Bệnh nhân có sử dụng thuốc đường nhỏ mắt chứa kháng sinh trong vòng 3 tháng trước khi đến khám tại khoa khám chữa bệnh theo yêu cầu của bệnh viện Mắt Trung ương.. - Việc tiếp nối sử dụng
Trang 1CÓ CHỨA KHÁNG SINH TRƯỚC KHI KHÁM TẠI BỆNH VIỆN MẮT
TRUNG ƯƠNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
HÀ NỘI - 2019
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Với sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn tới PGS.Bs
Nguyễn Xuân Hiệp – giám đốc bệnh viện Mắt Trung ương, Ths.Ds Vũ Hồng Minh
– trưởng khoa Dược bệnh viện Mắt Trung ương – hai người thầy đã tận tình giúp đỡ,
dìu dắt tôi từ những bước đi chập chững đầu tiên trên con đường làm khóa luận nhiều hạnh phúc nhưng không ít chông gai này Mọi lời chỉ dạy của hai Thầy không chỉ giúp tôi hoàn thành tốt khóa luận mà còn trở thành hành trang trên con đường đi đến tương lai
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hương – trưởng bộ môn Dược lâm sàng và ThS Nguyễn Tứ Sơn – giảng viên bộ môn Dược lâm sàng –
người cô, người thầy thân yêu dưới mái trường Dược đã luôn quan tâm, giúp đỡ, định hướng từng bước đi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và suốt quãng đường sinh viên của tôi
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến chị Bùi Thị Kim Anh – dược sĩ bệnh viện Mắt Trung ương và bạn Điều Minh Châu Người chị, người bạn luôn theo sát và hết
lòng giúp đỡ tôi ngay từ khi bỡ ngỡ bước chân tới viện đến khi viết những dòng chữ cuối cùng kết thúc khóa luận tốt nghiệp
Tôi xin trân trọng cảm ơn các cô, chú, anh, chị đang làm việc tại khoa Dược
bệnh viện Mắt Trung ương – những người đã chào đón tôi, chỉ bảo tôi rất nhiều
Tôi xin được gửi lời cảm ơn đến toàn thể thầy cô giáo trường Đại học Dược
Hà Nội – những người thầy nhiệt huyết, yêu nghề, luôn tận tâm với sinh viên chúng
tôi
Và cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình tôi, bạn bè tôi – những người đã luôn bên cạnh, che chở tôi, động viên tôi trong suốt chặng đường vừa qua
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 11 tháng 5 năm 2019 Sinh viên
CÓ CHỨA KHÁNG SINH TRƯỚC
KHI KHÁM TẠI BỆNH VIỆN MẮT
TRUNG ƯƠNG
ƯƠNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
Người hướng dẫn:
1 PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hương
2 Ths.Ds Vũ Hồng Minh
Nơi thực hiện:
1 Bộ môn Dược Lâm Sàng
2 Bệnh viện Mắt Trung ương
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn tới PGS.Bs
Nguyễn Xuân Hiệp – giám đốc bệnh viện Mắt Trung ương, Ths.Ds Vũ Hồng Minh
– trưởng khoa Dược bệnh viện Mắt Trung ương – hai người thầy đã tận tình giúp đỡ,
dìu dắt tôi từ những bước đi chập chững đầu tiên trên con đường làm khóa luận nhiều hạnh phúc nhưng không ít chông gai này Mọi lời chỉ dạy của hai Thầy không chỉ giúp tôi hoàn thành tốt khóa luận mà còn trở thành hành trang trên con đường đi đến tương lai
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hương – trưởng bộ môn Dược lâm sàng và ThS Nguyễn Tứ Sơn – giảng viên bộ môn Dược lâm sàng –
người cô, người thầy thân yêu dưới mái trường Dược đã luôn quan tâm, giúp đỡ, định hướng từng bước đi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và suốt quãng đường sinh viên của tôi
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến chị Bùi Thị Kim Anh – dược sĩ bệnh viện
Mắt Trung ương Người chị luôn theo sát và hết lòng giúp đỡ tôi ngay từ khi bỡ ngỡ bước chân tới viện đến khi viết những dòng chữ cuối cùng kết thúc khóa luận tốt nghiệp
Tôi xin trân trọng cảm ơn các cô, chú, anh, chị đang làm việc tại khoa Dược
bệnh viện Mắt Trung ương – những người đã chào đón tôi, chỉ bảo tôi rất nhiều
Tôi xin được gửi lời cảm ơn đến toàn thể thầy cô giáo trường Đại học Dược
Hà Nội – những người thầy nhiệt huyết, yêu nghề, luôn tận tâm với sinh viên chúng
tôi
Và cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình tôi, bạn bè tôi – những người đã luôn bên cạnh, che chở tôi, động viên tôi trong suốt chặng đường vừa qua
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 11 tháng 5 năm 2019 Sinh viên
Đỗ Thị Hiền
Trang 4MỤC LỤC DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU – CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 2
1.1 Tổng quan về thuốc dùng đường nhỏ mắt 2
1.1.1 Các đường dùng thuốc để điều trị các bệnh ở mắt 2
1.1.2 Thuốc nhỏ mắt 2
1.1.3 Thuốc mỡ tra mắt 3
1.2 Tổng quan về thuốc đường nhỏ mắt chứa kháng sinh 3
1.2.1 Các nguyên tắc trong sử dụng và kê đơn kháng sinh 3
1.2.1.1 Nguyên tắc chung về sử dụng kháng sinh 3
1.2.1.2 Thời gian sử dụng kháng sinh trong 1 đợt điều trị 3
1.2.1.3 Khuyến cáo chung về lựa chọn đường dùng kháng sinh trong nhãn khoa 4
1.2.1.4 Quy định kê đơn kháng sinh 4
1.2.2 Các kháng sinh đường nhỏ mắt thường dùng trong nhãn khoa 4
1.2.2.1 Các aminoglycosid 4
1.2.2.2 Chloramphenicol 4
1.2.2.3 Các fluoroquinolon 5
1.2.2.4 Các tetracyclin 5
1.2.2.5 Các macrolid 5
1.2.2.6 Kháng sinh khác 6
1.2.3 Vai trò của kháng sinh đường nhỏ mắt trong điều trị một số bệnh lý nhãn khoa thường gặp ở cộng đồng 6
1.2.3.1 Viêm kết mạc 6
1.2.3.2 Viêm loét giác mạc 8
Trang 51.3 Tổng quan về vấn đề tự dùng thuốc, lạm dụng thuốc trong sử dụng thuốc
đường nhỏ mắt và thuốc kháng sinh đường nhỏ mắt 8
1.3.1 Vài nét về tình hình sử dụng, kháng kháng sinh trên thế giới và Việt Nam 8
1.3.1.1 Tình hình sử dụng kháng sinh trên thế giới và Việt Nam 8
1.3.1.2 Thực trạng kháng kháng sinh trên thế giới và Việt Nam 9
1.3.2 Vấn đề tự dùng thuốc, lạm dụng thuốc trong sử dụng thuốc đường nhỏ mắt 10
1.3.2.1 Định nghĩa tự dùng thuốc 10
1.3.2.2 Các nghiên cứu trên thế giới về vấn đề tự dùng thuốc đường nhỏ mắt 10
1.3.3 Vấn đề tự dùng thuốc, lạm dụng thuốc trong sử dụng thuốc đường nhỏ mắt có chứa kháng sinh 11
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
2.1 Đối tượng nghiên cứu 12
2.1.1 Mẫu nghiên cứu 12
2.1.2 Quy trình thu nhận bệnh nhân vào nghiên cứu 12
2.2 Phương pháp nghiên cứu 14
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 14
2.2.2 Xây dựng bộ câu hỏi phỏng vấn 14
2.2.3 Xây dựng danh mục thuốc làm công cụ phỏng vấn 14
2.2.4 Quy trình nghiên cứu 14
2.2.4.1 Lấy mẫu 14
2.2.4.2 Phỏng vấn bệnh nhân 15
2.2.4.3 Lấy dữ liệu bệnh nhân sau khám 15
2.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu 15
2.3.1 Mô tả đặc điểm sử dụng thuốc đường nhỏ mắt có chứa kháng sinh của bệnh nhân trước khi đến khám tại viện Mắt Trung ương 15
2.3.2 Phân tích mối liên quan giữa: đặc điểm bệnh nhân, nhận thức của bệnh nhân về việc biết họ đang dùng kháng sinh, hành vi dùng thuốc theo đơn 17
Trang 62.4 Xử lý số liệu 17
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ 19
3.1 Mô tả đặc điểm sử dụng thuốc đường nhỏ mắt có chứa kháng sinh của bệnh nhân trước khi đến khám tại viện Mắt Trung ương 19
3.1.1 Tỉ lệ bệnh nhân sử dụng thuốc đường nhỏ mắt có chứa kháng sinh trước khi đến khám tại viện Mắt Trung ương 19
3.1.2 Đặc điểm của bệnh nhân đã sử dụng thuốc đường nhỏ mắt có chứa kháng sinh trước khi đến khám tại viện Mắt Trung ương 20
3.1.2.1 Đặc điểm nhân khẩu học 20
3.1.2.2 Đặc điểm bệnh lý tại mắt 20
3.1.3 Đặc điểm sử dụng kháng sinh đường nhỏ mắt của bệnh nhân nghiên cứu 21
3.1.3.1 Mục đích sử dụng kháng sinh đường nhỏ mắt của bệnh nhân 21
3.1.3.2 Thời gian sử dụng kháng sinh đường nhỏ mắt trên bệnh nhân 24
3.1.3.3 Loại kháng sinh đường nhỏ mắt bệnh nhân đã dùng 24
3.1.3.4 Việc tiếp nối sử dụng kháng sinh trên các bệnh nhân vừa sử dụng kháng sinh đường nhỏ mắt trong vòng 1 tuần trước khi đến khám tại bệnh viện Mắt Trung ương 26
3.2 Phân tích mối liên quan giữa: đặc điểm bệnh nhân, nhận thức của bệnh nhân về việc biết họ đang dùng kháng sinh, hành vi dùng thuốc theo đơn 27
3.2.1 Nhận thức và hành vi 27
3.2.2 Mối liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu học với nhận thức của bệnh nhân về việc biết họ đang dùng kháng sinh và hành vi dùng thuốc theo đơn 28
3.2.3 Mối liên quan giữa nhận thức về việc biết họ đang dùng kháng sinh và hành vi dùng thuốc theo đơn đối với việc sử dụng kháng sinh của bệnh nhân 29
3.2.3.1 Mối liên quan giữa hành vi dùng thuốc theo đơn đối với nhóm kháng sinh và việc sử dụng chế phẩm kháng sinh phối hợp trên bệnh nhân 29
Trang 73.2.3.2 Mối liên quan giữa nhận thức về việc biết họ đang dùng kháng sinh và hành vi dùng thuốc theo đơn với thời gian dùng kháng sinh đường nhỏ mắt của
bệnh nhân 31
3.2.4 Mối liên quan giữa hành vi dùng thuốc theo đơn đối với việc nhận thức trong thuốc đường nhỏ mắt bệnh nhân dùng có kháng sinh 31
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 33
4.1 Bàn luận về vấn đề tự dùng kháng sinh đường nhỏ mắt trên bệnh nhân 33
4.1.1 Vấn đề tự dùng kháng sinh đường nhỏ mắt 33
4.1.2 Mối liên quan giữa: đặc điểm nhân khẩu học, hành vi tự dùng kháng sinh đường nhỏ mắt, nhận thức về việc biết trong thuốc đường nhỏ mắt mình dùng có kháng sinh 34
4.2 Bàn luận về mục đích sử dụng kháng sinh đường nhỏ mắt trên bệnh nhân 35
4.2.1 Mục đích sử dụng kháng sinh đường nhỏ mắt trong nhóm bệnh nhân dùng thuốc theo đơn 35
4.2.2 Mục đích sử dụng kháng sinh đường nhỏ mắt trong nhóm bệnh nhân tự dùng kháng sinh đường nhỏ mắt 36
4.3 Bàn luận về việc sử dụng nhiều kháng sinh đường nhỏ mắt nhóm fluoroquinolon 37
4.4 Bàn luận về vấn đề lạm dụng chloramphenicol đường nhỏ mắt ở cộng đồng 38 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 40 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU – CÁC CHỮ VIẾT TẮT SKD Sinh khả dụng
THPT Trung học phổ thông
TDKMM Tác dụng không mong muốn
ICO Hội đồng quốc tế nhãn khoa
(International Council of Ophthalmology )
WHO Tổ chức Y tế Thế giới (World health organization)
B fragilis Bacteroides fragilis
P aeruginosa Pseudomonas aeruginosa
S aureus Staphylococcus aureus
S epidermidis Staphylococcus epidermidis
H influenzae Haemophilus influenzae
S pneumoniae Streptococcus pneumoniae
S viridans Streptococcus viridans
E coli Escherichia coli
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Các kháng sinh thường dùng trong điều trị viêm kết mạc cấp do vi khuẩn và
phổ tác dụng 7
Bảng 3.1 Tỉ lệ bệnh nhân dùng kháng sinh đường nhỏ mắt trước khi đến khám 19
Bảng 3.2 Phân bố bệnh nhân trong nhóm có đơn thuốc và không có đơn thuốc 19
Bảng 3.3 Đặc điểm nhân khẩu học của bệnh nhân 20
Bảng 3.4 Đặc điểm bệnh lý tại mắt của bệnh nhân 21
Bảng 3.5 Mục đích sử dụng kháng sinh đường nhỏ mắt trong nhóm sử dụng thuốc theo đơn 22
Bảng 3.6 Tỉ lệ bệnh nhân theo hành vi có được thuốc để tự sử dụng 23
Bảng 3.7 Mục đích sử dụng kháng sinh đường nhỏ mắt trong nhóm không có đơn 23
Bảng 3.8 Thời gian sử dụng kháng sinh đường nhỏ mắt 24
Bảng 3.9 Phân bố kháng sinh theo tổng số lượt sử dụng 24
Bảng 3.10 Tỉ lệ bệnh nhân sử dụng chế phẩm kháng sinh phối hợp 25
Bảng 3.11 Phân bố kháng sinh trong 21 bệnh nhân tự dùng với mục đích rửa mắt/dưỡng mắt 25
Bảng 3.12 Phân bố chế phẩm kháng sinh trong 21 bệnh nhân tự dùng với mục đích rửa mắt/dưỡng mắt 26
Bảng 3.13 Tỉ lệ bệnh nhân tiếp tục được kê kháng sinh đường nhỏ mắt trong nhóm dùng thuốc theo đơn 26
Bảng 3.14 Tỉ lệ bệnh nhân tiếp tục được kê kháng sinh đường nhỏ mắt trong nhóm dùng thuốc không có đơn 27
Bảng 3.15 Tỉ lệ bệnh nhân nhận thức được họ đang sử dụng kháng sinh 27
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu học đối với nhận thức của bệnh nhân về việc biết họ đang dùng kháng sinh 28
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu học đối với hành vi dùng thuốc theo đơn 29
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa hành vi dùng thuốc theo đơn với nhóm kháng sinh bệnh nhân dùng 30
Bảng 3.19 Mối liên quan giữa hành vi dùng thuốc theo đơn đối với việc sử dụng chế phẩm kháng sinh phối hợp 30
Bảng 3.20 Mối liên quan giữa giữa nhận thức về việc biết họ đang dùng kháng sinh với thời gian dùng kháng sinh 31
Bảng 3.21 Mối liên quan giữa hành vi dùng thuốc theo đơn đối với việc nhận thức trong thuốc đường nhỏ mắt bệnh nhân dùng có kháng sinh 32
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Kháng sinh là nhóm thuốc cần được quan tâm hàng đầu nhằm đảm bảo mục tiêu
sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả của ngành Y tế Việc sử dụng kháng sinh như con dao hai lưỡi, sử dụng kháng sinh không hợp lý đã gây nên tình trạng kháng kháng sinh đặc biệt nghiêm trọng Tổ chức Y tế Thế giới nhận định, chúng ta đang sống trong
kỉ nguyên phụ thuộc kháng sinh và yêu cầu toàn cầu có trách nhiệm bảo vệ nguồn thuốc kháng sinh quý giá cho thế hệ sau [36]
Để thực hiện sứ mệnh của mình, kháng sinh được đưa vào cơ thể bằng nhiều con đường khác nhau Trong đó, có một con đường đặc biệt nhạy cảm, dễ tổn thương đó là kháng sinh đường nhỏ mắt Cũng như kháng sinh nói chung, kháng sinh đường nhỏ mắt đã và đang đối diện với vấn đề tự dùng thuốc, lạm dụng thuốc để lại những hậu quả vô cùng nghiêm trọng và gia tăng tình trạng kháng kháng sinh Tại một trung tâm nhãn khoa ở thành phố Cordoba, Argentina, một nghiên cứu mô tả cắt ngang đã chỉ ra 24,7% bệnh nhân tự sử dụng kháng sinh nhỏ mắt trong 97 bệnh nhân tự dùng thuốc nhỏ mắt [26] Một nghiên cứu khác được tiến hành ở Ấn Độ đã ghi nhận 35,47% bệnh nhân tự dùng thuốc đường nhỏ mắt trước khi đến khám Trong đó, 35,3% bệnh nhân
sử dụng kháng sinh đường nhỏ mắt và 35,3% bệnh nhân không biết thuốc mình đã tự dùng [22] Tại Việt Nam – một đất nước đang phát triển với nhiễm khuẩn là một trong
số những bệnh đứng hàng đầu cả về tỉ lệ mắc bệnh và tỉ lệ tử vong, có nhiều nghiên cứu về thực trạng sử dụng kháng sinh đường toàn thân nhưng nhóm nghiên cứu chưa tìm ra một cuộc khảo sát nào về việc sử dụng kháng sinh đường nhỏ mắt ở cộng đồng
Ở bệnh viện Mắt Trung ương – bệnh viện chuyên khoa tuyến cuối, nơi tiếp nhận bệnh nhân ở Hà Nội và cả ở các tỉnh, có đầy đủ các điều kiện thuận lợi cho một nghiên cứu
về nhãn khoa Đồng thời, cơ quan quản lý của bệnh viện luôn mong muốn tìm ra những con số cụ thể về sử dụng thuốc nhãn khoa nhằm nâng cao chất lượng khám
chữa bệnh Trước thực trạng đó, chúng tôi tiến hành đề tài ‘‘Khảo sát thực trạng sử
dụng thuốc đường nhỏ mắt có chứa kháng sinh trước khi khám tại bệnh viện Mắt Trung ương’’ với 2 mục tiêu:
1 Mô tả đặc điểm sử dụng thuốc đường nhỏ mắt có chứa kháng sinh của bệnh nhân trước khi đến khám tại viện Mắt Trung ương
2 Phân tích mối liên quan giữa: đặc điểm bệnh nhân, nhận thức của bệnh nhân
về việc biết họ đang dùng kháng sinh, hành vi dùng thuốc theo đơn
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về thuốc dùng đường nhỏ mắt
1.1.1 Các đường dùng thuốc để điều trị các bệnh ở mắt
Mắt là một giác quan hết sức quan trọng của con người được cấu tạo bởi một hệ thống quang – sinh học rất nhạy cảm [5] Mắt có thể mắc nhiều loại bệnh ở các tổ chức, vị trí khác nhau Các bệnh này gây ra bởi nhiều yếu tố [2], [15] Các bệnh ở vùng trước giác mạc như dị ứng, viêm kết mạc, khô mắt, viêm túi lệ Bệnh ở giác mạc như viêm giác mạc do vi khuẩn hoặc virus Các bệnh ở trong nhãn cầu như đục thủy tinh thể, tăng nhãn áp…[1], [15] Do mắt có thể bị bệnh ở trên bề mặt hoặc ở các tổ chức sâu bên trong nên hiện nay có nhiều đường đưa thuốc được áp dụng để điều trị các bệnh ở mắt:
- Dùng thuốc toàn thân
Bệnh nhân có thể uống hoặc tiêm thuốc để điều trị các bệnh ở mắt Dược chất hấp thu vào tuần hoàn chung và phân bố đến các mô ở mắt Đường dùng này có SKD thấp (nhỏ hơn 2%) và liều dùng cao, có thể gây ra các tác dụng không mong muốn, thậm chí gây độc với cơ thể [19]
- Dùng thuốc bằng cách tiêm trực tiếp vào các tổ chức bị bệnh ở mắt
Đường dùng này đạt nồng độ dược chất cao tại mô đích và giảm các tác dụng không mong muốn toàn thân nhưng rất nguy hiểm do xâm lấn và có thể gây tổn thương nhãn cầu [1], [19]
- Dùng thuốc tại chỗ
Vị trí tác dụng có thể ở các lớp khác nhau của giác mạc, kết mạc hay các bộ phận khác ở tiền phòng như mống mắt, thể mi…[19] Trong nhãn khoa, các dạng bào chế dùng tại chỗ gồm: thuốc nhỏ mắt, thuốc mỡ tra mắt, kính áp tròng và hệ điều trị đặt ở mắt, liệu pháp ion [1], [23]
Hiện nay, phần lớn các chế phẩm nhãn khoa trên thị trường là các thuốc đường nhỏ mắt (thuốc nhỏ mắt, thuốc mỡ tra mắt) thông thường do dễ sản xuất quy mô lớn, mức độ tuân thủ điều trị của bệnh nhân cao, hiệu quả sản phẩm, độ ổn định và chi phí hợp lý [28]
1.1.2 Thuốc nhỏ mắt
- Khái niệm
Trang 12Thuốc nhỏ mắt là dung dịch nước, dung dịch dầu hoặc hỗn dịch vô khuẩn của một hay nhiều hoạt chất, dùng để nhỏ vào mắt Chế phẩm cũng có thể được bào chế dưới dạng khô (bột, bột đông khô, viên nén) vô khuẩn, được hòa tan hoặc phân tán vào một chất lỏng vô khuẩn thích hợp khi dùng [3]
- Ưu nhược điểm
Là một dạng bào chế dùng tại chỗ, thuốc nhỏ mắt thuận tiện trong việc sử dụng, bệnh nhân có thể tự dùng thuốc theo chỉ dẫn Ngoài ra, sau khi sử dụng, dược chất thường tập trung tại mắt và ít hấp thu vào vòng tuần hoàn, do đó ít gây ra tác dụng phụ hơn so với đường dùng toàn thân [1] Tuy nhiên, SKD của các chế phẩm thuốc nhỏ mắt thường rất thấp, chỉ khoảng 5 – 10% [18]
1.1.3 Thuốc mỡ tra mắt
- Khái niệm
Thuốc mỡ tra mắt là những chế phẩm thuốc mỡ dùng cho mắt chứa một hoặc nhiều dược chất hòa tan hoặc phân tán trong tá dược, được xếp vào nhóm các chế phẩm vô khuẩn Tá dược và dược chất dùng cho thuốc mỡ tra mắt phải không bị phân hủy khi tiệt khuẩn bằng nhiệt [3]
- Ưu nhược điểm
So với thuốc nhỏ mắt, thuốc mỡ tra mắt có SKD cao hơn do dược chất được giải phóng từ từ, ít bị pha loãng bởi hệ thống nước mắt và thời gian tiếp xúc với niêm mạc mắt kéo dài hơn Tuy nhiên, dạng bào chế này làm mờ mắt tạm thời khi sử dụng [1]
1.2 Tổng quan về thuốc đường nhỏ mắt chứa kháng sinh
1.2.1 Các nguyên tắc trong sử dụng và kê đơn kháng sinh
1.2.1.1 Nguyên tắc chung về sử dụng kháng sinh
- Chỉ sử dụng kháng sinh khi có nhiễm khuẩn
- Lựa chọn kháng sinh hợp lý
- Sử dụng kháng sinh đúng liều, đúng cách và đủ thời gian
- Phối hợp kháng sinh hợp lý
- Dự phòng kháng sinh hợp lý [2]
1.2.1.2 Thời gian sử dụng kháng sinh trong 1 đợt điều trị
Độ dài đợt điều trị phụ thuộc vào tình trạng nhiễm khuẩn, vị trí nhiễm khuẩn và sức đề kháng của người bệnh Các trường hợp nhiễm khuẩn nhẹ và trung bình thường đạt kết quả sau 7 - 10 ngày nhưng những trường hợp nhiễm khuẩn nặng, nhiễm khuẩn
Trang 13ở những tổ chức mà kháng sinh khó thâm nhập (màng tim, màng não, xương – khớp…), bệnh lao… thì đợt điều trị kéo dài hơn nhiều
Không nên điều trị kéo dài để tránh kháng thuốc, tăng tỷ lệ xuất hiện tác dụng không mong muốn và tăng chi phí điều trị [4]
Nhìn chung, mọi khuyến cáo áp dụng cho kháng sinh toàn thân cũng áp dụng cho kháng sinh dùng trong nhãn khoa Điểm khác biệt cơ bản chủ yếu liên quan đến đường dùng thuốc – khả năng thấm của kháng sinh vào các tổ chức nhãn cầu [4] Do đó với kháng sinh đường nhỏ mắt, độ dài đợt điều trị khuyến cáo vẫn là 7 – 10 ngày Đối với các trường hợp nhiễm khuẩn nặng hoặc nhiễm khuẩn mạn tính thì đợt điều trị sẽ kéo dài hơn
1.2.1.3 Khuyến cáo chung về lựa chọn đường dùng kháng sinh trong nhãn khoa
- Ưu tiên điều trị bằng đường nhỏ mắt
- Chỉ khi điều trị bằng đường nhỏ mắt kém hiệu quả, hoặc đối với nhiễm khuẩn nặng, cần phối hợp thêm phương pháp truyền rửa tại mắt, tiêm tại mắt hoặc các phương pháp điều trị toàn thân [4]
1.2.1.4 Quy định kê đơn kháng sinh
Kháng sinh là các thuốc chỉ được bán khi có đơn của bác sĩ [34], [37]
1.2.2 Các kháng sinh đường nhỏ mắt thường dùng trong nhãn khoa
1.2.2.1 Các aminoglycosid
Phổ tác dụng: phổ rộng, ưu thế trên vi khuẩn Gram (–)
TDKMM: phản ứng quá mẫn, ngứa/sưng mí mắt, đỏ mắt.Dùng thuốc đường nhỏ mắt trong thời gian dài có thể gây độc với biểu mô giác mạc, chợt biểu mô dạng đốm, chậm liền biểu mô, thiếu máu, phù kết mạc Amikacin ít độc hơn so với các aminoglycosid khác [4], [25]
Các chế phẩm: Neomycin – dung dịch/mỡ tra mắt, đơn độc hoặc phối hợp kháng sinh polymycin B hoặc với corticoid; gentamicin – dung dịch hoặc mỡ tra mắt nồng độ 0,3%; tobramycin: dung dịch hoặc mỡ tra mắt nồng độ 0,3%, đơn độc hoặc phối hợp với corticoid [4], [5]
1.2.2.2 Chloramphenicol
Phổ tác dụng: Kháng sinh nhóm phenicol có phổ kháng khuẩn rộng, bao gồm các
cầu khuẩn Gram-dương, một số vi khuẩn Gram-âm, các chủng kỵ khí như Clostridium
spp., B fragilis và vi khuẩn không điển hình như Mycoplasma, Chlamydia, Rickettsia
Trang 14Chloramphenicol thấm tốt qua biểu mô giác mạc khi tra mắt[4]
TDKMM: phản ứng quá mẫn, nóng rát, cảm giác châm chích tại mắt [24]
Chế phẩm: Chloramphenicol dạng mỡ, dung dịch tra mắt 0,4%, hiệu quả cao trong điều trị nhiễm khuẩn ngoài nhãn cầu Tuy nhiên, hiện nay hiệu quả điều trị của nhóm này giảm, tỷ lệ kháng thuốc tăng [4], [5], [32]
1.2.2.3 Các fluoroquinolon
Phổ tác dụng: phổ rộng, có sự khác nhau giữa các thế hệ Fluoroquinolon là các quinolon thế hệ 2,3,4
- Thế hệ 2 (ofloxacin, ciprofloxacin): tác dụng chủ yếu trên vi khuẩn Gram (–) ,
có tác dụng trên vi khuẩn không điển hình Ciprofloxacin có tác dụng trên
P aeruginosa
- Thế hệ 3 (levofloxacin): tác dụng trên vi khuẩn Gram (–), vi khuẩn không điển hình, trên cả phế cầu và vi khuẩn Gram (+)
- Thế hệ 4 (moxifloxacin, gatifloxacin): phổ rất rộng, tác dụng mạnh trên vi
khuẩn Gram (+), Gram (–) kể cả P aeruginosa, vi khuẩn không điển hình và
vi khuẩn kị khí [4], [25]
Khả năng thấm qua giác mạc tốt khi dùng đường nhỏ mắt [4], [5]
TDKMM: khó chịu/đau mắt, phù mi mắt, cảm giác có dị vật trong mắt, ngứa mắt, sung huyết kết mạc, cảm giác bỏng mắt nhẹ [25]
Chế phẩm: dung dịch, mỡ tra mắt ofloxacin 0,3%, dung dịch nhỏ mắt
ciprofloxacin 0,3%, levofloxacin 0,5%, moxifloxacin 0,5%, gatifloxacin 0,3% [4], [5]
1.2.2.4 Các tetracyclin
Phổ tác dụng: phổ rộng, ưu thế trên vi khuẩn Gram âm Hiện nay, hiệu quả điều trị của nhóm này giảm mạnh, tỷ lệ kháng thuốc tăng Tuy nhiên, tetracyclin vẫn hiệu quả trong điều trị và phòng ngừa viêm kết mạc sơ sinh
Tetracyclin thấm tốt qua biểu mô giác mạc khi tra mắt
Trang 15với tetracyclin hoặc trẻ em, đặc biệt có tác dụng điều trị trong bệnh mắt hột và viêm
Phổ tác dụng: là kháng sinh diệt khuẩn, vi khuẩn Gram âm nhạy cảm bao gồm:
Enterobacter, Klepsiella, P aeruginosa…
Dùng đường nhỏ mắt để điều trị loét giác mạc
Chế phẩm: dạng tra mắt phối hợp với kháng sinh hoặc kháng viêm khác (neomycin, corticoid…) [4]
Bacitracin
Phổ tác dụng: chủ yếu tác dụng trên vi khuẩn Gram (+)
Chủ yếu điều trị viêm bờ mi
Chế phẩm: mỡ tra mắt đơn độc, phối hợp với polymycin và neomycin [4], [5]
1.2.3 Vai trò của kháng sinh đường nhỏ mắt trong điều trị một số bệnh lý nhãn khoa thường gặp ở cộng đồng
1.2.3.1 Viêm kết mạc
Viêm kết mạc là bệnh nhãn khoa thường gặp Nguyên nhân gây viêm kết mạc
thường do virus, vi khuẩn, chlamydia và dị ứng Trong đó, viêm kết mạc do virus là
nguyên nhân phổ biến nhất và thường không cần điều trị, viêm kết mạc do vi khuẩn là nguyên nhân phổ biến thứ 2 với hầu hết các trường hợp không biến chứng và khỏi trong 1 đến 2 tuần Để xác định nguyên nhân gây viêm kết mạc cần khai thác thông tin
về triệu chứng bệnh, tiền sử bệnh về mắt, bệnh mắc kèm, yếu tố gia đình và xã hội; kiểm tra mắt và xét nghiệm vi sinh [13], [16]
Vai trò của kháng sinh đường nhỏ mắt trong điều trị viêm kết mạc: Kháng sinh đường nhỏ mắt là lựa chọn đầu tay trong điều trị viêm kết mạc do vi khuẩn Sử dụng kháng sinh đường nhỏ mắt giúp giảm triệu chứng, giảm thời gian điều trị và giảm nguy
cơ tái phát Phương pháp lý tưởng để điều trị viêm kết mạc do vi khuẩn là xác định sinh vật gây bệnh và lựa chọn kháng sinh được chứng minh là có hiệu quả trên vi khuẩn đó Trong trường hợp không có điều kiện xét nghiệm vi sinh, kháng sinh đường
Trang 16nhỏ mắt phổ rộng là lựa chọn điều trị Các kháng sinh phổ rộng được chứng minh có hiệu quả tương đương nhau trong điều trị viêm kết mạc do vi khuẩn chưa xác định được căn nguyên Việc lựa chọn kháng sinh phụ thuộc vào đặc điểm sẵn có tại địa phương, tiền sử dị ứng kháng sinh, hiện tượng kháng kháng sinh và giá thành Các kháng sinh thường dùng trong điều trị viêm kết mạc cấp do vi khuẩn và phổ tác dụng
của chúng được trình bày trong bảng 1.1 [13]
Bảng 1.1 Các kháng sinh thường dùng trong điều trị viêm kết mạc cấp do vi
Mỡ tra mắt: 4 lần/ngày/1 tuần
Dung dịch nhỏ mắt: 1–2 giọt, 4 lần/ngày/1 tuần
Ofloxacin: 1–2 giọt, 4 lần/ngày/1 tuần
Trang 171.2.3.2 Viêm loét giác mạc
Viêm giác mạc là một trong những nguyên nhân chính gây giảm thị lực và mù lòa trên thế giới Nguyên nhân gây viêm giác mạc thường do vi khuẩn, nấm, virus và amip Chẩn đoán viêm giác mạc dựa trên triệu chứng lâm sàng và xét nghiệm vi sinh Chẩn đoán đúng nguyên nhân gây viêm giác mạc thực sự quan trọng giúp xác định phương pháp điều trị tiến tới loại bỏ nhiễm trùng [12]
Vai trò của kháng sinh đường nhỏ mắt trong điều trị viêm loét giác mạc: Điều trị đặc hiệu viêm loét giác mạc do vi khuẩn là sử dụng kháng sinh Lựa chọn kháng sinh tốt nhất là dựa trên kháng sinh đồ Trong trường hợp không xác định được vi khuẩn gây bệnh phải dùng kháng sinh phổ rộng [12], [17], [35]
- Nếu do vi khuẩn gram (-): tobramycin 0,3% hoặc levofloxacin 0,5%
- Nếu do vi khuẩn gram (+): ofloxacin 0,3% hoặc moxifloxacin 0,5% hoặc gatifloxacin o,5% Moxifloxacin và gatifloxacin có phổ kháng khuẩn rộng nên có thể dùng điều trị cả vi khuẩn Gram (-) [35]
Đường dùng thuốc tùy theo mức độ viêm loét giác mạc Việc sử dụng kháng sinh đường nhỏ mắt nồng độ cao, dùng nhiều lần là tiêu chuẩn để điều trị viêm loét giác mạc do vi khuẩn Trong những trường hợp nặng, sử dụng liều nạp bằng cách 5 phút đến 15 phút tra 1 lần trong giờ đầu tiên, sau đó giãn khoảng cách thời gian sau15 phút đến 1 giờ tra 1 lần Có thể truyền nhỏ giọt kháng sinh liên tục vào mắt để duy trì nồng
độ thuốc cao trong túi kết mạc [17], [35]
1.3 Tổng quan về vấn đề tự dùng thuốc, lạm dụng thuốc trong sử dụng thuốc đường nhỏ mắt và thuốc kháng sinh đường nhỏ mắt
1.3.1 Vài nét về tình hình sử dụng, kháng kháng sinh trên thế giới và Việt Nam
1.3.1.1 Tình hình sử dụng kháng sinh trên thế giới và Việt Nam
Thuốc, đặc biệt là thuốc kháng sinh có vai trò quan trọng trong việc điều trị bệnh, tuy nhiên thuốc có những tác dụng phụ, nếu sử dụng không đúng cách hoặc tự ý sử dụng sẽ gây ra những hậu quả ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người như kéo dài thời gian điều trị, gia tăng tỷ lệ tử vong của bệnh nhân, tăng chi phí điều trị, đặc biệt là gia tăng tình trạng kháng kháng sinh
Một cuộc khảo sát bệnh nhân ở 11 quốc gia trên toàn thế giới về việc không tuân thủ điều trị kháng sinh trong điều trị nhiễm trùng cộng đồng cấp tính được tiến hành bởi Pechere J C., Hughes D và cộng sự Cuộc khảo sát tiến hành trên 4514 bệnh nhân,
Trang 18trả lời cuộc phỏng vấn gồm 60 câu hỏi Kết quả là 22,3% số bệnh nhân được dùng thuốc kháng sinh điều trị nhiễm trùng cấp tính tại cộng đồng thừa nhận không tuân thủ đầy đủ liệu trình[29]
Tại Việt Nam, việc sử dụng kháng sinh luôn ở mức đáng báo động Tình trạng lạm dụng kháng sinh vẫn diễn ra khá phổ biến trong các cơ sở y tế Tỷ lệ có đơn thuốc kháng sinh tại các tuyến y tế là 71,2%, có nơi lên đến 95% [11] Tại bệnh viện, tỉ lệ này là 60,6% [6] và có thể lên đến 75,5% trong nhóm bệnh nhân nội trú [8] Một nghiên cứu về sử dụng kháng sinh trong bệnh viện Việt Nam cho thấy có khoảng 1/3
số bệnh nhân có chỉ định kê đơn kháng sinh không hợp lý [31]
Trong nhãn khoa, một nghiên cứu quan sát, hồi cứu được tiến hành trên 340 372 bệnh nhân trong một hệ thống cơ sở dữ liệu lớn trên toàn quốc của Hoa Kỳ với viêm kết mạc cấp tính được chẩn đoán từ năm 2001 đến năm 2014 Mục tiêu của nghiên cứu
là đánh giá mức độ thường xuyên bệnh nhân viêm kết mạc cấp tính được kê đơn kháng sinh tại chỗ trong khi kháng sinh hiếm khi cần thiết để điều trị viêm kết mạc cấp tính Kết quả là gần 60% bệnh nhân viêm kết mạc cấp được kê kháng sinh và cứ 5 người thì
có 1 người được kê chế phẩm thuốc chứa kháng sinh kết hợp với corticoid [30]
1.3.1.2 Thực trạng kháng kháng sinh trên thế giới và Việt Nam
Việc sử dụng và kê đơn kháng sinh chưa hợp lý là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng kháng kháng sinh của vi khuẩn Báo cáo năm 2014 của WHO về tình hình kháng kháng sinh cho thấy bức tranh toàn cảnh về tình hình kháng kháng sinh không chỉ của vi khuẩn mà còn cả với kí sinh trùng, virus và nấm Báo cáo nhấn mạnh về tình hình kháng cephalosporin thế hệ 3 và fluoroquinolon của vi khuẩn
Escherichia coli Dữ liệu về E coli đề kháng cephalosporin báo cáo từ 86 (44%) quốc
gia thành viên và kháng sinh quinolon từ 92 (47%) quốc gia thành viên Bên cạnh đó,
phế trực khuẩn Klebsiella pneumoniae cũng đề kháng với cephalosporin thế hệ 3 và carbapenem Dữ liệu về K.pneumoniae đề kháng cephalosporin được báo cáo từ 87
(45%) quốc gia thành viên và kháng carbapenem từ 71 (37%) quốc gia thành viên
Ngoài ra, báo cáo còn đề cập lậu cầu Neisseria gonorrhoeae cũng giảm nhạy cảm với
cephalosporin thế hệ 3 [33]
Tại Việt Nam, do điều kiện khí hậu thuận lợi cho sự phát triển vi sinh vật cùng với việc thực hiện các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn và quản lý sử dụng kháng sinh chưa hiệu quả nên vấn đề kháng kháng sinh ở Việt Nam ngày càng trở lên trầm
Trang 19trọng, đáng báo động [9] Mức độ kháng kháng sinh phổ biến trong nhóm vi khuẩn
Gram (–) bao gồm: Acinetobacter sp., Pseudomonas, E coli và Klebsiella sp Khoảng
30–70% vi khuẩn Gram(–) kháng các kháng sinh cephalosporin thế hệ 3 và 4 [8]
Đề kháng kháng sinh không chỉ xảy ra đối với kháng sinh toàn thân mà còn với kháng sinh đường nhỏ mắt Nan Wang và cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu hồi cứu trên tất cả các bệnh nhân nghi ngờ nhiễm khuẩn giác mạc ở một trung tâm nhãn khoa phía Nam Trung Quốc từ tháng 1/2010 đến 12/2013 Mục đích của nghiên cứu là
để khảo sát phổ kháng khuẩn của 8 kháng sinh ceftazidime, cefuroxim, cefazolin, levofloxacin, ofloxacin, neomycin, tobramycin, chloramphenicol và mô hình kháng thuốc trong nhiễm trùng giác mạc Kết quả chỉ ra trong 5 kháng sinh đường nhỏ mắt: levofloxacin, ofloxacin, neomycin, tobramycin, chloramphenicol, khả năng kháng của
vi khuẩn với chloramphenicol cao nhất Tỉ lệ kháng chloramphenicol của vi khuẩn Gram (+) và Gram (–) lần lượt là 34,35% và 60,19% [32]
1.3.2 Vấn đề tự dùng thuốc, lạm dụng thuốc trong sử dụng thuốc đường nhỏ mắt
1.3.2.1 Định nghĩa tự dùng thuốc
Tự dùng thuốc được định nghĩa bởi Tổ chức Y tế Thế giới là sự lựa chọn và sử dụng thuốc bởi các cá nhân để điều trị bệnh hoặc triệu chứng tự nhận biết Hành vi này bao gồm mua thuốc không đơn, sử dụng phần còn lại của thuốc được kê đơn trước đó, dùng chung với các thành viên khác trong gia đình hoặc các nhóm xã hội hoặc lạm dụng đơn thuốc y tế bằng cách kéo dài, làm gián đoạn hoặc thay đổi liều dùng và thời gian dùng [20], [26]
1.3.2.2 Các nghiên cứu trên thế giới về vấn đề tự dùng thuốc đường nhỏ mắt
Carvalho Regina Souza, Kara-José Newton và cộng sự đã thực hiện một cuộc khảo sát phân tích cắt ngang tại phòng cấp cứu nhãn khoa của một bệnh viện đa khoa
ở Sao Paulo, Brazil trong vòng 1 tuần (từ 1/4 đến 8/4 năm 2006) Nghiên cứu được tiến hành để xác định việc thực hành tự dùng thuốc của bệnh nhân trong điều trị các bệnh lý cấp tính ở mắt 561 bệnh nhân tham gia cuộc khảo sát trả lời phỏng vấn với công cụ khảo sát là một bảng câu hỏi bán cấu trúc Kết quả của nghiên cứu cho thấy 40,5% bệnh nhân tự dùng thuốc Hành vi này xảy ra độc lập với trình độ học vấn, giới tính, tuổi tác và bản chất của tình trạng bệnh lý tại mắt [14]
Một nghiên cứu mô tả cắt ngang đã được tiến hành bởi Noopur Gupta, Praveen Vashist và cộng sự tại 25 cụm dân cư vùng nông thôn được chọn ngẫu nhiên ở Ấn Độ
Trang 20Mục đích của nghiên cứu là để xác định loại thuốc, nguồn gốc, cách sử dụng thuốc mắt truyền thống và việc thực hành tự dùng thuốc để điều trị bệnh về mắt trong cộng đồng Kết quả là trong 2160 người tham gia phỏng vấn, 18,2% bệnh nhân tự sử dụng thuốc điều trị bệnh về mắt mà không được thăm khám và kê đơn bởi một bác sĩ nhãn khoa Không có sự khác biệt về tuổi, giới, trình độ học vấn, nơi sinh sống giữa các bệnh nhân tự dùng thuốc này [27]
1.3.3 Vấn đề tự dùng thuốc, lạm dụng thuốc trong sử dụng thuốc đường nhỏ mắt
có chứa kháng sinh
Một nghiên cứu mô tả cắt ngang đã được tiến hành bởi Marquez G E., Torres V
E và cộng sự từ tháng 8 đến tháng 10 năm 2009 tại một trung tâm nhãn khoa ở thành phố Cordoba, Argentina Mục đích của nghiên cứu là để xác định việc thực hành tự dùng thuốc trong điều trị các bệnh về mắt và thông tin bệnh nhân – người tự dùng thuốc Nghiên cứu được tiến hành trên 379 bệnh nhân có tuổi từ 17 trở lên Tất cả các bệnh nhân hoàn thành một bảng câu hỏi bán cấu trúc ngắn bao gồm các dữ liệu nhân khẩu học như tuổi, giới, cấp độ giáo dục và việc sử dụng thuốc nhỏ mắt trong 12 tháng trước Kết quả ghi nhận 97 bệnh nhân (25,6%) tự dùng thuốc nhỏ mắt mắt trong vòng một năm trước.Trong đó, 4,1% bệnh nhân tự sử dụng kháng sinh đường nhỏ mắt đơn độc và 20,6% bệnh nhân dùng chế phẩm kháng sinh đường nhỏ mắt kết hợp [26] Kadri Rajani, Hegde Sudhir và cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu cắt ngang trên 327 bệnh nhân đến khám tại khoa ngoại trú của bệnh viện mắt ở Ấn Độ Nghiên cứu này được thực hiện để đánh giá việc lạm dụng thuốc nhỏ mắt, mỡ đường nhỏ mắt, xác định thái độ và kiến thức của người tự dùng thuốc và yếu tố thúc đẩy hành vi tự dùng thuốc Kết quả cho thấy 35,47% (116) bệnh nhân tự dùng thuốc trước khi đến khám Trong 116 bệnh nhân này, 24,1% bệnh nhân tự sử dụng thuốc mỡ chloramphenicol, 5,2% bệnh nhân dùng thuốc nhỏ mắt gentamicin, 6% bệnh nhân dùng thuốc nhỏ mắt ciprofloxacin, 35,3% bệnh nhân không biết thuốc đã tự dùng Đỏ mắt là triệu chứng phổ biến nhất khiến bệnh nhân tự dùng thuốc [22]
Trong phạm vi các nguồn tài liệu tham khảo tiếp cận được, chúng tôi nhận thấy
có rất ít các nghiên cứu về vấn đề tự dùng thuốc, lạm dụng thuốc đường nhỏ mắt chứa kháng sinh và chúng tôi chưa tìm thấy một nghiên cứu nào về vấn đề này được thực hiện tại Việt Nam Đây là một trong những lý do để chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu này
Trang 21CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Mẫu nghiên cứu
Nghiên cứu bao gồm các bệnh nhân đang chờ khám tại các phòng khám thuộc khoa khám chữa bệnh theo yêu cầu của bệnh viện Mắt Trung ương trong thời gian từ 1/3/2019 đến 5/4/2019
- Tiêu chuẩn lựa chọn
Bệnh nhân đủ khả năng trả lời phỏng vấn và đồng ý tham gia khảo sát
Bệnh nhân có sử dụng thuốc đường nhỏ mắt chứa kháng sinh trong vòng 3 tháng trước khi đến khám tại khoa khám chữa bệnh theo yêu cầu của bệnh viện Mắt Trung ương
- Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân dưới 18 tuổi
Bệnh nhân không hoàn thành bộ câu hỏi phỏng vấn vì bất cứ lý do gì
2.1.2 Quy trình thu nhận bệnh nhân vào nghiên cứu
Bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu sau khi được xác nhận có sử dụng thuốc đường nhỏ mắt chứa kháng sinh trong vòng 3 tháng trước khi đến khám Việc có sử dụng hay không được thể hiện thông qua tên thuốc bệnh nhân đã dùng Để xác định chính xác tên thuốc, bệnh nhân được hỏi lần lượt câu số 1, 2, 3 trong bộ câu hỏi phỏng vấn ở Phụ lục 1:
- Câu số 1: “Lần gần đây nhất ông/bà/anh/chị sử dụng thuốc nhỏ mắt/thuốc mỡ tra mắt là khi nào?”
- Câu số 2: “Ông/bà/anh/chị có sử dụng thuốc đó theo đơn của bác sĩ không ?”
- Câu số 3: “Ông/ bà/ anh/ chị có nhớ tên thuốc nhỏ mắt/thuốc mỡ tra mắt đã dùng không? ”
Quy trình thu nhận bệnh nhân vào nghiên cứu được trình bày chi tiết trong sơ đồ sau:
Trang 22Quy trình thu nhận bệnh nhân vào nghiên cứu
Mời bệnh nhân tham gia
khảo sát
Bệnh nhân có sử dụng thuốc đường nhỏ mắt trong vòng 3
Bệnh nhân không nhớ tên thuốc
Bệnh nhân nhớ tên
thuốc
Gọi điện thoại/nhắn tin xin tên thuốc/hình ảnh thuốc và thuốc đó là thuốc đường nhỏ mắt chứa kháng sinh
Bệnh nhân không chỉ được thuốc họ đã dùng trong danh sách thuốc [Phụ lục 2]
Đưa bệnh nhân vào mẫu
nghiên cứu
Trang 232.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp mô tả cắt ngang
2.2.2 Xây dựng bộ câu hỏi phỏng vấn
- Tổng quan tài liệu [4], [14], [22], [26], [27]
- Xây dựng bộ câu hỏi sơ bộ: là bộ câu hỏi bán cấu trúc được thiết kế chủ yếu để giải quyết 2 mục tiêu Kết cấu của bộ câu hỏi chia làm 3 phần:
+ Phần 1: Gồm mã phiếu khám, tên và đặc điểm nhân khẩu học của bệnh nhân và tiền sử bệnh lý tại mắt Đặc điểm nhân khẩu học gồm tuổi, giới, nơi sống, trình
- Tham khảo dược sĩ, bác sĩ bệnh viện Mắt Trung ương
- Tiến hành khảo sát thử nghiệm bộ câu hỏi gồm 10 câu hỏi bán cấu trúc trên 50 bệnh nhân
- Hoàn thành bộ câu hỏi: Bộ câu hỏi được đưa vào khảo sát chính thức gồm 7 câu hỏi trong “ Phiếu khảo sát tình hình sử dụng thuốc đường nhỏ mắt chứa kháng sinh trước khi vào viện” được trình bày ở Phụ lục 1
2.2.3 Xây dựng danh mục thuốc làm công cụ phỏng vấn
- Tham khảo danh mục thuốc đường nhỏ mắt tại nhà thuốc cộng đồng
- Tham khảo danh mục thuốc đường nhỏ mắt tại nhà thuốc bệnh viện
- Xây dựng danh mục thuốc có hình ảnh trực quan được chụp tại nhà thuốc cộng đồng và nhà thuốc bệnh viện [Phụ lục 2]
- Bổ sung và hoàn thiện danh mục thuốc trong quá trình khảo sát thử nghiệm dựa trên những thuốc mà bệnh nhân đã sử dụng trước khi đến khám tại bệnh viện
2.2.4 Quy trình nghiên cứu
2.2.4.1 Lấy mẫu
- Phương pháp lấy mẫu:
Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện để phù hợp với điều kiện nghiên cứu
Trang 24Chúng tôi tiến hành khảo sát các bệnh nhân thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ đang chờ khám tại các phòng khám thuộc khoa khám chữa bệnh theo yêu cầu của bệnh viện Mắt Trung ương trong thời gian từ 1/3/2019 đến 5/4/2019
- Phương pháp thu thập số liệu:
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp Bệnh nhân đồng ý tham gia vào nghiên cứu được hỏi về bộ câu hỏi trong “Phiếu khảo sát tình hình sử dụng thuốc đường nhỏ mắt chứa kháng sinh trước khi vào viện” trình bày
ở Phụ lục 1 Các câu trả lời của bệnh nhân sẽ được ghi lại theo phiếu này
2.2.4.2 Phỏng vấn bệnh nhân
- Mời bệnh nhân tham gia khảo sát Tất cả các bệnh nhân đều được giải thích về mục đích của nghiên cứu và việc đồng ý hay không đồng ý tham gia phỏng vấn không ảnh hưởng đến việc khám chữa bệnh của bệnh nhân Những bệnh nhân trong mẫu khảo sát là những bệnh nhân đã đồng ý bằng lời là sẽ trả lời các câu hỏi được đưa ra
- Xác định bệnh nhân có sử dụng kháng sinh đường nhỏ mắt hay không
- Phỏng vấn bệnh nhân các câu hỏi tiếp theo trong bộ câu hỏi ở Phụ lục 1
2.2.4.3 Lấy dữ liệu bệnh nhân sau khám
- Truy cập vào cơ sở dữ liệu bệnh viện tại khoa Dược và lấy dữ liệu về chẩn đoán,
về thuốc sử dụng sau khám trong đơn thuốc bệnh nhân được kê
2.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu
2.3.1 Mô tả đặc điểm sử dụng thuốc đường nhỏ mắt có chứa kháng sinh của bệnh nhân trước khi đến khám tại viện Mắt Trung ương
2.3.1.1 Tỉ lệ bệnh nhân sử dụng thuốc đường nhỏ mắt có chứa kháng sinh trước khi đến khám tại viện Mắt Trung ương
- Tỉ lệ bệnh nhân dùng kháng sinh đường nhỏ mắt trước khi đến khám
- Tỉ lệ bệnh nhân dùng kháng sinh đường nhỏ mắt trong vòng 1 tuần trước khi đến khám
- Tỉ lệ bệnh nhân dùng kháng sinh đường nhỏ mắt trong 2 nhóm bệnh nhân: có đơn thuốc và không có đơn thuốc
2.3.1.2 Đặc điểm của bệnh nhân đã sử dụng thuốc đường nhỏ mắt có chứa kháng sinh trước khi đến khám tại viện Mắt Trung ương
- Đặc điểm nhân khẩu học
Trang 25+ Tuổi trung bình, tuổi thấp nhất, tuổi cao nhất, tỉ lệ bệnh nhân theo nhóm tuổi + Tỉ lệ bệnh nhân giới tính nam, nữ
+ Tỉ lệ bệnh nhân nông thôn, thành thị
+ Tỉ lệ bệnh nhân theo các cấp độ giáo dục
- Đặc điểm bệnh lý tại mắt
+ Tiền sử bệnh lý bệnh nhân: Các bệnh lý thu được trong mục tiền sử mắc bệnh của đơn bệnh nhân mang theo hoặc khai thác thông qua phỏng vấn bệnh nhân về những bệnh lý đã được chẩn đoán trước đó
2.3.1.3 Đặc điểm sử dụng kháng sinh đường nhỏ mắt của bệnh nhân nghiên cứu
- Mục đích sử dụng kháng sinh đường nhỏ mắt của bệnh nhân ở 2 nhóm: có đơn thuốc và không có đơn thuốc
+ Phân bố bệnh lý trên nhóm bệnh nhân dùng thuốc theo đơn
+ Phân bố triệu chứng bất thường xuất hiện trong nhóm bệnh nhân dùng thuốc không theo đơn
+ Tỉ lệ bệnh nhân dùng kháng sinh với mục đích rửa mắt/dưỡng mắt
- Thời gian sử dụng kháng sinh đường nhỏ mắt của bệnh nhân ở 2 nhóm: có đơn thuốc và không có đơn thuốc
+ Tỉ lệ bệnh nhân dùng kháng sinh đường nhỏ mắt dưới 1 tuần, 1-2 tuần, 3-4 tuần
và trên 4 tuần
- Loại kháng sinh đường nhỏ mắt bệnh nhân đã dùng ở 2 nhóm: có đơn và không
có đơn
+ Phân bố kháng sinh theo tổng số lượt bệnh nhân
+ Tỉ lệ bệnh nhân sử dụng chế phẩm kháng sinh phối hợp
+ Phân bố kháng sinh trong 21 bệnh nhân tự dùng với mục đích rửa mắt/dưỡng mắt
+ Phân bố các kháng sinh trong 21 bệnh nhân tự dùng với mục đích rửa mắt/dưỡng mắt theo tên biệt dược và hoạt chất
- Việc tiếp nối sử dụng kháng sinh trên các bệnh nhân vừa sử dụng kháng sinh đường nhỏ mắt trong vòng 1 tuần trước khi đến khám tại bệnh viện Mắt Trung ương trong 2 nhóm: có đơn và không có đơn
+ Tỉ lệ bệnh nhân có chẩn đoán trong đơn cũ và đơn mới trùng nhau, khác nhau + Tỉ lệ bệnh nhân tiếp tục được kê kháng sinh đường nhỏ mắt
Trang 262.3.2 Phân tích mối liên quan giữa: đặc điểm bệnh nhân, nhận thức của bệnh nhân về việc biết họ đang dùng kháng sinh, hành vi dùng thuốc theo đơn
Về nhận thức: là việc biết hay không biết trong thuốc đường nhỏ mắt mình dùng
có kháng sinh
Về hành vi: là hành vi sử dụng thuốc sau khi đi khám, được kê đơn và không đi khám, không có đơn
2.3.2.1 Mối liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu học đối với nhận thức của bệnh nhân
về việc biết họ đang dùng kháng sinh và hành vi dùng thuốc theo đơn
- Đặc điểm nhân khẩu học (nhóm tuổi, giới tính, nơi sinh sống và trình độ học vấn) liên quan tới nhận thức của bệnh nhân về việc biết họ đang dùng kháng sinh
- Đặc điểm nhân khẩu học (nhóm tuổi, giới tính, nơi sinh sống và trình độ học vấn) liên quan tới hành vi dùng thuốc theo đơn
2.3.2.2 Mối liên quan giữa việc biết đang dùng kháng sinh và hành vi dùng thuốc theo đơn đối với việc sử dụng kháng sinh của bệnh nhân
- Hành vi dùng thuốc theo đơn liên quan tới nhóm kháng sinh và việc sử dụng chế phẩm kháng sinh phối hợp trên bệnh nhân
- Hành vi dùng thuốc theo đơn liên quan tới thời gian dùng kháng sinh đường nhỏ mắt của bệnh nhân
- Nhận thức về việc biết đang dùng kháng sinh liên quan tới thời gian dùng kháng sinh đường nhỏ mắt của bệnh nhân
2.3.2.3 Mối liên quan giữa hành vi dùng thuốc theo đơn đối với việc nhận thức trong thuốc đường nhỏ mắt bệnh nhân dùng có kháng sinh
- Hành vi dùng thuốc theo đơn liên quan tới nhận thức trong thuốc đường nhỏ mắt bệnh nhân dùng có kháng sinh
2.4 Xử lý số liệu
Phần mềm sử dụng trong nghiên cứu là Microsoft Excel 2016 và SPSS 20.0 Thống kê mô tả:
+ Biến số phân hạng được biểu diễn dưới dạng tần suất, tỷ lệ %
+ Biến số liên tục phân phối chuẩn được biểu diễn dưới dạng giá trị trung bình ±
độ lệch chuẩn, biến số liên tục phân phối không chuẩn được biểu diễn dưới dạng trung
vị, khoảng tứ phân vị
Trang 27Sử dụng kiểm định Chi – bình phương để phân tích mối liên quan giữa: đặc điểm bệnh nhân, nhận thức của bệnh nhân về việc đang dùng kháng sinh, hành vi dùng thuốc theo đơn Sự khác biệt được coi là có ý nghĩa thống kê nếu p<0,05
Trang 28CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ 3.1 Mô tả đặc điểm sử dụng thuốc đường nhỏ mắt có chứa kháng sinh của bệnh nhân trước khi đến khám tại viện Mắt Trung ương
3.1.1 Tỉ lệ bệnh nhân sử dụng thuốc đường nhỏ mắt có chứa kháng sinh trước khi đến khám tại viện Mắt Trung ương
Trong thời gian từ 1/3/2019 đến 5/4/2019, có 827 bệnh nhân đồng ý tham gia phỏng vấn Trong 827 bệnh nhân này có 230 bệnh nhân đã sử dụng thuốc đường nhỏ mắt chứa kháng sinh trước khi đến khám, thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ 230 bệnh nhân này chứa một tỉ lệ bệnh nhân sử dụng kháng sinh đường nhỏ mắt trong vòng 1 tuần trước khi đến khám (sử dụng kháng sinh đường nhỏ mắt ngay trước khi khám) tại viện Mắt Trung ương Tỉ lệ bệnh nhân dùng kháng sinh đường nhỏ mắt trước khi đến khám được trình bày trong Bảng 3.1
Bảng 3.1 Tỉ lệ bệnh nhân dùng kháng sinh đường nhỏ mắt trước khi đến khám
Trong 230 bệnh nhân của mẫu nghiên cứu, có 2 nhóm bệnh nhân chính: nhóm bệnh nhân 1 dùng kháng sinh đường nhỏ mắt sau khi đã được khám và kê đơn bởi bác
sĩ, nhóm 2 dùng thuốc mà chưa được khám và không có đơn Phân bố bệnh nhân trong
2 nhóm được trình bày trong Bảng 3.2
Bảng 3.2 Phân bố bệnh nhân trong nhóm có đơn thuốc và không có đơn thuốc
Như vậy, mẫu nghiên cứu gồm 230 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 27,8% bệnh nhân đến khám Trong số đó, 62,2% bệnh nhân dùng kháng sinh đường nhỏ mắt theo đơn
Dùng kháng sinh đường nhỏ mắt
trước khi đến khám
Số bệnh nhân Tỉ lệ (%) (N=827)
Trong vòng 1 tuần trước khám 140 16,9
Xa hơn 1 tuần trước khám 90 10,9
Trang 293.1.2 Đặc điểm của bệnh nhân đã sử dụng thuốc đường nhỏ mắt có chứa kháng sinh trước khi đến khám tại viện Mắt Trung ương
3.1.2.1 Đặc điểm nhân khẩu học
Đặc điểm nhân khẩu học của 230 bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu được mô tả trong Bảng 3.3
Bảng 3.3 Đặc điểm nhân khẩu học của bệnh nhân
Đặc điểm chung Số bệnh nhân Tỉ lệ % (N=230)
Trong mẫu nghiên cứu, gần 1/3 số bệnh nhân là người cao tuổi, tuổi trung bình là
53 ± 14,46, tuổi thấp nhất là 18 và cao nhất là 79 tuổi Bệnh nhân nữ chiếm số đông, xấp xỉ 3/4 số bệnh nhân
Về nơi sống và trình độ học vấn, 3/4 số bệnh nhân tham gia nghiên cứu đến từ nông thôn Song song với số lượng bệnh nhân nông thôn là gần 1 nửa số bệnh nhân chưa tốt nghiệp THPT Trong hơn 1 nửa số bệnh nhân học hết lớp 12, số lượng bệnh nhân học đến cao đẳng/đại học chiếm tỉ lệ rất thấp (16,1%)
3.1.2.2 Đặc điểm bệnh lý tại mắt
Tiền sử bệnh lý tại mắt được ghi nhận là tất cả những bệnh lý tại mắt thuộc về tiền sử khai thác được trong đơn của lần khám trước hoặc những bệnh lý đã được chẩn đoán trước đó khai thác thông qua phỏng vấn bệnh nhân Các bệnh nhân không ghi nhận được tiền sử bệnh lý tại mắt là những bệnh nhân không có thông tin Đặc điểm bệnh lý tại mắt của bệnh nhân được trình bày trong Bảng 3.4
Trang 30Bảng 3.4 Đặc điểm bệnh lý tại mắt của bệnh nhân Tiền sử bệnh lý tại mắt Số bệnh nhân Tỉ lệ % (N=230)
BN khai thác được tiền sử bệnh lý tại mắt 65 28,3
Tiểu phẫu, phẫu thuật, chấn thương tại mắt 21 9,1
Trong những thông tin về tiền sử bệnh lý tại mắt thu thập được, có 15 bệnh nhân (6,5%) bị viêm kết mạc, viêm loét giác mạc dai dẳng (>3 tháng) Bên cạnh đó, 17 bệnh nhân (7,4%) mắc bệnh mạn tính tại mắt là hội chứng khô mắt, glaucoma, đục thủy tinh thể và 21 bệnh nhân (9,1%) đã từng tiểu phẫu, phẫu thuật, chấn thương tại mắt
3.1.3 Đặc điểm sử dụng kháng sinh đường nhỏ mắt của bệnh nhân nghiên cứu
3.1.3.1 Mục đích sử dụng kháng sinh đường nhỏ mắt của bệnh nhân
- Nhóm bệnh nhân có đơn thuốc
Trong nhóm bệnh nhân đã đi khám và có đơn, mục đích của bệnh nhân là để điều trị bệnh lý tại mắt đã được chẩn đoán Các bệnh lý này được ghi rõ trong mục chẩn đoán của đơn thuốc cũ Các bệnh nhân có mục chẩn đoán để trắng hoặc chỉ ghi triệu chứng bệnh hoặc bệnh nhân đã đi khám nhưng không còn đơn là những bệnh nhân không có thông tin Mục đích sử dụng kháng sinh đường nhỏ mắt của bệnh nhân trong nhóm có đơn được trình bày trong Bảng 3.5
Trang 31Bảng 3.5 Mục đích sử dụng kháng sinh đường nhỏ mắt trong nhóm sử dụng
thuốc theo đơn
(N=143) Các bệnh lý nguyên nhân có thể do vi khuẩn
Viêm kết mạc 38 26,6 Viêm loét giác mạc* 24 16,8 Viêm kết giác mạc 5 3,5 Viêm bờ mi 7 4,9 Viêm màng bồ đào 3 2,1 Viêm tuyến lệ 2 1,4 Sau chấn thương mắt, phẫu thuật mắt 9 6,3
Các bệnh lý không liên quan đến nhiễm khuẩn 22 15,4
Viêm kết mạc dị ứng 3 2,1 Viêm kết mạc do microsporidia 1 0,7 Loét giác mạc do herpes 1 0,7 Viêm loét giác mạc do nấm 3 2,1 Khô mắt 4 2,8 Hắc võng mạc trung tâm thanh dịch 2 1,4 Vẩn đục dịch kính 3 2,1 Glaucoma 2 1,4 Sạn vôi kết mạc 1 0,7
Viêm thượng củng mạc 1 0,7
Ghi chú:* Chỉ 1 bệnh nhân được chẩn đoán viêm giác mạc nhiễm khuẩn
Mặc dù trong đơn thuốc có kháng sinh đường nhỏ mắt nhưng 15,4% số đơn trong chẩn đoán không đề cập đến bệnh lý liên quan đến nhiễm khuẩn Ngoài ra, trong 61,6% đơn mà chẩn đoán là các bệnh lý có nguyên nhân do vi khuẩn hoặc cần dự phòng nhiễm khuẩn, chỉ 1 bệnh nhân chẩn đoán ghi rõ nguyên nhân do nhiễm khuẩn
- Nhóm bệnh nhân không có đơn thuốc
Ở nhóm bệnh nhân dùng thuốc không có đơn, thuốc họ có được là do họ tự mua thuốc ở hiệu thuốc theo sự quyết định của dược sĩ bán thuốc, tự quyết định hoặc mua thuốc theo đơn của lần khám trước và một tỉ lệ nhỏ dùng chung thuốc với người nhà Tỉ lệ bệnh nhân phân theo hành vi có được thuốc để tự sử dụng được thể hiện trong Bảng 3.6
Trang 32Bảng 3.6 Tỉ lệ bệnh nhân theo hành vi có được thuốc để tự sử dụng
Hành vi có được thuốc Số bệnh nhân Tỉ lệ (%) (N=87)
Dùng chung thuốc với người nhà 2 2,3
Mua thuốc theo đơn cũ 5 5,7
Tự mua thuốc ở hiệu thuốc 80 92%
92% bệnh nhân tự mua thuốc ở hiệu thuốc, thuốc họ có được là theo sự quyết định của dược sĩ bán thuốc hoặc họ tự quyết định thuốc cho bệnh của mình
Ở nhóm bệnh nhân này, bệnh nhân không biết họ mắc bệnh gì, họ gặp phải những triệu chứng bất thường trên mắt và họ dùng thuốc kháng sinh đường nhỏ mắt Những triệu chứng này được ghi lại qua phỏng vấn Mục đích sử dụng kháng sinh đường nhỏ mắt trong nhóm bệnh nhân không có đơn được trình bày trong Bảng 3.7
Bảng 3.7 Mục đích sử dụng kháng sinh đường nhỏ mắt trong nhóm không có đơn
Phần lớn bệnh nhân dùng thuốc do họ gặp phải triệu chứng bất thường tại mắt
Đỏ mắt là triệu chứng thường gặp nhất khiến bệnh nhân tự dùng kháng sinh đường nhỏ mắt (32,6%) Trong 16 bệnh nhân gặp triệu chứng mờ mắt có 11 bệnh nhân dùng thuốc vì một triệu chứng duy nhất là mờ mắt và 5 bệnh nhân còn lại phối hợp các triệu chứng khác Bên cạnh đó, 14,9% bệnh nhân tự dùng kháng sinh đường nhỏ mắt với mục đích rửa mắt/dưỡng mắt
Trang 333.1.3.2 Thời gian sử dụng kháng sinh đường nhỏ mắt trên bệnh nhân
Đặc điểm về thời gian sử dụng kháng sinh đường nhỏ mắt trong nhóm có đơn thuốc và không có đơn thuốc được trình bày trong Bảng 3.8
Bảng 3.8 Thời gian sử dụng kháng sinh đường nhỏ mắt
Thời gian dùng kháng sinh
Số bệnh nhân (%) Nhóm có đơn
Phân bố kháng sinh theo tổng số lượt sử dụng trong nhóm có đơn và nhóm
không có đơn được trình bày ở Bảng 3.9
Bảng 3.9 Phân bố kháng sinh theo tổng số lượt sử dụng
Nhóm kháng sinh Kháng sinh
Số lượt (%) Nhóm có đơn
Aminoglycosid
Gentamicin 2 (1,0) 3 (2,9) Tobramycin 33 (17,3) 28 (26,9) Neomycin 23 (12,0) 18 (17,3)
Trang 34Có tổng số 10 kháng sinh đường nhỏ mắt thuộc 5 nhóm được sử dụng trong nhóm bệnh nhân được kê đơn và tự dùng Phân bố kháng sinh sử dụng trong 2 nhóm này có sự khác biệt rõ rệt Fluoroquinolon là nhóm kháng sinh được kê đơn nhiều nhất (56,0%) trong nhóm có đơn trong khi aminoglycosid là nhóm thường dùng nhất (47,1%) trong nhóm bệnh nhân tự dùng Kháng sinh được kê đơn phổ biến nhất là ofloxacin (26,7%) và kháng sinh được dùng nhiều nhất trong nhóm bệnh nhân tự dùng
là chloramphenicol (30,8%)
- Chế phẩm kháng sinh phối hợp
Tất cả các chế phẩm kháng sinh phối hợp được sử dụng trên bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu đều là kháng sinh kết hợp với corticoid Tỉ lệ bệnh nhân có sử dụng chế phẩm kháng sinh phối hợp trong cả 2 nhóm có đơn và không có đơn được trình bày trong Bảng 3.10
Bảng 3.10 Tỉ lệ bệnh nhân sử dụng chế phẩm kháng sinh phối hợp
Sử dụng chế phẩm kháng sinh
phối hợp
Số bệnh nhân (%) Nhóm có đơn
- Phân bố kháng sinh trong 21 bệnh nhân tự dùng để rửa mắt/dưỡngmắt
Trong nhóm bệnh nhân dùng thuốc không có đơn với mục đích rửa mắt/dưỡng mắt, tỉ lệ từng loại kháng sinh bệnh nhân sử dụng được trình bày trong Bảng 3.11
Bảng 3.11 Phân bố kháng sinh trong 21 bệnh nhân tự dùng với mục đích rửa
mắt/dưỡng mắt Kháng sinh Số bệnh nhân Tỉ lệ (%) (N=21)
Chloramphenicol 13 61,9
Neomycin 3 14,3 Tobramycin 3 14,3 Gentamicin 2 9,4
Trang 35Các kháng sinh này phân phối trên thị trường dưới dạng các chế phẩm kháng sinh đơn độc và phối hợp Phân bố chế phẩm kháng sinh trong 21 bệnh nhân dùng với mục đích rửa mắt/dưỡng mắt theo tên biệt dược và hoạt chất thể hiện trong Bảng 3.12
Bảng 3.12 Phân bố chế phẩm kháng sinh trong 21 bệnh nhân tự dùng với mục
Collydexa và polydoxancol là 2 biệt dược có tỉ lệ bị lạm dụng cao nhất (57,1%)
3.1.3.4 Việc tiếp nối sử dụng kháng sinh trên các bệnh nhân vừa sử dụng kháng sinh đường nhỏ mắt trong vòng 1 tuần trước khi đến khám tại bệnh viện Mắt Trung ương
Trong 140 bệnh nhân sử dụng kháng sinh đường nhỏ mắt trong vòng 1 tuần trước khi đến viện, có 81 bệnh nhân dùng thuốc theo đơn và 59 bệnh nhân dùng thuốc không
có đơn
- Nhóm có đơn thuốc
Việc tiếp nối sử dụng kháng sinh trên các bệnh nhân vừa sử dụng kháng sinh đường nhỏ mắt trong vòng 1 tuần trước khi đến khám trong nhóm dùng thuốc theo đơn được trình bày trong Bảng 3.13
Bảng 3.13 Tỉ lệ bệnh nhân tiếp tục được kê kháng sinh đường nhỏ mắt trong
nhóm dùng thuốc theo đơn
(N=81) Chẩn đoán trong đơn cũ và đơn mới trùng nhau 26 32,1
Tiếp tục được kê kháng sinh trong đơn mới 21 80,8 Không tiếp tục kê kháng sinh trong đơn mới 5 19,2
Chẩn đoán trong đơn cũ và đơn mới khác nhau 29 35,8
Tiếp tục được kê kháng sinh trong đơn mới 19 65,5 Không tiếp tục kê kháng sinh trong đơn mới 10 34,5
Trang 36Đối với nhóm bệnh nhân có chẩn đoán mới và cũ trùng nhau, gần 1/5 số bệnh nhân không tiếp tục được kê kháng sinh Tỉ lệ này tăng lên trong nhóm bệnh nhân có chẩn đoán cũ và mới khác nhau (34,5%) và nhóm không so sánh được chẩn đoán (32,1%)
- Nhóm không có đơn thuốc
Việc tiếp nối sử dụng kháng sinh trên các bệnh nhân vừa sử dụng kháng sinh đường nhỏ mắt trong vòng 1 tuần trước khi đến khám trong nhóm dùng thuốc không có đơn
được trình bày trong Bảng 3.14
Bảng 3.14 Tỉ lệ bệnh nhân tiếp tục được kê kháng sinh đường nhỏ mắt trong
nhóm dùng thuốc không có đơn Đặc điểm Số lượng bệnh nhân Tỉ lệ (%) (N=59)
Tiếp tục dùng kháng sinh 26 44,1
Không tiếp tục dùng kháng sinh 33 55,9
Ở nhóm bệnh nhân dùng kháng sinh đường nhỏ mắt không có đơn, hơn 1 nửa số bệnh nhân không tiếp tục được kê kháng sinh
3.2 Phân tích mối liên quan giữa: đặc điểm bệnh nhân, nhận thức của bệnh nhân
về việc biết họ đang dùng kháng sinh, hành vi dùng thuốc theo đơn
Trang 37Trong 230 bệnh nhân của mẫu nghiên cứu, 143 bệnh nhân (62,2%) dùng kháng sinh đường nhỏ mắt theo đơn và 87 bệnh nhân (37,8%) dùng thuốc mà không có đơn
3.2.2 Mối liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu học với nhận thức của bệnh nhân về việc biết họ đang dùng kháng sinh và hành vi dùng thuốc theo đơn
- Đặc điểm nhân khẩu học liên quan việc bệnh nhân nhận thức được họ đang sử dụng kháng sinh
So sánh mối liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu học đối với nhận thức của bệnh nhân về việc biết họ đang dùng kháng sinh thể hiện trong Bảng 3.16
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu học đối với nhận thức của
bệnh nhân về việc biết họ đang dùng kháng sinh Đặc điểm chung
Số bệnh nhân (%)
P
Biết trong thuốc
có kháng sinh (N=23)
Không biết trong thuốc có kháng sinh (N=207) Nhóm tuổi
+ Về giới tính: 16,7% bệnh nhân nam biết trong thuốc đường nhỏ mắt mình dùng
có kháng sinh so với 7,6% nữ Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê, p=0,045<0,05
+ Về nơi sinh sống: 7,6% bệnh nhân ở nông thôn biết trong thuốc đường nhỏ mắt mình dùng có kháng sinh so với 16,9% bệnh nhân ở thành thị Sự khác biệt này
có nghĩa thống kê, p=0,039<0,05
Trang 38+ Về trình độ học vấn: Có 4,9% bệnh nhân chưa tốt nghiệp THPT biết trong thuốc đường nhỏ mắt mình dùng có kháng sinh so với 7,8% bệnh nhân tốt nghiệp THPT và 28,7% bệnh nhân cao đẳng/đại học Sự khác biệt giữa các trình
độ học vấn có ý nghĩa thống kê, p=0,000<0,001
- Đặc điểm nhân khẩu học liên quan tới hành vi dùng thuốc theo đơn
So sánh mối liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu học đối với hành vi dùng thuốc theo đơn được thể hiện trong Bảng 3.17
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu học đối với hành vi dùng
thuốc theo đơn Đặc điểm chung
Số bệnh nhân (%)
P
Dùng thuốc không có đơn (N=87)
Dùng thuốc theo đơn (N=143) Nhóm tuổi
Tốt nghiệp THPT 34 (37,8) 56 (62,2)
Đại học/Cao đẳng 16 (43,2) 21 (56,8)
Không có sự khác biệt trong hành vi dùng thuốc theo đơn giữa các nhóm tuổi, giới tính, nơi sinh sống và trình độ học vấn
3.2.3 Mối liên quan giữa nhận thức về việc biết họ đang dùng kháng sinh và hành
vi dùng thuốc theo đơn đối với việc sử dụng kháng sinh của bệnh nhân
3.2.3.1 Mối liên quan giữa hành vi dùng thuốc theo đơn đối với nhóm kháng sinh và việc sử dụng chế phẩm kháng sinh phối hợp trên bệnh nhân
- Mối liên quan giữa hành vi dùng thuốc theo đơn đối với nhóm kháng sinh bệnh nhân dùng
So sánh mối liên quan giữa hành vi dùng thuốc theo đơn với nhóm kháng sinh
mà bệnh nhân dùng được trình bày trong Bảng 3.18
Trang 39Bảng 3.18 Mối liên quan giữa hành vi dùng thuốc theo đơn với nhóm kháng sinh
bệnh nhân dùng
Nhóm kháng sinh
Số lượt (%)
P Dùng thuốc theo đơn
- Mối liên quan giữa hành vi dùng thuốc theo đơn đối với việc sử dụng chế phẩm kháng sinh phối hợp trên bệnh nhân
So sánh mối liên quan giữa hành vi dùng thuốc theo đơn đối với việc sử dụng chế phẩm kháng sinh phối hợp được trình bày trong Bảng 3.19
Bảng 3.19 Mối liên quan giữa hành vi dùng thuốc theo đơn đối với việc sử
Có sự khác biệt về việc sử dụng kháng sinh phối hợp giữa 2 nhóm bệnh nhân có đơn và không có đơn 34,3% bệnh nhân sử dụng kháng sinh phối hợp trong nhóm có đơn so với 67,8% bệnh nhân trong nhóm không có đơn Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê, p=0,000 < 0,001