảy ra và thiệt hại đó phải trị giá được bằng tiền, được thể hiện bằng sự giảm sút thu nhập của NLĐ, sự mất mát về tư liệu sản xuất của NSDLĐ (nếu thiệt hại về tài sản) và tính mạng, sức khỏe, danh dự bị xâm phạm của NLĐ (nếu là thiệt hại tinh thần) thì mới đặt ra trách nhiệm bồi thường thiệt hại Thiệt hại do luật lao động điều chỉnh có thể phân chia thành
Trang 22nhiều loại như thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần, cũng có thể phân thành thiệt hại trực tiếp và thiệt hại gián tiếp
1.1.3.3 Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và sự thiệt hại
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh khi thiệt hại là kết quả trực tiếp tất yếu của hành vi vi phạm Đó là mối liên hệ của sự vận động nội tại mà về nguyên tắc, nguyên nhân phải xảy ra trước kết quả và hành vi trái pháp luật phải là nguyên nhân trực tiếp hoặc là nguyên nhân quan trọng có ý nghĩa quyết định với việc xảy ra thiệt hại Đây là mối quan hệ biểu hiện nội dung của cặp phạm trù nguyên nhân - kết quả trong phép duy vật biện chứng Một thiệt hại có thể xảy ra do một hoặc nhiều hành vi trái pháp luật và ngược lại, một hành vi trái pháp luật có thể gây ra nhiều thiệt hại khác nhau Điều quan trọng là phải xác định hành vi trái pháp luật gây thiệt hại là hành vi độc lập hay ở trong mối quan hệ tổng hợp và có sự tác động qua lại của nhiều hiện tượng chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh thiệt hại, phải xem xét trường hợp thiệt hại xảy ra có thể là do một hành vi trái pháp luật khác xen vào gây ra chứ không phải do hành vi có chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh thiệt hại gây ra Hành vi trái pháp luật (với vai trò là nguyên nhân) có ý nghĩa quyết định làm phát sinh thiệt hại, nhưng diễn biến của thiệt hại xảy ra theo chiều hướng nào thì lại phụ thuộc vào các yếu tố khách quan khác tác động vào Hành vi trái pháp luật, tự nó mới chỉ có khả năng gây thiệt hại chứ chưa được xác định hoàn toàn Thiệt hại trên thực tế thì tùy từng hoàn cảnh, điều kiện khác nhau sẽ có hậu quả khác nhau Xem xét mối quan hệ này, ngoài ý nghĩa làm căn cứ cho việc áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại, còn có ý nghĩa xác định mức bồi thường thiệt hại Vì vậy, ta phải đánh giá tất
cả các sự kiện liên quan một cách thận trọng, khách quan, toàn diện và đầy
đủ, từ đó mới có thể rút ra kết luận đúng đắn Nói tóm lại, để đánh giá chính xác mối quan hệ nhân quả cần phải chú ý đến nhiều vấn đề, trong đó cần xác định chính xác những vấn đề chủ yếu sau:
Trang 23- Hành vi vi phạm phải xảy ra trước hậu quả thiệt hại;
- Hành vi vi phạm xảy ra độc lập hoặc trong mối liên hệ với các sự kiện, hiện tượng khác, phải chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả;
- Đối với hậu quả thiệt hại xảy ra phải là sự hiện thực hóa khả năng thực tế làm phát sinh thiệt hại của hành vi vi phạm
1.1.3.4 Có lỗi của người vi phạm
Lỗi là trạng thái tâm lý của con người nhận thức được hành vi vi phạm
và hậu quả của hành vi đó Lỗi được xem là biểu hiện của thái độ tiêu cực chống đối xã hội của chủ thể vi phạm
Hành vi là biểu hiện bên ngoài, là yếu tố vật chất thực tế của lỗi Một hành vi gây thiệt hại cho xã hội sẽ bị coi là có lỗi nếu hành vi đó là kết quả của sự tự lựa chọn và quyết định của một chủ thể trong khi chủ thể đó có đủ điều kiện khách quan và chủ quan để lựa chọn một xử sự khác phù hợp hơn với yêu cầu của xã hội Nhưng vì chủ thể đã lựa chọn và thực hiện hành vi gây thiệt hại nên chủ thể đó sẽ bị coi là có lỗi trong hành vi trái pháp luật gây thiệt hại của mình Lỗi được xem như là thước đo của trách nhiệm pháp lý và suy cho cùng, mọi trách nhiệm pháp lý do lỗi đều gắn liền với một hành vi, tức là sự biểu lộ ra ngoài ý chí của một người thông qua cách xử sự cụ thể Lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại của luật lao động cũng như trong luật dân sự được chia làm hai loại là lỗi cố ý và lỗi vô ý Lỗi cố ý là lỗi của một bên nhận thức rõ hành vi của mình vi phạm pháp luật lao động, vi phạm hợp đồng lao động và sẽ gây thiệt hại cho phía bên kia mà vẫn thực hiện dù mong muốn hoặc không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho thiệt hại xảy ra Lỗi vô ý là lỗi của một bên không thấy trước được hành vi của mình có khả năng gây ra thiệt hại cho bên kia dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy được thiệt hại nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được
Trang 24Tuy nhiên pháp luật lao động với điểm đặc thù là bảo vệ người lao động nên đương nhiên những quy định về chế độ bồi thường có nhiều điểm khác biệt so với các ngành luật khác Thông thường, bồi thường thiệt hại chỉ đặt ra khi thoả mãn cả bốn điều kiện trên Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể phát sinh khi không có đủ các điều kiện trên Ví dụ như trong trường NLĐ và NSDLĐ đã kí kết hợp đồng trách nhiệm trong dó có điều khoản về bảo quản tài sản của NSDLĐ, nếu NLĐ gây thiệt hại, cho dù NLĐ có lỗi hay không có lỗi thì đều phải bồi thường theo thỏa thuận trước đó
Ngoài ra để áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại với NLĐ thì cần phải xem xét đến các yếu tố khác như tài sản, hoàn cảnh gia đình, tâm lý, sức khỏe, khả năng, kinh nghiệm làm việc của họ để vừa đảm bảo cuộc sống cho NLĐ vừa đảm bảo quyền lợi cho NSDLĐ
1.2 Sự khác biệt giữa chế độ bồi thường thiệt hại trong luật lao động với chế độ bồi thường thiệt hại trong luật dân sự
1.2.1 Phạm vi điều chỉnh
Nếu như Bộ luật Dân sự điều chỉnh các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động thì luật lao động điều chỉnh các quan hệ lao động giữa NLĐ làm công ăn lương với NSDLĐ và các quan hệ
xã hội liên quan trực tiếp với quan hệ lao động, trong đó QHLĐ được coi là nền tảng, là tiền đề của nhiều quan hệ khác có liên quan
Các QHLĐ đó được thiết lập dưới hình thức hợp đồng lao động Mặc dù đều là mối quan hệ thiết lập trên cơ sở thỏa thuận tự nguyện, bình đẳng nhưng điểm khác biệt cơ bản giữa hợp đồng lao động với hợp đồng dân sự là ở chỗ đối tượng của hợp đồng lao động không phải là hàng hóa, dịch vụ thông thường mà là việc làm, là sức lao động - một thứ hàng hóa đặc biệt trong nền kinh tế thị trường Việc ký kết hợp đồng lao động gắn liền với tư cách cá nhân, có tính chất đích danh nên các chủ thể không thể chuyển giao quyền và nghĩa vụ lao động của họ cho người khác
Trang 251.2.2 Đối tượng điều chỉnh
Bồi thường thiệt hại trong luật lao động chỉ phát sinh trên cơ sở tồn tại một quan hệ lao động, dưới hình thức một hợp đồng lao động Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong luật dân sự không chỉ phát sinh dựa trên quan hệ hợp đồng dân sự mà có thể phát sinh dựa trên hành vi gây thiệt hại ngoài hợp đồng, có nghĩa là giữa các bên không cần tồn tại một quan hệ hợp đồng nào
cả cũng có thể phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu như hành vi đó trái pháp luật và gây thiệt hại cho chủ thể khác Mặt khác, chủ thể tham gia quan hệ bồi thường thiệt hại trong luật lao động chỉ có thể là NLĐ, NSDLĐ trong khi đó chủ thể tham gia quan hệ bồi thường thiệt hại trong các ngành luật dân sự, có thể là cá nhân, tổ chức bất kỳ thỏa mãn điều kiện của luật dân
sự
1.2.3 Chế độ bồi thường thiệt hại
Xuất phát từ những đặc trưng nêu trên nên vấn đề bồi thường thiệt hại trong quan hệ lao động cũng mang những nét tương đồng và khác biệt so với bồi thường thiệt hại trong quan hệ dân sự Phát sinh trong quan hệ hợp đồng, gắn liền với hành vi vi phạm và lỗi của người vi phạm là những đặc điểm chung của bồi thường thiệt hại trong tất cả các ngành luật Bên cạnh đó, bồi thường thiệt hại trong quan hệ lao động còn có một số điểm khác biệt cơ bản
so với trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các quan hệ khác
1.2.3.1 Căn cứ phát sinh trách nhiệm
Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật Lao động cũng như trong Luật Dân sự đều đòi hỏi bốn yếu tố: hành vi vi phạm, thiệt hại về tài sản, quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại xảy ra và có lỗi của người vi phạm Tuy nhiên, căn cứ để xác định hành vi vi phạm hợp đồng trong luật lao động không chỉ bao gồm các cam kết trong hợp đồng, quy định của pháp luật mà còn là quy định trong nội quy đơn vị sử dụng lao động Đặc biệt là khi NSDLĐ áp dụng trách nhiệm vật chất đối với NLĐ, nếu không có nội quy lao động quy định trước thì NSDLĐ không thể
Trang 26áp dụng trách nhiệm vật chất với NLĐ mặc dù có thể NLĐ có hành vi vi phạm gây thiệt hại cho NSDLĐ Đây là quy định thể hiện nguyên tắc đặc thù của luật lao động là bảo vệ NLĐ
1.2.3.2 Yếu tố lỗi
Về yếu tố lỗi, trong quan hệ trách nhiệm do vi phạm luật dân sự hầu
như tất cả các trường hợp thì lỗi cố ý hay vô ý không ảnh hưởng đến việc xác định trách nhiệm cũng như mức độ bồi thường thiệt hại Còn đối với quan hệ bồi thường thiệt hại trong luật lao động thì việc xác định lỗi cố ý hay vô ý có ảnh hưởng lớn đến việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại
1.2.3.3 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại
Nguyên tắc bồi thường thiệt hại theo quy định của luật lao động có sự khác biệt cơ bản so với các quy định của luật dân sự Trong quan hệ dân sự thì chủ thể gây thiệt hại trái pháp luật phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do mình gây ra, bao gồm cả những thiệt hại trực tiếp và thiệt hại gián tiếp, trong khi đó BLLĐ quy định tùy trường hợp cụ thể người gây thiệt hại có thể bồi thường một phần thiệt hại hoặc toàn bộ thiệt hại Đồng thời, người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường những thiệt hại trực tiếp từ hành vi vi phạm của mình chứ không phải bồi thường những thiệt hại gián tiếp
1.2.3.4 Chế tài áp dụng đối với hành vi vi phạm
Khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ lao động, chế tài phổ biến được áp dụng là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và bồi thường thiệt hại Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là biện pháp mà các bên có thể sử dụng khi những cam kết trong hợp đồng lao động không được thực hiện đúng, đầy
đủ hoặc có hành vi vi phạm pháp luật lao động Khi NLĐ không được bố trí công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm các điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng, không được trả công đầy đủ hoặc trả công đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng thì có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động NSDLĐ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi NLĐ thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng,
Trang 27bị xử lý kỷ luật sa thải theo quy định của BLLĐ Nếu hiểu theo một nghĩa hẹp trong phạm vi các qui định về chế tài buộc tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động thì luật lao động chỉ áp dụng với NSDLĐ trong một trường hợp duy nhất là khi họ chấm dứt hợp đồng trái pháp luật mà không áp dụng với NLĐ Trong khi đó chế tài áp dụng với các hành vi vi phạm pháp luật dân sự rất đa dạng như buộc thực hiện đúng hợp đồng, phạt hợp đồng hay bồi thường thiệt hại Nguyên nhân là do trong quan hệ lao động đối tượng mà cả hai bên hướng tới là sức lao động của NLĐ, nhưng sức lao động lại là một loại hàng hóa đặc biệt không thể mua bán theo kiểu "đứt đoạn" như những hàng hóa thông thường khác mà nó nằm trong bản thân NLĐ và được chuyển hóa dần vào sản phẩm thông qua quá trình lao động Quá trình mua bán này đòi hỏi một thời gian lâu dài và có sự gắn bó giữa NLĐ và NSDLĐ NLĐ phải làm việc dưới sự chỉ đạo, tổ chức sản xuất kinh doanh của NSDLĐ và bằng tư liệu sản xuất của NSDLĐ, nhưng kết quả lao động đạt được có như mong muốn của NSDLĐ hay không lại phụ thuộc nhiều vào ý thức lao động của NLĐ Mặt khác, với ý nghĩa bảo vệ người lao động tránh sự ràng buộc suốt đời với NSDLĐ, đồng thời tạo thuận lợi cho NLĐ dễ dàng lựa chọn công việc là một trong những yếu tố đảm bảo quyền tự do tìm kiếm việc làm thì khi NLĐ không còn muốn tiếp tục làm thuê cho NSDLĐ nữa pháp luật chỉ đặt ra trách nhiệm bồi thường thiệt hại với NLĐ nếu hành vi đơn phương chấm dứt quan
hệ lao động đó là trái pháp luật
1.2.3.5 Thủ tục áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Về thủ tục áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại Trong luật dân sự
để đáp ứng mục đích chính là khắc phục hậu quả xấu mà hành vi gây thiệt hại
đã gmnhây ra nên việc bồi thường phải đáp ứng nguyên tắc kịp thời Đây là nguyên tắc có tính xuyên suốt chỉ đạo trong quá trình giải quyết bồi thường thiệt hại theo luật dân sự nên các quy định về trình tự thủ tục giải quyết bồi thường trong các luật này cũng đơn giản, nhanh gọn
Trang 28Trong khi đó thủ tục áp dụng trách nhiệm bồi thường trong luật lao động lại theo một trình tự phức tạp, trong đó có sự tham gia của Công đoàn,
tổ chức đại diện cho tập thể NLĐ Việc thực hiện trách nhiệm bồi thường cũng có sự đặc biệt, đối với NSDLĐ nguyên tắc là bồi thường toàn bộ thiệt hại và bồi thường một lần, còn đối với NLĐ thì có thể chỉ bị trừ dần vào lương hàng tháng với tỷ lệ không quá 30% lương tháng
1.3 Pháp luật lao động về bồi thường thiệt hại
1.2.1 Vai trò của pháp luật lao động về bồi thường thiệt hại
Với đặc trưng của quan hệ lao động là phát sinh trong môi trường lao động, giữa những chủ thể có liên quan đến quan hệ lao động, thì pháp luật lao động về bồi thường thiệt hại có những vai trò sau:
Pháp luật lao động về bồi thường thiệt hại bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cả NLĐ và NSDLĐ Trong trường hợp NLĐ là chủ thể bị thiệt hại thì các quy định về bồi thường thiệt hại sẽ góp phần khắc phục các hậu quả của thiệt hại đó, đảm bảo quyền lợi của NLĐ Trong quan hệ lao động, NLĐ với tư cách là người trực tiếp tham gia vào việc vận hành máy móc, thiết bị trong quá trình lao động nên họ phải thường xuyên đối mặt với những nguy
cơ gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe dẫn đến tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp Chế định bồi thường thiệt hại đã giúp NLĐ trong trường hợp này có điều kiện để hồi phục sức khỏe, tiếp tục tham gia quan hệ lao động hoặc khắc phục những khó khăn trong cuộc sống Việc pháp luật lao động quan tâm bảo vệ những lợi ích vật chất và tinh thần của NLĐ, không để NSDLĐ vi phạm hoặc buộc NSDLĐ phải bồi thường nhanh chóng, đầy đủ và kịp thời đối với những thiệt hại mà NLĐ gặp phải trong quá trình lao động như thiệt hại về tiền lương, thiệt hại về sức khỏe, thiệt hại do chấm dứt HĐLĐ… đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ tốt hơn quyền lợi của NLĐ Còn NSDLĐ, với tư cách là người chủ sở hữu hoặc quản lý tư liệu lao động, công cụ lao động và bỏ vốn đầu tư, nên dễ có nguy cơ chịu tổn thất về mặt tài sản do hành vi gây thiệt hại của NLĐ Trong trường hợp này, NLĐ là
Trang 29chủ thể gây thiệt hại Khi đó, việc bồi thường thiệt hại cũng sẽ được đặt ra nhằm đảm bảo việc khắc phục hậu quả cho NSDLĐ, bảo vệ quyền lợi của NSDLĐ, giúp bảo vệ tài sản, đảm bảo quá trình sản xuất, bảo vệ công cụ và tài liệu sản xuất Nhìn chung, pháp luật lao động về bồi thường thiệt hại tạo
cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết các tranh chấp liên quan đến thiệt hại của các chủ thể trong QHLĐ, từ đó, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể bị thiệt hại được khôi phục và bảo đảm
Pháp luật lao động về bồi thường thiệt hại góp phần củng cố quan hệ lao động Cơ chế đền bù khi có hành vi vi phạm giúp quyền và lợi ích của các bên trong QHLĐ được đảm bảo, đồng thời giúp các chủ thể trong QHLĐ nhận thức rõ vai trò, vị trí, nghĩa vụ và quyền lợi của mình Từ đó tránh cho những mâu thuẫn nảy sinh và khiến cho các chủ thể thực hiện tốt các trách nhiệm của mình NLĐ sẽ yên tâm lao động sản xuất khi biết nếu mình gặp thiệt hại
về tài sản, sức khỏe hoặc tính mạng thì sẽ được đền bù xứng đáng Còn NSDLĐ cũng bớt lo lắng NLĐ sẽ gây thiệt hại cho mình bởi pháp luật đã quy định NLĐ gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm đền bù một phần hoặc toàn bộ những thiệt hại đã gây ra Khoản đề bù đó có thể phần nào giúp NSDLĐ phục hồi, sữa chữa những thiệt hại đã gặp phải và tiếp tục sản xuất kinh doanh Pháp luật lao động về bồi thường thiệt hại còn góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm, tinh thần lao động và kỷ luật lao động Pháp luật lao động về bồi thường thiệt hại có tác dụng giáo dục, răn đe nhất định Trước nỗi lo phải bỏ tiền để bồi thường thiệt hại, NLĐ sẽ có ý thức tự giác chấp hành tốt các nội quy, kỷ luật lao động trong môi trường lao động Ngược lại, NSDLĐ cũng sẽ tuân thủ các quy tắc an toàn, vệ sinh trong lao động, tạo môi trường thuận lợi cho NLĐ yên tâm công tác
1.2.2 Nội dung của pháp luật lao động về bồi thường thiệt hại
1.2.2.1 Bồi thường thiệt hại về tính mạng sức khỏe
Trong quá trình lao động, khi môi trường lao động, điều kiện lao động chưa đảm bảo thì NLĐ dễ gặp phải những vấn đề về sức khỏe, tính mạng như
Trang 30tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp NSDLĐ với vai trò là người có quyền tổ chức, quản lý việc sản xuất, đồng thời cũng là chủ thể chịu trách nhiệm về bảo hộ lao động, có nghĩa vụ thực hiện tốt những biện pháp đảm bảo an toàn cho NLĐ, phòng ngừa tai nạn và các ảnh hưởng có hại đến sức khỏe, tính mạng của NLĐ trong quá trình lao động NSDLĐ là người điều hành quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, do vậy nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe cũng được đặt ra với NSDLĐ
Các quốc gia trên thế giới đều quan tâm đến việc xác định và giải quyết trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe tính mạng Tuy nhiên, tùy thuộc vào quan điểm của mỗi quốc gia mà quy định pháp luật về vấn đề bồi thường thiệt hại trong trường hợp này có thể khác nhau
Pháp luật Hàn Quốc quy định vấn đề bồi thường do tai nạn lao động như
sau: “NSDLĐ phải chịu toàn bộ chi phí y tế hay các chi phí khác cho NLĐ bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp” 6 Như vậy, chủ sử dụng lao động là
bên chịu toàn bộ các chi phí cho NLĐ nếu họ không may bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Hơn nữa, tất cả NLĐ nước ngoài cũng đều có thể được nhận bồi thường tai nạn lao động, không phân biệt là lao động cư trú hợp pháp hay bất hợp pháp7
Đặc trưng của chế độ bồi thường tai nạn lao động của Hàn Quốc đó là NSDLĐ chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại toàn bộ, không phân biệt nguyên nhân do lỗi của NLĐ hay không, không phân biệt ngành nghề Ngoài ra, khi chấm dứt HĐLĐ mà NLĐ bị tai nạn lao động thì vẫn được hưởng trợ cấp tai nạn lao động
Tuy nhiên, ở Cộng hòa Liên bang Đức, đối với trường hợp NLĐ bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe trong quá trình thực hiện công việc được giao theo HĐLĐ, những chi phí bồi thường cho NLĐ sẽ được quỹ bảo hiểm chi trả Ở Đức, NSDLĐ phải đóng bảo hiểm vào Quỹ bảo hiểm tai nạn bắt buộc gọi là các Berufsgenossenchaft, Quỹ bảo hiểm này có mục đích bảo hiểm tai nạn hay các bệnh nghề nghiệp xảy ra trong quá trình lao động Để được hưởng
6 Điều 78, Luật các tiêu chuẩn lao động Hàn Quốc 2009
7 Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2014), Hà Nội, Báo cáo kết quả đoàn công tác tại Hàn Quốc
Trang 31bảo hiểm trong trường hợp tai nạn lao động, NLĐ phải xin xác nhận của bác
sĩ về thương tật, gửi cho NSDLĐ, khi đó, NSDLĐ sẽ đệ đơn lên Quỹ bảo hiểm tai nạn đề nghị thanh toán Mức bồi thường trong thời gian nghỉ việc do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp là 80% tiền lương Thời gian trả tiền bồi thường sẽ chấm dứt, khi khả năng lao động của NLĐ hồi phục, nhưng không quá 78 tuần, hoặc chuyển sang nhận các chế độ xã hội khác vì lý do tai nạn lao động, ví dụ hưu trí do thương tật tại (Verletztengeld) NSDLĐ không có trách nhiệm bồi thường trực tiếp cho NLĐ trong trường hợp bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà do Quỹ bảo hiểm chi trả Điều này cho thấy trong vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tính mạng, thì pháp luật Cộng hòa Liên bang Đức xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường là Quỹ bảo hiểm, NSDLĐ chỉ có trách nhiệm đóng chi phí bảo hiểm cho NLĐ theo các quy định của pháp luật
1.2.2.2 Bồi thường thiệt hại về tài sản
Đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tài sản trong lao động, hiện nay đa số các nước có nền kinh tế thị trường phát triển lại không có quy định riêng Lý do cơ bản để pháp luật của một số nước không có quy định riêng về trách nhiệm này trong luật lao động, bởi họ cho rằng trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong luật lao động cũng chính là bồi thường thiệt hại trong dân sự NLĐ nếu đã gây thiệt hại về tài sản cho NSDLĐ, dù đó là hành vi vi phạm kỷ luật lao động hay không vi phạm kỷ luật lao động thì cũng đều có trách nhiệm phải bồi thường và vấn đề bồi thường đã được quy định trong luật dân sự Bởi vậy, không cần thiết phải có các quy định riêng về trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tài sản trong luật lao động Tuy nhiên, vấn đề bồi thường thiệt hại
về tài sản được quy định khá rõ trong luật lao động Nga, Cộng hòa Séc và Thụy Điển
Trong Luật lao động của Cộng hòa Séc đã dành 15 Điều từ Điều 250 đến Điều 264 để quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại tài sản trong quan
hệlao động Điều 250 Luật lao động Cộng hòa Séc quy định: “NLĐ có trách
Trang 32nhiệm bồi thường thiệt hại cho NSDLĐ do vi phạm trong công việc hoặc có liên quan trực tiếp đến công việc của mình Trường hợp thiệt hại có một phần trách nhiệm của NSDLĐ thì NLĐ được giảm mức bồi thường” Như vậy Luật
lao động Cộng hòa Séc đã xác định NLĐ có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho NLĐ nếu có thiệt hại phát sinh và thiệt hại đó do lỗi của NLĐ hoặc có liên quan trực tiếp đến NSDLĐ8
Luật hợp tác lao động Thụy Điển sửa đổi năm 2000 quy định NSDLĐ, NLĐ hay tổ chức vi phạm Luật này hay thỏa ước lao động tập thể phải bồi thường thiệt hại cho những mất mát do mình gây ra, trừ khi luật có quy định khác
Tuy nhiên, trong quá trình đánh giá mức độ thiệt hại của chủ thể, cần cân nhắc đến sự tuân thủ các quy định của pháp luật hoặc các quy định của thoả ước lao động tập thể của chủ thể đó và các yếu tố khác ngoài những yếu tố thuần túy quan trọng về mặt kinh tế Như vậy, Luật hợp tác lao động Thụy Điển thể hiện sự công bằng trong việc xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường về tài sản Dù là NLĐ hay chủ sử dụng lao động thì khi có hành vi vi phạm vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường Hơn thế nữa, pháp luật lao động Thụy Điển còn xác định mức độ thiệt hại trên cơ sở ý thức chấp hành pháp luật của chủ thể, chứ không chỉ trên cơ sở kinh tế
1.2.2.3 Bồi thường thiệt hại về đơn phương chấm dứt hợp đồng trái
pháp luật
Về vấn đề bồi thường thiệt hại trong trường hợp NSDLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ do dư thừa lao động thì thực chất, ở Đức không có quy định một mức bồi thường cụ thể trong trường hợp này Tuy vậy, trong một vài năm gần đây, Đạo luật bảo vệ việc làm đã quy định rằng NLĐ có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu thông báo chấm dứt hợp đồng ghi nhận rằng việc NLĐ chấm dứt hợp đồng sớm hơn thông lệ vì lý do hoạt động của doanh nghiệp Thông thường, mức bồi thường khi NSDLĐ cho NLĐ thôi việc do dư
8 Luật lao động Cộng hòa Séc (2006), Labour Code No.262/2006
Trang 33thừa lao động sẽ từ nửa tháng đến một tháng tiền lương cho mỗi năm làm việc Tuy nhiên, đây không phải là quy định của pháp luật và hai bên trong quan hệ lao động có thể tự do thương lượng về mức bồi thường9 Đối với trường hợp NSDLĐ đơn phương chấm dứt trái pháp luật thì NSDLĐ phải nhận NLĐ quay trở lại làm việc trong doanh nghiệp và tất nhiên phải bồi thường cho NLĐ khoản tiền lương từ thời điểm chấm dứt trái pháp luật cho đến khi Tòa lao động ra phán quyết về việc chấm dứt trái pháp luật
đó10
Xuất phát từ những rủi ro cao và khó khăn trong việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ, thông thường NSDLĐ sẽ cố gắng đưa ra một thỏa thuận chấm dứt HĐLĐ với NLĐ, đồng thời cũng thỏa thuận một khoản bồi thường cho NLĐ Nếu việc đơn phương chấm dứt của NSDLĐ không đúng pháp luật, và NLĐ kiện NSDLĐ ra Tòa lao động, và NSDLĐ thua kiện, nhưng không muốn nhận NLĐ lại vào doanh nghiệp, thì NSDLĐ còn phải bồi thường thêm một khoản tiền cho NLĐ11
1.2.2.4 Bồi thường thiệt hại trong các trường hợp khác
Ngoại trừ những vấn đề bồi thường thiệt hại về sức khỏe tính mạng, bồi thường thiệt hại về tài sản và bồi thường thiệt hại đó đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật, tùy thuộc từng quốc gia, pháp luật lao động còn có thể quy định thêm một số trường hợp bồi thường khác tùy vào mối quan tâm của chính phủ và thực trạng đất nước Các trường hợp này có thể gồm: bồi thường thiệt hại về lương, bồi thường thiệt hại trong hợp đồng học nghề, bồi thường thiệt hại do làm thất thoát thông tin bảo mật, bồi thường thiệt hại về tinh thần, và một số loại bồi thường khác
Trang 34Kết luận Chương 1
Quan hệ pháp luật lao động là một trong những loại quan hệ pháp luật
cơ bản và quan trọng nhất, sự bền vững của quan hệ pháp luật lao động là nền tảng cho nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay Thực tế cho thấy, các chủ thể khi tham gia vào quan hệ lao động có thể gặp phải những thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe,… từ đó làm phát sinh quan hệ bồi thường thiệt hại trong pháp luật lao động Đây là chế định nhằm bù đắp những tổn thất về vật chất, sức khỏe, tinh thần cho bên bị thiệt hại trong quan hệ lao động Chế định
về bồi thường thiệt hại trong pháp luật lao động không chỉ góp phần tích cực trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của chủ thể bị thiệt hại và chủ thể gây thiệt hại mà còn góp phần giáo dục và nâng cao ý thức pháp luật của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật lao động Ở nhiều quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển, vấn đề bồi thường thiệt hại
về tài sản trong quan hệ lao động không được quy định riêng, mà được dẫn chiếu đến luật dân sự; vấn đề bồi thường thiệt hại về tính mạng sức khoẻ cũng
sẽ do luật an sinh xã hội điều chỉnh một phần
Trang 35CHƯƠNG 2
SO SÁNH PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG HIỆN HÀNH VỀ BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI CỦA VIỆT NAM VÀ LIÊN BANG NGA
Cộng hòa Liên bang Nga và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có hệ thống luật lao động về bồi thường thiệt hại với khá nhiều điểm tương đồng Nhưng do đặc thù về lịch sử, địa lí cũng như chính trị khác nhau, nên chế định
về bồi thường thiệt hại trong luật lao động của hai nước cũng tồn tại nhiều điểm khác biệt Trên cơ sở phân tích những điểm khác biệt giữa pháp luật hai nước, pháp luật lao động Việt Nam có thể học tập những ưu điểm và tránh những thiếu sót của pháp luật lao động cộng hòa Liên bang Nga để nâng cao hiệu quả của chế định bồi thường thiệt hại trong pháp luật lao động
2.1 Bồi thường thiệt hại về tài sản
2.1.1 Bồi thường thiệt hại về tài sản trong pháp luật lao động Việt Nam
Trường hợp NLĐ bồi thường thiệt hại về tài sản cho NSDLĐ được pháp luật lao động quy định thành một chế độ pháp lý gọi là chế độ trách nhiệm vật chất Hiểu một cách chung nhất thì trách nhiệm vật chất của NLĐ trong quan
hệ lao động là trách nhiệm bồi thường những thiệt hại về tài sản do hành vi vi phạm kỷ luật lao động hoặc thiếu tinh thần trách nhiệm trong sản xuất, công tác gây ra Trách nhiệm vật chất có 4 đặc điểm cơ bản: i) Chỉ áp dụng đối với một bên của quan hệ lao động là NLĐ; ii) Phát sinh khi NLĐ thực hiện quyền, nghĩa vụ lao động trong quan hệ lao động; iii) Do NSDLĐ áp dụng với NLĐ; iv) Tài sản thiệt hại đang thuộc quyền quản lý, sử dụng, bảo quản, lưu giữ hoặc chế biến của NLĐ12 Việc quy định trách nhiệm vật chất trong pháp luật lao động nhằm đảm bảo quyền sử dụng hợp pháp đối với vốn và tài sản trong doanh nghiệp, bảo đảm sự đền bù toàn bộ hoặc một phần thiệt hại về vật chất cho NSDLĐ Từ đó góp phần đảm bảo và tăng cường kỷ luật lao động trong doanh nghiệp, nâng cao ý thức chấp hành kỷ luật lao động của NLĐ
12
Nguyễn Hữu Chí (chủ biên), Đỗ Gia Thắng (2006), Chế độ bồi thường trong luật lao động Việt Nam, Nxb Tư pháp.
Trang 36Bồi thường thiệt hại về tài sản trong pháp luật lao động Việt Nam được quy định trong BLLĐ năm 2012 và Nghị định 05/2015 NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số nội dung của BLLĐ Điều 130 BLLĐ năm 2012 của Việt Nam
quy định “…NLĐ làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của NSDLĐ thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật”
Như vậy pháp luật lao động Việt Nam xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tài sản trong lao động thuộc về NLĐ NLĐ là người trực tiếp sử dụng những công cụng lao động, tư liệu lao động, tài sản, vật tư được NSDLĐ giao cho để sản xuất, lao động Do đó, trong quá trình thực hiện các quyền và nghĩa vụ lao động không thể tránh khỏi việc NLĐ gây thiệt hại về tài sản cho NSDLĐ Việc quy định NLĐ chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với tài sản của NSDLĐ là cơ sở để bảo vệ quyền tài sản của NSDLĐ Theo Điều 130 BLLĐ 2012 và Điều 32 Nghị Định 05/2015 NĐ-CP, có 5 căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất của NLĐ (i) khi NLĐ do sơ suất làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị với giá trị thiệt hại thực tế không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng áp dụng tại nơi NLĐ làm việc do Chính phủ công bố; (ii) khi NLĐ do sơ suất làm hư hỏng dụng cụ thiết bị với giá trị thiệt hại thực tế từ 10 tháng lương tối thiểu vùng trở lên áp dụng tại nơi NLĐ làm việc do Chính phủ công bố; (iii) khi NLĐ làm mất dụng cụ, thiết bị, tài sản của NSDLĐ hoặc tài sản khác do NSDLĐ giao; (iv) khi NLĐ tiêu hao vật tư quá định mức cho phép của NSDLĐ
Dựa vào những căn cứ trên, pháp luật lao động đưa ra mức bồi thường khác nhau phù hợp với từng trường hợp
Theo Điều 130 BLLĐ 2012, mức bồi thường thiệt hại về tài sản đối với NLĐ nhiều nhất là 03 tháng lương trong trường hợp NLĐ do sơ suất làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị với giá trị thiệt hại thực tế không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng áp dụng tại nơi NLĐ làm việc do Chính phủ công bố Vấn đề
Trang 37này cũng được hướng dẫn tại Khoản 1 Điều 32, Nghị định 05/2015/NĐ-CP
hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của BLLĐ 2012 như sau:
NLĐ phải bồi thường nhiều nhất là 03 tháng tiền lương ghi trong HĐLĐ của tháng trước liền kề trước khi gây thiệt hại bằng hình thức khấu trừ hằng tháng vào lương theo quy định tại Khoản 3 Điều 101 của BLLĐ do sơ suất làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị với giá trị thiệt hại thực tế không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng áp dụng tại nơi NLĐ làm việc do Chính phủ công bố
Trên cơ sở bảo vệ NLĐ, đối với thiệt hại do sơ suất và không nghiêm trọng, được xác định không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng, pháp luật lao động quy định NLĐ chỉ phải bồi thường tối đa là 3 tháng tiền lương của mình
và được trừ vào thu nhập hàng tháng Mức khấu trừ tiền lương hằng tháng được quy định cụ thể tại Khoản 3 Điều 101 BLLĐ là không được quá 30% tiền lương hằng tháng của NLĐ sau khi trích nộp các khoản bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, thuế thu nhập Việc quy định mức bồi thường như vậy nhằm đảm bảo được mức sống cho NLĐ, thể hiện sự chia sẻ của NSDLĐ đối với NLĐ, đồng thời cũng thể hiện quan điểm nhân văn, nhân đạo của Nhà nước
Một điểm bất hợp lí trên thực tế áp dụng điều luật này là quy định về
việc gây thiệt hại “do sơ suất” Hiện nay, việc xác định lỗi sơ suất chủ yếu do
NSDLĐ quyết định Do đó trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại, ở nhiều nơi NSDLĐ luôn tìm mọi cách chứng minh NLĐ gây thiệt hại không phải do sơ suất để nâng mức bồi thường Trên thực tế nhiều trường hợp NLĐ gây thiệt hại không nghiêm trọng do vô ý nhưng NSDLĐ vẫn áp dụng trách nhiệm bồi thường theo luật dân sự để giải quyết vụ việc cho nhanh chóng và có lợi cho họ Thực tế hiện tượng trên thường diễn ra ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, những doanh nghiệp này không ban hành nội quy lao động nên việc áp dụng trách nhiệm vật chất diễn ra tùy tiện, trái quy định của pháp luật Hầu hết các doanh nghiệp này đều không muốn áp dụng trách
Trang 38nhiệm, mức và cách bồi thường như Luật lao động quy định vì nếu áp dụng sẽ ảnh hưởng lớn đến quá trình sản xuất kinh doanh và giảm lợi nhuận của doanh nghiệp Do đó, khi NLĐ gây thiệt hại về tài sản cho doanh nghiệp thường bị doanh nghiệp buộc bồi thường toàn bộ và thực hiện bồi thường một lần mà không quan tâm đến tính chất của thiệt hại, mức độ lỗi cũng như hoàn cảnh gia đình NLĐ
Pháp luật lao động quy định NLĐ phải bồi thường một phần hoặc toàn
bộ thiệt hại theo thời giá thị trường trong trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 32 Nghị định 05/2015 NĐ-CP Các trường hợp kể trên bao gồm: khi NLĐ do sơ suất làm hư hỏng dụng cụ thiết bị với giá trị thiệt hại thực tế từ 10 tháng lương tối thiểu vùng trở lên áp dụng tại nơi NLĐ làm việc do Chính phủ công bố; khi NLĐ làm mất dụng cụ, thiết bị, tài sản của NSDLĐ hoặc tài sản khác do NSDLĐ giao hoặc trường hợp NLĐ tiêu hao vật tư quá định mức cho phép của NSDLĐ Quy định như vậy để tránh trường hợp NSDLĐ đưa ra mức bồi thường không hợp lý gây khó khăn cho NLĐ Đồng thời thông qua
quy định về bồi thường “một phần hoặc toàn bộ” cho thấy quan điểm của
pháp luật trong việc khuyến khích các bên tự thỏa thuận về mức bồi thường sao cho hợp lý và đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi bên Đồng thời, để đảm bảo quyền tự định đoạt của các bên, pháp luật cũng quy định trường hợp bồi thường theo hợp đồng trách nhiệm tại Nghị định 05/2015 NĐ-CP và BLLĐ 2012 Theo đó, khi NLĐ làm mất dụng cụ, thiết bị, tài sản của NSDLĐ hoặc tiêu hao vật tư quá định mức cho phép, việc bồi thường thiệt hại nếu phát sinh sẽ dựa trên điều khoản trong hợp đồng trách nhiệm mà hai bên đã ký kết Quy định định bồi thường thiệt hại dựa trên cơ sở thỏa thuận về hợp đồng trách nhiệm giữa các bên hoặc theo nội quy lao động giúp cho NSDLĐ xử lý việc bồi thường một cách linh hoạt, phù hợp với điều kiện thực tế của doanh nghiệp Điều này góp phần đảm bảo quan hệ sản xuất và nâng cao tinh thần trách nhiệm của NLĐ Đây là sự bảo hộ của nhà nước nhằm không để ảnh hưởng đến quyền tự do kinh doanh của NSDLĐ, đồng
Trang 39thời nâng cao tinh thần trách nhiệm của NLĐ đối với tài sản được giao giữ, bảo quản, tránh lạm dụng để trộm cắp, tham ô tài sản mà trong nhiều trường hợp NSDLĐ không kiểm soát được13
BLLĐ 2012 cũng quy định nguyên tắc, việc xác định mức bồi thường, cách thức bồi thường tại Khoản 1 Điều 131 phải dựa trên 3 yếu tố là: yếu tố lỗi của NLĐ, mức độ thiệt hại thực tế và hoàn cảnh thực tế gia đình, nhân thân và tài sản của NLĐ Như vậy, khi đã xác định được thiệt hại về tài sản thực tế xảy ra cho NSDLĐ, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi của NLĐ với thiệt hại đó, xác định được chính xác người gây thiệt hại, thì việc yêu cầu bồi thường thiệt hại cũng phải được cân nhắc kỹ càng các yếu tố:
Một là, mức độ lỗi của NLĐ là có lỗi hay không có lỗi NLĐ sẽ được coi là không có lỗi trong trường hợp “do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, dịch bệnh, thảm họa, sự kiện khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép thì không phải bồi thường” 14 Như vậy, trong trường hợp nói trên, trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tài sản của NLĐ không phát sinh Quy định này hợp lý bởi những trường hợp này có thể coi là trường hợp bất khả kháng, NLĐ đã cố gắng nhưng không thể ngăn chặn, khắc phục nên họ không có lỗi khi xảy ra thiệt hại, và vì thế không có căn cứ để buộc họ phải bồi thường Trong trường hợp NLĐ có lỗi, tùy thuộc vào lỗi vô ý hay cố ý, NLĐ sẽ phải chịu trách nhiệm vật chất theo quy định tương ứng của pháp luật lao động Với thiệt thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất, NLĐ phải bồi thường tối đa
3 tháng tiền lương và được khấu trừ vào lương tháng Trường hợp NLĐ gây thiệt hại thực tế từ 10 tháng lương tối thiểu vùng trở lên; NLĐ làm mất dụng
cụ, thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động hoặc tài sản khác do người sử dụng lao động giao hoặc NLĐ tiêu hao vật tư quá định mức cho phép của người sử dụng lao động thì phải bồi thường một phần hoặc toàn bộ thiệt hại
13 Trường đại học luật Hà Nội (2013), Giáo trình luật lao động, trang 325, Nxb CAND
14 Khoản 2 Điều 130, BLLĐ 2012
Trang 40thực tế Trường hợp NLĐ và NSDLĐ có kí kết hợp đồng trách nhiệm thì việc bồi thường thiệt hại sẽ tuân thủ những thỏa thuận trong hợp đồng trách nhiệm
Hai là, mức bồi thượng thiệt hại trên thực tế: mức bồi thường mà NLĐ
phải trả cho NSDLĐ không vượt quá thiệt hại thực tế mà NSDLĐ phải gánh chịu Khi có thiệt hại xảy ra thì NLĐ chỉ phải bồi thường những thiệt hại do hành vi vi phạm của NLĐ trực tiếp gây ra, những chi phí thực tế và hợp lý để khắc phục hậu quả về sự giảm sút, mất mát của tài sản bị thiệt hại Ví dụ, người công nhân đứng máy do vi phạm quy trình vận hành đã gây ra hỏng hóc làm ngừng công việc của cả dây chuyền, công nhân trong dây chuyền đó phải nghỉ việc và doanh nghiệp vì thế mà không thực hiện được hợp đồng đã
ký nên đã bị bên đối tác phạt hợp đồng Trong trường hợp này, NLĐ chỉ phải bồi thường tiền sửa chữa máy đã làm hỏng Còn các khoản tiền khác như tiền lương cho công nhân trong thời gian nghỉ việc, tiền bị phạt hợp đồng, lợi nhuận đáng lẽ thu được do thực hiện hợp đồng do doanh nghiệp chịu bởi đó
là các khoản thiệt hại gián tiếp Tùy từng trường hợp mà NLĐ phải bồi thường toàn bộ hoặc một phần thiệt hại về tài sản
Ba là, ngoài các căn cứ trên, BLLĐ 2012 còn quy định NSDLĐ khi xử
lý bồi thường thiệt hại phải cân nhắc đến hoàn cảnh thực tế gia đình, nhân thân và tài sản của NLĐ để giúp cho việc bồi thường thiệt hại này được chính xác, hiệu quả Tuy nhiên, luật cũng nên bổ sung quy định NSDLĐ phải xem xét thêm các yếu tố khác như khả năng, kinh nghiệm làm việc, ý thức kỷ luật, thái độ của NLĐ trước, trong và sau khi vi phạm để đảm bảo việc bồi thường thiệt hại được đúng người, đúng lỗi, công bằng, hợp lý
Về trình tự, thủ tục xử lý bồi thường thiệt hại, pháp luật lao động ghi nhận trình tự, thủ tục, thời hiệu xử lý việc bồi thường thiệt hại được áp dụng theo quy định tại Điều 123 và Điều 124 BLLĐ và Điều 30 Nghị định 05/2015/NĐ-CP bao gồm các bước sau:
Bước 1 Thông báo