Ngoài thế mạnh về nuôi tôm quảng canh, trồng lúa và làm muối, Bạc Liêu còn có những vùng sản xuất tôm thâm canh với diện tích sản xuất cao nhất ĐBSCL, trong đó Huyện Đông Hải được mệnh d
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN ĐBSCL
- -
HỒ PHÚ VĨNH
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ MÔ HÌNH
NUÔI TÔM SÚ THÂM CANH Ở HUYỆN ĐÔNG HẢI, TỈNH BẠC LIÊU
TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP
CẦN THƠ, 2010
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN ĐBSCL
- -
HỒ PHÚ VĨNH
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ MÔ HÌNH
NUÔI TÔM SÚ THÂM CANH Ở HUYỆN ĐÔNG HẢI, TỈNH BẠC LIÊU
TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Mã ngành: 52 62 51 51
Cán bộ hướng dẫn ThS VÕ THANH DŨNG
CẦN THƠ, 2010
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ……….i
LỜI CAM ĐOAN……… ii
XÁC NHẬN VÀ NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN……… iii
NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ PHẢN BIỆN……… …iv
DANH MỤC BIỂU BẢNG……… v
DANH MỤC HÌNH……… vi
DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT………vii
TÓM TẮT……… viii
CHƯƠNG 1 1
MỞ ĐẦU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
CHƯƠNG 2 4
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 4
2.1 TỔNG QUAN VỀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 4
2.2 TỔNG QUAN VỀ TỈNH BẠC LIÊU 4
2.2.1 Điều kiện tự nhiên 4
2.2.1.1 vị trí địa lý 4
2.2.1.2 Diện tích tự nhiên 5
2.2.1.3 Tài nguyên thiên nhiên 5
2.2.2 Tiềm năng kinh tế Bạc Liêu 6
2.2.2.1 Nông nghiệp 6
2.2.2.1.1 Lúa 6
2.2.2.1.2 Rau đậu, trái cây 6
2.2.2.1.3 Lâm nghiệp 6
2.2.2.1.4 Chăn nuôi gia súc, gia cầm 7
2.2.2.1.5 Thủy sản 7
2.2.2.1.6 Muối 7
2.3 TỔNG QUAN VỀ HUYỆN ĐÔNG HẢI, TỈNH BẠC LIÊU 7
2.3.1 Vị trí địa lý 7
2.3.2 Kinh tế huyện Đông Hải .8
2.3.3 Văn hóa -xã hội huyện Đông Hải 8
2.3.3.1 Văn hóa 8
2.3.3.2 Xã hội 9
2.4 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HUYỆN ĐÔNG HẢI 10
2.4.1 Diện tích sản xuất và cơ cấu mùa vụ huyện Đông Hải 10
2.4.2 thị trường Tôm 11
2.5 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TÔM 12
2.5.1 Nghiên cứu trong cả nước 12
2.5.2 Nghiên cứu ở Đông Hải – Bạc Liêu 14
CHƯƠNG III 15
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
Trang 43.1 PHẠM VI GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU 15
3.2 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 15
3.3 GIẢ THIẾT NGHIÊN CỨU 15
3.4 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU 15
3.4.1 Số liệu thứ cấp 15
3.4.2 Số liệu sơ cấp 16
3.5.PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỐ LIỆU 16
3.5.1 Phương pháp phân tích hồi quy tương quan 16
3.5.2 Phương pháp phân tích 17
3.5.3 phương pháp thống kê mô tả 18
CHƯƠNG IV 19
KẾT QUẢ THẢO LUẬN 19
4.1 TỔNG QUAN VỀ NÔNG HỘ 19
4.1.1 Thông tin chủ hộ 19
4.1.1.1 Tuổi chủ hộ 19
4.1.1.2 Trình độ học vấn của chủ hộ 20
4.1.1.3 Kinh nghiệm sản xuất của chủ hộ 20
4.1.2 Thông tin nông hộ 21
4.1.2.1 Thành viên gia đình 21
4.1.2.2.Trình độ học vấn cùa thành viên nông hộ 22
4.1.2.3 Số thành viên tham gia sản xuất nông nghiệp 22
4.1.2.4 Tuổi và giới tính các thành viên nông hộ 22
4.1.2.5 Tình hình tín dụng của nông hộ 22
4.1.2.6 Thu nhập khác ngoài nông nghiệp 22
4.1.2.7 Phương tiện sản xuất và sinh hoạt của nông hộ 22
4.1.2.8 Nguồn thông tin khoa học kỹ thuật 22
4.2 THÔNG TIN SẢN XUẤT 22
4.2.1 Diện tích đất 26
4.2.2 lý do chọn mô hình 26
4.2.3 Tập huấn kỹ thuật canh tác 22
4.2.4 Thị trường tiêu thụ sản phẩm 28
4.3 HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG VÀ TẦN SUẤT THAY ĐỔI GIỐNG TÔM 29
4.3.1 Tổng quan hiện trang sử dụng giống tôm 29
4.3.2 Tần suất thay đổi giống tôm 29
4.3.2.1 Hiện trạng thay đổi giống tôm trong sản xuất 29
4.3.2.2 Ảnh hưởng của tần suất thay đổi giống lên hiệu quả kinh tế của nông hộ 30
4.3.3 phân tích các yếu tố Ảnh hưởng đến năng suất 32
4.4 ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG CỦA MÔ HÌNH SẢN XUẤT TÔM THÂM CANH 32
4.4.1 Các yếu tố bên trong 32
4.4.1.1 Điểm mạnh 32
4.4.1.2 Điểm yếu 33
4.4.2 Các yếu tố bên ngoài 33
4.4.2.1 Cơ hội 33
4.4.2.2 Thách thức 34
4.4.3 Đánh giá tiềm năng của mô hình sản xuất Tôm thâm canh 34
4.4.4 Các mong muốn và đề xuất của nông hộ 35
CHƯƠNG V 36
Trang 5KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 39
5.1 KẾT LUẬN 39
5.2 KIẾN NGHỊ 39
PHỤ LỤC CHƯƠNG 3………42
Trang 6Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là mảnh đất nằm ở cực Nam của tổ quốc,
có diện tích tự nhiên khoảng 3.973.429 ha, chiếm 12% diện tích của cả nước; dân số hiện có trên 17 triệu người bằng 21% tổng số dân của cả nước Trước đổi mới, toàn vùng được chia thành 9 tỉnh Bước vào thời kỳ đổi mới, lần lượt các tỉnh Minh Hải (nay là Bạc Liêu và Cà Mau), Cửu Long (nay là Vĩnh Long và Trà Vinh), Hậu Giang (nay là Sóc Trăng và Cần Thơ) được tách đôi, nâng lên thành 12 tỉnh và đến năm 2003, Cần Thơ được tách ra thành 2 đơn vị hành chính Hậu Giang và Thành Phố Cần Thơ Hiện nay toàn vùng có 13 đơn vị hành chính
Hình 1 Bản đồ Đồng Bằng Sông Cửu Long
Đồng bằng sông Cửu Long tiếp giáp với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, nhất là thành phố Hồ Chí Minh – một vùng quan trọng cung cấp 50% sản lượng công nghiệp của cả nước, là thị trường tiêu thụ nông sản hàng hoá lớn nhất của vùng Mặt khác ĐBSCL nằm giữa khu vực kinh tế năng động và phát triển ; liền kề và gần cạnh các quốc gia như: Thái Lan, Singapore, Malaysia, Philipines, Indonesia
Trang 7Với ưu thế trên, vùng có tiềm năng và nguồn lực phát triển, nhất là phát triển nông nghiệp Gần 20 năm đổi mới vừa qua, toàn vùng đã có nhiều thành tựu trong nhiều lĩnh vực Đây là một vùng chuyên trồng lúa nước, cây ăn trái nhiệt đới, nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản lớn nhất cả nước Hàng năm cung cấp 50% sản lượng lương thực và 95% kim ngạch xuất khẩu gạo, trên 60% giá trị xuất khẩu thuỷ sản của cả nước Trong những năm gần đây ĐBSCL góp phần rất lớn vào tỷ trọng sản xuất nông sản và xuất khẩu
Với những tiềm năng trên và sự đóng góp đáng kể và GDP của cả nước, nhưng ĐBSCL được đánh giá là nghèo và chậm phát triển Do đó, việc phát triển nhanh và vững chắc ĐBSCL sẽ góp phần đảm bảo tăng trưởng chung của cả nước với tốc độ cao Đây không phải là trách nhiệm chung của vùng mà còn là sự phối hợp có trách nhiệm chung của các tỉnh thành phố có liên quan và sự điều phối của Chính phủ
Thực hiện Nghị quyết 09/2000/NQ-CP của Chính phủ về một số chủ trương và chính sách về chuyển đổi cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, sản xuất nông lâm ngư nghiệp của vùng ĐBSCL có sự chuyển dịch cơ cấu rõ rệt theo hướng nhu cầu của thị trường, tăng nhanh năng suất, nâng cao chất lượng và hiệu quả Tuy nhiên trong thực tiễn cũng nãy sinh một số vấn đề cần thiết phải nghiên cứu để có những biện pháp hữu hiệu
Nhiều nghiên cứu về hệ thống canh tác đã được thực hiện trong những năm
1990 - 2000 (Viện Hệ thống canh tác, báo cáo tổng kết dự án năm 1995 và năm 2000) và gần đây với chủ trương chuyển dịch cơ cấu sản xuất năm nông nghiệp đã góp phần giúp nông dân giảm nghèo, tuy nhiên việc chuyển đổi còn nhiều rủi ro, bất cập
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông – lâm – thuỷ sản vùng ĐBSCL trong thập niên 1990 – 2000 diễn ra theo hướng tích cực là tăng tỷ trọng các ngành nông nghiêp (trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản) đồng thời từng bước công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn và tăng tỷ trọng ngành dịch vụ Tuy nhiên sự dịch chuyển này còn chậm
so với nhu cầu đặt ra, điều nàu phản ánh qua thị trường tiêu thụ sản phẩm của vùng chưa phát triển mạnh
Nhìn chung sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp vùng ĐBSCL đã diễn ra theo hướng phát triển Sự chuyển dịch đã bắt đầu theo hướng hành hoá nhất là đối với nhóm cây hoa màu và cây ăn trái Tuy nhiên, tốc độ chuyển dịch còn chậm do khó khăn của thị trường nông sản
Từ những lý do trên, việc phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
là vấn đề quan trọng và cấp thiết trong giai đoạn hiện nay
Bạc Liêu là tỉnh ở miền Tây Nam bộ thuộc Khu vực Đồng bằng Sông cửu Long nằm phía Đông Bắc của bán đảo Cà Mau, cách Thành phố Hồ Chí Minh 280 km, thành phố Cần Thơ 110 km (phía Bắc) và cách thành phố Cà Mau 67 km (phía Nam).Với mạng lưới giao thông đường thủy và đường bộ như: quốc lộ 1A, Bạc Liêu có điều kiện
Trang 8thuận lợi nối liền các mạch giao thông với các tỉnh ĐBSCL nên có điều kiện giao lưu
và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội
Hình 2 bản đồ tỉnh Bạc Liêu
- Phía Bắc giáp tỉnh Hậu Giang và Kiên Giang
- Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Sóc Trăng
- Tây và Tây Nam giáp tỉnh Cà Mau
- Đông và Đông Nam giáp biển Đông
Bạc Liêu có diện tích tự nhiên là 2.584,1 km2, các đơn vị hành chính bao gồm 6 huyện, 1 thành phố: Thành phố Bạc Liêu, các huyện Hòa Bình, Vĩnh Lợi, Hồng Dân, Giá Rai, Phước Long, Đông Hải
Là một trong những tỉnh có diện tích đất canh tác lớn trong vùng ĐBSCL, Bạc Liêu với tổng diện tích đất nông nghiệp là 222.893,19 ha, trong đó đất nuôi tôm quảng canh chiếm hơn 56,2% (Huỳnh Đào Nguyên, 2008) Ngoài thế mạnh về nuôi tôm quảng canh, trồng lúa và làm muối, Bạc Liêu còn có những vùng sản xuất tôm thâm canh với diện tích sản xuất cao nhất ĐBSCL, trong đó Huyện Đông Hải được mệnh danh là thủ phủ của nuôi tôm thâm canh, là vùng chuyên canh nuôi tôm của tỉnh Bạc Liêu và sản xuất tôm ở đây đã hơn 10 năm Đông Hải với diện tích tự nhiên khoảng 538,8 km2 (Phạm Thi Kim Phượng, 2009), là vùng đất giáp biển thích hợp cho nuôi trồng thủy sản Nuôi trồng thủy sản luôn được xem là thế mạnh phát triển của huyện trong những năm qua
Trang 9Vùng chuyên canh tôm của Đông Hải đang sản xuất hai năm ba vụ với tôm Sú
là chủ lực Với phương châm sản xuất nuôi trồng thủy sản là chủ lực, Đông Hải từng bước khoanh vùng, cùng với hệ thống kiểm soát hoàn chỉnh, góp phần rất lớn vào việc sản xuất và tăng sản lượng giống đặc sản chủ lực của địa phương nói riêng và của tỉnh nhà nói chung
Để sản phẩm tôm đáp ứng được nhu cầu của thị trường thì tôm phải sạch hóa chất, có chất lượng cao Do đó tôm hàng hóa cần phải được sản xuất bằng giống đã kiểm dịch Tuy nhiên, hiện nay người dân huyện Đông Hải sử dụng rất nhiều loại giống khác nhau, phần lớn là nông dân mua giống tại các trại giống trên địa bàn, do đó khó kiểm soát được chất lượng sản phẩm đầu ra và khó đáp ứng được nhu cầu của thị
trường, Vì vậy, đề tài “ phân tích hiệu quả kinh tế mô hình nuôi tôm sú thâm canh
ở huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.” được thực hiện nhằm mục đích phân tích hiện
trạng nuôi tôm thâm canh và chất lượng tôm ở địa phương, so sánh hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi Tôm Sú thâm canh, đề xuất giải pháp làm tăng chất lượng con tôm tốt hơn, hiệu quả kinh tế và giá trị xuất khẩu cao thông qua việc sử dụng hợp lý nguồn lực nông hộ
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Phân tích hiện trạng nuôi tôm thâm canh ở địa phương
Hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi tôm Sú thâm canh
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nông hộ
Đề xuất giải pháp làm tăng hiệu quả kinh tế và giá trị xuất khẩu cao thông qua việc sử dụng hợp lý nguồn lực nông hộ
Trang 10Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 TỔNG QUAN VỀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng đất giàu có và màu mỡ, "vựa lúa" của Việt Nam với hệ thống kênh rạch chằng chịt luôn là nét độc đáo của đất Phương Nam trù phú Hơn một nửa đồng bằng đang được canh tác, sản xuất đủ thóc gạo nuôi sống cho cả đất nước Trái cây cũng là một thế mạnh của khu vực ĐBSCL với nhiều loại đặc sản như nhãn, xoài, sầu riêng, măng cụt… ĐBSCL có vị trí như một bán đảo; phía Đông, Nam và Tây Nam giáp biển (có đường bờ biển dài 700 km), phía Tây giáp với Campuchia và phía Bắc giáp với vùng kinh tế Đông Nam Bộ, vùng kinh tế lớn nhất của Việt Nam hiện nay ĐBSCL nằm trên địa hình tương đối bằng phẳng Sông Mêkông chảy vào ĐBSCL chia thành hai nhánh: sông Tiền và sông Hậu Mạng lưới sông ngòi, kênh rạch ở đây phân bố rất dày thuận lợi cho giao thông thuỷ vào bậc nhất
so với các vùng ở nước ta ĐBSCL gồm 13 tỉnh thành với diện tích tự nhiên toàn vùng
là 3.973.429 ha (chiếm khoảng 12% diện tích cả nước ) ; trong đó có khoảng 65% diện tích đất được dùng để sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản Dân số khoảng 17 triệu người ( chiếm khoảng 20% dân số cả nước ); là vùng châu thổ phì nhiêu, khí hậu thuận lợi, hàng năm cung cấp trên 50% sản lượng lương thực, thuỷ sản, trái cây cho cả nước
Trong những năm gần đây kinh tế ĐBSCL có những bước khởi sắc đáng kể, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực các tỉnh ĐBSCL, Với một tiềm năng phong phú và đa dạng, ĐBSCL vẫn đang tiếp tục mời gọi đầu tư nước ngoài nhằm phát huy hết lợi thế của mình, tạo môi trường đầu tư ngày càng hấp dẫn để thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), khai thác hiệu quả tiềm năng phong phú này Tỉ trọng vốn đầu tư nước ngoài vào khu vực ĐBSCL tính chung từ năm 1988 đến hết tháng 7 năm 2005 đạt 1.838,8 triệu USD
- Phía Bắc giáp tỉnh Hậu Giang và Kiên Giang
- Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Sóc Trăng
- Tây và Tây Nam giáp tỉnh Cà Mau
- Đông và Đông Nam giáp biển Đông
Trang 112.2.1.2 Diện tích tự nhiên
Bạc Liêu có diện tích tự nhiên là 2.584,1 km2, các đơn vị hành chính bao gồm 6 huyện, 1 thành phố: thành phố Bạc Liêu, các huyện Hòa Bình, Vĩnh Lợi, Hồng Dân, Giá Rai, Đông Hải, Phước Long, với tổng cộng 61 xã, phường và thị trấn
Thành phố Bạc Liêu là đô thị loại III và cũng là trung tâm hành chính của tỉnh
2.2.1.3 Tài nguyên nhiên nhiên
Khí hậu thủy văn: Thuộc vùng đất nhiệt đới gió mùa, lượng mưa trung bình
hàng năm: 2.000 -2.300 mm Nhiệt độ trung bình 26oC, cao nhất 31,5oC, số giờ nắng nóng trong năm 2.500-2.600 giờ Độ ẩm trung bình: mùa khô 80%, mùa mưa 85% Ít chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão và áp thấp nhiệt đới; Không chịu ảnh hưởng trực tiếp lũ lụt của hệ thống sông Mê Kông nhưng lại chịu tác động mạnh của thủy triều biển Đông và một phần chế độ nhật triều biển Tây Thời tiết chia ra làm hai mùa rõ rệt : mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng
12 đến hết tháng 4 năm sau
Tài nguyên đất : Tổng diện tích đất tự nhiên (năm 2007) 258.534,67 ha, trong
đó:
Đất nông nghiệp: 222.893,19 ha chiếm 86,21% diện tích (Bao gồm diện
tích đất sản xuất nông nghiệp, đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp có rừng, đất nuôi trồng thủy sản và đất làm muối)
Đất Phi nông nghiệp: 22.434,77 ha, chiếm 8,68 % diện tích (Bao gồm
đất ở đô thị, đất ở nông thôn, Đất chuyên dùng và đất tôn giáo tín ngưỡng)
Đất chưa sử dụng: 3.952,20 ha, chiếm 1,53% diện tích
Đất có mặt nước ven biển: 9.254,51 ha chiếm 3,58 diện tích
Phần lớn đất đai ở Bạc Liêu là đất phù sa bồi đắp lâu năm và ổn định thích hợp cho việc phát triển nông nghiệp toàn diện
Tài nguyên nước: Nước mặt gồm hai nguồn nước sinh lợi là nước mưa và nước
ngọt từ sông Hậu Bốn tầng nước ngầm có trữ lượng lớn, chất lượng tốt Nước mặn và nước lợ thích hợp cho việc nuôi trồng, khai thác thủy sản và làm muối
Tài nguyên rừng: Diện tích rừng và đất rừng chiếm khoảng 2% diện tích tự
nhiên, trong đó chủ yếu là rừng phòng hộ (4.606,9 ha – số liệu năm 2007) Rừng Bạc Liêu là rừng ngập mặn, úng phèn có năng suất sinh học cao, có giá trị lớn
về phòng hộ và môi trường với chủ yếu là cây mắm, đước
Tài nguyên Biển : Tỉnh Bạc Liêu có bờ biển dài 56 km nằm song song với
tuyến đường Quốc Lộ IA chạy dọc suốt chiều dài của tỉnh, khoảng cách giữa
Trang 12quốc lộ và bờ biển không xa với các cửa biển quan trọng là Nhà Mát, Cái Cùng
và Gành Hào, ở đó đã có những cảng cá với nhiều hình thức dịch vụ phục vụ cho nghề khai thác đánh bắt thuỷ sản Diện tích vùng biển khoảng 40.000 km2 Đây là vùng biển có trữ lượng hải sản lớn, phong phú về chủng loại Trữ lượng
cá đáy và cá nổi lên đến trên 800 ngàn tấn, hàng năm có thể khai thác từ 240 đến
300 ngàn tấn Tôm biển có tới 33 loài khác nhau có thể đánh bắt trên 10.000 tấn mỗi năm Ngoài ra biển Bạc Liêu còn cho phép khai thác nhiều loại hải sản quý khác như mực, nghêu, sò huyết
2.2.2 Tiềm năng kinh tế Bạc Liêu
2.2.2.1 Về Nông nghiệp
2.2.2.1.1 Lúa
Trong những năm qua diện tích canh tác, gieo trồng và sản lượng lúa không ngừng được mở rộng và nâng cao; Diện tích gieo trồng lúa năm 2008 của tỉnh là 65.981 ha, năng suất 43,60 tạ/ha, sản lượng là 750.400 tấn, chế biến xuất khẩu gạo đạt 65.500 tấn Cơ cấu giống lúa mới ngắn ngày, năng suất, chất lượng cao, kháng sâu bệnh tốt và đạt tiêu chuẩn xuất khẩu chiếm hơn 60% diện tích gieo trồng lúa của tỉnh
2.2.2.1.2 Rau đậu, trái cây
Rau đậu thực phẩm được trồng tập trung ở vùng ngoại ô, vành đai vùng ven thành phố Bạc Liêu và tập trung ở một số xã, thị trấn thuộc các huyện vùng ngọt hóa Quản lộ Phụng Hiệp, năm 2008 diện tích trồng rau màu, thực phẩm của tỉnh là 13.384
ha, sản lượng đạt 90.619 tấn, sản phẩm hàng năm cung cấp chủ yếu cho thị trường tiêu thụ trong tỉnh, một số tỉnh lân cận và Tp.Hồ Chí Minh
Diện tích trồng cây công nghiệp dài ngày (dừa): 5.065 ha, sản lượng 17.979 tấn Diện tích trồng cây ăn quả các loại: 3.797 ha, Sản lượng trái cây các loại: 28.614 tấn (chủ yếu là các loại cây chuối, dứa, nhãn, xoài, cam, dưa hấu)
2.2.2.1.3 Lâm nghiệp
Diện tích rừng của tỉnh năm 2008 hiện có là 4.208 ha, rừng ở Bạc Liêu chủ yếu
là các loại cây được trồng ở bãi bồi ven biển có tác dụng giữ đất lấn biển như mắm, đước, sú vẹc, tràm…
2.2.2.1.4 Chăn nuôi gia súc, gia cầm
Trong chăn nuôi, nét nổi bật là thực hiện có kết quả chương trình nạc hóa đàn heo, đàn heo nuôi thịt có tỷ lệ nạc cao chiếm hơn 70% tổng đàn năm 2008, tổng đàn heo của tỉnh là 210.985 con, đàn trâu bò là 3.540 con, đàn dê là: 5.947 con và tổng đàn gia cầm là 1.605.000 con
Trong những năm gần đây tỉnh còn chú trọng phát triển và gây nuôi cá sấu với tổng đàn cá sấu năm 2008 là 42.000 con
Trang 132.2.2.1.5 Thủy sản :
Được khẳng định là ngành kinh tế quan trọng của tỉnh trong giai đoạn hiện nay cũng như những năm tiếp theo Bạc Liêu có tiềm năng rất lớn về kinh tế thủy sản Tổng sản lượng thủy sản của tỉnh năm 2008 là 204.100 tấn, diện tích nuôi trồng thuỷ sản năm 2008: 125.167 ha, Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng: 130.600 tấn Trong đó: tôm: 65.750 tấn, cá là 64.850 tấn Sản lượng thuỷ sản đánh bắt là: 73.500 tấn, trong đó: tôm: 13.500 tấn, Sản lượng cá: 60.000 tấn Số lượng tàu thuyền đánh bắt thủy sản là 802 phương tiện với tổng công suất là 99.512 CV
2.2.2.1.6 Muối :
Diện tích đất sản xuất muối năm 2008 là 2.100 ha, Sản lượng muối là 91.000 tấn Muối cũng là một thế mạnh của huyện đã và đang được đầu tư phát triền, những năm gần đây muối Bạc Liêu đã được xây dựng thương hiệu
2.3 Tổng quan huyện Đông Hải tỉnh Bạc Liêu
2.3.1 Vị trí địa lý huyện Đông Hải
Đông Hải là huyện phía Nam của tỉnh Bạc Liêu; Bắc giáp huyện Giá Rai; Tây giáp huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau, ranh giới là sông Gành Hào; Đông giáp huyện Hoà Bình; Nam giáp biển Diện tích: 538,8 km2 , Dân số:143.393 người ( theo điều tra dân
số 01-04-2009), Về hành chánh, huyện bao gồm thị trấn Gành Hào và 10 xã là: Long Điền, Long Điền A, Long Điền Đông, Long Điền Tây, Điền Hải, An Trạch, An Trạch
A, An Phúc, Định Thành, Định Thành A
Huyện có diện tích lớn nhất tỉnh Bạc Liêu, địa hình bằng phẳng thấp trũng ở phía Tây, đất phèn, nhiễm mặn Quốc lộ 1A chạy cắt ngang huyện Sông Gành Hào, kênh Cà Mau - Bạc Liêu là những tuyến giao thông thủy quan trọng của huyện Huyện
có 24 km bờ biển, 2 cửa sông lớn: cửa Cống Cái Cùng, cửa Gành Hào, có nhiều tiềm năng trong phát triển du lịch và kinh tế biển, đặc biệt là nghề làm muối và nuôi trồng thủy sản Tuy nhiên, hiện nay, Đông Hải vẫn là huyện nghèo, phát triển kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng
2.3.2 Kinh tế huyện Đông Hải
Đông Hải là huyện có chiều dài bờ biển lớn nhất tỉnh Bạc Liêu, kinh tế của huyện cũng chủ yếu dựa vào biển Người dân Đông Hải có truyền thống làm muối và nuôi trồng, khai thác thủy sản Năm 2009,toàn huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu có gần
400 phương tiện khai thác hải sản, trong đó phần lớn có khả năng khai thác xa bờ Tuy nhiên, các tàu này đang gặp khó khăn do những lần tăng giá nhiên liệu gần đây nhất
Trang 14Theo Thông tấn xã Việt Nam, tại thị trấn Gành Hào huyện Đông Hải đã có mấy chục tàu cá năm bờ ngay sau khi nhiên liệu tăng giá trong tháng 08 - 2009 (tăng 1.000 đ/lít)
Đông Hải là huyện sản xuất muối lớn nhất tỉnh Bạc Liêu Đầu năm 2009, huyện thí điểm mô hình sản xuất muối trên sân trải bạt với diện tích 5.000 m2, sản lượng 3.000 giạ, giá bán 68.000 - 70.000 VNĐ/gịa, cao hơn gần 10.000 VNĐ so với muối sản xuất trên sân đất Xã Long Điền Tây, huyện Đông Hải là nơi cung cấp muối nguyên liệu cho xuất khẩu của Bạc Liêu Năm 2009, toàn huyện Đông Hải có hơn 1.500 ha diện tích sản xuất muối Đầu năm 2009, nhiều cơn mua trái mùa đã gây thiệt hại nặng cho người làm muối ở đây Cơn mưa lớn sáng 28-02 đã làm thiệt hại trên 1.500 ha muối đang chuẩn bị thu hoạch của bà con diêm dân Nơi có diện tích bị thiệt hại nhiều nhất là xã Điền Hải Trước đó, hồi đầu tháng 2 cũng có 1 cơn mưa trái mùa gây thiệt hại cho nhiều diêm dân Tổng ước tính thiệt hại sau 2 cơn mưa trái mùa trong tháng 2-
2009 là khoảng 12 tỷ VNĐ
Hướng phát triển kinh tế của huyện trong những năm tới:
- Đẩy mạnh đầu tư khoa học công nghệ khai thác đánh bắt xa bờ
- Lập dự án khai thác tiềm năng bãi bồi ven Biển Đông: nuôi nghêu, sò huyết; phát triển các loài thực vật sống dưới tán rừng
- Mở rộng và qui mô sản xuất tôm giống đảm bảo đạt 1,5 tỷ con ( hiện nay chỉ đạt 350 triệu con)
- Mở rộng diện tích nuôi tôm công nghiệp mở rộng 500 ha tập trung
- Đẩy mạnh dự án kinh tế xã hội nông thôn vùng muối xã Long Điền Tây với tổng số vốn đầu tư trên 24 tỷ đồng
- Lập dự án thiết kế xây dựng khu du lịch sinh thái bãi biển tại Gành Hào, các vườn chim hiện có và xây dựng trung tâm thương mại của huyện
- Đổi mới dây chuyền công nghệ đưa vào sản xuất ở các ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
2.3.3 Văn hóa -xã hội huyện Đông Hải
2.3.3.1 Văn hóa
Đông Hải là huyện miền biển, hằng năm tại cửa biển Gành Hào, cư dân biển đều
tổ chức lễ hội Nghinh Ông Lễ hội năm 2009 được tổ chức vào ngày 04 và 05 hằng năm với nhiều hoạt động sôi nổi như: tổ chức cho hàng trăm tàu tuyền đánh bắt hải sản đồng loạt diễu hành ra biển; lễ thỉnh Ông Nam Hải; thả tôm giống ra biển; hội chợ thương mại thủy hải sản cùng nhiều hoạt động văn hoá văn nghệ, các trò chơi dân gian, giao lưu ẩm thực
Lễ hội năm 2009, ngoài giỗ tổ truyền thống của ngư dân còn là dịp để Bạc Liêu quảng bá hình ảnh, giới thiệu phong tục, tập quán của ngư dân miền biển đến người dân trong và ngoài nước, khách du lịch phương xa Ngoài các hoạt động truyền thống như ôn lại truyền thuyết "Cá Ông" và việc hình thành lễ hội, cúng bái các vị thần, lễ
Trang 15hội còn diễn ra các hoạt động mới, lạ như trưng bày sách, tranh, ảnh, hiện vật có liên quan đến nghề cá thu hút nhiều người tham quan
2.3.3.2 Xã hội
Đông Hải là huyện nghèo, mới thành lập, cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ Nhiều nơi trong huyện còn chưa có điện thắp sáng, chưa có đường bê tông, trường học - trạm xá đều tạm bợ Điển hình là 3 ấp: Lam Điền, Canh Điền và Thanh Hải thuộc xã Long Điền Tây Dù khoảng cách từ những ấp này đến trung tâm xã và trung tâm huyện Đông Hải không xa nhưng đời sống của người dân chẳng khác nào ở một “ốc đảo” Người dân trong các ấp này sống chủ yếu bằng nghề làm muối và nuôi trồng thủy sản, trong
đó có gần một nửa là hộ nghèo, số còn lại chỉ ở mức trung bình khá, hiếm có hộ giàu Đường giao thông toàn bộ đều là đường đất, không có cầu bê tông, việc đi lại chủ yếu
là đi bộ hoặc dùng thuyền Thiếu điện khiến cho việc sản xuất gặp nhiều khó khăn, nông dân không thể nuôi tôm sú công nghiệp mà chủ yếu dựa vào mô hình nuôi thiên nhiên Đời sống tinh thần của người dân quá đơn điệu, ti vi đối với nhiều hộ dân ở xóm này vẫn còn là hàng xa xỉ
Việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng ở những vùng này còn chậm, do chưa có kinh phí Năm 2009, chỉ duy nhất có dự án nhựa hoá tuyến đường Gành Hào - Hộ Phòng chạy dọc ấp Lam Điền với tổng vốn trên 100 tỷ đồng được Ủy ban Nhân dân huyện xin kinh phí của tỉnh xây dựng, các tuyến đường còn lại phải chờ vốn năm sau
và năm sau nữa Xã Long Điền Tây hiện còn tới 7 tuyến đông dân cư chưa có điện lưới quốc gia Riêng ấp Lam Điền đang được tỉnh đầu tư đường điện, ở các tuyến còn lại
Ủy ban Nhân dân huyện Đông Hải đã kiến nghị lên tỉnh nhiều lần nhưng tỉnh xem xét đầu tư rất chậm
Hiện nay, huyện Đông Hải và tỉnh Bạc Liêu đang tập trung nguồn lực đầu tư cho các dự án:
Dự án đầu tư xây dựng đường Giá Rai – Gành Hào - huyện Giá Rai và Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu
- Quy mô:
+ Tổng chiều dài tuyến: 29,76 km
+ Tiêu chuẩn kỹ thuật: cấp IV đồng bằng
+ Tải trọng thiết kế: đường Trục xe 10 tấn; cầu cống H30-XB80
+ Chiều rộng mặt đường: 7 m
Mục tiêu đầu tư: xây dựng tuyến đường nối QL1A với thị trấn Gành Hào – trung tâm huyện lỵ Đông Hải, đồng thời cũng là trung tâm kinh tế của tỉnh, tạo điều
Trang 16kiện phát huy tiềm năng kinh tế biển của khu vực Tạo thành trục chính để phát triển hệ thống giao thông nông thôn trong vùng
- Dự kiến tổng vốn đầu tư: 279 tỷ đồng VN
- Đơn vị quản lý dự án: Ban quản lý dự án công trình giao thông - Sở Giao thông vận tải Bạc Liêu Địa chỉ: Đường Trần Huỳnh, Khóm 2, P7, thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu Điện thoại: 0781.3953216 Fax 0781.3824061
Dự án Trung tâm thương mại huyện Đông Hải
- Quy mô: diện tích toàn khu vực dự án 3 ha
- Mục tiêu đầu tư: Trung tâm thương mại buôn bán tổng hợp
- Địa điểm: thị trấn Gành Hào, huyện Đông Hải
- Dự kiến tổng vốn đầu tư: 25 – 30 tỷ đồng VN
- Đơn vị quản lý dự án: UBND huyện Đông Hải Địa chỉ: khu vực III, thị trấn Gành Hào, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu Điện thoại: 0781.3844385 Fax 0781.384438
2.4 Tình hình sản xuất nông nghiệp huyện Đông Hải
2.4.1 Diện tích sản xuất và cơ cấu mùa vụ huyện Đông Hải
Theo Võ Lợi Dân được trích bởi Phạm Thị Kim Phượng (2009) nghề nuôi tôm ở đây đã hình thành từ nhiều năm nay và không ngừng phát triển Trước năm 1990-1992 thì người dân Đông Hải chỉ trồng lúa chứ không nuôi tôm, đến những năm 1993-1995 thì theo chủ trương của nhà nước, người dân nơi đây đã chuyển đổi từ trồng lúa sang nuôi tôm, từ năm 2002 – 2005 mô hình nuôi tôm thâm canh mới được phát triển mạnh
Con tôm đã trở thành vật nuôi truyền thống của người dân huyện Đông Hải Diện tích nuôi tôm của huyện không chỉ dẫn đầu tỉnh Bạc Liêu mà còn là diện tích khá lớn so với diện tích nuôi tôm của các tỉnh khác trong khu vực ĐBSCL, một phần là do Đông Hải có lợi thế về điều kiện tự nhiên mặt khác là do huyện nằm giáp biển nên rất thuận lợi cho việc nuôi tôm này Hơn nữa Đông Hải có nhiều kênh gạch có thể hạn chế những thiệt hại như ô nhiễm nguồn nước,xử lý nguồn nước dễ dàng hơn, bên cạnh đó cũng phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn, tăng vụ nuôi nhằm tăng thêm thu nhập cho người dân
Hiện nay, nông dân huyện Đông Hải đang nuôi tôm theo hình thức hai năm ba
vụ nạo vét kênh gạch một lần Do nuôi tôm thâm canh đạt hiệu quả và cho năng suất cao và giá bán tương đối ổn định, chi phí sản xuất cũng tương đương nuôi tôm quảng canh cải tiến cho nên diện tích nuôi tôm thâm canh không ngừng tăng lên cả về diện tích và năng suất
Trang 172.4.2 Thị trường tôm
Hiện nay, Giá bán buôn tôm sú tại ĐBSCL vẫn trong xu hướng tăng nhẹ Tại Bạc Liêu, giá bán buôn tôm sú loại 30 con/kg tăng 4.000 đồng/kg, lên mức 107.000 đồng/kg; tại Cà Mau tăng 7.000 đồng/kg, lên mức 110.000 đồng/kg Theo Bản tin tuần Thủy hải sản của AGORINFO, dự đoán trong gian tới, giá tôm sú tại một số tỉnh ĐBSCL như Sóc Trăng, Bến Tre… được vẫn theo chiều hướng tăng khi các nhà máy chế biến sẽ tiếp tục đẩy mạnh thu mua nguyên liệu một mặt để phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu trước mắt, mặt khác nhằm tích trữ hàng chuẩn bị cho kỳ nghỉ đông sắp tới
Một tín hiệu đáng mừng cho thủy hải sản xuất khẩu Việt Nam là vào ngày 1/10 tới đây, hiệp định Đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA) sẽ có hiệu lực Theo
đó nhiều mặt hàng thuỷ sản Việt Nam sẽ được miễn và giảm thuế khi vào thị trường Nhật Bản Cụ thể, 62 mặt hàng thuỷ sản VN sẽ được loại bỏ thuế (mức thuế nhập khẩu
là 0%) trong đó mặt hàng tôm sẽ được hưởng ngay thuế suất 0% Đây là mức mở cửa thị trường cao nhất mà Nhật Bản cam kết với 1 nước ASEAN Với thực tế Nhật Bản là thị trường nhập khẩu lớn của thuỷ sản Việt Nam và cũng là thị trường chịu ảnh hưởng nặng nề từ suy giảm kinh tế, việc hiệp định Đối tác kinh tế VJEPA có hiệu lực sẽ trở thành cơ hội lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam mở rộng và dần chiếm lĩnh thị trường này
2.5 Tình hình nghiên cứu tôm
2.5.1 Nghiên cứu trong cả nước
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm nay, sản lượng tôm nuôi nước lợ có thể đạt tới 500.000 tấn, tăng 22,5% so với năm 2009 Tuy đạt nhiều kết quả khả quan nhưng hiện nay, người dân đang lo lắng vì bệnh dịch ở tôm đang diễn biến phức tạp
Các cơ sở chế biến tôm xuất khẩu cũng lâm vào tình trạng khó khăn, chỉ hoạt động khoảng 50-60% công suất do số lượng các nhà máy chế biến tôm gia tăng nhanh chóng cộng với nhiều nhà máy mở rộng dây chuyền sản xuất dẫn tới sản lượng tôm nguyên liệu không đủ cho chế biến, xuất khẩu.
Trang 18Hình 3 Thứ trưởng Bộ NN&PTNT - Nguyễn Việt Thắng thăm mô hình nuôi tôm thâm canh tại HTX Nuôi trồng thủy sản Thống Nhất, xã An Trạch, huyện Đông Hải
Dịch bệnh tràn lan
Ngay từ những tháng đầu năm 2010, nhiệt độ cao và biên độ nhiệt độ giữa ngày
và đêm lớn, mặn xâm nhập… đã làm thiệt hại rất nhiều diện tích nuôi tôm sú ở vùng ĐBSCL Ngoài ra, điều kiện cơ sở hạ tầng vùng nuôi tôm chưa hoàn chỉnh, chưa có kênh cấp và kênh xả riêng biệt, hệ thống thủy lợi hiện đang sử dụng trong tiêu thoát nước nuôi tôm là hệ thống thủy lợi phục vụ cho canh tác nông nghiệp đã bị bồi lắng, ý thức người dân trong việc phòng chống dịch bệnh, dập dịch, ý thức nuôi tôm cộng đồng chưa cao, đây cũng là những nguyên nhân làm cho diện tích tôm bệnh tăng
Theo báo cáo của ngành nông nghiệp Bạc Liêu, đến đầu tháng 9/2010, người dân đã thả gần 116.000 ha tôm, trong đó nuôi theo mô hình công nghiệp và bán công nghiệp hơn 7.600 ha, diện tích còn lại nuôi theo mô hình quảng canh, quảng canh cải tiến kết hợp với nhiều loại thủy sản khác Nhưng do nhiễm vi rút vi bào tử xâm nhập, cộng thêm thời tiết bất lợi nên số diện tích bị thiệt hại khá lớn, đã có gần 20.000 ha tôm nuôi bị chết, gây thiệt hại kinh tế hàng tỷ đồng
Tại tỉnh Kiên Giang, đã có trên 10.000 ha tôm nuôi trên nền đất lúa ở các huyện thuộc vùng U Minh Thượng bị thiệt hại, do xâm nhập mặn lấn sâu vào nội đồng Nhiều nông dân phải thu hoạch sớm để bù vào chi phí bỏ ra đầu vụ Tính đến thời điểm này, toàn tỉnh Kiên Giang đã thả giống 81.163 ha tôm sú, tập trung phần lớn ở 4 huyện vùng
U Minh Thượng Theo phản ánh từ các hộ dân nuôi tôm, giá tôm đang ở mức cao, tình hình dịch bệnh cũng khó đoán, nên khi ao tôm có vấn đề, nhiều hộ nuôi tiến hành thu hoạch ngay
Từ đầu tháng 7/2010 đến nay, tình trạng tôm chết đột ngột ở Sóc Trăng diễn ra nhanh, diện tích thiệt hại cũng tăng một cách nhanh chóng Không chỉ là mô hình nuôi quảng canh cải tiến, lần này đến lượt các diện tích nuôi công nghiệp và bán công
Trang 19nghiệp với kỹ thuật nuôi tiên tiến cũng bị thiệt hại nặng Theo Hiệp hội Tôm Mỹ Thanh, diện tích thiệt hại chủ yếu ở các ao tôm 80 ngày tuổi trở lại, còn tôm trên 3 tháng tuổi vẫn đang phát triển bình thường Lúc đầu chỉ có một vài ao thiệt hại, nhưng sau đó tốc độ thiệt hại tăng dần lên Đến nay đã trên 5.000 ha, tập trung chủ yếu tại huyện Vĩnh Châu, Trần Đề Các kết quả xét nghiệm mẫu đều chưa xác định được tác nhân gây bệnh
Tại Tiền Giang, vào những tháng đầu năm (tháng 2-3), tình hình dịch bệnh cũng xảy ra đồng loạt tại một số khu vực, nhất là những hộ nuôi tôm trước lịch khuyến cáo của tỉnh Tuy nhiên, những tháng tiếp theo tình hình nuôi tôm trên địa bàn tỉnh tương đối ổn định Đến nay, diện tích tôm bệnh trên địa bàn tỉnh là 172,6ha Người nuôi tôm đang bước vào giai đoạn thu hoạch cuối vụ chính đối với tôm sú và thu hoạch vụ 3 đối với tôm thẻ
Không đủ tôm nguyên liệu chế biến Xuất Khẩu
Theo nhận định của một số doanh nghiệp thu mua và chế biến thủy sản, giá tôm xuất khẩu trong quí IV sẽ tiếp tục ở mức cao Vì hiện nay, các tỉnh ĐBSCL đang bước thời điểm cuối vụ thu hoạch chính vụ tôm công nghiệp nhưng nhu cầu xuất khẩu vào các thị trường trên thế giới vẫn tăng cao Đặc biệt, nguồn tôm cỡ lớn để xuất khẩu đi
Mỹ không đủ để chế biến mặc dù đơn hàng cho loại này kể từ sau sự cố tràn dầu ở vịnh Mehico, Mỹ tăng rõ rệt Các nhà máy chế biến tôm xuất khẩu ở ĐBSCL chỉ hoạt động khoảng từ 50 đến 60% công suất
Vì thiếu tôm sú cỡ lớn, trong khi đây là mặt hàng tiêu thụ chính ở Mỹ, nên các doanh nghiệp phải cạnh tranh bằng cách đẩy giá thu mua lên cao mới có tạm đủ nguồn cung để giữ chân khách hàng trong khi chờ các đợt thu hoạch tôm quảng canh tới Thực tế này đã làm cho việc kinh doanh thiếu hiệu quả
Tình hình thiếu nguyên liệu có phần do việc tôm nuôi ở Sóc Trăng hồi đầu tháng 7/2010 đã bị chết hàng loạt, trong khi đây là tỉnh cung cấp lượng tôm nguyên liệu chính cho các nhà máy chế biến tôm xuất khẩu ở Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cần Thơ
Hiện nay, giá tôm thương phẩm ở ĐBSCL vẫn đang đứng ở mức khá cao, loại
20 con/kg giá 180.000 đồng/kg, 30 con/kg 140.000 đồng/kg Đối với tôm xuất khẩu, giá xuất khẩu trung bình tôm Việt Nam sang hầu hết các thị trường đều tăng từ 5 - 10%
so với cùng kỳ năm ngoái
Mặc dù giá tôm xuất khẩu tăng mạnh nhưng chỉ những doanh nghiệp nào tự túc được nguồn nguyên liệu, nói cách khác là có đầu tư từ khâu nuôi trồng cho đến sản xuất, là đạt được lợi nhuận cao, trong khi phần lớn doanh nghiệp hiện nay vẫn chỉ thu mua lại từ nguồn tôm nuôi trong dân
Theo Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (Vasep), dự báo trong các tháng còn lại, xuất khẩu tôm sang thị trường Mỹ sẽ tiếp tục tăng do nguồn cung cấp
Trang 20từ vịnh Mexico vẫn chưa thể phục hồi hoàn toàn từ sau vụ tràn dầu hồi tháng 4 Thị trường Nhật Bản với các loại tôm cỡ nhỏ hơn sẽ tiếp tục được doanh nghiệp quan tâm, khi giữ mức tăng trưởng ổn định về giá lẫn số lượng nhập khẩu Thị trường Mỹ và Nhật Bản hiện chiếm tổng cộng gần 50% kim ngạch xuất khẩu tôm của Việt Nam
Trong khi đó, theo báo cáo của Tổng Cục Thủy sản, đến hết tháng 8/2010, sản lượng thu hoạch tôm nước lợ đạt khoảng 222.480 tấn trên 39% diện tích thả nuôi Trong đó, Cà Mau và Bạc Liêu là 2 tỉnh có sản lượng tôm đã thu hoạch nhiều nhất với 45.490 tấn và 39.859 tấn
Còn tại các tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau, vào thời điểm chính vụ, nguồn tôm nguyên liệu chỉ đáp ứng tối đa 70-80% công suất các nhà máy chế của tỉnh Mỗi năm, Cà Mau có thể chế biến 150.000 tấn tôm thành phẩm Tuy nhiên, hiện năng suất của toàn tỉnh cũng chỉ đạt 10.000 tấn/tháng Tổng sản lượng tôm chế biến của Bạc Liêu
9 tháng đầu năm đạt 20.118 tấn với 15 nhà máy chế biến trên địa bàn tỉnh
Tuy nhiên, mặc dù năm nay, dịch bệnh xảy ra trên diện rộng nhưng do diện tích thả nuôi tôm nước lợ tăng, nên sản lượng tôm không giảm Mặt khác, nhu cầu trên thế giới gia tăng và điều kiện thị trường năm nay cũng khá thuận lợi Bởi vậy, có thể dự báo sản lượng và kim ngạch xuất khẩu tôm của nước ta năm 2010 sẽ đạt kết quả khả quan
Theo số liệu Hải quan Việt Nam, tính đến ngày 15/8/2010, Việt Nam xuất khẩu 122.702 tấn tôm, thu về 1,02 tỉ USD
2.5.2 Nghiên cứu ở Đông Hải – Bạc Liêu
Hiện nay, giá tôm thương phẩm tại Đông Hải vẫn đứng ở mức cao, loại 20 con/kg giá dao động từ 200.000 - 220.000 đồng/kg, loại 30 con/kg giá dao động từ 170.000 – 190.000 đồng/kg Theo nhận định của các doanh nghiệp thu mua và chế biển thủy sản thì giá tôm xuất khẩu những tháng cuối năm sẽ tiếp tục tăng cao, dẫn đến người dân sẽ ồ ạt thu hoạch tôm để bán cho được giá cao, gây ảnh hưởng đến nguồn thu tôm nguyên liệu cỡ lớn, trong khi đây là mặt hàng tiêu thụ đạt hiệu quả cao
Trang 21Hình 4 Kiểm tra mẫu nước tại ao nuôi hộ ông Nguyễn Văn Chi, ấp Lam Điền, xã Long Điền Tây, Đông Hải
Mặc dù giá tôm đạt ở mức cao nhưng nguồn tôm nguyên liệu chỉ đáp ứng khoảng 70 – 75% cho các công ty chế biến thủy sản, tình hình thiếu nguyên liệu có phần do việc tôm nuôi ở các xã Long Điền, Long Điền Tây, Điền Hải hồi đầu tháng 9/2010 đã bị chết hàng loạt, do giá tiếp tục tăng cao nên người dân vì lợi nhuận cao nên hấp tấp trong việc cải tạo lại ao nuôi cho vụ sau, rút ngắn thời gian xử lý ao nên khi thả nuôi lại vụ tiếp theo tôm đã chết hàng loạt, cho dù đã được tập huấn trước đó
Trang 22Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Phạm vi giới hạn nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: những nông hộ nuôi tôm thâm canh của huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu
Nội dung nghiên cứu: hiện trạng nuôi tôm của các nông hộ và hiệu quả của mô hình
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 07/2010 đến 12/2010
Địa điểm nghiên cứu: các vùng chuyên canh tôm thâm canh của huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu
3.2 Câu hỏi nghiên cứu
Việc chuyển đổi mô hình nuôi tôm quảng canh sang thâm canh mang lại lợi thế
gì cho người dân của huyện?
Mô hình nào sẽ mang lại hiệu quả cao hơn, thu nhập cao hơn?
Việc chuyển đổi mô hình trong việc sản xuất của huyện sẽ bị tác động bởi các yếu tố nào?
Những định hướng nào và những giải pháp gì cho việc chuyển đổi mô hình sản xuất từ tôm quảng canh sang tôm thâm canh đi đến hiệu quả cao nhất?
3.3 Giả thuyết nghiên cứu
Sự chuyển đổi mô hình canh tác từ tôm quảng canh sang tôm thâm canh đã tác động lên đời sống kinh tế xã hội của nông dân và nông hộ vung chuyển đổi theo hướng hiệu quả kinh tế cao
Vấn đề tiêu thụ sản phẩm trên thị trường sẽ phát triển theo hướng hiệu quả
Sự chuyển dịch các mô hình canh tác theo hướng bền vững, sử dụng và quản lý tài nguyên nông nghiệp hợp lý, hạn chế rủi ro và mang lại hiệu quả kinh tế cao
3.4 Phương pháp thu thập số liệu
3.4.1 Số liệu thứ cấp
Thu thập số liệu từ các cơ quan quản lý nông nghiệp cấp tỉnh, huyện và xã Thu thập thông tin thông qua ban lãnh đạo các cấp, cán bộ khuyến nông, chủ nhiệm các câu lạc bộ và các nông dân sản xuất giỏi thu thập thông tin về vùng khảo sát
Những thông tin từ niên giám thống kê của Cục thống kê, Chi cục thống kê tỉnh
và huyện, thông tin từ internet
Trang 23Các báo cáo hằng năm của Phòng Nông Nghiệp, trạm Khuyến Nông, trạm Bảo
vệ thực vật huyện Đông Hải
Các trang website có liên quan đến hoạt động nuôi tôm ở Đông Hải
Các tài liệu, đề tài nghiên cứu khoa học có liên quan
Những chính sách tác động đến chuyển đổi hệ thống canh tác
Đánh giá tính bền vững của hệ thống canh tác
Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, thuận lợi và rủi ro của các mô hình canh tác phổ biến
Phỏng vấn nông hộ
Thu thập thông tin bằng phỏng vấn trực tiếp các nông hộ chuyên canh tôm thâm canh của huyện Tổng số mẫu điều tra là 36 hộ Chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên phân tầng (giàu, trung bình, nghèo) Bảng câu hỏi soạn sẵn (xem phụ lục) bao gồm các nội dung sau:
Đặc điểm nông hộ
Tài nguyên nông hộ
Kỹ thuật canh tác tôm thâm canh
Lao động
Tín dụng, nhu cầu vốn
Giá cả
Sản lượng và thu nhập nông hộ
Thuận lợi và khó khăn trong sản xuất của nông hộ
Đề xuất ý kiến của nông hộ
3.5 Phương pháp phân tích số liệu
3.5.1 Phương pháp phân tích hồi quy tương quan
Phương pháp hồi quy tương được sử dụng để phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến năng suất tôm
Trang 24Mục đích của phương pháp hồi quy tương quan là ước lượng mức độ liên hệ (tương quan) giữa các biến độc lập (các biến giải thích) đến biến phụ thuộc (biến được giải thích), hoặc ảnh hưởng của các biến độc lập với nhau (các yếu tố nguyên nhân)
Mục tiêu phân tích mô hình: nhằm giải thích biến phụ thuộc (Y) bị ảnh hưởng bởi nhiều biến độc lập (xi)
Phương trình hồi quy tương quan có dạng:
Y = a + b1x1 + b2x2 + … + bixiTrong đó:
Y: năng suất Tôm
a: là hệ số tự do, nó cho biến giá trị của biến Y khi các biến x1, x2,…,xi bằng 0
x1, x2,…,xi: các yếu ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của mô hình (biến giải thích)
b1, b2,…, b3: gọi là hệ số hồi quy, hệ số hồi quy cho biết ảnh hưởng từng biến độc lập lên giá trị của biến phụ thuộc khi các biến còn lại được giữ cố định
3.5.2 Phương pháp phân tích SWOT
SWOT là một công cụ để giúp xác định những thuận lợi và bất lợi bằng cách phân tích những ảnh hưởng “bên trong” (mặt mạnh, mặt yếu) và những ảnh hưởng bên ngoài (cơ hội, rủi ro) mà nó gây tác động đến tiến trình phát triển
- S (Điểm mạnh): Điều kiện thuận lợi, nguồn lực thúc đẩy góp phần phát triển
tốt hơn (hiện tại)
- W (Điểm yếu): Các yếu tố bất lợi, những điều kiện không thích hợp hạn chế
phát triển (hiện tại)
- O (Cơ hội): Những phương hướng cần được thực hiện nhằm tối ưu hoá sự phát
triển, các kết quả dự kiến sẽ đạt được (tương lai)
- T (Nguy cơ/Thách thức): Những yếu tố có khả năng tạo ra những kết quả xấu,
những kết quả không mong đợi, hạn chế hoặc triệt tiêu sự phát triển (tương lai)
Trang 25Phân tích nội bộ SWOT
(S) Các điểm mạnh (W) Các điểm yếu (O) Các cơ hội O+S: Kết hợp thế
mạnh để tận dụng cơ hội
O+W: Kết hợp cơ hội để khắc phục điểm yếu
T+W: Khắc phục khó khăn và vượt qua thách thức
- Số liệu được phân tích và xử lý bằng phần mềm Excel và SPSS
3.5.3 Phương pháp thống kê mô tả
Thống kê mô tả được sử dụng trong nghiên cứu nhằm mô tả tình hình sản xuất
và thực trạng của nông hộ đang canh tác mô hình tôm quảng canh và tôm thâm canh tại huyện Đông Hải
- Nghiên cứu này sử dụng các công cụ thống kê trong xử lý và phân tích số liệu
- Phương pháp ước lượng khoảng tin cậy để ước lượng khoảng tin cậy của các chỉ tiêu nghiên cứu (số trung bình, tỉ lệ, v v.)
- Phương pháp kiểm định giả thuyết thống kê để kiểm định lại độ tin cậy và độ lớn của
số liệu thu thập được
Trang 26Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Tổng quan về nông hộ
Tình hình tổng quan của 36 nông hộ thâm canh được điều tra tại các xã Long Điền, An Phúc, Long Điền Tây, Long Điền Tiến, An Trạch, Định Thành huyện Đông Hải tỉnh Bạc Liêu
4.1.1 Thông tin về chủ hộ
4.1.1.1 Tuổi chủ hộ
Kết quả điều tra 36 hộ cho thấy đa phần chủ hộ là nam, chỉ có 3 chủ hộ được phỏng vấn là phụ nữ Có 30 chủ hộ trong độ tuổi lao động (từ 18-60 tuổi) chiếm 83,33%, 6 chủ hộ có độ tuổi trên 60 tuổi chiếm 16,67%, không có chủ hộ nào dưới 18 tuổi Người có tuổi cao nhất được ghi nhận là 80 tuổi, người có tuổi thấp nhất là 29 tuổi
và độ tuổi trung bình là 50 tuổi Tuổi tác có ảnh hưởng rất lớn đến kinh nghiệm sản xuất Thông thường ở những vùng sản xuất nông nghiệp, đa phần chủ hộ đều là nông dân và tham gia sản xuất từ rất sớm nên kinh nghiệm sản xuất sẽ được tích lũy theo độ tuổi tăng dần
Mặt khác, đa phần độ tuổi chủ hộ được điều tra là từ 29-60 tuổi, điều này cũng thuận lợi cho việc áp dụng khoa học kỹ thuật mới nhằm năng cao hiệu quả sản xuất
Trang 27vấn có ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu kiến thức mới, cập nhật thông tin khoa học kỹ thuật, tổ chức sản xuất nông hộ (Nguyễn Thanh Hiền, 2009)
Nguồn: Kết quả điều tra thực tế 36 hộ tại huyện Đông Hải tỉnh Bạc Liêu , năm 2010
4.1.1.3 Kinh nghiệm sản xuất của chủ hộ
Qua kết quả điều tra cho thấy có 10 hộ chiếm 27,78% có kinh nghiệm sản xuất dưới 5 năm, có 19 hộ chiếm 52,78% có kinh nghiệm sản xuất từ 5-10 năm, và có 7 hộ chiếm 19,44% có kinh nghiệm sản xuất trên 10 năm Người có kinh nghiệm sản xuất lâu năm nhất là 18 năm, thấp nhất là 2 năm và trung bình là 12,78 năm Kết quả điều tra cho thấy nông dân trong huyện có nhiều năm kinh nghiệm trong sản xuất, gắn bó với công việc nuôi tôm rất lâu Tuy nhiên cũng có một số người có nhiều năm kinh nghiệm nhưng bảo thủ do đó khi thâm nhập và chuyển giao khoa học kỹ thuật cần phải
có thời gian, mở các lớp tập huấn, hội thảo, điểm trình diễn để giúp nông dân có kiến thức mới trong sản xuất và trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi hiện nay (Nguyễn Văn Tâm, 1988)
Bảng 4.3: Kinh nghiệm sản xuất của chủ hộ
Kinh nghiệm sản xuất Tần số Phần trăm (%)
Trang 284.1.2 Thông tin nông hộ
4.1.2.1 Thành viên gia đình
Số thành viên gia đình trung bình của nông hộ là 4 người, cao nhất là 7 người và thấp nhất là 2 người Dựa theo số người trong gia đình, hộ được phân chia thành 3 nhóm: nhóm hộ ít người (2-3 người), nhóm hộ trung bình (4-6 người) và nhóm hộ đông người (>6 người) Kết quả điều tra cho thấy nhóm hộ có số người trung bình là 22 hộ, chiếm tỷ lệ cao nhất 81,67%, có 10 hộ ít người chiếm 16,67% và có 4 hộ đông người chiếm 1,66%.Số nhân khẩu trong gia đình là tiềm năng lao động trong nông hộ, số nhân khẩu tham gia vào các hoạt động sản xuất của nông hộ là lực lượng đóng góp rất lớn vào nguồn thu nhập của nông hộ Càng nhiều lao động tham gia vào sản xuất thì nguồn thu nhập của nông hộ càng phong phú
Bảng 4.4: Thành viên gia đình nông hộ
Thành viên gia đình Tần số Phần trăm (%)
Tổng số thành viên của 36 nông hộ được điều tra là 163 người Ngoài thông tin
về chủ hộ đã trình bày phần 4.1.1, còn lại 127 người là những thành viên khác Trong
127 người này, số trẻ em chưa đi học chiếm 7,87%, trình độ học vấn phổ thông chiếm 91,34% Đặc biệt có 9 người đạt trình độ đại học và 2 người trung cấp cao đẳng chiếm 8,66% Nhìn chung, hầu hết người dân ở đây đều biết chữ, đây là một thuận lợi trong việc sản xuất của nông hộ Biết đọc biết viết sẽ giúp họ tìm hiểu được những thông tin mới, biết tính toán chi phí, lợi nhuận trong sản xuất tốt hơn Bên cạnh đó, nông hộ còn cho biết những thành viên trong gia đình muốn có trình độ cao đẳng đại học để tìm kiếm những việc làm khác ngoài nông nghiệp cho thu nhập cao hơn
Trang 29Nguồn: Kết quả điều tra thực tế 36 hộ tại huyện Đông Hải tỉnh Bạc Liêu , năm 2010
4.1.2.3 Số thành viên tham gia sản xuất nông nghiệp
Trong 127 thành viên nông hộ nói trên có 38 người trực tiếp tham gia cả quá trình sản xuất nông nghiệp cùng với chủ hộ, chiếm 29,92% Các thành viên còn lại trong gia đình là người già, trẻ em và phụ nữ chỉ phụ giúp một số công việc như đi chợ, mua thuốc, thu hoạch… Ngoài sản xuất nông nghiệp thì nông hộ còn buôn bán, làm mướn, làm công nhân để có thêm thu nhập Một số hộ có thành viên là giáo viên, cán
bộ công nhân viên
4.1.2.4 Tuổi và giới tính các thành viên nông hộ
Kết quả điều tra cho thấy thành viên gia đình (không tính chủ hộ) là người già
12 người chiếm 9,45%, họ không còn khả năng lao động chỉ phụ giúp những công việc nhẹ trong gia đình Trẻ em chưa đến tuổi lao động và còn đi học 26 người chiếm 20,47% Số người trong độ tuổi lao động là 89 người chiếm 70,08% Số người già và trẻ em của nông hộ tương đối cao chiếm 29,92%, đây là những người không tạo ra thu nhập mà chủ yếu sống dựa vào những người đang lao động khác nên đã gây nhiều áp lực cho những thành viên còn lại trong gia đình
Trang 30Bảng 4.6: Độ tuổi các thành viên nông hộ
Nguồn: Kết quả điều tra thực tế 36 hộ tại huyện Đông Hải tỉnh Bạc Liêu , năm 2010
Trong số thành viên nói trên, nam giới là 70 người chiếm 55,12%, nữ giới 57 người chiếm 44,88% Vai trò của nam giới rất quan trọng sản xuất ở nông thôn vì họ cũng là lao động chính trong gia đình Bên cạnh những công việc chính thì còn phải chăm sóc con cái, quản lý công việc trong gia đình đồng thời cũng quản lý tiền bạc và chi tiêu trong gia đình Ngoài những công việc đó thì nam giới còn có thể buôn bán nhỏ hay làm mướn thêm để góp phần tăng thu nhập cho gia đình
nam giới 55%
nữ giới 45%
Hình 5: Cơ cấu giới tính các thành viên nông hộ