Với việc chọn đề tài “Thuật ngữ ngân hàng trong tiếng Anh và các tương đương của chúng trong tiếng Việt ”, luận án sẽ đi sâu tìm hiểu về nguồn gốc cấu tạo, đặc điểm định danh, các kiểu t
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ HẠNH DUNG
THUẬT NGỮ NGÂN HÀNG TRONG TIẾNG ANH
VÀ TƯƠNG ĐƯƠNG CỦA CHÚNG TRONG TIẾNG VIỆT
Ngành: Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu
Mã số: 9.22.20.24
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội – 2019
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HÀ QUANG NĂNG
477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội
Vào hồi giờ ngày tháng năm 201
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Khoa
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1 Thuật ngữ từ lâu đã là đề tài vô cùng quan trọng, không thể thiếu trong
sự hình thành và phát triển từ vựng của mỗi ngôn ngữ Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, cùng với sự phát triển của ngôn ngữ, thuật ngữ hiển nhiên lại càng đóng một vai trò chủ chốt, đáp ứng sự tăng trưởng không ngừng của khoa học, công nghệ
2 Nằm trong bối cảnh khu vực hóa, toàn cầu hóa, Việt Nam cũng đang trong thời kỳ đổi mới, phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của nhà nước Hệ thống ngân hàng nói chung góp một phần quan trọng trong sự phát triển của toàn bộ các ngành có liên quan
3 Cùng với sự phát triển của ngành ngân hàng là sự ra đời và phát triển các thuật ngữ có liên quan Với việc chọn đề tài “Thuật ngữ ngân hàng trong tiếng Anh và các tương đương của chúng trong tiếng Việt ”, luận án sẽ đi sâu tìm hiểu về nguồn gốc cấu tạo, đặc điểm định danh, các kiểu tương đương của TNNH trong tiếng Anh và tiếng Việt, nhằm mục đích tạo nguồn tài liệu cao cho sinh viên, giảng viên ngành ngân hàng và đóng góp nhất định vào quá trình chuẩn hóa TNNH tiếng Việt, thúc đẩy sự phát triển nội lực đầy tiềm năng của nền kinh tế đang hội nhập
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu này được tiến hành nhằm hai mục đích sau:
- Miêu tả, đối chiếu và hệ thống hóa các TNNH tiếng Anh và tiếng Việt làm sáng tỏ đặc trưng về mặt cấu tạo và ngữ nghĩa định danh
- Từ thực trạng khi chuyển dịch của các TNNH tiếng Việt, luận án đã đề xuất một số phương hướng, biện pháp cụ thể hỗ trợ xây dựng và chuẩn hóa TNNH cũng như phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập, soạn thảo và dịch các tài liệu ngân hàng hiệu quả hơn
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa lí luận tình hình nghiên cứu về thuật ngữ trên thế giới và ở Việt Nam, qua đó xác định cơ sở cho việc nghiên cứu
- Nghiên cứu cấu tạo thuật ngữ ngân hàng trong tiếng Anh và tiếng Việt, xác định các loại mô hình kết hợp các ngữ tố để tạo nên thuật ngữ ngân hàng trong hai ngôn ngữ Anh- Việt
- Tìm hiểu đặc điểm định danh của TNNH trong cả hai ngôn ngữ Anh – Việt như: con đường hình thành, kiểu ngữ nghĩa và cách thức biểu thị
- Xác định các kiểu tương đương dịch thuật và phân tích tương đương dịch thuật ngữ ngân hàng theo số lượng đơn vị
Trang 43 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng của luận án là các thuật ngữ biểu đạt các khái niệm được sử dụng trong lĩnh vực ngân hàng, cụ thể 2710 TNNH tiếng Anh và 2790 TNNH tiếng Việt
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Do đối tượng nghiên cứu là các TNNH tiếng Anh và tiếng Việt, nên chúng tôi chủ trương dùng các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau đây:
4.1 Phương pháp phân tích thành tố trực tiếp
Phương pháp phân tích thành tố trực tiếp được sự dụng để xác định và phân tích cơ sở cấu tạo thuật ngữ Để áp dụng phương pháp này, mỗi thuật ngữ được phân tích thành hai ngữ tố trực tiếp Tiếp đến, các ngữ tố này lại được phân ra thành các ngữ tố trực tiếp nhỏ hơn Qua đó, xác định mô hình cấp bậc của thuật ngữ, mối quan hệ giữa các ngữ tố trực tiếp trong mỗi bậc cũng như mối quan hệ giữa các đại ngữ tố trực tiếp tạo nên thuật ngữ
4.2 Phương pháp miêu tả
Phương pháp này được sử dụng nhằm miêu tả đặc điểm cấu tạo của từng thuật ngữ, giúp chúng tôi biết các ngữ tố cấu tạo nên TNNH, đặc điểm nguồn gốc và từ loại của mỗi ngữ tố cũng như các mô hình kết hợp của chúng Từ đó, giúp chúng tôi xác định rõ đặc điểm của TNNH về cấu tạo, định danh cũng như định hướng cách hình thành thuật ngữ mới
4.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng phương pháp đối chiếu một chiều tiếng Anh sang tiếng Việt Để làm được điều đó, chúng tôi chọn tiếng Anh làm ngôn ngữ cơ sở (ngôn ngữ nguồn) và tiếng Việt làm ngôn ngữ phương tiện (ngôn ngữ đích), lần lượt đối chiếu các kiểu tương đương để từ đó tìm ra được
sự tương đồng và khác biệt giữa chúng
Bên cạnh việc sử dụng ba phương pháp phân tích trên, chúng tôi còn sử dụng thủ pháp thống kê nhằm thống kê về số lượng, tần suất và tỉ lệ sử dụng các thuật ngữ trong từng phạm trù cũng như đặc trưng định danh nhất định của TNNH trong cả hai ngôn ngữ
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiện của luận án
Luận án có những đóng góp thiết thực về mặt lí luận và thực tế sau:
Trang 5- Qua nghiên cứu về tương đương dịch thuật thuật ngữ ngân hàng ở cả hai ngôn ngữ, chúng tôi sẽ góp phần làm rõ thêm luận điểm đại cương về tính quốc tế của TNNH trong thời đại mới
5.2 Về mặt thực tế
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần phục vụ cho công tác biên soạn và chỉnh lí tài liệu giảng dạy, nghiên cứu tiếng Anh chuyên ngành ngân hàng Từ đó nâng cao chất lượng giảng dạy và học tiếng Anh ngân hàng tại Đại học Ngoại Thương nói riêng và các cơ sở đào tạo giáo dục trong nước nói chung
6 Cơ cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận
Chương 2: Đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ ngân hàng trong tiếng Anh và tương đương trong tiếng Việt
Chương 3: Đặc điểm định danh của thuật ngữ ngân hàng tiếng Anh, tương đương của chúng trong tiếng Việt và đề xuất chuẩn hóa
Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới và Việt Nam
1.1.1.1 Nghiên cứu thuật ngữ và thuật ngữ chuyên ngành trên thế giới
Tình hình nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới gắn liền với ba trường phái như:
Trường phái nghiên cứu thuật ngữ của Áo: Đáng chú ý là các tranh
luận của Wuster (1931) về việc hệ thống hóa các phương pháp nghiên cứu thuật ngữ, đưa ra một số nguyên tắc khi sử dụng thuật ngữ và chỉ ra những điểm chính của phương pháp xử lí dữ liệu thuật ngữ Leo Weisgeber (1975) cho rằng đây là công trình quan trọng và là bước ngoặt của ngôn ngữ học ứng dụng
Trường phái thuật ngữ học của Cộng hòa Séc: Có thể nói, mối quan
tâm nhất của trường phái này là vấn đề chuẩn hóa các ngôn ngữ và chuẩn hóa thuật ngữ như việc miêu tả cấu trúc và chức năng, trong đó họ cho rằng thuật ngữ đóng vai trò hết sức quan trọng
Trường phái nghiên cứu thuật ngữ của Xô Viết: Tiếp thu những
quan điểm từ hai trường phái trên, trường phái này cũng tập trung nghiên cứu
về vấn đề chuẩn hóa
Nói tóm lại, khi nói tới hướng nghiên cứu thuật ngữ theo sự điều chỉnh phù hợp với hệ thống ngôn ngữ, người ta không thể không nhắc tới ba trường phái và cũng là ba cái nôi nghiên cứu thuật ngữ tiêu biểu và lớn nhất trên thế giới nói trên
Trang 61.1.1.2 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ ở Việt Nam
Việc nghiên cứu thuật ngữ khoa học tiếng Việt ở Việt Nam được hình thành từ đầu những năm 20 của thế kỉ XX Mặc dù thuật ngữ nói chung đã được các nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu kỹ lưỡng, đạt được nhiều thành tựu lớn, bằng chứng là hàng loạt cuốn từ điển thuật ngữ đối chiếu các ngôn ngữ nước ngoài
và tiếng Việt đã được xuất bản Tuy nhiên, các công trình khảo cứu riêng về hệ thống thuật ngữ của một chuyên ngành khoa học nhất định chưa nhiều Để có thể chuẩn hóa thuật ngữ toàn diện, cần có nhiều hơn nữa những công trình nghiên cứu chuyên sâu về các chuyên ngành riêng biệt, nhằm tìm ra các đặc điểm bản chất của mỗi tiểu hệ thuật ngữ, góp phần tạo nên những cơ sở khách quan cho việc chuẩn hóa, thống nhất hệ thuật ngữ của từng chuyên ngành
1.1.2 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ ngân hàng ở Anh và Việt Nam
1.1.2.1 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ ngân hàng ở Anh
Thế kỷ 20 đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của Tiếng Anh chuyên ngành Do ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới, vào những năm 1950 cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, tiếng Anh chuyên ngành phát triển mạnh và việc sử dụng tiếng Anh tăng nhanh với tư cách như ngôn ngữ khoa học quốc tế
Sau đà phát triển đó, Viện nghiên cứu thuật ngữ quốc tế (IITF) được thành lập năm 1989 với trên 100 thành viên của khoảng hơn 10 quốc gia, trong
đó, Anh là một trong những thành viên hoạt động tích cực nhất nhằm thúc đẩy công tác nghiên cứu, giảng dạy và đào tạo trong lĩnh vực thuật ngữ
Đến thế kỷ 21, với sự tiến bộ nhanh như vũ bão của khoa học, kĩ thuật đặt ra thức thách mới cho các thuật ngữ, chính điều này là động lực để hàng ngàn cuốn từ điển chuyên ngành, giáo trình giảng dạy, các tạp chí, chuyên luận
đã được xuất bản, các thuật ngữ khoa học đã bắt đầu được xem xét nghiên cứu theo từng chuyên môn nhất định Holmstrom, J đã có công lớn trong việc phổ biến thuật ngữ trên quy mô thế giới
1.1.2.2 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ ngân hàng ở Việt Nam
Kinh tế đóng một vai trò chủ chốt trong sự sống còn đối với bất kỳ quốc gia nào, trong mối quan hệ liên ngành, ngân hàng đóng vai trò chủ chốt hơn cả Có nhiều luận văn, luận án và từ điển liên quan đến lĩnh vực kinh tế ra đời Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về thuật ngữ ngân hàng mới chỉ dừng lại ở khảo quát, đánh giá tổng quát về lĩnh vực kinh tế nói chung, việc nghiên cứu chuyên sâu và có quy mô lớn vẫn còn bỏ ngỏ, chưa được các nhà khoa học, các chuyên gia ngân hàng quan tâm
1.2 Cơ sở lí luận
1.2.1 Những vấn đề về thuật ngữ
1.2.1.1 Khái niệm thuật ngữ
Từ khi ra đời, thuật ngữ đã và luôn là vấn đề gây tranh cãi, có vô vàn định nghĩa khác nhau gắn liền với các quan điểm khác nhau như:
Trang 7Định nghĩa thuật ngữ gắn với khái niệm
Với quan điểm định nghĩa thuật ngữ gắn liền với khái niệm, trước hết phải kể đến các giả Xô Viết, Đanilenco (1977) cho rằng, “Thuật ngữ dù là từ (ghép hoặc đơn) hay cụm từ đều là một kí hiệu mà một khái niệm tương ứng với nó”, Tương tự, Đ.X Lôttê cũng chỉ ra hai mặt của một thuật ngữ: tổ hợp âm thanh hoặc thành phần âm thanh và ý nghĩa gắn liền với tổ hợp âm thanh trong phạm vi một hệ thống khái niệm Theo đó “Thuật ngữ là bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ.”, điều này có nghĩa là thuật ngữ đều liên quan đến từ và cụm
từ cố định nhằm gọi tên chính xác của các loại khái niệm và các đối tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn chính xác
Định nghĩa thuật ngữ gắn với chức năng
Đại diện cho trường phái định nghĩa này là G.O Vinôkur quan điểm rằng “Thuật ngữ không phải là một từ đặc biệt mà chỉ là từ có chức năng đặc biệt” Ngoài ra, X.M Burđin cũng đồng tình và nhấn mạnh tư tưởng trên của Vinôgrađôp với nhận định “Thuật ngữ là đối tượng của định nghĩa, còn từ thông thường là không phải vậy”
Định nghĩa thuật ngữ trong sự phân biệt với các “từ ngữ phi thuật ngữ”
Khác với hai quan điểm trên về thuật ngữ, các nhà ngôn ngữ gắn liền với quan niệm này cho rằng: khi định nghĩa thuật ngữ, điều quan trọng nhất là chỉ ra được những điểm đặc trưng nhất thuộc bản thể của nó, nêu lên sự khác biệt với các
từ ngữ không phải là thuật ngữ
Như vậy, theo các quan điểm trên, dù có nhiều cách tiếp cận khái niệm thuật ngữ nhưng từ hướng tiếp cận nào, các tác giả trên đều đề cập tới hai vấn
đề quan trọng, chủ chốt là:
- Thuật ngữ là từ hoặc cụm từ
- Biểu thị khái niệm, thuộc tính, đối tượng, sự vật, hiện tượng thuộc lĩnh vực chuyên môn nhất định
Đó cũng chính là cách hiểu của chúng tôi về khái niệm thuật ngữ và lấy đó
làm cơ sở để nghiên cứu trong luận án này
1.2.1.2 Các tiêu chuẩn khi xây dựng và chuẩn hóa thuật ngữ
Các nhà nghiên cứu đã đưa ra khá nhiều tiêu chuẩn cho thuật ngữ, nhưng
có thể khái quát chúng lại thành các tiêu chuẩn như sau: tính khoa học, tính
Trang 8Đây cũng là một đặc tính, phẩm chất cần thiết đối với thuật ngữ Bất cứ ngành khoa học nào cũng đều cần hệ thống các khái niệm gắn liền với thuật ngữ, bất cứ thuật ngữ nào cũng là yếu tố cần thiết và quan trọng của hệ thống thuật ngữ
- Tính ngắn gọn
Từ tính ngắn gọn, các nhà nghiên cứu mới đưa ra được tiêu chuẩn cụ thể
về số lượng yếu tố cấu tạo thuật ngữ
Tính quốc tế
Trong thời đại toàn cầu hóa và quốc tế hóa hiện nay, tính quốc tế là một yêu cầu tất yếu và vô cùng cần thiết, xét một cách tổng thể, thuật ngữ chính là những từ ngữ biểu thị các khái niệm khoa học của trí tuệ, tri thức của nhân loại nói chung
Tính dân tộc
Nói đến tính dân tộc chính là nói đến hình thức của thuật ngữ, tính dân tộc bao gồm nhiều khía cạnh: từ vựng, ngữ pháp, ngữ âm và chữ viết: Tất cả các đặc điểm này đều phải phù hợp với đặc điểm ngôn ngữ viết và đọc của chính dân tộc đó
1.2.1.3 Khái niệm về thuật ngữ ngân hàng
Mặc dù có rất nhiều khái niệm khác nhau về thuật ngữ ngân hàng, trong
luận án này chúng tôi sử dụng định nghĩa TNNH là “Những từ và cụm từ cố
định gọi tên chính xác các khái niệm và các đối tượng thuộc lĩnh vực ngân hàng, gồm có các thuật ngữ chỉ chủ thể hoạt động ngân hàng, sản phẩm ngân hàng, thuật ngữ chỉ các hoạt động ngân hàng và thuật ngữ chỉ các chứng từ bảo đảm thanh toán” vì định nghĩa không chỉ bao quát toàn bộ nhiệm vụ và chức năng của ngành ngân hàng, mà còn phù hợp với hướng phân tích và thuận lợi khi xác định các phạm trù định danh của TNNH trong tiếng Anh và tiếng Việt
1.2.2 Lí thuyết định danh với vấn đề xây dựng thuật ngữ
Các nhà ngôn ngữ học đã đề cập khá nhiều về mối liên hệ giữa thuật ngữ
và sự định danh Việc đặt tên cho một sự vật, hiện tượng nào đó chính là quá trình định danh Hành vi định danh bao giờ cũng gắn với việc phân loại, và quá trình định danh một sự vật, tính chất hay quá trình gồm hai bước, đó là quy loại khái niệm và chọn đặc trưng khu biệt Khi định danh, trong số rất nhiều đặc trưng của một sự vật, hiện tượng, tính chất hay quá trình, người ta chỉ chọn đặc trưng tiêu biểu nhất định của sự vật… khu biệt được với sự vật khác
1.2.3 Lí thuyết dịch và tương đương dịch thuật
1.2.3.1 Khái niệm về dịch thuật
Từ khi ra đời, dịch thuật luôn đóng một vai trò quan trọng, dịch mang lại cho con người tri thức mới Tương đương (equivalence) là một khái niệm chỉ trạng thái hoặc tính chất có giá trị ngang nhau, tức là ngang bằng về giá trị,
số lượng, ý nghĩa và tầm quan trọng Khái niệm tương đương dịch thuật gắn
Trang 9liền với lí thuyết dịch Các quan điểm về tương đương dịch thuật hết sức đa dạng
và là một vấn đề còn gây nhiều tranh cãi, đánh giá thảo luận theo nhiều khía cạnh khác nhau và khó có thể đi đến một quan điểm hoàn toàn thống nhất trong lí thuyết dịch Chính vì vậy, để bảo đảm việc tương đương trong dịch thuật thì cần phải xây dựng được những quan niệm rõ ràng về các kiểu tương đương trong dịch thuật
1.2.3.2 Quan niệm về tương đương dịch thuật và các tiêu chí đảm bảo tương đương của sản phẩm dịch thuật
Dựa vào định nghĩa dịch thuật và các tiêu chí đảm bảo dịch thuật nói trên, chúng tôi sử dụng định nghĩa và tiêu chí của Nida, E làm cơ sở lý thuyết khi nghiên cứu: Dịch thuật chính là việc tiếp nhận ngôn ngữ theo cách tương đương giữa văn bản nguồn và văn bản đích, tương đương dịch thuật phải đảm bảo được các tiêu chí nhất định như; có nghĩa, hình thức diễn đạt dễ dàng, có nguyên tắc và phản ứng tương tự
Tiểu kết chương 1
Qua việc tổng quan lại các nghiên cứu về thuật ngữ ngân hàng trong tiếng Anh và tương đương của chúng trong tiếng Việt, có thể nhận thấy vấn đề thuật ngữ nói chung và thuật ngữ ngân hàng nói riêng đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới nghiên cứu công phu, kỹ lượng Tuy nhiên, tại Việt Nam, nghiên cứu chuyên sâu về thuật ngữ ngân hàng còn tương đối khiêm tốn Hơn nữa, qua tổng quan tình hình nghiên cứu, có thể khẳng định, chưa có nghiên cứu nào đề cập đến cấu tạo, đặc điểm hay các phạm trù định danh về THNH trong tiếng Anh và tương đương trong tiếng Việt Do vậy, có thể khẳng định đề tài “Thuật ngữ ngân hàng trong tiếng Anh và các tương đương của chúng trong tiếng Việt” là một đề tài mới, có ý nghĩa quan trọng cho công tác giảng dạy, góp phần chuẩn hóa TNNH tiếng Việt
Chương 2 CẤU TẠO THUẬT NGỮ NGÂN HÀNG TRONG TIẾNG ANH VÀ
TƯƠNG ĐƯƠNG CỦA CHÚNG TRONG TIẾNG VIỆT 2.1 Cấu tạo của TNNH tiếng Anh và tương đương của chúng trong tiếng việt
2.1.1 Xác định hệ thuật ngữ ngân hàng
Hệ TNNH trong luận án này được xác định dựa trên quan điểm:
“TNNH là những từ và cụm từ cố định gọi tên chính xác các khái niệm và các đối tượng thuộc lĩnh vực ngân hàng, gồm có các thuật ngữ chỉ chủ thể hoạt động ngân hàng, thuật ngữ chỉ các hoạt động ngân hàng và thuật ngữ chỉ các chứng từ bảo đảm thanh toán”
Trang 102.1.2 Thành tố cấu thành thuật ngữ ngân hàng - ngữ tố
Theo cách tiếp cận của Nguyễn Thị Bích Hà (2000), chúng tôi cũng sử dụng thuật ngữ “ngữ tố” (là yếu tố cấu tạo thuật ngữ) được coi là thành tố cấu tạo trực tiếp cuối cùng của một thuật ngữ Mỗi ngữ tố đều biểu hiện một khái niệm thuật ngữ định danh trong một lĩnh vực nhất định Do đó, mỗi ngữ tố đều
có nghĩa
2.1.3 Các phương diện khảo sát
Trong chương này, chúng tôi sẽ dựa trên chính bản chất của yếu tố cấu tạo TNNH để từ đó trả lời cho các câu hỏi: TNNH tiếng Anh được cấu tạo như thê nào? Để làm được điều đó, chúng tôi sẽ xem xét đặc điểm cấu tạo TNNH tiếng Anh theo các nhóm thuật ngữ
2.2 Số lượng ngữ tố cấu tạo thuật ngữ ngân hàng trong tiếng Anh và tiếng Việt
Chúng tôi đã tiến hành phân tích ngữ tố, phân loại thuật ngữ theo ngữ
tố cấu tạo và thu được số liệu cụ thể như sau:
Bảng 2.1: TNNH tiếng Việt và tiếng Anh xét theo số lƣợng ngữ tố
2.3.1.1 Thuật ngữ ngân hàng tiếng Anh
a Thuật ngữ ngân hàng là từ đơn
Đây là nhóm thuật ngữ bao gồm một hình vị chính tố, chúng có thể là danh
từ, động từ hay tính từ
b Thuật ngữ ngân hàng là từ phái sinh
Từ phái sinh là từ được cấu tạo bằng phương thức kết hợp một số căn tố (root) với phụ tố Thành phần phụ tố có thể là tiền tố hoặc hậu tố
c Thuật ngữ ngân hàng là từ ghép
Đây là phương thức cấu tạo từ phổ biến của bất kỳ ngôn ngữ nào trên thế giới
Trang 11Bảng 2.2: Thống kê từ loại của TNNH tiếng Anh là từ
2.3.1.2 Thuật ngữ ngân hàng tiếng Việt
Qua phân tích, có thể tổng hợp số liệu thống kê trên thành bảng 2.3 sau:
Bảng 2.3: Thống kê cấu tạo và từ loại của TNNH tiếng Việt 1 ngữ tố
2.3.2 Thuật ngữ ngân hàng có hai ngữ tố
2.3.2.1 Thuật ngữ ngân hàng tiếng Anh
Có thể tổng hợp các TNNH Tiếng Anh hai ngữ tố bằng bảng sau:
Bảng 2.4: Thống kê cấu tạo và từ loại của TNNH tiếng Anh 2 ngữ tố Thuật
Phân từ quá khứ + Danh từ 230 8,2
Phân từ hiện tại + Danh từ 148 5,4
Danh từ + Phân từ hiện tại 36 1,29
Tính từ + Phân từ hiện tại 21 0,77
Trang 12Thuật
Động từ + phân từ hiện tại 3 0,1
Phân từ hiện tại + động từ 2 0,07
Danh từ sở hữu cách+ Danh từ 10 0,36
2.3.2.2 Thuật ngữ ngân hàng tiếng Việt
Bảng 2.5: Thống kê từ loại của TNNH tiếng Việt 2 ngữ tố
2.3.3.1 Thuật ngữ ngân hàng tiếng Anh
Trong số ba ngữ tố cấu tạo nên thuật ngữ, ngữ tố đứng sau cùng bao giờ cũng đóng vai trò trung tâm mang ý nghĩa chính Hai ngữ tố đứng trước mang ý nghĩa bổ sung làm rõ ý nghĩa và phân loại thuật ngữ
2.3.3.2 Thuật ngữ ngân hàng tiếng Việt
Tất cả thuật ngữ này đều là cụm từ chính phụ, chiếm 100%, trong đó tất
cả thuật ngữ có cấu tạo là cụm danh từ
2.3.4 Thuật ngữ có bốn ngữ tố
2.3.4.1 Thuật ngữ ngân hàng tiếng Anh
Tất cả nhóm thuật ngữ này đều là cụm danh từ
2.3.4.2 Thuật ngữ ngân hàng tiếng Việt
Tất cả nhóm thuật ngữ này đều có cấu tạo cụm từ ghép theo quan hệ chính phụ Trong đó, tất cả thuật ngữ đều là cụm danh từ, chiếm 17,2%
2.3.5 Thuật ngữ có năm ngữ tố
2.3.5.1 Thuật ngữ ngân hàng tiếng Anh
Số lượng TTNH tiếng Anh có cấu tạo 5 ngữ tố rất ít, toàn bộ đều là cụm từ
chính phụ
2.3.5.2 Thuật ngữ ngân hàng tiếng Việt
Trang 13Tất cả thuật ngữ này có cấu tạo đều là cụm từ ghép chính phụ Trong
đó, toàn bộ thuật ngữ là cụm danh từ
2.4 Mô hình cấu tạo của thuật ngữ ngân hàng tiếng Anh và tiếng Việt
Chúng tôi ký hiệu N là ngữ tố cấu tạo thuật ngữ; N1 là ngữ tố cấu tạo thứ nhất, N2 là ngữ tố cấu tạo thứ hai
2.4.1 Mô hình cấu tạo thuật ngữ ngân hàng tiếng Anh
2.4.1.1 Mô hình cấu tạo 1
Đây là nhóm thuật ngữ có hai yếu tố ghép lại với nhau Theo nguyên tắc này, thành phần phụ làm định ngữ đứng trước, danh từ chính của định ngữ đứng sau, do vậy các ngữ tố đứng ở vị trí thứ hai là: capture, payments, conduit đóng vai trò là thành phần chính, cơ bản, chỉ khái niệm loại
2.4.1.2 Mô hình cấu tạo 2
Các thuật ngữ thuộc nhóm này gồm có ba ngữ tố Trật tự thành phần chính phụ ngược lại với trật tự thành phần của các ngữ tố trong TNNH tương đương của tiếng Việt Các ngữ tố đứng ở vị trí thứ hai kết hợp với các ngữ tố ở
vị trí đầu tạo thành cụm từ chính phụ,
2.4.1.3 Mô hình cấu tạo 3
Các thuật ngữ này đều do ba ngữ tố cấu tạo nên Ngữ tố đứng thứ ba luôn
là ngữ tố chính, mang nghĩa khái quát chỉ khái niệm loại, các ngữ tố thứ nhất
và ngữ tố thứ hai phụ nghĩa cho ngữ tố thứ ba Kết hợp của các ngữ tố thứ hai
và các ngữ tố thứ nhất được thêm vào trước ngữ tố thứ ba, biểu hiện được lựa chọn làm cơ sở để định danh khái niệm mà thuật ngữ biểu hiện
2.4.1.4 Mô hình cấu tạo
Mô hình này có 4 ngữ tố, các ngữ tố đứng trước ngữ tố thứ tư nhằm cụ thể
hóa và làm rõ nghĩa cho ngữ tố thứ tư
2.4.1.5 Mô hình cấu tạo 5
Nhóm thuật ngữ này có bốn ngữ tố cấu tạo nên Tổ hợp gồm các ngữ tố thứ nhất và ngữ tố thứ hai cụ thể hóa đặc điểm, tính chất, thuộc tính cho khái niệm hoặc đối tượng mà tổ hợp ngữ tố thứ ba và thứ tư biểu đạt
2.4.1.6 Mô hình cấu tạo 6
Các thuật ngữ này gồm năm ngữ tố kết hợp với nhau, có thể được phân ra thành hai thành tố trực tiếp và gián tiếp kết hợp với nhau
2.4.1.7 Mô hình cấu tạo 7
Các thuật ngữ trên gồm sáu ngữ tố kết hợp với nhau, có thể được phân ra thành hai thành tố hỗ trợ nhau
2.4.1.8 Mô hình cấu tạo 8
Các thuật ngữ trên gồm tám ngữ tố kết hợp với nhau, có thể được phân ra thành hai thành tố trực tiếp hỗ trợ nhau
Từ số liệu trên, cho thấy rằng TNNH tiếng Anh có cấu tạo ngắn gọn và kết cấu chặt chẽ và ngắn gọn