1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Công tác xã hội với cá nhân trong việc giảm thiểu căng thẳng cho bệnh nhân người cao tuổi tại bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng”,

53 137 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Để có được bài Báo cáo thực tập cuối khóa về ngành Công tác xã hội với chủ đề “ Công tác xã hội với cá nhân trong việc giảm thiểu căng thẳng cho bệnh nhân người cao tuổi tại b

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 1

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 2

PHẦN 1 TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ THỰC TẬP 3

I Giới thiệu 3

II Đối tượng 4

III Mục tiêu 4

IV Nhiệm vụ 4

V Tổ chức, nhân sự 5

VI Các hoạt động chăm sóc bệnh nhân 7

VII Nhận xét chung về cơ sở 7

PHẦN 2 TIẾN TRÌNH THỰC HÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁ NHÂN 8

I Lý do chọn đề tài 8

II Cơ sở lý luận 8

1 Một số lý thuyết vận dụng trong Công tác xã hội với cá nhân 9

1.1 Thuyết nhu cầu của Maslow: 9

1.2 Thuyết tiếp cận sinh thái 10

1.3 Thuyết nhân cách phát triển tư duy 11

1.4 Lý thuyết tâm lý học hành vi 11

2 Khái quát chung về Người cao tuổi 12

2.1 Khái niệm 12

2.2 Đặc điểm sinh lý của người cao tuổi 13

3 Khái quát về sự lo âu của bệnh nhân NCT 16

3.1 Khái niệm 16

3.3 Phân loại Lo âu 18

3.4 Một số đặc điểm về Lo âu của bệnh nhân Người cao tuổi 18

3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự lo âu của bệnh nhân NCT 19

4 Khái niệm Công tác xã hội với cá nhân 21

5 Công tác xã hội với cá nhân trong việc giảm thiểu lo âu cho bệnh nhân NCT 21

III Tiến trình thực hiện 21

Trang 2

1 Bối cảnh chọn thân chủ 21

2 Hồ sơ xã hội của thân chủ 22

3 Vấn đề của TC 27

4 Tiến trình thực hiện 27

PHẦN 3: KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 42

I Kết luận 42

1 Bài học kinh nghiệm 42

2 Những thay đổi của bản thân 43

II Kiến nghị 44

1 Đối với cơ sở thực tập 44

2 Đối với Khoa, nhà trường 44

3 Đối với Kiểm huấn viên 45

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 46

PHỤ LỤC 47

I Tóm tắt vấn đề của Thân chủ 47

II Công cụ hỗ trợ lượng giá mục tiêu 47

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để có được bài Báo cáo thực tập cuối khóa về ngành Công tác xã hội với chủ đề

“ Công tác xã hội với cá nhân trong việc giảm thiểu căng thẳng cho bệnh nhân người cao tuổi tại bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng”, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, trong quá

trình thực tập vừa qua tôi đã nhận được sự hỗ trợ tận tình từ các thầy, cô thuộc Khoa Tâm

lý – Giáo dục của trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, các Kiểm huấn viên Công tác xã hội tại Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng, cùng toàn thể cán bộ nhân viên, người

bệnh, gia đình người bệnh của bệnh viện

Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô trong khoa Tâm lý – giáo dục đã truyền đạt, chia sẻ kiến thức quý báu trong 4 năm vừa qua Tôi xin chân thành gửi tới Giáo viên hướng dẫn TS Hà Văn Hoàng – giảng viên Khoa Tâm lý – Giáo dục, TS

Nguyễn Thị Hằng Phương – Giáo viên chủ nhiệm lớp 15CTXH, khoa Tâm lý – Giáo dục lời cảm ơn sâu sắc vì đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong kỳ thực tập vừa qua Đặc biệt hơn, xin được cảm ơn các KHV là Nhân viên Công tác xã hội tại bệnh viện – KHV Trần Thị Nghĩa, KHV Nguyễn Thị Thanh Lộc, KHV Võ Thị Kim Cúc, đã giúp đỡ, hỗ trợ tôi trong suốt 2 tháng thực tập tại bệnh viện

Tiếp theo, tôi xin cảm ơn Ban lãnh đạo Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng, chị Võ Thị Bích Nga – trưởng phòng Điều dưỡng và trưởng phó các khu điều trị, Điều dưỡng trưởng các Khoa đã giúp đỡ, chia sẻ kinh nghiệm và tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành 2 tháng thực tập Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới toàn bộ người bệnh và người nhà người bệnh tại Khoa Nội 2 nói riêng và tại Bệnh viện Ung bướu nói chung đã hợp tác, tin cậy và sẵn sàng chia sẻ để tôi hoàn thành tốt kỳ thực tập, cũng như là bài Báo cáo tốt nghiệp này

Xin chân thành cảm ơn !

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 5

PHẦN 1 TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ THỰC TẬP

I Giới thiệu

Đợt thực tập kéo dài 10 tuần, từ ngày 07/01/2019 đến ngày 17/3/2019 tại BVUBDN

đã mang đến cho tôi nhiều trải nghiệm thú vị, cũng như kinh nghiệm làm Công tác xã hội trong bệnh viện Qua đợt thực tập này, tôi thêm yêu ngành nghề mà bản thân đang theo đuổi, thêm vững tin vào sự lựa chọn của mình vì tính cấp thiết cũng như ý nghĩa lớn lao

mà một NVXH đem lại cho cộng đồng

Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng ( Da Nang Oncology Hospital – DOH) được đặt tại

tổ 28, đường Hoàng Thị Loan, phường Hòa Minh, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng

- được thành lập theo quyết định số 5898/QĐ-UBND ngày 15/8/2015 của Uỷ ban nhân

dân thành phố Đà Nẵng, trên cơ sở tổ chức lại khoa Ung bướu thuộc Bệnh viện Đà Nẵng

và tiếp nhận nguyên trạng bộ máy tổ chức , người lao động, trụ sở, cơ sở vật chất, trang

thiết bị, tài chính, tài sản của Bệnh viện Ung thư Đà Nẵng ( thuộc Hội Bảo trợ phụ nữ và

trẻ em nghèo thành phố )

Bệnh viện là đơn vị trực thuộc công lập, chịu sự quản lý, chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc Sở Y tế Đà Nẵng Ban Giám đốc chịu hoàn toàn hoạt động của Bệnh viện Đảng ủy Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo công tác Đảng, BCH Công đoàn cơ sở, BCH Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, các hội đồng chuyên môn,… tư vấn cho Giám đốc về các lĩnh vực liên quan

BVUBDN là một bệnh viện chuyên khoa ung thư loại 1 hoàn chỉnh của thành phố Đà Nẵng Bệnh viện được đặt trên diện tích 15 hecta với quy mô 500 giường bệnh nội trú Bệnh viện có chức năng tiếp nhận khám, chẩn đoán, điều trị có hiệu quả mọi bệnh lý ung thư, làm tốt công tác dự phòng bệnh ung thư cho nhân dân thành phố Đà Nẵng và khu vực miền Trung – Tây Nguyên, triển khai các chương trình nghiên cứu Khoa học – Công nghệ và tham gia công tác đào tạo nguồn nhân lực chuyên ngành ung thư

Bệnh viện được đầu tư xây dựng hoàn chỉnh các công trình hạ tầng với 3 khối nhà chính, gồm: Khối Hành chính và Hội trường; Khối Điều trị nội trú; Khối Kỹ thuật nghiệp

vụ Tổng diện tích sàn khoảng 54000m2 và diện tích xây dựng trung bình cho mỗi

giường bệnh gần 110m2 Bệnh viện được thiết kế theo mô hình bệnh viện khách sạn với cảnh quan hài hòa, tiện nghi và thân thiện với môi trường Mọi phòng bệnh đều có nhà vệ sinh riêng, hệ thống điều hòa trung tâm và hệ thống khí trung tâm Bệnh viện có 1 khu nhà lưu trú gồm 50 phòng ( khoảng 400 giường ) để người nhà người bệnh có điều kiện

Trang 6

nghỉ ngơi trong thời gian chăm sóc người bệnh tại bệnh viện Bệnh viện cũng có một khu nhà dành cho cán bộ nhân viên và khu nhà dành cho các chuyên gia trong và ngoài nước đến giúp đỡ, hỗ trợ bệnh viện

Bệnh viện có hệ thống trang thiết bị hiện đại và đồng bộ, đáp ứng tốt nhu cầu khám chữa bệnh ung thư Các hệ thống chẩn đoán và theo dõi, điều trị ung thư như máy CT – SCAN đa lát cắt, máy MRI 3.0T, máy tăng sang truyền hình, máy siêu âm màu 4 chiều, máy nội soi can thiệp, máy SPECT, PET – CT, máy đếm tế bào tự động 40 thông số,máy cắt lạnh, hệ thống phân tích GEN,… Các hệ thống trang thiết bị xạ trị ung thư kỹ thuật cao như máy xạ trị gia tốc, máy xạ phẫu, xạ trị áp sát liều cao,… Các cơ sở điều trị hiện đại như 10 phòng mổ chuẩn, khu hậu phẫu 40 giường bệnh, khu ghép tủy xương 6 phòng ghép chuẩn,…

II Đối tượng

Hiện nay, trung bình mỗi ngày BVUBĐN tiếp nhận, điều trị cho khoảng 700 BN đến

từ nhiều tỉnh, thành trong cả nước Mỗi BN có một hoàn cảnh khác nhau nhưng điểm chung của họ là điều gánh chịu những nỗi đau từ căn bệnh ung thư Căn bệnh này bắt buộc người bệnh phải điều trị trong khoảng thời gian dài nên mặc dù bệnh viện có hỗ trợ, điều trị miễn phí cho người bệnh nhưng tài chính của gia đình người bệnh cũng ngày một khó khăn

III Mục tiêu

- Xây dựng một bệnh viện chuyên khoa Ung bướu trình độ cao

- Đem lại lợi ích thiết thực cho người bệnh

- Làm tốt công tác phòng chống Ung thư trong khu vực

- Từng bước phát triển thành Viện Ung thư

- Quản lý kinh tế trong bệnh viện

Lãnh đạo thành phố Đà Nẵng giao cho bệnh viện 3 nhiệm vụ chính là :

Trang 7

- Làm tốt công tác khám, chữa bệnh cho bệnh nhân ung thư trong khu vực

- Tầm soát và phát hiện sớm bệnh ung thư

- Triển khai các chương trình Nghiên cứu khoa học về bệnh ung thư

V Tổ chức, nhân sự

Sơ đồ tổ chức:

Trang 8

Giám đốc, BSCK

II Trần Tứ Qúy

Phòng Chức Năng

Phòng Hành chính quản trị

Phòng Tổ chức cán bộ

Phòng Kết hoạch tổng hợp

PhòngTài chính

kế toán

Phòng Công nghệ thông tin

Phòng điều dưỡng

Phòng chỉ đạo tuyến và QL chất lượng BV

Phòng vật tư thiết bị Y tế

Khoa Lâm sàng

Khoa Khám bệnh, cấp cứu

Khoa Ung bướu tổng hợp

Khoa Cận lâm sàng

Khoa Dược

Khoa Chẩn đoán hình ảnh

Khoa Xét nghiệm, truyền máu

Khoa Giải phẫu bệnh

Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn

Khoa Kỹ thuật phóng xạ

Khoa Dinh dưỡng tiết chế

Phó Giám đốc, BSCKII Nguyễn Hồng Long

Trang 9

Đội ngũ nhân lực chuyên môn của bệnh viện với các Phó giáo sư, Tiến sĩ, Bác sĩ chuyên khoa 2, bác sĩ chuyên khoa 1, Thạc sĩ Y học, Bác sĩ nội trú, Kỹ sư vật lý hạt nhân,

Cử nhân Kỹ thuật Y học, Cử nhân Điều dưỡng và các chức danh chuyên môn khác Các nhân viên chuyên môn được tuyển dụng với yêu cầu cao về khả năng chuyên môn, có phẩm chất đạo đức tốt và tấm lòng yêu thương người bệnh, sẵn sàng cho mục tiêu khám chữa bệnh của bệnh viện Các nhân viên chuyên môn đều được đào tạo chuyên sâu từ 1-

3 năm tại các Trung tâm Y học lớn trong nước Một số khác được gửi đi đào tạo tại nước ngoài

VI Các hoạt động chăm sóc bệnh nhân

VII Nhận xét chung về cơ sở

Qua 10 tuần thực tập tại BVUBĐN, em đã hiểu rõ về quy trình làm việc, thái độ và tác phong cần có của 1 NVXH trong bệnh viện Em đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm, học hỏi được thêm những điều mới mẻ và đây chính là hành trang giúp em thành công sau này Với quy mô rộng lớn, sự hiện đại của trang thiết bị và sự chuyên nghiệp, tận tâm của các cán bộ nhân viên, BVUBĐN thật sự là một nơi đáng để BN tin cậy, yên tâm khám chữa bệnh Đây cũng là nơi có thể giúp những BN nghèo được chăm sóc, điều trị chu đáo với

sự hỗ trợ tuyệt đối với các dịch vụ như khám chữa bệnh miễn phí, phần ăn 3 bữa đến từ

“Bếp ăn từ thiện”, nhà lưu trú dành cho người nhà BN nội trú, hỗ trợ tiền gửi xe cho người nhà BN nội trú,… Ngoài ra, BVUBĐN còn nhận được rất nhiều tấm lòng vàng của các nhà hảo tâm, các đoàn từ thiện, các câu lạc bộ với sự hỗ trợ về tiền mặt, sữa, bánh, sách, đồ chơi, các suất ăn như cháo, cơm, mỳ,… Với tất cả những điều đó, BN tại BVUBĐN đã được giảm bớt những gánh nặng về chi phí hàng ngày, từ đó, BN cũng yên tâm chữa bệnh

và cải thiện sức khỏe tinh thần

Trang 10

PHẦN 2 TIẾN TRÌNH THỰC HÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁ

NHÂN

I Lý do chọn đề tài

Hiện nay trên Thế giới, ung thư là một căn bệnh phổ biến và có thể xảy ra với bất cứ người nào Theo báo cáo của Cơ quan Quốc tế nghiên cứu Ung thư thuộc Liên Hợp Quốc (IARC), dự kiến trong năm nay sẽ có thêm 18 triệu ca ung thư và sẽ có khoảng 9,6 triệu người tử vong do căn bệnh này Con số này tăng so với 14,1 triệu ca mắc bệnh mới và 8,2 triệu người tử vong vì ung thư vào năm 2012 trong cuộc khảo sát gần nhất trước đó Theo thống kê của Viện Nghiên cứu Phòng, chống Ung thư, ở Việt Nam, ước tính có khoảng 94000 người chết mỗi năm vì bệnh ung thư

Theo nghiên cứu, khoảng 77% các loại ung thư được chẩn đoán ở người cao tuổi Đặc biệt, nguy cơ bị ung thư sẽ cao hơn đối với những người có độ tuổi từ 65 trở lên1 Từ yếu tố môi trường, kèm theo chế độ dinh dưỡng và quan trọng nhất là quá trình lão hóa của người cao tuổi khiến cho NCT dễ mắc bệnh ung thư hơn Vì các yếu tố về tâm sinh

lý, cũng như là sự đau đớn về mặt thể chất khi mắc bệnh, NCT rất dễ bị căng thẳng, lo âu, suy nghĩ quá nhiều, từ đó khiến cho quá trình chữa bệnh và hồi phục gặp nhiều khó khăn Một nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bệnh nhân NCT bị trầm cảm và lo âu là khá cao với con số 40%2

Ở NCT, sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần có liên quan mật thiết với nhau Mọi dấu hiệu của bệnh tật đều làm gia tăng sự lo lắng dẫn đến căng thẳng, lo âu Ngược lại nếu tinh thần buồn bã, ức chế, bất an thì sẽ làm cho các triệu chứng bệnh lý về thể chất trở nên nặng và khó điều trị.3 Vì vậy, lo âu ở NCT rất nguy hiểm

Từ thực tiễn tại Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng, số lượng bệnh nhân NCT chiếm khá lớn, kèm theo thực trạng hiện nay về tỷ lệ mắc chứng lo âu của bệnh nhân NCT như đã nêu trên, là một NVXH trong tương lai, tôi rất mong muốn được giúp đỡ, hỗ trợ họ vượt qua được bệnh tật dựa trên những kiến thức, kỹ năng của ngành CTXH Vì vậy, trong kỳ

thực tập tốt nghiệp này tôi đã chọn đề tài báo cáo là “Công tác xã hội cá nhân trong việc

giảm thiểu lo âu về bệnh tật cho bệnh nhân người cao tuổi tại Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng”

II Cơ sở lý luận

1 Theo Viện Nghiên cứu, phòng chống Ung thư Việt Nam

2 Theo Viện Lão khoa Việt Nam

3 Liên đoàn Sức khỏe tâm thần Thế giới

Trang 11

1 Một số lý thuyết vận dụng trong Công tác xã hội với cá nhân

1.1 Thuyết nhu cầu của Maslow:

Theo thuyết A Maslow, nhu cầu tự nhiên của con người được chia thành các thang bậc khác nhau từ “đáy” lên tới “đỉnh”, phản ánh mức độ “cơ bản” của nó đối với sự tồn tại

và phát triển của con người vừa là một sinh vật tự nhiên, vừa là một thực thể xã hội

Hình 1 Tháp nhu cầu của Maslow

Lý thuyết của Maslow giúp cho sự hiểu biết của chúng ta về những nhu cầu của con người bằng cách nhận diện một hệ thống thứ bậc các nhu cầu Căn cứ theo tính đòi hỏi của

nó và thứ tự phát sinh trước sau, nhu cầu của con người được quy thành 5 bậc:

- Bậc 1:Nhu cầu sinh lý cơ bản

Đây là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống của con người như nhu cầu ăn uống, ngủ, nhà ở, sưởi ấm và thoả mãn về tình dục Là nhu cầu cơ bản nhất, nguyên thủy nhất, lâu dài nhất, rộng rãi nhất của con người Nếu thiếu những nhu cầu cơ bản này con người sẽ không tồn tại được

- Bậc 2:Nhu cầu về an toàn

An toàn có nghĩa là một môi trường không nguy hiểm, có lợi cho sự phát triển toàn diện, đây là một trong những nhu cầu cơ bản mà con người cần được đáp ứng nhằm tạo

điều kiện thuận lợi cho quá trình sinh hoạt hằng ngày

Trang 12

- Bậc 3: Nhu cầu trực thuộc xã hội

Vì con người là một thực thể xã hội nên họ cần được chấp nhận và trực thuộc vào các

tổ chức xã hội, đặc biệt là NCT đã từng nằm trong nhiều mối quan hệ như gia đình, thầy

cô, bạn bè,… nhưng đột ngột bị thay đổi nên nhu cầu này luôn luôn hiện hữu

- Bậc 4:Nhu cầu được tôn trọng

 Nội dung của nhu cầu này gồm hai loại: Lòng tự trọng và được người khác tôn trọng

 Lòng tự trọng bao gồm nguyện vọng muồn giành được lòng tin, có năng lực, có bản lĩnh, có thành tích, độc lập, tự tin, tự do, tự trưởng thành, tự biểu hiện và tự hoàn thiện

 Nhu cầu được người khác tôn trọng gồm khả năng giành được uy tín, được thừa nhận, được tiếp nhận, có địa vị, có danh dự,… Tôn trọng là được người khác coi trọng, ngưỡng mộ Khi được người khác tôn trọng cá nhân sẽ tìm mọi cách để làm tốt công việc được giao Do đó nhu cầu được tôn trọng là điều không thể thiếu đối với mỗi con người

- Bậc 5:Nhu cầu phát huy bản ngã

Đây là nhu cầu bậc cao nhất của con người.Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong cách phân cấp về nhu cầu của ông Đó là sự mong muốn để đạt tới, làm cho tiềm năng của

một cá nhân đạt tới mức độ tối đa và hoàn thành được mục tiêu nào đó

Dựa vào Thuyết nhu cầu của Maslow, việc vận dụng CTXH cá nhân vào các hoạt động

hỗ trợ giảm thiểu lo âu cho NCT cần được tiến hành đánh giá dựa theo các bậc nhu cầu, dựa vào nhu cầu để phát huy hiệu quả

1.2 Thuyết tiếp cận sinh thái

Vận dụng lý thuyết trong việc xem xét vấn đề trong mối quan hệ tác động qua lại giữa các yếu tố với nhau Cần tránh trường hợp đổ lỗi cho cá nhân, nên xem xét sự tác động từ phía môi trường theo 3 cấp độ: Vi mô, trung mô và vĩ mô

Cấp độ thứ nhất là cấp độ vi mô: gia đình – nơi cá nhân được sinh ra và lớn lên, góp phần rất lớn, tác động trực tiếp lên sự hình thành nhân cách của cá nhân;

Cấp độ thứ hai là cấp độ trung mô: những mối quan hệ khác ngoài xã hội như bạn bè,

họ hàng, hàng xóm, cơ quan,…

Trang 13

1.3 Thuyết nhân cách phát triển tư duy

Erich Erikson cho rằng ở mỗi một thời điểm phát triển sẽ có riêng những khả năng và những nhiệm vụ cần được xử lý thành thạo Một em bé không thể trở thành một người lớn

mà không qua những giai đoạn phát triển Những khả năng và nhiệm vụ của từng giai đoạn phải phù hợp và đi theo trào lưu chung của nhóm tuổi giai đoạn phát triển đó, vốn có thể quan sát được

Nếu ở từng thời kỳ giai đoạn phát triển được điều chỉnh thuận lợi một cá nhân sẽ có những gặt hái tốt đẹp về mặt tâm lý, giúp họ tiếp tục phát triển bình thường ở những giai đoạn tiếp theo Nếu không xử lý những nhiệm vụ được đặt ra cho từng giai đoạn phát triển, một cá nhân sẽ có những ảnh hưởng không bình thường về tâm lý, dẫn đến việc có những hành vi thiếu lành mạnh và những hành vi độc hại, kể cả việc họ có những tư duy khập khiễng về sau này

Hành trình phát triển của con người là một hành trình bao gồm nhiều bước phức tạp

và tương đối rắc rối, ngay cả đối với nhiều nhà học thuyết cũng có những nhầm lẫn Nhưng không hẳn vì thế mà những ngõ ngách của vấn đề lại trở nên không được xem xét quan tâm Theo Erikson, 8 giai đoạn phát triển rất đặc trưng ở con người, ở báo cáo này tôi chỉ

áp dụng giai đoạn thứ 8 là giai đoạn Cao niên – từ 60 tuổi trở lên – Mâu thuẫn giữa Hoàn thành và Thất vọng

Khi ở giai đoạn này, con người thường có sự thay đổi lớn về sức khỏe, thu nhập và các mối quan hệ xã hội Việc con cái trưởng thành, lập gia đình và sống động lập hay việc chuyển đổi từ hoạt động lao động sang nghỉ ngơi (về hưu) dễ làm cho con người cảm thấy hịt hẫng, thậm chí là cô đơn, lo lắng Nhìn lại quá khứ, con người nhìn thấy và cảm nhận

rõ hơn về địa vị của mình Một là họ chấp nhận quy luật của cuộc sống và hài lòng về quá khứ của mình, hai là họ hối hận, đau buồn và thất vọng về quá khứ

Nếu người già cảm thấy mãn nguyện với những gì họ đã đạt được trong quá khứ như

là sự nghiệp, gia đình, con cái,… thì họ dễ dàng chấp nhận những sự thay đổi tiêu cực về sức khỏe, thu nhập và vị thế xã hội, họ cũng không day dứt và lo lắng về cái chết Ngược lại, khi thất mình chưa thỏa mãn bản thân, chưa hoàn thành tâm nguyện đối với gia đình

và xã hội thì học thường kém thích nghi với những thay đổi, quá trình lão hóa ở họ diễn ra nhanh hơn và họ thường hối tiếc về quá khứ

1.4 Lý thuyết tâm lý học hành vi

Trang 14

Skinner vẫn trung thành đi theo chủ nghĩa hành vi cổ điển của Watson, nhưng ông đã

có thay đổi đôi chút Trong hệ thống của Skinner, hành vi có một đặc điểm mới và một tên gọi mới là “tạo tác” Nó có ba dạng: hành vi vô điều kiện, có điều kiện và hành vi tạo tác

Ba loại này có ba cơ sở tương ứng là: bẩm sinh, phản xạ có điều kiện và quá trình điều kiện tạo tác

Theo “tạo tác”, nhiều trả lời do cơ thể làm ra không phải do một kích thích không điều kiện nào đó gây ra, mà do từ cơ thể phóng ra, đáp ứng những kích thích kiểu đó, Skinner gọi là S Còn trong trường hợp hành vi tạo tác, thì cơ thể khi vào một hoàn cảnh nào đó sẽ

có những tạo tác (cử động) ngẫu nhiên, trong đó cái đúng sẽ được củng cố, và các phản ứng kiểu đó Skinner gọi là R và được gọi là hành vi tạo tác Với loại S, một kích thích này được thay bằng một kích thích khác là ở chỗ tín hiệu hóa, và trong tạo tác cũng thay thế, nhưng không có quá trình tín hiệu hóa, loại kích thích R không chuẩn bị để nhận một kích thích củng cố mà tạo ra kích thích củng cố Và đây là một ý kiến có ý nghĩa Và trong luận điểm của Skinner, cơ sở của hành vi có cùng một nguyên tắc hoạt động phản xạ của hệ thần kinh Từ đây chính thức đưa phản xạ trong thuyết hành vi thành một đơn vị phân tích

để nghiên cứu hành vi một cách trực quan

Học thuyết hành vi đã được nghiên cứu và áp dụng rất thành công trong tâm lý học hiện đại khi được chỉnh sửa và kết hợp với những trường phái khác Đóng góp rất lớn trong

tư vấn tâm lý: tiếp cận thân chủ, trị liệu hành vi, trị liệu tâm lý, quản lý nhân sự, điều hành con người, phương pháp giáo dục…Trị liệu hành vi được ứng dụng khá rộng rãi trong trị liệu, tham vấn, đặc biệt với với những người mong muốn thay đổi hành vi không phù hợp Những trường hợp thường được sử dụng trị liệu hành vi có hiệu quả cao như: rối loạn ám sợ; stress, trẻ em với những rối nhiễu tâm lý, cảm giác tuyệt vọng; rối nhiễu tình dục Người ta hay sử dụng nó trong những vấn đề liên quan đến lão khoa, nhi khoa, hoá giải stress, điều chỉnh hành vi Trong một số lĩnh vực khác như kinh doan0h quản lý hay giáo dục cũng có thể sử dụng liệu pháp này Thời gian can thiệp bằng liệu pháp này không dài nhưng có thể đem lại những kết quả mong muốn do vậy nó được ứng dụng rộng rãi

2 Khái quát chung về Người cao tuổi

2.1 Khái niệm

Theo Luật Người cao tuổi Việt Nam (2009) thì Người cao tuổi là những người có độ

tuổi 60 trở lên

Trang 15

Tổ chức Y tế Thế giới cũng định nghĩa Người già là những người 60 tuổi trở lên và

được sắp xếp theo các độ tuổi như sau:

- Từ 60 – 74 tuổi: Người già

- Từ 75 – 90 tuổi: Người cao tuổi

- Từ trên 90 tuổi: Người già sống lâu

Theo Pháp lệnh Người cao tuổi Việt Nam( số 23/2000/PL-UBTVQH): “Người cao tuổi có công sinh thành, nuôi dưỡng, giáo dục con cháu về nhân cách và có vai trò quan trọng trong gia đình và xã hội”

Trong từ điển Tâm lý học (2008) do ông Vũ Dũng biên soạn, có viết: “Tuổi già - giai đoạn cuối của cuộc đời Đây là giai đoạn không tham gia trực tiếp vào hoạt động sản xuất của xã hội Theo E Erickson: tuổi già là tuổi của sự toàn vẹn và thất vọng Toàn vẹn bao hàm sự chấp nhận giới hạn của cuộc sống, ý thức về mình là một phần của lịch

sử rộng lớn bao gồm các thế hệ đi trước, là sự thống hợp của bản sắc Ngược lại với sự toàn vẹn là sự thất vọng, nuối tiếc về những gì mình chưa làm được trong cuộc đời, sợ hãi cái chết đang đến gần”

Dựa trên Luật Người cao tuổi Việt Nam (2009) và từ điển Tâm lý học, khái niệm Người cao tuổi được rút ra là: “ Người cao tuổi là những người có độ tuổi từ 60 trở lên,

không tham gia trực tiếp vào hoạt động sản xuất của xã hội”

2.2 Đặc điểm sinh lý của người cao tuổi

2.2.1 Quá trình lão hóa

- Diện mạo thay đổi

Tóc bạc, da mồi, có thêm nhiều nếp nhăn, da trở nên khô và thô hơn Ở đầu và mặt bắt đầu xuất hiện những nốt mụn cơm NCT có những nếp nhăn là do lớp mỡ dưới da mất đi cũng như là do da không còn tính chất đàn hồi, các mạch máu mỏng vỡ ra , tạo thành các chất xanh đen nhỏ dưới da

- Bộ răng

Răng yếu khiến NCT ngại dùng các loại thức ăn cứng và khô Thay vào đó, họ thường dùng các loại thức ăn mềm, dễ nhai và dễ nuốt Các vấn đề viêm lợi, bệnh quanh răng, rụng răng và tăng cảm giác răng trở nên rất phổ biến Giảm nhu động thực quản làm chậm quá trình vận chuyển thức ăn qua ống tiêu hóa dẫn tới người già phải nhai lâu hơn và ăn chậm hơn

- Các cơ quan cảm giác

Trang 16

Thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác và xúc giác hoạt động kém hiệu quả

Thị lực giảm sút, khả năng phân biệt màu sắc cũng kém hơn, khả năng co nhỏ đồng tử tức thì đáp ứng với các kích thích giảm và thị thường ngoại vi cũng giảm Thủy tinh thể trở nên vàng dẫn tới đục thể thủy tinh tiến triển ở người già Người cao tuổi có nguy cơ bị những bệnh như đục thể thủy tinh hay tăng nhãn áp

Giảm khả năng nghe không phải là một thay đổi sinh ý nhưng vẫn thường diễn ra ở người già do phơi nhiễm với các tác nhân của môi trường như ô nhiễm tiếng ồn hoặc do yếu tố di truyền Tỉ lệ phổ biến của điếc tuổi già hay ù tần số cao cũng tăng theo tuổi Người cao tuổi giảm vị giác và khứu giác do số lượng các nụ lưỡi giảm khoảng 30% Nếu hiện tượng giảm nụ lưỡi là bình thường thì hiện tượng đột ngột giảm khả năng nếm hoặc ngửi có thể là biểu hiện bệnh lý Viêm lợi, bệnh quanh tăng và các rối loạn khác phổ biến ở người già có thể làm giảm khả năng nếm và ngửi đồ ăn Thay đổi này thường gây khó khăn cho người cao tuổi bởi họ thường chỉ ăn được nếu cảm nhận hương vị của đồ ăn

- Các cơ quan nội tạng

Tim là một cơ bắp có chuyên môn hóa cao nhưng cũng phải chịu những vấn đề tương

tự như các cơ bắp khác của cơ thể Quả tim của người già thường to hơn và chiếm một thể tích lớn hơn trong lồng ngực Đây cũng là một triệu chứng thường gặp của bệnh lý tim mạch như bệnh cơ tim giãn Ngoài ra, áp lực tống máu cũng giảm dẫn tới giảm khối lượng tuần hoàn Các van tim trở nên xơ cứng hơn do bị calci hóa, ngăn cản khả năng đóng khít của những van này

Phổi có xu hướng kém đàn hồi, hạn chế chức năng trao đổi khí Thông khí tối đa giảm

rõ ở người cao tuổi phản ánh dự trữ hô hấp giảm, vì vậy thường khó thở, thiếu không khí Khả năng hấp thụ oxy vào máu động mạch ở người có tuổi cũng giảm, ảnh hưởng tới việc cung cấp oxy cho mô, ảnh hưởng tới hoạt động chung Mất nước và calci trong xương, sụn sườn vôi hóa, khớp sườn-cột sống co cứng, đĩa đệm đốt sống thoái hóa, cơ lưng dài teo khiến lồng ngực kém di động hơn tạo lực cản lớn làm giảm hiệu quả hô hấp

Giảm nhu động ruột, giảm tiết dịch vị dạ dày gây giảm hấp thu chất dinh dưỡng Giảm nhu động của đại tràng cản trở thức ăn di chuyển trong phần còn lại của ống tiêu hóa và đi

ra ngoài cơ thể Tăng thời gian lưu thông của khối thức ăn trong ruột làm tái hấp thu nước nhiều hơn dẫn tới tỉ lệ táo bón gia tăng ở người cao tuổi

- Khả năng tình dục

Trang 17

Do sự thay đổi của nội tiết tố, ham muốn tình dục ở NCT cũng suy giảm rõ rệt Bênh cạnh những thay đổi theo lứa tuổi, NCT cũng phải đối mặt với những rào cản ngăn cách

họ quay lại với đời sống tình dục bình thường Những khó khăn này bao gồm sự mất mát người bạn đời khi về già và các bệnh lý như bất lựng, tiểu đường là những yếu tố tác động rất xấu lên chức năng tình dục của NCT

2.2.2 Các bệnh thường gặp

- Các bệnh về tim mạch và huyết áp: Cao huyết áp, nhồi máu cơ tim, suy tim, loạn nhịp tim,…

- Các bệnh về xương khớp: Thoái hóa khớp, loãng xương, bệnh gút,…

- Các bệnh về hô hấp: viêm phế quản, viêm phổi, ung thư phổi, viêm họng, cảm cúm,…

- Các bệnh về tiêu hóa và dinh dưỡng: Rối loạn tiêu hóa, suy dinh dưỡng, táo bón,…

- Ngoài ra, NCT còn hay mắc bệnh về ung bướu, thần kinh và các bệnh về sức khỏe tâm thần

2.3 Đặc điểm tâm lý của người cao tuổi

Trạng thái tâm lý và sức khỏe tâm thần của NCT không chỉ phụ thuộc vào nỗ lực của bản thân mà còn phụ thuộc vào môi trường xã hội, đặc biệt là môi trường văn hóa – tình cảm và quan trọng nhất là môi trường gia đình Khi bước vào gia đoạn tuổi già, những thay đổi tâm lý thường gặp ở NCT là:

- Hướng về quá khứ

Để giải tỏa những ưu phiền thường nhật trong cuộc sống hiện tại, NCT thường thích hội họp, tìm lại bạn cũ, cảnh xưa,… Họ thích ôn lại chuyện cũ, viết hồi ký, tái hiện kinh nghiệm sống cũng như hướng về cội nguồn

- Chuyển từ trạng thái “tích cực” sang “tiêu cực”

Khi về già, NCT đối mặt với bước ngoặt lớn về nghề nghiệp và lao động Đó là khi NCT đang bận rộn với công việc, bạn bè thì đột ngột chuyển sang trạng thái nghỉ ngơi khi về hưu Do vậy, NCT cần thời gian để thích nghi với cuộc sống mới và họ rất hay gặp phải “hội chứng về hưu”

- Sợ cô đơn và mong muốn được quan tâm, chăm sóc nhiều hơn

Con cháu thường bận rộn với cuộc sống và điều này khiến cho NCT cảm thấy mình

bị lãng quên, bỏ rơi Họ rất muốn tuổi già của mình được vui vẻ bên con cháu, không

Trang 18

muốn người khác coi mình là người vô dụng Vì vậy họ rất mong nhận được sự lo lắng và quan tâm từ mọi người, đặc biệt là con cháu của mình

- Cảm thấy bản thân mình vô dụng và hay tủi thân

Đa số NCT nếu còn sức khỏe vẫn có thể giúp con cháu một vài việc trong nhà, tự đi lại phục vụ hoặc có thể tham gia được các câu lạc bộ giải trí, cộng đồng Nhưng cũng có một số NCT quá lớn tuổi, sức khỏe giảm sút nên sinh hoạt phần lớn phụ thuộc vào con cháu Do vậy dễ nảy sinh ra tâm trạng chán nản, buồn phiền và tự dằn vặt mình Đôi khi, chỉ một câu nói vô tình cũng khiến họ cảm thấy tủi thân và cho rằng mình bị con cháu coi thường

- Nói nhiều hoặc trầm cảm

NCT là người có rất nhiều kinh nghiệm sống và thường họ rất muốn truyền đạt lại những kinh nghiệm đó cho con cháu, muốn con cháu phải theo khuôn phép mà họ đưa ra,

vì vậy đôi lúc sẽ làm cho người khác cảm thấy khó chịu Với một số bộ phận NCT khó thích ứng với môi trường xã hội mới, cộng với sự chưa hài lòng về hoài bão của tuổi trẻ

mà sức khỏe đã giảm sút thì có thể xuất hiện triệu chứng của bệnh trầm cảm

- Sợ phải đối mặt với cái chết

Dù biết rằng Sinh – Tử là quy luật của tự nhiên nên nhiều NCT cho rằng họ sắp chết

và lo lắng về điều đó Có những NCT lo trước hậu sự cho mình, viết di chúc,… cũng có những cụ lảng tránh, lo sợ cái chết và không chấp nhận điều đó

3 Khái quát về sự lo âu của bệnh nhân NCT

3.1 Khái niệm

Lo âu là một trạng thái tâm lý và sinh lý đặc trưng của con người bởi các yếu tố về cơ thể, cảm xúc và hành vi Sự phiền muộn và sợ hãi là tác nhân gây ra chứng lo âu4 Lo âu cũng tạo nên cảm giác không thoải mái cả khi bị hoặc không bị căng thẳng tâm lý

Lo âu là biểu hiện bình thường trong cuộc sống của con người và là phản ứng thường thấy khi có một khó khăn, sự đe dọa hay căng thẳng Lo âu có thể khiến cá nhân tỉnh táo hơn và tập trung hơn khi phải đối mặt với tình huống, từ đó giải quyết vấn đề một cách hiệu quả Tuy nhiên, nếu lo âu nghĩ ngợi quá nhiều đến nỗi đảo lộn cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày thì được xem là bất thường và có thể bị chứng Rối loạn lo âu

Trong từ điển Tâm lý học do ông Vũ Dũng chủ biên (2008) cho biết: “ Lo âu là trải

nghiệm cảm xúc tiêu cực được quy định bởi sự chờ đợi điều gì đó nguy hiểm, có tính chất

4 Abnormal psychology

Trang 19

khuếch tán, không liên quan đến các sự kiện cụ thể Trạng thái cảm xúc xuất hiện trong các tình huống nguy hiểm không xác định và được thể hiện trong việc chờ đợi sự tiến triển không thuận lợi của sự kiện”

Theo Nguyễn Sinh Phúc: “Rối loạn lo âu là sự sợ hãi quá mức, không có nguyên nhân, do chủ quan của thân chủ và không thể giải thích được do một rối loạn tâm thần khác hoặc do một bệnh cơ thể”

Như vậy, tôi rút ra được kết luận là :

“Lo âu trải nghiệm cảm xúc tiêu cực được quy định bởi sự chờ đợi điều gì đó nguy hiểm, có tính chất khuếch tán, không liên quan đến các sự kiện cụ thể Trạng thái cảm xúc xuất hiện trong các tình huống nguy hiểm không xác định và được thể hiện trong việc chờ đợi sự tiến triển không thuận lợi của sự kiện”

3.2 Biểu hiện, triệu chứng của sự lo âu

Triệu chứng cơ bản của lo âu là hoảng sợ, thường phát sinh cấp, thời gian diễn biến bệnh kéo dài nhiều ngày, đôi lúc xuất hiện những cơn hoảng sợ lặp đi lặp lại

- Phân biệt lo âu bệnh lý với lo âu bình thường

 Lo âu bệnh lý

 Chủ đề: Không có chủ đề rõ ràng, tính chất mơ hồ, vô lý

 Thời gian: Kéo dài

 Triệu chứng: Rối loạn thần kinh thực vật ( mạch nhanh, thở gấp, chóng mặt, khô miệng, vã mồ hôi, run rẩy,…)

 Lo âu bình thường

 Chủ đề: Rõ ràng, có chủ đề nhất định như ốm đau, nợ nần,…

 Thời gian: Lo âu xuất hiện nhất thời khi có các sự kiện trong đời sống tác động đến tâm lý của chủ thể Sự lo âu sẽ biến mất khi sự tác động dừng lại

 Triệu chứng: Không có hoặc có rất ít rối loạn thần kinh thực vật

- Các triệu chứng, biểu hiện của sự lo âu

Trang 20

 Tiêu hóa: Co thắt thanh quản, thực quản, co thắt dạ dày và ruột, hoặc nôn, buồn nôn, tiêu chảy, khô miệng

 Tiết niệu: Đái dắt, đái nhiều

 Thần kinh: Run, rung mí mắt và cơn đau giả thấp khớp

 Các giác quan: Ngứa, sởn da gà, tiết nhiều mồ hôi, giảm khả năng nhìn và nghe

3.3 Phân loại Lo âu

- Lo âu tính cách ( Trait anxiety)

Đây là kiểu lo âu kéo dài suốt đời như một đặc điểm về nhân cách Những người có lo

âu tính cách thường sôi nổi, tăng nhạy cảm với các kích thích, dễ phản ứng về tâm sinh lý hơn những người khác

- Lo âu trạng thái ( State Anxiety)

Là các giai đoạn lo âu gắn liền với các tình thế chuyên biệt và không còn tồn tại khi tình thế thúc đẩy giảm đi

- Lo âu vô cớ ( Free-floating anxiety)

Là lo âu dai dẳng không rõ nguyên nhân, rất nhiều ý nghĩ và sự kiện khác nhau dường như cùng thúc đẩy và góp phần gây ra lo âu

- Lo âu tình thế (Situational anxiety)

Là lo âu xảy ra khi có các lý do chuyên biệt hoặc các kích thích bên ngoài

3.4 Một số đặc điểm về Lo âu của bệnh nhân Người cao tuổi

Có nhiều rối loạn tâm lý thường gặp ở NCT Những biểu hiện nhẹ là khó chịu, lo lắng Nặng hơn là các biểu hiện rối loạn thần kinh chức năng đi kèm với các biểu hiện suy nhược cơ thể, lo âu, ám ảnh vè bệnh tật Nặng nhất thì NCT sẽ rơi vào trạng thái rối loạn tâm thần, biểu hiện qua chứng hoang tưởng và rối loạn ý thức

Rối loạn tâm lý thường gặp nhất ở NCT là lo âu Lo âu có thể là biến chứng của điều trị hoặc xuất phát từ nhận định tiêu cực về bệnh tình của họ Những biểu hiện của lo âu

Trang 21

như sợ hãi, bồn chồn, khô miệng, hoảng loạn, tuyệt vọng về bệnh tật, sợ chết, sẽ khiến cho bệnh nhân NCT bị ảnh hưởng đến quá trình điều trị bệnh Nghiêm trọng hơn, nếu lo

âu kéo dài thì sẽ dẫn đến bệnh trầm cảm Ở NCT, trầm cảm được thể hiện bằng sự lo lắng thái quá về sức khỏe, cảm giác chán nản buồn phiền chán nản kéo dài Người bệnh

thường trải qua cảm xúc ủ rũ, nhìn sự vật xung quanh một cách bi quan ảm đạm Bệnh nhân có tư duy chậm chạp, liên tưởng không nhanh chóng và có ỹ nghĩ, hành vi tự sát

Ở NCT, lo âu rất khó phát hiện vì những biểu hiện tâm lý của lo âu như căng thẳng, buồn bực, giảm sút trí nhớ, cáu gắt,… được cho là những đặc điểm tâm lý chung của người già Ngoài ra, những biểu hiện bệnh lý của lo âu như đau đầu, đau dạ dày, rối loạn nhịp tim,… cũng thường được xem là biểu hiện lão hóa của cơ thể Thêm một lý do khiến cho việc phát hiện lo âu ở NCT gặp khó khăn là vì môi trường giao tiếp của NCT thường hẹp, chủ yếu chỉ giao tiếp trong gia đình, thời gian giao tiếp ngắn Việc này cũng làm giảm những tình huống dễ phát hiện ra sự lo âu

Về chủ quan, chính NCT cũng khó nhận ra các biểu hiện về sự lo âu của mình, bởi vì sức khỏe và sự nhạy bén trong các giác quan đã bị giảm sút Vì vậy sẽ làm giảm đi khả năng cảm nhận cơ thể

Ở NCT, sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần có liên quan mật thiết với nhau Mọi dấu hiệu của bệnh tật đều làm gia tăng sự lo lắng dẫn đến căng thẳng, lo âu Ngược lại nếu tinh thần buồn bã, ức chế, bất an thì sẽ làm cho các triệu chứng bệnh lý về thể chất trở nên nặng và khó điều trị

3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự lo âu của bệnh nhân NCT

Đối với NCT, nhiều tác giả cho rằng nguyên nhân quan trọng dẫn đến lo âu, trầm cảm là do các sang chấn tâm lý, nhất là các sự kiện bất thường trầm trọng trong cuộc sống cá nhân, mà đặc biệt đối với bệnh nhân NCT chính là vấn đề bệnh tật mà họ đang gặp phải Ngoài ra, còn có một số yếu tố ảnh hưởng đến sự lo âu của bệnh nhân NCT, bao gồm:

- Tuổi và giới

Lo âu, trầm cảm ở NCT thay đổi theo độ tuổi Theo Newman S.C,2005 thì NCT từ

độ tuổi 60 – 69 có tỷ lệ lo âu , trầm cảm cao hơn so với người trên 70 tuổi Các nghiên cứu ở NCT cho thấy tỷ lệ lo âu ở phụ nữ cao gấp 2 – 3 lần so với nam giới

- Yếu tố gia đình

Trang 22

Vai trò của gia đình rất quan trọng đối với sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần của NCT Gia đình hạnh phúc sẽ phát huy được tiềm năng về cơ thể, tâm lý Ngược lại nếu gia đình thường xảy ra xung đột, thiếu tình thương thì NCT sẽ bị ảnh hưởng nhiều đến tâm lý và sức khỏe

- Kinh tế và nghề nghiệp

Như tôi đã nêu ở phần trên, người già thường hay có cảm giác mình không còn giá trị, bị lãng quên, không được người khác tôn trọng Họ cảm giác mình bị mất đi tất cả: công việc, quyền lực, hoài bão, những mối quan hệ,… NCT ít có cơ hội hòa nhập với đời sống kinh tế - xã hội nên cảm thấy gặp khó khăn về vật chất và nó không đủ để đáp ứng nhu cầu hàng ngày của họ Từ đó họ trở nên buồn chán và dễ dẫn tới lo âu

- Vấn đề về hưu

Đây là giai đoạn khó khăn đối với NCT và là giai đoạn có nhiều sự biến đổi về tâm

lý Những thay đổi về nếp sống sinh hoạt, các mối quan hệ,… có thể trở thành một cú sốc lớn cho những người kém thích nghi Đặc biệt là những người về hưu ngoài ý muốn, sự thay đổi này có thể dẫn đến lo âu, trầm cảm

- Bệnh lý về thể chất của NCT

Đây là yếu tố chủ đạo trong đề tài báo cáo Các bệnh lý về thể chất là nguyên nhân dẫn đến các rối loạn cảm xúc, trong đó có rối loạn lo âu, trầm cảm chiếm tỉ lệ khá cao Đặc biệt là đối với những bệnh nhân NCT mắc phải những căn bệnh nặng, mãn tính như ung thư, tim mạch, đái đường, HIV/AIDS,…Lo âu, trầm cảm là do tình trạng căng thẳng

vì có một bệnh mãn tính hơn là một bệnh thông thường5 Như em đã nêu ở phần trên, những dấu hiệu bệnh lý về thể chất có thể làm tăng các biểu hiện về sức khỏe tâm thần Ngược lại, nếu NCT gặp vấn đề về sức khỏe tâm thần thì cũng sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình điều trị bệnh lý về sức khỏe thể chất

Tóm lại, tất cả các yếu tố không thuận lợi trên tác động vào NCT, và khi họ điều

chỉnh không phù hợp có thể gây ra các triệu chứng lo âu, trầm cảm ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần của NCT Đặc biệt, cùng với sự gia tăng các bệnh lý về thể chất, NCT sẽ rất dễ bị rối loạn tâm lý và rối loạn thường gặp nhất là lo âu, trầm cảm NCT thường mắc nhiều bệnh cùng một lúc như ung thư, đái tháo đường, suy tim, cao huyết áp,… Những căn bệnh này sẽ làm thay đổi mạnh mẽ về tâm lý và tính cách của người bệnh Bệnh càng

5 Jacobson A.M

Trang 23

nặng, càng kéo dài thì lo âu ở NCT càng trầm trọng Không chỉ cơ thể bị lão hóa, tinh thần của họ cũng bị suy giảm

4 Khái niệm Công tác xã hội với cá nhân

Có rất nhiều khái niệm liên quan đến Công tác xã hội với cá nhân, sau đây là một số khái niệm của các tác giả, tổ chức tiêu biểu:

Theo bà Helene Mathew: “CTXH với cá nhân là phương pháp giúp đỡ cá nhân con người thông qua mối quan hệ 1 – 1 Phương pháp này được các NVXH ở các cơ sở sử dụng để giúp con người có vấn đề về chức năng xã hội và việc thực hiện các chức năng của họ”

Bà Nguyễn Thị Oanh: “CTXH với cá nhân là một phương pháp can thiệp ( của CTXH) quan tâm đến những vấn đề về nhân cách mà một thân chủ cảm nghiệm Mục đích của CTXH là phục hồi, củng cố và phát triển sự thực hành bình thường từ các chức năng xã hội của cá nhân và gia đình”

Từ tất cả những khái niệm trên, có thể rút ra một khái niệm như sau: “CTXH với cá

nhân là một tiến trình giúp đỡ cá nhân thông qua mối quan hệ 1 – 1, nhằm trợ giúp con người vượt qua khó khăn về mặt xã hội và tăng năng lực tự giải quyết vấn đề của cá nhân đó”

5 Công tác xã hội với cá nhân trong việc giảm thiểu lo âu cho bệnh nhân NCT

Từ tất cả những lý luận trên, tôi rút ra kết luận:

“ Công tác xã hội với cá nhân trong việc giảm thiểu lo âu cho bệnh nhân NCT là tiến trình giúp đỡ bệnh nhân NCT thông qua mối quan hệ 1 – 1, nhằm trợ giúp bệnh nhân NCT vượt qua khó khăn về mặt tâm lý, giúp đỡ NCT giảm thiểu được sự lo âu về bệnh tật

và tăng năng lực tự giải quyết vấn đề của chính cá nhân đó”

III Tiến trình thực hiện

“ Công tác xã hội nhóm trong việc ngăn ngừa khủng hoảng và áp lực tâm lý cho bệnh

Trang 24

nhân ung thư tại Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng” Sau 1 tuần thực tập tại đây, với sự thiếu

sót về kiến thức và kỹ năng, tôi xác định được mình không thể làm đề tài này với môi

trường tại khoa Nội 2 Vì vậy, tôi đã xin được đổi đề tài thành “Công tác xã hội với cá

nhân trong việc giảm thiểu lo âu cho bệnh nhân người cao tuổi tại Bệnh viện Ung bướu

Đà Nẵng”

Đến khi tôi gặp TC, bà là người cởi mở, thân thiện và rất quý NVXH Vào khoảng thời gian đó, TC đang được theo dõi nội trú tại bệnh viện vì vẫn chưa có kết quả chính thức về căn bệnh mà TC mắc phải Theo như TC chia sẻ, trong 1 lần bất cẩn bà đã bị ngã

và đập phần mông vào sàn nhà Sau đó, bà đã bị 1 vết bầm lớn ngay tại chỗ va chạm, nhưng vì chủ quan nên bà đã không điều trị tại bệnh viện mà thay vào đó là uống thuốc Nam Một thời gian sau, bà bị đau phần mông và gặp khó khăn trong việc đi lại Gia đình

đã đưa bà đi khám và nhập viện tại Bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng Tại đây, bác sĩ chẩn đoán bà bị tụ máu đông tại vùng mông do sự va chạm từ vụ tai nạn TC điều trị tại Bệnh viện Đa Khoa gần 1 tháng thì được chuyển tuyến lên BVUBĐN Các bác sĩ đã cho bà làm các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh TC cho rằng bệnh này không có vấn đề gì, chỉ cần mổ để nạo hết máu đông là sẽ hồi phục Sau đó, bà được điều trị nội trú và uống thuốc thường xuyên và chờ kết quả trong khoảng thời gian hơn 1 tháng Đến lúc sức khỏe của TC càng lúc càng yếu, đi lại ngày một khó khăn, thường xuyên mệt mỏi, chán ăn cũng là lúc bà nhận được kết quả Bác sĩ kết luận bà mắc bệnh Ung thư di căn xương giai đoạn 2 TC rơi vào trạng thái lo lắng, chán nản, tuyệt vọng TC thường xuyên nói về cái chết, kể về những câu chuyện liên quan đến sự chết chóc, kèm theo đó là tâm trạng ủ dột, buồn bã, không chịu ăn uống Tôi đã gặp và quen thân với TC vào những thời gian đầu nhưng đến tuần thứ 4, là khoảng thời gian TC biết kết quả, tôi mới xác định bà B làm TC

của mình vì bà B cần được giúp đỡ và bà B phù hợp với đề tài mà tôi đã chọn là “Công

tác xã hội với cá nhân trong việc giảm thiểu lo âu cho bệnh nhân người cao tuổi tại Bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng”

2 Hồ sơ xã hội của thân chủ

- Thông tin cá nhân :

 Họ và tên : Lê Thị B

 Giới tính: Nữ

 Ngày tháng năm sinh: 01/01/1952

 Nơi sinh: Bình Sơn, Quảng Ngãi

Trang 25

 Hiện cư ngụ tại: xã Bình Tân, huyện Bình Sơn, thành phố Quảng Ngãi

TC sinh ra và lớn lên ở thành phố Quảng Ngãi Năm 1973, bà gặp và kết hôn cùng ông Trần Đình L, là chồng của TC hiện tại Năm 1974, TC sinh người con đầu tiên và sau

đó lần lượt sinh thêm 5 người con tiếp theo Lúc còn trẻ, TC và chồng làm nông Khi các con đều đã lớn và lập gia đình, TC chỉ ở nhà gặp gỡ bạn bè, đi chùa và an hưởng tuổi già bằng số tiền tiết kiệm, thỉnh thoảng sẽ được các con chu cấp TC nói rằng không muốn dựa dẫm nhiều vào các con, chồng bà vẫn còn sức khỏe để đi làm thuê làm mướn Vì vậy, chỉ khi nào thật sự cần thiết thì vợ chồng TC mới nhận tiền của các con Trong suốt cuộc đời, hầu như TC không gặp biến cố lớn cho đến khi TC bị ngã và phải nhập viện như hiện tại

Như tôi đã nêu trên, TC là một phật tử và bà thường xuyên đi chùa Bà có niềm tin tuyệt đối với Phật giáo Thường ngày, bà thích gặp những người cùng đi chùa với mình, chia sẻ, nói chuyện về Phật giáo và nghe kinh phật Bà cũng hay đến thăm và chơi đùa cùng các cháu, gọi điện thoại nói chuyện với con cháu ở xa

Vào khoảng 4 tháng trước, TC không may bị ngã tại nhà và bị va đập mạnh phần mông xuống sàn Lần ngã đó, bà không bị trầy xước hay bị chấn thương quá nặng nên đã không đi khám Một thời gian sau, TC có cảm giác đau ở vùng bị va đập nên đã đi mua thuốc Nam về uống nhưng tình hình không mấy khả quan Vì lo lắng nên TC đến Bệnh viện địa phương khám và được chuyển tuyến lên Bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng Tại đây,

bà được chẩn đoán là bị tụ máu đông Điều trị tại Bệnh viện được một thời gian thì TC được chuyển lên Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng Bệnh viện cũng cho bà làm các xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh lại Sau đó, bà nhập viện để điều trị nội trú và chờ kết quả Khoảng thời gian đó, sức khỏe TC khá tốt, chỉ thỉnh thoảng nhức ở phần mông Nhưng chỉ khoảng 3 tuần sau, sức khỏe TC biến chứng nặng với các triệu chứng như : đau

xương, nhức mỏi, không thể ngồi, không thể đi lại, thậm chí trở người cũng không được, kèm theo đó là đau đầu, buồn nôn, chán ăn,… Cùng lúc đó, bà nhận được kết quả là bị Ung thư di căn xương giai đoạn 2

Khoảng thời gian trước đó, hầu như TC không bị những vấn đề về sức khỏe tâm thần, thỉnh thoảng chỉ hay lo lắng thái quá nhưng sẽ hết trong thời gian ngắn, Từ ngày bị bệnh nặng và biết được kết quả chẩn đoán, TC trở nên ít nói, ủ rũ, hay nhìn xa xăm, cơ thể và

tư duy trở nên chậm chạp, kèm theo đó là triệu chứng buồn nôn, ngủ nhiều ban ngày, mất ngủ vào ban đêm, chán ăn và liên tục uống nước

Trang 26

- Thông tin môi trường:

Bà B quê ở Bình Sơn, Quảng Ngãi Hiện có chồng là ông L đang chăm sóc, ngoài ra còn có em gái là bác Lê Thị M, cũng là bệnh nhân của khoa Nội 2 TC có tất cả 6 người con gồm 3 con trai và 3 con gái Con của TC hiện nay đều đã lập gia đình, 5 người con

sống tại Bình Sơn, Quảng Ngãi và sinh sống rất gần với nhà của TC, vì vậy mối quan hệ của TC với con cháu rất thân thiết, không xảy ra mâu thuẫn Còn 1 người con trai đầu thì

ở Phú Quốc, vào các ngày lễ Tết cũng thường xuyên về thăm bố mẹ và các em Mối quan

hệ trong gia đình TC rất thân thiết và êm ấm

TC là 1 phật tử, bà thường xuyên đi chùa, ăn chay, nghe kinh phật và có 1 lòng tin

tuyệt đối với Phật giáo TC có rất nhiều bạn bè cùng đi chùa tại quê nhà, họ cũng thỉnh

thoảng gọi điện thoại hỏi thăm sức khỏe của TC Vì tính cách hòa nhã, cởi mở và hiền

hậu, TC được nhiều bạn bè, mọi người trong Khoa quý mến và giúp đỡ

67T )

CON GÁI

CON GÁI

CON GÁI

CHỒNG (ÔNG L)

CON TRAI

CON TRAI CON

TRAI

Ngày đăng: 03/08/2019, 11:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w