1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Áp dụng phương pháp CTXH nhóm với bệnh nhân ung thư tại Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng”

135 209 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 2,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cứ 5 bệnh nhân ung thư có 1 người không bao giờ được hỏi về cảm xúc, tinh thần hiện tại của họ thế nào mỗi khi đến tái khám mà đa số chỉ được trợ giúp để làm giảm các triệu chứng đau đớn

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu 2

3 Đối tượng và khách thể 2

3.1 Đối tượng nghiên cứu 2

3.2 Khách thể nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Lý thuyết áp dụng 3

5.1 Thuyết hệ thống 3

5.2 Thuyết Tâm lý năng động 3

5.3 Thuyết học hỏi (Bandura, 1997) 3

5.4 Thuyết hiện trường (field): Kurt Lewin (1947) 3

5.5 Thuyết trao đổi xã hội 3

6 Một số yếu tố, kỹ năng và kỹ thuật tác nghiệp được áp dụng 3

6.1 Một số yếu tố can thiệp 4

6.2 Một số kỹ năng 4

7 Các khái niệm công cụ 4

7.1 Áp dụng 4

7.2 Phương pháp 4

7.3 Công tác xã hội nhóm 5

7.3.1 Khái niệm: 5

7.3.2 Phân loại nhóm 5

7.3.3 Phương pháp áp dụng: Công tác xã hội với nhóm 5

7.3.4 Tiến trình công tác xã hội với nhóm 6

7.3.5 Giai đoạn chuẩn bị thành lập nhóm 6

7.3.6 Giai đoạn nhóm bắt đầu hoạt động 6

7.3.7 Giai đoạn can thiệp – thực hiện nhiệm vụ 6

Trang 2

7.3.8 Giai đoạn kết thúc 6

8 Bệnh nhân 6

9 Ung thư 6

9.1 Khái niệm 6

9.2 Phân loại 6

10 Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng 7

11 Khái niệm về “ Áp dụng phương pháp CTXH nhóm với bệnh nhân ung thư tại Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng” 7

PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ THỰC TẬP 8

1 Giới thiệu: 8

2 Đối tượng 11

3 Mục tiêu cơ sở 11

4 Sơ đồ tổ chức 11

4.1 Tổ chức cơ sở 11

4.2 Sơ đồ cơ sở 12

4.3 Nhân sự chuyên môn 13

4.4 Lãnh đạo bệnh viện 13

5 Chức năng, nhiệm vụ, các dịch vụ được cung cấp và kết quả của các dịch vụ 13

5.1 Chức năng: 13

5.2 Nhiệm vụ, các dịch vụ được cung cấp 13

5.3 Kết quả cung cấp dịch vụ 14

6 Cảm nhận chung về cơ sở 15

PHẦN 2: TIẾN TRÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NHÓM 16

2.1 Cơ sở lý luận về vấn đề của nhóm 16

2.1.1 Thực trạng của vấn đề ung thư trên thế giới và Việt Nam 16

2.1.1.1 Thực trạng vấn đề ung thư trên thế giới 16

2.2.1.2 Thực trạng vấn đề ung thư ở Việt Nam 17

2.2.2 Biểu hiện của ung thư 19

2.2.3 Nguyên nhân của vấn đề 20

2.2.3.1 Các yếu tố có thể thay đổi được 20

2.2.3.2 Các yếu tố không thể thay đổi được 22

2.2.4 Ảnh hưởng của vấn đề 23

Trang 3

2.2.4.1 Đối với người bệnh ung thư 23

2.2.4.2 Đối với gia đình người bệnh ung thư 25

2.2.4.3 Đối với xã hội 27

2.2.5 Các hướng hỗ trợ giải quyết vấn đề 27

2.2.5.1 Điều trị ung thư 27

2.2.5.2 Phòng ngừa ung thư 30

2.2.5.3 9 mô hình công tác xã hội 31

2.2.5.4 Chính sách cho người bệnh ung thư 32

2.2 Tiến trình hỗ trợ nhóm 37

I Giai đoạn chuẩn bị thành lập nhóm 37

1 Xác định mục tiêu chung của nhóm 37

2 Đánh giá khả năng tham gia của các nhóm viên 37

3 Đánh giá khả năng các nguồn lực hỗ trợ nhóm 40

4 Bối cảnh chọn nhóm thân chủ 40

5 Hồ sơ các nhóm viên 41

II Giai đoạn nhóm bắt đầu hoạt động 43

1 Mục tiêu cụ thể của nhóm 43

2 Bảng kế hoạch hoạt động của nhóm 43

III GIAI ĐOẠN CAN THIỆP – THỰC HIỆN NHIỆM VỤ 49

PHẦN 3: NHỮNG THAY ĐỔI CỦA SINH VIÊN 125

1 Những thay đổi của sinh viên 125

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 127

1 Kết luận 127

2 Kiến nghị 127

2.1 Đối với bệnh viện: 127

2.2 Đối với kiểm huấn viên: 127

PHỤ LỤC 128

TÀI LIỆU THAM KHẢO 129

Trang 4

Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn đến Ts Nguyễn Thị Hằng Phương, cô vừa là giáo viên chủ nhiệm vừa là kiểm huấn viên theo sát quá trình em thực tập, những lời hướng dẫn nhiệt tình, tỉ mỉ của cô đã giúp em có cách tiếp cận vấn đề thực tập được rõ ràng, cụ thể Cô cũng đóng vai trò là người bạn đồng hàng, luôn động viên, khích lệ tinh thần mỗi khi em gặp khó khăn

Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban lãnh đạo Bệnh viên Ung bướu Đà Nẵng đã tạo điều kiện cho em được thực tập ở đây Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến các chị ở Tổ Công tác xã hội, nhờ có sự giúp đỡ, hướng dẫn nhiệt tình của các chị mà em có nhiều kinh nghiệm trong thời gian thực tập

Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn đến các anh chị tại Khoa Ngoại 2 và các cô chú bệnh nhân tại đây đã hỗ trợ em thực hiện đề tài thực tập

Với điều kiện thời gian cũng như sự hạn chế về kiến thức, kỹ năng, bài báo cáo này không thể tránh được những thiếu sót Em rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của Qúy thầy cô để em có thêm nhiều kinh nghiệm làm việc sau này

Em xin trân trọng cảm ơn Quý thầy cô!

Đà Nẵng, tháng 03 năm 2019 Sinh viên H’ Búp Êban

Lớp 15CTXH, khoa Tâm lý – Giáo dục

Trang 5

Hình 1: Cố Chủ tịch Hội Bảo trợ Phụ nữ và Trẻ em nghèo Bất hạnh thành phố Đà Nẵng -

Người sáng lập Bệnh viện Ung thư Đà Nẵng

Hình 2: Đồng chí Đặng Việt Dũng - PCT Thường trực UBND Tp Đà Nẵng trao quyết định

thành lập Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng

Hình 3: Tổ chức hát karaoke bằng máy tính có kết nối mạng cho cô chú bệnh nhân và người nhà

Hình 4: Trò chuyện, thăm hỏi, động viên tinh thần người bệnh

Hình 5: Hỗ trợ nhân viên y tế tổ chức buổi sinh hoạt tháng cho người bệnh và người nhà Hình 6: Hỗ trợ nhân viên y tế làm thuốc

Hình 7: Hỗ trợ nhân viên y tế phát phiếu nhận chào hằng ngày

Hình 8: Tổ chức xem phim cho cô chú bệnh nhân

Hình 9: Hỗ trợ Tổ công tác xã hội phát quà cho người bệnh

Hình 10: Tổ chức phát sách báo và đọc sách cho bệnh nhân nghe

Hình 11: Tặng hoa cho bà P và nhóm viên nhân dịp 8/3

Hình 12: Tổ chức xem hài, hát karaoke cho nhóm viên

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ông cha ta ngày xưa có rất nhiều câu ca dao, tục ngữ nói về tầm quan trọng của sức khỏe, như “ Bàn tay ta làm nên tất cả, có sức người sỏi đá cũng thành cơm”, ý muốn nói chỉ cần có sức khỏe đủ đầy, con người có thể thực hiện được những công việc mà mình muốn làm Hay câu tục ngữ : “ Ăn được ngủ được là tiên, không ăn không ngủ mất tiền đâm lo”, ý nói muốn trở thành tiên trong cuộc sống trần gian chỉ đơn giản là ăn và ngủ được chứ không phải tu hành khổ luyện gì xa xôi

Còn rất nhiều câu ca dao tục ngữ nói về tầm quan trọng của sức khỏe, nhưng cuộc sống không chỉ có những người khỏe mạnh mà còn có những người ốm đau vì nguyên nhân khách quan và chủ quan, một trong số đó là bệnh hiểm nghèo hay còn gọi là bệnh ung thư Ung thư là một nhóm các bệnh liên quan đến việc phân chia tế bào một cách vô

tổ chức và những tế bào đó có khả năng xâm lấn những mô khác bằng cách phát triển trực

tiếp vào mô lân cận hoặc di chuyển đến nơi xa (di căn) Người mắc bệnh ung thư ban đầu

không có triệu chứng lâm sàng rõ ràng, khi xuất hiện triệu chứng rõ rệt thì căn bệnh thường

đã tiến triển đến mức trầm trọng Ung thư khiến người đầu bạc tiễn kẻ đầu xanh, khiến người mẹ trẻ đau đớn chia xa đứa con chưa đầy tháng tuổi, khiến niềm tin kiệt quệ, hy vọng lụi tàn Nỗi đau thể chất và tinh thần của bệnh nhân ung thư không thể diễn tả bằng lời Trong hành trình chống ung thư, người bệnh ung thư và những người gần gũi với họ

có thể trải qua các cảm xúc như tức giận, buồn bã, lo sợ, cảm thấy mất kiểm soát, cảm thấy bất lực khi không thể làm gì để giúp bản thân hoặc tình trạng bệnh của mình Cứ 5 bệnh nhân ung thư có 1 người không bao giờ được hỏi về cảm xúc, tinh thần hiện tại của họ thế nào mỗi khi đến tái khám mà đa số chỉ được trợ giúp để làm giảm các triệu chứng đau đớn Bên cạnh đó, nửa số người bệnh ung thư lại không được quan tâm đến việc giải tỏa những

áp lực bệnh tật

Vậy nên, người bệnh cần được quan tâm chăm sóc đặc biệt về sức khỏe thể chất cũng như tinh thần Trong các liệu pháp chữa bệnh ung thư, chăm sóc sức khỏe tinh thần, đi sâu vào việc tìm hiểu cảm xúc của người bệnh cũng như thấu hiểu những cảm xúc tiêu cực và tích cực, từ đó hỗ trợ người bệnh biết cách chấp nhận, thấu hiểu cảm xúc bản thân và tự tạo ra sự thay đổi là một trong những cách thức hỗ trợ người bệnh chữa trị tốt nhất Nhằm tạo một không gian sống luôn vui vẻ, đầy ắp tiếng cười, khiến người bệnh cảm thấy yêu

Trang 7

đời, sống có ích là một liệu pháp không thể thiếu để hỗ trợ người bệnh thích ứng tốt hơn với các liệu pháp chữa ung thư như hóa trị, xạ trị,…

CTXH trong bệnh viện nói chung và nhân viên CTXH nói riêng đóng một vai trò rất quan trọng trong việc thiết kế các hoạt động bổ ích cho người bệnh Công tác xã hội trong Bệnh viện là các hoạt động hỗ trợ người bệnh, người nhà người bệnh và các nhân viên y tế trong bệnh viện nhằm giải quyết các vấn đề xã hội và tâm lý liên quan đến bệnh tật và quá trình khám chữa bệnh Mục đích là hỗ trợ các nhóm đối tượng khắc phục những khó khăn

về xã hội để đạt được hiệu quả chăm sóc sức khỏe tốt nhất

Năm 2015, Bộ Y tế vừa ban hành Thông tư số 43/2015/TT-BYT quy định về nhiệm

vụ công tác xã hội của bệnh viện và hình thức tổ chức thực hiện nhiệm vụ công tác xã hội của bệnh viện Theo đó, nhiệm vụ công tác xã hội trong bệnh viện được quy định trong ba nội dung chính sau: Hỗ trợ, tư vấn các vấn đề về công tác xã hội cho người bệnh; Thông tin, truyền thông và phổ biến giáo dục pháp luật; Vận động tài trợ, hỗ trợ nhân viên y tế và đào tạo, bồi dưỡng

Xuất phát từ những lý do trên, em chọn đề tài “ Áp dụng phương pháp CTXH nhóm với bệnh nhân ung thư tại Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng” nhằm chăm sóc sức khỏe tinh thần cho người bệnh theo hướng hiệu quả, bền vững hơn

- 100% người bệnh ung thư tại phòng 808B, Khoa Ngoại 2 được truyền thông, cung cấp thông tin về các chính sách, chương trình hỗ trợ, pháp luật về bệnh ung thư Cũng như cung cấp thông tin thời sự về cuộc sống hằng ngày

3 Đối tượng và khách thể

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Áp dụng phương pháp công tác xã hội với người bệnh ung thư tại Bệnh viện Ung bướu

Đà Nẵng

3.2 Khách thể nghiên cứu

- Người bệnh ung thư tại Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng

Trang 8

4 Phương pháp nghiên cứu

- Đề tài được triển khai nghiên cứu và trình bày dựa trên một số môn học như: CTXH với nhóm, tâm lý học phát triển, tham vấn,…

- Khi tiến hành nghiên cứu đề tài, bản thân em sử dụng một số phương pháp là:

 Thu thập thông tin bằng cách sưu tầm tài liệu

 Phương pháp quan sát

 Phương pháp vấn đàm

 Phương pháp phỏng vấn sâu

 Phương pháp phân tích số liệu đã thu thập được

 Phương pháp nghiên cứu tài liệu, gắn lý luận với thực tiễn

5 Lý thuyết áp dụng

5.1 Thuyết hệ thống

Nhóm là một hệ thống các yếu tố tương tác lẫn nhau Theo Parsons (1951), nhóm là

hệ thống xã hội với những thành viên tùy thuộc lẫn nhau để duy trì trật tự và sự cân bằng như một thể thống nhất, huy động tài nguyên và hành động để đáp ứng các nhu cầu thay đổi để được tồn tại

5.2 Thuyết Tâm lý năng động

Nhóm ảnh hưởng lên hành vi con người: Freud (1922) và Frank Moreno ( psychodrama – Tâm kịch) Qua nhóm, cá nhân nhìn lại kinh nghiệm sống của mình, xem xét lại những mâu thuẫn chưa được giải quyết

5.3 Thuyết học hỏi (Bandura, 1997)

Hành vi của thành viên nhóm đóng vai trò tác động, kích thích thành viên khác Nếu

A ứng xử như thế nào đó và B đồng tình thì A sẽ tiếp tục ứng xử như thế, còn ngược lại thì

A sẽ không ứng xử như thế trong tương lai

5.4 Thuyết hiện trường (field): Kurt Lewin (1947)

Nhóm có khoảng không gian sống có vị trí so với vật thể khác trong không gian đó,

nó di chuyển theo đuổi mục tiêu của nó và vượt qua các trở ngại Có 6 khái niệm để hiểu nguồn lực trong nhóm: Vai trò, quy tắc, quyền lục, sự gắn kết, sự đồng thuận và phối hợp

5.5 Thuyết trao đổi xã hội

Chú trọng đến hành vi cá nhân của thành viên nhóm Đối với cá nhân, quyết định thể hiện hành vi dựa trên sự so sánh giữa thưởng và phạt xuất phát từ các hành vi

6 Một số yếu tố, kỹ năng và kỹ thuật tác nghiệp được áp dụng

Trang 9

6.1 Một số yếu tố can thiệp

- Tạo niềm hy vọng: Nhấn mạnh đến việc hình thành và duy trì cảm xúc lạc quan của các thành viên nhóm trong quá trình tham gia

- Tự nhận thức: Mỗi cá nhân trong nhóm biết được điểm mạnh, điểm hạn chế, những gì mình có và chưa có

- Tìm kiếm sự tương đồng trong trải nghiệm: Giúp các nhóm viên không cảm thấy mình duy nhất “khổ”

- Bộc lộ bản thân: Chia sẻ cảm xúc, suy nghĩ, kinh nghiệm hay những trải nghiệm của bản thân với các thành viên

- Tạo cơ hội trải nghiệm thực tế

- Chấp nhận: Đây là yếu tố rất quan trọng, các thành viên thể hiện sự tôn trọng với nhau

- Kỹ thuật tổ chức các hoạt động trò chơi

- Kỹ thuật giúp các thành viên nhận biết, thể hiện suy nghĩ, tình cảm, sự sán tạo của mình như: Vẽ tranh, cắt dán giấy, đất nặn; sử dụng ngôn ngữ viết; sử dụng tranh ảnh; kể chuyện hoặc viết tiếp truyện

- Kỹ thuật vẽ và sử dụng sơ đồ tương tác nhóm

7 Các khái niệm công cụ

Tên đề tài: Áp dụng công tác xã hội nhóm với bệnh nhân ung thư tại Bệnh viện Ung bướu

Đà Nẵng

7.1 Áp dụng

- Là động từ, có nghĩa dùng trong thực tế điều đã nhân thức, lĩnh hội được

- Ví dụ: Áp dụng khoa học kĩ thuật vào tăng gia sản xuất

- Đồng nghĩa với vận dụng, ứng dụng

7.2 Phương pháp

- Lề lối và cách thức phải theo để tiến hành công tác với kết quả tốt nhất

Trang 10

- Ví dụ: Học không có phương pháp thì dầu giùi mài hết năm, hết đời cũng chỉ mất

công không (Bùi Kỷ)

7.3 Công tác xã hội nhóm

7.3.1 Khái niệm:

CTXH với nhóm (làm việc với nhóm) là phương pháp trong CTXH nhằm giúp tăng cường, củng cố chức năng xã hội của cá nhân thông qua các hoạt động nhóm

và khả năng ứng phó với các vấn đề của cá nhân Có nghĩa là:

- Ứng dụng những kiến thức, kỹ năng liên quan đến tâm lý nhóm (hoặc năng

động nhóm)

- Nhóm nhỏ thân chủ có cùng vấn đề giống nhau hoặc có liên quan đến vấn đề

- Các mục tiêu xã hội được thiết lập bởi nhân viên xã hội trong kế hoạch hỗ

- trợ thân chủ (cá nhân, nhóm, cộng đồng) thay đổi hành vi, thái độ, niềm tin nhằm

- giúp thân chủ tăng cường năng lực đối phó, chức năng xã hội thông qua các kinh nghiệm của nhóm có mục đích nhằm để giải quyết vấn đề của mình và thỏa mãn nhu cầu

Trong phương pháp CTXH nhóm, đối tượng tác động là toàn nhóm, là mối

tương tác giữa các nhóm viên, là mục đích, bầu không khí sinh hoạt nhóm CTXH

là sử dụng cơ cấu nhóm và năng động nhóm trong nội bộ nhóm để đem đến những thay đổi về nhận thức, niềm tin và hành vi Các thành viên nhóm chia sẻ kinh

nghiệm và sử dụng nguồn lực của cá nhân và của nhóm để giải quyết vấn đề của họ

7.3.2 Phân loại nhóm

- Nhóm giải trí: Rèn luyện và phát triển nhân cách

- Nhóm giáo dục: Kiến thức và kỹ năng ( nhóm các bà mẹ, nhóm chăn nuôi,…)

- Nhóm tự giúp: Nhóm tình nguyện hỗ trợ nhau để vượt khó ( nhóm các phụ huynh trẻ khuyết tật

- Nhóm với mục đích xã hội hóa: Nhóm chia sẻ cảm xúc về vấn đề mắc phải

- Nhóm trị liệu: Nhóm chia sẻ cảm xúc về vấn đề mắc phải

- Nhóm trợ giúp: Giúp tăng cường khả năng đồng cảm với người khác

7.3.3 Phương pháp áp dụng: Công tác xã hội với nhóm

Trong phương pháp CTXH nhóm, đối tượng tác động là toàn nhóm, là mối tương tác giữa các nhóm viên, là mục đích, bầu không khí sinh hoạt nhóm CTXH là sử dụng cơ cấu nhóm và năng động nhóm trong nội bộ nhóm để đem đến những thay đổi về nhận thức,

Trang 11

niềm tin và hành vi Các thành viên nhóm chia sẻ kinh nghiệm và sử dụng nguồn lực của

cá nhân và của nhóm để giải quyết vấn đề của họ

7.3.4 Tiến trình công tác xã hội với nhóm

7.3.5 Giai đoạn chuẩn bị thành lập nhóm

- Xác định mục tiêu chung của nhóm

- Đánh giá khả năng tham gia của các nhóm viên: nhu cầu, sức khỏe, điều kiện

- vật chất, mục đích tham gia, những cản trở đối với việc tham gia nhóm

Bệnh nhân là đối tượng được nhận dịch vụ chăm sóc sức khỏe Bệnh nhân phần lớn

bị ốm, bị bệnh hoặc bị thương và cần được điều trị bởi bác sĩ, y tá, nhà tâm lý học, nha sĩ, bác sĩ thú y hoặc nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe khác

9 Ung thư

9.1 Khái niệm

Ung thư là một nhóm các bệnh liên quan đến sự tăng trưởng không kiểm soát của các

tế bào trong cơ thể Bình thường, các tế bào phát triển, phân chia và chết đi theo một trật

tự cố định Khi bộ máy vận hành của cơ thể xảy ra sự cố, thay vì chết đi, tế bào ung thư vẫn tiếp tục phát triển đến mức vượt khỏi tầm kiểm soát, hình thành các tế bào bất thường không có chức năng gì Tế bào thừa tạo nên thể khối (tức khối u) và xâm lấn các mô lân cận Một số bệnh ung thư như ung thư bạch cầu không hình thành khối u

9.2 Phân loại

Ung thư có thể xảy ra bất cứ bộ phận nào trong cơ thể Có 5 loại ung thư chính:

Trang 12

- Ung thư biểu mô: bắt nguồn từ trong da hoặc lớp mô phủ lan đến cơ quan nội tạng

- Ung thư mô liên kết: bắt nguồn trong xương, sụn, mỡ, cơ, mạch máu hay các

mô liên kết khác

- Ung thư bạch cầu: bắt nguồn trong mô tạo máu (tủy xương)

- U Lympho (Lymphoma): bắt nguồn từ các tế bào của hệ miễn dịch

- Ung thư hệ thần kinh trung ương: phát triển trong não và tủy sống

10 Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng

Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng được thành lập theo quyết định số 5898/QĐ-UBND ngày 15/8/2015 của UBND thành phố Đà Nẵng, trên cơ sở tổ chức lại Khoa Ung bướu thuộc Bệnh viện Đà Nẵng và tiếp nhận nguyên trạng tổ chức bộ máy, người lao động, trụ

sở, cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài chính, tài sản của Bệnh viện Ung thư Đà Nẵng (thuộc Hội Bảo trợ phụ nữ và trẻ em nghèo bất hạnh thành phố) Bệnh viện là đơn vị sự nghiệp công lập, chịu sự quản lý, chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc Sở Y tế Đà Nẵng, gồm 8 phòng

và 20 khoa Bệnh viện hiện phụ trách thăm khám và điều trị chủ yếu cho bệnh nhân ở các tỉnh miền Trung Bệnh viện đem lại lợi ích thiết thực cho bệnh nhân ung thư trong khu vực Đặc biệt, bệnh nhân ung thư nghèo tại Đà Nẵng và khu vực Miền Trung có cơ hội được khám chữa bệnh miễn phí với chất lượng tốt

11 Khái niệm về “ Áp dụng phương pháp CTXH nhóm với bệnh nhân ung thư tại Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng”

Áp dụng phương pháp CTXH nhóm với bệnh nhân ung thư tại Bệnh viện Ung bướu

Đà Nẵng là khả năng tổ chức hoạt động hoặc triển khai mô hình nhằm hỗ trợ người bệnh

và người nhà người bệnh về vật chất, tinh thần và xã hội thông qua việc tăng cường sự tham gia của người bệnh và người nhà người bệnh trong hoạt động nhóm với mục đích cuối cùng là thay đổi hành vi, thái độ, niềm tin thân chủ theo hướng tích cực

Trang 13

PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ THỰC TẬP

1 Giới thiệu:

1.1 Thời gian thực tập: Từ 07/01/2018 – 17/3/2019

1.2 Cơ sở: Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng

1.3 Địa chỉ: Đường Hoàng Thị Loan, Tổ 28, P Hòa Minh, Q Liên Chiểu, TP Đà

Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng được thành lập theo quyết định số 5898/QĐ-UBND ngày 15/8/2015 của UBND thành phố Đà Nẵng, trên cơ sở tổ chức lại Khoa Ung bướu thuộc Bệnh viện Đà Nẵng và tiếp nhận nguyên trạng tổ chức bộ máy, người lao động, trụ

sở, cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài chính, tài sản của Bệnh viện Ung thư Đà Nẵng (thuộc Hội Bảo trợ phụ nữ và trẻ em nghèo bất hạnh thành phố)

Trang 14

Bệnh viện là đơn vị sự nghiệp công lập, chịu sự quản lý, chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc Sở Y tế Đà Nẵng, gồm 8 phòng và 20 khoa

Thầy thuốc nhân dân, bác sĩ Chuyên khoa 2 Nguyễn Út, phó Giám đốc Sở Y tế Đà Nẵng, kiêm nhiệm chức vụ Giám đốc Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng

Từ ngày 03/12/2018 BSCKII Trần Tứ Quý - Phó Giám đốc Bệnh viện phụ trách, chịu trách nhiệm điều hành mọi hoạt động của Bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng

Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng (Danang Cancer Hospital- DCH) là một bệnh viện chuyên khoa ung thư loại 1 hoàn chỉnh của thành phố Đà Nẵng, quy mô 500 giường bệnh nội trú Bệnh viện được đặt tại Phường Hòa Minh, Quận Liên Chiểu, Thành phố Đà Nẵng, trên diện tích 15 hecta Bệnh viện có chức năng tiếp nhận khám, chẩn đoán, điều trị có hiệu quả mọi bệnh lý ung thư, làm tốt công tác dự phòng bệnh ung thư cho nhân dân thành phố Đà Nẵng và khu vực Miền Trung, triển khai các chương trình nghiên cứu khoa học - công nghệ và tham gia công tác đào tạo nguồn nhân lực chuyên môn chuyên ngành ung thư

Ban giám đốc bệnh viện chịu trách nhiệm điều hành toàn bộ hoạt động của bệnh viện Đảng ủy Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo công tác Đảng, BCH Công đoàn cơ sở, BCH Đoàn thanh niên cộng sản HCM Các Hội đồng chuyên môn như Hội đồng Khoa học kỹ thuật, Hội đồng Khen thưởng kỷ luật, Hội đồng Lương, Hội đồng An toàn bức xạ, Hội đồng Thuốc, Hội đồng bệnh nhân… tư vấn cho Giám đốc về những lĩnh vực liên quan

Bệnh viện có 21 Khoa, Phòng và Trung tâm:

7 Phòng chức năng, gồm Phòng Tổ chức Cán bộ;Phòng Kế hoạch tổng hợp, Phòng Hành chính Quản trị ; Phòng Tài chính- kế toán;Phòng Vật tư Trang thiết bị Y tế; Phòng Điều dưỡng, Phòng Công nghệ Thông tin

5 Khoa cận lâm sàng, gồm Khoa Dược; Khoa Giải phẫu bệnh; Khoa Xét nghiệm

và Truyền máu, Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Nội soi và Thăm dò chức năng, Trung tâm nghiên cứu phòng chống ung thư

9 Khoa lâm sàng, gồm Khoa khám bệnh; Khoa Điều trị tích cực và chăm sóc giảm nhẹ; Khoa Gây mê hồi sức; Khoa Bệnh lý tổng hợp, Khoa Vú và Phụ khoa, Khoa Tạo máu, Khoa Tiết niệu, đầu cổ và lồng ngực, Khoa Tiêu hóa, Khoa Kỹ thuật phóng xạ và Y học hạt nhân

Trang 15

Các khoa lâm sàng ung thư áp dụng điều trị đa mô thức với phương pháp hóa trị,

xạ trị, phẫu trị và các phương pháp điều trị ung thư khác

Bệnh viện được đầu tư xây mới hoàn chỉnh các công trình hạ tầng với 3 khối nhà chính (khối Hành chính và Hội trường, khối điều trị nội trú và khối Kỹ thuật nghiệp vụ) Tổng diện tích sàn khoảng 54.000m2 và diện tích xây dựng trung bình cho mỗi giường bệnh gần 110m2 Bệnh viện được thiết kế theo mô hình bệnh viện khách sạn với cảnh quan trong bệnh viện rất hài hòa, tiện nghi và thân thiện Mọi phòng bệnh đều có phòng

vệ sinh riêng, hệ thống điều hòa trung tâm và hệ thống khí trung tâm Bệnh viện dành 1 khu nhà nghỉ gần 50 phòng (khoảng 400 giường) để người nhà bệnh nhân có điều kiện nghỉ ngơi trong thời gian chăm sóc bệnh nhân tại bệnh viện Bệnh viện cũng có 1 khu nhà dành cho nhân viên, sinh viên đến thực tập và khu nhà dành cho chuyên gia trong và ngoài nước đến giúp đỡ bệnh viện Cơ sở vật chất này thực sự là lý tưởng cho điều trị bệnh nhân

Bệnh viện có hệ thống trang thiết bị hiện đại và đồng bộ, đáp ứng tốt nhu cầu khám chữa bệnh ung thư Các hệ thống chẩn đoán và theo dõi điều trị ung thư như máy CT-scan đa lát cắt, máy MRI 3,0T, máy tăng sáng truyền hình, máy siêu âm màu 4 chiều, máy nội soi can thiệp, máy SPECT, PET-CT, máy đếm tế bào tự động 40 thông số, máy xét nghiệm sinh hóa tự động, ELISA tự động, FACS, miễn dịch hóa tổ chức, máy cắt lạnh, hệ thống phân tích gen… Các hệ thống trang thiết bị xạ trị ung thư kỹ thuật cao như máy xạ trị gia tốc, máy xạ phẫu, xạ trị áp sát liều cao, CT mô phỏng,… Các cơ sở điều trị hiện đại như 10 phòng mổ chuẩn, khu hậu phẫu 40 giường bệnh, khu Hồi sức cấp cứu và chăm sóc giai đoạn cuối 50 giường bệnh và khu ghép tủy xương 6 phòng ghép chuẩn…

Đội ngũ nhân lực chuyên môn của bệnh viện với các Phó giáo sư, Tiến sỹ, Bác sỹ chuyên khoa 2, Bác sỹ chuyên khoa 1, Thạc sỹ y học, Bác sỹ nội trú, Kỹ sư vật lý hạt nhân, Cử nhân kỹ thuật y học, Cử nhân điều dưỡng và các chức danh chuyên môn khác, đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh ung thư chất lượng cao Các nhân viên chuyên môn được tuyển dụng với yêu cầu cao về khả năng chuyên môn, khát khao khoa học, phẩm chất đạo đức và tấm lòng yêu thương bệnh nhân, sẵn sàng cho mục tiêu khám chữa bệnh

từ thiện của bệnh viện Các nhân viên chuyên môn đều được đào tạo chuyên sâu từ 1- 3 năm tại các trung tâm y học lớn như Trường đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, Trường đại học Y Hà Nội, Trường đại học Y Dược Huế, Bệnh viện ung bướu thành phố

Hồ Chí Minh, Bệnh viện K Hà Nội, Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Huyết học thành phố

Trang 16

Hồ Chí Minh, Bệnh viện trung ương Huế… Một số được gởi đi đào tạo tại Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc…Bệnh viện xây dựng phong cách và thái độ phục vụ theo tinh thần

“Lương y như từ mẫu” Bệnh viện quyết tâm phấn đấu hoàn thành tốt nhất các nhiệm vụ

do Lãnh đạo thành phố giao cho, xứng đáng là một trung tâm chuyên khoa ung thư lớn, chất lượng cao trong khu vực và là một bệnh viện giàu tính nhân văn, giàu tình người!

1.7 Các đơn vị liên quan

- Sở Y tế Đà Nẵng

- Giám đốc Sở Y tế Đà Nẵng

- Bệnh viện Ung bướu TP Hồ Chí Minh

- Bệnh viện Đa Khoa Đà Nẵng

- Bệnh viện Đà Nẵng

- Trung tâm Y tế dự phòng

- Bệnh viện phụ sản – nhi Đà Nẵng

- Bệnh viện da liễu TP Đà Nẵng

- Trung tâm Y tế huyện Hòa Vang

- Bệnh viện phục hồi chức năng Đà Nẵng

4 Sơ đồ tổ chức

4.1 Tổ chức cơ sở

Trang 17

4.2 Cơ cấu tổ chức

Trang 18

4.3 Nhân sự chuyên môn

4.4 Lãnh đạo bệnh viện

- BSCK II Trần Tứ Qúy – Phó giám đốc, phụ trách bệnh viện

- BSCK II Nguyễn Hồng Long - Phó giám đốc bệnh viện

Và các Đoàn thể, các phòng chức năng, các khoa lâm sàng, các khoa/TT cận lâm sàng, quy hoạch và kế hoạch

5 Chức năng, nhiệm vụ, các dịch vụ được cung cấp và kết quả của các dịch vụ 5.2 Chức năng:

Chức năng chính của bệnh viện là thăm khám và điều trị ung bướu Nỗ lực cố gắng nhằm phát hiện bệnh ung thư ở giai đoạn sớm để có thể điều trị triệt để Bệnh viện hiện phụ trách thăm khám và điều trị chủ yếu cho bệnh nhân ở các tỉnh miền Trung Ngoài ra bệnh viện còn tiến hành triển khai 1 số công trình nghiên cứu về điều trị ung thư Tiếp tục thực hiện tham gia và đào tạo đội ngũ nhân lực chuyên khoa ung thư I

5.3 Nhiệm vụ, các dịch vụ được cung cấp

Bệnh viện thực hiện 6 nhiệm vụ do Bộ Y tế quy định:

(6) Quản lý kinh tế trong bệnh viện

- Lãnh đạo thành phố Đà Nẵng giao cho bệnh viện 3 nhiệm vụ chính là:

(1) Làm tốt công tác khám, chữa bệnh cho bệnh nhân ung thư trong khu vực

(2) Tầm soát và phát hiện sớm bệnh ung thư

(3) Triển khai các chương trình nghiên cứu khoa học về bệnh ung thư

Trang 19

5.3 Kết quả cung cấp dịch vụ

Biểu đồ so sánh lượt khám bệnh trong các năm

Bệnh viện có mô hình tổ chức đáp ứng các điều kiện về quy mô đối với bệnh viện hạng I, có đủ nhân lực được đào tạo chuyên môn phù hợp, đáp ứng các quy định, đồng thời bệnh viện đã chú trọng bố trí nhân lực trực tiếp làm chuyên môn kỹ thuật Thực hiện nghiêm túc các quy chế chuyên môn, tích cực triển khai và phát triển các kỹ thuật chuyên sâu thuộc chuyên khoa, đảm bảo đủ trang thiết bị, thuốc, vật tư y tế cho công tác khám, chữa bệnh Bệnh viện được đánh giá đã có nhiều cố gắng tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ, kế hoạch được giao và các nhiệm vụ trọng tâm của ngành, hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch được Sở Y tế giao Trong năm: tổng số lần khám bệnh 86,637 lượt người, tổng số bệnh nhân điều trị nội trú là 25.544 lượt người, công suất sử dụng giường bệnh 111% kế hoạch Bệnh viện đã phát triển được 17 kỹ thuật mới trong đó có 6 kỹ thuật lâm sàng và 11 kỹ thuật cận lâm sàng; thực hiện có hiệu quả đề án 1816, Dự án bệnh viện vệ tinh, 5 bác sĩ được đào tạo thực hành ung thư nâng cao Bệnh viện đã triển khai các quy trình đơn giản hoá thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và điều hành; Cơ sở vật chất tương đối đồng bộ, khang trang; Cảnh quan, vệ sinh môi trường bệnh viện đảm bảo sạch đẹp Trang thiết bị đáp ứng việc triển khai các kỹ thuật chuyên môn theo phạm vi được phê duyệt

Trang 20

Điểm trung bình chung của bệnh viện được đoàn kiểm tra đánh giá là 4,02 đạt mức 4 trên tổng số 5 mức đánh giá, tăng 7,2% so với năm 2017

6 Cảm nhận chung về cơ sở

- Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng là một trong những bệnh viện tốt nhất hiện nay trên đia bàn cả nước

- Nhân lực Y bác sĩ với trình độ chuyên môn cao

- Cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại, đầy đủ

- Thái độ phục vụ với tinh thần “Niềm nở, chu đáo, tận tình”

 Điểm cần cải thiện

- Thời gian khám bệnh lâu, cần cải tiến cách khám bệnh nhanh chóng, thuận tiện hơn cho người bệnh

Trang 21

PHẦN 2: TIẾN TRÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NHÓM

Tên đề tài: Áp dụng công tác xã hội với người bệnh ung thư tại Bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng

2.1 Cơ sở lý luận về vấn đề của nhóm

2.1.1 Thực trạng của vấn đề ung thư trên thế giới và Việt Nam

2.1.1.1 Thực trạng vấn đề ung thư trên thế giới

Cơ quan Quốc tế Nghiên cứu Ung thư trực thuộc Liên Hợp Quốc (IARC) công bố ngày 12/9, dự kiến trong năm nay sẽ có thêm hơn 18 triệu ca ung thư và sẽ có khoảng 9,6 triệu người tử vong do căn bệnh này Con số này tăng so với 14,1 triệu ca mắc bệnh mới

và 8,2 triệu người tử vong vì ung thư hồi năm 2012 trong cuộc khảo sát gần nhất trước đó

IARC nhận định: ung thư đang là mối đe dọa ngày một nghiêm trọng tới sức khỏe của người dân trên toàn toàn cầu Tính trung bình trên thế giới, cứ 5 nam giới thì có 1 người

và 6 phụ nữ thì có 1 người mắc chứng bệnh ung thư trong cuộc đời của mình, và 1/8 số nam giới và 1/11 số nữ giới tử vong do căn bệnh này

Trên phạm vi toàn cầu, châu Á ước tính chiếm gần nửa số ca mắc bệnh mới và hơm một nửa số ca tử vong do ung thư trong năm 2018, một phần vì gần 60% dân số thế giới sống tại khu vực này Châu Âu chiếm gần 1/4 số ca ung thư mới và 1/5 số ca tử vong do ung thư, mặc dù châu lục này chỉ chiếm 9% dân số thế giới Châu Mỹ chiếm hơn 13% dân

số thế giới, song chiếm tới 21% ca ung thư và khoảng 14% ca tử vong do căn bệnh này trên toàn cầu

Ung thư phổi là "thủ phạm" gây nhiều ca tử vong nhất ở cả nam giới lẫn phụ nữ và

là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến những cái chết do ung thư ở phụ nữ tại 28 quốc gia Những quốc gia có tỷ lệ phụ nữ tử vong do ung thư phổi cao nhất tập trung ở Bắc Mỹ, Bắc

và Tây Âu - nhất là Đan Mạch và Hà Lan - Trung Quốc Australia và New Zealand; với Hungary chiếm đầu bảng

Cũng theo báo cáo của IARC, sở dĩ căn bệnh ung thư ngày càng phổ biến là do nhiều nhân tố, từ sự tăng trưởng dân số tới sự lão hóa, trong khi sự thay đổi về các loại ung thư được chẩn đoán có liên quan tới sự phát triển kinh tế và xã hội IARC nhấn mạnh điều này đặc biệt đúng tại những nền kinh tế đang tăng trưởng nhanh chóng đồng thời lưu ý đến một

xu hướng mới, đó là nghèo đói và các bệnh truyền nhiễm không còn là thủ phạm chính gây ung thư, mà thay vào đó là phong cách sống tại các quốc gia công nghiệp hóa

Trang 22

2.2.1.2 Thực trạng vấn đề ung thư ở Việt Nam

a) Những con số biết nói

PGS.BS Trần Văn Thuấn, Giám đốc Bệnh viện K Trung ương cho biết: Ung thư đang

là vấn đề lớn của nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam Tỷ lệ tử vong do bệnh ung thư cao gấp 9 lần số người chết do tai nạn giao thông Tỷ lệ tử vong cao là do đa phần người bệnh đi khám, phát hiện, điều trị muộn - ước tính có số này khoảng trên 70%

Những bệnh ung thư phổ biến ở Việt Nam Còn theo công bố của Viện Nghiên cứu phòng chống ung thư quốc gia khiến nhiều người băn khoăn, đó là tỷ lệ nam giới tử vong do ung thư ở Việt Nam đứng hàng đầu thế giới PGS Trần Văn Thuấn- viện trưởng Viện Nghiên cứu phòng chống ung thư quốc gia cho biết, tỷ lệ nam giới tử vong do ung thư ở Việt Nam nằm trong nhóm nước dẫn đầu thế giới, với hơn 142 trường hợp tử vong trong số 100.000 người Trong khi đó, tỷ lệ mắc và

tử vong do ung thư ở nữ giới Việt Nam đứng thứ 4 trong số 5 mức xếp hạng trên toàn cầu Những năm gần đây trường hợp một gia đình có đến 3-4 người chết vì ung thư không còn là chuyện hiếm Nhiều thôn, xóm có tỷ lệ mắc và tử vong cao gấp nhiều lần so với mức trung bình cả nước Ước tính, cả nước có ít khoảng 37 làng có nguồn nước sinh hoạt và ăn uống bị ô nhiễm nặng Trong vòng từ 5 năm đến 20 năm trở lại đây tại các xã của 37 “làng ung thư” này có tới hơn 1.100 người chết vì các bệnh ung thư và 380 người ở các xã lân cận cũng tử vong với cùng nguyên nhân

b) Tỷ lệ ung thư Việt Nam trên bản đồ ung thư thế giới

Trang 23

Theo Tổ chức sáng kiến toàn cầu về ung thư (GICR), Việt Nam xếp vị trí 99/185 quốc gia và vùng lãnh thổ với tỉ lệ mắc ung thư 151,4/100.000 dân, xếp 19 châu Á và thứ

5 tại khu vực Đông Nam Á Vào năm 2015, Việt Nam xếp vị trí 107 và thời điểm 2013 xếp

ở vị trí 108

Số ca mắc ung thư mới ở Việt Nam năm 2018 (Nguồn VNN) Theo VNN, những quốc gia có tỉ lệ chết vì ung thư lớn nhất gồm: Mông Cổ (170/100.000 dân); thứ 2 là Hungary (155); Ba Lan ở vị trí số 8 (136); Trung Quốc ở vị trí

số 12 (130); Lào xếp vị trí 33; Pháp xếp vị trí 42; Canada xếp 84; Mỹ xếp vị trí 91 (91/100.000 ca); Nhật Bản ở vị trí 112 (85,2/100.000 dân)

Theo thống kê của WHO, số ca mắc mới ung thư tại Việt Nam không ngừng tăng, từ 68.000 ca năm 2000 lên 126.000 năm 2010 Năm 2018, số ca mắc mới tăng lên gần 165.000 ca/96,5 triệu dân, trong đó gần 70% trường hợp tử vong, tương đương 115.000 ca

Nhìn tổng quan trên bản đồ ung thư thế giới, tỉ lệ mắc của Việt Nam không cao, tuy nhiên tỉ lệ tử vong tương đối lớn, xếp vị 56/185 quốc gia và vùng lãnh thổ với tỉ lệ 104,4/100.000 dân Vào năm 2016, tỉ lệ tử vong của Việt Nam ở mức 110/100.000 dân

Trang 24

Vị trí Việt Nam trên bản đồ ung thư thế giới (Nguồn VNN) Tính chung cả 2 giới, 5 loại ung thư có tỉ lệ mắc nhiều nhất tại Việt Nam gồm: Ung thư gan, hơn 25.000 ca (15,4%), kế đó là ung thư phổi (14,4%), ung thư dạ dày (10,6%), ung thư vú, ung thư đại tràng

5 loại ung thư phổ biến nhất ở nam giới Việt gồm: Ung thư phổi (21,5%), ung thư gan (18,4%), ung thư dạ dày, ung thư đại tràng; ung thư hầu họng Ở nữ giới, hàng đầu vẫn

là ung thư vú, ung thư đại tràng, ung thư phổi, ung thư gan

2.2.2 Biểu hiện của ung thư

- Ban đầu,hầu hết bệnh nhân ung thư không có triệu chứng lâm sàng rõ ràng Khi xuất hiện triệu chứng rõ rệt thường là khi bệnh đã tiến triển trầm trọng Thông thường,ung thư có thời gian ủ bệnh(tức là thời gian từ khi một tế bào bị đột biến thành tế bào ung thư đến khi các triệu chứng của bệnh được bộc lộ) khá dài, khoảng 10 năm hoặc hơn nữa tùy thể loại ung thư Do đó cách phòng và điều trị ung thư hiệu quả nhất được khuyến cáo là nên đi khám sức khỏe định kì 6 tháng một lần

- Do ung thư là tập hợp của nhiều dạng bệnh ung thư khác nhau nên triệu chứng của ung thư rất đa dạng và khác nhau ở tùy thể bệnh ung thư

 Đại khái, triệu chứng của ung thư được phân làm ba nhóm chính:

Trang 25

- Triệu chứng tại chỗ: các khối u bất thường hay phù nề, chảy máu (hemorrhage), đau và/hoặc loét (ulcer) Chèn ép vào mô xung quanh có thể gây ra các triệu chứng như vàng da

- Triệu chứng của di căn (lan tràn): hạch bạch huyết lớn lên, ho, ho ra máu, gan to, đau xương, gãy xương ở những xương bị tổn thương và các triệu chứng thần kinh Đau có thể gặp ở ung thư giai đoạn tiến triển, nhưng thông thường đó không phải là triệu chứng đầu tiên

- Triệu chứng toàn thân: sụt cân, chán ăn và suy mòn, tiết nhiều mồ hôi (đổ mồ hôi trộm), thiếu máu và các hội chứng cận u đặc hiệu, đó là tình trạng đặc biệt được gây

ra bởi ung thư đang hoạt động, chẳng hạn như huyết khối (thrombosis) hay thay đổi nội tiết tố

2.2.3 Nguyên nhân của vấn đề

2.2.3.1 Các yếu tố có thể thay đổi được

- Các tác nhân hóa học

a Thuốc lá

Hút thuốc lá được kể đến hàng đầu, đây là nguyên nhân của 30% trong tổng số các loại ung thư ở người, bao gồm ung thư phổi, thanh quản, thực quản, khoang miệng, bàng quang, tụy, dạ dày

Trong khói thuốc không chỉ có chất nicotine ảnh hưởng đến hệ tim mạch mà còn có trên 40 loại hóa chất khác nhau gây ung thư Hút thuốc ở người tuổi càng trẻ, thời gian hút càng dài, số lượng hút trong một ngày càng nhiều thì càng có nguy cơ cao

Ở Việt Nam, hút thuốc lào, ăn trầu thuốc cũng là yếu tố nguy cơ cao gây ung thư phổi

và ung thư khoang miệng Nếu người hút thuốc có kèm theo nghiện rượu thì nguy cơ mắc ung thư càng cao hơn nữa Người đang hút thuốc mà bỏ hút thì nguy cơ gây ung thư sẽ giảm dần theo thời gian Sau 5 năm ngừng hút thì nguy cơ bị ung thư phổi giảm 50%, sau

10 năm ngừng hút thì nguy cơ còn không đáng kể, gần như người không hút

Nhưng người không hút thuốc mà sống cùng với người hút thuốc thì cũng có nguy

cơ mắc các loại bệnh liên quan đến hút thuốc lá như bệnh tim mạch, hô hấp và ung thư như chính người hút, nhất là đối với phụ nữ và trẻ em Đây được gọi là hút thuốc thụ động

b Chế độ ăn uống không hợp lý

Trang 26

Chế độ ăn nhiều chất mỡ động vật, ít chất xơ làm tăng nguy cơ mắc ung thư đại - trực tràng và ung thư vú Ngược lại, chế độ ăn ít chất béo, nhiều rau, hoa quả và các ngũ cốc dạng nguyên hạt, có thể làm giảm nguy cơ mắc các loại ung thư

Các chất bảo quản thực phẩm, các chất nhuộm màu thực phẩm có nguồn gốc hóa học, các chất trung gian chuyển hóa và sinh ra từ thực phẩm bị nấm mốc, lên men là nguyên nhân gây ra nhiều loại ung thư đường tiêu hóa như ung thư dạ dày, ung thư gan, ung thư đại tràng… Ước tính yếu tố này gây ra đến 35% trong tổng số các loại ung thư

Thịt hun khói, cá muối, các loại mắm và dưa muối, cà muối, nhất là dưa khú có nhiều muối nitrat, nitrit và nitrosamine là các chất gây ung thư thực quản và dạ dày

c Ô nhiễm môi trường

Ở nước ta, thuốc trừ sâu diệt cỏ dùng phổ biến trong nông nghiệp là yếu tố nguy cơ gây ung thư vú và một số loại ung thư khác Bên cạnh đó, hậu quả của chất độc màu da cam (dioxin) do Mỹ rải xuống trong chiến tranh đã để lại hậu quả nặng nề không những gây nên các dị tật bẩm sinh mà còn là yếu tố nguy cơ tiềm ẩn gây nhiều bệnh ung thư Các nhà khoa học Mỹ đã nghiên cứu và kết luận chất dioxin làm tăng tỷ lệ ung thư gan, máu, hạch, phần mềm

Một tác nhân gây ung thư nữa là các hóa chất sử dụng trong công nghiệp Ước tính nhóm nguyên nhân này gây ra khoảng 2-8% trong tổng số các loại ung thư Các loại ung thư nghề nghiệp do tiếp xúc trực tiếp trong môi trường lao động với da, hệ thống hô hấp

và tiết niệu

- Các tác nhân vật lý

a Bức xạ ion hóa

Bức xạ ion hóa như tia Rơnghen, phát ra từ máy chiếu chụp X-quang, các chất phóng

xạ dùng trong y học và một số ngành khoa học, có khả năng gây tổn thương gen và sự phát triển tế bào Loại nguyên nhân này chiếm 3% trong số các trường hợp ung thư Tác động của tia phóng xạ gây ung thư ở người phụ thuộc vào một số đặc điểm của tiếp xúc như: tuổi (tuổi càng nhỏ, nhất là khi còn là bào thai thì mối nguy hiểm càng tăng cao); liều lượng (tiếp xúc với càng nhiều chất phóng xạ thì nguy cơ mắc ung thư càng cao); cơ quan bị tiếp xúc (các cơ quan nhạy cảm với tia phóng xạ là tuyến giáp, tủy xương)

b Tia cực tím

Tia cực tím có trong ánh sáng mặt trời cũng là tác nhân gây ung thư da Những người thường xuyên phải làm việc ngoài trời thiếu phương tiện che nắng có nguy cơ mắc ung thư

Trang 27

da cao hơn ở những vùng da hở, nhiều nhất là da vùng đầu, mặt Vì vậy, không nên tắm

nắng dưới nắng hè gay gắt có nhiều tia cực tím và không nên tắm nắng quá nhiều

c Nhiễm vi rút, vi khuẩn

Một số vi rút, vi khuẩn có thể gây ung thư:

• Vi rút Epstein-Barr (EBV): có liên quan đến ung thư vòm mũi họng, ung thư hạch lymphô, gặp nhiều ở các nước châu Á, châu Phi

• Vi rút viêm gan B: là nguyên nhân gây ung thư gan nguyên phát Sau khi thâm nhập vào cơ thể nó gây viêm gan cấp, có trường hợp bệnh nhẹ thoáng qua, tiếp theo

là thời kỳ viêm gan mạn tính tiến triển kéo dài không có triệu chứng, dẫn đến xơ gan

và ung thư gan

• Vi rút gây u nhú ở người (Papiloma Human Vi rút- HPV): là nguyên nhân gây đến 70% ung thư tử cung ở phụ nữ Vi rút này lây truyền qua đường tình dục

• Vi khuẩn Helicobacter Pylory (HP): là loại vi khuẩn có vai trò quan trọng trong gây viêm loét dạ dày - tá tràng và ung thư dạ dày

Như vậy, ung thư không phải do một nguyên nhân gây ra mà có thể do rất nhiều nguyên nhân tùy theo mỗi loại ung thư, trong số đó, hút thuốc và chế độ dinh dưỡng không hợp lý là 2 nhóm nguyên nhân quan trọng nhất, gây nhiều loại ung thư nhất

2.2.3.2 Các yếu tố không thể thay đổi được

- Tuổi: Nhìn chung đa phần ung thư hay gặp ở người lớn tuổi Rất nhiều loại ung thư có tỷ lệ mắc tăng nhanh sau lứa tuổi 40 và đỉnh điểm là sau 60 Lý do là càng nhiều tuổi, thời gian tiếp xúc, tích lũy các yếu tố nguy cơ càng nhiều Càng nhiều tuổi, tế bào sinh sôi nhiều lần càng dễ có sai sót gen khi phân chia Càng nhiều tuổi, sức đề kháng của cơ thể chống lại bệnh tật càng giảm, ung thư càng dễ phát sinh

- Giới: Nam giới hay mắc ung thư tuyến tiền liệt, ung thư dương vật, tinh hoàn; nữ hay mắc ung thư vú, cổ tử cung, buồng trứng, nhau thai, âm hộ đó là những bộ phận sinh dục đặc trưng mỗi giới Hoạt động nội tiết của mỗi giới cũng ảnh hưởng đến mắc các bệnh ung thư khác nhau

- Gen di truyền: Con người có đến hơn 40 gen sinh ung thư và các gen ức chế ung thư Có một số gen có thể di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Khi các gen đó

bị tổn thương bất thường (đột biến) người đó dễ mắc một loại ung thư nào đó

Trang 28

2.2.4 Ảnh hưởng của vấn đề

2.2.4.1 Đối với người bệnh ung thư

a) Diễn biến tâm lý của người bệnh ung thư

 5 giai đoạn khủng hoảng tâm lý của người bệnh ung thư

- Phủ nhận thường chỉ là một phản kháng tạm thời “Không, tôi khỏe mà”; “Chuyện

đó không thể xảy ra với tôi được” Sau đó, người bệnh nhanh chóng nhận ra đang phải đối mặt với một sự việc rất trầm trọng

- Giai đoạn thứ hai phẫn nộ, người bệnh bắt đầu nhận ra rằng không thể tiếp tục phủ nhận mãi được Họ có thể nổi cơn thịnh nộ và đố kỵ làm cho việc giao tiếp với họ là một thách thức rất lớn “Tại sao là tôi, không công bằng chút nào hết?”; “Sao mà nó có thể xảy ra cho tôi được? “; “Ai gây ra chuyện này?” Những cá nhân nào càng mạnh mẽ trong cuộc sống thì càng có khuynh hướng bùng phát sự phẫn nộ và đố kỵ

- Giai đoạn thứ ba thương lượng liên quan đến sự hy vọng mà người bệnh mong rằng

có thể kéo dài hoặc trì hoãn cái chết Thông thường họ tìm mọi cách thương lượng để kéo dài cuộc sống “Chỉ cần cho tôi sống đến ngày con tôi tốt nghiệp”; “Tôi sẽ làm tất

cả những gì có thể được để sống thêm vài năm nữa”; “Tôi sẽ thưởng cho 2 cây vàng nếu

ai cứu sống được tôi” “Tôi hiểu là tôi sẽ chết nhưng chỉ mong có thêm thời gian hơn nữa”

- Giai đoạn thứ tư trầm cảm, người bệnh hiểu rằng cái chết là chắc chắn Vì thế họ có thể trở nên im lặng, từ chối gặp người viếng thăm, dành nhiều thời gian để khóc và đau buồn Quá trình này làm cho người bệnh cắt đứt với những sự việc liên quan đến tình thương yêu và bệnh tật Sự cắt đứt này có tác dụng làm nguôi ngoai nên trong giai đoạn này không nên tìm cách làm vui cho người bệnh cho mà để cho nỗi buồn được diễn tiến

“Tôi buồn quá, tôi sắp chết rồi Tại sao phải quan tâm đến mấy cái chuyện khác làm gì?”; “Tôi sắp mất người thân yêu nhất của mình rồi”

- Giai đoạn cuối chấp nhận, người bệnh bắt đầu chấp nhận cái chết sẽ đến với mình

“Rồi cũng sẽ xong thôi”; “Tôi không thể chống lại được nó, tốt nhất là nên chuẩn bị đón nhận nó”

b) Diễn biến tâm lý theo quá trình chẩn đoán và điều trị ung thư

- Giai đoạn đi thăm khám bệnh: Nhiều bệnh nhân chỉ nghĩ đến ung thư, nhắc đến ung thư đã hoảng hốt mất ăn, mất ngủ Đọc sách báo rồi vận vào những triệu chứng của mình, thế là lo nghĩ luẩn quẩn Bên cạnh đó, nhiều người chủ quan, mặc dù bệnh đã lở

Trang 29

loét, di căn hạch mới bỏ công việc đi khám bệnh thì đã quá muộn rồi Bệnh nhân vừa lo

âu vừa hy vọng việc điều trị có kết quả tốt

- Giai đoạn chẩn đoán bệnh: Khi biết mình bị ung thư bệnh nhân thường có những phản ứng sau:

• Choáng váng/mất lòng tin Phản ứng này đôi khi nặng nề tới mức không thể nói được gì thêm về kế hoạch điều trị

• Chối bỏ sự thật không tin là mình bị bệnh

• Thất vọng và chán chường: Nỗi thất vọng có thể xuất hiện bất kỳ lúc nào sau khi chẩn đoán ung thư Bệnh nhân có thể xuất hiện các triệu chứng thần kinh thực vật: Chán

ăn, mất ngủ và các triệu chứng tâm thần như thất vọng, mất tập trung, hoang tưởng, tội lỗi cho thấy là nỗi thất vọng sâu sắc Thêm nữa, bệnh nhân có thể từ chối điều trị nếu họ nghĩ là không tránh được cái chết Trong trường hợp này, cần phải tham khảo chuyên khoa tâm thần càng sớm càng tốt

- Giai đoạn điều trị ban đầu: Mỗi phác đồ điều trị ung thư đều mang tới những thách thức tâm lý riêng

• Phẫu thuật:

Hầu hết các bệnh nhân quan niệm phẫu thuật là phương pháp chữa khỏi tốt nhất Tuy nhiên, do tính chất tàn phá, phẫu thuật làm cho bệnh nhân sợ hãi hoặc lo ngại Hoặc có niềm tin rất sai lầm là “ung thư mà đụng đến dao kéo là chết” Bệnh ung thư nếu không phẫu thuật để lấy khối u ra (trừ các loại ung thư hệ tạo huyết) thì gần như sẽ chết

Các trạng thái tâm lý thường gặp như sợ hãi, lo lắng do bệnh nhân sợ đau và sợ tử vong hoặc nhẹ hơn là sự thay đổi hình thể sau mổ Bệnh nhân cũng dễ có xu hướng lẩn tránh việc phẫu thuật Một số bệnh nhân tạo ra mọi cớ trì hoãn, chối bỏ phẫu thuật vì quá

sợ Bệnh nhân cũng có thể thất vọng sau mổ, phản ứng dằn vặt sau mổ kéo dài và nặng nề Những phản ứng dằn vặt nặng nề có thể gây ra các triệu chứng giống như nỗi thất vọng lớn lao đòi hỏi có những can thiệp về tâm thần

• Xạ trị:

Bệnh nhân có cảm giác sợ khi phải đối diện với máy móc và các tác dụng phụ, lo sợ tia phóng xạ Đây là biểu hiện hết sức bình thường Những lời giải thích về nguyên tắc cơ bản của điều trị tia xạ sẽ giúp sửa chữa được quan niệm sai lệch đó Bàn bạc chi tiết về các tác dụng phụ và các điều trị tác đụng phụ sẽ làm bệnh nhân hết sợ Nhiều khi bệnh nhân sợ thầy thuốc, gia đình hoặc cơ sở y tế bỏ mặc “hết trách nhiệm”, hoặc bị bỏ rơi giữa các công

Trang 30

đoạn điều trị Tia xạ không ảnh hưởng đến người chung quanh vì một số bệnh nhân lo ngại

sẽ ảnh hưởng đến người thân như bồng ẵm em bé…

• Hóa trị:

Hiện nay, nỗi sợ điều trị hóa chất cùng với tác dụng phụ của nó còn hơn cả nỗi sợ ung thư Đa số bệnh nhân đều lo lắng và sợ hãi Sợ rụng tóc có thể hàng xóm hoặc người chung quanh biết sẽ kỳ thị, dè bỉu… Việc rụng tóc có thể xảy ra nhưng các phác đồ hóa trị mới hiện nay không gây rụng tóc Có thể mang tóc giả trong thời gian hóa trị, vài tháng sau hóa trị tóc sẽ mọc lại bình thường Cần chú ý điều trị kịp thời các biến chứng vì nhiều bệnh nhân bỏ điều trị do các tác dụng phụ nặng nề

- Giai đoạn cuối:

Hầu hết các bệnh nhân ý thức được tiến trình bất khả kháng của bệnh tật ở giai đoạn cuối, dù có được giải thích hay không Một số người sợ hãi có thể phải gửi đi khám tâm thần và điều trị tâm thần hỗ trợ đúng lúc

• Sợ bị bỏ rơi: Thông thường bệnh nhân hay lo lắng ung thư ở giai đoạn muộn sẽ không được quan tâm đặc biệt của các nhân viên y tế Cần đảm bảo cho bệnh nhân thấy thầy thuốc và đội ngũ y tế vẫn tiếp tục chăm sóc Khi bệnh nhân gần chết thái độ tích cực và hỗ trợ của thầy thuốc làm giảm nhẹ nỗi đau buồn của bệnh nhân và gia đình

• Lo lắng biến dạng cơ thể và mất phẩm giá: Những tác động về tinh thần và thể xác của người đang hấp hối gây ra nhiều mối lo lắng khác nhau Ung thư và việc điều trị ung thư có thể là nhân đạo, nhưng cũng cần nhớ rằng: người ta vẫn có quyền chết “vinh hiển” (nhất là bệnh nhân đã hôn mê)

• Sợ đau: Ở giai đoạn cuối của điều trị, thuốc giảm đau thích hợp là tối thượng

• Sợ bỏ dở công việc hoàn thành: Mối quan tâm này gồm cả những vấn đề thực tế và tâm lý Nỗi sợ này thay đổi theo giai đoạn trưởng thành Ví dụ người cha, người mẹ trẻ

lo con thơ dại, trong khi đó một số bệnh nhân lo tới những vấn đề gia đình, kinh tế chưa giải quyết xong… Trong trường hợp bệnh tật, họ luôn luôn lo lắng dẫn tới trầm cảm, rối loạn sức khỏe

2.2.4.2 Đối với gia đình người bệnh ung thư

a) Vấn đề tài chính

Chẩn đoán giai đoạn của bệnh UT hiện nay được sử dụng nhiều xét nghiệm tiên tiến như chụp CT64, CT128, CT256 dãy, chụp cộng hưởng từ, PET-CT những xét nghiệm này có giá thành rất cao, trung bình 2,5 - 10 triệu đồng tùy theo xét nghiệm

Trang 31

Đặc biệt, trong chẩn đoán giai đoạn bệnh của một số UT thì chụp PET-CT cũng được khuyến cáo nên dùng cho độ nhạy và độ đặc hiệu cao góp phần cho quá trình điều trị, chi phí làm cũng dao động từ 23 - 30 triệu đồng Chính vì lý do đó ngay trước khi điều trị UT thì việc chẩn đoán bệnh cũng là một khó khăn về mặt tài chính đối với BN và gia đình cũng như với BHYT

Ngoài ra, điều trị UT gồm 3 phương pháp chính là phẫu thuật, hóa chất và xạ trị, có thể thêm điều trị nhắm trúng đích và điều trị miễn dịch

Phẫu thuật UT thường rất rộng triệt căn nên có tính tàn phá cao Việc phẫu thuật vi phẫu, phẫu thuật tạo hình sau điều trị UT (như UT vú, đầu cổ) nhằm mang lại thẩm mỹ cho

BN đang được triển khai nhưng chi phí là khá cao

Đặc biệt, trong lĩnh vực xạ trị nhiều phương pháp mới cũng đang được áp dụng cho điều trị UT đầu cổ, phổi, tuyến tiền liệt, vú Như xạ trị điều biến liều (IMRT), xạ trị điều biến liều theo thể tích hình cung VMAT đang thực hiện mang lại hiệu quả cao hạn chế tác dụng phụ nhưng giá thành của một ngày điều trị cũng cao, thường từ 1,5 - 1,7 triệu đồng Hóa chất cho điều trị cũng là một vấn đề (trung bình điều trị hóa chất một đợt khoảng

10 - 30 triệu đồng tùy từng phác đồ) vì chủ yếu bệnh phát hiện ở giai đoạn muộn và cần có hóa chất bổ trợ hoặc hóa chất điều trị triệt căn nên ít nhất cũng từ 4 - 6 đợt điều trị

Bên cạnh đó là điều trị trúng đích và điều trị miễn dịch có mang lại hiệu quả khả quan trên lâm sàng và cũng đang được áp dụng tại VN Để điều trị được thuốc này BN cần làm một số xét nghiệm quan trọng và khá đắt đỏ, khi điều trị thuốc cũng cần phải chi phí một lượng tiền khá lớn Ví dụ như điều trị UT phổi không tế bào nhỏ có đột biến gien EGFR cũng phải tốn khoảng 40 - 50 triệu đồng/tháng Điều trị UT gan bằng thuốc điều trị trúng đích tốn khoảng 110 - 120 triệu đồng/tháng

b) Vấn đề mối quan hệ giữa các thành viên

- Ung thư làm thay đổi mối quan hệ vợ chồng

• Vai trò và trách nhiệm

Người bệnh phụ thuộc nhiều vào người thân của mình vì không thể làm việc như một người bình thường được Người vợ, chồng phải chịu gánh nặng về công việc nhà và làm việc chăm chỉ hơn Ngoài ra, họ còn phải chăm sóc người bệnh tại nhà và bệnh viện Gánh nặng công việc và sự lệ thuộc của người bệnh ung thư có thể gây ra thất vọng và bực bội nếu anh ấy, cô ấy không quen với vai trò là người chăm sóc Đôi khi người bệnh ung thư giấu thông tin điều trị của mình vì họ sợ những tin tức xấu có thể ảnh hưởng đến mọi người

Trang 32

• Tình dục và sự thân mật

Một số tác dụng phụ của điều trị ung thư có thể giảm hiệu quả của các hoạt động tình dục, làm cho mối quan hệ trở nên khó khăn hoặc đau đớn

• Các kế hoạch tương lai

Bệnh ung thư thường làm thay đổi hy vọng và ước mơ mà các cặp đôi chia sẻ Kế hoạch

về hưu, đi du lịch hoặc làm cha mẹ của bạn sẽ thay đổi hoàn toàn

- Ung thư làm thay đổi mối quan hệ trong gia đình và bạn bè

Phản ứng của bạn bè đối với người bệnh ung thư có thể thay đổi tùy theo mức độ thân thiết giữa người bệnh và gia đình, bạn bè Bạn bè của người bệnh ung thư có thể không có khả năng hỗ trợ như mong đợi vì họ không hiểu hết về hoàn cảnh của người bệnh Họ có thể tránh nói chuyện với người bệnh vì họ không biết phải nói gì hoặc làm thế nào Ngược lại, họ có thể nói chuyện quá nhiều hoặc làm những điều mà họ nghĩ là tốt nhất cho người bệnh Mặc dù việc họ ủng hộ bạn là một điều tốt, nhưng có thể làm người bệnh cảm thấy khó chịu hay bực bội

- Tác động của ung thư đến mối quan hệ với con cái

Các con người bệnh có thể thay đổi hành vi do ảnh hưởng từ việc biết kết quả chuẩn đoán bệnh của người bệnh Một số trẻ nhỏ có thể phản ứng thái quá và hơi kích động trong khi các trẻ lớn giận dỗi và “rút vào một góc” trong quan hệ gia đình

Bệnh ung thư có thể có ảnh hưởng mạnh mẽ đến quan hệ vợ chồng và đến các thành viên trong gia đình, bạn bè của người bệnh

2.2.4.3 Đối với xã hội

Theo nghiên cứu gần 2.000 bệnh nhân ung thư tại 3 bệnh viện là Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện K, Bệnh viện Ung Bướu TP.HCM thì chỉ 5% bệnh nhân được phát hiện bệnh ở giai đoạn 1, 19% ở giai đoạn 2, đây là những giai đoạn điều trị bệnh có hiệu quả, nhưng đáng tiếc tới 76% bệnh nhân phát hiện bệnh ở giai đoạn 3 và 4 Nghiên cứu cũng cho thấy 41% bệnh nhân sống sót sau 1 năm chẩn đoán Nguyên nhân là do đa phần bệnh nhân ung thư ở Việt Nam đều được phát hiện ở giai đoạn muộn, vì vậy chi phí điều trị tăng cao trong khi khả năng cứu chữa rất ít dù các bác sĩ đã tích cực điều trị Vì vậy, ở Việt Nam, ung thư không chỉ là gánh nặng y tế mà còn là gánh nặng rất lớn về kinh tế - xã hội

2.2.5 Các hướng hỗ trợ giải quyết vấn đề

2.2.5.1 Điều trị ung thư

Trang 33

Ung thư có thể được điều trị bằng phẫu thuật, hóa trị liệu, xạ trị liệu, miễn dịch trị liệu hay các phương pháp khác Việc chọn lựa phương pháp điều trị phụ thuộc vào vị trí

và độ (grade) của khối u, giai đoạn của bệnh, cũng như tổng trạng của bệnh nhân Một số điều trị ung thư thực nghiệm cũng đang được phát triển

a) Phẫu thuật

Nếu khối u còn khu trú, phẫu thuật là phương pháp thường được lựa chọn Ví dụ có phẫu thuật cắt bỏ tuyến vú ở ung thư vú, cắt bỏ tuyến tiền liệt ở ung thư tuyến tiền liệt Mục đích của phẫu thuật là có thể cắt bỏ chỉ khối u đơn thuần hoặc toàn bộ cơ quan Khi một tế bào ung thư phát triển thành một khối u khá lớn, việc chỉ cắt bỏ khối u đơn thuần dẫn đến tăng nguy cơ tái phát Bờ của mô lành cũng thường được cắt bỏ để đảm bảo toàn

bộ mô ung thư được loại bỏ phương pháp này có thể gây tế bào ung thư bị biến dạng và khi ung thư đã di căn thì việc xác định được điểm xuất phát khối u là rất khó để loại bỏ hết Bên cạnh việc cắt bỏ khối u nguyên phát, phẫu thuật cần thiết cho phân loại giai đoạn,

ví dụ như xác định độ lan tràn của bệnh, xem thử đã có di căn đến các hạch bạch huyết vùng hay chưa Phân loại giai đoạn cho biết tiên lượng và nhu cầu điều trị bổ sung

Đôi khi, phẫu thuật cần thiết cho kiểm soát triệu chứng, như chèn ép tủy sống hay tắc ruột Đây được gọi là điều trị tạm thời

b) Hóa trị liệu

Hóa trị liệu là điều trị ung thư bằng thuốc ("thuốc chống ung thư") có khả năng tiêu diệt tế bào ung thư Chúng can thiệp vào phân bào theo các cách khác nhau, ví dụ như sự sao chép DNA hay quá trình phân chia các nhiễm sắc thể mới được tạo thành Hầu hết các dạng hóa trị đều nhắm vào các tế bào phân chia nhanh chóng và không đặc hiệu cho tế bào ung thư Vì vậy, hóa trị có khả năng làm tổn thương các mô lành, nó cũng tiêu diệt các tế bào khỏe của cơ thể trong tủy xương và tế bào tiêu hóa trong ruột Nó cũng làm hư hại các

cơ quan khác như lá lách, thận, tim, phổi đặc biệt là các mô có tần suất thay thế nhanh chóng (ví dụ như niêm mạc ruột) Những tế bào này thường tự sửa chữa sau khi hóa trị

c) Miễn dịch trị liệu ( tăng cường hệ miễn dịch)

Miễn dịch trị liệu ung thư là sử dụng cơ chế miễn nhiễm chống lại khối u Chúng được dùng trong các dạng ung thư khác nhau, như ung thư vú (trastuzumab/Herceptin®)

và leukemia (gemtuzumab ozogamicin/Mylotarg®) Các chất đó là kháng thể đơn dòng nhằm chống lại các protein đặc trưng cho các tế bào ung thư, hay các cytokine điều hoà đáp ứng của hệ miễn dịch -Miễn dịch trị liệu là kích hoạt và làm tăng số lượng của các tế

Trang 34

bào miễn dịch của cơ thể gọi là macrophage và tế bào "sát thủ tự nhiên" NK Cell Macrophage là hàng rào miễn dịch đầu tiên bảo vệ và chống lại bất cứ yếu tố ngoại lai nào xâm nhập cơ thể, kể cả các tế bào ung thư NK Cell là một tế bào miễn dịch đặc hiệu có chức năng nhận biết và tiêu diệt tế bào Ung Thư

d) Xạ trị liệu

Xạ trị liệu (điều trị bằng tia X hay chiếu xạ) là sử dụng một dạng năng lượng (gọi là phóng xạ ion hoá) để diệt tế bào ung thư và làm teo nhỏ khối u Xạ trị làm tổn thương hay hủy hoại các tế bào được điều trị ("mô đích") bằng cách làm tổn thương vật chất di truyền của chúng, khiến chúng không thể phát triển và phân chia Mặc dù xạ trị làm tổn thương

cả tế bào ung thư và tế bào lành, hầu hết các tế bào lành có thể hồi phục và hoạt động bình thường Mục tiêu của xạ trị là làm tổn thương càng nhiều tế bào ung thư trong khi giới hạn tổn thương đối với mô lành lân cận

Xạ trị có thể được dùng để điều trị hầu hết các loại u đặc, gồm ung thư não, vú, cổ tử cung, thanh quản, tụy, tiền liệt tuyến, da, cột sống, dạ dày, tử cung hay các sarcoma mô mềm Xạ trị cũng có thể được dùng trong leukemia và lymphoma (ung thư của tế bào tạo máu và hệ thống bạch huyết) Liều xạ trị cho mỗi vị trí tùy thuộc vào một số yếu tố như loại ung thư và có hay không khả năng mô hay cơ quan xung quanh bị tổn thương bởi xạ trị

e) Ức chế nội tiết tố

Sự phát triển của hầu hết các mô, bao gồm ung thư, có thể được gia tăng hay bị ức chế bằng cách cung cấp hay ngăn chặn các loại hormone nào đó Điều này cho phép một phương pháp bổ sung trong điều trị nhiều loại ung thư Các ví dụ thông thường của khối u nhạy cảm với hormone là một số loại ung thư vú, tiền liệt tuyến, và tuyến giáp Việc loại

bỏ hay ức chế estrogen (đối với ung thư vú), testosterone (ung thư tiền liệt tuyến), hay TSH (ung thư tuyến giáp) là phương pháp điều trị bổ sung quan trọng

f) Kiểm soát triệu chứng

Mặc dù kiểm soát triệu chứng không là cách điều trị trực tiếp lên ung thư, nó vẫn được xem là yếu tố quan trọng quyết định chất lượng sống của bệnh nhân, và giữ vai trò quan trọng trong quyết định áp dụng các điều trị khác trên bệnh nhân Mặc dù mọi thầy thuốc thực hành đều có thể điều trị kiểm soát đau, buồn nôn, nôn, tiêu chảy, xuất huyết và các vấn đề thường gặp khác ở bệnh nhân ung thư, chuyên khoa săn sóc tạm thời (palliative care) đã xuất hiện để đáp ứng nhu cầu kiểm soát triệu chứng ở nhóm bệnh nhân này

Trang 35

Thuốc giảm đau (thường là các opioid như morphine) và thuốc chống nôn rất thường được sử dụng ở bệnh nhân có các triệu chứng liên hệ đến ung thư

g) Thử nghiệm điều trị

Thử nghiệm điều trị, cũng còn gọi là nghiên cứu điều trị, dùng để kiểm tra các phương pháp điều trị mới trên bệnh nhân ung thư Mục đích của nghiên cứu này là đi tìm ra các phương pháp tốt hơn để điều trị ung thư và giúp đỡ bệnh nhân ung thư Các thử nghiệm lâm sàng khảo sát nhiều loại điều trị như thuốc mới, phương pháp phẫu thuật hay xạ trị mới, phối hợp trị liệu mới, hoặc phương pháp điều trị mới như gene liệu pháp

h) Y học thay thế và bổ sung

Y học thay thế và bổ sung (complementary and alternative medicine - CAM) là nhóm phong phú các hệ thống săn sóc sức khỏe và y tế, thực hành và sản phẩm vốn không được xem là có hiệu quả bởi các chuẩn mực của y học quy ước Một số phương pháp điều trị không quy ước được dùng "bổ sung" cho điều trị quy ước, nhằm tạo sự thoải mái và nâng cao tinh thần cho bệnh nhân Một số phương pháp điều trị không quy ước khác được dùng thay thế điều trị quy ước với hy vọng chữa lành ung thư

Các phương pháp bổ sung thông thường như cầu nguyện hay các biện pháp tâm lý như "tưởng tượng." Nhiều người cảm thấy phương pháp này mang lợi ích cho họ, nhưng hầu hết không chứng minh được tính khoa học và vì thể phải đối diện với sự hồ nghi Các phương pháp bổ sung khác bao gồm y học cổ truyền như Đông y (thuốc nam/thuốc bắc)

2.2.5.2 Phòng ngừa ung thư

Phòng ngừa ung thư là các biện pháp tích cực nhằm đề phòng, ngăn chặn và giảm tỷ

lệ ung thư Điều này có thể thực hiện bằng cách tránh các tác nhân sinh ung thư hay thay đổi quá trình chuyển hóa của chúng: thay đổi lối sống và chế độ ăn uống nhằm ngăn ngừa các yếu tố gây ung thư hoặc can thiệp bằng y khoa (hóa dự phòng, điều trị sang thương tiền ác tính)

Các ví dụ về các nguy cơ có thể tác động được gồm có uống rượu (phối hợp với tăng nguy cơ ung thư miệng, thực quản, vú và các ung thư khác), không hoạt động chân tay (phối hợp với tăng nguy cơ ung thư đại tràng, vú, và có thể các ung thư khác), tình trạng béo phì (phối hợp với ung thư đại tràng, vú, nội mạc tử cung, và có thể các ung thư khác) Dựa vào các bằng chứng dịch tễ học, ngày nay người ta cho rằng tránh uống rượu quá mức, tích cực hoạt động thể lực và duy trì trọng lượng cơ thể thích hợp có thể góp phần làm giảm nguy cơ một số ung thư; tuy nhiên khi so sánh với phơi nhiễm thuốc lá, các

Trang 36

phương pháp này có tính hiệu quả còn khiêm tốn và độ tin cậy của bằng chứng còn thấp Các yếu tố về lối sống và môi trường khác được biết có ảnh hưởng đến nguy cơ ung thư (có lợi hay hại) là hoạt động tình dục hay sinh sản, sử dụng hormone ngoại sinh, tiếp xúc với các phóng xạ ion hoá và tia cực tím, phơi nhiễm với hóa chất và nghề nghiệp nào đó, các tác nhân nhiễm trùng

Lời khuyên cho một cuộc sống lành mạnh:

1 Tránh hút thuốc và khói

2 Giảm tiêu thụ rượu và thức uống có cồn

3 Mặc quần áo kín khi ra nắng, tránh ánh nắng mặt trời trực tiếp vào buổi trưa, dùng quần

áo được thiết kế đặc biệt chịu được ánh nắng mặt trời, sử dụng kem chống nắng

4 Không sử dụng phòng tắm nắng (tanning bed) dùng tia tử ngoại

5 Bảo vệ bạn chống lại các bệnh nhiễm trùng có thể gây ra ung thư

6 Vận động và tập thể dục thường xuyên

7 Hàng ngày dùng nhiều các loại trái cây tươi, rau và salad

8 Tránh thừa cân

9 Khi khát, ưu tiên dùng nước thường và trà không đường

10 Thường xuyên kiểm tra sức khỏe và xét nghiệm sàng lọc sớm tại bác sĩ

2.2.5.3 9 mô hình công tác xã hội

a) Mô hình chiếu phim tại khoa nhi

Nhằm mục đích mang lại cho các em sự thư giãn, tiếng cười sau những giờ điều trị bệnh Mỗi tuần bệnh viện sẽ tổ chức chiếu phim hoạt hình, ca nhạc cho các em theo dõi

b) Mô hình chiếu phim dành cho người bệnh và người nhà người bệnh

Chiếu phim cách mạng, tâm lý xã hội như Chị Tư Hậu, Vĩ tuyến 17, Ván bài lật ngửa… nhằm động viên tinh thần người bệnh và người nhà người bệnh

c) Hỗ trợ suất ăn từ thiện

Từ những tấm lòng vàng của mạnh thường quân, bếp ăn từ thiện tại bệnh viện hỗ trợ suất ăn cả 3 bữa cho bệnh nhân

d) Mô hình khu nhà lưu trú dành cho người bệnh

Nhằm tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ người nhà bệnh nhân có hoàn cảnh khó khăn

có chỗ nghỉ lưu trú để chăm sóc bệnh nhân, bệnh viện Hạn chế tình trạng người nhà bệnh nhân phải nằm, ngồi trên các hành lang khoa phòng trong khuôn viên Bệnh viện Đồng thời cũng là nơi lưu trú cho những người bệnh điều trị ngoại trú có chỗ nghỉ ngơi, thuận

Trang 37

tiện hơn trong quá trình điều trị bệnh Khu nhà lưu trú tùy vào bệnh viện mà được miễn phí hoặc trả phí theo ngày là 15.000 vnđ/ngày

e) Mô hình nước uống miễn phí cho người bệnh và người nhà người bệnh

Với mục tiêu 100% người bệnh và người nhà người bệnh được sử dụng nước sạch đảm bảo, một số bệnh viện và nhà tài trợ đã tiến hành lắp đặt hệ thống lọc nước uống miễn phí cho bệnh nhân khám chữa bệnh Hệ thống máy lọc tính năng hiện đại, tiết kiệm chi phí, thân thiện với môi trường, công suất 250-300 l/cung cấp ứng đủ nguồn nước uống cho người bệnh mà vẫn giữ được các khoáng chất vi lượng cần thiết cho cơ thể và đảm bảo tiêu chuẩn nước uống của Bộ Y tế

f) Mô hình tiếp sức người bệnh

Thành lập Tổ công tác xã hội, huy động tình nguyện viên nhằm hỗ trợ, tư vấn về quy trình khám chữa bệnh cho người bệnh và người nhà người bệnh Hỗ trợ tích cực trong việc giảm thiểu thời gian chờ đợi của người bệnh, giải đáp thắc mắc về thủ tục hành chính, giảm số bệnh nhân tập trung cùng thời điểm gây quá tải tại khu vực phòng khám và phòng lấy máu xét nghiệm

g) Vận động, kêu gọi và tiếp nhận từ thiện cho người bệnh

Bệnh viện đã nhận được nhiều sự hỗ trợ từ những mạnh thường quân là cá nhân, tổ chức, cơ quan,…Hỗ trợ về mặt tài chính hiệu quả cho người bệnh Ngoài ra vào dịp lễ tết bệnh viện còn phối hợp với các nhà từ thiện trao tặng các suất quà cho người bệnh

h) Hành trình “Chuyến xe yêu thương đưa người bệnh về quê đón Tết”

Cứ đến dịp Tết nguyên đán nhiều bệnh viện phối hợp với các đơn vị tổ chức chương trình chuyến xe yêu thương đưa người bệnh về quê đón tết

i) Câu lạc bộ hỗ trợ bệnh nhân ung thư

Các bệnh viện đã kêu gọi, thành lập các câu lạc bộ, các dự án nhằm tổ chức các hoạt động như ca hát, vẽ tranh, dạy học, trao quà động viên tinh thần đến các bệnh nhân ung thư

2.2.5.4 Chính sách cho người bệnh ung thư

a) Quyền lợi về thời gian hưởng chế độ ốm đau

Theo Thông tư 46/2016/TT-BYT của Bộ Y tế, ung thư là một trong những bệnh cần chữa trị dài ngày

Trang 38

Trong khi đó, khoản 2 Điều 26 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 quy định: "Người lao động nghỉ việc do mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ Y tế ban hành thì được hưởng chế độ ốm đau như sau:

1) Tối đa 180 ngày tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần

2) Hết thời hạn hưởng chế độ ốm đau quy định tại điểm a khoản này mà vẫn tiếp tục điều trị thì được hưởng tiếp chế độ ốm đau

Theo quy định trên, thời gian hưởng chế độ ốm đau cho người mắc bệnh ung thư tối

đa 180 ngày tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần Nếu hết thời gian nghỉ trên mà người lao động vẫn tiếp tục điều trị thì được hưởng tiếp chế độ ốm đau

b) Được hỗ trợ chi phí điều trị

Khoản 3 Điều 1 Quyết định 14/2012/QĐ-TTg (sửa đổi, bổ sung Quyết định số 139/2002/QĐ-TTg) quy định, người mắc bệnh ung thư gặp khó khăn do chi phí cao mà không đủ khả năng chi trả viện phí sẽ được hỗ trợ thanh toán một phần chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với phần phải chi trả cho cơ sở y tế của Nhà nước từ 1 triệu đồng trở lên cho một đợt khám bệnh, chữa bệnh trong trường hợp không có bảo hiểm y tế

Nếu có bảo hiểm y tế, người bệnh ung thư sẽ được hỗ trợ một phần chi phí khám bệnh, chữa bệnh mà người bệnh phải đồng chi trả từ 100.000 đồng trở lên

c) Được hưởng bảo hiểm xã hội một lần

Theo Luật Bảo hiểm xã hội 2014 và Thông tư 56/2017/TT-BYT, một trong các trường hợp được rút tiền bảo hiểm xã hội một lần là người mắc bệnh ung thư đồng thời không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được các hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc hoàn toàn

Mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần hiện nay là 1,5 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội cho những năm đóng trước năm 2014; 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội cho những năm đóng từ năm 2014 trở đi

d) Thông tư 30/2018/TT-BYT

Cụ thể, thông tư 30/2018/TT-BYT quy định thanh toán đối với các thuốc điều trị ung thư như sau:

Thuốc điều trị ung thư chỉ được sử dụng để điều trị ung thư tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có chức năng điều trị ung thư (cơ sở ung bướu, huyết học truyền máu và y học hạt nhân; các khoa, đơn vị ung bướu, huyết học truyền máu và y học hạt nhân trong viện,

Trang 39

bệnh viện chuyên khoa hoặc đa khoa) và phải do bác sĩ được cấp chứng chỉ hành nghề, phạm vi hoạt động chuyên môn là ung bướu hoặc huyết học truyền máu chỉ định

Trường hợp sử dụng để điều trị các bệnh khác không phải ung thư: Quỹ BHYT thanh toán theo đúng hướng dẫn chẩn đoán và điều trị của Bộ Y tế hoặc của bệnh viện Trường hợp chưa có hướng dẫn chẩn đoán, điều trị thì phải hội chẩn với bác sĩ chuyên khoa ung bướu Nếu chưa có hướng dẫn chẩn đoán, điều trị và không có bác sĩ chuyên khoa ung bướu thì phải được hội chẩn dưới sự chủ trì của lãnh đạo bệnh viện trước khi chỉ định sử dụng

Người bệnh bị ung thư có sử dụng thuốc Doxorubicin đường tiêm, dạng liposome; thuốc Erlotinib đường uống; thuốc Gefitinib đường uống; thuốc Sorafenib đường uống trước ngày 1/1/2015 và còn sử dụng sau ngày 1/1/2019, sẽ tiếp tục được thanh toán với tỷ

lệ 100%

Đối với người bệnh bị ung thư sử dụng thuốc Everolimus, đường tiêm, uống; thuốc L-asparaginase erwinia đường tiêm; thuốc Paclitaxel đường tiêm, dạng liposome và dạng polymeric micelle trước ngày 1/12019 và còn sử dụng sau đó; hoặc thuốc Sorafenib đường uống sau ngày 1/1/2015 và còn sử dụng sau ngày1/1/2019, sẽ tiếp tục được Quỹ BHYT thanh toán theo tỷ lệ quy định tại Thông tư số 40/2014/TT-BYT

Quy định này áp dụng trong các trường hợp sau đây:

Sử dụng cho đến hết liệu trình điều trị (từ thời điểm khi người bệnh được chẩn đoán xác định, bắt đầu điều trị đến kết thúc điều trị);

Trường hợp sau khi điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, người bệnh chuyển sang

cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác, được bác sĩ chỉ định sử dụng thuốc này nhưng vẫn trong liệu trình điều trị (trừ trường hợp điều trị ngoại trú trái tuyến);

Người bệnh điều trị bệnh tạm ổn và dừng điều trị, khi tái phát, bác sĩ chỉ định sử dụng thuốc đã điều trị;

Trong quá trình điều trị, người bệnh không đến khám lại đúng hẹn, điều trị thuốc không liên tục;

Trường hợp người bệnh sử dụng thuốc Erlotinib, đường uống có tác dụng phụ hoặc

do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hết thuốc, bác sĩ chỉ định chuyển sang thuốc Gefitinib, đường uống và ngược lại (chuyển đổi từ thuốc Gefitinib, đường uống sang thuốc Erlotinib, đường uống)

Thông tư 30/2018/TT-BYT có hiệu lực thi hành từ 01/01/2019

Trang 40

e) Quyết định số 14/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ : Sửa đổi, bổ sung một

số điều của Quyết định số 139/2002/QĐ-TTg ngày 15 tháng 10 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ về khám, chữa bệnh cho người nghèo

f) Chiến lược Quốc gia phòng chống bệnh không lây nhiễm giai đoạn 2015 – 2025

Khống chế tốc độ gia tăng tiến tới làm giảm tỷ lệ người mắc bệnh tại cộng đồng, hạn chế tàn tật và tử vong sớm do mắc các bệnh không lây nhiễm, trong đó ưu tiên phòng, chống các bệnh ung thư, tim mạch, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và hen phế quản nhằm góp phần bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe của nhân dân và phát triển kinh tế, xã hội của đất nước Đó là mục tiêu chung của Chiến lược quốc gia phòng, chống bệnh ung thư, tim mạch, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hen phế quản và các bệnh không lây nhiễm khác, giai đoạn 2015 – 2025 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 20/3/2015

Cụ thể, đến năm 2025, phấn đấu 70% người trưởng thành hiểu biết về bệnh ung thư, tim mạch, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và hen phế quản, ảnh hưởng đối với sức khỏe cộng đồng, kinh tế, xã hội của đất nước, cũng như các nguyên tắc phòng, chống các bệnh này; giảm 30% tỷ lệ hút thuốc ở người trưởng thành so với năm 2015; giảm tỷ lệ hút thuốc ở nhóm vị thành niên xuống còn 3,6%; giảm 10% tỷ lệ uống rượu, bia ở mức có hại ở người trưởng thành so với năm 2015; giảm tỷ lệ có uống rượu, bia ở nhóm vị thành niên xuống còn 20%; khống chế tỷ lệ bị tiền đái tháo đường dưới 16% ở người 30-69 tuổi; khống chế tỷ lệ đái tháo đường dưới 8% ở người 30-69 tuổi…

Để thực hiện mục tiêu của Chiến lược, cần tăng cường thực thi, bổ sung và hoàn thiện các chính sách, quy định pháp luật về kiểm soát yếu tố nguy cơ và thúc đẩy các yếu tố tăng cường sức khỏe để phòng, chống bệnh không lây nhiễm Bên cạnh đó, sử dụng mạng lưới thông tin truyền thông từ Trung ương tới địa phương để tuyên truyền, phổ biến, vận động các cấp, các ngành, đoàn thể và người dân thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật, các hướng dẫn, khuyến cáo về phòng, chống bệnh không lây nhiễm Vận động xây dựng cộng đồng nâng cao sức khỏe phù hợp với từng vùng miền và từng nhóm đối tượng

Chiến lược nêu rõ cần tăng cường hệ thống cung cấp dịch vụ và chuyên môn kỹ thuật

y tế, trong đó, các cơ sở y tế dự phòng, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (công lập và ngoài công lập) từ Trung ương đến cấp xã tổ chức các hoạt động dự phòng, phát hiện sớm, chẩn đoán, điều trị, quản lý các bệnh ung thư, tim mạch, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn

Ngày đăng: 03/08/2019, 11:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Thị Oanh, Công tác xã hội đại cương, công tác xã hội cá nhân và nhóm. Nhà xuất bản giáo dục. TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội đại cương, công tác xã hội cá nhân và nhóm
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục. TP Hồ Chí Minh
3. Nguyễn Thị Thanh Hương, 2011. Tập bài giảng công tác xã hội nhóm. Trường ĐH Lao động – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng công tác xã hội nhóm
5. Wedsite Bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng http://www.benhvienungbuoudanang.com.vn/ Link
6. GS. TSKH Nguyễn Khánh Trạch, GS.TS Nguyễn Bá Đức (2018), Sách Bệnh ung thư nhận biết, dự phòng và chiến thắng, NXB Thanh niên Hà Nội.7. Ung thư Wikipediahttps://vi.wikipedia.org/wiki/Ung_th%C6%B0 Link
8. Hoài Linh (2018), WHO báo động về ung thư trên toàn thế giới, báo VTV news. https://vtv.vn/suc-khoe/who-bao-dong-ve-tinh-trang-ung-thu-tren-toan-cau-20180913153748522.htm Link
9. Lê Phương (2015), Khủng hoảng tâm lý của người bệnh ung thư, báo Vnexpress. https://vnexpress.net/suc-khoe/5-khung-hoang-tam-ly-cua-nguoi-bi-ung-thu-3254716.html Link
10. LuatVietNam (2018), Người bệnh ung thư được hưởng những quyền lợi đặc biệt. https://luatvietnam.vn/tin-phap-luat/nguoi-benh-ung-thu-duoc-huong-quyen-loi-dac-biet-230-16355-article.html Link
11. Bệnh viện K (2018), 9 mô hình công tác xã hội hỗ trợ người bệnh ung thư. http://benhvienk.vn/9-mo-hinh-cong-tac-xa-hoi-mon-qua-danh-tang-nguoi-benh-ung-thu-tai-benh-vien-k-nd40302.html Link
1. ThS Nguyễn Thị Thái Lan – CB (2012), Giáo trình Công tác xã hội nhóm, NXB Đại học Lao động – Xã hội Khác
4. ThS Bùi Đình Tuân (2017), Giáo trình Kỹ năng Công tác xã hội. Trường ĐH Sư phạm Đà Nẵng Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w