Do vậy để góp phần nâng cao hiệu quả điều trị phục hồi chức năng cho bệnh nhân sau TBMMN, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tác dụng của bài thuốc Địa hoàng ẩm tử tronghỗ
Trang 2Với tất cả lòng kính trọng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
- Đảng ủy, Ban Giám hiệu trường Đại học Y Hà Nội, Phòng Đào tạo sau Đại học, Khoa Y học cổ truyền, các phòng ban của nhà trường đã tạo
điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và làm luận văn.
- Phó giáo sư, Tiến sĩ Đặng Kim Thanh, Nguyên phó Trưởng khoa Y học cổ truyền Trường Đại học Y Hà Nội là người thầy trực tiếp hướng dẫn,
đã dạy dỗ và giúp đỡ tôi tận tình chu đáo trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu Cô luôn động viên, giúp đỡ tôi vượt qua những khó khăn, đóng góp những ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn này
- Các Thầy, Cô trong hội đồng thông qua đề cương, hội đồng chấm
luận văn Thạc sỹ Trường Đại học Y hà Nội đã đóng góp cho tôi những ý kiến quý báu trong quá trình hoàn thành nghiên cứu.
- Đảng ủy, Ban Giám Đốc, Phòng Kế Hoạch Tổng Hợp, Khoa Nội 3, Khoa Châm cứu bệnh viện Y Học Cổ Truyền Bộ Công An, nơi tôi công tác
đã cho phép và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
- Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả các bệnh nhân tình nguyện tham gia nghiên cứu.
- Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới bố mẹ, chồng và con trai, những người thân trong gia đình đã luôn động viên giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, và là chỗ dựa vững chắc về cả vật chất lẫn tinh thần cho tôi Cảm ơn các anh, các chị, những người bạn thân thiết, đã động viên giúp
đỡ tôi vượt qua những khó khăn trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 12 tháng 12 năm 2013
Tác giả
Trang 3Tôi xin cam kết đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu
và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bốtrong bất cứ tài liệu nào
Tác giả luận văn
Phạm Thị Thanh Hà
Trang 4AST : Aspartat aminotransferase
CHT : Cộng hưởng từ
CLVT : Cắt lớp vi tínhHAtb : Huyết áp trung bìnhHAtt : Huyết áp tâm thuHAttr : Huyết áp tâm trương HDL – Cholesterol: High density lipoprotein cholesterolLDL – Cholesterol : Low-density lipoprotein cholesterol
N1 : Ngày thứ nhất
TBMMN : Tai biến mạch máu não
TPKL : Trúng phong kinh lạcTPTP : Trúng phong tạng phủXBBH : Xoa bóp bấm huyệtWHO :World Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới)
Trang 5Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 TÌNH HÌNH TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 3
1.1.1 Tình hình tai biến mạch máu não trên thế giới 3
1.1.2 Tình hình tai biến mạch máu não ở Việt Nam 3
1.2 TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI 4
1.2.1 Định nghĩa và phân loại tai biến mạch máu não 4
1.2.2 Nhồi máu não 5
1.3 TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN 13
1.3.1 Quan niệm, nguyên nhân, của chứng trúng phong 14
1.3.2 Phân loại và điều trị chứng trúng phong 16
1.4 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG THUỐC Y HỌC CỔ TRUYỀN ĐIỀU TRỊ NHỒI MÁU NÃO SAU GIAI ĐOẠN CẤP 21
1.4.1 Một số nghiên cứu ở Trung Quốc 21
1.4.2 Một số nghiên cứu ở Việt Nam 22
1.5 TỔNG QUAN BÀI THUỐC NGHIÊN CỨU “ĐỊA HOÀNG ẨM TỬ” 23
1.5.1 Xuất xứ, thành phần bài thuốc 23
1.5.2 Một số nghiên cứu về bài thuốc Địa hoàng ẩm tử 24
1.5.3 Tác dụng của các vi thuốc trong bài “Địa hoàng ẩm tử” 24
Chương 2: CHẤT LIỆU, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31 2.1 CHẤT LIỆU NGHIÊN CỨU 31
2.1.1 Thành phần bài thuốc 31
2.1.2 Dạng bào chế, cách dùng, liệu trình điều trị 32
2.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 32
2.2.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân 32
2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân 33
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
Trang 62.3.4 Phương pháp phân tích số liệu 40
2.4 KHÍA CẠNH ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 41
2.5 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 41
2.6 SƠ ĐỒ NGHIÊN CỨU 42
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43
3.1 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA BỆNH NHÂN NHỒI MÁU NÃO 43
3.1.1 Tuổi 43
3.1.2 Giới 44
3.1.3 Thời gian mắc bệnh 44
3.1.4 Phân bố tổn thương trên lâm sàng 45
3.1.5 Các yếu tố nguy cơ 45
3.1.6 Phân loại mức độ di chứng lúc vào của hai nhóm 46
3.2 KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ 47
3.2.1 Kết quả trên lâm sàng theo YHHĐ 47
3.2.2 Theo dõi tác dụng không mong muốn trên lâm sàng và cận lâm sàng 58 Chương 4: BÀN LUẬN 60
4.1 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA BỆNH NHÂN NGHIÊN CỨU 60
4.1.1 Tuổi 60
4.1.2 Giới 61
4.1.3 Các yếu tố nguy cơ 62
4.1.4 Đặc điểm tổn thương trên lâm sàng 63
4.1.5 Đặc điểm về thời gian mắc bệnh 64
4.1.6 Phân bố bệnh nhân trước điều trị theo độ liệt Rankin, chỉ số Barthel và thang điểm Orgogozo 64
4.2 KẾT QUẢ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG THEO YHHĐ 65
Trang 74.2.4 Liên quan giữa thời gian mắc bệnh và kết quả điều trị 694.2.5 Thay đổi chỉ số huyết áp 694.3 TÁC DỤNG CỦA BÀI THUỐC “ ĐỊA HOÀNG ẨM TỬ” ĐỐI VỚI CHỨNG TRÚNG PHONG THEO QUAN ĐIỂM YHCT 70 4.4 TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN TRÊN LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG 72
KIẾN NGHỊ 76 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8Bảng 2.3 Tiêu chuẩn đánh giá huyết áp 37
Bảng 3.1 Phân bố bệnh nhân theo độ tuổi 43
Bảng 3.2 Phân bố theo giới 44
Bảng 3.3 Phân bố định khu tổn thương trên lâm sàng 45
Bảng 3.4 Các yếu tố nguy cơ với bệnh TBMMN ở cả hai nhóm 45
Bảng 3.5 Phân loại mức độ về khả năng hoạt động độc lập theo chỉ số Barthel trước điều trị 46
Bảng 3.6 Phân bố bệnh nhân theo độ Rankin trước điều trị của hai nhóm 46
Bảng 3.7 Phân loại mức độ trạng thái chức năng thần kinh theo thang điểm Orgogozo trước điều trị 47
Bảng 3.8 So sánh tiến triển độ Rankin trước-sau điều trị ở nhóm TDH 47
Bảng 3.9 So sánh tiến triển độ liệt Rankin trước-sau điều trị ở nhóm TAH 48
Bảng 3.10 So sánh tiến triển độ Rankin giữa hai nhóm theo thời gian 48
Bảng 3.11 So sánh tiến triển chỉ số Barthel trước-sau điều trị ở nhóm TDH 49
Bảng 3.12 So sánh tiến triển chỉ số Barthel trước-sau điều trị ở nhóm TAH 50
Bảng 3.13 So sánh tiến triển độ Barthel giữa hai nhóm theo thời gian 51
Bảng 3.14 So sánh tiến triển chỉ số Orgogozo trước-sau điều trị ở nhóm TDH .53
Bảng 3.15 So sánh tiến triển chỉ số Orgogozo trước-sau điều trị ở nhóm TAH .53
Bảng 3.16 So sánh tiến triển của chỉ số Orgogozo giữa hai nhóm theo thời gian điều trị 54
Bảng 3.17 Liên quan giữa thời gian mắc bệnh và tiến triển độ liệt 56
Bảng 3.18 So sánh huyết trước điều trị vào của 2 nhóm TAH và TDH 57
Bảng 3.19 Kết quả biến đổi huyết áp trước và sau điều trị 57
Trang 9Biểu đồ 3.1 Phân bố bệnh nhân theo thời gian mắc bệnh 44Biểu đồ 3.2 So sánh kết quả dịch chuyển độ liệt Rankin ở hai nhóm 49Biểu đồ 3.3 So sánh điểm trung bình Barthel giữa hai nhóm theo thời gian
điều trị 52Biểu đồ 3.4 Đánh giá kết quả dịch chuyển độ liệt theo thang điểm Barthel
ở hai nhóm 52Biểu đồ 3.5 So sánh điểm trung bình Orgogozo giữa hai nhóm theo thời
gian điều trị 55Biểu đồ 3.6 Đánh giá kết quả dịch chuyển độ liệt theo thang điểm
Orgogozo ở hai nhóm 55
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Tai biến mạch máu não (TBMMN) chiếm vị trí hàng đầu trong các bệnhthần kinh trung ương và là nguyên nhân quan trọng gây tử vong và tàn tật phổbiến trên thế giới [1], [2]
Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization WHO) TBMMN là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 3 sau ung thư vàtim mạch [3] Ở Việt Nam theo số liệu thống kê của Lê Văn Thành (2003) tạithành phố Hồ Chí Minh thấy tỷ lệ hiện mắc khá cao là 6060/1.000.000 dân [4].TBMMN có hai thể chính: chảy máu não và nhổi máu não (NMN) trong
-đó NMN chiếm đa số với tỷ lệ 75% đến 80% [5] TBMMN có thể xảy ra đốivới mọi lứa tuổi, không phân biệt nghề nghiệp, giới tính, sắc tộc, địa dư, hoàncảnh kinh tế - xã hội Những năm gần đây nhờ sự tiến bộ của y học trong chẩnđoán và điều trị, tỷ lệ tử vong do TBMMN đã giảm nhưng tỷ lệ sống sót vàtàn phế cũng tăng lên dẫn đến nhu cầu phục hồi chức năng cho bệnh nhân sauTBMMN cũng tăng theo Bên cạnh đó TBMMN còn liên quan chặt chẽ vớicác yếu tố nguy cơ (YTNC) như: tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, đái tháođường, các bệnh rối loạn chuyển hóa, rối loạn các yếu tố đông máu… Điềutrị các YTNC trong cộng đồng có thể giảm tới 80% TBMMN [6], [7] Do vậyhiện nay thường kết hợp điều trị phục hồi chức năng và điều trị các YTNCtrong điều trị TBMMN
Y học hiện đại (YHHĐ) đã đạt được những thành tựu to lớn trong việcchẩn đoán, điều trị, phục hồi chức năng cũng như điều trị dự phòng cho bệnhnhân TBMMN Y học cổ truyền (YHCT) cũng có những đóng góp không nhỏtrong điều trị phục hồi chức năng cho bệnh nhân TBMMN Nhiều bài thuốc
cổ phương được ghi trong các y văn kinh điển như: Bổ dương hoàn ngũ
Trang 11thang, Đại tần giao thang, An cung ngưu hoàng, …đã và đang được các thầythuốc dùng điều trị cho bệnh nhân đạt kết quả tốt [8], [9], [10], [11]
Bài thuốc “Địa hoàng ẩm tử” có nguồn gốc từ Hoàng đế Tố Vấn tuyênminh luận phương đã được Học viện Trung Y Thiểm Tây đánh giá sơ bộ điềutrị trên bệnh nhân TBMMN năm 1989 thấy mang lại kết quả tốt [12], [13].Tại Bệnh viện Y học cổ truyền Bộ công an đã áp dụng bài thuốc này trên lâmsàng cũng thấy có hiệu quả khả quan Hơn nữa ở Việt Nam chưa có côngtrình nào tổng kết tác dụng của bài thuốc này trên bệnh nhân sau NMN cấp
Do vậy để góp phần nâng cao hiệu quả điều trị phục hồi chức năng cho bệnh
nhân sau TBMMN, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tác dụng của bài thuốc Địa hoàng ẩm tử tronghỗ trợ điều trị phục hồi chức năng vận động cho bệnh nhân sau Nhồi máu não” với hai mục tiêu:
1 Bước đầu đánh giá tác dụng hỗ trợ của bài thuốc “Địa hoàng ẩm tử” trong điều trị phục hồi chức năng vận động cho bệnh nhân sau Nhồi máu não cấp thể thận hư.
2 Theo dõi tác dụng không mong muốn của bài thuốc khi kết hợp với phác đồ nền.
Trang 12Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 TÌNH HÌNH TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.1.1 Tình hình tai biến mạch máu não trên thế giới
Theo thống kê của WHO mỗi năm có hơn 4,5 triệu người tử vong doTBMNN Riêng ở Châu Á hàng năm tử vong do TBMMN là 2,1 triệu người[3], [14]
Tại Hoa Kỳ (2001) hàng năm có khoảng 700.000 - 750.000 người mớimắc, trong đó tử vong 130.000 người Số sống sót chỉ 10% khỏi hoàn toàn,25% có di chứng nhẹ, 40% di chứng vừa và nặng cần trợ giúp một phần hoặchoàn toàn [15] Dự báo TBMMN vẫn có xu hướng tăng : năm 1995 có 12,8%người Mỹ trên 65 tuổi bị đột quỵ não và tới năm 2025 sẽ có khoảng 18,7%[16], [17]
Nguy cơ xảy ra TBMMN tăng nhanh theo tuổi, tăng gấp đôi cứ mỗi 10năm sau 55 tuổi, xấp xỉ 28% TBMMN xảy ra dưới 65 tuổi, và nam giới bịnhiều hơn nữ từ 1,5 đến 2 lần [7], [18] Một số nghiên cứu cho thấy tỷ lệTBMMN xảy ra ở người trẻ đang tăng lên đặc biệt ở các nước phát triển ỞNhật Bản tỷ lệ người trẻ mắc TBMMN chiếm 2,7% trong 1350 bệnh nhân ỞPháp tỷ lệ mới mắc ở người trẻ là 10 – 30/ 100.000 dân, chiếm 5% toàn bộcác loại TBMMN [19]
1.1.2 Tình hình tai biến mạch máu não ở Việt Nam
Trong những năm gần đây, ở nước ta TBMMN đang có chiều hướng giatăng cướp đi sinh mạnh của nhiều người hoặc để lại di chứng nặng nề gây thiệt
Trang 13hại to lớn cho gia đình và xã hội Thống kê ở các bệnh viện tuyến tỉnh thànhtừng thời kỳ 3 – 5 năm thấy tỷ lệ vào điều trị nội trú tăng 1,7 – 2,5 lần [6].
Theo Nguyễn Văn Đăng (2000), thống kê tại Khoa Thần kinh bệnh việnBạch Mai từ năm 1991 đến năm 1993, có 631 trường hợp TBMMN, tăng gấp2,5 lần so với thời kỳ từ năm 1986 đến năm 1989 [19]
Đinh Văn Thắng theo dõi TBMN tại Bệnh viện Thanh Nhàn từ 1999 đến
2003, cho thấy năm 2003 tăng 1,58 lần so với năm 1990, tỷ lệ nữ/nam là1/1,75 [20]
1.2 TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI.
1.2.1 Định nghĩa và phân loại tai biến mạch máu não.
1.2.1.1 Định nghĩa
Theo WHO: “Tai biến mạch máu não là sự xảy ra đột ngột các rối loạnchức năng khu trú của não, kéo dài trên 24 giờ và thường do nguyên nhânmạch máu” [3]
1.2.1.2 Phân loại theo lâm sàng
Tùy thuộc vào bản chất tổn thương TBMMN được chia làm hai thể lớn:
Chảy máu não: là chảy máu vào nhu mô não.
Bao gồm: chảy máu trong nhu mô não; chảy máu não – tràn máu nãothất thứ phát; chảy máu não thất nguyên phát; chảy máu dưới nhện; chảy máusau nhồi máu
Nhồi máu não: xảy ra khi một mạch máu bị tắc một phần hoặc toàn bộ,
khu vực não không được nuôi dưỡng sẽ bị hoại tử, nhũn ra
Bao gồm: huyết khối động mạch não; tắc mạch não; nhồi máu não ổkhuyết [14]
Trang 141.2.2 Nhồi máu não
1.2.2.1.Định nghĩa: Nhồi máu não là quá trình bệnh lý trong đó động
mạch não bị hẹp hoặc bị tắc, lưu lượng tuần hoàn tại vùng não do độngmạch não đó phân bố bị giảm trầm trọng, dẫn đến chức năng vùng não
đó bị rối loạn [3]
1.2.2.2 Nguyên nhân: Có 3 nguyên nhân lớn:
Nghẽn mạch (Huyết khối – thrombosis): là tổn thương thành mạch, làm
rối loạn chức năng hệ thống đông máu, gây đông máu và/hoặc tắc động mạchnão và xảy ra ngay tại vị trí động mạch bị tổn thương Thường liên quan chặtchẽ với tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, viêm động mạch và một số nguyên
Co thắt mạch (vasocontriction): mạch máu co thắt gây cản trở lưu thông
dòng máu; hay gặp trong xuất huyết dưới nhện, sau đau nửa đầu Migraine,sau sang chấn, sau sản giật [14], [21]
1.2.2.3 Sinh lý bệnh
Tổ chức não sau nơi mạch máu bị tổn thương sẽ xuất hiện những biếnđổi nhanh hay chậm phụ thuộc vào lưu lượng máu Tại vùng tế bào thần kinh
Trang 15tiếp cận với mạch máu bị tổn thương sẽ bị hư biến nhiều hơn vùng ngoài lâncận với nó, vùng chung quanh gọi là vùng nửa tối (tranh tối tranh sáng), cónghĩa ở đây tế bào thần kinh chưa hoại tử, còn có khả năng cứu chữa đượcgọi là vùng điều trị [24] Lưu lượng máu càng thấp thì thời gian đưa đến thiếumáu não cục bộ càng sớm, khả năng hoại tử tế bào thần kinh càng nhiều [24].Lưu lượng máu não bình thường 55ml /100g não/ phút Khi bị tai biếnthiếu máu cục bộ ổ nhồi máu phân biệt hai vùng rõ ràng :
- Vùng trung tâm lưu lượng máu 10 – 15ml /100g não /phút Các tế bàovùng này chết không cứu vãn được gọi là vùng hoại tử
- Vùng ngoại vi, lưu lượng máu 23 – 30ml /100g não /phút, các tế bàonão không chết nhưng không hoạt động gọi là vùng tranh tối tranh sáng Vùngnày sống nhờ các chất dinh dưỡng thần kinh tại chỗ chỉ tồn tại 3 – 72 giờ gọi
là cửa sổ thời gian điều trị, sau đó trở thành hoại tử Vì vậy mọi biện phápđiều trị phải tiến hành càng sớm càng tốt [6]
1.2.2.4 Lâm sàng
Nhồi máu não lớn và toàn bộ bán cầu: thường xảy ra khi ổ nhồi
máu não trên 75% diện tích của khu vực cấp máu của động mạch não giữa,động mạch não giữa và động mạch não trước hoặc toàn bộ ba khu vực động
mạch phối hợp với nhau [25] Thường do huyết khối động mạch não và tắc mạch não có nguồn gốc từ tim và từ động mạch [3] Lâm sàng có rối loạn ý
thức ở khoảng 30% trường hợp, liệt nửa người, rối loạn cảm giác nửa người,rối loạn thị giác, quay mắt quay đầu nhìn về bên tổn thương, thất ngôn nếutổn thương bán cầu ưu thế [25]
Nhồi máu ổ khuyết: là những ổ nhồi máu nhỏ (kích thước nhỏ hơn
1,5cm) nằm sâu do bệnh mạch máu nguyên phát ở nhánh xuyên của các độngmạch lớn [3] Do tắc những nhánh xuyên nhỏ gây ra ổ nhồi máu nhỏ và khu
Trang 16trú, khi mô não hoại tử được lấy đi thì còn lại một xoang nhỏ Có sự kết hợpgiữa hội chứng ổ khuyết và tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, đái tháo đường[26], [27] Tùy vị trí tổn thương mà có những đặc điểm lâm sàng khác nhau:hội chứng liệt nửa người đơn thuần, hội chứng rối loạn cảm giác nửa ngườiđơn thuần, hội chứng rối loạn cảm giác - vận động, hội chứng rối loạn vậnđộng - bàn tay vụng về…[3].
Nhồi máu vùng phân thùy: giảm lưu lượng máu tới não gây tổn
thương ở giữa vùng phân bố của động mạch [14] Triệu chứng lâm sàng:
bệnh nhân thường vã mồ hôi, choáng váng, mờ mắt Nhồi máu vùng ranhgiới giữa động mạch não giữa và động mạch não sau gây bán manh Nếutổn thương bên bán cầu trội có rối loạn ngôn ngữ, mất chú ý nửa bên thânngười [14]
1.2.2.5 Các yếu tố nguy cơ
Các yếu tố nguy cơ được chia thành hai nhóm: Nhóm không thay đổiđược và nhóm có thể thay đổi được [7], [26]
Nhóm không thay đổi được: Tuổi, giới, chủng tộc, di truyền, địa lý Có thểcoi tuổi, giới, tiền sử gia đình là những yếu tố nhận dạng khá quan trọng mặc dùkhông thay đổi được nhưng nó giúp chúng ta tầm soát tích cực hơn các yếu tốnguy cơ khác Tuổi và giới là hai yếu tố quan trọng Nhiều nghiên cứu trong vàngoài nước đều đưa đến kết luận TBMMN tăng theo tuổi và tăng vọt lên từ lứatuổi 50 trở đi Nam giới bị TBMMN nhiều hơn nữ từ 1,5 đến 2 lần [7]
Nhóm có thể thay đổi được:
Tăng huyết áp: Tăng huyết áp là nguy cơ hàng đầu trong cơ chế bệnh
sinh của TBMMN Tăng huyết áp tâm thu, tâm trương hay cả tâm thu lẫn tâmtrương là YTNC độc lập gây ra tất cả các loại TBMMN Khi huyết áp tâm thu(HAtt) từ 160mmHg trở lên và/hoặc huyết áp tâm trương (HAttr) từ 95mmHg
Trang 17trở lên, tỷ lệ TBMN ở người tăng huyết áp so với những người huyết áp bìnhthường sẽ tăng từ 2,9 lần (đối với nữ) đến 3,1 lần (đối với nam) [7], [28].
Rối loạn lipid máu: lipid trong huyết tương tồn tại dưới dạng kết hợp với
apoprotein và được chia làm ba loại: lipoprotein trọng lượng phân tử thấp(LDL – Cholesterol) chiếm 40 đến 50% các loại lipoprotein tham gia vào cơchế gây dày lớp áo trong của thành mạch; lipoprotein trọng lượng phân tử cao(HDL – Cholesterol) chiếm 17 đến 23% các loại lipoprotein có tác dụng bảo
vệ thành mạch; triglycerid chiếm 8 đến 12% các lipoprotein và cũng tham giavào cơ chế tạo mảng xơ vữa mạch Mức độ HDL thấp (dưới 0,9mmol/l), mức
độ cao của Triglycerid (trên 2,3mmol/l) cộng với sự tăng huyết áp sẽ gia tănggấp đôi nguy cơ TBMMN [7]
Béo phì: là một yếu tố không trực tiếp gây TBMMN mà thông qua các
bệnh tim mạch Có sự liên quan rất rõ rệt giữa béo phì, tăng huyết áp và sự đềkháng Insulin
Các bệnh lý tim: Rung nhĩ không có bệnh lý van tim, nhồi máu cơ tim
cấp, phì đại thất trái, bệnh tim do thấp, các tai biến do van tim giả là nguyênnhân chủ yếu gây tắc mạch não từ tim Rung nhĩ là dấu chỉ điểm tim mạch rõràng nhất và có thể điều trị được Tần suất và tính phổ biến của rung nhĩ tăngtheo tuổi, với mỗi khoảng mười năm liên tục sau 55 tuổi tỷ lệ rung nhĩ tănggấp đôi [7], [23]
Đái tháo đường: là yếu tố nguy cơ gây ra tất cả các thể TBMMN [7].
Hút thuốc lá: Hút thuốc lá trực tiếp hay thụ động đều làm tăng nguy cơ
bệnh lý tim mạch và nhất là tùy thuộc số lượng hút kết hợp thời gian hút.Nguy cơ tương đối của TBMMN ở người hút thuốc lá nhiều (trên 40 điếu/ngày) gấp hai lần ở người hút thuốc lá ít (dưới 10 điếu/ ngày) [7]
Trang 18Rượu: liều nhỏ hàng ngày làm giảm co tim và giãn mạch nên làm huyết
áp giảm nhẹ và tăng áp bù nên làm giảm nguy cơ chết do tim mạch Lạm
dụng rượu (56 đến 70g rượu hàng ngày hoặc say quá chén) sẽ làm tăng áp lựcmáu, tăng kết tập tiểu cầu, tăng đông máu, tăng mức triglycerid, cơn rung nhĩkịch phát, bệnh cơ tim và liên quan đến sự gia tăng của nguy cơ TBMMN(đặc biệt là thể chảy máu não) [7]
Tiền sử bị tai biến thoáng qua: Cơn thiếu máu não thoáng qua là tình
trạng rối loạn chức năng não bộ khu trú hay chức năng thị giác có đặc điểmđột ngột, có nguồn gốc thiếu máu não cục bộ Cơn kéo dài không qúa 24giờ và không để lại di chứng Nguy cơ xảy ra TBMMN sau cơn thiếu máuthoáng qua là 10% trong năm đầu tiên; sau đó trong năm năm tiếp theo,mỗi năm có tỷ lệ 5% [7]
Ngoài ra, còn một số yếu tố khác cũng được xếp vào nhóm này như tìnhtrạng kháng insulin, sử dụng thuốc ngừa thai, lạm dụng thuốc và dùng thuốcgây nghiện, ít vận động thể lực, bệnh tế bào hình liềm, tăng acid uric máu,nhiễm khuẩn, yếu tố tâm lý, tăng homocystein máu, các yếu tố đông máu, hẹpđộng mạch cảnh chưa có triệu chứng [7], [26], [28]
1.2.2.6 Các xét nghiệm cận lâm sàng
Các xét nghiệm thường quy
* Xét nghiệm máu: Công thức máu kiểm tra độ nhớt máu, số lượng tiểu
* Ghi điện tim và siêu âm tim mạch: để phát hiện bệnh lý van tim,
cơ tim, huyết khối trong các buồng tim, rối loạn nhịp tim [14]
Trang 19 Các xét nghiệm chuyên biệt
* Xét nghiệm dịch não - tuỷ: giúp chẩn đoán phân biệt giữa nhồi máu
não và chảy máu trong sọ NMN có dịch não - tủy trong, các thành phần dịchnão - tủy không thay đổi [29]
* Ghi điện não: thường thấy hoạt động điện não giảm, nhưng những
thay đổi này không đặc hiệu [3]
* Chụp động mạch não: chụp động mạch số hoá xoá nền cho hình ảnh
động mạch não rõ nét, phát hiện được tắc, hẹp mạch máu, phình mạch, dịdạng mạch, co thắt mạch não [30]
* Chụp cắt lớp vi tính (CLVT) sọ não để khẳng định loại tai biến,vị trí
và độ lớn của tổn thương [6]
- Ở giai đoạn sớm, NMN có các biểu hiện rất kín đáo (mất dải đảo, mờnhân đậu, xoá các rãnh cuộn não, dấu hiệu động mạch tăng đậm độ, giảm đậm độvượt quá hai phần ba vùng phân bố của động mạch não giữa ) [25]
- Sau giai đoạn cấp tính, NMN có các ổ giảm đậm độ, ổ này thườngthấy rõ từ ngày thứ hai trở đi Khu vực giảm đậm độ thường thay đổi theo thờigian Sau khoảng 1 tháng diện giảm đậm độ thu nhỏ hơn, bờ rõ hơn, đậm độcũng giảm xuống gần đậm độ dịch (kén nhũn não) Dấu hiệu choán chỗthường xuất hiện ở tuần đầu và giảm dần theo thời gian [31]
- Hình ảnh nhồi máu - chảy máu: có sự kết hợp một hình ảnh tăng tỷtrọng tự nhiên ở trong một vùng giảm tỷ trọng [21, [32]
- Trên thực tế chụp CLVT sọ não cho kết quả âm tính xấp xỉ một phần
ba số trường hợp TBMMN đã được chẩn đoán lâm sàng [21, [32]
* Hình ảnh cộng hưởng từ (CHT) và chụp mạch CHT: đây là phương
pháp hiện đại nhất, rõ ràng những vùng não tổn thương, có độ nhạy cao,không bị nhiễu ảnh ở vùng hố sau Chụp mạch CHT còn cho thấy hình cácmạch não, phát hiện dị dạng mạch đáy não bổ sung cho chụp mạch não [6]
Trang 20Nhưng phương pháp này có nhược điểm là: khó phân định, dễ gây nhầm lẫnvới một số tổn thương khác không do thiếu máu não nhưng cũng có thay đổitương tự như u não, các tổn thương viêm nhiễm Hình ảnh: chủ yếu tăng tínhiệu trong thì T2 [33].
Siêu âm Doppler: để phát hiện dấu hiệu tắc, hẹp hệ động mạch cảnh
trong và ngoài sọ [3], [33]
1.2.2.7 Tiên lượng: phụ thuộc vào các yếu tố sau: tuổi cao, tình trạng chung
kém; huyết áp tăng cao, có những cơn tăng huyết áp ác tính; rối loạn ý thứcnặng; bội nhiễm phổi, tiết niệu, loét các điểm tỳ; có các bệnh nội khoa mạntính kết hợp như bệnh tim, phổi, thận, gan ; tiền sử TBMMN cũ; có từ haiyếu tố nguy cơ trở lên [34]
1.2.2.8 Chẩn đoán NMN
* Lâm sàng
- Triệu chứng chẩn đoán: khởi phát bệnh đột ngột, có thiếu sót chức
năng thần kinh khu trú tồn tại quá 24 giờ (hoặc tử vong trước 24 giờ), liệt nửangười là bằng chứng lâm sàng rất giá trị (gặp ở 90% số trường hợp), không cóyếu tố chấn thương [6] Khởi phát đột ngột nhưng tiến triển tăng nặng dần dầnhoặc tăng nặng từng nấc Thường xảy ra vào ban đêm và gần sáng Có tiền sử:tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, đái tháo đường, bệnh tim… Thường gặp ởngười trên 50 tuổi [3], [14], [29]
- Các triệu chứng hiếm gặp: nhức đầu, buồn nôn, nôn, các triệu chứng
xuất hiện nặng ngay từ đầu, rối loạn ý thức, rối loạn cơ tròn, huyết áp khi khởiphát tăng cao, dấu hiệu màng não âm tính… Các triệu chứng này ít thấy ở bệnhnhân nhồi máu não mà thường gặp trong chảy máu não [3], [14], [6], [29]
* Cận lâm sàng
- Xét nghiệm dịch não - tuỷ: dịch não - tuỷ không có hồng cầu, bạchcầu và các thành phần khác không biến đổi
Trang 21- Chụp CLVT sọ não: Hình ảnh điển hình của nhồi máu là vùng giảmđậm độ có hình dáng, kích thước tùy từng vị trí nhồi máu.
- Điện tim có bằng chứng của bệnh tim hoặc tiền sử tăng huyết áp
- Xét nghiệm máu: có biểu hiện tăng đông, tăng độ nhớt của máu, rốiloạn chuyển hóa lipid…[3], [14], [29]
1.2.2.9 Điều trị và dự phòng TBMMN tái phát
Điều trị TBMMN phải đạt được mục đích “ Hạn chế tàn phế mà khôngtăng tỷ lệ tử vong” theo phương châm phát hiện sớm các YTNC, điều trị dựphòng là căn bản [35]
* Nguyên tắc cấp cứu và điều trị [35]:
- Điều trị chuẩn, hồi sức toàn diện càng sớm càng tốt, cứu sống bệnhnhân trong giai đoạn cấp
- Xác định nhanh nguyên nhân TBMMN để có các bước điều trị đặchiệu phù hợp, kịp thời
Nếu là NMN cần:
- Đảm bảo cung lượng máu não
- Làm tái tưới máu vùng tranh tối tranh sáng Tùy theo từng trường hợp
cụ thể có thể dùng: thuốc chống đông, thuốc chống kết tập tiểu câu, thuốc tiêuhuyết khối, các thủ thuật là giãn mạch bị tắc [18]
- Giảm chèn ép bởi cục máu đông hoặc phù não
- Chống toan hóa mô và độc tế bào thần kinh (kiểm soát glucose máu)
- Thuốc bảo vệ tế bào thần kinh Xu hướng ngày nay cho thuốc bảo vệthần kinh ngay từ phút, giờ đầu coi như điều trị bổ sung cho điều trị chuẩn hồisức toàn diện [6]
- Đề phòng biến chứng: bội nhiễm, chảy máu, loét
- Dự phòng tái phát cấp 2
Trang 22- Chế độ dinh dưỡng đầy đủ, chăm sóc hộ lý chống bội nhiễm, chốngloét và phục hồi chức năng sớm.
* Phục hồi chức năng cho bệnh nhân TBMMN
Phục hồi chức năng phải được bắt đầu càng sớm càng tốt khi bệnh
cảnh lâm sàng và tình trạng toàn thân của bệnh nhân cho phép Nguyên tắcphục hồi là khôi phục lại các mẫu vận động bình thường vốn có trên cơ sởloại bỏ các mẫu vận động bất thường [37], [38]
* Phòng chống TBMMN tái phát
Theo khuyến cáo của WHO thì TBMMN là bệnh có khả năng dự phòngtốt bằng thanh toán các YTNC Chống các YTNC trong cộng đồng có thểgiảm 80% TBMMN [6]
Có 2 loại dự phòng:
- Dự phòng cấp 1 khi chưa bị TBMMN, giữ không để xảy ra TBMMN.Người không có YTNC chủ yếu thay đổi lối sống Người có YTNC cần điều trịnghiêm túc kết hợp thuốc phòng (aspirin)
- Dự phòng cấp 2 không để TBMMN tái phát, áp dụng khi phòng bệnhcấp 1 thất bại sau TBMMN lần đầu hoặc có tai biến mạch máu não thoángqua Phòng bệnh cấp 2 cần tiến hành ngay sau giai đoạn cấp Thay đổi nếpsống, tập luyện phục hồi chức năng kết hợp các biện pháp ở dự phòng cấp
1 [6], [39]
1.3 TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN.
Trong YHCT không có bệnh danh TBMMN nói chung và NMN nóiriêng Căn cứ vào triệu chứng lâm sàng và tính chất xuất hiện đột ngột nhưtrong giai đoạn cấp của YHHĐ thì YHCT xếp TBMMN vào chứng trúngphong, giai đoạn sau cấp của YHHĐ với triệu chứng liệt nửa người nổi bật thìYHCT xếp vào chứng bán thân bất toại [11], [40]
Trang 231.3.1 Quan niệm, nguyên nhân, của chứng trúng phong
Trúng phong còn gọi là thốt trúng vì bệnh phát sinh cấp, đột ngột và rấtnặng, triệu chứng thường nhiều biến hóa, phù hợp với tính thiện hành đa biếncủa phong Bệnh nhân đột nhiên ngã ra bất tỉnh hoặc vẫn còn tỉnh, bán thân
bất toại hoặc tứ chi không cử động được, miệng méo, mắt lệch, nói khó [41].
Qua các thời đại có nhiều học thuyết khác nhau:
Từ thời Hán – Đường về trước:
Trong Linh Khu nói: “Hư tà xâm nhập nửa người, khu trú ở dinh vệ, dinh vệhơi suy thì chân khí tán mất, tà khí đóng lại phát thành chứng thiên khô”
Sách Kim Quỹ cho rằng: “Mạch lạc hư không, phong tà thừa cơ xâmnhập gây chứng trúng phong, tuy theo bệnh nặng nhẹ mà biểu hiện chứng hậu
ở kinh lạc hay tạng phủ” [41]
Từ thời Hán – Đường về sau:
“Hà gian lục thư” chủ trương “Tâm hoả cực mạnh”, nhiệt khí uất kếtgây ra bệnh
Trong “Đan khê tâm pháp – Trúng phong luận” cho rằng “Đàm thấpsinh nhiệt” mà gây nên bệnh
“Đông đản tập thư” cho rằng “Chính khí hư tụ”: hư tổn chân khí nên dễ
bị trúng phong
Diệp Thiên Sỹ thiên về phong dương: do huyết kém, thủy không hàmmộc, can dương cang thịnh, phong dương vọng động, âm dương cùng tổnthương là nguyên nhân gây trúng phong
Danh y Tuệ Tĩnh (thế kỷ XIV) đã nói: “Trúng phong là đầu mối cácbệnh, biến hoá lạ thường và phát bệnh khác biệt Triệu chứng là thình lình ngã
ra, hôn mê bất tỉnh, miệng méo mắt lệch, sùi bọt mép, bán thân bất toại, nói
Trang 24năng ú ớ, chân tay cứng đờ không co duỗi được Các chứng trạng như thế đều
là trúng phong cả” [42]
Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (thế kỷ XVIII) mô tảchứng trúng phong như sau: “Trúng phong là bỗng nhiên ngã vật ra, ngườimắc bệnh này bảy đến tám phần do âm hư, còn do dương hư chỉ một haiphần, bệnh phần nhiều do hư yếu bên trong mà sinh ra phong, thỉnh thoảngmới có ngoại phong ” [43]
Ngày nay các thầy thuốc YHCT cho rằng nguyên nhân của trúngphong là do:
+ Nội thương hao tổn: tố chất cơ thể âm huyết suy, dương thịnh hoảvượng, phong hoả dễ tích hoặc do cơ thể già yếu can thận âm hư, candương thiên thịnh, khí huyết thượng nghịch, thượng bít thần khiếu độtnhiên mà phát bệnh [41]
+ Ẩm thực bất tiết: do ăn uống không điều độ, ảnh hưởng đến côngnăng tỳ vị, thấp nội sinh tích tụ sinh đàm, đàm thấp sinh nhiệt, nhiệt cực sinhphong, phong kết hợp với đàm phạm vào mạch lạc, đi lên trên làm tắc thanhkhiếu gây bệnh [9]
+ Tình chí thương tổn: uất nộ thương can, can khí bất hoà, khí uất hoáhoả, can dương bạo cang, thận thủy hư không chế ước được tâm hoả, khíhuyết thượng xung lên não mà gây bệnh [41]
+ Khí huyết hư tà trúng vào kinh lạc: do khí huyết không đủ, mạchlạc hư rỗng nên phong tà nhân chỗ hư trúng vào kinh lạc làm khí huyết tắctrở Hoặc người béo khí suy, đàm thấp thịnh, ngoại phong dẫn động đàmthấp bế tắc kinh lạc gây nên bệnh [44]
Như vậy nguyên nhân của trúng phong theo YHCT là do ngoại phong
và nội phong nhưng chủ yếu do nội phong là chính
Trang 25Ngoại phong: do ảnh hưởng của khí hậu, phong tà nhân chính khí cơ thểsuy giảm, tấu lý sơ hở, mạch lạc trống rỗng mà xâm nhập vào.
Nội phong: phong do bên trong cơ thể sinh ra, do âm dương mất cânbằng, chính khí cơ thể suy kém làm hao tổn chân âm, ảnh hưởng đến canthận Can là tạng thuộc phong, nếu can âm suy kém sẽ dẫn đến can hoảvượng, nhiệt hoá hoả, hoả thịnh thì phong động, che lấp các khiếu, rối loạnthần minh gây nên chứng trúng phong Nếu nhẹ là trúng phong kinh lạc(TPKL), nặng là trúng phong tạng phủ (TPTP), chữa không kịp thời sẽ tửvong hoặc để lại di chứng bán thân bất toại
1.3.2 Phân loại và điều trị chứng trúng phong
1.3.2.1 Phân loại
Chứng trúng phong chia làm hai loại lớn:
- Trúng phong kinh lạc (TPKL) nói chung không có sự thay đổi về thần
chí, bệnh nhẹ Triệu chứng chính là chân tay tê dại, yếu nửa người, nói khó,rêu lưỡi trắng, mạch phù sác
- Trúng phong tạng phủ (TPTP) bệnh xuất hiện đột ngột, liệt nửa
người có hôn mê, có hai chứng:
Chứng bế: bất tỉnh, răng cắn chặt, miệng mím chặt, hai bàn tay nắm
chặt, da mặt đỏ, chân tay ấm, không có rối loạn cơ tròn, mạch huyền hữu lực
Chứng thoát: bất tỉnh, mắt nhắm, miệng há, tay duỗi, chân tay lạnh, có
rối loạn cơ tròn, mạch trầm huyền vô lực
Trúng phong được chia làm ba giai đoạn: giai đoạn cấp tính, giai đoạnhồi phục, giai đoạn di chứng [45]
1.3.2.2 Điều trị
* Giai đoạn cấp:
Có 3 trạng thái: Không có rối loạn ý thức, bệnh nhân tỉnh táo; Hôn mênông; Hôn mê sâu [9], [45]
Trang 26+ Điều trị trường hợp không có rối loạn ý thức:
- Bệnh thường xuất hiện ở trạng thái tĩnh (đang nghỉ, sau khi làm việcmệt mỏi hoặc sau khi ngủ dậy)
- Phong trúng kinh lạc làm khí huyết trong kinh lạc bị trở ngại gây nên
- Phép chữa: Trừ phong dưỡng huyết thông lạc Bài thuốc thườngdùng Đại tần giao thang (Phụ lục 4) [41]
- Hoặc do can thận âm hư, phong dương nhiễu lên, hiệp với đàm chạyvào kinh lạc, lạc mạch không thông lợi cho nên miệng méo, mắt xếch, lưỡi cứng,khó nói, nửa người không cử động Phép chữa: Tư âm tiềm dương, tức phongthông lạc Bài thuốc thường dùng: Trấn can tức phong thang (Phụ lục 4) [41].+ Điều trị trường hợp hôn mê nông
- Thường do phong nhiệt nhiễu thanh không, đàm thấp hoặc đàm nhiệtlàm bế tắc tâm khiếu phong trúng tạng phủ [45]
- Triệu chứng: thường lúc tỉnh lúc mê, mặt đỏ, người nóng, hàm răngcắn chặt, nằm không yên, thở thô, có nhiều đờm, đại tiểu tiện không thông,mạch huyền sác
- Pháp điều trị: cấp cứu, khai bế tỉnh thần
- Phương dược: chủ yếu dùng An cung ngưu hoàng hoàn [46], [47],[48] (Phụ lục 4)
- Châm cứu: châm chích nặn máu các huyệt Bách hội, Thập tuyên
để thanh nhiệt, hạ áp Châm kích thích mạnh các huyệt Nhân trung, Thậpnhị tỉnh để khai khiếu tỉnh thần [45]
+ Điều trị ở giai đoạn hôn mê sâu: YHCT gọi là chứng thoát [41], [45].
- Triệu chứng: hôn mê sâu, mắt mở, vã mồ hôi, chân tay lạnh, thở yếu,mạch vi muốn tuyệt
- Pháp điều trị: hồi dương cố thoát
- Phương dược: Sâm phụ thang gia vị (Xem Phụ lục 4)
Trang 27- Châm cứu: cứu cách muối huyệt Thần khuyết, hoặc cứu huyệt Quannguyên, Khí hải đến khi chân tay ấm, sờ thấy mạch đập [45].
* Phục hồi sau giai đoạn cấp
Sau giai đoạn cấp bệnh nhân hoặc tử vong, hoặc hồi phục để lại di chứngnhư: liệt nửa người, miệng méo mắt xếch, nói khó YHCT kết hợp dùng thuốc
và châm cứu, xoa bóp bấm huyệt phục hồi di chứng rất hiệu quả
Các phương pháp trên đều có tác dụng cơ bản là điều chỉnh lại sự mấtcân bằng âm dương, làm cho kinh mạch được lưu thông, khí huyết điều hòa
cơ thể khỏe mạnh sẽ chống lại tác nhân gây bệnh, góp phần phục hồi liệt.Đây là giai đoạn can thiệp điều trị tốt nhất để phục hồi các di chứng
Điều trị chứng trúng phong sau giai đoạn cấp bằng thuốc YHCT
+ Khí hư huyết ứ, kinh lạc trở trệ
Triệu chứng: khí hư không vận hành được huyết, huyết không vinhdưỡng được cân cơ, khí huyết ứ trệ, mạch lạc tắc trở làm cho các chi thểkhông vận động được [9]
Pháp điều trị: ích khí hoạt huyết, thông kinh hoạt lạc [45]
Phương dược: chủ yếu dùng Bổ dương hoàn ngũ thang (Phụ lục 4) [44], [45]
+ Chính khí hư, phong tà trúng vào kinh lạc
Triệu chứng: bán thân bất toại, miệng méo mắt xếch, lưỡi cứng nói khóhoặc không nói được, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù hoãn [49]
Pháp điều trị: bổ chính trừ phong, điều hòa khí huyết [9], [50]
Phương dược: chủ yếu dùng Tiểu tục mệnh thang (Phụ lục 4) Hoặcdùng bài Đại tần giao thang (Phụ lục 4) để trừ phong thanh nhiệt, điều lý khí
Trang 28huyết thì kinh lạc thông suốt, chân tay cử động được, lưỡi mềm nên nói được[50]
+ Âm hư dương xung, mạch lạc ứ trở
Triệu chứng: bán thân bất toại, chân tay co cứng, tê tay chân, hoa mắtchóng mặt, mặt đỏ, phiền táo không yên, nói khó, chất lưỡi đỏ, rêu vàng,mạch huyền hữu lực [8], [50]
Pháp điều trị: bình can tiềm dương, tức phong thông lạc [8], [51]
Phương dược: chủ yếu dùng Thiên ma câu đằng ẩm (Phụ lục 4) [8]
+ Phong đàm trở trệ kinh lạc
Triệu chứng: lưỡi to bè, nói ngọng, nói khó, rêu lưỡi trắng mỏng, dính,mạch huyền tế [41]
Pháp điều trị: trừ phong, trừ đàm, tuyên thông khiếu lạc [41]
Phương dược: chủ yếu dùng Giải ngữ đan (Phụ lục 4) [41]
+ Thận tinh hư tổn
Triệu chứng: không nói được, hồi hộp, đánh trống ngực, đoản khí, lưnggối mỏi yếu, mạch trầm tế nhược [41], [45]
Pháp điều trị: tư âm, bổ thận, lợi khiếu [45]
Phương dược: chủ yếu dùng Địa hoàng ẩm tử (Phụ lục 4) [50]
+ Triệu chứng: miệng méo mắt lệch, kèm theo chi thể tê bì, hoặc nóikhó, nhức đầu chóng mặt [50], [41]
+ Pháp điều trị: trừ phong đàm, thông lạc [50], [52]
+ Phương dược: chủ yếu dùng Khiên chính tán (Phụ lục 4) [50]
Triệu chứng: bán thân bất toại, ỉa đái không tự chủ, ù tai, lưng gối lạnh
đau, chân tay lạnh, chóng mặt, choáng váng, chất lưỡi nhợt, rêu trắng, mạchtrầm trì [45], [50]
Trang 29Pháp điều trị: tư thận âm, bổ thận dương [52], [44].
Phương dược: chủ yếu dùng Địa hoàng ẩm tử (Phụ lục 4) [45], [44]
Điều trị chứng trúng phong sau giai đoạn cấp bằng phương pháp không dùng thuốc
Bệnh nhân đã qua giai đoạn cấp, hồi phục chức năng một phần và còn lại một
số triệu chứng như: bán thân bất toại, nói khó, miệng méo mắt xếch, đái ỉakhông tự chủ… Dựa theo triệu chứng kết hợp tứ chẩn có pháp điều trị, xâydựng phác đồ huyệt phù hợp cho từng thể
+ Thể châm
Chọn huyệt ở kinh dương nửa người bên liệt là chính
Huyệt chính gồm Kiên ngung, Khúc trì, Thủ tam lý, Ngoại quan,Dương trì, Hợp cốc, Hoàn khiêu, Phong thị, Túc tam lý, Dương lăng tuyền,Giải khê Liệt mặt châm nửa mặt bên liệt gồm: Hạ quan, Địa thương, Giáp xa.Thủ pháp bổ hoặc tả
Huyệt phối hợp châm cả hai bên Nếu âm huyết hư tổn: Huyết hải, Tam
âm giao, Thái khê Đàm che lấp tâm khiếu: Bách hội, Nhân trung Đàm trọc trởtrệ: Túc tam lý Nói khó: Á môn, Liêm tuyền, Thiên đột Thận hư, khí huyết bấttúc: Can du, Thận du, Quan nguyên [41], [53]
+ Mãng châm
Là phương pháp dùng kim dài và to với kỹ thuật châm Thông kinh
-Liên kinh - Thấu kinh để điều hòa khí huyết nhanh và mạnh hơn [53], [54].
Trong điều trị thường tác động vào các huyệt ở các kinh Thủ Túc Dươngminh, kinh Đởm, Tỳ và Bàng quang… để khu phong, trừ thấp, bình Can, kiện
Tỳ, thông kinh hoạt lạc, khai khiếu, điều hòa khí huyết [53], [54]
Trang 30+ Ngoài ra có thể áp dụng một số phương pháp khác như thuỷ châm,
đầu châm, nhĩ châm, cứu…[9], [45], [41]
Xoa bóp là phương pháp chữa bệnh ra đời sớm nhất với đặc điểm là:chỉ dùng thao tác của bàn tay; ngón tác động lên da thịt của bệnh nhân để đạtđược mục đích phòng và chữa bệnh Ưu điểm là giản tiện, có hiệu quả, cóphạm vi chữa bệnh tương đối rông, có giá trị phòng bệnh lớn [55]
Tác dụng của xoa bóp : Xoa bóp là một loại kích thích vật lý trực tiếp
tác động vào da thịt và các cơ quan cảm thụ của da và cơ, gây nên những thayđổi về thần kinh, thể dịch, nội tiết từ đó ảnh hưởng đến toàn thân [55]
XBBH trong điều trị di chứng trúng phong: nhằm mục đích tăng cường
dinh dưỡng, chống teo cơ, cứng khớp, giúp nhanh chóng phục hồi chức năngvận động nửa người bên liệt [52] Gồm xoa bóp vùng mặt, vai, lưng, chi trên
và chi dưới bên liệt [8]
Một số phương pháp khác của YHCT cũng được sử dụng trong điều trị
chứng trúng phong sau giai đoạn cấp như phương pháp luyện tập khí công,thiền và tập yoga…: áp dụng cho những bệnh nhân liệt đã hồi phục hoặc hồiphục một phần, đã tự đi lại được [8] Luyện tập từ nhẹ rồi tăng dần theo tìnhtrạng từng bệnh nhân và cần kiên trì luyện tập thường xuyên, đều đặn [9]
1.4 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG THUỐC Y HỌC CỔ TRUYỀN ĐIỀU TRỊ NHỒI MÁU NÃO SAU GIAI ĐOẠN CẤP
1.4.1 Một số nghiên cứu ở Trung Quốc
+ Khúc Hải Nguyên (1985) – Bệnh viện Trung y Cát Lâm, dùng “Địalong đan sâm thang” Kết quả: tốt 4 trường hợp, khá 27 trường hợp, không kếtquả 1 trường hợp, tỷ lệ đạt 96% [56]
+ Trương Văn Học (1987) – Học viện Trung y Thiểm Tây, dùng
“Thông mạch sơ lạc phương” Điều trị 110 trường hợp nhũn não Kết quả:
Trang 31loại tốt 47,3%, khá 32,7%, trung bình 18,2%, không kết quả 1,8% Tỷ lệ cókết quả là 92% [56].
+ Hà Tiếu Tiên (1989) ở Bệnh viện Tuyên Vũ Bắc Kinh đã điều trị cho
46 bệnh nhân bằng “Đào hồng thông mạch phương” Kết quả như sau: 29 bệnhnhân phục hồi tốt (63,3%), 14 bệnh nhân phục hồi khá (30,4%), 3 bệnh nhân cótiến bộ (6,5%), sau điều trị có 13 bệnh nhân huyết áp trở về bình thường trong
số 23 bệnh nhân có tăng huyết áp [56]
+ Tác dụng điều trị cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua của xuyênkhung và aspirin trên 158 trường hợp, xuyên khung 111 trường hợp, aspirin
47 trường hợp, tỷ lệ hiệu quả lần lượt là 89,2 và 61,7%, sự khác biệt trước vàsau điều trị (p < 0,001) [57]
1.4.2 Một số nghiên cứu ở Việt Nam
Năm 2002, Nguyễn Đức Vượng dùng “Kiện não hoàn” điều trị nhồi máunão sau giai đoạn cấp Kết quả theo thang điểm Rankin: 50% bệnh nhân phụchồi độ 1; 36,7% còn lại di chứng nhẹ; 10% di chứng vừa; 3,3% liệt độ 4 [58]
Tôn Chi Nhân (2004) đã “Nghiên cứu điều trị phục hồi chức năng vậnđộng cho bệnh nhân TBMN bằng điện châm kết hợp thuốc YHCT nghiệmphương” Kết quả: phục hồi hoàn toàn 68%; di chứng nhẹ 22%; và 10% dichứng vừa [59]
Năm 2005, Vũ Thu Thuỷ và cộng sự “Nghiên cứu tác dụng điều trị củaHoa Đà tái tạo hoàn đối với nhồi máu bán cầu đại não sau giai đoạn cấp” Kếtquả phục hồi mức độ tốt 23,7%; khá 39,5%; trung bình 36,8% [60]
Năm 2005, Nguyễn Văn Vụ điều trị 103 bệnh nhân bị NMN sau giai đoạncấp bằng Kỷ cúc địa hoàng hoàn và Tứ vật đào hồng Kết quả: 88,35% giảm độliệt trong đó 11,7% hồi phục hoàn toàn; 18,3% đỡ nhiều và 58,3% đỡ ít [61].Trần Thị Quyên (2005) “Đánh giá điều trị phục hồi chức năng vận động
do NMN sau giai đoạn cấp bằng bài thuốc Bổ dương hoàn ngũ thang kết hợp
Trang 32với điện châm” Kết quả: 100% bệnh nhân cải thiện độ liệt, loại tốt 66,7%,khá 20,0% [10].
Trương Mậu Sơn (2006) đã “Đánh giá tác dụng phục hồi chức năngvận động do NMN sau giai đoạn cấp bằng thuốc Ligustan kết hợp với điệnchâm" Kết quả: cải thiện độ liệt Rankin: loại tốt và khá đạt 86,7% (tốt 26,7%
và khá 60%) Điểm trung bình Orgogozo từ 38,0 ± 11,3 điểm trước điều trịtăng lên 69,8 ± 20,4 điểm (p < 0,01) [62]
Nguyễn Bá Anh (2008) “Đánh giá tác dụng hỗ trợ điều trị của Nattospestrên bệnh nhân NMN sau giai đoạn cấp” Kết quả: mức tăng điểm trung bìnhBarthel sau điều trị là 32,78 ± 10,0 so với trước điều trị (p < 0,05) [63]
Nguyễn Công Doanh (2011) sử dụng bài Thông mạch dưỡng não ẩm vàđiện châm trên bệnh nhân nhồi máu động mạch não giữa sau giai đoạn cấp.Kết quả: 86,5% chuyển dịch một độ, chuyển dịch hai độ là 13,5% theo thang
điểm Henry Điểm trung bình Barthel tăng được 41,58 ± 6,90 điểm [64].
Ngô Quỳnh Hoa (2013) “Nghiên cứu tính an toàn và tác dụng của thuốc
“Thông mạch sơ lạc hoàn” trong điều trị nhồi máu não sau giai đoạn cấp”.Kết quả: có 51,11% dịch chuyển được 1 độ và 40% dịch chuyển được 2 độtheo thang điểm Barthel, Điểm trung bình Barthel tăng được 34,22±11,28điểm [65]
1.5 TỔNG QUAN BÀI THUỐC NGHIÊN CỨU “ĐỊA HOÀNG ẨM TỬ” 1.5.1 Xuất xứ, thành phần bài thuốc
Bài thuốc “Địa hoàng ẩm tử”có nguồn gốc từ Hoàng đế Tố Vấn tuyênminh luận phương [12]
Thành phần của bài thuốc “ Địa hoàng ẩm tử”: Thục địa hoàng 12g, Bakích thiên 12g, Hắc phụ tử chế 02g, Nhục quế 04g, Viễn chí 08g, Sơn thù du12g, Sinh khương 06g, Nhục thung dung 12g, Ngũ vị tử 08g, Mạch môn đông12g, Thạch hộc 12g, Bạch linh 12g, Xương bồ 12g, Bạc hà 08g, Đại táo 08g
Trang 331.5.2 Một số nghiên cứu về bài thuốc Địa hoàng ẩm tử
Năm 1989, một nghiên cứu đánh giá tác dụng trên lâm sàng của bàithuốc này trên 30 trường hợp TBMMN được tiến hành tại Học viện Trung YThiểm Tây Trong đó NMN 9 trường hợp, Xuất huyết dưới màng nhện 11trường hợp, Xuất huyết não 10 trường hợp; thời gian mắc bệnh ngắn nhất
là 6 ngày, dài nhất là 12 ngày Trạng thái hôn mê nông là 16 trường hợp,
mơ màng 7 trường hợp, tỉnh táo 7 trường hợp Kết qua khỏi 24 trường hợp,chuyển biến tốt 6 trường hợp [13]
Báo Trung Y Tứ Xuyên số 12 năm 1985 ghi lại 2 trường hợp dùngthuốc điều trị 1 trường hợp co thắt mạch não, 1 trường hợp tắc nghẽn mạchnão, kết quả sau khi uống 1-2 thang đều hồi phục, đi lại, nói năng bìnhthường [13]
1.5.3 Tác dụng của các vi thuốc trong bài “Địa hoàng ẩm tử”
Thành phần bài thuốc “Địa hoàng ẩm tử”: Thục địa hoàng, Ba kích
thiên, Hắc phụ tử chế, Nhục quế, Viễn chí, Sơn thù du, Sinh khương, Nhụcthung dung, Ngũ vị tử, Mạch môn đông, Thạch hộc, Bạch linh, Xương bồ,Bạc hà, Đại táo
Từ các tài liệu “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi[66], “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” của Viện Dược liệu [67] tôitóm tắt và khái quát tác dụng theo YHCT và YHHĐ của các vị thuốc có trong
thành phần của “Địa hoàng ẩm tử” như sau:
Thục địa hoàng (Radix Rehmaniae glutinosae)
+ Tác dụng theo YHCT:
- Tác dụng: tư âm dưỡng huyết, thông thận tráng thủy
- Chủ trị: Bổ thận, chữa di tinh, lưng gối mềm yếu, ngủ ít, đái dầm
Trang 34Dùng phối hợp Mạch môn thì đại bổ tinh huyết Bổ huyết điều kinhchữa kinh nguyệt không đều Sinh tân dịch làm sáng mắt [68], [69].
+ Tác dụng theo YHHĐ:
- Thành phần hóa học: manit, rehmanin, chất đường
- Tác dụng dược lý: lợi tiểu, hạ đường huyết, cường tim, cầm máu, bảo vệ
- Thành phần hóa học: Vitamin C, chất đường và một số chất khác
- Tác dụng dược lý: nước sắc ba kích có tác dụng làm tăng sự co bópcủa ruột, hạ huyết áp, không độc [66]
Hắc phụ tử chế (Radix Aconiti lateralis praeparata)
+ Tác dụng theo YHCT:
- Tác dụng: hồi dương cứu nghịch, bổ hỏa, tán hàn trừ thấp
- Chủ trị: trợ dương cứu nghịch dùng trong chứng thoát dương, ngườigià thận dương hư, mệnh môn hỏa suy lưng gối mềm yếu, các cơn đau dolạnh, cầm ỉa chảy do tỳ vị hư hàn, ôn thận lợi niệu…[68]
Trang 35lượng máu của động mạch đùi và giảm lực cản của động mạch, làm tăng nhẹlưu lượng máu của động mạch vành [66].
Nhục quế (Cortex Cinnamomi)
+ Tác dụng theo YHCT:
- Tác dụng: bổ mệnh môn hỏa (thận dương), kiện tỳ
- Chủ trị: trợ dương cứu nghịch chứng thoát, thận dương hư, mệnh mônhỏa suy, các cơn đau do lạnh, bế kinh, cầm ỉa chảy do tỳ vị hư hàn [68]
Sơn thù (Fructus Corni)
+ Tác dụng theo YHCT :
- Tác dụng: bổ can thận, cố tinh, sáp niệu
- Chủ trị: chữa di tinh do thận hư, tiểu tiện nhiều lần, cầm mồ hôi, đaulưng, lạnh lưng do thận hư [67]
+ Tác dụng theo YHHĐ:
- Thành phần hóa học: Saponin (13%), tannin, acid hữu cơ, đường
- Tác dụng dược lý: lợi tiểu, hạ huyết áp, có tác dụng kháng sinh nhất
là đối với thương hàn và lỵ [66]
Sinh khương (Rhizoma Zingiberis)
+ Tác dụng theo YHCT:
- Tác dụng: giải biểu phát hãn, chữa nôn do lạnh, giải độc
- Chủ trị: Các chứng cảm mạo do lạnh, nôn mửa do lạnh, ho do lạnh,
Trang 36giải độc và hạn chế độc tính của các vị Bán hạ, Nam tinh, Phụ tử [68].
+ Tác dụng theo YHHĐ:
- Thành phần hóa học: tinh dầu gừng (2-3%), chất béo, tinh bột, chất cay
- Tác dụng dược lý: làm ra mồ hôi, tăng tiết dịch vị hỗ trợ tiêu hóa [66]
Viễn trí (Radix Polygalae)
- Thành phần hóa học: protit, chất béo, canxi, vitamin A, vitamin C
- Tác dụng dược lý: bảo vệ tế bào gan, tăng lực cơ và thể trọng, chống
dị ứng, an thần [66], [70]
Nhục dung (Herb Cistanches)
Trang 37+ Tác dụng theo YHCT:
- Tác dụng: trợ thận, ích tinh huyết, tráng dương, nhuận trường
- Chủ trị: chữa di tinh, liệt dương, hoạt tinh, làm khỏe mạnh gân xương,khát do âm hư tân dịch giảm, trị băng huyết, đái són, bạch đái, táo bón ngườigià thận khí kém âm huyết hư [68]
Ngũ vị tử (Fructus Shisandrae)
+ Tác dụng theo YHCT:
- Tác dụng: tả hỏa, bổ phế, nhuận thận, cầm mồ hôi, cố tinh
- Chủ trị: chữa di tinh, hoạt tinh do thận hư, ho do thận hư không nạp phế,khát do âm hư, cầm ỉa chảy do thận dương hư không ôn được tỳ dương [68]
+ Tác dụng theo YHHĐ:
- Thành phần hóa học: tinh dầu mùi chanh (sesquitecpen, andehyt,xeton), acid xitric, acid malic, acid tactric, vitamin C, schizandrin, đường,tannin, đường, chất béo
- Tác dụng dược lý: đối với thần kinh trung ương, thuốc có tác dụng làcân bằng hai quá trình hưng phấn và ức chế của vỏ não, nâng cao trí lực, hiệusuất làm viêc, kích thích thần kinh cơ, chức năng hệ thần kinh ngoại vi đượcmạnh lên Schizandrin có tác dụng giảm đau, an thần, giải nhiệt Thuốc có tácdụng hạ áp, nhưng khi suy tuần hoàn lại có tác dụng nâng áp, điều tiết huyếtáp,thực nghiệm chứng minh thuốc có tác dụng giãn mạch và cường tim.Gamma-Schizandrin có tác dụng ức chế sự hợp thành DNA của tế bào ung
Trang 38thư, gia tăng quá trình tổng hợp và phân giải glycogen, cải thiện sự hấp thuđường của cơ thể [66], [67], [70].
Mạch môn (Radix Ophiopogi)
+ Tác dụng theo YHCT:
- Tác dụng: hạ sốt, nhuận phế, sinh tân dịch
- Chủ trị: chữa ho do nhiệt, khát do vị nhiệt, táo bón do âm hư, cầmmáu do sốt cao gây chảy máu, lợi niệu
+ Tác dụng theo YHHĐ:
- Thành phần hóa học: saponin, chất nhầy, chất đường
- Tác dụng dược lý: an thần, tăng lượng máu đến động mạch vành, bảo vệ cơtim, cải thiện lực co bóp cơ tim, chống rối loạn nhịp tim, có tác dụng ức chế mạnh tụcầu, trục khuẩn đại tràng, trực khuẩn thương hàn [66], [67], [70]
Bạch linh (Poria)
+ Tác dụng theo YHCT:
- Tác dụng: lợi niệu thẩm thấp, kiện tỳ an thần
- Chủ trị: chứng nhiễm trùng tiết niệu, cầm ỉa chảy mạn tính do tỳ hư,
an thần [66]
+ Tác dụng theo YHHĐ:
- Thành phần hóa học: đường pachymoza, glucoza, fructoza, chất khoáng
- Tác dụng dược lý: lợi tiểu, tăng miễn dịch, an thần, hạ đường huyết, bảo
vệ gan, nước sắc và cồn ngâm kiệt thuốc có tác dụng diệt khuẩn [66], [67], [70]
Xương bồ (Rhizoma Acori)
+ Tác dụng theo YHCT:
- Tác dụng: khai khiếu tỉnh thần, trục đờm, giải độc, sát trùng
- Chủ trị: chứng kinh giản, đờm thạch nghịch lên, phong hàn tê thấp,
Trang 39đắp ngoài trị mụn nhọt [69].
+ Tác dụng theo YHHĐ:
- Thành phần hóa học: tinh dầu (86% asaron), phenol, acid béo
- Tác dụng dược ly: xúc tiến sự phân tiết các dịch tiêu hóa, hạn chế sựlên men không bình thường của dạ dày, ruột, dự phòng và điều trị loạn nhịptim trên thực nghiệm, điều hòa nhịp tim [66]
Bạc hà (Herba Menthae arvensis)
- Thành phần hóa học: tinh dầu (mentol), flavonozit
- Tác dụng dược lý: tại chỗ gây cảm giác mát, gây tê tại chỗ, sát trùngmạnh, ức chế hô hấp, tuần hoàn đặc biệt là trẻ nhỏ, với liều nhỏ gây hưngphấn, tăng tiết mồ hôi, hạ nhiệt độ cơ thể, liều cao tác dụng kích thích tủysống, gây tê liệt phản xạ, ngăn cản sự lên men bình thường trong ruột [66]
Thạch hộc (Caulis Dendrobii)
+ Tác dụng theo YHCT:
- Tác dụng: dưỡng âm thanh nhiệt
- Chủ trị: chứng miệng khô, họng khô miệng lở loét, sốt kéo dài, chứngnôn mửa do vị nhiệt khi sốt cao gây mất tân dịch [68]
+ Tác dụng theo YHHĐ:
- Thành phần hóa học: chất nhầy, alcaloit dendrobin
- Tác dụng dược lý: hạ nhiệt, giảm đau Nước sắc làm tăng tiết dịch vị,tăng nhu động ruột, thông tiện với liều thấp, liều cao có tác dụng ức chế Làmtăng đường huyết ở mức độ trung bình, liều cao ức chế hô hấp tim, hạ huyết
Trang 40áp [66], [67].