KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành/ngành : Khoa học môi trường Thái Nguyên, năm 2018... ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM KHÓA LUẬN TỐT NGHIÊ
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành/ngành : Khoa học môi trường
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành/ngành : Khoa học môi trường
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS ĐỖ THỊ LAN
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là một khâu rất quan trọng giúp sinh viên trau dồi,
củng cố, bổ sung kiến thức đã học tập ở trường Đồng thời cũng giúp sinh
viên tiếp xúc với thực tế đem những kiến thức đã học áp dụng vào đời sống
thực tiễn sản xuất.Qua đó giúp sinh viên học hỏi và rút ra kinh nghiệm từ thực
tế để khi ra trường trở thành một cán bộ có năng lực tốt, trình độ lý luận cao,
chuyên môn giỏi, đáp ứng nhu cầu cấp thiết của xã hội
Xuất phát từ những cơ sở trên, được sự nhất trí của ban giám hiệu nhà
Trường, ban chủ nhiệm khoa Môi trường, trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, em đã tiến hành thực tập tốt nghiệp với tên đề tài mang tên :“Đánh
giá công tác thu gom và quản lý rác thải sinh hoạt ở xã Hưng Long –
huyện Yên Lập –Tỉnh Phú Thọ và đề xuất một số biện pháp xử lý”
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, em xin chân thành cảm ơn sự
giúp đỡ, chỉ đạo tận tình của các thầy, cô giáo trong ban giám hiệu nhà
trường Đặc biệt em vô cùng cảm ơn cô giáo PGS.TS Đỗ Thị Lan đã hướng
dẫn, chỉ đạo tận tình giúp em hoàn thành khóa luận
Em xin chân thành cảm ơn UBND xã Hưng Long đã giúp đỡ và tạo
điều kiện cho em trong suốt quá trình thực tập trên địa bàn xã
Ngoài ra để có kết quả như ngày hôm nay em vô cùng biết ơn công sinh
thành, nuôi dưỡng của cha mẹ, của những người thân yêu, cùng bạn bè đã
luôn động viên và cổ vũ em trong học tập và rèn luyện
Do thời gian thực tập ngắn, trình độ chuyên môn của bản thân còn hạn
chế, bản thân còn thiếu nhiều kinh nghiệm Nên khóa luận không thể tránh
khỏi những sai sót Em rất mong được sự đóng góp quý báu của thầy, cô
giáo và bạn bè để khóa luận được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2018
Sinh viên
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Định nghĩa thành phần của chất thải rắn sinh hoạt 8
Bảng 2.2 Lượng phát sinh chất thải rắn đô thị ở một số nước 14
Bảng 2.3 Phát sinh chất thải rắn sinh hoạt đô thị ở các nước ASEAN 15
Bảng 2.4 Tỷ lệ CTR xử lý bằng các phương pháp khác nhau 17
ở một số nước 17
Bảng 2.5 Lượng CTRSH phát sinh ở các đô thị Việt Nam đầu năm 2007 19
Bảng 2.6 Lượng CTRSH đô thị theo vùng địa lý Việt Nam 20
Bảng 4.1 Khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh từ hộ gia đình 38
trên địa bàn xã Hưng Long 38
Bảng 4.2 : Rác thải sinh hoạt phát sinh từ các nguồn khác nhau 39
trên địa bàn xã Hưng Long 39
Bảng 4.3: Thành phần rác thải sinh hoạt của xã Hưng Long 40
Bảng 4.4 Nhận thức của người dân về phân loại rác thải tại nguồn 44
Bảng 4.5 Nhận thức của người dân về ảnh hưởng đến môi trường của việc xả rác không đúng nơi quy định 45
Bảng 4.6 Đánh giá của người dân về hiện trạng thu gom, 46
xử lý rác thải sinh hoạt 46
Bảng 4.7 Mức phí thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt 47
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Sơ đồ nguồn gốc phát sinh chất thải rắn 6 Hình 4.1 Bản đồ vị trí địa lý xã Hưng Long 30 Hình 4.2 Biểu đồ tỷ lệ các nguồn phát sinh rác thải sinh hoạt
trên địa bàn xã Hưng Long 40
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
CNH – HĐH : Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
CTRSH : Chất thải rắn sinh hoạt
HĐND – UBND : Hội đồng nhân dân – Ủy ban nhân dân
LPSCTRĐT : Lượng phát sinh chất thải rắn đô thị
TTLT-BTC-BTNMT : Thông tư liên tịch- Bộ tài chính- Bộ tài
nguyên môi trường
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC HÌNH iii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC vi
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1.Đặt vấn đề 1
1.2.Mục tiêu của đề tài 2
1.2.1.Mục tiêu chung của đề tài Error! Bookmark not defined 1.2.2.Mục tiêu cụ thể của đề tài Error! Bookmark not defined 1.3 Yêu cầu của đề tài 2
1.4.Ý nghĩa của đề tài 3
1.4.1.Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.4.2.Ý nghĩa thực tiễn 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.1.1 Các khái niệm liên quan 4
2.1.2 Nguồn gốc phát sinh của chất thải rắn 5
2.1.3 Phân loại chất thải rắn 6
2.1.4 Thành phần chất thải rắn sinh hoạt 7
2.1.5.Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường và sức khỏe cộng đồng 9
2.2 CĂN CỨ PHÁP LÝ 12
2.3.Cơ sở thực tiễn của đề tài 13
2.3.1.Hiện trạng quản lý rác thải trên thế giới 13
2.3.2.Hiện trạng quản lý rác thải ở Việt Nam 18
2.3.3.Tình hình thu gom và xử lý rác thải tại tỉnh Phú Thọ 23
Trang 8PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
27
3.1.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 27
3.2.Địa điểm và thời gian nghiên cứu 27
3.3.Nội dung nghiên cứu 27
3.4 Phương pháp nghiên cứu 28
3.4.1 Phương pháp kế thừa 28
3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 28
3.4.3 Phương pháp điều tra phỏng vấn 28
3.4.4 Phương pháp xác định thành phần rác thải 29
3.4.5 Phương pháp phân tích và tổng hợp số liệu 29
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
4.1.Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Hưng Long, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ 30
4.1.1.Điều kiện tự nhiên 30
4.1.2 Điều kiện kinh tế – xã hội 31
4.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và môi trường 35
4.2 Thực trạng công tác thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn xã Hưng Long 36
4.2.1 Hiện trạng phát sinh rác thải sinh hoạt trên địa bàn xã Hưng Long 36
4.2.2 Hiện trạng công tác thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải trên địa bàn xã Hưng Long 42
4.3.Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý chất thải trên địa bàn xã Hưng Long 49
4.3.1 Giải pháp về quy hoạch và chính sách 49
4.3.2.Giải pháp quản lý rác thải rắn 51
4.3.3 Giải pháp về thu phí BVMT 52
Trang 94.3.4 Giải pháp về công tác tuyên truyền, giáo dục, ý thức bảo vệ môi
trường cho người dân 52
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
5.1.Kết luận 54
5.2.Kiến nghị 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
Phần I: Thông tin cá nhân 60
Phần II: Nội dung phỏng vấn 60
Trang 10PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1.Đặt vấn đề
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật ( Luật Bảo vệ Môi trường 2005 )
Bảo vệ môi trường là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, cải thiện môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên Đây cũng là vấn đề mà hiện nay cả thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang hết sức quan tâm
Cùng với sự phát triển chung của thế giới, nền kinh tế Việt Nam cũng đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ Quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đang diễn ra hết sức khẩn trương, bộ mặt xã hội có nhiều chuyển biến tích cực Tuy nhiên đi kèm với nó là những tồn tại rất đáng lưu tâm như biến đổi khí hậu, gia tăng dân số và hàng loạt các vấn đề về môi trường khác Đặc biệt gia tăng dân số trong quá trình công nghiệp hóa đã gây ra nhiều sức ép cho môi trường, cụ thể là về rác thải
Nền kinh tế xã hội càng phát triển, dân số gia tăng thì nhu cầu tiêu thụ của con người cũng tăng lên, theo đó lượng rác thải sinh hoạt phát sinh ngày càng nhiều Lượng tài nguyên thiên nhiên và các nguồn của cải đưa vào sản xuất và tiêu dùng thường có thể đo đếm bằng khối lượng hoặc bằng tiền, nhưng lượng chất thải được thải ra làm ô nhiễm môi trường thì khó đong đếm bằng khối lượng hay bằng tiền được Việc bùng nổ rác thải sinh hoạt là nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng, làm mất cảnh quan văn hóa đô thị và nông thôn…
Trang 11Hưng Long cũng là một xã thuộc huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ có đóng góp không nhỏ vào sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Tuy nhiên cùng với đó là lượng chất thải thải ra môi trường ngày một nhiều hơn, đa dạng hơn về thành phần và độc hại hơn về tính chất Với số dân đông, năm 2017 là 5345 (UBND xã Hưng Long, 2017) nên lượng rác thải phát sinh rất lớn Người dân đã có ý thức hơn trong quản lý rác thải sinh hoạt, rác thải được người dân bỏ vào túi nilon để đúng nơi quy định chờ thu gom; một phần nhỏ được tận dụng trong chăn nuôi gia súc, gia cầm hay bán rác thải có thể tái chế Tuy nhiên nhận thức của người dân về rác thải còn chưa đầy đủ và hoạt động quản lý còn nhiều bất cập, đó là nhiều hộ dân vứt trực tiếp rác ra đường làng, sông, ao cạnh nhà Chính quyền xã chưa có chế tài cử phạt đối với các đối tượng trên vì vậy môi trường ngày càng ô nhiễm
Được sự đồng ý của ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Môi
Trường, dưới sự hướng dẫn của cô giáo PGS.TS Đỗ Thị Lan – Giảng viên
khoa Môi Trường, trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi đã tiến hành
nghiên cứu đề tài :“Đánh giá công tác thu gom và quản lý rác thải sinh hoạt ở xã Hưng Long – huyện Yên Lập –Tỉnh Phú Thọ và đề xuất một số biện pháp xử lý”
1.2.Mục tiêu của đề tài
+ Đánh giá hiện trạng phát sinh rác thải sinh hoạt ở xã Hưng Long
+ Đánh giá hiện trạng quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn xã Hưng Long + Đề xuất một số biện pháp nhằm tăng cường công tác quản lý chất thải phù hợp với điều kiện của xã
1.3 Yêu cầu của đề tài
- Số liệu thu thập phải khách quan, chính xác, trung thực
- Đề xuất những giải pháp kiến nghị phải có tính khả thi, thực tế, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương
Trang 121.4.Ý nghĩa của đề tài
1.4.1.Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
+ Nâng cao kiến thức kỹ năng và rút ra những kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này
+ Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập và nghiên cứu
1.4.2.Ý nghĩa thực tiễn
+ Đánh giá được lượng rác thải phát sinh, tình hình thu gom, vận chuyển
và quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn xã Hưng Long
+ Đề xuất một số biện pháp để xử lý rác thải sinh hoạt
Trang 13PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Các khái niệm liên quan
- Rác: là thuật ngữ dùng để chỉ chất thải rắn hình dạng tương đối cố định, bị vứt bỏ từ hoạt động của con người Rác sinh hoạt hay chất thải rắn sinh hoạt là một bộ phận của chất thải rắn, được hiểu là các chất thải rắn phát sinh từ các hoạt động sinh hoạt hàng ngày của con người ( Trần Hữu Nhuệ và cs, 2001) [21]
- Chất thải: Theo Điều 3 Luật BVMT 2005 [10]:“ Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc họat động khác ”.Đôi khi chất thải cũng bao gồm một số chất chưa qua sử dụng
- Chất thải rắn: là chất thải ở thể rắn hoặc sệt ( hoặc còn gọi là bùn thải) được thải từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác [4]
- Chất thải rắn sinh hoạt: Theo Điều 3 Nghị định 38/2015 NĐ-CP ngày 24/04/2015 về quản lý chất thải và phế liệu [19]: là chất thải ở trạng thái rắn phát sinh trong các hoạt động sinh hoạt hàng ngày của con người
- Tái sử dụng chất thải là việc sử dụng lại chất thải một cách trực tiếp hoặc sau khi sơ chế mà không làm thay đổi tính chất của chất thải
- Tái chế chất thải là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật để thu lại các thành phần có giá trị từ chất thải
- Phế liệu là sản phẩm, vật liệu bị loại trừ ra khỏi quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng được thu hồi để tái chế, tái sử dụng làm nguyên liệu cho quá trình sản xuất sản phẩm khác
- Quản lý rác thải là hành động thu gom, phân loại và xử lý các loại rác thải của con người Hoạt động này nhằm làm giảm các ảnh hưởng xấu của rác vào môi trường và xã hội
Trang 14- Xử lý rác thải là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật (khác với sơ chế) để làm giảm, loại bỏ, cô lập, cách ly, thiêu đốt, tiêu hủy, chôn lấp chất thải và các yếu tố có hại trong chất thải
- Vận chuyển chất thải là quá trình chuyên chở rác thải từ nơi phát sinh, thu gom, lưu trữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc bãi chôn lấp cuối cùng
- Thu gom rác thải là hoạt động tập hợp phân loại, lưu trữ tạm thời rác thải tại nhiều điểm thu gom và cơ sở được cơ quan thẩm quyển xác nhận
2.1.2 Nguồn gốc phát sinh của chất thải rắn
Khối lượng rác thải sinh hoạt hiên nay ngày càng tăng do các tác động của sự gia tăng dân số, sự phát triển kinh tế – xã hội mà nhu cầu sử dụng tiêu dùng trong các đô thị và càng vùng nông thôn đã có những thay đổi
CTR phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm:
- Khu dân cư; khu công cộng (nhà ga, bến tàu, sân bay, công viên, khu vui chơi, đường phố…);
- Khu thương mại, du lịch (nhà hàng, khách sạn, siêu thị, chợ , khu du lịch, bệnh viện, trạm y tế …);
- Từ cơ quan, công sở (trường học, cơ quan hành chính, trung tâm văn hoá thể thao…);
- Từ các hoạt động công nghiệp ( công nghiệp nhẹ, công nghiệp hóa học, )
- Từ các hoạt động nông nghiệp ( Vỏ chai thuốc BVTV, );
- Từ các hoạt động xây dựng đô thị;
- Từ các trạm xử lý nước thải và từ các đường cống thoát nước của thành phố, khu, cụm dân cư.[15]
Trang 15Hình 2.1: Sơ đồ nguồn gốc phát sinh chất thải rắn 2.1.3 Phân loại chất thải rắn
2.1.3.1 Phân loại theo nguồn phát sinh
- Chất thải sinh hoạt: phát sinh hàng ngày ở các đô thị, làng mạc, khu dân cư, các trung tâm dịch vụ, công viên
- Chất thải công nghiệp: phát sinh từ trong quá trình sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp (gồm nhiều thành phần phức tạp, đa dạng, trong đó chủ yếu là các dạng rắn, dạng lỏng, dạng khí)
- Chất thải xây dựng: là các phế thải như đất đá, gạch ngói, bê tông vỡ, vôi vữa, đồ gỗ, nhựa, kim loại do các hoạt động xây dựng tạo ra
- Chất thải nông nghiệp: sinh ra do các hoạt động nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông sản trước và sau thu hoạch
2.1.3.2 Phân loại theo mức độ nguy hại
- Chất thải nguy hại: là chất thải dễ gây phản ứng, dễ cháy nổ, ăn mòn, nhiễm khuẩn độc hại, chứa chất phóng xạ, các kim loại nặng Các chất thải này tiềm ẩn nhiều khả năng gây sự cố rủi ro, nhiễm độc, đe doạ sức khoẻ con
Nhà dân, khu
máy, xí nghiệp
Trang 16người và sự phát triển của động thực vật, đồng thời là nguồn lan truyền gây ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí
- Chất thải không nguy hại: là các chất thải không chứa các chất và các hợp chất có các tính chất nguy hại Thường là các chất thải phát sinh trong sinh hoạt gia đình, đô thị…
2.1.3.3 Phân loại theo thành phần
- Chất thải vô cơ: là các chất thải có nguồn gốc vô cơ như tro, bụi, xỉ, vật liệu xây dựng như gạch, vữa, thuỷ tinh, gốm sứ, một số loại phân bón, đồ dùng thải bỏ gia đình
- Chất thải hữu cơ: là các chất thải có nguồn gốc hữu cơ như thực phẩm thừa, chất thải từ lò giết mổ, chăn nuôi cho đến các dung môi, nhựa, dầu mỡ
và các loại thuốc bảo vệ thực vật
2.1.4 Thành phần chất thải rắn sinh hoạt
Trong chất thải rắn sinh hoạt có chứa nhiều thành phần khác nhau, thông thường gồm có: Rác thực phẩm, giấy loại, bao bì, túi nilon, nhựa, vải, cao su,
gỗ, thủy tinh vỡ, các loại chai lọ bằng thủy tinh hoặc bằng nhựa, lon đồ hộp, Tùy theo mục đích và phương án kỹ thuật quản lý chất thải rắn từ nguồn phát sinh đến nơi thải bỏ cuối cùng, thành phần chất thải rắn có thể được biểu diễn từ rất đơn giản chỉ gồm 2 thành phần chính là rác thực phẩm và phần còn lại hoặc rất chi tiết gồm từng thành phần riêng Đối với các nước Châu Á, rác thực phẩm hoặc các thành phần hữu cơ có khả năng phân hủy sinh học là thành phần chiếm tỷ lệ cao nhất
Trang 17Bảng 2.1: Định nghĩa thành phần của chất thải rắn sinh hoạt
dệt Các sản phẩm có nguồn gốc từ sợi
Vải, len, nilon
c Thực
phẩm Các chất thải từ đồ ăn, thực phẩm
Cọng rau, vỏ quả, thân cây, lõi ngô
b Các kim
loại phi
sắt
Các vật liệu không bị nam châm hút
Vỏ nhôm, giấy bao gói, đồ đựng
chia thành hai phần: kích thước lớn hơn
5 mm và loại nhỏ hơn 5 mm
Đá cuội, cát, đất, tóc
(Nguồn Nguyễn Trung Việt và cs, 2008)[13]
Trang 182.1.5.Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường và sức khỏe cộng đồng
2.1.5.1 Ảnh hưởng của CTR đến sức khỏe cộng đồng
Ô nhiễm môi trường do rác thải gây ra ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe cộng đồng Khí thải từ bãi rác theo con đường hô hấp vào cơ thể, một phần như chất hữu cơ, kim loại nặng thâm nhập vào nguồn nước vào cơ thể thông qua đồ ăn, nước uống làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người là nguyên nhân của 22 loại bệnh của con người trong đó có bệnh ung thư và các loại bệnh về tai mũi họng, sốt rét, viêm phổi, đường ruột
Người dân sống gần bãi rác không hợp vệ sinh có tỷ lệ mắc các bệnh da liễu, viêm phế quản, đau xương khớp cao hơn hẳn những nơi khác Một nghiên cứu tại Yên Lập cho thấy tỷ lệ người ốm và mắc các bệnh như tiêu chảy, da liễu, hô hấp tại khu vực chịu ảnh hưởng của bãi rác cao hơn hẳn so với khu vực không chịu ảnh hưởng( Viện Y học Lao động và Vệ sinh môi trường, 2009) [16]
Hiện tại chưa có số liệu đánh giá đầy đủ về sự ảnh hưởng của các bãi chôn lấp tới sức khỏe của những người làm nghề nhặt rác thải Những người này thường xuyên phải chịu ảnh hưởng ở mức cao do bụi, mầm bệnh, các chất độc hại, côn trùng đốt/chích và các loại hơi khí độc hại trong suốt quá trình làm việc Vì vậy, các chứng bệnh thường gặp ở đối tượng này là các bệnh về cúm, lỵ, giun, lao, dạ dày, tiêu chảy, và các vấn đề về đường ruột khác
Các bãi chôn lấp rác cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ khác đối với cộng đồng làm nghề này Các vật sắc nhọn, thuỷ tinh vỡ, bơm kim tiêm cũ, có thể là mối đe dọa nguy hiểm với sức khoẻ con người (lây nhiễm một số bệnh truyền nhiễm như AIDS, ) khi họ dẫm phải hoặc bị cào xước vào tay chân, Một vấn đề cần được quan tâm là, do chiếm tỷ lệ lớn trong những người làm nghề nhặt rác, phụ nữ và trẻ em đã trở thành nhóm đối tượng dễ bị tổn thương
Trang 19Hai thành phần chất thải rắn được liệt vào loại cực kỳ nguy hiểm là kim loại nặng và chất hữu cơ khó phân hủy Các chất này có khả năng tích lũy sinh học trong nông sản, thực phẩm cũng như trong mô tế bào động vật, nguồn nước và tồn tại bền vững trong môi trường gây ra hàng loạt bệnh nguy hiểm đối với con người như vô sinh, quái thai, dị tật ở trẻ sơ sinh; tác động lên hệ miễn dịch gây ra các bệnh tim mạch, tê liệt hệ thần kinh, giảm khả năng trao đổi chất trong máu, ung thư và có thể di chứng di tật sang thế hệ thứ 3
2.1.5.2.Ảnh hưởng của CTR đến môi trường đất
Các chất thải rắn có thể được tích lũy dưới đất trong thời gian dài gây ra nguy cơ tiềm tàng đối với môi trường Chất thải xây dựng như gạch, ngói, thủy tinh, ống nhựa, dây cáp, bê-tông trong đất rất khó bị phân hủy Chất thải kim loại, đặc biệt là các kim loại nặng như chì, kẽm, đồng, Niken, Cadimi thường có nhiều ở các khu khai thác mỏ, các khu công nghiệp Các kim loại này tích lũy trong đất và thâm nhập vào cơ thể theo chuỗi thức ăn và nước uống, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe Các chất thải có thể gây ô nhiễm đất ở mức độ lớn là các chất tẩy rửa, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc nhuộm, màu vẽ, công nghiệp sản xuất pin, thuộc da, công nghiệp sản xuất hóa chất
Tại các bãi rác, bãi chôn lấp CTR không hợp vệ sinh, không có hệ thống
xử lý nước rác đạt tiêu chuẩn, hóa chất và vi sinh vật từ CTR dễ dàng thâm nhập gây ô nhiễm đất
Hiện nay, túi nilon có trong rác thải sinh hoạt là rất phổ biến, khí thải ra môi trường phải mất hàng chục năm cho tới vài thế kỷ mới được tiêu hủy hoàn toàn trong tự nhiên Sự phân hủy không hoàn toàn của túi nilon sẽ để lại trong đất những mảnh vụn, không có điều kiện cho vi sinh vật phát triển sẽ làm cho đất chóng bạc màu, không tơi xốp
Trang 202.1.5.3 Ảnh hưởng của CTR đến môi trường nước
CTR không được thu gom, thải vào kênh rạch, sông, hồ, ao gây ô nhiễm môi trường nước, làm tắc nghẽn đường nước lưu thông, giảm diện tích tiếp xúc của nước với không khí dẫn tới giảm DO trong nước Chất thải rắn hữu cơ phân hủy trong nước gây mùi hôi thối, gây phú dưỡng nguồn nước làm cho thủy sinh vật trong nguồn nước mặt bị suy thoái CTR phân huỷ và các chất ô nhiễm khác biến đổi màu của nước thành màu đen, có mùi khó chịu
Thông thường các bãi chôn lấp chất thải đúng kỹ thuật có hệ thống đường ống, kênh rạch thu gom nước thải và các bể chứa nước rác để xử lý trước khi thải ra môi trường Tuy nhiên, phần lớn các bãi chôn lấp hiện nay đều không được xây dựng đúng kỹ thuật vệ sinh và đang trong tình trạng quá tải, nước rò rỉ từ bãi rác được thải trực tiếp ra ao, hồ gây ô nhiễm môi trường nước nghiêm trọng Sự xuất hiện của các bãi rác lộ thiên tự phát cũng là một nguồn gây ô nhiễm nguồn nước đáng kể
Tại các bãi chôn lấp chất thải rắn, nước rỉ rác có chứa hàm lượng chất ô nhiễm cao (chất hữu cơ: do trong rác có phân súc vật, các thức ăn thừa ; chất thải độc hại: từ bao bì đựng phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, mỹ phẩm) Nếu không được thu gom xử lý sẽ thâm nhập vào nguồn nước dưới đất gây ô nhiễm môi trường nước nghiêm trọng
2.1.5.4.Ảnh hưởng của CTR đến môi trường không khí
CTR, đặc biệt là CTR sinh hoạt, có thành phần hữu cơ chiếm chủ yếu Dưới tác động của nhiệt độ, độ ẩm và các vi sinh vật, CTR hữu cơ bị phân hủy và sản sinh ra các chất khí (CH4- 63.8%, CO2- 33.6%, và một số khí khác) Trong đó, CH4, CO2 chủ yếu phát sinh từ các bãi rác tập trung (chiếm 3
- 19%), đặc biệt tại các bãi rác lộ thiên và các khu chôn lấp
Trang 21Khối lượng khí phát sinh từ các bãi rác chịu ảnh hưởng đáng kể của nhiệt độ không khí và thay đổi theo mùa Lượng khí phát thải tăng khi nhiệt độ tăng, lượng khí phát thải trong mùa hè cao hơn mùa đông Đối với các bãi chôn lấp, ước tính 30% các chất khí phát sinh trong quá trình phân hủy rác có thể thoát lên trên mặt đất mà không cần một sự tác động nào.[5]
Khi vận chuyển và lưu giữ CTR sẽ phát sinh mùi do quá trình phân hủy các chất hữu cơ gây ô nhiễm môi trường không khí Các khí phát sinh từ quá trình phân hủy chất hữu cơ trong CTR: Amoni có mùi khai, phân có mùi hôi, Hydrosunfur mùi trứng thối, Sunfur hữu cơ mùi bắp cải thối rữa, Mecaptan hôi nồng, Amin mùi cá ươn, Diamin mùi thịt thối, Cl2 hôi nồng, Phenol mùi ốc đặc trưng Bên cạnh hoạt động chôn lấp CTR, việc xử lý CTR bằng biện pháp tiêu hủy cũng góp phần đáng kể gây ô nhiễm môi trường không khí Việc đốt rác sẽ làm phát sinh khói, tro bụi và các mùi khó chịu gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người [5]
2.1.5.5.Ảnh hưởng của CTR làm giảm mỹ quan đô thị
CTR, đặc biệt là chất thải rắn sinh hoạt nếu không được thu gom, vận
chuyển, xử lý sẽ làm giảm mỹ quan đô thị Nguyên nhân của hiện tượng này
là do ý thức của người dân chưa cao Tình trạng người dân vứt rác bừa bãi ra lòng lề đường và mương rãnh hở vẫn còn phổ biến gây ô nhiễm nguồn nước và ngập úng khi mưa
Ngoài ra việc đổ rác bừa bãi ở các gốc cây, đầu đường, góc hẻm, các dòng sông, lòng hồ, bãi rác thải lộ thiên mà chưa qua xử lý sẽ tạo ra nơi sinh sống và cư trú của nhiều loài gây bệnh như ruồi nhặng, chuột khiến các bệnh truyền nhiễm như tả, lỵ, thương hàn nhanh chóng lây lan tạo các dịch bệnh gây nguy hiểm cho con người
2.2 CĂN CỨ PHÁP LÝ
- Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23/6/2014;
Trang 22- Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường;
- Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoặc bảo vệ môi trường;
- Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu;
- Nghị định số 179/2013/ NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;
- Nghị định số 80/2014/ NĐ-CP ngày 6/8/2014 của Chính phủ về thoát nước và xử lý nước thải
- Nghị định số 04/2009/ NĐ-CP ngày 14/01/2009 của Chính phủ về ưu đãi, hỗ trợ hoạt động môi trường;
- Căn cứ thông tư số 45/2010/TTLT-BTC-BTNMT ngày 30/03/2011
- Nghị định số 174/2007/ NĐ-CP ngày 29/11/2007 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn
2.3.Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.3.1.Hiện trạng quản lý rác thải trên thế giới
2.3.1.1.Tình hình phát sinh, thu gom và phân loại rác thải trên thế giới
Đô thị hóa là hiện tượng tất yếu của quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế của không chỉ những nước phát triển mà cả nước đang phát triển Đô thị hóa là một hiện tượng phức tạp Một mặt nó mang lại sự phát triển kinh tế và nhiều lợi ích xã hội, mặt khác nó cũng gây ra rất nhiều vấn đề về môi trường, trong đó rác thải nổi lên như một tâm điểm
Với sự gia tăng của rác thì việc thu gom, phân loại, xử lý rác thải là điều mà mọi quốc gia cần quan tâm Đô thị hóa và phát triển kinh tế thường đi đôi với mức tiêu thụ tài nguyên và tỷ lệ phát sinh chất thải rắn tăng lên tính theo
Trang 23đầu người Chi phí quản lý cho rác thải ở các nước đang phát triển có thể lên đến 50% ngân sách hàng năm Khoảng 30 - 60% rác thải đô thị không được cung cấp dịch vụ thu gom
Tiêu chuẩn tạo rác trung bình theo đầu người đối với từng loại chất thải mang tính đặc thù của từng địa phương và phụ thuộc vào mức sống, văn minh dân cư ở mỗi khu vực Tuy nhiên, dù ở khu vực nào cũng có xu hướng chung của thế giới là mức sống càng cao thì lượng chất thải phát sinh càng nhiều
Bảng 2.2 Lượng phát sinh chất thải rắn đô thị ở một số nước
Trang 24Bảng 2.3 Phát sinh chất thải rắn sinh hoạt đô thị ở các nước ASEAN Quốc gia Kg/người/ngày Phát sinh chất thải rắn sinh hoạt đô thị Tấn/năm
(UNEP, Quản lý chất thải ở các nước ASEAN, 2017)
- Trên thế giới, các nước phát triển đã có những mô hình phân loại và thu gom rác thải rất hiệu quả:
Nhật Bản: Các gia đình Nhật Bản đã phân loại chất thải thành 3 loại
riêng biệt và cho vào 3 túi với màu sắc khác nhau theo quy định: rác hữu cơ, rác vô cơ, giấy, vải, thủy tinh, rác kim loại Rác hữu cơ được đưa đến nhà máy xử lý rác thải để sản xuất phân vi sinh Các loại rác còn lại: giấy, vải, thủy tinh, kim loại, đều được đưa đến cơ sở tái chế hàng hóa Tại đây, rác được đưa đến hầm ủ có nắp đậy và được chảy trong một dòng nước có thổi khí rất mạnh vào các chất hữu cơ và phân giải chúng một cách triệt để Sau quá trình xử lý đó, rác chỉ còn như một hạt cát mịn và nước thải giảm ô nhiễm Các cặn rác không còn mùi sẽ được đem nén thành các viên gạch lát vỉa hè rất xốp, chúng có tác dụng hút nước khi trời mưa (Dự án Diana, 2007) [8]
Mỹ: Hàng năm, rác thải sinh hoạt của các thành phố Mỹ lên tới 210 triệu
tấn Tính bình quân mỗi người dân Mỹ thải ra 2kg rác/ngày Hầu như thành phần các loại rác thải trên đất nước Mỹ không có sự chênh lệch quá lớn về tỷ lệ, cao nhất không phải là thành phần hữu cơ như các nước khác mà là thành phần chất thải vô cơ (giấy các loại chiếm đến 38%), điều này cũng dễ lý giải
Trang 25đối với nhịp điệu phát triển và tập quán của người Mỹ là việc thường xuyên
sử dụng các loại đồ hộp, thực phẩm ăn sẵn cùng các vật liệu có nguồn gốc vô
cơ Trong thành phần các loại sinh hoạt thực phẩm chỉ chiếm 10,4% và tỷ lệ kim loại cũng khá cao là 7,7% Như vậy rác thải sinh hoạt các loại ở Mỹ có thể qua phân loại, xử lý để tái sinh, tái sử dụng chiếm tỷ lệ khá cao (các loại khó hoặc không phân giải được như kim loại, thủy tinh, gốm, sứ) chiếm khoảng 20% (Lê Văn Nhương, 2001) [14]
Pháp: Ở nước này quy định phải đựng các vật liệu, nguyên liệu hay
nguồn năng lượng nhất định để tạo điều kiện dễ dàng cho việc khôi phục lại các vật liệu thành phần Theo đó đã có các quyết định cấm các cách xử lý hỗn hợp mà phải xử lý theo phương pháp nhất định Chính phủ có thể yêu cầu các nhà chế tạo và nhập khẩu không sử dụng các vật liệu tận dụng để bảo vệ môi trường hoặc giảm bớt sự thiếu hụt một vật liệu nào đó Tuy nhiên cần phải tham khảo và thương lượng để có sự nhất trí cao của các tổ chức, nghiệp đoàn khi áp dụng các yêu cầu này (Trần Huế Nhuệ và cs, 2001) [17]
Singapore: Đây là nước đô thị hóa 100% và là đô thị sạch nhất trên thế
giới Để có được kết quả như vậy, Singapore đầu tư cho công tác thu gom, vận chuyển và xử lý đồng thời xây dựng một hệ thống luật pháp nghiêm khắc làm tiền đề cho quá trình xử lý rác thải tốt hơn Rác thải ở Singapore được thu gom và phân loại bằng túi nilon Các chất thải có thể tái chế được, được đưa về các nhà máy tái chế còn các loại chất thải khác được đưa về nhà máy khác để thiêu hủy Ở Singapore có 2 thành phần chính tham gia vào thu gom và xử lý các rác thải sinh hoạt từ các khu dân cư và công ty, hơn 300 công ty tư nhân chuyên thu gom rác thải công nghiệp và thương mại Tất cả các công ty này đều được cấp giấy phép hoạt động và chịu sự giám sát kiểm tra trực tiếp của Sở Khoa học công nghệ và môi trường Ngoài ra, các hộ dân và các công
ty của Singapore được khuyến khích tự thu gom và vận chuyển rác thải cho
Trang 26các hộ dân vào các công ty Chẳng hạn, đối với các hộ dân thu gom rác thải trực tiếp tại nhà phải trả phí 17 đôla Singapore/tháng, thu gom gián tiếp tại các khu dân cư chỉ phải trả phí 7 đôla Singapore/tháng (Lê Huỳnh Mai và cs, 2009) [11]
2.3.1.2.Tình hình xử lý rác thải trên thế giới
Ngày nay, trên thế giới có nhiều cách xử lý rác thải như: công nghệ sinh học, công nghệ sử dụng nhiệt, công nghệ Seraphin Tỷ lệ rác thải được xử lý theo phương pháp khác nhau của một số nước trên thế giới được giới thiệu ở bảng sau:
Bảng 2.4 Tỷ lệ CTR xử lý bằng các phương pháp khác nhau
ở một số nước
(ĐVT:%)
STT Nước Tái chế Chế biến phân
vi sinh Chôn lấp Đốt
Trang 27ở Thụy Điển phương pháp chế biến phân vi sinh chiếm tỷ lệ rất cao ( 34% ) Chỉ có ở Pháp và Ý, các phương pháp tái chế và chế biến phân vi sinh còn chiếm tỷ lệ thấp, chưa được đầu tư phát triển Các nước đều sử dụng hình thức xử lý đốt và chôn lấp là chủ yếu, nhưng việc phân loại rác tại nguồn được làm rất tốt, cộng với khả năng công nghệ cao nên biện pháp xử lý cũng thích hợp cho từng loại rác thải Ví dụ rác hữu cơ dễ phân hủy thì dùng ủ gas, ủ phân compost; các chất thải như nhựa, thủy tinh thì tái chế, chất thải nguy hại thì đốt, đóng gói thật kỹ rồi chôn lấp
2.3.2.Hiện trạng quản lý rác thải ở Việt Nam
Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển công nhiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Công nghiệp hóa, đô thị hóa và dân số tăng nhanh cùng với mức sống được nâng cao là những nguyên nhân chính dẫn đến lượng phế thải phát sinh ngày càng lớn Hầu hết các bãi rác trong các đô thị từ trước đến nay không theo quy hoạch tổng thể, nhiều thành phố, thị xã, thị trấn chưa có quy hoạch bãi chôn lấp chất thải Việc thiết kế và xử lý chất thải hiện tại ở các
đô thị đã có bãi chôn lấp lại chưa thích hợp, chỉ là những nơi đổ rác không được chèn lót kỹ, không được che đậy, do vậy đang tạo ra sự ô nhiễm nặng nề tới môi trường đất, nước, không khí… ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng
Hiện nay ở tất cả các thành phố, thị xã, đã thành lập các công ty môi trường đô thị có chức năng thu gom và quản lý rác thải Nhưng hiệu quả của công việc thu gom, quản lý rác thải còn kém, chỉ đạt từ 30-70% do khối lượng rác phát sinh hàng ngày còn rất lớn Trừ lượng rác thải đã quản lý số còn lại người ta đổ bừa bãi xuống các sông, hồ, ngòi, ao, khu đất trống làm ô nhiễm môi trường nước và không khí
Lượng chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) tại các đô thị ở nước ta đang có xu thế phát sinh ngày càng tăng, tính trung bình mỗi năm tăng khoảng
Trang 2810% Tỷ lệ tăng cao tập trung ở các đô thị đang có xu hướng mở rộng, phát triển mạnh cả về quy mô lẫn dân số và các khu công nghiệp, như các đô thị tỉnh Phú Thọ (19,9%), thành phố Phủ Lý (17,3%), Hưng Yên (12,3%), Rạch Giá (12,7%), Các đô thị khu vực Tây Nguyên có tỷ lệ phát sinh CTRSH tăng đồng đều hàng năm và với tỷ lệ tăng ít hơn (5,0%) Tổng lượng phát sinh CTRSH tại các đô thị loại III trở lên và một số đô thị loại IV là các trung tâm văn hóa, xã hội, kinh tế của các tỉnh thành trên cả nước lên đến 6,5 triệu tấn/năm, trong đó CTRSH phát sinh từ các hộ gia đình, nhà hàng, các chợ và kinh doanh là chủ yếu Lượng còn lại từ các công sở, đường phố, các cơ sở y tế
Bảng 2.5 Lượng CTRSH phát sinh ở các đô thị Việt Nam đầu năm 2007
STT Loại đô thị
Lượng CTRSH bình quân/người (kg/người/ngày)
(Nguồn: Cục Bảo vệ môi trường, 2008 ) [6]
Tại Việt Nam, tháng 7/2017, Tổng cục Môi trường đã công bố Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2016 Theo đó, tình hình phát sinh và xử lý chất thải rắn ở khu vực đô thị vẫn là một trong những vấn đề môi trường nổi cộm, và chất thải rắn sinh hoạt đô thị phát sinh từ các hộ gia đình chiếm tỉ lệ cao nhất Tổng khối lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị thu gom là 32.415 tấn/ngày (năm 2015) Tỉ lệ thu gom và xử lý đạt 85,3% (tăng 3% so với năm
Trang 292010) Khu vực Đông Nam Bộ có lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị được thu gom và xử lý nhiều nhất (Bảng 2.5)
Bảng 2.6 Lượng CTRSH đô thị theo vùng địa lý Việt Nam
(Nguồn: Tổng cục Môi trường 2016 )[12]
Với kết quả điều tra thống kê chưa đầy đủ như trên cho thấy, tổng lượng phát sinh CTRSH tại các đô thị ở nước ta ngày càng gia tăng với tỷ lệ tương đối cao (10%/năm) so với các nước phát triển trên thế giới Để quản lý tốt nguồn chất thải này, đòi hỏi các cơ quan hữu quan cần đặc biệt quan tâm hơn
Trang 30nữa đến các khâu giảm thiểu tại nguồn, tăng cường tái chế, tái sử dụng, đầu tư công nghệ xử lý, tiêu hủy thích hợp góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường
do CTRSH gây ra
Hiện nay phần lớn rác thải sinh hoạt ở Việt Nam vẫn được xử lý bằng hình thức chôn lấp Tuy nhiên, cũng mới chỉ có 12 trong tổng số 64 tỉnh, thành phố có bãi chôn lấp hợp vệ sinh hoặc đúng kỹ thuật và chỉ có 17 trong tổng số 91 bãi chôn lấp hiện có trong cả nước là bãi chôn lấp hợp vệ sinh Phần lớn các bãi chôn lấp hợp vệ sinh đều được xây dựng bằng nguồn vốn ODA, nguồn vốn đầu tư từ ngân sách là hết sức khó khăn và hạn chế Lượng chất thải rắn tại các đô thị được thu gom mới đạt 70% tổng lượng chất thải rắn phát sinh Trong khi đó, việc tái chế và tái sử dụng mới chỉ giảm khoảng 10 -12% khối lượng rác thải
Ở nước ta do hệ thống chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường vẫn còn thiếu và chưa đồng bộ, chưa tương thích kịp thời với sự phát triển của nền kinh tế thị trường Các quy định về thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, chất thải rắn mặc dù đã được Chính phủ ban hành song còn mang tính hình thức, số kinh phí thu được mới chỉ bằng 1/10 so với tổng kinh phí mà Nhà nước phải chi cho các dịch vụ thu gom và xử lý chất thải Các chế tài xử phạt vi phạm hành chính còn quá thấp, chưa đủ sức răn đe, phòng ngừa Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng còn lúng túng trong xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường Do đó công tác quản lý rác thải còn nhiều lỏng lẻo
Tình hình quản lý rác thải tại một số tỉnh như sau:
Tại Hà Nội: Theo tính toán của Công ty TNHH Nhà nước một thành
viên Môi trường Đô thị (URENCO), mỗi ngày Hà Nội thải ra khoảng 3.000 tấn rác thải sinh hoạt, tức một năm có trên dưới một triệu tấn Hiện nay, ngoài URENCO còn có nhiều đơn vị khác cùng tham gia thu gom rác như Công ty
Trang 31cổ phần Thăng Long, Công ty cổ phần Tây Đô, Công ty cổ phần Xanh, Hợp tác xã Thành Công nhưng tất cả vẫn không thể thu gom nổi vì lượng rác thải sinh hoạt đang ngày một tăng nhanh Chính vì vậy mà tỉ lệ thu gom rác thải sinh hoạt ở các quận nội thành hiện đạt khoảng 95%, còn các tuyến ngoại thành mới chỉ khoảng 60% Hiện nay, Hà Nội vẫn còn 66% số xã chưa có nơi chôn lấp hoặc xử lý rác thải Khu vực ngoại thành có 361/435 xã, thị trấn đã thành lập tổ thu gom rác; trong đó có 148 xã đã tổ chức chuyển rác đi xử lý, chôn lấp tại bãi rác tập trung của thành phố (đạt tỉ lệ 34%)
Tại Cần Thơ: Ước tính toàn thành phố thải ra khoảng 650 tấn chất thải
rắn sinh hoạt mỗi ngày, nhưng tỷ lệ thu gom thấp (khoảng 63% vào năm
2008, đến năm 2009 tỷ lệ này tăng không đáng kể), lượng rác vẫn được người dân thải vào các ao, sông, rạch… năng lực quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại địa bàn các quận nội thành nhìn chung khá tốt; nhưng đối với các quận, huyện ngoại thành (Cờ Đổ, Thốt Nốt, Vĩnh Thạnh…) việc quản lý chất thải rắn đạt hiệu quả chưa cao (Anh Khoa, 2010) [18]
Tại TP Hồ Chí Minh: Là một đô thị lớn nên mức độ phát sinh chất thải
rắn đô thị hàng năm tại TP.Hồ Chí Minh rất cao Theo số liệu của Sở Tài nguyên - Môi trường, mỗi ngày trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh đổ ra khoảng 5.800 - 6.200 tấn rác thải sinh hoạt, 500 - 700 tấn chất thải rắn công nghiệp,
150 - 200 tấn chất thải nguy hại, 9 - 12 tấn chất thải rắn y tế Nguồn chất thải rắn sinh hoạt chiếm tỷ trọng cao nhất, chủ yếu phát sinh từ các nguồn: hộ gia
đình, trường học, chợ, nhà hàng, khách sạn (Hoàng Thị Kim Chi, 2009) [9] Tại Đồng Nai: Hiện nay toàn tỉnh có 4/7 khu xử lý rác thải sinh hoạt
đang trong quá trình triển khai thực hiện đưa vào sử dụng và 03 khu xử lý tập trung liên huyện, liên đô thị đang trong giai đoạn lập dự án đầu tư Theo Sở Tài nguyên và Môi trường Đồng Nai, tỷ lệ thu gom chất thải sinh hoạt ở Đồng Nai mới chỉ đạt 71%, còn 29% rác thải sinh hoạt đang thải ra
Trang 32môi trường chưa được xử lý Tình trạng xử lý rác thải sinh hoạt gặp nhiều khó khăn do chưa có nhiều bãi chứa rác, không có các điểm trung chuyển rác (Thùy Trang, 2010) [22]
2.3.3.Tình hình thu gom và xử lý rác thải tại tỉnh Phú Thọ
Phú Thọ là tỉnh thuộc khu vực miền núi, trung du phía Bắc có tổng diện tích tự nhiên là 3.519,56 km2 và có 13 huyện, thành thị gồm 277 xã, phường, thị trấn được chia thành 2.887 khu dân cư, trong đó có 313 khu dân cư ở đô thị và 2.574 khu dân cư ở nông thôn; quy mô dân số, tính đến 01/01/2015 là 1.454.828 người
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, hàng ngày môi trường đang phải tiếp nhận một lượng lớn chất thải từ các hoạt động của con người, trong đó có chất thải rắn Theo thống kê đánh giá giai đoạn hiện nay, tỷ lệ phát sinh rác thải sinh hoạt trung bình đối với khu vực đô thị loại I (TP.Việt Trì) là 1,2 kg/người/ngày, khu vực đô thị loại III (thị xã) là 1 kg/người/ngày, khu vực đô thị loại V (các thị trấn) là 0,8 kg/người/ngày, khu vực nông thôn là 0,35 kg/người/ngày Theo tính toán, lượng rác thải sinh hoạt phát sinh trên địa bàn tỉnh vào khoảng 628 tấn/ngày, trong đó ở khu vực đô thị là 271 tấn/ngày, ở khu vực nông thôn 357 tấn/ngày [1]
- Tại khu vực đô thị: Đã tổ chức thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt phát sinh tại 299/313 khu dân cư, đạt 95,5% Người dân thực hiện tập kết rác thải tại các điểm tập kết ven các trục đường, khu trung tâm, hàng ngày có công nhân vệ sinh đi thu gom bằng xe đẩy tay và tập kết lên xe chuyên dụng vận chuyển rác thải về nơi xử lý Đơn vị thực hiện thu gom, vận chuyển rác thải khu vực đô thị được giao cho Công ty môi trường đô thị ở thành phố Việt Trì, thị xã Phú Thọ và 08 Ban quản lý công trình công cộng của các huyện
- Khu vực nông thôn: Hiện tại, mạng lưới thu gom rác thải ở khu vực nông thôn đã tổ chức thu gom tại 630 khu dân cư trong tổng số 1.579 khu dân
Trang 33cư tập trung ở nông thôn, đạt 40% số khu dân cư phải thu gom, xử lý rác thải tập trung (còn 949 khu dân cư tập trung cần thu gom, xử lý rác thải tập trung) Việc thu gom mới tập trung chủ yếu ở khu vực đồng bằng, khu ven đô thị và gần các khu vực trung tâm xã Các khu dân cư còn lại được nhân dân sử dụng hố chôn lấp tại hộ gia đình theo hướng dẫn của chính quyền địa phương hoặc tự phát Công tác thu gom được người dân tập kết rác thải ven trục đường chính, định kỳ HTX, tổ vệ sinh đi thu gom về điểm tập kết của xã, khu Tại Việt Trì, thị xã Phú Thọ, Lâm Thao, Phù Ninh, Công ty môi trường đô thị, Ban quản lý công trình công cộng đến thu gom bằng xe chở rác chuyên dụng về Nhà máy xử lý Tại các huyện khác, Ban quản lý công trình công cộng đến thu gom hoặc các xã xử lý tại chỗ bằng lò đốt hoặc chôn lấp Ngoài các lực lượng thu gom nói trên, tại huyện Lâm Thao có Công ty Cổ phần Supe Phốt phát và hóa chất Lâm Thao tham gia thu gom, vận chuyển và xử lý rác cho 7 khu dân cư của huyện [1]
Tình hình xử lý rác thải tại:
- Rác thải ở đô thị:Tại thành phố Việt Trì, thị xã Phú Thọ, thị trấn Phong Châu (huyện Phù Ninh), thị trấn Lâm Thao và thị trấn Hùng Sơn (huyện Lâm Thao) rác thải được thu gom, vận chuyển về Nhà máy chế biến phế thải đô thị Việt Trì xử lý Tại đây, rác hữu cơ được chế biến thành phân compost theo công nghệ hiếu khí phục vụ cho việc phát triển nông lâm nghiệp; nilon được rửa sạch tái chế lại làm nguyên liệu sản xuất hạt nhựa; nhựa không tái chế, cao su… và rác thải trơ khác được đem chôn lấp; gạch đá, sạn sỏi, vỏ sò, hến, thủy tinh xử lý nghiền sàng theo công nghệ hóa rắn sản phẩm thu hồi gạch không nung phục vụ cho xây dựng Tại các thị trấn: Cẩm Khê, Hưng Hóa, Thanh Ba và Thanh Thủy rác thải được thu gom, vận chuyển, xử lý bằng 04 lò đốt cỡ nhỏ được đầu tư; các thị trấn còn lại, rác thải đang thực hiện
Trang 34chôn lấp tạm thời bằng các bãi chôn lấp của địa phương không đảm bảo hợp vệ sinh, gây ô nhiễm môi trường [1]
Như vậy, rác thải ở khu vực đô thị cơ bản đã có biện pháp xử lý Tuy nhiên, các biện pháp xử lý nói trên không đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường, nhà máy đang phải hoạt động vượt công suất thiết kế gần 4 lần, trong khi nhà xưởng, trang thiết bị xuống cấp, hệ thống xử lý nước thải hoạt động không hiệu quả; bãi chôn lấp chưa đảm bảo hợp vệ sinh, lò đốt rác chưa đáp ứng yêu cầu quy chuẩn cho phép đang là các tác nhân gây ô nhiễm môi trường khu vực, ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất của nhân dân
- Rác thải ở nông thôn:Tại khu vực nông thôn, rác thải sinh hoạt đang được xử lý bằng ba hình thức chủ yếu như sau:
+ Hình thức vận chuyển về Nhà máy xử lý: Tại các xã nông thôn của thị xã Phú Thọ, thành phố Việt Trì, huyện Lâm Thao và một số xã của huyện Phù Ninh, rác thải được vận chuyển về Nhà máy chế biến phế thải đô thị Việt Trì để xử lý
+ Hình thức chôn lấp rác thải: Hình thức chôn lấp đang diễn ra phổ biến trên địa bàn các huyện miền núi với biện pháp chôn lấp chưa đảm bảo hợp vệ sinh Ngoài ra, ở các khu dân cư tại các xã vùng sâu, vùng cao nhân dân đang
sử dụng hố chôn lấp tại hộ gia đình theo hướng dẫn của chính quyền địa phương hoặc tự phát
+ Hình thức xử lý rác thải bằng phương pháp đốt: Hiện nay, khu vực nông thôn trên địa bàn tỉnh đã được trang bị 04 lò đốt để xử lý rác thải sinh hoạt phát sinh đặt tại các xã Vô Tranh (Hạ Hòa), Ngọc Lập (Yên Lập), Hoàng Xá (Thanh Thủy), Phú Lộc (Phù Ninh) Ngoài ra, còn có Công ty TNHH MTV hóa chất 21 hỗ trợ xử lý rác thải bằng lò đốt (của Nhà máy) cho xã Phú Hộ, thị xã Phú Thọ và một số khu của huyện Phù Ninh Tại một số nơi còn sử dụng lò đốt mini quy mô hộ gia đình hoặc đốt rác thải lộ thiên
Trang 35Tuy nhiên kết quả đã đạt được, hiện nay việc thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn các xã miền núi nhận thức về BVMT, ứng phó với biến đổi khí hậu vẫn còn hạn chế Vì vậy, cáckết quả đạt được chưa thực sự bền vững, công tác BVMT, ứng phó với BĐKH còn nhiều vấn đề cần được giải quyết
2.4 Đánh giá chung tổng quan
Qua cơ sở khoa học, cơ sở pháp lý, căn cứ thực tiễn và các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước tôi thấy đánh giá công tác thu gom và quản lý rác thải sinh hoạt tại xã Hưng Long,huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ là rất cần thiết và không trùng lặp với bất kỳ một Đề tài nào nhận ở học vị Đại học trong lĩnh vực nghiên cứu trên