1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

khóa luận tốt nghiệp đánh giá hiện trạng môi trường đất, nước và đề xuất biện pháp giảm thiểu tại công ty TNHH khai thác và chế biến khoáng sản núi pháo

70 64 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 1,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy vậy, hoạt động khai khoáng đã và đang gây ra nhiều tác động tiêu cực đến môi trường khu vực khai thác và chế biến, biểu hiện rõ nét nhất là việc khai thác và sử dụng thiếu hiệu quả n

Trang 1

- -

TẠC NGUYỆT THU

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG ĐẤT, NƯỚC

VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP GIẢM THIỂU TẠI CÔNG TY TNHH KHAI

THÁC VÀ CHẾ BIẾN KHOÁNG SẢN NÚI PHÁO.

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Khoa học Môi trường

Khóa học : 2014 – 2018

Thái Nguyên, năm 2018

Trang 2

- -

TẠC NGUYỆT THU

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG ĐẤT, NƯỚC

VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP GIẢM THIỂU TẠI CÔNG TY TNHH KHAI THÁC VÀ CHẾ BIẾN KHOÁNG SẢN NÚI PHÁO

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Khoa học Môi trường

Khóa học : 2014 – 2018 Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông

Thái Nguyên, năm 2018

Trang 3

Đây là một khoảng thời gian rất quý báu, bổ ích và có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với bản thân em Tại nơi đây em đã được trang bị một lượng kiến thức về chuyên môn, nghiệp vụ và một lượng kiến thức về xã hội để sau này khi ra trường em không còn phải bỡ ngỡ và có thể đóng góp một phần sức lực nhỏ bé của mình để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và trở thành người có ích cho xã hội

Để hoàn thành tốt báo cáo tốt nghiệp này, ngoài sự phấn đấu và nỗ lực của bản thân, em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình và rất tâm huyết của thầy giáo, cô giáo trong Khoa Môi Trường, đặc biệt là sự giúp đỡ tận tình của

thầy giáo PGS.TS.Nguyễn Ngọc Nông Đồng thời về thực tập tại địa phương

em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các anh, các chị trong Công ty SGS Núi Pháo

Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn vô hạn, em xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo trong khoa, trong Ban giám hiệu nhà trường, em xin cảm ơn các anh, các chị trong Công ty SGS Núi Pháo

Cuối cùng em xin gửi lời kính chúc sức khỏe đến quý thầy cô

Em xin trân thành cảm ơn

Thái Nguyên, ngày 28 tháng 4 năm 2018

Sinh viên

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1: Sản phẩm của các nhà máy chế biến tại mỏ Núi Pháo 33

Bảng 4.2: Các nguyên liệu, nhiên liệu, hóa chất sử dụng chính trong quá trình khai thác và chế biến sản xuất của Công ty Núi Pháo 34

Bảng 4.3: Phân tích chỉ tiêu có trong mẫu đất NP 18-05777 42

Bảng 4.4: Phân tích chỉ tiêu có trong mẫu đất NP 18-05777 43

Bảng 4.5: Kết quả phân tích nước mặt tại Hồ chứa quặng đuôi oxit 44

Bảng4.6: Kết quả phân tích nước mặt tại Hồ chứa quặng đuôi sunfua 45

Báng 4.7: Kết quả phân tích nước thải tại điểm xả thải thứ 2 46

Báng 4.8: Kết quả phân tích nước mặt thải tại hồ lắng khu quặng đuôi 46

Bảng 4.9: Áp dụng các công trình cơ học trong xử lí nước thải 55

Bảng 4.10: Áp dụng các quá trình hóa học trong xử lí nước 56

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Hình 4.1: Sơ đồ quy trình công nghệ khai thác và chế biến mỏ Núi Pháo 27 Hình 4.2: Sơ đồ hệ thống thu gom, xử lí nước thải sinh hoạt toàn dự án 35 Hình 4.3: Sơ đồ hệ thống xử lí nước thải sinh hoạt tại các trạm tại mỏ Núi

Pháo 36 Hình 4.4 :Sơ đồ thu gom xử lí nước mưa chảy tràn mỏ Núi Pháo 38 Hình 4.5:Sơ đồ thu gom và xử lý nước thải mỏ quặng Núi Pháo 39

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BTNM Bộ Tài nguyên Môi Trường

COD Nhu cầu oxi hóa học

CTNH Chất thải nguy hại

CTR Chất thải rắn

CHLB Cộng hòa Liên bang

DP1 Điểm xả nước thải Núi Pháo 1 DP2 Điểm xả nước thải Núi Pháo 2 DP3 Điểm xả nước thải Núi Pháo 3 GDP Thu nhập bình quân đầu người OTC Hồ chứa đuôi quặng oxit

PSSP Kênh chảy tràn

PTP Hồ chuyển tiếp

QCVN Quy chuẩn Việt Nam

STC Hồ chứa quặng đuôi Sunfua

TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam

TN & MT Tài nguyên và Môi trường

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1: Đặt vấn đề 1

1.2: Mục tiêu của đề tài 2

1.3: Ý nghĩa của đề tài 2

1.3.2: Ý nghĩa thực tiễn 3

PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1: Cơ sở khoa học của đề tài 4

2.1.1: Cơ sở lý luận 4

2.1.2: Cơ sở pháp lý 7

2.2: Thực trạng khai thác quặng đa kim trên Thế giới và Việt Nam 8

2.2.1 Trên thế giới 8

2.2.2 Ở Việt Nam 10

2.3: Ảnh hưởng của hoạt động khai thác quặng đa kim dến môi trường 14

2.3.1: Trên thế giới 14

2.3.2: Ở Việt Nam 15

2.3.3: Tại tỉnh Thái nguyên 15

2.4: Các giải pháp xử lý ô nhiễm đất và nước 18

2.4.1: Các nghiên cứu về xử lý ô nhiễm đất và nước 18

2.4.2: Giải pháp cụ thể cho ô nhiễm đất và nước 20

PHẦN 3:ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

3.1: Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 23

3.1.2: Phạm vi nghiên cứu 23

Trang 8

3.2: Địa điểm thực hiện và thời gian thực hiện 23

3.3: Nội dung nghiên cứu 23

3.4: Phương pháp nghiên cứu 23

3.4.1: Phương pháp điều tra khảo sát thực địa 23

3.4.2: Phương pháp thu thập thông tin, kế thừa số liệu, tài liệu 23

3.4.3: Phương pháp lấy mẫu phân tích 24

3.4.4:Phương pháp phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm: 24

3.4.5:Phương pháp tổng hợp, phân tích số liệu, so sánh và viết báo cáo 24

PHẦN 4:KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25

4.1: Đánh giá hiện trạng khu vực nghiên cứu 25

4.1.1 Vị trí địa lý 25

4.1.2: Quy mô mỏ quặng đa kim Núi Pháo 25

4.1.3: Trình tự khai thác 26

4.1.4: Công nghệ khai thác và chế biến 27

4.1.5: Nguyên, nhiên liệu sử dụng 33

4.1.6: Các loại chất thải và biện pháp xử lý 35

4.2: Đánh giá hiện trạng môi trường đất tại khu vục mỏ quặng đa kim Núi Pháo 42

4.2.1: Phân tích các chỉ tiêu có trong đất 42

4.2.2: Phân tích các chỉ tiêu có trong nước mặt tại mỏ Núi Pháo 44

4.2.3: Đánh giá chung và đề xuất, định hướng giải pháp bảo vệ, cải tạo môi trường đất 47

PHẦN 5:KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59

5.1: Kết luận 59

5.2: Kiến nghị 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

Trang 9

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1: Đặt vấn đề

Hiện nay, cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội thì vẫn đề về môi trường đang ngày càng được quan tâm và chú trọng hơn.Vì môi trường có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới cuộc sống của con người chúng ta, đây là một vấn đề lớn bởi vì nó không chỉ ảnh hưởng ở thế hệ hiện tại mà còn để lại những hậu quả nặng nề cho thế hệ tương lai Ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường đang diễn ra hàng ngày, nguyên nhân trực tiếp là do hoạt động của con người tác động vào môi trường tự nhiên, đặc biệt là hoạt động khai khoáng Hoạt động khai thác khoáng sản ở nước ta hiện nay đang tăng trưởng cả về quy mô và việc áp dụng các công nghệ tiên tiến, góp phần không nhỏ cho nền kinh tế nước nhà Tuy vậy, hoạt động khai khoáng đã và đang gây ra nhiều tác động tiêu cực đến môi trường khu vực khai thác và chế biến, biểu hiện rõ nét nhất là việc khai thác và sử dụng thiếu hiệu quả nguồn khoáng sản tự nhiên ảnh hưởng xấu tới môi trường đất, nước, không khí, cảnh quan thiên nhiên, làm ảnh hưởng tới nhu cầu sử dụng đất, nước,tiềm ẩn nguy cơ tích tụ hoặc phát tán chất thải ra ngoài môi trường, những hành động này đang gây ô nhiễm nặng nề đến môi trường, trở thành vấn đề cấp bách mang tính chính trị

xã hội của mỗi quốc gia

Dự án khai thác và chế biến khoán sản Núi pháo là một mỏ đa kim loại, được đầu tư bởi công ty Liên doanh khai thác và chế biến khoáng sản núi pháo (NUIPHAOVICA) gồm có 3 công ty thành viên: Công ty Tiberon Minerals Canada (70% vốn ), Công ty khoáng sản Thái Nguyên (15% vốn),

và Công ty xuất nhập khẩu và đầu tư Thái Nguyên (15% vốn) Được cấp giấy phép đầu tư số 2377/GP ngày 03 tháng 02 năm 2004, giấy chứng nhận đăng

kí kinh doanh số 4600864513 do Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Thái Nguyên

Trang 10

cấp ngày 05 tháng 07 năm 2010, đăng kí thay đổi lần thứ 03, ngày 24 tháng

06 năm 2011 Ngoài những lợi ích mà công tý Núi Pháo đem lại cho nền kinh

tế của đất nước nói chung và khu vực dự án nói riêng, thì việc khai thác và chế biến khoáng sản của Núi Pháo cũng tạo ra những tác động tiêu cực ảnh hưởng đến môi trường đất, nước, không khí Vì vậy, việc đánh giá hiện trạng môi trường đất và đề xuất biện pháp giảm thiểu là rất quan trọng và cần thiết, để bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường nói chung

và môi trường đất nói riêng

Xuất phát từ thực tế nói trên và nguyện vọng của bản thâm cùng sự đồng ý của ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa môi trường - trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Văn Nông, em tiến hành nghiên cứu đề tài :

” Đánh giá hiện trạng môi trường đất, nước và đề xuất biện pháp

giảm thiểu tại công ty TNHH khai thác và chế biến khoáng sản Núi Pháo”

1.2: Mục tiêu của đề tài

- Tìm hiểu tình hình khai thác khoáng sản của mỏ Núi Pháo tại xóm 2 – xã Hà Thượng – huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên

-Đánh giá được hiện trạng môi trường đất, môi trường nước để có thể phòng chống, khắc phục tình trạng ô nhiễm và suy thoái môi trường đất

-Đề xuất các biện pháp quản lý cho đơn vị tổ chức khai thác cũng như việc sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên, nhằm giảm thiểu tối đa các tác động dến môi trường nói chung và môi trường đất nói riêng

1.3: Ý nghĩa của đề tài

1.3.1: Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

-Vận dụng và phát huy những kiến thức đã học vào thực tiễn

-Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút ra kinh nghiệm thực tế cho công tác sau này

Trang 12

PHẦN 2:

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1: Cơ sở khoa học của đề tài

2.1.1: Cơ sở lý luận

2.1.1.1: Một số khái niệm cơ bản

A: Khái niệm môi trường:

Luật bảo vệ môi trường Việt Nam 2014[5] đưa ra khái niệm về môi trường như sau: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo tác động đối với sự tồn taị và phát triển của con người và vi sinh vật”

B: Khái niệm về đất

Đất là một dạng tài nguyên, vật liệu của con người.Đất có hai nghĩa: đất đai là nơi ở, xây dựng cơ sở hạ tầng của con người và thổ nhưỡng là mặt bằng

để sản xuất lâm nghiệp

Đất theo nghĩa thổ nhưỡng là vật thể thiên nhiên có cấu tạo độc lập, lâu đời, hình thành do kết quả hoạt động của các yếu tố hình thành đất đó là: đá, sinh vật, khí hậu, địa hình và thời gian

Trên quan điểm sinh thái đất không phải là một khối vật chất trơ mà là một hệ thống cân bằng của một tổng thể các kháng thể nghiền vụn, các chất hữu cơ và những sinh vật đất Thành phần của đất gồm các hạt khoáng chiếm 40%, không khí (20%), nước (35%), các chất mùn hữu cơ (5%)

Giá trị tài nguyên đất được do bằng số lượng diện tích (ha) và độ phì (màu mỡ thích hợp cho trồng cây lương thực và công nghiệp)

+Chức năng cơ bản của đất là:

-Là môi trường để con người và sinh vật trên cạn sinh trưởng và phát triển

-Là địa bàn để cho các quá trình phân hủy biến đổi các chất khoáng và hữu cơ

Trang 13

- Là nơi cư trú của động vật và thực vật đất

C: Khái niệm về tài nguyên nước:

Nước là tài nguyên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của cuộc sống và môi trường.Không có nước, cuộc sống trên trái đất không thể tồn tại được.Nó quyết định đến sự tồn tại và phát triển bền vững của đất nước

Nguồn nước là chỉ các dạng tích tụ nước tự nhiên hoặc nhân tạo có thể khai thác, sử dụng được, bao gồm: sông, suối, ao, hồ, kênh, mương, các tầng chứa nước dưới đất, mưa, băng tuyết, và các dạng tích tụ khác

Nước mặt là nước tồn tại trên đất liền hoặc hải đảo, nước ngầm là nước tồn tại trong các tầng chứa nước dưới đất, nước sinh hoạt là nước có thể dung cho ăn, uống, vệ simh của con người.Nước sạch phải đảm bảo các yêu cầu sau:

 Nước trong, không màu

 Không có mùi vị lạ, không có tạp chat

 Không chứa chất tan có hại

- Dựa theo nguồn gốc phát sinh gồm có:

 Nguồn tự nhiên: các hoạt động của núi lửa, ngập úng, đất bị mặn do xâm nhập của thủy triều, đất bị vùi dập do cát lấn, cát bay,do phân hủy sinh học của thực vật

Trang 14

 Nguồn nhân tạo: ô nhiễm đất do chất thải sinh hoạt, do chất thải công nghiệp, do hoạt động nông nghiệp

- Dựa theo các tác nhân gây ô nhiễm gồm có:

 Ô nhiễm do tác nhân hóa học: bao gồm phân bón N, P (dư lượng phân

bố trong đất), thuốc trừ sâu (ĐT, aldrin, photpho hữu cơ…), chất thải công nghiệp và sionh hoạt (kim loại nặng, độ kiềm, độ axit)

 Ô nhiễm do tác nhân sinh học: các loại kí sinh trùng (giun, sán), trực khuẩn ly, thương hàn

 Ô nhiễm do tác nhân vật lý; nhiệt độ (ảnh hưởng đến tốc độ phân giải của vi sinh vật), chất phóng xạ (Uran, thori, Sr90, I131, Cs1370)…

Chất ô nhiễm đến với đất qua nhiều đầu vào, có thể từ trên trời rơi xuống, từ nước chảy vào, do con người trực tiếp đưa vào đất, đầu ra rất ít vì nhiều chất ô nhiễm sau khi ngấm vào đất sẽ lưu lại trong đất rất lâu Đất không có khả năng tự làm sạch vậy nên con người muốn khử ô nhiễm cho đất

sẽ gặp rất nhiều khó khăn, tốn nhiều công sức và kinh phí [6]

2.1.1.3: Khái niệm về ô nhiễm môi trường nước và nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước:

Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý – hoá học – sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật 0

Làm giảm độ đa dạng sinh vật trong nước Xét về tốc độ lan truyền và quy mô ảnh hưởng thì ô nhiễm nước là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất

- Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên: do mưa, tuyết tan, gió bão, lũ lụt đưa vào môi trường nước các chất thải bẩn, các sinh vật có hại kể cả xác chết của chúng

Trang 15

- Ô nhiễm nước có nguồn gốc nhân tạo: quá trình thải các chất độc hại chủ yếu dưới dạng lỏng như các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vào môi trường nước

- Theo bản chất các tác nhân gây ô nhiễm, người ta phân ra các loại ô nhiễm nước: ô nhiễm vô cơ, hữu cơ, ô nhiễm hóa chất, ô nhiễm sinh học, ô nhiễm bởi các tác nhân vật lý

- Ô nhiễm nước mặn, ô nhiễm nước ngầm và biển

Các xu hướng thay đổi chính của chất lượng nước khi bị ô nhiễm:

 Giảm lượng oxy hòa tan trong nước, giảm độ trong của nước

Tăng hàm lượng các muối trong nước bề mặt bề mặt và nước ngầm do chúng đi vào môi trường cùng nước thải, từ khí quyển, từ chất thải rắn

Tăng hàm lượng các chất hữu cơ, trước hết là chất khó bị phân hủy bằng con đường sinh học

Tăng hàm lượng các ion kim loại trong nước tự nhiên

 Giảm độ pH của nước ngọt [9]

- Luật đất đai năm ngày 29 tháng 11 năm 2013

-Nghị định 01/2017/NĐ-CP sửa đổi hướng đẫn về luật đất đai quốc gia

về chất lượng đất biên soạn, sửa đổi QCVN 03:2008/BTNMT; Tổng cục Môi trường, Vụ Khoa học và Công nghệ, Vụ Pháp chế trình duyệt, ban hành theo Thông tư số 64 /2015/TT-BTNMT ngày 21 tháng 12 năm 2015 của Bộ trưởng

Bộ Tài nguyên và Môi trường

Trang 16

-Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4048:2011 về chất lượng đất - phương pháp xác định độ ẩm và hệ số khô kiệt

-Luật khoáng sản số 60/2010/QH12 ngày 17 tháng 11 năm 2010, Nghị định 158/2016/NĐ_CP về quy định chi tiết một số điều của luật khoáng sản

-Nghị định 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

- Quyết định số 16/2008/QĐ-BTNMT ngày 31 tháng 12 năm 2008: Về việc ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường

-QCVN 03-MT: 2015/BTNMT về giới hạn cho phép của một số kim loại nặng trong đất

- Nghị định 179/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2013 quy định về

xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

- QCVN 40: 2011/BTNMT: Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp

- QCVN 08-MT: 2015/BTNMT: Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về chất

lượng nước mặt

- QCVN 09-MT: 2015/BTNMT Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm

- Nghị định 154/2016/NĐ-CP: Về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải

2.2: Thực trạng khai thác quặng đa kim trên Thế giới và Việt Nam

2.2.1 Trên thế giới

Theo Raw Materials Group (RMG), đến cuối năm 2010, tổng số vốn đầu tư khai thác kim loại toàn cầu đạt 562 tỷ USD, tăng 21% so với năm 2009.Mức độ tăng trưởng cho thấy sự khủng hoảng trong ngành công nghiệp này đã qua, nguồn vốn cho các dự án tăng cao và tiếp tục tăng khi nhu cầu về kim loại tăng Theo thứ tự, quặng sắt, đồng, vàng và niken là những kim loại quan trọng nhất được các công ty mỏ đầu tư khai thác Bốn kim loại này chiếm

Trang 17

tới 84% trong tổng số vốn của các dự án đầu tư.Xét theo tổng giá trị sản lượng, bốn kim loại này cũng chiếm ưu thế trong kinh doanh mỏ.Trong năm

2008, tổng giá trị sản lượng của chúng ước định đạt 280 tỷ USD (76% tổng giá trị sản lượng khoáng sản phi nhiên liệu) Nhu cầu sử dụng và giá cả tăng cao khiến cho quặng sắt dần trở thành nguồn kim loại quan trọng nhất.Tổng vốn đầu tư cho các dự án khai thác quặng sắt trong năm 2010 đạt 162 tỷ USD, vượt mức đầu tư cho dự án đồng (155 tỷ USD) và cao hơn nhiều so với vàng (83 tỷ USD) và niken (69 tỷ USD), tiếp theo mới là nhóm urani, chì/kẽm và nhóm các kim loại chứa platin PGMs (Platinum Group Metals) với mức đầu

tư 15 tỷ USD – 20 tỷ USD [9]

Theo số liệu công bố của Raw Materials Group (RMG), trong năm

2010, đã có thêm 105 dự án mới trong khai thác quặng kim loại với tổng vốn đầu tư lên tới 60 tỷ USD được đăng ký, trong đó có 36 dự án khai thác vàng,

22 dự án khai thác quặng sắt và 12 dự án khai thác đồng.Tổng vốn đầu tư trung bình cho một dự án khai thác quặng sắt xấp xỉ 1,3 tỷ USD (tăng từ mức

750 triệu USD), còn đối với các dự án khai thác vàng con số này vẫn giữ mức

ổn định 204 triệu USD Như vậy, trong tổng vốn đầu tư các dự án được công

bố trong năm 2010, ngành khai thác quặng sắt chiếm 47%.Theo dự báo, nhu cầu tiêu thụ thép tiếp tục tăng cao là nguyên nhân chính khiến cho sản lượng thép tiếp tục tăng trong vòng 3 đến 5 năm tới.[9]

Ngày nay, nhờ sự hỗ trợ của các kĩ thuật công nghệ hiện đại, đem lại hiệu quả cao trong việc khai thác, từ các nguồn quặng có hàm lượng thấp con người đã có thể chế ra một khối kim loại tinh lớn với chi phí thấp hơn rất nhiều so với trước đây.Các công ty khai thác quặng ngày càng chú trọng đầu

tư vào dây truyền thiết bị sản xuất hiện đại, trong khi vẫn ổn định giá thành sản xuất.Tuy nhiên, một số mỏ hoạt động kém hiệu quả đã phải dừng sản xuất, một số mỏ khác thì ngày càng phát triển hơn.[10]

Trang 18

-Phân bố sản xuất: đứng đầu là quốc gia nam Phi đạt sản lượng 141 triệu tấn/năm Theo sau đó là các nước như: Canada, Australia, Mỹ, Brazin

….Với sản lượng từ 40-55 triệu tấn/năm.Với 2 phương pháp khai thác chính

là khai thác lộ thiên và khai thác hầm lò đã đem lại sản lượng khai thác cao cho các quốc gia trên thế giới

-Xu hướng phát triển trong tương lai: hàm lượng quặng đa kim thay đổi tùy theo khu vực khai thác Với các loại quặng khác nhau thì khối lượng quặng cần thiết để tách đc 1 tấn hay 1 kg sản phẩm tinh là rất khác nhau Bên cạnh đó, khối lượng quặng đa kim khai thác còn phụ thuộc vào hàm lượng kim loại tiêu thụ và hàm lượng quặng khai thác.Cùng với đó, theo thời gian số lượng quặng đa kim dần trở nên cạn kiệt, những nơi có mỏ quặng đa kim ít hơn đang dần được khai thác, các mỏ khai thác ngày càng đi xuống sâu hơn, tăng cường tìm kiếm các quặng mới với trữ lượng và hàm lượng cao hơn

2.2.2 Ở Việt Nam

Từ khi đất nước ta hoàn toàn giải phóng, công tác điều tra địa chất và tìm kiếm thăm dò khoáng sản mới được triển khai trên quy mô toàn lãnh thổ Việt Nam.Trong công tác điều tra cơ bản, bằng việc lập bản đồ địa chất khoáng sản tỷ lệ 1/50.000, đã phát hiện thêm nhiều vùng, điểm mỏ có triển vọng lớn Kết quả của công tác điều tra, khảo sát, thăm dò địa chất cho thấy, Việt Nam là nước có tiềm năng về tài nguyên khoáng sản Cho đến nay ngành địa chất đã tìm kiếm, phát hiện hơn 5000 mỏ và điểm quặng của khoảng 60 loại khoáng sản khác nhau Một số khoáng sản đã được phát hiện và khai thác từ rất lâu như vàng, thiếc, chì, kẽm, than đá và các loại vật liệu xây dựng;

số khác mới được phát hiện và khai thác như dầu khí, sắt, đồng… Một số nơi,

có những mỏ nằm tập trung như than ở Quảng Ninh, bôxit ở Tây Nguyên và apatit, đất hiếm ở miền núi phía Bắc [11]

Trang 19

Khai thác khoáng sản là quá trình con người bằng phương pháp khai thác lộ thiên hoặc hầm lò đưa khoáng sản từ lòng đất phục vụ phát triển kinh

tế – xã hội

Các hình thức khai thác bao gồm: Khai thác thủ công, khai thác quy mô nhỏ và khai thác quy mô vừa.Bất cứ hình thức khai thác khoáng sản nào cũng dẫn đến sự suy thoái môi trường

Những năm gần đây, cùng với sự phát triển chung của cả nước, công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản đã và đang góp phần to lớn vào sự phát triển kinh tế và công cuộc xây dựng đổi mới đất nước.Ngành công nghiệp khai thác khoáng sản ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh

tế của Việt Nam

Theo số liệu thống kê kinh tế 6 tháng đầu năm 2015 của Tổng cục Thống kê, công nghiệp khai khoáng tiếp tục là ngành có đóng góp lớn và tăng trưởng cao, đứng ở vị trí thứ 3 trong các ngành có đóng góp lớn nhất cho tăng trưởng GDP [12]

Tính riêng, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng nhiên liệu, khoáng sản tháng 9 ước đạt 1,07 tỷ USD, tăng 16% so với tháng 8 và tăng 47,5% so với cùng kỳ năm 2011.Trừ than đá, các mặt hàng khác trong nhóm đều tiếp tục gặp thuận lợi về giá xuất khẩu

Lượng xuất khẩu của các mặt hàng cũng tăng so với tháng trước khiến cho kim ngạch xuất khẩu tháng 9 tăng 16% so với tháng 8

Tính chung 9 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu của cả nhóm tăng 4,8% so với cùng kỳ, trong đó dầu thô tăng 14,7%, quặng và khoáng sản khác tăng 2,5%, hai mặt hàng còn lại là than đá giảm 27% và xăng dầu giảm 5%

Nhìn chung, tài nguyên khoáng sản nước ta phần lớn có quy mô trung bình và nhỏ, trong đó một số loại khoáng ssản có tiềm năng khai thác, chế biến ở quy mô công nghiệp như: bauxite, đất hiếm, apatit,….tuy nhiên một số

Trang 20

loại khoáng sản như: sắt, đồng, chì, kẽm, mangan, vàng, bạc,…Chỉ khai thác được vài chục năm nữa sẽ cạn kiệt [9]

Trong quá trình công nghiệp hóa –hiện đại hóa đất nước, nhiều loại khoáng sản khai thác, chế biến phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu ra trường.Hoạt động khoáng sản từng bước hướng tới gắn kết chặt chẽ giữa mục tiêu lợi nhuận,kinh tế với trách nhiệm bảo vệ môi trường,

an toàn lao động và bảo vệ tài nguyên khoáng sản.Tuy nhiên, hoạt động khai thác chế biến khoáng sản còn bộc lộ nhiều bất cập như: Do chú trọng vào kinh

tế, nhất là tăng trường GDP ít chú ý đến bảo vệ môi trường nên tình trạng khai thác khoáng sản bừa bãi gây ô nhiễm môi trường và làm mất cân bằng sinh thái ở nhiều nơi, khai thác và sử dụng tài nguyên khoáng sản chưa hợp

lý, làm tổn thất, lãng phí tài nguyên quốc gia và gây bức xúc,áp lực lớn cho xã hội ở những khu vực có hoạt động khai thác khoáng sản, lập kế hoach quy hoạch, quyết định đầu tư dự án chưa tính đến chi phí, lợi ích về mặt xã hội và môi trường Việc cấp giấy phép quản lý và khai thác khoáng sản đã được tiến hành nhưng chưa thanh tra, kiểm tra xử lý kịp thời các vi phạm pháp luật, tài nguyên khhoáng sản thuộc sở hữu của toàn dân nhưng lợi ích từ hoạt dộng khai thác chủ yếu thuộc về các công ty, cá nhân khai thác, chế biến khoáng sản Lợi ích quốc gia, lợi ích xã hội chưa tương xứng với giá trị tài nguyên, khi tài nguyên khoáng sản của đất nước đang bị sử dụng lãng phí, chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư phải chịu hậu quả nặng nề về kinh tế,

xã hội, môi trường

Đánh giá và nhận xét chung:

1 Về khai thác và tuyển khoáng:

Hầu hết ở các mỏ kim loại, về kỹ thuật chưa được chú ý, đa số áp dụng

hệ thống khai thác lộ thiên với công nghệ ôtô - máy xúc.Đây là loại hình công nghệ cổ điển, giá thành cao.Các thông số kỹ thuật của hệ thống khai thác và

Trang 21

vận tải không đảm bảo.Từ khi có chủ trương khai thác mỏ nhỏ, khai thác tận thu, hàng loạt các công trường khai thác thủ công mọc lên như khai thác vàng,

đá quý, thiếc, mangan, sắt, In-me-nhít….Phương pháp khai thác thủ công hầu như không có cơ sở khoa học về công nghệ Một số xí nghiệp khai thác cơ giới cũng chuyển sang khai thác thủ công như mỏ thiếc Tĩnh Túc, Sơn Dương, Bắc Lũng, Crômit Cổ Định, do cạn kiệt tài nguyên hoặc do quy mô khai thác giảm, không chịu nổi chi phí của khai thác cơ giới.Phương pháp khai thác thủ công và bán cơ giới đã tác động xấu đến môi trường sinh thái và gây lãng phí tài nguyên.Về tuyển khoáng cũng được thay thế công nghệ tuyển

cơ giới tập trung bằng những xưởng tuyển “mini” thủ công hoặc bán cơ giới.Hình thức này bao trùm hầu hết các ngành khai thác khoáng sản kim loại như thiếc, vàng, crômit, mangan…

Một số cơ sở áp dụng phương pháp tuyển nổi như đồng Sinh Quyền, tuyển quặng sunphua kẽm chì Làng Hích, apatít, graphít,… với sơ đồ và thiết

bị tuyển đơn giản, hệ số thu hồi thấp, giá thành cao và chưa thu hồi được khoáng sản có ích đi kèm

2 Về luyện kim và chế biến sâu:

Công nghiệp luyện kim và chế biến sâu khoáng sản chưa được phát triển Gang, thép, thiếc, antimon, vàng, kẽm, chì đã được luyện nhưng chỉ có gang, thép và thiếc được luyện ở quy mô công nghiệp

Nhà máy gang thép Thái Nguyên với công nghệ luyện gang bằng lò cao (lò cao nhỏ V=100m3).Luyện thiếc bằng lò phản xạ và lò điện hồ quang và điện phân.Sản xuất bột kẽm bằng lò phản xạ và lò quay.Luyện antimony bằng

lò phản xạ và lò điện hồ quang.Công nghệ thuỷ luyện được áp dụng cho luyện vàng

Nhìn chung, công nghệ luyện kim và chế biến sâu chưa phát triển, thiết

bị lạc hậu, năng suất và hệ số thu hồi thấp, chất lượng sản phẩm chưa

Trang 22

cao.Phần lớn sản phẩm chỉ đạt tiêu chuẩn xuất khẩu ở mức trung bình, trừ thiếc điện phân đạt loại I thế giới (99, 95%Sn)

Tóm lại, ngành khai thác và chế biến khoáng sản kim loại trong nhiều thập kỷ qua chưa phát triển đúng với tiềm năng, đúng với vị trí, vai trò trong quá trình phát triển KT-XH của đất nước Trong bối cảnh mở cửa và giao lưu quốc tế theo cơ chế thị trường, chúng ta cần liên doanh, liên kết với nước ngoài trong dự án đòi hỏi vốn đầu tư lớn, công nghệ phức tạp và thị trường tiêu thụ như dự án sản xuất alumin và điện phân nhôm, dự án luyện gang, thép từ quặng sắt Thạch Khê, Quý Xa…

Trong thời gian đầu từ 10-15 năm, có thể phải cho nước ngoài nắm cổ phần chi phối, chúng ta nắm cổ phần ở những khâu thiết yếu như nguồn tài nguyên…có như vậy ngành công nghiệp khoáng sản kim loại mới có cơ hội phát triển mạnh

2.3: Ảnh hưởng của hoạt động khai thác quặng đa kim dến môi trường

2.3.1: Trên thế giới

-Ô nhiễm không khí, đất, nước:

Các hoạt động khai thác quặng đa kim thường phát sinh ra nhiều bụi, khí thải, nước thải với khối lượng lớn nhất là những khu vực khai thác và chế biến tại chỗ.Tác động hoá học của hoạt động khai thác khoáng sản tới nguồn nước: Sự phá vỡ cấu trúc của đất đá chứa quặng khi tiến hành đào bới và khoan nổ sẽ thúc đẩy các quá trình hoà tan, rửa lũy các thành phần chứa trong quặng và đất đá, quá trình tháo khô mỏ, đổ các chất thải vào nguồn nước, chất thải rắn, bụi thải không được quản lý, xử lý chặt chẽ, tham gia vào thành phần nước mưa, nước chảy tràn cung cấp cho nguồn nước tự nhiên,… là những tác động hoá học làm thay đổi tính chất vật lý và thành phần hoá học của nguồn nước xung quanh các khu mỏ

+Ảnh hưởng tới nguồn tài nguyên thiên nhiên:

Trang 23

-Tác động tới môi trường sinh thái, nước giảm trữ lượng, chất lượng bị

ô nhiễm, chế độ thủy văn bị phá vỡ

-Bề mặt đất đai thổ nhưỡng bị biến dạng, số lượng sinh vật giảm mạnh, nhiễu loạn hệ sinh thái và sinh cảnh

- Gây tổn hại đến môi trường cảnh quan, nhất là đối với sức khỏe con người sống xung quanh khu vực

-Ảnh hưởng lớn tới rừng, đất rừng xung quanh mỏ khai thác, lớp thục vật bị suy giảm Làm cho sự đa dạng của động thực vật giảm số lượng loài hoặc có thể bị tuyệt chủng do bị hạn chế các điều kiện để tồn tại như: nơi cư trú, thức ăn, nguồn nước bị ô nhiễm

2.3.2: Ở Việt Nam

Ngành công nghiệp khai thác mở ở nước ta đang bước vào giai đoạn phát triển mới cả về quy mô và việc áp dụng các công nghệ tiên tiến, góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng, đổi mới đất nước.Bên cạnh những lợi ích mà hoạt động khai khoáng mang lại thì cũng gây ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường, nguồn tài nguyên thiên nhiên, sức khỏe con người và an toàn trong lao động

Những tác động rõ nét nhất bao gồm:

-Làm biến đổi địa mạo và cảnh quan khu vực

-Chiếm dụng nhiều diện tích đất trồng trọt và cây xanh để mở khai trường và đổ đá thải

- Làm ô nhiễm nguồn nước và đất đai quanh mỏ

-Thay đổi môi trường văn hóa, xã hội cả tích cực lẫn tiêu cực

2.3.3: Tại tỉnh Thái nguyên

Thái Nguyên nằm trong vùng sinh khoáng Đông Bắc Việt Nam, thuộc vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương Hiện có 34 loại hình khoáng sản,

Trang 24

phân bố tập trung ở các huyện Đồng Hỷ, Võ Nhai, Phú Lương, Đại Từ Khoáng sản ở Thái Nguyên có thể chia thành 4 nhóm:

+ Nhóm nhiên liệu

Bao gồm than mỡ, than đá, phân bố tập trung ở Phú Lương, Đại Từ -Than mỡ: chất lượng tương đối tốt, có trữ lượng tiềm năng khoảng 15 triệu tấn, trong đó trữ lượng thăm dò khoảng 8,5 triệu tấn (lớn nhất Việt nam) tập trung chủ yếu ở các mỏ Phấn Mễ, Làng Cẩm, Âm Hồn

-Than đá: có trữ lượng tìm kiếm và thăm dò khoảng 90 triệu tấn (lớn thứ 2 trong cả nước sau khu mỏ than Quảng Ninh) tập trung chủ yếu ở các mỏ Khánh Hoà, Bá Sơn, Núi Hồng

+Nhóm khoáng sản kim loại:

Bao gồm kim loại đen như sắt, mangan, ti tan và kim loại mầu như chì, kẽm, đồng, niken, nhôm, thiếc, vonfram, altimoan, vàng, thuỷ ngân

+ Nhóm khoáng sản phi kim loại

Có pyrit, barit, phôtphorit, graphit…trong đó đáng chú ý nhất là phôtphorit với tổng trữ lượng đạt khoảng 60.000 tấn

+ Nhóm khoáng sản vật liệu xây dựng:

Sét xi măng có trữ lượng khoảng 84,6 triệu tấn.Ngoài ra Thái Nguyên còn có sét làm gạch ngói; cát dùng để sản xuất thuỷ tinh thông thường; cát, sỏi dùng cho xây dựng

Hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh thái nguyên đang phát triển nhanh chóng, tuy nhiên, do sử dụng công nghệ lạc hậu, da phần khai thác theo kiểu lộ thiên … nên đất tại các khu vực khai khoáng đều bị nhiễm bẩn, ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng đất và gián tiếp ảnh hưởng tới sức khỏe và đời sống người dân trong khu vực.Tổng diện tích đất trong hoạt động khai thác chiếm hơn 3.191 ha tương ứng với gần 1% diện tích đất tự nhiên của tỉnh

Trang 25

Khảo sát của Sở Tài nguyên – Môi trường tỉnh Thái Nguyên tại các mỏ than và mỏ kim loại cho biết, môi trường nước mặt xung quanh các mỏ đã có dấu hiệu ô nhiễm, có nơi ô nhiễm trầm trọng.Điển hình như tại khu vực suối Thác Lạc (huyện Đồng Hỷ) đã bị ô nhiễm chất rắn lơ lửng; suối Nghinh Tường – Sảng Mộc (huyện Võ Nhai) cũng bị ô nhiễm chất rắn lơ lửng và ô nhiễm các yếu tố kim loại; suối Cốc (thành phố Thái Nguyên) ngoài ô nhiễm chất rắn còn bị ô nhiễm dầu mỡ Tại khu vực mỏ than Khánh Hòa (Phú Lương), Núi Hồng (Đại Từ), mỏ đá Tân Long, Quang Sơn (Đồng Hỷ), 20%

số mẫu khí có hàm lượng bụi vượt quy chuẩn

Ở các mỏ sắt Trại Cau (Đồng Hỷ), An Khánh (Đại Từ), mỏ than Phấn

Mễ (Phú Lương)…, ngoài những tác động xấu đến môi trường còn gây ra tình trạng sụt lún đất, mất nước, sạt lở bãi đổ thải, hư hỏng đường giao thông do vận chuyển quá tải trọng, ô nhiễm bụi do rơi vãi đất đá, bùn thải xuống đường trong quá trình vận chuyển Tiêu biểu như hoạt động thu hoạch quặng trong bãi thải đất đá từ Núi Quặng (thị trấn Trại Cau) của Công ty Cổ phần Nhẫn đã tạo ra những hồ bùn thải lớn, có độ cao chênh lệch lớn so với mặt bằng đất tự nhiên so với khu vực xung quanh Theo kết quả kiểm tra thực địa của cơ quan chức năng: Bờ đập hồ bùn thải bị sụt lún, rạn nứt nhiều chỗ Các vết nứt trên mặt đập cắt ngang thân đập và chạy dọc ta-luy âm, rộng từ 15-30cm…Đáng chú ý là Công ty Cổ phần Nhẫn đã nâng cao đập hồ chứa bùn thải bằng cách lấy đất thải ở công trường để be đắp, không lu nén

Việc làm thất thoát tài nguyên từ một số mỏ khoáng sản cùng với tình trạng ô nhiễm môi trường, sụt lún nghiêm trọng đã gây nên mâu thuẫn sâu sắc giữa các doanh nghiệp khai thác với người dân sở tại.Như trường hợp mỏ than Bá Sơn thuộc Cty CP xây dựng và khai thác than Thái Nguyên tại xã Sơn Cẩm (huyện Phú Lương) gây sụt lún, ô nhiễm không khí; mỏ than Khánh Hòa thuộc Công ty TNHH MTV Công nghiệp mỏ Việt Bắc gây ô nhiễm không khí

Trang 26

do bụi ở công trường khai thác, vận chuyển; …Nguyên nhân dẫn đến những tình trạng trên được cho là do nhiều doanh nghiệp còn sử dụng thiết bị khai thác lạc hậu, chưa đồng bộ nên hiệu quả khai thác, chế biến thấp, đầu tư thực hiện biện pháp giảm thiểu tác động xấu đến môi trường còn hạn chế.Cùng với

đó là công tác quản lý của các cơ quan chức năng còn lỏng lẻo, chưa thực sự nghiêm ngặt và chưa có chế tài xử phạt nghiêm minh

2.4: Các giải pháp xử lý ô nhiễm đất và nước

2.4.1: Các nghiên cứu về xử lý ô nhiễm đất và nước

-Các nghiên cứu về xử lý ô nhiễm đất

Trong các hướng nghiên cứu xử lý và cải tạo đất bị ô nhiễm, thì hướng nghiên cứu sử dụng thực vật để giải quyết các vấn đề về môi trường đất nhiễm kim loại nặng được xem là phương pháp rẻ tiền, an toàn và được các nhà khoa học trên thế giới đặc biệt quan tâm.Phương pháp được hiểu là sử dụng thực vật trồng trên vùng đất bị ô nhiễm kim loại nặng chúng có khả năng sống trên khu vực đất bị ô nhiễm hấp thụ các kim loại, phá hủy hoặc biến đổi các chất độc hại, cải tạo đất xử lý ô nhiễm Theo nghiên cứu của các nhà hoa học Viện công nghệ môi trường ( Viện khoa học – công nghệ Việt Nam), các loại thực vật xử lý kim loại nặng như: dương xỉ, cỏ ventiver, cỏ màn trầu

Hiện nay nhiều vùng đất sau khi hoàn thổ tại các khu mỏ bị ô nhiễm các loại kim loại nặng như : Pb, Cd, Zn, As,…vẫn chưa có điều kiện để cải tạo

Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có 4 mỏ đặc trưng ( mỏ than Núi Hồng,

mỏ sắc Trại cau; chì, kẽm làng Hích xã Tân Long; mỏ thiếc tại Núi Pháo – xã

Hà Thượng) hàm lượng kim loại như chì, kẽm, asen … trong đất cao gấp nhiều lần mức độ cho phép.Tại huyện Đồng Hỷ, hàm lượng Cd, PB, Zn trong

Trang 27

đất Làng Hích xã Tân Long cao hơn điểm thu mẫu khác Đặc biệt, hàm lượng

Pb ở trong mẫu là 108,5; 45,1 và 51,3 đều vượt quá QCVN

“Sách chuyên khảo: Xử lý ô nhiễm môi trường bằng thực vật”

Tập thể tác giả bao gồm: GS Đặng Đình Kim, Lê Đức, Trần Văn Tựa, Bùi Thị Kim Anh, Đặng Thị An; chủ biên là GS Đặng Đình Kim Sách do Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội – 2011.Cho biết:

Những thực vật nằm trong danh sách “ siêu tích lũy kim loại nặng ” có khả năng tích tụ một lượng lớn các kim loại trong phần khí sinh của chúng được coi là đối tượng ưu tiên để tuyển chọn cho việc xử lý ô nhiễm đất Một hướng nghiên cứu khác rất có triển vọng nhằm nâng cao hiệu quả xử lý ô nhiễm kim loại nặng trong đất là tạo ra các loài cây chứa các gen chống chịu

và có khả năng tích tụ kim loại nặng trong cơ thể cũng như các cây tăng trưởng nhanh, cho sinh khối lớn và bộ rễ phát triển,… Ngoài ra, kĩ thuật canh tác cũng là giải pháp tốt cải thiện tình hình, trong đó mối quan hệ Cây - Vi sinh vật - Đất - Chất ô nhiễm là yếu tố rất quan trọng

Việc sử dụng thực vật để xử lý môi trường đất bị ô nhiễm là một giải pháp hàng đầu đối với điều kiện của Việt Nam hiện nay.Cũng có thể coi đây

là hướng đi bền vững và hiệu quả đối với việc bảo vệ môi trường của các vùng đã, đang khai thác - chế biến quặng

Đề tài cấp Nhà Nước KC08.04/06-10 “Nghiên cứu sử dụng thực vật để cải tạo đất bị ô nhiễm kim loại nặng tại các vùng khai thác khoáng sản ” tiến hành trong 3 năm (01/2007- 01/2010) có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất rõ ràng.Thành công của Đề tài đã góp một phần quan trọng vào lĩnh vực phát triển bộ môn khoa học sử dụng thực vật để xử lý ô nhiễm (Phytoremediation) mới được triển khai mạnh trên thế giới và còn khá mới mẻ ở Việt Nam

Trang 28

-Các nghiên cứu về xử lý ô nhiễm nước

Hiện nay các nhà khoa học đã khẳng định nước là nguồn truyền bệnh

nhanh nhất, rộng nhất và nguy hiểm nhất Hơn nữa tất cả các nguồn nước tự nhiên( nước giếng, nước mưa, nước sông, suối, ao, hồ ) là những nơi có chứa mầm bệnh Do vậy mọi nguồn nước dùng cho sinh hoạt đều phải xủ lí loại bỏ các độc hại, đạt quy chuẩn của bộ y tế Các nghiên cứu về xử lí nước đối với hộ gia đình thì thường sử dụng phương pháp bể lắng, bể lọc là chủ yếu ngoài ra còn đánh phèn, sử dụng hóa chất nhưng với tỉ lệ thấp Hầu hết các giếng khơi thường không được xử lí trước khi đem vào sử dụng

2.4.2: Giải pháp cụ thể cho ô nhiễm đất và nước

2.4.2.1: Giải pháp cụ thể cho ô nhiễm đất

Ô nhiễm đất hay ô nhiễm môi trường nói chung gây ra các hậu quả cực

kỳ nghiêm trọng Một khi đất đã bị ô nhiễm thì vấn đề xử lý nó cực kỳ khó khăn và tốn kém Phải kết hợp nhiều biện pháp đồng thời thì mới dần trả lại

sự cân bằng trong đất

Ở Việt Nam cũng như trên thế giới, vấn đề ô nhiễm đất đang là vấn đề báo động Thực trạng này đang đặt ra vấn đề cho con người những bài toán nan giải liên quan đến vấn đề cải tạo đất, trả lại sự cân bằng cho đất

Các biện pháp đó như sau:

-Sửa đổi, bổ xung hoàn thiện hệ thống pháp luật về đất đai, môi trường -Thường xuyên thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra về việc thực hiện cam kết bảo vệ môi trường, báo cáo đánh giá tác động môi trường của các doanh nghiệp, nghiêm khắc xử lý các hành vi vi phạm

-Nâng cao nhận thức, tuyên truyền và giáo dục về bảo vệ môi trường sâu rộng trong lĩnh vực khai thác và chế biến khoáng sản của các doanh nghiệp

Trang 29

-Đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động về môi trường, động viên khuyến khích quần chúng tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường, tham vấn cộng đồng, nâng cao nhận thức về môi trường đặc biệt là khu vực mỏ khai thác

-Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, chuyển giao, ứng dụng công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực cho bảo vệ môi trường nhất là các nhành khai khoáng

-Nghiên cứu và phát triển các công nghệ xử lý, tái chế, tái sử dụng chất thải, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong bảo vệ môi trường, tăng cường năng lực công tác thanh tra, kiểm ra

-Xử lý ô nhiễm đất hiệu quả bằng công nghệ hiện đại CHLB Đức, hợp tác chuyển giao công nghệ xử lý ô nhiễm đát bằng công nghệ sinh học

-Áp dụng công nghệ xử dụng thực vật xử lí ô nhiễm đất bền vững, đạt hiệu quả môi trường.[10]

2.4.2.2: Giải pháp cụ thể cho ô nhiễm nước

+Làm mềm nước( khử độ cứng ): Độ cứng của nước chủ yếu là do hàm lượng cation kim loại 𝐶𝑎2+ và 𝑀𝑔2+ có trong nước Độ cứng toàn phần là tổng hàm lượng các cation 𝐶𝑎2+ và 𝑀𝑔2+ tính cho một lít nước bao gồm:

- Độ cứng tạm thời hay độ cứng cacbonat: tạo bởi các muối cacbonat

Ca và Mg hầu như không thay đổi thường xuyên dưới tác dụng của nhiều yếu tố( ví dụ: nhiệt độ, độ pH )

- Độ cứng vĩnh viễn: tạo bởi các muối khác của Ca và Mg như sulphat, clorua chỉ có thể thay thế bằng phương pháp phức tạp và đắt tiền

Có nhiều phương pháp làm mềm nước như phương pháp hóa học, phương pháp nhiệt, phương pháp trao đổi ion, phương pháp tổng hợp sau đây là một số phương pháp đang được áp dụng:

+ Phương pháp hóa học: Cơ sở của phương pháp này là dựa vào hóa chất có khả năng kết hợp với các ion 𝐶𝑎2+ và 𝑀𝑔2+ tạo ra các hợp chất

Trang 30

không tan và loại trừ các phương pháp lắng lọc, làm mềm bằng vôi và sooda, photphat

+Phương pháp nhiệt: Nguyên lí cơ bản của phương pháp này dưới các tác dụng của nhiệt độ khí cacbonic hòa tan sẽ bị khử hết thông qua sự bố hơi

+Phương pháp trao đổi ion: Ngành công nghiệp hóa học đã chws tạo

ra các loại hạt nhựa hữu cơ tổng hợp không tan trong nước nhưng có bề mặt hoạt tính

Trang 31

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1: Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.1.1: Đối tượng nghiên cứu

Môi trường đất tại mỏ Núi Pháo, xã Hà Thượng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

3.1.2: Phạm vi nghiên cứu

Môi trường đất và môi trường nước tại công ty TNHH khai thác chế biến khoáng sản Núi Pháo, xã Hà Thượng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

3.2: Địa điểm thực hiện và thời gian thực hiện

Địa điểm thực hiện: tại mỏ Núi Pháo, xã Hà Thượng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

Địa điểm thực tập: tại Công ty SGS Núi Pháo, xã Hà Thượng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

Thời gian thực hiện: từ 28/04/2018-02/05/2018

3.3: Nội dung nghiên cứu

-Tổng quan dự án khai thác chế biến khoáng sản Núi Pháo

- Đánh giá hiện trạng môi trường đất tại mỏ Núi Pháo

-Đánh giá hiện trạng môi trường nước tại mỏ Núi Pháo

- Đánh giá chung và đề xuất giải pháp

3.4: Phương pháp nghiên cứu

3.4.1: Phương pháp điều tra khảo sát thực địa

Trực tiếp tham gia khảo sát và nghiên cứu tại địa điểm thực tập để nắm bắt được thông tin nhất định nào đó, thông qua quan sát ghi chép lại tình hình thực tế đang diễn ra,cần quan sát lặp lại nhiều lần, ghi chép cẩn thận, chính xác

3.4.2: Phương pháp thu thập thông tin, kế thừa số liệu, tài liệu

Bao gồm:

Trang 32

-Tài liệu báo cáo hiện trạng môi trường địa phương và địa điểm nghiên cứu -Các tài liệu về dự án khai thác chế biến khoáng sản Núi Pháo

-Tài liệu về công tác quản lý chất lượng môi trường tại địa bàn nghiên cứu -Các báo cáo kết quả quan trắc chất lượng môi trường các năm của mỏ Núi Pháo

-Các văn bản pháp quy về khai thác khoáng sản, về bảo vè môi trường,

về quản lý tài nguyên, các tiêu chuẩn Việt Nam và các tài liệu có lien quan

3.4.3: Phương pháp lấy mẫu phân tích

-Sử dụng phương pháp lấy mẫu đất (TCVN 5297:1995)

-Sử dụng phương pháp lấy mẫu nước (TCVN 5999:1995)

3.4.4:Phương pháp phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm:

-Phương pháp phân tích mẫu đất:

Theo phương pháp TCVN 6469:2009 đối với các chỉ tiêu về : Zn, Cu,

Cd, Pb, As

- Phương pháp phân tích mẫu nước:

+ pH: phương pháp TCVN 6492:2011

+ TSS: phương pháp SMEWW 2450D-2012

+ COD: phương pháp SMEWW 5220D-2012

+ As, Pb: phương pháp SMEWW 3112-2012

+ Fe, Zn: phương pháp SMEWW 3112B-2012

3.4.5: Phương pháp tổng hợp, phân tích số liệu, so sánh và viết báo cáo

-Sử dụng phương pháp này nhằm thống kê lại tài liệu, số liệu rời rạc sẵn có -Phân tích đánh giá só liệu sẵn có, số liệu phân tích được.Tổng hợp các số liệu đó trên phần mềm Excel để đưa ra đánh giá, nhận xét chính xác và đầy đủ

-Từ kết quả phân tích mẫu kết hợp với khảo sát thực tế để đưa ra kết luận về các thành phần môi trường So sánh với QCVN để đưa ra những kết luận về chất lượng môi trường đất khu vực mỏ Núi Pháo

Trang 33

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1: Đánh giá hiện trạng khu vực nghiên cứu

4.1.1 Vị trí địa lý

Khu vực dự án khai thác và chế biến Vonfram, Flourir, Bismuth, Đồng

và Vàng Núi Pháo (gọi tắt là mỏ Núi Pháo) thuộc miền Trung Du và Đông Bắc Việt Nam, khu vực nnuis pháo nằm ở vĩ độ 21°39′10”và kinh độ 105°37’20”, với diện tích 602ha nằm tại xã Hà Thượng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, cách thành phố Hà Nội khoảng 80km về phía Tây Bắc và cách biên giới Trung Quốc khoảng 105km về phía Nam Mỏ Núi Pháo được cấp giấy phép kinh doanh số 2377/GP ngày 03 tháng 02 năm 2004, giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh số 4600864513 do Sở Kế Hoạch Đầu Tư tỉnh Thái Nguyên cấp ngày 24 tháng 06 năm 2011, chủ đầu tư là Công ty TNHH khai thác chế biến khoáng sản Núi Pháo

4.1.2: Quy mô mỏ quặng đa kim Núi Pháo

Việc khai thác và phát triển mỏ được thực hiện quanh năm, 24 giờ/ngày, 7 ngày trong tuần, trừ việc tạm dừng đột xuất do các hiện tượng thời tiết khác nghiệt, theo ước tính 1 năm mỏ hoạt động 365 ngày, với chế độ ngày làm 3 ca, mỗi ca 8 giờ với thời gian nghỉ giải lao, ăn ca và thay ca Thời gian vận hành ước tính trung bình là 7.576 giờ

a Công xuất

Công xuất của mỏ Núi Pháo được xác định vào cuối giai đoạn xây dựng của năm thứ nhất, mỏ sẽ được vận hành thử và đưa ra mục tiêu đạt sản lượng 403.000 tấn và đạt đủ công xuất 3, 5 triệu tấn/năm trong năm thứ

2 và tiếp tục sản xuất cho tới năm 16, sản lượng trung bình mỗi năm là : 5.900 tấn Vonframit, 196.000 tấn Fluorit, 5.600 tấn Đồng, 5000 aoxow Vàng, 360 tấn Bismuth

Trang 34

b Tuổi thọ mỏ

Mỏ Núi Pháo đi vào hoạt động từ tháng 04 năm 2013, dự kiến tuổi thọ của mỏ là 15 năm

c Quy mô khai thác

Khu vực khai thác mỏ quặng đa kim nằm chủ yếu tại xã hà Thượng và một phần đất của mỏ thuộc xã tân Linh và xã Phục Linh, tổng diện tích của

mỏ là 602 ha.Mỏ Núi Pháo có đặc điểm là hàm lượng khoáng hóa cao đồng nên tiến hành khai thác lộ thiên tương đối đơn giản với hệ thống bóc phủ thấp (,.6 đá thải : 1 quặng), kích thước mỏ cuối cùng khoảng 1,6 x 0,6km, tuy nhiên mỏ được mở theo chiều dài, đem lại tiềm năng cho việc mở rộng hay xuống sâu.Mỏ khai thác lộ thiên sẽ hoạt động trên hai khu vực khai thác riêng biệt đới phía Đông và đới phía Tây của mỏ

d Quy mô chế biến

Quy mô chế biến của mỏ Núi Pháo gồm 2 khu vực chính đó là:

- Khu vực nhà máy chế biến tinh quặng gồm hệ thống tuyển trọng lực thông thường và tuyển nổi được thiết kế để xử lý 3, 5 triệu tấn quặng/năm

- Khu vực nhà máy chế biến sâu Vonfram Là nhà máy chuyên dụng sản xuất Natri Vonfram với công xuất 9.000 tấn/năm

4.1.3: Trình tự khai thác

Mỏ khai thác lộ thiên sẽ hoạt động trên 2 khu vực khai thác riêng biệt, đới phía Đông và đới phía Tây, đới phía Đông sẽ được khai thác trước đới phía Tây Việc vạn hành mỏ sẽ bao gồm 1 dây chuyền thông thường gồm: máy xúc và xe tải, hai máy khoan và thuốc nổ sẽ được sử dụng để phá cả quặng và đá thải, vật liệu sẽ được chất lên xe tải 100 tấn, sử dụng 1 máy đào thủy lực gầu thuận 10m3 và 1 máy xúc gầu lật 11m3.Quặng được đưa vào tuyển khoáng có đường kính từ 150 – 1000mm, chu trình nghiền qua 3 giai đoạn thông thường bao gồm: 1 máy đập hàm sơ bộ, tiếp theo là 2 giai đoạn đập bằng máy đập côn, sẽ đập quặng tới đường kính 15mm

Trang 35

4.1.4: Công nghệ khai thác và chế biến

Công đoạn khai thác:

Công đoạn chế biến tinh quặng:

Công đoạn chế biến sâu

Hình 4.1: Sơ đồ quy trình công nghệ khai thác và chế biến mỏ Núi Pháo

Moong Khoan, nổ mìn Bố xúc lên phương tiện

Tuyển nổi Sulphide khối

Ngâm chiết và tinh

chế

Bismuth Flourspar Tinh quặng Vonfram

Nhà máy chế biến ST Sodium tungsten Tinh quặng Vonfram

Ngày đăng: 03/08/2019, 11:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w