Mục 1. Thế giới quan và phương pháp luận (Bài 1. Thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng , SGK Giáo dục công dân lớp 10) Kiến thức tích hợp: 1, Bài thơ “Chuyện cổ tích về loài người” Xuân Quỳnh. 2, “Bộ quần áo mới của hoàng đế” Truyện cổ Andersen. 3, Truyện ngụ ngôn “Thầy bói xem voi”.
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 21, Bài thơ “Chuyện cổ tích về loài người”- Xuân Quỳnh.
2, “Bộ quần áo mới của hoàng đế”- Truyện cổ Andersen.
3, Truyện ngụ ngôn “Thầy bói xem voi”.
4 ĐỐI TƯỢNG HỌC SINH, DỰ KIẾN SỐ TIẾT DẠY
- Đối tượng học sinh: Lớp 10
- Dự kiến số tiết dạy: 02
+ Tiết 1: Từ mục a Vai trò thế giới quan, phương pháp luận của Triết học đếnhết mục b Thế giới quan duy vật và thế giới quan duy tâm
+ Tiết 2 Mục c Phương pháp luận biện chứng và phương pháp luận siêu hình
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT Trang 4
PHẦN I NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ Trang 5
A PHẦN MỞ ĐẦU Trang 5
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Trang 5
II MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU Trang 6
III ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU Trang 6
IV THỜI GIAN NGHIÊN CỨU Trang 6
B NỘI DUNG Trang 7
Chương I Lí luận chung về dạy học tích hợp Trang 7
Chương II Thực trạng việc học tập môn Giáo dục công dân lớp 10 Trang 8Chương III Biện pháp tích hợp Văn- Giáo dục công dân trong giảng dạy chủ đề “Thế giới quan và phương pháp luận” Trang 9
C KẾT LUẬN……… Trang 12PHẦN II KẾ HOẠCH DẠY HỌC………Trang 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… Trang 32
Trang 4DANH MỤC VIẾT TẮT
Thế giới quan TGQ Phương pháp luận PPL
Thế giới quan duy vật TGQ DV Thế giới quan duy tâm TGQ DT Phương pháp luận biện chứng PPLBC Phương pháp luận siêu hình PPLSH
Trang 5DẠY HỌC CHỦ ĐỀ “ THẾ GIỚI QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN”
THEO HƯỚNG TÍCH HỢP
PHẦN I NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ
A PHẦN MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Luật Giáo dục năm 2005 đã xác định: "Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp cho
học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân " (Điều 23 - Luật Giáo dục năm 2005).
Để thực hiện được điều đó, các môn học, hoạt động giáo dục trong nhà trường đều có ýnghĩa, vai trò nhất định Trong đó, môn Giáo dục công dân trang bị đầy đủ những hiểu biết vềthế giới quan và phương pháp luận khoa học, những chuẩn mực về đạo đức, ứng xử hàngngày, tiếp nối truyền thống tốt đẹp của cha ông, cũng như kiến thức tối thiểu về pháp luật,phòng chống tệ nạn nguy hiểm trong xã hội (HIV/AIDS, mại dâm, ma túy…) Do đó, Giáodục công dân là môn học có tầm quan trọng đặc biệt trong việc hình thành nhân cách cho họcsinh
Giáo dục công dân là một môn học hay, nhưng để giảng dạy tốt lại không hề đơn giảnnhư mọi người vẫn nghĩ Người dạy Giáo dục công dân phải là người có hiểu biết rộng về xãhội, biết tích hợp các môn học khác như môn văn, sử, kiến thức xã hội, chính trị, thời sự… Nógiúp chúng ta giáo dục các em toàn diện hơn, giúp cho việc học và tiếp thu các môn học kháctốt hơn
Ngay khi “bước chân” vào lớp 10, hầu hết học sinh đều “choáng” với những nội dungthuộc phạm trù triết học hoàn toàn mới lạ như thế giới quan duy vật, phương pháp luật biệnchứng, phương pháp luận siêu hình… trong bài đầu tiên của chương trình Giáo dục công dânlớp 10 Trực tiếp giảng dạy, cô Đỗ Thị Thu, giáo viên Trường THPT Yên Lạc 2 cho rằng:
“Vừa bước chân vào một bậc học, phải tiếp nhận những kiến thức như vậy khó cho các em vì
nó khá trừu tượng” Nhưng với việc giảng dạy theo hướng tích hợp và tích cực tôi nhận thấythông qua những câu chuyện, những bài thơ…thì những kiến thức triết học tưởng chừng nhưkhô khan, trừu tượng và khó hiểu đó đã trở nên dễ hiểu, dễ nhớ và cực kỳ gần gũi Triết họcđối với các em không còn là một con “ngáo ộp” mà là một môn khoa học cực kỳ hấp dẫn vàcác em đang khát khao khám phá… Xuất phát từ yêu cầu nâng cao chất lượng dạy học nóichung, chất lượng dạy học môn Giáo dục công dân nói riêng, chuyên đề này đề cập một số
biện pháp dạy học theo hướng tích hợp và tích cực thông qua chủ đề “Thế giới quan và
phương pháp luận”.
Trang 6II MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá được thực trạng việc học tập môn Giáo dục công dân của học sinh ở trườngTrung học phổ thông Thông qua đó, nâng cao tính tích cực và sự thích thú học tập môn Giáodục công dân lớp 10 bằng dạy học tích hợp
2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Sưu tầm, chọn lọc những tác phẩm văn học hay, ý nghĩa, đồng thời nghiên cứu nộidung chương trình Giáo dục công dân lớp 10 và việc học tập của học sinh đối với môn học
Từ đó, đề xuất một số biện pháp dạy học theo hướng tích hợp vào nội dung bài học để nângcao hứng thú học tập cho học sinh
III ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh các lớp 10 mà tôi được phân công trực tiếp giảng dạy năm học 2018 – 2019:Lớp 10A1, 10A2, 10A3, 10A4, 10D1, 10D3 thuộc trường THPT Yên lạc 2
V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Sử dụng các phương pháp nghiên cứu của phép biện chứng duy vật: phân tích, tổnghợp, so sánh để giải quyết nội dung đề tài
- Đặc biệt là phương pháp thực nghiệm (thông qua thực tế dạy học trên lớp, giao bàitập, củng cố bài học, hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài kết hợp với kiểm tra, đánh giá)
VI BỐ CỤC CỦA CHUYÊN ĐỀ
Phần I Nội dung chuyên đề
A: Phần Mở đầu.
B: Nội dung.
Chương I Lí luận chung về dạy học tích hợp
Chương II Thực trạng việc học tập môn Giáo dục công dân lớp 10
Chương III Biện pháp tích hợp Văn – Giáo dục công dân trong giảng dạy chủ đề “
Thế giới quan vả phương pháp luận”
C: Kết luận
Phần II Thiết kế hoạt động dạy học
Trang 7B NỘI DUNG Chương I Lí luận chung về dạy học tích hợp
1 Khái niệm về dạy học tích hợp
Dạy học tích hợp được hiểu là những hoạt động của học sinh, dưới sự tổ chức, hướngdẫn của GV, huy động đồng thời kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giảiquyết các nhiệm vụ học tập, thông qua đó hình thành những kiến thức, kĩ năng mới, từ đó pháttriển những năng lực cần thiết
Các hình thức dạy học tích hợp:
- Tích hợp trong nội bộ môn học
- Tích hợp liên môn
- Tích hợp xuyên môn
2 Ưu điểm của dạy học tích hợp
- Mục tiêu của việc học được người học xác định một cách rõ ràng ngay tại thời điểmhọc;
- Nội dung dạy học: Tránh những kiến thức, kỹ năng bị trùng lặp; phân biệt được nộidung trọng tâm và nội dung ít quan trọng; Các kiến thức gắn liền với kinh nghiệm sống củahọc sinh;
- Phương pháp dạy học: Dạy sử dụng kiến thức trong tình huống; Thiết lập mối liên hệgiữa các khái niệm đã học;
- Đối với người học: cảm thấy quá trình học tập có ý nghĩa vì nó giải quyết được mộttình huống, một vấn đề trong thực tiễn cuộc sống từ đó có điều kiện phát triển kỹ năng chuyênmôn
3 Khó khăn của dạy học tích hợp
Tuy nhiên, khi thực hiện dạy học tích hợp cũng gặp phải không ít khó khăn vì đây còn
là một quan điểm còn mới đối với nhà trường, với giáo viên Giáo viên thường gắn theo mônhọc, không dễ để thực hiện chương trình tích hợp các môn học
Để thực hiện dạy học tích hợp có hiệu quả giáo viên cần quan tâm đến những vấn đề sau đây:
- Phải biết nguyên tắc, quy trình các bước xây dựng các chủ đề tích hợp
+ Việc xây dựng chủ đề tích hợp được thực hiện theo nguyên tắc: hướng đến mục tiêugiáo dục phổ thông, đảm bảo mục tiêu giáo dục môn học; Đảm bảo tích hợp nội dung phươngpháp dạy học Nội dung chủ đề học sinh khai thác, vận dụng kiến thức của môn học để pháthiện và giải quyết vấn đề một cách chủ động và sáng tạo với tinh thần hợp tác; Gắn với thựctiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh; Phù hợp vớinăng lực hiện có của học sinh; Phù hợp với điều kiện khách quan của trường học hiện nay;Đảm bảo để tổ chức cho học sinh học tập tích cực, giúp học sinh khai thác kiến thức môn,phát hiện một số kỹ năng, năng lực chung
Trang 8Bước 1: Phân tích nội dung chương trình của môn để tìm ra những nội dung chung có
liên quan với nhau, bổ sung, hỗ trợ cho nhau nhưng lại được trình bày riêng biệt ở mỗi bộmôn
Bước 2: Lựa chọn nội dung gắn với thực tiễn đời sống và phù hợp với năng lực của học
sinh
Bước 3: Đề xuất và tiến hành xây dựng một số chủ đề cụ thể.
Bước 4: Điều chỉnh các chủ đề sau khi thực nghiệm.
- Phải sáng tạo và linh hoạt khi lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp với mỗi chủ đềtích hợp Các phương pháp thường được sử dụng đó là Phương pháp dạy học theo dự án,Phương pháp trực quan, Phương pháp thực địa, Phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấnđề
Dạy học tích hợp có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục, rèn luyện và phát triển kĩnăng tư duy, phân tích tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa cho người học Sự phát triểnnhanh chóng của khoa học kĩ thuật trong giai đoạn hiện nay đang đòi hỏi sự thay đổi căn bản
và toàn diện về nội dung và phương pháp giáo dục Quan điểm dạy học tích hợp là một địnhhướng trong đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, là một bước chuyển từ cách tiếp cận nộidung giáo dục sang tiếp cận năng lực nhằm đào tạo con người có tri thức mới, năng động,sáng tạo khi giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống
Chương II Thực trạng việc học tập môn Giáo dục công dân lớp 10.
Hiện nay, ở trường Trung học phổ thông môn Giáo dục công dân lớp 10 kiến thức môn
học liên quan đến triết học cho nên rất "khô khan", do đó, học sinh không hứng thú học Trong
thời gian tôi giảng dạy, tôi thấy tình trạng học sinh không học bài cũ, không xem bài mới cònphổ biến, khi đưa ra một yêu cầu về nhà sưu tầm tranh ảnh hoặc viết cảm nghĩ thì học sinhkhông có hứng khởi làm, có làm cũng là miễn cưỡng, bắt buộc do đó hiệu quả mang lại khôngcao Từ việc không thích học môn Giáo dục công dân lớp 10 cho nên học sinh có dấu hiệu sasút nghiêm trọng về đạo đức, nhu cầu cá nhân phát triển lệch lạc, ý thức pháp luật kém, thiếuniềm tin trong cuộc sống, không có tính tự chủ, dễ bị lôi cuốn vào những việc xấu
Thực trạng trên do nhiều nguyên nhân, như: Đa số giáo viên chưa đầu tư xứng đángcho môn học, vẫn còn chú trọng truyền thụ kiến thức theo kiểu thuyết trình xen kẽ hỏi đáp,giảng giải kiến thức, ít phát huy tính tích cực và phát triển tư duy; chỉ khai thác những câuchuyện, thông tin, sự kiện, tình huống có sẵn ở sách giáo khoa, chưa tự tìm tòi những điều mới
để đưa vào bài giảng của mình sao cho phù hợp, sinh động Đặc biệt, do tâm lý chung của mọingười, trong đó cha mẹ học sinh cho rằng đây là môn học phụ, kết quả học tập thế nào khôngquan trọng lắm, vì vậy cũng không quan tâm nhiều và chưa chú ý động viên con em tích cựchọc tập
Trang 9Chương III Biện pháp tích hợp Văn- Giáo dục công dân trong giảng dạy
chủ đề “Thế giới quan và phương pháp luận”.
`1 Quan niệm về tác phẩm văn học:
Tác phẩm văn học là công trình nghệ thuật ngôn từ, kết quả của tiến trình lao động
nghệ thuật (hoạt động sáng tác) của cá nhân nhà văn hoặc kết quả của nỗ lực sáng tác tập thể
Tác phẩm văn học có thể tồn tại dưới phương diện là ngôn bản truyền miệng hoặc hìnhthức văn bản được ghi lại bằng văn tự cụ thể; có thể được tạo thành bằng văn vần (và thơ)hoặc văn xuôi; và được xếp vào các thể loại nhất định (như tự sự, trữ tình, kịch, nhật
ký, ký, tùy bút) hay một thể tài văn học nhất định (như hài kịch, bi kịch, thơ trào phúng, thơ tự
do, truyện tiếu lâm, truyện ngắn, tiểu thuyết )
2 Nguyên tắc sưu tầm tác phẩm văn học nhằm phục vụ cho giảng dạy môn Giáo dục công dân
Để đạt hiệu quả tối ưu trong quá trình sử dụng tác phẩm văn học vào giảng dạy Giáodục công dân thì giáo viên cần chú ý các nguyên tắc sau:
- Các tác phẩm văn học phải xuất phát từ nội dung cơ bản của bài, phù hợp với trình
độ nhận thức và tâm lý lứa tuổi học sinh
- Các tác phẩm được khai thác theo các hướng khác nhau, thể hiện ở cách giáo viên đặtcâu hỏi gợi ý cho học sinh
3 Quy trình sử dụng tác phẩm Văn học để giảng dạy môn Giáo dục công dân
Sử dụng tác phẩm Văn học để dạy học Giáo dục công dân lớp, giáo viên phải thựchiện theo 3 bước sau:
Bước 1: Giáo viên chuẩn bị các tác phẩm có nội dung phù hợp với bài học
Bước 2: Học sinh lắng nghe câu chuyện, thơ…Giáo viên yêu cầu học sinh phân tích và
trả lời câu hỏi ở cuối câu chuyện hoặc bải thơ
Bước 3: Giáo viên theo dõi, lắng nghe, phân tích và tổng hợp các ý kiến của học sinh
trả lời; đồng thời nhận xét, bổ sung và đưa ra kết luận
4 Cách thức sử dụng tác phẩm Văn học trong giảng dạy chủ đề “Thế giới quan và phương pháp luận”.
Trong quá trình dạy học môn Giáo dục công dân giáo viên cần phải căn cứ vào mụcđích dạy học để chọn các tác phẩm Văn học, đồng thời lựa cách thức sử dụng chúng cho phù
hợp Tích hợp Văn học trong giảng dạy chủ đề “Thế giới quan và phương pháp luận” được
thực hiện theo cách sau:
4.1 Sử dụng văn học để dẫn dắt vào nội dung bài học
Trước khi vào nội dung chính của bài học, giáo viên thường dùng lời nói để giới thiệu
về nội dung bài học mới để dẫn dắt, tạo tâm thế tiếp nhận bài học và kích thích sự hứng khởi
Trang 10của học sinh Sử dụng tác phẩm văn học , giáo viên sẽ dẫn dắt học sinh vào nội dung bài họcbằng một tác phẩm (hoặc một phần tác phẩm) cụ thể:
Thực chất đây là hình thức giáo viên dùng tác phẩm có nội dung phù hợp với chủ đềbài học để khơi gợi vấn đề sắp được nghiên cứu Từ nội dung tác phẩm, giáo viên làm rõ chủ
đề bài học bằng những câu hỏi có tính định hướng nhằm chuẩn bị tâm thế tiếp nhận bài họcmới cho học sinh
Ví dụ: Để dẫn dắt học sinh tìm hiều bài 1: Thế giới quan duy vật và phương pháp luậnbiện chứng, giáo viên có thể trích dẫn dắt như sau:
Khi nói về nguồn gốc của loài người, có nhiều quan điểm khác nhau, có quan điểm cho
rằng: Thiên Chúa tạo ra vạn vật trong 24 ngày, ngày thứ 6 Chúa nói: “Dựa theo hình tượng
của chúng ta để tạo ra người đàn ông…” Sau đó, con người vừa được tạo ra đó được thổi
linh hồn vào hai lỗ mũi, trở thành một người đàn ông tên gọi là Adam Adam đến từ tiếng DoThái, có nguyên nghĩa là “bùn đất” Ngài cũng tạo ra một khu vườn (vườn Eden hay vườn ĐịaĐàng) và đặt Adam ở đó, cho phép anh ăn tất cả các loại trái cây trong vườn trừ cây Thiện ác– Trái cấm Vì thấy Adam cô đơn trong vườn Địa Đàng, Chúa đã rút một xương sườn của anh
và tạo ra người phụ nữ tên gọi Eva
Nhưng quan điểm khác lại cho rằng con người được tiến hóa từ một loài vượn cổ
- Các em đồng ý với ý kiến nào khi nói về nguồn gốc của loài người?
- Vì sao có nhiều cách giải thích khác nhau về nguồn gốc của loại người ?
- Trong cuộc sống, chúng ta có thường bắt gặp nhiều cách giải thích, giải quyết, thái độ(thậm chí là trái ngược nhau) trước một vấn đề, một sự việc hay không ?
Mỗi người tùy vào tâm lí, năng lực, trình độ mà luôn có quan niệm (thế giới quan) vàcách tiếp cận (phương pháp luận) khác nhau đối với các sự vật, hiện tượng ở xung quanhmình Nói cách khác, thế giới quan và phương pháp luận khác nhau sẽ dẫn chúng ta đếnnhững cách nhìn nhận, giải thích, hành động, thái độ khác nhau Do đó, trang bị thế giớiquan và phương pháp luận khoa học sẽ giúp chúng ta nhận thức, hành động và có thái độ đúngđắn trước các vấn đề mà chúng ta gặp phải trong cuộc sống
Vậy thế nào là thế giới quan, phương pháp luận ? Thế giới quan và phương pháp luậnnào được coi là đúng đắn nhất ? Chúng ta sẽ lần lượt đi tìm những câu trả lời trong bài họcđầu tiên của môn GDCD lớp 10 - bài 1 Thế giới quan duy vật và phương pháp luận biệnchứng
4.2 Sử dụng văn học để minh họa nội dung tri thức
Đây là cách thức được giáo viên sử dụng thường xuyên, đặc biệt là khi giảng dạy cácđơn vị kiến thức cần nhiều dẫn chứng Giáo viên dùng tác phẩm có nội dung phù hợp để làmsáng rõ tri thức của bài Hay nói cách khác, bên cạnh dùng lý luận để phân tích, lý giải tri thứcbài học, sử dụng tác phẩm văn học để thực minh họa nội dung tri thức bài học Ta lấy trườnghợp sau đây làm ví dụ:
Trang 11Trong bài 1 "Thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng", khi giảng về thế
giới quan duy vật và thế giới quan duy tâm, để giúp HS có cái nhìn thực và sâu sắc về thế giới
quan, giáo viên sẽ khai thác các hình tượng nghệ thuật trong bài thơ: “Chuyện cổ tích về loài
người” của nhà thơ Xuân Quỳnh.
Hay để giúp học sinh tìm hiểu về vấn đề cơ bản của Triết học, giáo viên sẽ phải giảnggiải đơn giản, dễ hiểu về khái niệm vật chất và ý thức, và để củng cố thêm hiểu biết cho học
sinh về vật chất và ý thức giáo viên có thể kể tóm tắt câu chuyện: “Bộ quần áo mới của
Hoàng Đế”.
Sau khi kể xong câu chuyện, giáo viên đặt câu hỏi: Theo các em bộ quần áo mới củahoàng đế là vật chất hay ý thức? Vì sao? Giáo viên tiếp tục đặt câu hỏi: Quần áo chúng tađang mặc là vật chất hay ý thức? Vậy tại sao bộ quần áo mới của hoàng đế lại là ý thức? Trảlời những câu hỏi đó là học sinh đã hiểu được thế nào là vật chất, thế nào là ý thức và việc tìmhiểu vấn đề cơ bản của Triết học (mối quan hệ giữa vật chất và ý thức) sẽ trở nên nhẹ nhàng,hấp dẫn
Hoặc khi giảng về “Phương pháp luận siêu hình” , giáo viên sẽ cho học sinh đọc truyện
“Thầy bói xem voi” Sau đó, yêu cầu học sinh phân tích yếu tố siêu hình và rút ra ý nghĩa từ
câu chuyện trên
4.3 Sử dụng văn học để củng cố bài học
Đây là hình thức được dùng sau khi kết thúc bài học GV kể cho HS nghe câu chuyện
có nội dung phù hợp với bài học Sau đó tạo ra tình huống có vấn đề từ trong truyện kể và yêucầu HS dựa vào những tư tri thức đã được lĩnh hội để giải quyết tình huống đó
Chẳng hạn để kết thúc chủ đề “Thế giới quan và phương pháp luận”, giáo viên có thể
kể câu chuyện “Nhà bác học qua sông”, yêu cầu học sinh rút ra bài học từ câu chuyện và sau
đó giáo viên kết luận như sau: tri thức của chúng ta chỉ có giá trị khi chúng ta biết vận dụngnhững tri thức ấy vào thực tiễn cuộc sống, còn nếu không biết vận dụng thì dù tri thức ấy cócao siêu đến mấy cũng chỉ như nhà bác học qua sông kia thôi
Đây là cách củng cố bài vừa hấp dẫn vừa hiệu quả Một khi tình huống được tạo ra từcâu chuyện, nó sẽ giúp học sinh liên tưởng một cách tích cực giữa tri thức bài học với ý nghĩa
từ trong câu chuyện Kết quả của việc giải quyết tình huống từ những truyện kể luôn làm chotri thức bài học được tiếp thu một cách sâu sắc và nhớ lâu Củng cố bài học bằng truyện kểcũng làm cho giờ học kết thúc một cách nhẹ nhàng, gây tâm lý hào hứng đón chờ giờ học tiếptheo
Trang 12II NHỮNG KẾT QUẢ BAN ĐẦU
Tác phẩm Văn học là một trong những tư liệu dạy học hiệu quả trong chủ đề “Thế giớiquan và phương pháp luận ” Cụ thể là:
- Học sinh hứng thú say mê, tích cực, chủ động suy nghĩ trong việc tìm tòi kiến thức
- Học sinh mạnh dạn, chủ động tranh luận cởi mở, sôi nổi, tự tin đưa ra ý kiến củamình, lắng nghe ý kiến đóng góp, phê bình của các bạn; từ đó giúp học sinh hoà đồng vớicộng đồng, tạo cho học sinh tự tin hơn
- Trong quá trình học tập lĩnh hội kiến thức của bài học và từ đó biết vận dụng kiếnthức của bài học vào thực tiễn cuộc sống và giải thích được các hiện tượng xảy ra ở địaphương mình
- Học sinh lĩnh hội và nắm được kiến thức bài học một cách nhanh nhất, chắc chắn vànhớ lâu kiến thức đã học
Trang 13- Đã chuyển trọng tâm từ hoạt động của thầy sang hoạt động của trò.
- Đã giúp học sinh từ chỗ học tập thụ động, chuyển sang hoạt động chủ động, học sinhtích cực chiếm lĩnh kiến thức và kĩ năng thu thập, xử lý trình bày trao đổi thông tin thông quacác hoạt động học tập do giáo viên tổ chức hướng dẫn
III KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT
Qua tổ chức thực hiện cũng như qua kết quả nghiên cứu bước đầu từ thực tế giảng dạy,tôi có một vài kiến nghị, đề xuất như sau:
1 Kiện toàn đội ngũ giáo viên Định kỳ tổ chức bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên
môn, phương pháp giảng dạy và cập nhật kiến thức pháp luật cho giáo viên
2 Sử dụng các câu chuyện pháp luật phải kết hợp khéo léo với các phương pháp dạyhọc khác để tạo nên sự cộng hưởng và đạt hiệu quả cao
3 Xây dựng hệ thống tài liệu tham khảo Giáo viên cần có nguồn cung cấp các câu
chuyện pháp luật phong phú: sách báo, phương tiện thông tin đại chúng Mỗi giáo viên phảithường xuyên xây dựng cho mình thói quen đọc và nghe
4 Học sinh rèn luyện cho mình thói quen học tập tích cực, chủ động; rèn luyện kỹ năng
diễn đạt trước lớp
IV LỜI CẢM ƠN
Để nâng cao hứng thú học môn Giáo dục công dân nói chung và môn Giáo dục côngdân lớp 10 nói riêng luôn là niềm trăn trở, suy nghĩ, là mục đích hướng tới của từng giáo viên
có lương tâm và trách nhiệm nghề nghiệp, nhưng đây không phải là điều đạt được dễ dàng.Vấn đề cốt lõi của nâng cao hứng thú học môn Giáo dục công dân lớp 10 là hướng tới hoạtđộng học tập tích cực, chủ động, sáng tạo, chống lại thói quen học tập thụ động, liên hệ trựctiếp với những hành động của bản thân và xã hội là đúng hay sai, từ đó giúp các em tránh
được những cám dỗ của xã hội Bản thân tôi khi lựa chọn đề tài " Giảng dạy chủ dề thế giới quan và phương pháp luận theo hướng tích hợp" đã vấp phải không ít khó khăn trong quá
trình nghiên cứu và thực hiện Phần vì là giáo viên trẻ, kinh nghiệm giảng dạy của bản thânchưa nhiều; phần vì đối tượng học sinh, cơ sở vật chất và thiết bị dạy học còn nhiều hạn chế.Song bằng nỗ lực của bản thân, qua đề tài này tôi muốn có cái nhìn mới về đổi mới phươngpháp giảng dạy môn Giáo dục công dân trong nhà trường phổ thông Từ đó, đưa ra một số kếtluận và kiến nghị qua quá trình thực hiện, với hi vọng rằng đề tài này là một tài liệu tham khảo
có ý nghĩa đối với các đồng nghiệp, đặc biệt là các đồng nghiệp trực tiếp giảng dạy môn Giáodục công dân lớp 10
Đề tài này được đúc kết từ những trải nghiệm của bản thân, do đó không thể tránh khỏinhững hạn chế và bất cập Tôi rất mong nhận được những đóng góp quý báu của đồng nghiệp,
Trang 14Hội đồng khoa học nhà trường, đặc biệt là những thông tin phản hồi từ phía học sinh để đề tàinày hoàn thiện hơn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu nhà trường, tổ chuyên môn, bạn bè đồngnghiệp và các học sinh đã nhiệt tình quan tâm, hưởng ứng và giúp đỡ tôi thực hiện đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
PHẦN II KẾ HOẠCH DẠY HỌC
1 TÊN CHUYÊN ĐỀ: DẠY HỌC CHỦ ĐỀ “THẾ GIỚI QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN” THEO HƯỚNG TÍCH HỢP
2 CƠ SỞ HÌNH THÀNH CHYÊN ĐỀ
- Mục 1 Thế giới quan và phương pháp luận (Bài 1 Thế giới quan duy vật và phươngpháp luận biện chứng , SGK Giáo dục công dân lớp 10)
- Kiến thức tích hợp:
1, Bài thơ “Chuyện cổ tích về loài người”- Xuân Quỳnh.
2, “Bộ quần áo mới của hoàng đế”- Truyện cổ Andersen.
3, Truyện ngụ ngôn “Thầy bói xem voi”.
4, Truyện cười: “Nhà bác học qua sông”
3 ĐỐI TƯỢNG HỌC SINH, DỰ KIẾN SỐ TIẾT DẠY:
- Đối tượng học sinh: Lớp 10
- Dự kiến số tiết dạy: 02
+ Tiết 1: Từ a Vai trò thế giới quan, phương pháp luận của Triết học đến hếtmục b Thế giới quan duy vật và thế giới quan duy tâm
+ Tiết 2 Mục c Phương pháp luận biện chứng và phương pháp luận siêu hình
4 XÂY DỰNG KẾ HOẠCH DẠY HỌC
A PHẦN CHUNG
I Mục tiêu chủ đề
Học xong bài, học sinh cần đạt được:
1 Về kiến thức:
- Hiểu được vai trò thế giới quan, phương pháp luận của Triết học
- Hiểu được nội dung cơ bản của thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng
2 Về kỹ năng:
- Vận dụng kiến thức trên đây để xem xé, lí giải một số sự vật, hiện tượng, quá trình thông thường trong học tập và cuộc sống hằng ngày
3 Về thái độ:
Trang 15- Có ý thức trau dồi thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng.
4 Năng lực cần phát triển
- Tự học; Giải quyết vấn đề; Sáng tạo
II Xây dựng bảng mô tả các mức độ nhận thức
Nội dung Nhận biết
(MĐ1)
Thông hiểu (MĐ2)
Vận dụng thấp (MĐ3)
Vận dụng cao (MĐ4)
Vai trò Triết
học
HS nêu được kháiniệm, vai trò củatriết học
Phân biệt được đối tượng nghiên cứu của triết học với các môn khoa học
cơ bản khácThế giới
quan duy vật,
Thế giới
quan duy tâm
Nêu được thế nào
là TGQ DV, DT
Nhận định đượcthế giới quanduy vật và thếgiới quan duytâm
Vận dụng được phương pháp luận biện chứng trong đời sống hàng ngày
B PHẦN KẾ HOẠCH CHI TIẾT
TIẾT 1 THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN BIỆN CHỨNG
1 Mục tiêu bài học
a Về kiến thức
- Hiểu được vai trò thế giới quan, phương pháp luận của triết học
- Hiểu được nội dung cơ bản của thế giới quan duy vật và thế giới quan duy tâm
b Về kĩ năng
Nhận xét đánh giá được một số biểu hiện của quan điểm duy vật hoặc duy tâm trong
Trang 16c Về thái độ
Có ý thức trau dồi thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng.
d Định hướng phát triển năng lực
- Tự học; Giải quyết vấn đề; Sáng tạo
2 Chuẩn bị của giáo viên và học sinh
a Chuẩn bị của giáo viên:
- Sách giáo khoa GDCD 10
- Sách giáo viên GDCD 10
- Sách dạy học theo chuẩn kiến thức, kỹ năng môn GDC 10
- Thơ, truyện ngắn, tục ngữ, thành ngữ về thế giới quan duy vật và thế giới quan duytâm
- Bản mềm Power point bài này
- Máy tính, máy chiếu
b Chuẩn bị của học sinh:
- Tìm hiểu một số biểu hiện của quan điểm duy vật hoặc duy tâm
- Tranh ảnh, truyện, thơ, tục ngữ, thành ngữ về quan điểm duy vật hoặc duy tâm
3 Tiến trình dạy học
HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG
* Mục tiêu:
- Kích thích HS tự tìm hiểu ý nghĩa của tình huống
- Rèn luyện kĩ năng phân tích, nhận thức, quan sát
* Cách tiến hành: GV tổ chức cho HS nghiên cứu câu chuyện, trao đổi, thỏa luận để
Chúa tạo ra vạn vật trong 24 ngày,
ngày thứ 6 Chúa nói: “Dựa theo hình
tượng của chúng ta để tạo ra người đàn ông…” Sau đó, con người vừa
được tạo ra đó được thổi linh hồn vàohai lỗ mũi, trở thành một người đànông tên gọi là Adam Adam đến từtiếng Do Thái, có nguyên nghĩa là
“bùn đất” Ngài cũng tạo ra một khuvườn (vườn Eden hay vườn Địa Đàng)
và đặt Adam ở đó, cho phép anh ăn tất
Tạo tâm thế học tập cho HS, giúp
HS hứng thú với bài học mới, bộc
lộ những quan điểm, suy nghĩ củacác em về vấn đề đưa ra